Chuyện Bí thư tỉnh uỷ Bến Tre có ngàn tỷ ở nhà bank

Báo Tiếng Dân

Thu Hà 

19-8-2023

Uỷ viên Trung ương sở hữu ngàn tỷ đồng? 

Ngày 17-8-2023, Ủy ban Kiểm tra Trung ương công bố kết quả kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với Lê Đức Thọ, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Theo đó, “Ủy ban Kiểm tra Trung ương Trung ương nhận thấy, ông Lê Đức Thọ đã vi phạm nghiêm trọng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương trong việc kê khai, minh bạch tài sản, thu nhập; giải trình nguồn gốc và biến động tài sản không trung thực, không đầy đủ, không đúng quy định”.

Chân dung bí thư tỉnh uỷ Lê Đức Thọ. Nguồn: VNN

Lê Đức Thọ sinh năm 1970, quê Phú Thọ, có học vị Tiến sĩ quản lý kinh tế. Ông trúng cử Ủy viên Trung ương Đảng khóa 13, nhiệm kỳ 2021 – 2026. Thọ có thời gian dài công tác trong ngành ngân hàng. Từ tháng 4/2014 đến tháng 10/2018, Lê Đức Thọ là thành viên HĐQT, kiêm Tổng Giám đốc VietinBank; từ ngày 31/10/2018, Thọ là Chủ tịch HĐQT VietinBank.

Sau đại hội 13, đến tháng 7/2021, Lê Đức Thọ được điều động giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, nhiệm kỳ 2020-2025. Để vào được Uỷ viên Trung ương, hầu hết nhân sự đều có bảng lý lịch “đỏ rực”. Thọ cũng không ngoại lệ.

Bố Lê Đức Thọ là ông Lê Học Thức, sinh năm 1943, từng là Uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra tỉnh uỷ Vĩnh Phú (gồm Vĩnh Phúc và Phú Thọ), huy hiệu 55 năm tuổi đảng. Mẹ là bà Ngô Thị Dự, sinh năm 1942 (đã mất) từng giữ chức Phó Chánh án Toà án tỉnh Vĩnh Phú, huy hiệu 50 năm tuổi đảng. Anh trai là Lê Trung Dũng, đương chức Thượng tá, Chánh án Toà án quân sự Quân khu 2.

Lê Trung Dũng được bổ nhiệm Chánh án Quân khu 2. Nguồn: Quân Khu 2

Vợ Lê Đức Thọ là Trần Thị Minh Vỹ, hiện giữ chức Phó giám đốc Kho bạc Nhà nước quận Thanh Xuân, Hà Nội. Vỹ là con gái cụ Trần Văn Nho (1938- 2022) cựu Giám đốc Ngân hàng nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc, cựu Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Vĩnh Phúc. Tang lễ cụ Nho hồi tháng 7/2022 được tổ chức trang trọng, có cả vòng hoa của TBT Nguyễn Phú Trọng và CTN Nguyễn Xuân Phúc gửi viếng.

Dựa vào thế lực của bố vợ, Lê Đức Thọ nhanh chóng tiến thân thần tốc trong ngành ngân hàng, lẫn guồng máy chính trị của đảng cộng sản. Tiền của Lê Đức Thọ, cùng với sự nâng đỡ của người đồng hương Uỷ viên Bộ Chính trị Nguyễn Văn Bình, nên Lê Đức Thọ giành được vé chính thức Uỷ viên Trung ương đảng khoá 13 khi vừa bước qua tuổi 40. Tương lai đang rộng mở, hoạn lộ thênh thang phía trước với Uỷ viên Trung ương trẻ tuổi như Lê Đức Thọ.

Trước khi bị Uỷ ban Kiểm tra Trung ương bêu tên, đã có thông tin từ nội bộ rò rỉ cho biết, bí thư tỉnh uỷ Bến Tre có khối tài sản khổng lồ “tích cóp” sau nhiều năm nắm giữ các vị trí chủ chốt trong hệ thống ngân hàng. Ước tính số tiền được gởi trong các nhà bank, đứng tên vợ chồng Lê Đức Thọ và các con lên đến cả ngàn tỷ đồng.

Chưa hết, vợ chồng ông Lê Đức Thọ còn sở hữu nhiều biệt thự sang trọng ở các tỉnh thành, cùng nhiều bất động sản giá trị và cổ phần trong hệ thống ngân hàng thương mại. Thông tin bí mật về khối tài sản của Lê Đức Thọ được nội bộ ngân hàng tuồn ra ngoài, phục vụ cho phe nhóm tấn công, thanh trừng lẫn nhau để tranh giành quyền lực trước đại hội 14 của đảng.

Các cán bộ lắm tiền, xuất thân từ ngành ngân hàng nhảy sang chính trường phải kể đến Nguyễn Văn Bình, Lê Minh Hưng, Nguyễn Văn Thắng và nay là Lê Đức Thọ. Lần này, Thọ bị “đánh” phủ đầu ngay giai đoạn giới thiệu nhân sự Ban chấp hành Trung ương khoá 14 là điều rất lạ. Lạ ở chỗ, các phe ra tay khá sớm so với các kỳ đại hội trước đây.

Thật ra, trong thể chế độc tài đảng trị, không ai có thể đưa ra con số thống kê cụ thể được, vì “của chìm của nổi” đều được các Uỷ viên Trung ương che giấu rất kỹ. Tuy vậy, việc các Uỷ viên Trung ương có khối tài sản hàng ngàn tỷ đồng trên đất nước này là chuyện rất đỗi bình thường.

Những chính trị gia được đồn đoán có tài sản lên đến hàng tỷ Mỹ kim đó là: Nguyễn Tấn Dũng, Tô Huy Rứa, Lê Thanh Hải, Hoàng Trung Hải, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Bá Thanh… Cứ nhìn Trần Đình Thành, cựu bí thư tỉnh ủy Đồng Nai cầm của Nguyễn Thị Thanh Nhàn số tiền 14,5 tỷ, cựu bộ trưởng Nguyễn Thanh Long cầm của Phan Quốc Việt 2,25 triệu Mỹ kim chỉ trong một phi vụ, thì cả nhiệm kỳ Uỷ viên Trung ương, họ sẽ vơ vét được bao nhiêu tiền hội lộ. Chưa kể đến tiền họ bán “ghế”, bán đất đai công sản, nhận phần trăm “hoa hồng” lót tay từ hàng trăm ngàn tỷ đầu tư dự án công.

Nếu như Lê Đức Thọ “núp” đâu đó với vai trò bí thư ở một tỉnh miền núi phía Bắc, hoặc làm cấp phó trong một ban đảng, thì chắc chắn sẽ an toàn. Dư luận cho rằng, Lê Đức Thọ lộ ý định tranh ghế Thống đốc Ngân hàng nhà nước của Nguyễn Thị Hồng, là nguyên nhân chính khiến ông ta bị các đồng chí của mình “làm thịt”. Sắp đến, Lê Đức Thọ có thể sẽ nhận mức kỷ luật “cảnh cáo”. Đồng nghĩa với việc Thọ hết cơ hội tái cử Uỷ viên Trung ương và chính thức giã từ sân chơi chính trị tại đại hội 14.

Ngày 7-7-2023, Bộ Chính trị ban hành Kế hoạch số 17-KH/TW về “xây dựng quy hoạch BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV, nhiệm kỳ 2026-2031” do TBT Nguyễn Phú Trọng làm trưởng ban. Theo đó, phần quy hoạch BCH Trung ương đang ở quy trình phát hiện, giới thiệu nhân sự. Các tỉnh, thành ủy, tổ chức Đảng trực thuộc trung ương phải hoàn tất nhiệm vụ này trước ngày 15-8- 2023 để Ban Tổ chức Trung ương tổng hợp, báo cáo Ban chỉ đạo đi vào quy trình tiếp theo là phê duyệt ở trung ương.

Chính trường hay chiến trường?

Cuộc đua tranh giành quyền lực chính trị đã chính thức bắt đầu. Từ nay đến hội nghị Trung ương 8 vào đầu tháng 10/2023, thời điểm chốt danh sách nhân sự ứng viên BCH Trung ương khoá 14 sẽ còn những cuộc thanh trừng đẫm máu. Các phe nhóm sẽ tận dụng tối đa chiến dịch “đốt lò” của Nguyễn Phú Trọng để loại bỏ, tiêu diệt các đối thủ chính trị. Tiền và tham vọng quyền lực luôn là tầm ngắm và đích đến của các chính trị gia cộng sản.

Đằng sau lớp áo “đạo đức cách mạng vô sản” là những bộ mặt nhầy nhụa, “ăn của dân không chừa bất cứ thứ gì”. Chính trường Việt Nam đã, đang và sẽ hứa hẹn những kịch bản gay cấn, khốc liệt.

