Sinh Nhật Đức Trinh Nữ Maria. Happy Birthday Mẹ Maria! 

Chúc bình an đến bạn và gia đình.

Hôm nay Thứ 6, 8/9, con cái Mẹ Maria trên khắp bốn phương mừng Sinh Nhật Đức Trinh Nữ Maria.

Happy Birthday Mẹ Maria!

Cha Vương

Thứ 6: 08/09/2023

Khi thánh Gioan Damascus dâng lễ tôn kính ngày sinh nhật của Đức Nữ Đồng Trinh Maria trong thánh đường thánh Ana ở Jerusalem, ngài long trọng tuyên bố: “Tất cả mọi người hãy vui mừng lên, đây là ngày trọng đại, một niềm vui lớn lao cho toàn thế giới. Hôm nay trời đất giao hòa. Hôm nay chính là ngày bắt đầu cuộc cứu độ cho nhân loại.”

Ngày 4 tháng 12 THÁNH GIOAN ĐA-MÁT Linh Mục Tiến Sĩ - GIÁO XỨ TÂN VIỆT

Sứ mệnh làm Mẹ của Đấng Cứu Thế là ánh sáng bình minh của sự cứu độ. Nếu Đấng Kitô là Mặt Trời huy hoàng của sự Công chính thì Mẹ Người là ánh sáng rạng đông. Khi một người con được sinh ra thì người ta hết lòng chúc tụng người làm cha và làm me.

Provided by Tripadvisor

Thánh Damascus chúc tụng: “Ana và Joachim thật là một đôi vợ chồng có phúc! Tất cả mọi loài thọ tạo đều mang ơn của các ngài, Đấng Tạo Hóa đã ban một ân huệ cao cả vô cùng không gì sánh kịp: Phúc thay người cha và người mẹ, những bàn tay đã nâng niu âu yếm một người sẽ làm Mẹ của Đức Chúa Trời!”

Giáo Hội đã tôn kính ngày sinh nhật của Đức Nữ Đồng Trinh cách đây sáu thế kỷ. Ngày sinh nhật được chọn vào ngày 8 tháng 9 này để trùng hợp với ngày lễ Vô Nhiễm Nguyên Tội được ấn định vào ngày 8 tháng 12. Kinh Thánh không đề cập đến ngày sinh của Đức Maria nhưng được người Công giáo tôn kính như một truyền thống.

Thánh Ana và Joachim son sẻ nhưng đã hết lòng cầu nguyện để có một người con. Các ngài nhận được lời Thiên Chúa hứa là người con đó sẽ giúp hoàn tất kế hoạch của Thiên Chúa trong việc cứu độ nhân loại. Niềm tin này nói lên sự hiện diện của Thiên Chúa khi Đức Maria mới được thụ thai.

Thánh Augustine nối kết ngày sinh của Đức Maria với sứ mệnh cứu chuộc của Chúa Kitô. Thánh Augustin loan báo là thế gian hãy vui mừng lên và nhận lãnh ánh sáng khi Đức Maria được sinh ra: “Đức Nữ Đồng Trinh Maria là hoa huệ tinh tuyền chớm nở ngoài đồng nội. Nhờ Đức Maria mà số mệnh nhận loại vướng tội tổ tông đã được thay đổi.” (Nguồn: Dân Chúa)

Xin bạn hãy làm một bó hoa thiêng liêng nhỏ nhỏ (gợi ý: một việc hy sinh, đọc 1 tràng Kinh Mân Côi, xin vâng theo thánh ý Chúa…) để tặng Mẹ hôm nay nhé.

From: Đỗ Dzũng

Mừng Sinh Nhật Mẹ (Sáng tác: Lm Bạch Vân) – Nhóm Trái Tim Yêu  


 

Phật giáo miền Nam sau 30/4/1975: Khi các nhà sư vỡ mộng – Trần Phương Tạp chí Luật Khoa

Trần Phương.

Các nhà sư khối Ấn Quang biểu tình yêu cầu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, ngày 3/4/1975. Ảnh: Bettmann/CORBIS.
Vào tháng 11/1975, mùa mưa ở miền Nam sắp hết nhưng không khí căng thẳng mà quân giải phóng đem đến thì chỉ mới bắt đầu.Người miền Nam đi chùa như một thói quen hằng ngày nhưng lúc bấy giờ quân giải phóng đã không nghĩ như vậy. Cách mạng nếu không tịch thu thì cũng ra lệnh đóng cửa các ngôi chùa của khoảng 40.000 tăng ni lúc đó.