Quan không sợ tù

Báo Tiếng Dân

Chu Mộng Long

20-8-2023

Trong Bát phố Hải Phòng, phần cuối, Bảo Sinh viết:

“Sau khi bị kết án, Dương Tự Trọng bị giam tại Tam Đảo. Nghe nói anh em văn nghệ sĩ Hà Nội vào thăm nơi Trọng ở rất đầy đủ tiện nghi do Trọng tự bỏ tiền túi ra xây, mãn hạn tù sẽ bị sung công. Trọng vẫn râu hùm, hàm én, mày ngài như xưa.” (hết trích).

Đọc đến đoạn này, buộc tôi phải đối chiếu với hình ảnh các quan trước tòa để thấy, đa số các quan đều mang vẻ đẹp văn hóa thổ đu: “đ*o sợ!” Không ngẫu nhiên mà trong vụ án Chuyến bay giải cứu, có thằng nói đi tù là “đi an dưỡng”, có thằng cao hứng làm thơ, có thằng lẩy Kiều… Những thằng xin giảm án chẳng qua là sợ án tử hình, tức sợ chết. Còn nộp lại tiền sai phạm, tiền hối lộ thì thằng nào cũng nộp nhanh, nộp đủ. Nhanh vì nhà có sẵn tiền. Đủ là đủ cho cái án của sự vụ bị lộ, còn số tiền chưa bị lộ đang cất giữ ở nhà hay ở ngân hàng nước ngoài thì thừa, có lẽ nhiều không kể xiết.

Dương Tự Trọng không ở diện tham nhũng mà thừa tiền xây luôn nơi ở đầy đủ tiện nghi trong tù thì những đứa tham nhũng có thể xây biệt phủ hay lâu đài để làm vua trong đó. Có khi cả đàn văn nghệ sĩ tự nguyện kéo vào ở chung để được bưng bô và được ca hát, làm thơ ngợi ca những ông vua của mình.

Thảo nào khi Ủy ban tư pháp Quốc hội đề nghị nới nhiều thứ quyền cho phạm nhân thì Bộ trưởng Tô Lâm phải lo lắng “chế độ phạm nhân cao, nhiều người sẽ tìm cách để đi tù”.

Tôi hình dung, luật lâu nay siết chặt phạm nhân là cho thằng dân. Còn Quốc hội đòi nới luật đến mức làm Bộ trưởng Tô Lâm phải lo lắng là cho thằng quan.

Tôi tin chắc không thằng dân nào muốn đi tù, trừ thằng Chí Phèo thời thực dân có lần nói với Bá Kiến: “Thưa ông, con xin được vào tù, vì ở tù sướng quá! Hay ông cho con giết ai đó để con được vào tù?” Sự thực là thằng Chí nó dọa cụ Bá chứ nhà tù thời đó làm gì mà sướng quá? Nếu sướng thì các chiến sĩ cộng sản đã không tìm cách vượt ngục và tiếp tục đấu tranh cách mạng! Thằng dân thời nay nghèo rách đít, khó có thể vào tù mà hưởng lạc vinh hoa và có người hầu hạ. Không chừng có thể chết bất đắc kì tử từ sợi dây thắt lưng hay bị đầu gấu cho ăn đòn mập mình chứ đừng nói “sướng quá!”

Chỉ có thể là thằng quan, chúng không muốn vào tù thì cũng có thể, chứ không phải sợ vào tù. Số tiền bị tòa kêu nộp phạt chẳng là gì nếu quan biết rõ chốn quan trường như canh bạc đỏ nhiều hơn đen, đỏ ngàn cuộc thì đen chẳng qua chỉ bị một vụ. Rủi bị lộ rồi thì xây luôn lâu đài, biệt phủ trong tù mà hưởng lạc. Cho nên khi đi cúng chùa, đứa nào cũng Nam mô Tây phương Cực lạc… Cõi Tây phương ấy không ở thế giới tự do như bên Mỹ bên Âu thì ở trong tù vậy!

Chúc các quan trong phiên tòa về vụ Việt Á sắp tới được cực lạc như ý. Nhà nước ta văn minh, không phải như thời phong kiến thực dân đi tù là đi đày. Các quan cứ theo gương Dương Tự Trọng mà làm. Ra tù, cởi chiếc áo đội bóng Juve ra khỏi thân thì là vẫn râu hùm, hàm én, mày ngài như xưa!

Vào tù không mất tiền mua,

Chỉ mất tiền để làm vua trong tù.

SƯỚNG THẬT: NHẬN TIỀN CẢM ƠN THÌ KHÔNG BỊ KẾT TỘI NHẬN HỐI LỘ!

Oanh Lý Vy

Báo Công Lý đăng kết luận điều tra về 2 ông trùm của Bộ Khoa học và Công nghệ:

1) Chu Ngọc Anh và Phạm Công Tạc “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí”, cụ thể số tiền 19 tỉ đồng tài sản nhà nước. Hành vi của Chu Ngọc Anh và Phạm Công Tạc là lợi dụng quyền hạn chuyển kết quả công trình nghiên cứu Kittest Covid từ vốn nhà nước 19 tỉ đồng và từ công sức của cán bộ Học viện quân y thành sở hữu tư nhân của Việt Á.

Vậy là cơ quan điều tra chỉ tính vốn 19 tỉ ngân sách, không tính công của tập thể Học viện quân y mà báo chí quảng bá là ăn ngủ tại phòng thí nghiệm hàng năm trời?

2) Chu Ngọc Anh nhận túi tiền 200.000 USD, Phạm Công Tạc nhận 50.000 USD từ Phan Quốc Việt chỉ là “tiền cảm ơn”, không thể kết tội “nhận hối lộ”. Lý do “các ông Chu Ngọc Anh, Phạm Công Tạc không trao đổi, bàn bạc, thỏa thuận gì với Phan Quốc Việt về việc đưa nhận tiền, không gây khó khăn nhằm mục đích phải đưa tiền”.

Vậy là cứ lấy tài sản của nhà nước, công lao của công chức, viên chức giao cho tư nhân mua bán, tư nhân tự giác lại quả cho tiền tỉ thì không mắc tội nhận hối lộ!

Trời ạ, các quan chưa bị lộ nhìn vào gương này mà rút kinh nghiệm. Cứ bán đứng tài sản, thậm chí bán cả đất nước này cho giặc, được giặc lại quả cho tiền tỉ thì nhiều lắm chỉ mắc tội “Vi phạm quy định về quản lý…”. Tội này nhẹ hều. Cùng lắm là bồi thường số tiền gây thất thoát, còn tiền tỉ gọi là “cảm ơn” kia thì dùng an dưỡng ít năm trong tù lẫn khi ra tù.

Thảo nào công an thổi phạt xe vi phạm luật giao thông, lái xe nhét túi công an một nửa số tiền theo quy định để được chạy tiếp, và kết quả là chẳng mấy khi công an bị kết tội nhận hối lộ. Lái xe tự giác gửi tiền “cảm ơn” chứ có thoả thuận nào?

Thảo nào cựu điều tra viên Hoàng Văn Hưng trong vụ Chuyến bay giải cứu cãi phăng phăng giữa tòa, rằng y không mắc tội nhận hối lộ. Nếu dựa theo kết luận của cơ quan điều tra trong vụ này, ngay cả khi có bằng chứng quả tang, Hoàng Văn Hưng vẫn cãi đúng, vì y có thỏa thuận nhận 800.000 USD với tướng Tuấn hay đám Hằng, Sơn đâu hè? Bọn này tự giác mang vali đến “cảm ơn” đấy chứ!

Nếu tòa sắp tới mà xử như kết luận điều tra thì các lãnh đạo chưa bị lộ ngu gì không “vi phạm quy định về quản lý…”?

Tớ đang tìm cách lấy cái gì của nhà nước để bán đứng cho tư nhân đây, tư nhân cứ bán lại, lãi thì cứ tự giác mang tiền đến cho tớ, “tớ cảm ơn”!

Chu Mộng Long

—-

Bài trên báo Công Lý. Hình ảnh Chu Ngọc Anh họp báo đánh bóng tên tuổi cho Việt Á. Chu Ngọc Anh cùng Nguyễn Thanh Long cúng vong linh 30 ngàn người chết vì dịch, có lẽ vì Chu Ngọc Anh thành tâm hơn nên dù đen mà vẫn còn đỏ.

Tôi khẳng định, cái gốc của vụ án này là ở Chu Ngọc Anh chứ không phải Nguyễn Thanh Long. Bởi nếu không có sự bán đứng từ ông trùm khoa học và công nghệ, oắt con Phạm Quốc Việt lấy danh nghĩa gì để mua bán, nhập lậu và khống giá kittest?

Sài Gòn vẫn còn đó, có mất đâu mà vội vàng

Lê Vi

Thiệt lý luận! Cứ trộm cướp, kẹt xe, ngập nước và đĩ điếm thì phải Sài Gòn. Cái nói về nghĩa tình, văn minh, thu thuế vượt dự toán ngân sách nhà nước thì là Tp HCM

Nhớ hồi dịch một bạn đăng đàn viết thẳng thừng”Sài Gòn ăn cứu trợ của cả nước” (Có copy ở cmt, mời coi)

Thiệt sự đang có một tiêu chuẩn kép

Sài Gòn chánh thức đâu còn tồn tại, đã “từ trần” từ năm 1976 để cách mạng thay tên thành Tp HCM. Vậy mừ cứ lôi Sài Gòn trộm cướp, đĩ điếm ra miết

Anh tôn trọng người khác để nhận được sự tôn trọng ngược lại

Lê Uyên Phương từng viết rất hay:

“Sài Gòn khói bay, Sài Gòn nắng đổ

Sài Gòn đã buồn như trời sớm mai

Sài Gòn bây giờ cúi mặt xa nhau”

Sài Gòn từ bản thân nó trong lịch sử làm kiệt sức nhưng thường buồn thương, sầu oán, vì nó cứ bị lôi ra để làm những thứ chẳng thơm tho gì

Mà quả tình người Sài Gòn anh hùng lắm nha! Người Sài Gòn vẫn sống, vẫn chịu đựng, vẫn ráng nhìn đời qua bao nhiêu trò uốn éo .Chứ lịch sử kiểu đó có nước chạy ra cầu Bình Lợi, cầu Bình Triệu cho rồi, cho xong

Hông sao! đâu còn có đó. Lịch sử Việt có tánh lặp lại. Cứ réo Sài Gòn dù là cướp giựt, đĩ điếm thì có ngày Sài Gòn lại trở về cái tên ban đầu của chính nó

Luật chơi Miền Nam, luật chơi Sài Gòn là sự tự giác, chẳng ai quỡn mà ép buộc ai, tất cả trên tinh thần tự do, dân chủ

Câu “Làm sao coi đặng thì làm nghen mậy” là kim chỉ nam

Thành ra không thì thôi, họ đã không hòa nhập tình cảm thì thôi, không cần họ thương, chúng ta tự thương chúng ta,có gì phải xầm xì

Sài Gòn vẫn còn đó, có mất đâu mà vội vàng. Sài Gòn cũng không sứt mẻ hay méo mó gì chỉ vì một vài bài viết.

Nguyễn Gia Việt

MỸ ĐÃ LÀM ĐƯỢC GÌ CHO NHÂN LOẠI

Nguyễn Nam Hải 

Có thể bạn không quan tâm tới nước Mỹ, coi người Mỹ như kẻ thù, thì Mỹ vẫn ảnh hưởng chi phối rất nhiều đến mọi sinh hoạt bình thường của bạn đấy.

Cùng thống kê một vài cái của Mỹ mà người Việt chúng ta hay dùng nhất nhé.

Khi bạn đọc status này có nghĩa là bạn đang dùng một sản phẩm của Mỹ đấy!

Mạng xã hội Facebook được thành lập vào năm 2004, người sáng lập ra mạng này là Mark Zuckerberg, cùng với các sinh viên Đại học Harvard và bạn cùng phòng là Eduardo Saverin, Andrew McCollum, Dustin Moskovitz, Chris Hughes (tất cả đều là công dân Mỹ). Facebook thuộc sở hữu của Meta Platforms có trụ sở tại Menlo Park, California. Mỹ.

Câu thơ vui của dân mạng nói rằng: “Dân ta phải biết sử ta

Cái gì không biết thì tra Google”; mà Google là một phát minh vĩ đại của Mỹ. Google được thành lập vào năm 1998 bởi Larry Page và Sergey Brin trong khi họ là nghiên cứu sinh đã có bằng tiến sĩ tại Đại học Stanford, California. Mỹ.

Mạng internet bạn đang dùng hiện nay là một phát minh của Mỹ. Internet khởi nguyên từ năm 1960 bởi quân đội Mỹ. Họ giữ kín dùng riêng suốt 20 năm, mãi đến những năm 1980 thì bắt đầu thương mại hóa và 1990 trở đi thì bắt đầu phủ kín toàn cầu.

Mỗi ngày bạn nhận và gửi email cho người khác. Trời ơi… lại đụng tới Mỹ luôn. Email được nghĩ ra từ năm 1971 bởi lập trình viên Ray Tomlinson của Bộ Quốc phòng Mỹ nhằm giúp nhân viên trong cơ quan trao đổi thông qua một mạng lưới liên kết thay cho việc trực tiếp cầm thư từ văn bản “giao tận nơi”.

Đang đi đường mà thấy đèn xanh đèn đỏ là của Mỹ đó. Đây là phát minh được tạo ra vào năm 1912 của người Mỹ nhằm giúp giảm thiểu các vụ tai nạn giao thông cũng như nạn ùn tắc xe cộ.

Nóng quá bật máy lạnh lên cái nào. Chiếc máy điều hòa nhiệt độ đầu tiên được chế tạo bởi kỹ sư người Mỹ Willis H. Carrier vào năm 1902.

Về nhà bật lò vi sóng lên để hâm đồ ăn. Thôi rồi cũng gặp Mỹ!

Năm 1945, kỹ sư Percy Spencer đã chế tạo ra một thiết bị phát cao tần cho radar cho công ty Raytheon, nhằm giúp radar nhạy hơn qua các bước sóng khác nhau. Cuối cùng ông vô tình nhận ra thanh chocolate bị biến dạng và nấu chảy khi được đặt bên trong thứ mà sau này chúng ta gọi là lò vi sóng.

Nếu trên tay của bạn đang dùng iPhone thì cũng là của Mỹ.

Chiếc Smartphone đầu tiên được hãng IBM chế tạo năm 1992 với tên Simon Personal Communicator. Chiếc điện thoại di động cầm tay đầu tiên trên thế giới là chiếc Motorola DynaTAC 800x được chế tạo năm 1983 tại Mỹ. 15 năm sau, iPhone mới ra đời ở Mỹ.

Nếu bạn không dùng iPhone vì nó là của Mỹ mà chuyển qua dùng Samsung của Hàn Quốc… nhưng cách này cũng không thoát Mỹ được vì Samsung phải sử dụng hệ điều hành Android của Mỹ đó.

Android là một hệ điều hành dựa trên nền tảng Linux thiết kế dành cho các thiết bị di động có màn hình cảm ứng như điện thoại thông minh và máy tính bảng. Ban đầu, Android được phát triển bởi Android Inc một công ty của Mỹ với sự hỗ trợ tài chính từ công ty lớn khác của Mỹ là Google và sau này Android Inc được chính Google mua lại vào năm 2005.

Android ra mắt vào năm 2007 cùng với tuyên bố thành lập Liên minh thiết bị cầm tay mở, một hiệp hội gồm các công ty phần cứng, phần mềm, và viễn thông với mục tiêu đẩy mạnh các tiêu chuẩn mở cho các thiết bị di động. Chiếc điện thoại đầu tiên chạy Android được bán vào năm 2008 tại Mỹ.

Các kênh truyền hình và TV màu bạn đang xem là phát minh của người Mỹ à nha. Hệ thống truyền hình màu đầu tiên thiết kế bởi công ty Radio Corporation of America bắt đầu phát sóng ngày 17.12.1953.

Chiếc TV màu đầu tiên cũng được chế tạo bởi hãng này được xuất ra thị trường năm 1954 tại Mỹ.

Bạn giải trí bằng cách xem video nghe nhạc trên nền tảng Youtube cũng là của Mỹ luôn nè… he he

Soạn thảo văn bản bằng Word, Excel, trình chiếu Power Point trong bộ Microsoft Office cũng là của Mỹ đó nha.

Đi đường bị lạc bấm Google Maps lên cũng là đang dùng sản phẩm người của Mỹ luôn!

Các bộ phim, video bạn đang xem đa số đều dùng phần mềm Adobe Premiere của Mỹ để dựng…à nha!

Photoshop để chỉnh sửa ảnh cũng của Mỹ luôn đó nghe.

Bất kể chiếc máy tính bạn dùng nhãn hiệu gì, sản xuất ở đâu thì “bộ não” CPU của nó chỉ có thể là sản phẩm của Intel hoặc AMD, hai hãng điện tử của Mỹ. Nếu không có nó thì bó tay.

Bạn đi máy bay là nhờ phát minh của ngườ Mỹ. Vào năm 1903 hai anh em nhà Wright sống tại Dayton, bang Ohio, Mỹ đã làm thay đổi lịch sử thế giới bằng sự phát minh ra chiếc máy bay đầu tiên.

Đèn điện mà bạn đang thắp là phát minh của ông Thomas Edison một người Mỹ. Chính phát minh này đã mang lại ánh sáng và sự văn minh cho cả thế giới loài người, đồng thời đã khai sinh cho ngành công nghiệp điện của thế giới.

Kể chừng đó thôi… vẫn còn rất nhiều cái của Mỹ nữa… còn tiếp nhờ bạn viết thêm

THẰNG ĐI MẤT BIỆT! ~ tác giả: Tiểu Tử ~Truyện ngắn

Thuy Tinh

~ tác giả: Tiểu Tử ~

Sáng nào, nếu trời không mưa, bà Hai cũng vắt cái khăn rằn lên vai, chụp cái nón lá đã tưa vành lên đầu, xách giỏ trầu đi ra phía vàm rạch trèo lên mô đất cao, ngồi chồm hổm vừa nhai trầu vừa nhìn qua bên kia sông, nhìn miết.