Không chùa nào được treo giáo kỳ. Không ngày lễ được tổ chức. Không có ngoại lệ nào cho các nhà sư, kể cả những người từng ngồi tù vì biểu tình chống chiến tranh hay chống chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Đàn áp và lao tù đến ngay sau ngày thống nhất.

12 tăng ni chùa Dược Sư tự thiêu

Vào lúc đó, cách tỉnh Cần Thơ khoảng 30 cây số về hướng Sóc Trăng bây giờ, trụ trì Thích Huệ Hiền cùng với 11 tăng ni ở Thiền viện Dược Sư đang chuẩn bị những ngày cuối cùng của mình.

Tất cả đã cùng nhau tự thiêu tại chùa vào ngày 02/11/1975.

12 tăng ni chùa Dược Sư đã tự thiêu như thế nào? Xác của họ được chôn ở đâu? Và vì sao các tăng ni, trong đó có một người 15 tuổi và một người mới 14 tuổi, lại chọn cách tự vẫn đau đớn như vậy trong khi đất nước vừa mới hòa bình?

Thiền viện Dược Sư là thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN), được thành lập vào cuối năm 1963 sau cuộc tranh đấu chống chính quyền Ngô Đình Diệm

Trong cuộc tranh đấu đổ máu đó, hình ảnh Hòa thượng Thích Quảng Đức, 67 tuổi, điềm nhiên châm lửa thiêu mình ở ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt, Sài Gòn đã làm xúc động thế giới.

Hòa thượng Thích Nhất Hạnh kể rằng sau cái chết dũng cảm của Hòa thượng Quảng Đức, chính quyền thủ đô Hà Nội đã tổ chức lễ truy niệm hòa thượng tại Quảng trường Ba Đình, dân chúng kéo đến đông không khác gì ngày Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập.

Nhưng thảm kịch tại chùa Dược Sư thì đã mau chóng bị vùi lấp.

GHPGVNTN và chính quyền lúc đó đã có những ý kiến trái ngược nhau về bi kịch này.

Theo nhật báo Chicago Tribune, ba tuần sau thảm họa chùa Dược Sư, Hòa thượng Thích Trí Thủ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo của GHPGVNTN lúc bấy giờ, người sau này trở thành Chủ tịch đầu tiên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam vào năm 1981, đã gửi thư đến Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam để khiếu nại.

Hòa thượng Trí Thủ nói rằng cán bộ cách mạng đã tịch thu chùa Dược Sư và cả thi thể của các tăng ni.

Bức thư được gửi cùng với thư tuyệt mệnh của trụ trì Huệ Hiền, trong đó ghi lại tên tuổi của 11 tăng ni và lý do tự thiêu là để yêu cầu chính phủ cách mạng “tôn trọng triệt để tự do tín ngưỡng của các tôn giáo đúng mức”.

Trong thư, ông nói bi kịch chùa Dược Sư xảy ra sau khi cán bộ cách mạng cấm chùa treo cờ Phật giáo và cầu siêu cho những nạn nhân chiến tranh. Các tăng, ni được yêu cầu “ăn và nói một cách bình thường [như mọi người] để học theo những con đường của cách mạng”.

Cán bộ ra lệnh Đại đức Huệ Hiền phải cắt nghĩa cho các tăng ni về “chiến thắng quang vinh và lịch sử của cách mạng”, động viên họ tham gia sinh hoạt chính trị trong các tổ chức của cách mạng lúc bấy giờ.

Hòa thượng Trí Thủ viết trong thư: “Qua vụ việc trên, chúng tôi hy vọng ông [bức thư gửi đến một lãnh đạo của chính phủ] và chính phủ cách mạng sẽ lưu tâm đến những gì đang diễn ra ở cấp cơ sở. Chúng tôi không muốn tin rằng vụ việc đáng tiếc trên cũng như nhiều vụ việc liên quan đến tự do tôn giáo khác phản ánh chính sách của Mặt trận Giải phóng Dân tộc và Chính phủ Cách mạng Lâm thời”.

“… đáng lẽ chúng tôi nên đến gặp ông để trình chi tiết và kín đáo hơn là gửi bức thư này. Tuy nhiên, một cuộc họp như vậy có vẻ là bất khả thi, kể từ khi thống nhất chúng tôi đã xin gặp chính phủ ba lần để nói về quan điểm của giáo hội đối với vấn đề tôn giáo nhưng liên tiếp bị từ chối”.

Tương tự như yêu cầu xin gặp chính phủ cách mạng, bức thư của Hòa thượng Trí Thủ không được hồi đáp.