Mô đất nầy, cách đây hơn ba mươi năm -hồi thời kháng chiến chống Tây- chính tay bà và đồng bào trong xóm đã đắp lên làm ụ súng cho du kích bắn tàu Tây chạy ngoài sông Cái. Hồi đó, mô đất cao lắm. Bây giờ nó đã mòn lần nhưng vẫn còn đủ cao để bà Hai, dầu ở vị trí ngồi, vẫn nhìn thấu tuốt qua bên kia sông.

Bên kia sông là quận Gò Keo, ở đó có sở cao su của Năm Lượm, em út của bà. Bà còn nhớ rõ như in:

– Hồi nẳm, thằng Lượm làm cặp-rằng trong sở cao su của thằng tây Mi-Sên. Kế đến tây rút đi – đâu hồi một ngàn chín trăm năm mấy gì đó – thằng Mi-Sên kêu bán rẻ lại cho thằng Lượm. Thằng hên! Nó bán đi phần ruộng ông già để lại cho nó rồi chạy thêm mớ nợ, mua trọn gói sở cao su! Vậy rồi nó giàu ngang, mới tức cười!

Thường thì kể đến đây bà Hai hay ngừng lại để xỉa cục thuốc qua lại mấy lần rồi mới nói tiếp:

– Bây coi! Hồi thời ông gì đó, chỉ có Út Lượm là sắm được chiếc ca-nô tổ chảng, chạy lên chạy xuống tỉnh hà rầm. Lâu lâu còn cho mấy ông lớn mượn đi bắn le le nữa! Hồi ông nhà tao còn sống, nó hay lái ca-nô qua đây nhậu với ổng. Mẹ! Mỗi lần ca-nô nó vô tới đầu vàm rạch là nó hú còi nghe điếc con ráy, còn làm nổi sóng cho nước phóng lên bờ, bà con trong xóm ai cũng hay la ‘có ông Út qua’!

Bà thường ngừng ở đây để cười khịt khịt mà nghe sung sướng ở trong lòng, bởi vì trong ba thằng em trai, bà Hai thương thằng em út nầy nhứt. Bà hay nói:

– Thằng Lượm tuy ít học hơn hai anh của nó nhưng bụng dạ nó tốt lắm. Ăn ở có nhơn nên dân thợ trong sở cao su ai cũng thương. Hồi giàu lên rồi, nó cũng không quên ai hết. Như anh Ba của nó đi tập kết đâu tuốt ngoài bắc viết thơ về gởi gắm hết người nầy tới người kia cho nó, vậy mà nó cũng lén nuôi đàng hoàng. Còn thằng anh Tư của nó theo bên vợ làm thầy giáo ở Cần Thơ muốn mở trường tư thục gì gì đó, nó cũng mang tiền xuống giúp. Thằng tốt!

Trong làng Bình Quới nầy ai cũng biết vụ bà Hai ngày ngày ra ngồi trên mô đất nhìn miết qua bên kia sông. Chuyện xảy ra sau ‘giải phóng’, từ ngày người con trai út của bà – tên Trực – ở Sài Gòn về thăm bà và để cho hay là vợ con của Trực đã theo tàu hải quân di tản rồi, còn Trực thì phải lo khai báo với chánh quyền mới để có giấy tờ hợp lệ bởi vì Trực là sĩ quan của chế đõ cũ. Trực nói:

– Chừng có giấy tờ, con về đây ở với má. Chắc chừng vài ba bữa nửa tháng, hà!

Nghe vậy, bà Hai rất vui, têm trầu ăn liền liền! Bà nói:

– Tao chỉ có hai thằng con, mà Trời thương, thằng nào cũng được hết. Thằng Cang -thằng lớn- đi lính quốc gia. Nghe nói nó đánh giặc gan lỳ. Vậy mà không bao giờ nó nói động tới thằng cậu Ba nó ở ngoài kia. Còn thằng Trực -thằng út- thì thông minh học giỏi, vậy mà sau khi anh hai nó chết trận ở Công-tum Công-tiết gì đó, nó đang học đại học cũng bỏ học đi lính nói để trả thù cho thằng anh!

Bà hay ngừng một chút rồi mới nói tiếp, như để kết một câu chuyện:

– Bây giờ thì hết giặc rồi. Vài bữa thằng Trực về đây, tao sẽ chỉ nó lo chăm sóc cây trái vườn tược thế cho con Tư, để con nhỏ còn đi lấy chồng chớ!

Nói như vậy bởi vì mấy năm gần đây, từ ngày ông Hai nằm xuống, bà Hai hay ngã bịnh bất thường nên người em bà con ở bên quận gởi đứa con gái là cô Tư -ba mươi tuổi, chưa chông- qua ở với bà để lo cơm nước vườn tược v.v… Cô Tư kêu bà bằng Dì.

Sau khi Trực trở về Sài Gòn, một hôm đò ngang từ bên quận Gò Keo qua làng Bình Quới ngừng lại trước nhà bà Hai thả xuống một ông già lưng mang ba-lô, ốm nhom đen thui, đầu bạc trắng. Người lái đò chỉ tay nói lớn:

– Ông đi thẳng vô trong, cái nhà gạch nền đúc đó, đó!

Nghe lao xao, cô Tư nói:

– Dì Hai! Dì Hai! Có ai kìa!

Bà Hai nheo mắt nhìn, má bên trái của ông già có một nút ruồi với một sợi râu lăng quăng. Bà rớt nước mắt:

– Mầy còn sống hả Ba?

Vậy là hai chị em gặp lại nhau, vẫn nhìn ra được nhau sau hơn hai mươi năm xa cách! Út Lượm hay tin cũng xách ca-nô chạy qua thăm anh Ba, tủi tủi mừng mừng. Cô Tư dầu chưa biết ‘Cậu Ba‘ là ai nhưng trước cảnh gặp nhau đó, cô cũng nghe xúc động nước mắt chảy quanh….

Sau đó, để hàn huyên cho đã, nên ông Ba dự trù ở lại chơi thêm năm bảy hôm.

Bữa nọ lối mười giờ sáng, có tiếng ca-nô chạy xộc vô rạch. Thằng Kiên, con Út Lượm, u vào nhà, vừa thở vừa nói:

– Con qua rước bác Ba về can thiệp gắp vụ nầy, họ đang kiểm kê để tịch thâu sở cao su ở bển đó!

Ông Ba cười:

– Bây làm gì như Mỹ bỏ bom vậy?

Rồi quay qua bà Hai:

– Chị để em qua bển một chút. Em nói mấy tiếng rồi về, hà! Biểu con Tư nó nấu cho em miếng cháo gà ăn chơi!

Rồi ông xuống ca-nô qua quận. Bà Hai ở nhà đợi em. Càng lúc càng trưa, rồi đứng bóng, rồi xế bóng. Chừng đó mới thấy một chiếc xuồng nhỏ, với tiếng giầm khua nước lách chách, đâm đầu vào chân cầu thủy tạ trước nhà, ông Ba lò dò bước lên. Bà Hai và cô Tư chạy ra bươn bả:

– Ủa! Sao vậy cậu Ba? Còn ca-nô đâu?

Ông Ba lắc đầu:

– Tụi nó kiểm kê luôn rồi!

Bà Hai thở hắt ra:

– Còn thằng Út!

Ông Ba cười như mếu:

– Nhờ nó có công nuôi cách mạng nên mấy đồng chí đó giữ nó lại làm trong tổ kế hoạch, làm tổ viên thôi nhưng cũng có lương.

Bà Hai phun cốt trầu nghe cái phẹt:

– Hứ! Đồng chí với đồng rận! Lương với lậu!

Bà ngừng ở đó, nhai miếng trầu trong miệng như nhai cái tức ở trong lòng. Một lúc, bà mới nói:

– Tao tưởng mầy đi theo tụi nó mấy chục năm để làm được cái giống gì, té ra mầy cũng trớt quơ cũng bạch tuộc như mấy thằng cô hồn trôi sông lạc chợ chớ có hơn gì đâu? Hỏi chớ mầy đi theo tụi nó chi lâu vậy?

Ông Ba đốt điếu thuốc rồi ngồi bập liên miên, làm như khói thuốc có thể che cho ông đỡ ê mặt! Bà Hai xỉa cục thuốc qua lại, ấn mạnh vô răng như muốn kỳ cọ cho cái ‘lớp tức’ nó bong ra! Một lúc sau, bà nói với cô Tư, giọng thật trầm tĩnh:

– Tư! Mầy đẩy xuồng trong xẽo ra đưa cậu Ba qua sông, đi!

Cô Tư nhìn bà, ngạc nhiên. Nhưng người ngạc nhiên nhứt là ông Ba. Ông nuốt nước miếng rồi mới nói được:

– Bộ chị đuổi em hả chị Hai?

Bà Hai tằng hắng:

– Tôi đâu có đuổi! Ai mà dám đuổi cách mạng! Tôi… mời cậu ra khỏi nhà, chớ ở lại đây, thiên hạ cười tôi thúi mặt sao cậu?

Ngần ngừ một chút như định nói gì, nhưng rồi ông Ba lẳng lặng xách ba-lô cuối đầu đi thẳng ra bờ rạch, bước xuống xuồng mà nghe như trời đất ngã nghiêng chao đảo….

Thằng em đi rồi, bà Hai như người mất hồn. Tối ngày làm thinh, ngồi bó gối trên bộ ván nhỏ kê ngoài hàng hiên, vừa ăn trầu liên miên vừa nhìn đăm đăm ra phía rạch như đợi như chờ cái gì. Thấy kỳ, cô Tư hỏi:

– Bộ đợi ai sao dì Hai?

Một lúc, bà mới trả lời:

– Tao đợi thằng Trực! Nó nói nó đi năm ba bữa gì đó là về. Vậy mà đã hơn con trăng rồi sao hổng thấy bóng dáng gì hết.

Rồi bà lầm bầm:

– Thằng! Đi mất biệt!

Cô Tư nói:

– Con nghe nói…

Rồi ngừng ngang. Cô định nói là cô có nghe nói sĩ quan chế độ cũ đều bị đi cải tạo, chắc giống như đi ở tù… nhưng cô sợ dì Hai hết hồn nên cô bỏ lửng câu nói. Trong nhà, ngoài cô Tư ra, ông Út Lượm –lúc nầy lâu lâu chèo xuồng qua thăm chị Hai– cũng biết vụ ‘cải tạo’ nhưng ông không dám nói cho bà chị biết. Vì vậy, bà Hai cứ ngày ngày ngồi đợi thằng con. Và trách: «Thằng đi mất biệt!»

Mới đầu, bà còn ngồi chờ trên bộ ván hàng hiên. Thời gian sau, khi trời nắng ráo, bà hay đi tuốt ra ngoài vàm rạch lên ngồi trên mô đất để có thể nhìn thẳng qua bên kia sông. Như vậy, ‘khi nào thằng nhỏ nó về, mình thấy nó từ đằng xa, nó có đi đò, trong đám đông mình cũng nhìn ra được nó liền hà!’.

Vậy rồi ngày ngày bà ra ngồi trên mô đất, như một pho tượng. Thiên hạ trong làng đi ghe đi xuồng ngang qua, có hỏi thì bà trả lời, lúc nào cũng chỉ có một câu:

– Ợ… Tao đợi thằng đi mất biệt!

Không ai ngừng lại để hỏi tiếp coi ‘Thằng đi mất biệt’ là ai?. Riết rồi thành quen nên lâu lâu nghe có người chèo ngang qua hỏi cho lấy có: “Đợi thằng đi mất biệt hả bà Hai?”. Rồi đi tuốt….

Cái mô đất bà ngồi, bây giờ láng cón. Cỏ dại chỉ mọc cao ở dưới chân, bao quanh giống như một hàng rào. Người mẹ đợi con đó ngã bịnh rồi chết, hai năm sau. Bà nhắm mắt mà trong lòng chắc vẫn trách thằng con sao đi mất biệt. Lúc hấp hối, bà Hai còn rán thều thào:

– Bây chôn tao ở đầu vàm cho tao thấy thằng Trực trở về….

* * *

‘Thằng đi mất biệt’ được thả về sáu năm sau, nhờ học tập tốt. Đi đón Trực ở bến xe đò quận Gò Keo là ông Ba và ông Út. Ông Út, vì rầu sự nghiệp nên già khú, vẫn là công nhân nhà máy cao su. Ông Ba về thọ tang bà Hai rồi ở lại luôn Bình Quới để giữ ‘đất đai ông bà’ kẻo ‘mấy thằng ác ôn nó quen thói côn đồ đớp hết của người ta’, ổng nói như vậy! Bây giờ, ông Ba hay cười gằn, cầm cây rựa quơ quơ:

– Tụi nó có muốn vô nhà nầy phải bước qua xác của tao, nè!

Hai ông đưa Trực ra đầu vàm thăm mả bà Hai nằm cách mô đất không xa. Sau khi thắp nhang vái lạy, ông Ba kể cho Trực nghe chuyện bà Hai ngày ngày ra ngồi trên mô đất để trông ‘thằng đi mất biệt’.

Trực ngồi thụp xuống, úp mặt vào hai tay khóc ngất. Ông Ba chấp tay nói như nói trước mặt người chị:

– Chị Hai ơi! Thằng đi mất biệt của chị, nó về rồi nè!

Bỗng, mặt ông nhăn nhúm lại, giọng ông cao lên:

– Mà… thằng Trực đâu phải là thằng đi mất biệt đâu, chị Hai!

Rồi ông nấc lên, vứa đấm vào ngực vừa la lớn:

– Em mới là thằng đi mất biệt đây, chị Hai à!

Ông quì xuống ôm lấy mộ bia, gục đầu lên đó, nức nở. Cái đầu tóc trắng lắc qua lắc lại, nói lên tâm tư của một người không tìm ra đáp số cho bài toán khó.

Ông Út khom xuống, đặt tay lên vai anh bóp nhẹ:

– Anh Ba à! Anh nói được như vậy là anh đã thấy con đường về rồi đó, anh Ba!


 

Thưa anh em, anh em đã được Thiên Chúa tuyển chọn và mời gọi, thì hãy cố gắng hết mình, để làm cho các ơn đó nên vững mạnh.

Thứ 7 cuối tuần zui zẻ, mát mẻ, khoẻ trong Chúa và Mẹ nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 19/08/2023

TIN MỪNG: Vì vậy, thưa anh em, anh em đã được Thiên Chúa tuyển chọn và mời gọi, thì hãy cố gắng hết mình, để làm cho các ơn đó nên vững mạnh. Có thế, anh em sẽ không bao giờ vấp ngã, và nhờ đó, con đường rộng mở để đón nhận anh em vào Nước vĩnh cửu của Đức Giê-su Ki-tô là Chúa và là Đấng cứu độ chúng ta. (1 Pr 1:10-11)

SUY NIỆM: Ơn kêu gọi, một ơn tối trọng thu gồm mọi ơn khác. Nguyên sự thiếu lòng trung thành giữ ơn ấy, đủ làm cho ta có thể hư hỏng. Nếu ta bỏ đường lối siêu nhiên Chúa quan phòng đã ban, tất nhiên ta sẽ phải theo đường lối tự nhiên và chỉ được những ơn thường. Tuy dùng những ơn ấy cũng có thể được hạnh phúc đời đời nhưng rất đáng sợ vì nó không chắc. (x. Sách Gương Đức Mẹ, Q1:8:3)

Con người siêu nhiên là con người được ân sủng biến cải trên chính nền tảng tự nhiên của nó. Con người tự nhiên là người với cả xác lẫn hồn. Con người được tạo dựng cho Thiên Chúa, nên không thể qui về chính mình, không thể lấy mình làm mục đích để sống theo bản năng tự nhiên. Hơn nữa, trong thâm tâm mỗi người còn mang một khát vọng vô biên là chính Thiên Chúa, Đấng đang qui hướng toàn thể vũ trụ vạn vật và con người về chính Ngài, như một tiến trình vươn lên không ngừng. Ai tự làm ngưng đọng tiến trình này, kẻ đó phá vỡ kế hoạch thành toàn của Thiên Chúa về chính mình. Vì thế, sống là sống theo Thần Khí. Những ai sống theo Thần Khí thì không còn làm nô lệ cho tính tự nhiên theo xác thịt (1Cr 2,14), nhưng hòa quyện vào tinh thần siêu nhiên, hướng chiều theo ân sủng để kiện toàn chính mình.

(Tự Nhiên Với Siêu Nhiên Trong Đời Sống Con Người, Lm Thái Nguyên)

❦  Nhờ việc chiêm ngưỡng Đức Kitô, giác năng đã được thanh luyện để có thể nhìn thấy Thiên Chúa trong mọi sự, nơi mọi người. (Thánh Benađô)

LẮNG NGHE: Con người sống theo tính tự nhiên thì không đón nhận những gì của Thần Khí Thiên Chúa”

(1Cr 2,14)

CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ Maria, vì sống quá tự nhiên làm con quyên đi sự cần thiết của sức mạnh siêu nhiên, vì quá quan tâm đến vật chất dưới đất làm con quên đi những gì trên trời, vì quá lo lắng sống theo những nhu cầu của thể xác làm con lơ là đời sống tâm linh, xin Mẹ giúp con đến gần với Chúa hơn mỗi ngày để tìm thấy sự vẹn toàn đích thực của đời sống con trong Chúa.

THỰC HÀNH: Bạn đang làm gì cho đời sống siêu nhiên vậy? Cố gắng noi gương một nhân đức của Mẹ Maria nhé.

From: Đỗ Dzũng

MẸ ĐỨNG ĐÓ – Sáng Tác: Lm. Kim Long. Ca Sỹ: Phi Nguyễn – Mai Thiên Vân 

Sài Gòn năm xưa – Vương Hoài Uyên

Vương Hoài Uyên

Posted by GLN

Đầu thập niên 70, tôi bước chân vào giảng đường đại học. Từ miền Trung vào, Sài Gòn đối với tôi như một miền đất hứa vừa hấp dẫn, vừa hứa hẹn những điều mới lạ.