Sau biến cố 30/4/1975, báo chí trong nước bị chính quyền kiểm soát. Các phóng viên quốc tế đã rời khỏi miền Nam, mọi biến động lúc đó đều không được đưa tin kịp thời. Phải đến gần một năm sau, báo chí quốc tế mới đưa tin về thảm kịch chùa Dược Sư.

Sau đó, tổ chức nhân quyền Ân Xá Quốc tế đã gửi thư đến Bộ Nội vụ Việt Nam vào tháng 9/1976 để yêu cầu cung cấp thông tin.

Khoảng sáu tháng sau, Bộ Nội vụ đã hồi đáp bức thư đó bằng một giải thích rất bất ngờ.

Chính phủ cho rằng theo lời khai của các nhân chứng thì ông Phạm Văn Có (tên khai sinh của Đại đức Huệ Hiền) đã giết hai ni cô lần lượt vào năm 1972 và năm 1974 sau khi ông ta làm hai người này mang thai, “và vẫn tiếp tục hành động vô đạo đức của mình sau ngày giải phóng”.

Theo tuyên bố của chính phủ, “vì sợ việc làm của mình bị lộ ra ngoài, ông Có đã quyết định tự sát, trước khi đốt chùa và tự thiêu mình, ông đã giết chết 11 người khác trong chùa, trong đó có hai thiếu niên”.

Trong một bài viết vào năm 1992, Hòa thượng Thích Quảng Độ, lúc đó là Tổng thư ký Viện Hóa Đạo của GHPGVNTN, sau này trở thành tăng thống thứ năm của giáo hội, nói rằng ông và các vị hòa thượng Thích Thiện Minh, Thích Huyền Quang không chấp nhận lời giải thích của chính quyền.

Hòa thượng Quảng Độ đã tham gia một cuộc điều tra của chính quyền. Sau cuộc điều tra, ông đã từ chối công nhận bản kết luận của chính quyền vì nội dung kết luận không đúng với bức thư tuyệt mệnh của Đại đức Huệ Hiền.

Bản kết luận điều tra mà chính quyền yêu cầu Hòa thượng Quảng Độ công nhận ghi rõ rằng Đại đức Huệ Hiền đã tự sát cùng “11 người khác” vì các lý do sau: sợ bị cách mạng trừng trị vì đã làm chỉ điểm cho “Mỹ – Ngụy,” không còn lương thực để sống vì trước đó được “Mỹ – Ngụy” chu cấp và sợ chuyện dâm ô với các ni cô bị bại lộ.

Từ việc 12 tăng ni chùa Dược Sư tự thiêu tập thể để đòi quyền tự do tôn giáo (theo nhận định của GHPGVNTN), qua cuộc điều tra của chính quyền đã trở thành một vụ án dâm ô và giết người diệt khẩu.

Nhưng dù lý do là gì đi nữa thì bi kịch tự thiêu tập thể ở chùa Dược Sư cũng đã mở ra hàng loạt vụ tự thiêu sau đó.

Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội

Ngay trước ngày 30/4/1975, nỗi sợ chế độ cộng sản đã khiến hàng vạn người chạy khỏi miền Nam nhưng cũng có không ít gia đình đã chọn ở lại.

Một trong những lý do ở lại vào lúc đó là vì người ta tin rằng nếu không dính líu đến chính trị ở chế độ cũ thì vẫn có thể sống bình yên với cách mạng.

Đối với các tăng ni, phật tử nhiệt thành của khối Ấn Quang thì lại càng có nhiều lý do hơn nữa để ở lại đất nước. Họ là những người đã đổ máu trong những cuộc biểu tình vang dội để chống chiến tranh, chống các chế độ độc tài ở miền Nam.

Với khả năng tổ chức bậc thầy, Ấn Quang đã huy động được một lực lượng rất đông đảo là các tăng ni, phật tử, sinh viên theo chủ trương chống chiến tranh, chống chính quyền miền Nam trong những năm 1960.

Các nhà sư khối Ấn Quang bước đi trên đường Lê Duẩn ngày nay trong một cuộc biểu tình phản đối chính phủ Nguyễn Văn Thiệu vào năm 1967. Ảnh: Co Rentmeester

Giáo sư Nguyễn Long, một phật tử nhiệt thành của khối Ấn Quang và giảng dạy về chủ nghĩa cộng sản ở Viện đại học Vạn Hạnh sau khi lấy bằng tiến sĩ ở Mỹ, cũng đã nghĩ như thế.

Mấy hôm trước ngày 30/4/1975, ông đã phân vân giữa ra đi hay ở lại quê hương.