Hồi đó, đậu được mảnh bằng tú tài toàn phần cũng khó như thi đậu vào một trường đại học lớn bây giờ. Cả lớp 60 học sinh chỉ đậu có sáu đứa. Chín mươi phần trăm phải thi lại vào kỳ hai. Ở một thành phố nhỏ của miền Trung như quê tôi, con gái đỗ tú tài toàn phần có thể đếm trên đầu ngón tay.

Vào đến thành phố được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông, tôi thấy cái gì cũng lạ lẫm. Từ những tòa nhà cao tầng, đến những con đường xe cộ tấp nập, đến những cô gái Sài Gòn ăn mặc theo mốt Hippy (1), rồi áo dài tay Raglan, mini jupe…

Ngày Văn Khoa khai giảng, số lượng sinh viên đông đến mức chóng mặt. Nữ sinh viên thì quá nhiều cô đẹp, cô nào cũng ăn diện ngất trời như đi dạ hội.

Sau này, tôi còn biết Đại Học Văn Khoa Sài Gòn cũng là nơi nhiều ca sỹ nổi tiếng thời đó đang theo học như Hoàng Oanh, Thanh Lan, Từ Dung… Và các nhạc sỹ như Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng… thỉnh thoảng vẫn thấy xuất hiện tại đây.

Ngay cả khí hậu Sài Gòn hồi đó cũng là một điều lạ lẫm. Những năm tháng đó chưa có biến đổi khí hậu như bây giờ. Trời nắng nóng quanh năm, thỉnh thoảng vào mùa Hè có những cơn mưa giông đến thật nhanh, thật ào ạt. Người đi đường chỉ cần tạt vào một mái hiên đứng trú mưa khoảng ba, bốn phút là cơn mưa dứt hẳn. Và nắng lại bừng lên chói chang gay gắt như chưa từng có cơn mưa bao giờ.

Mưa Sài Gòn khác hẳn với mưa miền Trung. Ngoài đó, mùa mưa kéo dài lê thê hết ngày nọ đến ngày kia, có khi kéo dài cả mươi ngày, tuần lễ là chuyện thường. Đi học hầu như lúc nào cũng mang áo mưa, hai vạt áo dài trắng bao giờ cũng gấp lên, hai ống quần trắng bao giờ cũng buộc túm bằng hai sợi dây thun, nếu không muốn bị dính đầy bùn nước. Mùa lạnh, đi học sớm hai hàm răng đánh vào nhau lập cập, hai bàn tay tê cóng thu trong tà áo dài.

Vào Sài Gòn quanh năm không cần có áo mưa, cũng không cần mặc áo lạnh, tôi thấy hành trang đi học của mình đơn giản hơn nhiều. Và những người bạn Sài Gòn học cùng giảng đường cho tôi cảm nhận tính cách người Nam hồn hậu tự nhiên, ít rào đón như người miền Trung. Có khi họ giành chỗ cho bạn nhưng bạn chưa đến, họ vui vẻ vẫy tôi đến ngồi vào chỗ, khi thấy tôi đi trễ phải trải giấy dưới nền mà ngồi – chuyện thường ngày ở những giảng đường đông đúc như Văn Khoa Sài Gòn.

Ngày Văn Khoa khai giảng, số lượng sinh viên đông đến mức chóng mặt… (Hình: Khoa Văn Học)

Nhà trọ cách trường không xa lắm, nên hàng ngày đi học tôi vẫn đi bộ. Hôm nào cũng đi qua cầu Phan Thanh Giản, (2) để đến trường. Những hôm có thời khóa biểu học cả ngày, tôi mua một ổ bánh mì, một chai nước. Buổi trưa, bạn bè ở lại giảng đường khá đông, người nào cũng gặm bánh mì, nói chuyện rôm rả, rồi ngả lưng xuống ghế giảng đường. Trước giờ vào học không quên rãi sách vở ở các dãy ghế có tay quay để dành chỗ cho bạn.

Hồi đó, không hiểu sao khu trung tâm Sài Gòn có một sức hấp dẫn kỳ lạ đối với tôi. Từ Đại Học Văn Khoa ở đường Đinh Tiên Hoàng, tôi đi bộ xuống chợ Bến Thành, lang thang qua những con đường như Lê Thánh Tôn, Nguyễn Huệ. Lê Lợi… như thể phải đến đấy mới thấy được linh hồn Sài Gòn.

Đến trung tâm Sài Gòn, thế nào tôi cũng ghé vào nhà sách Khai Trí để thấy cả một thế giới tri thức của con người Đông Tây kim cổ. Không có tiền mua thì tôi coi… cọp. Rồi sà vào những đống hàng hóa bán solde (3) đổ đống ven lề đường với vải vóc. giày dép… Túi tiền sinh viên chỉ cho phép tôi mua những món hàng như thế. Bây giờ nghĩ lại, tôi ngạc nhiên không hiểu sao ngày xưa mình lại có thể đi bộ khỏe thế. Có lẽ vì vui nên không thấy đường dài.

Một lần vào ngày Chủ Nhật, tôi đi xe Velo- Solex lên nhà một người chị ruột ở đường Lê Đại Hành. Lúc đi ngang qua Học Viện Quốc Gia Hành Chánh (4), do mất bình tĩnh khi tránh một người đi bộ ngang qua đường, tôi bị té xe ngã giữa đường, bị một vết thương rách da ở cằm. Mấy người dân sống ở gần đó chạy đến đưa dầu cho tôi thoa. Đau thì ít, sợ thì nhiều, tôi hoảng hốt chẳng biết phải làm gì.

Hồi đó, đâu có điện thoại để gọi người thân như bây giờ. Lúc đó, một anh thanh niên đi xe Honda dừng xe đỡ tôi dậy. Anh bảo tôi gởi tạm chiếc xe Velo cho một thanh niên đang ngồi sửa xe đạp ven đường trước Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, để anh chở tôi đến bệnh viện may vết thương ở cằm. Tôi đã gởi xe cho anh thanh niên không hề quen biết này, mà không hề có chút nghi ngại để cho anh thanh niên kia chở đến bệnh viện.

Chủ Nhật, tôi đi xe Velo- Solex lên nhà một người chị ruột. (Hình minh hoạ: Ngo-Quyen.org)

Vị bác sĩ vừa may vết thương ở cằm tôi, vừa nói: “Em mà không may chỗ vết thương này thì sẽ trở thành một cái sẹo to đấy.”

May xong vết thương, anh thanh niên tốt bụng kia lại chở tôi về chỗ cũ. Từ xa, tôi đã thấy chiếc xe Velo – Solex của tôi vẫn dựng bên đường.

Tôi cảm ơn hai người thanh niên không quen biết kia và nghĩ sao Sài Gòn lại có nhiều người tốt như vậy. Nếu là người gian, anh thanh niên kia có thể thu dọn đồ nghề rồi mang luôn chiếc xe của tôi đi thì ai biết đâu mà tìm. Hình ảnh hai con người tốt bụng đó vẫn mãi mãi ở trong ký ức tôi với lòng cảm mến và biết ơn sâu sắc.

Sau này, trải qua bao nhiêu năm, có dịp vào Sài Gòn đi ngang qua con đường Trần Quốc Toản, ngang qua Học Viện Quốc Gia Hành Chánh (5) năm xưa, tôi vẫn nhớ về chuyện xưa với một chút ngậm ngùi dâu bể.

Bây giờ – mấy chục năm sau – khi đã sống định cư ở thành phố Sài Gòn, có dịp chứng kiến cảnh cướp giật, hôi của ngoài đường mỗi khi có tai nạn xảy ra, hoặc sự vô cảm, thờ ơ của người Sài Gòn mỗi khi có tai nạn thương tâm ngoài đường, tôi lại bồi hồi nhớ lại hình ảnh Sài Gòn năm xưa cách đây năm mươi năm, hơn nửa thế kỷ.

Mức độ văn minh hiện đại của cuộc sống tỷ lệ nghịch với sự băng hoại của thế thái nhân tình! Hai người thanh niên tốt bụng ngày xưa bây giờ làm gì? Ở đâu? Còn sống hay đã chết? Nếu còn sống, họ đã là những ông già trên dưới tám mươi tuổi.

“Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?”
(Vũ Đình Liên)

Trong lòng tôi, họ mãi mãi vẫn là biểu tượng cho một Sài Gòn nhân hậu năm xưa.

________

(1) Mốt HIPPY: Mốt thịnh hành vào cuối thập niên 60, đầu thập niên 70.
(2) Cầu Phan Thanh Giản: Bây giờ là cầu Điện Biên Phủ.
(3) Bán solde: Bán hạ giá, từ thông dụng hồi đó.
(4) Đường Trần Quốc Toản: bây giờ là đường 3 Tháng Hai.
(5) Học Viện Quốc Gia Hành Chánh: bây giờ là Học Viện Hành Chánh Quốc Gia.

Một tấm gương phi thường của người lính VNCH – CỰU ĐẠI ÚY THƯƠNG BINH QUÁCH VĨNH TRƯỜNG

Phạm Tín An Ninh

Video- Quách Vĩnh Trường Oral History – (do Viet Diaspora Stories thực hiện):

YouTube player

(Tác giả Hạ Lan Anh và Ông Quách Vĩnh Trường)

Bài viết của Hạ Lan Anh

“Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
  Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh
  Đã hẳn rằng ai nhục, ai vinh
  Mấy kẻ biết anh hùng khi vị ngộ”
 (Chí làm trai – Nguyễn Công Trứ)

Cách đây khoảng 8 năm, tình cờ tôi đã có dịp theo chị tôi đến thăm nhà một người anh đã từng làm việc với chị tại Đài Phát Thanh Quân Đội trước 1975. Căn nhà nhỏ, đơn sơ xanh mát với những chậu lan và những bụi hồng đang nở hoa thật xinh xắn.

Bước vào trong nhà, tôi nhìn thấy hai tấm Huân Chương với hàng chữ “Tổ Quốc Tri Ân” có dấu ấn của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa được đóng khung trang trọng giữa phòng khách, và những bức tranh sơn dầu thật đẹp treo trên tường của hoạ sĩ chủ nhà, cựu đại úy Quách Vĩnh Trường, người thương phế binh đã mất đi :

– cánh tay trái
– chân trái
– ngón tay cái của bàn tay mặt
– bể xương gò má
– và bị thủng cả hai màng nhĩ.

NGƯỢC DÒNG THỜI GIAN trở về quá khứ những ngày trên quê hương Việt Nam.

Năm 1965 Cựu Đại úy Quách Vĩnh Trường tốt nghiệp Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt khóa 20.

Năm 1966, trong lúc đang phân công tác tại bộ chi huy ở Gò Công thì bị Việt Cộng quăng lựu đạn vào căn cứ. Khi thấy quả lựu đạn, ông đã hét lớn kêu mọi người nằm xuống rồi CHẠY ĐẾN ĐÁ cho quả lựu đạn văng ra ngoài.

Không ngờ lựu đạn nổ tung, làm cho ông bị thương tật rất nặng NHƯNG ĐÃ CỨU SỐNG được gần 30 đồng đội hiện diện nơi đó. Ông đã phải nằm bịnh viện hơn một năm và không ai tin ông có thể sống sót. Năm ấy ông vừa tròn 26 tuổi !

Ngưỡng mộ chàng thanh niên anh hùng, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đích thân đến Tổng Y Viện Cộng Hòa gắn Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương kèm Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu để tưởng thưởng sự hy sinh cao cả của ông.

Khi xuất viện, ông được cho giải ngũ với mức độ tàn phế 170% nhưng ông đã tìm mọi cách để XIN TIẾP TỤC Ở LẠI PHỤC VỤ trong quân đội.

Vì là người đầu tiên xin ở lại sau khi được giải ngũ, ông đã gặp nhiều khó khăn nhưng ông vẫn kiên trì cho đến khi được Thủ Tướng Trần Văn Hương ký giấy chấp thuận.

Ông về làm việc tại đài Phát Thanh Quân Đội với chức vụ Truởng ban nghiên cứu từ năm 1968 đến 1975.

Vừa làm việc vừa ghi danh học tại Đại Học Luật Khoa Sài Gòn, ông đã tốt nghiệp THỦ KHOA Luật ngành tư pháp năm 1974.

Trong những năm ở trường Luật, ông quen biết cô Nguyễn thị Bích Kiều, một sinh viên xinh đẹp xuất thân từ một gia đình giàu có tiếng tại Long An. Một lần trong lúc đi xe bus đến trường ông đã bị té, bị thương và cô Bích Kiều TÌNH NGUYỆN giúp đỡ đưa đón ông bằng xe nhà trong suốt năm học cuối của trường luật.

Sau biến cố 30 tháng 4, 1975 ông bị chính quyền Cộng Sản ghép vào tội làm gián điệp và quản chế rất gắt gao. Ông mưu sinh bằng cách lấy bánh mì tại lò rồi đi bán cho cư dân vùng lân cận. Cô Bích Kiều VẪN LUÔN ở bên cạnh giúp đỡ ông.

Năm 1977, bất chấp sự chống đối của gia đình, cô Bích Kiều cương quyết thành hôn với ông và ông bà đã sống hạnh phúc đến ngày hôm nay.

Năm 1982 ông bà hạ sinh một người con trai đặt tên là Quách Vĩnh Tiến.

Năm 1986 gia đình ông bà định cư tại Hoa Kỳ dưới dạng tị nạn chính trị.

Khi đến Mỹ ông ghi danh vào đại học ngành hội họa, học cách phục hồi hình ảnh hư cũ và học Graphic design. Với kiến thức về Photoshop, ông đã đóng góp rất nhiều trong việc phục hồi những bức hình hư hại vì thời gian cho cuốn “Lược Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà” dầy 900 trang của cựu Đại tá Trần Ngọc Thống, cựu Thiếu tá Hồ Đắc Huân và cựu Trung uý Lê Đình Thụy đồng soạn và xuất bản năm 2012. Ông cũng giúp phục hồi hình ảnh, giấy tờ, tài liệu, giúp nhiều cựu quân nhân VNCH hoàn tất hồ sơ HO.

Noi gương cha, sau khi tốt nghiệp cao học ngành Tâm lý học, Quách Vĩnh Tiến con trai đã gia nhập Quân Đội Hoa Kỳ.

Năm 2010 Quách Vĩnh Tiến được bầu chọn là chiến sĩ xuất sắc nhất Tiểu bang California.

Năm 2018 Quách Vĩnh Tiến được báo Quân Đội Hoa Kỳ vinh danh là người phục vụ cho cựu chiến binh Hoa Kỳ xuất sắc nhất.

Quách Vĩnh Tiến lập gia đình với một nữ quân nhân Hoa Kỳ thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến và có một cháu gái.

Năm 2003 bác sĩ cho biết ông Quách Vĩnh Trường bị ung thư ruột.

Năm 2016 bác sĩ lại cho biết ông bị ung thư nhiếp hộ tuyến.

Với ý chí can trường “không đầu hàng nghịch cảnh”, ông đã vượt qua tất cả và ngày nay bác sĩ cho biết ông KHÔNG CÒN dấu hiệu ung thư.

Năm nay ông 83 tuổi. Thuợng đế đã bắt ông sống với một thân thể không lành lặn nhưng ĐÃ BAN cho ông vị thiên thần khả ái Nguyễn thị Bích Kiều, một người bạn học, bạn đời, KHÔNG MÀNG LỢI DANH luôn đi bên cạnh yêu thương và ủng hộ ông.

Năm ngoái khi chúng tôi có dịp ghé thăm ông bà, vẫn với gương mặt hiền lành và giọng nói từ tốn, ông cho chúng tôi xem hình ông chụp cháu nội và nói :

– “ Bé Sydney Vĩnh Quách năm nay mới 4 tuổi nhưng đã nói khi lớn cháu muốn gia nhập Quân Đội như ông nội và bố mẹ”.

Cô bé thường ôm hôn lên cánh tay cụt của ông và nói :

– “Ông ơi, con rất yêu ông, con muốn giống ông, ông là một anh hùng”

Xin gởi đến anh hùng Quách Vĩnh Trường và tất cả các cựu quân nhân của Quân Lực VNCH lời tri ân sâu sắc nhất nhân dịp kỷ niệm ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà 19 tháng 6.

(Chân dung bà Bích Kiều do ông Quách Vĩnh Trường vẽ chỉ với 4 ngón tay của mình. Đây là bức tranh sơn dầu treo trên phòng khách nhà ông !)

Hạ Lan Anh

19-6-2023

Bài trên báo Người Viêt :

Cha và con cựu Đại Úy Quách Vĩnh Trường ‘còn sống là còn phục vụ’

 HUNTINGTON BEACH, California (NV) – Có những người lính coi trọng bổn phận, trách nhiệm đến độ hy sinh thân thể mình để bảo vệ quê hương vẫn chưa đủ. Cựu Đại Úy Quách Vĩnh Trường là một trong số đó. Ông là người được Hội Đồng Y Khoa Quân Đội VNCH kết luận tàn phế 170% năm 1966, nhưng đến giờ phút này, ông vẫn không ngừng phục vụ non sông.

Tinh thần phục vụ cao độ của ông đã ảnh hưởng đến vợ con ông.

“Chỉ bị cụt một tay hay một chân là bị thương tật 100% rồi,” ông giải thích. Nhưng riêng ông thì “Tôi mất tay trái, chân trái, bị hư phần xương mặt bên phải và hư hai màng nhĩ.”

Lần ấy, vào năm 1966, trong lúc đang phân công tác tại một bộ chỉ huy ở Gò Công, bất thình lình, Việt Cộng nằm vùng quăng lựu đạn vào. Không đắn đo, Trung Úy Trường chạy đến dùng chân trái đá quả lựu đạn ra ngoài. Chẳng may, chân vừa chạm, quả lựu đạn nổ tung, giết chết người y tá đại đội đứng gần đó, đồng thời cướp đi tay trái và chân trái của viên sĩ quan 26 tuổi này.