Sau này, ông đã kể lại cuộc sống ở miền Nam sau ngày 30/4/1975 trong cuốn sách “After Saigon Fell: Daily Life Under the Vietnamese Communists” (Sau khi Sài Gòn sụp đổ: Cuộc sống thường ngày dưới tay những người cộng sản Việt Nam).

Ông Long sinh ra trong một gia đình thuần nông ở Đà Lạt. Khi còn là sinh viên ở Sài Gòn, ông cùng với những sinh viên khác ở tuyến đầu của phong trào sinh viên phật tử chống chính quyền miền Nam từ Ngô Đình Diệm, chính quyền của tướng Nguyễn Khánh rồi chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Ông từng bị bắt giam hai lần và được hai hòa thượng Thích Huyền Quang và Thích Mãn Giác (thuộc khối Ấn Quang) can thiệp thì mới được thả ra.

“Do đó, tôi không cảm thấy mình cùng loại với những người miền Nam khác mà cộng sản cho là ‘ngụy quân’ hay ‘ngụy quyền’, nghĩa là có liên quan trực tiếp hay gián tiếp với chế độ cũ hay chính sách của Mỹ. Nhiều người Việt ở các vị trí xã hội khác cũng có thái độ tương tự. Điều này đặc biệt đúng với các luật sư, bác sỹ, kỹ sư, nhà báo hay nhà văn. Hầu hết họ cảm thấy mình không phạm tội và không có mối quan hệ với chính trị trong quá khứ, do đó không lý do để rời khỏi Việt Nam”.

Và hơn nữa, ông là người có cảm tình với chủ nghĩa cộng sản. “Tôi thú nhận rằng trong một vài khía cạnh, chủ nghĩa cộng sản đối với tôi đã ngày càng hoàn thiện hơn, thực tế hơn và nhân văn hơn bất kỳ học thuyết phương Tây hay phương Đông nào mang lại”.

Nhưng mọi lý do kể trên đã thành con số không sau ngày 30/4/1975.

Ông Long buộc phải đi học tập chính trị. Cán bộ liên tục theo dõi ông, hàng xóm và kể con trai của ông bị chính quyền dùng để dò la xem ông đã nói gì, làm gì lúc ở nhà. Vì cách mạng cho rằng “ngụy thầy” (false educator) còn nguy hiểm hơn là “ngụy quân”.

Chính quyền đã thành lập hàng loạt các “hội yêu nước” để giáo dục và phân loại các thành phần công dân. Các phiên đấu tố diễn ra ở khắp nơi. Tất cả các hoạt động đi lại đều phải xin phép. Mọi người trong nhà ông đều phải trình diện vào khung giờ nhất định.

“Nhận thức của mọi người về bản thân mình và những người theo cộng sản đã khác nhau quá xa. Chúng tôi đã sớm thấy rằng xã hội dưới chế độ cộng sản mọi thứ đã bị chính trị hóa nhiều hơn bất cứ đánh giá nào của chúng tôi. Theo quan điểm của cộng sản, không có chỗ cho một cá nhân phi chính trị”.

“Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội” là một tuyên truyền phổ biến lúc bây giờ.

Trong hồi ký của ông Long, chính quyền lúc đó đã dùng khẩu hiệu này để gắn kết giữa chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa cộng sản. Ngoài ra, chính quyền còn cố gắng đồng nhất chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa yêu nước, một người yêu nước thì phải là một người cộng sản, nếu anh ta không phải là cộng sản thì anh ta không yêu nước.

Sau hai lần vượt biên thất bại, ông đưa gia đình vượt biên thành công đến trại tị nạn ở Indonesia vào năm 1979.

Bối cảnh ngay sau 30/4/1975 có thể giải thích một phần nào đó vì sao khối Phật giáo trước năm 1975 được xem là có cảm tình với cách mạng lại phải hứng chịu những trận đàn áp không nương tay của chế độ mới.

Ấn Quang dưới tay chính quyền cộng sản

Sau cuộc điều tra về bi kịch tự thiêu tập thể ở chùa Dược Sư, bất đồng giữa chính quyền và khối Ấn Quang ngày càng gia tăng.

Vào đêm ngày 06/04/1977, sau khi tịch thu cô nhi viện Quách Thị Trang vào tháng Ba trước đó, công an đã bố ráp chùa Ấn Quang với khoảng 200 nhà sư đang tu tập ở đây.

Trong cuộc bố ráp này, các hòa thượng Quảng Độ, Huyền Quang, Thanh Thế, Thiện Minh, Thuyền Ấn, Thông Huệ và nhiều người khác đã bị bắt.