“Tôi bị hất tung lên rồi ngất đi. Nhưng may mắn, tôi cứu sống được trên dưới 30 anh em binh sĩ hôm ấy,” ông hồi tưởng.

Trước Tết Mậu Thân 1968, ông được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu gắn Ðệ Ngũ Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương có kèm Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu tại Tổng Y Viện Cộng Hòa, nhằm tưởng thưởng và cám ơn ông đã hết lòng phục vụ tổ quốc.

Thế nhưng, mất mát tưởng như quá to tát ấy không thể khuất phục được người chiến sĩ QLVNCH.

Ông xin được tiếp tục phục vụ quân đội. Là người đầu tiên xin ở lại quân đội sau khi được xếp vào tình trạng giải ngũ, ông gặp rất nhiều khó khăn. Ban đầu, không ai cứu xét cho ông cả.

Dần dà, ý chí kiên trì và nghị lực siêu phàm của ông đã làm cấp trên phải quan tâm.

Ông kể: “Trước tôi, chưa hề có trường hợp này bao giờ. Tôi phải chật vật lắm mới xin được Thủ Tướng Trần Văn Hương ký quyết định cho tôi được tiếp tục ở lại phục vụ quân đội.”

Cuối năm 1968, nhờ quyết định đặc biệt này, ông được Trung Tướng Trần Văn Trung nhận về Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị và được Thiếu Tá Phạm Hậu đón nhận về phục vụ cho Ðài Tiếng Nói Quân Ðội.

Mất nước, cũng như bao nhiêu cựu chiến binh, gia đình ông lâm vào cảnh cùng kiệt.

Được chính phủ Mỹ bảo lãnh với tư cách tị nạn chính trị năm 1986, trước khi có chính sách H.O., ông cùng vợ và con trai Quách Vĩnh Tiến lên đường làm lại cuộc đời.

Anh Quách Vĩnh Tiến (trái) và Thiếu Tướng Lê Minh Đảo

Vĩnh Tiến, đứa con trai sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu lòng yêu nước, dĩ nhiên, đã tiếp bước chân cha, chọn binh nghiệp làm lẽ sống.

Sau khi tốt nghiệp cao học ngành tâm lý học, anh thực hiện ước muốn từ khi còn nhỏ: Vào quân đội như cha.

Năm 2009, anh là người gốc Việt duy nhất được Bộ Binh Hoa Kỳ phong tặng danh hiệu “Người Lính Xuất Sắc Nhất California,” một danh hiệu đòi hỏi phải vượt qua một cuộc thi đầy khó khăn, phải có kiến thức trong nhiều lãnh vực khác nhau, như thể thao, lịch sử quân đội, sơ cấp cứu, bản đồ địa lý, quy tắc, quân phong, quân kỷ…

Hiện anh đang làm việc tại bệnh viện V.A. Hospital, Long Beach.

Anh Tiến nói: “Tôi muốn sống và phục vụ mọi người để được xứng đáng là con trai của cha tôi.”

“Ngay từ nhỏ, tôi đã được thấm nhuần ý chí cống hiến đời mình cho cộng đồng của ông,” anh nói một cách nhỏ nhẹ. “Tôi ngưỡng mộ tinh thần chiến sĩ QLVNCH của cha tôi.”

Nhìn cha với ánh mắt kính phục, anh nói: “Tôi vô cùng hãnh diện được làm con ông, và tôi muốn cha mẹ tôi hãnh diện vì mình.”

Sau khi có bằng cao học ngành tâm lý, anh đã giúp biết bao người có được cuộc sống ấm no.

Một thí dụ đơn cử là anh giúp một cựu quân nhân từng tham chiến tại Việt Nam. Tinh thần không ổn định vì cuộc chiến, người lính này không nhớ được đơn vị cũ của mình cũng như những thông tin cụ thể để được hưởng trợ cấp của chính phủ.

“Tôi phải mày mò trong những hình ảnh ông còn giữ để truy lục tất cả những gì chính phủ cần để hoàn tất hồ sơ cho ông,” anh Tiến kể. “Nếu gặp người khác thì ông sẽ chỉ là một người vô gia cư thôi.”

Nhờ sự giúp đỡ của anh, đến nay, vị cựu chiến binh ở tuổi gần 80 này đang nhận $3,000 hằng tháng và đang làm chủ một căn nhà.

Ngoài ra, anh luôn chọn những công việc trực tiếp giúp người.

“Hồi 2017, đang có bão Harvey, chúng tôi đến Houston, Texas. Rồi đến bão Irma, chúng tôi đến Florida Keys, Florida. Chỗ nào có thiên tai, hỏa hoạn là chúng tôi đến ngay. Miền Bắc California hay có cháy rừng lớn nên chúng tôi thường có mặt ở đó,” anh Tiến cho thí dụ.

Vẫn nể trọng tinh thần bất khuất của cựu chiến binh QLVNCH, anh Tiến thường tham gia sinh hoạt cộng đồng. Đã có lần anh tham gia diễn hành Tết trong cương vị một quân nhân.

Ngoài ra, anh cũng tham gia những sinh hoạt văn hóa trong cộng đồng người Việt. Anh từng đóng vai “Sơn” trong vở kịch “Mong Chờ” của ban kịch Quang Minh-Hồng Đào trong DVD Asia 64 “Thế Giới Mùa Lễ Hội.”

Để có những đóng góp đa dạng như vậy, anh Tiến cho rằng tất cả là nhờ cha mẹ mình. Cha anh cho anh tinh thần phục vụ không mệt mỏi. “Mẹ tôi thì không bao giờ ngăn cản ý muốn của tôi dù trong tâm, bà không hề thích tôi đi lính,” anh Tiến nói. “Nhờ đó, tôi mới có thể an tâm mà phục vụ xã hội.”

Mẹ anh, bà Nguyễn Thị Bích Kiều, người nữ luật sư không ngại biết bao gian khổ bên người chồng tật nguyền để cùng nhau sống trọn kiếp người, đã cho anh thêm nghị lực để quên mình.

Mẹ anh, người đồng ý thành vợ ông Trường sau khi ông chỉ còn một tay, một chân, điếc tai, lại đang sống cơ cực dưới ách Cộng Sản đã cho anh niềm tin vào lý tưởng phục vụ.

Bà Kiều nở một nụ cười nhân ái rồi nói: “Còn sống đến hôm nay, gia đình chúng tôi nhờ vào nhau.”

Bà giải thích: “Tôi giúp anh có niềm vui để sống còn, nhưng anh cho tôi tinh thần bất khuất trước mọi nghịch cảnh. Anh thường nói, ‘Còn sống là còn phục vụ.’ Tinh thần phục vụ nhân quần, cháu Tiến học từ ba nó.”

Riêng phần cựu Đại Úy Trường, ông vẫn không quên nhiệm vụ của một chiến sĩ QLVNCH. Ông dùng kỹ năng photoshop để giúp thực hiện những bộ sách như “Lược Sử Quân Lực VNCH” của ông Hồ Ðắc Huân (đồng tác giả) qua những công trình sưu tập và phục hồi những bức hình bị hư nát vì thời gian.

Cựu SVSQ Quách Vĩnh Trường và gia đình gồm vợ, con trai, con dâu,
cùng cháu nội trong ngày hội ngộ Khóa 20 Võ Bị Đà Lạt.
Phía sau là Thiếu Tá Hồ Đắc Huân. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Ngoài ra, ông còn đóng góp tiền bạc và dùng sự quen biết để kêu gọi quyên góp cho các thương phế binh còn sót lại ở Việt Nam. Ông vẫn chưa cho là đủ, ông tâm sự: “Hối tiếc duy nhất của tôi là nguyện vọng đóng góp cho Việt Nam vẫn còn dang dở.”

Không rõ quan niệm về sự đóng góp của anh như thế nào, nhưng từ đời cha đến đời con, gia đình họ Quách đã không ngừng phục vụ xã hội.

Năm 2003, bác sĩ cho biết ông bị ung thư ruột. Năm 2016, bác sĩ lại cho biết ông bị ung thư nhiếp hộ tuyến.

Nhưng với bản tính “phải sống để phục vụ” cố hữu của mình, ông vượt qua tất cả và ngày nay, bác sĩ cho biết ông hoàn toàn không bị ung thư gì nữa.

Có con gái đầu lòng mới tròn ba tháng tuổi, anh Tiến cười vang khi hỏi con anh, sau này có đi lính không. “Tôi không biết cháu sẽ quyết định ra sao về chuyện này, nhưng tôi dám chắc rằng con tôi sẽ là một công dân hữu ích cho xã hội, cho quê hương.”

Gia đình ông Trường hiện sống tại Huntington Beach, California, và rất vui vì thành viên mới nhất, bé Sidney Vĩnh Quách.

Cả gia đình cùng chọn con đường phục vụ xã hội.

Đằng-Giao/Người Việt

April 27, 2018