Ngay sau đó, Phái đoàn Phật giáo Hòa bình tại Pháp (do Thiền sư Thích Nhất Hạnh đứng đầu) đã tuyên bố rằng có 120 tăng ni miền Nam sẵn sàng tự sát để phản đối chính quyền đàn áp tôn giáo.

Lúc bấy giờ, báo chí độc lập không còn hiện diện ở miền Nam như trước kia. Cách mạng đã kiểm soát mọi kênh truyền thông. Các vụ đàn áp Phật giáo phải mất rất nhiều thời gian mới đến được báo chí quốc tế.

Khoảng sáu tháng sau cuộc bố ráp vào chùa Ấn Quang, Hòa thượng Thích Mãn Giác, Phó hiệu trưởng của Viện đại học Vạn Hạnh, Ủy viên trung ương trong GHPGVNTN, đã vượt biên đến Paris (Pháp) để tố cáo cuộc đàn áp đạo Phật đang diễn ra rất trầm trọng ở miền Nam.

Ông nói mình đã mang theo nhiều tài liệu về xung đột giữa Phật giáo và chính quyền cộng sản.

Hòa thượng Thích Mãn Giác. Ảnh: Việt Báo.

“Chế độ mới đang theo đuổi chính sách triệt hạ các cộng đồng tôn giáo ở đất nước chúng tôi. Hàng trăm các tăng ni bị bắt. Hàng trăm các ngôi chùa bị tịch thu rồi bị biến thành cơ quan hành chính. Các tượng phật bị hạ xuống để đập phá. Không được tổ chức lễ Phật Đản như một ngày lễ quốc gia”, Hòa thượng Mãn Giác nói với báo giới vào tháng 11/1977.

“Đảng Cộng sản dường như không hiểu cũng không khoan dung về ước vọng sâu sắc nhất của chúng tôi. Chúng tôi đã rất đau khổ vì bị ngược đãi, kỳ thị và đàn áp”.

Phong trào Phật giáo của khối Ấn Quang “không tranh giành quyền lực chính trị… mà đòi hỏi sự khoan dung và quyền được tham gia xây dựng đời sống không phải như một cái máy mà bằng khối óc và trái tim”.

Hãng tin Reuters lúc đó đã dẫn tin rằng khối Ấn Quang đã bị mất sức ảnh hưởng ở miền Nam và bị chia rẽ trầm trọng khi kể từ khi nhà nước thành lập Hội Phật giáo Yêu nước.

Hòa thượng Mãn Giác nói Hòa thượng Thích Trí Quang, một trong các nhà sư nổi tiếng nhất thời Việt Nam Cộng Hòa thuộc khối Ấn Quang vì chống chiến tranh và chống chế độ cũ rất quyết liệt, có lẽ đang bị cách mạng giam giữ tại chùa.

Trích từ bài viết Giữa hai làn đạn của Nguyễn Hữu Thái đăng trên Thư Viện Hoa Sen. Ảnh: Tạp chí LIFE.

Cuộc chiến sống còn

Mặc dù từng đổ máu trong các cuộc biểu tình những năm 1960, từng bị cảnh sát quốc gia tra tấn, nhưng các nhà sư khối Ấn Quang đã kinh hồn bạt vía vì những màn tra tấn của công an cộng sản.

Trong một bài phỏng vấn Hòa thượng Thích Thiên Quang (hoặc Thích Thiện Quang), phó trụ trì chùa Ấn Quang, đã tiết lộ về màn tra tấn của chính quyền sau khi ông vượt biên đến Indonesia vào tháng 6 năm 1979.

Sau năm 1975, ông cho biết mình đã bị cách mạng giam cầm trong hai năm trước khi được thả vào năm 1977.

Ông nói rằng chuồng cọp của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu dùng không là gì so với màn tra tấn mà Hòa thượng Trí Quang trải qua trong nhà tù cộng sản.

Ông cho biết Hòa thượng Trí Quang bị bắt nằm trong một cái hố như quan tài và không thể ngồi dậy trong suốt 16 tháng. Mỗi ngày ông được cho ra ngoài 15 phút để vận động và tắm rửa. Vì vậy mà hai chân của ông bị teo lại khi được cho về chùa vào năm 1977.

Hòa thượng Thiện Quang nói lúc ông rời khỏi Việt Nam thì Hòa thượng Trí Quang vẫn đang phải ngồi xe lăn, học cách đi lại bằng đôi nạng và bị giam giữ tại chùa. Trong số những người bị bắt của khối Ấn Quang chỉ có ba người nữa được thả ra và cũng bị cấm ra khỏi chùa.

Vào lúc đó, chùa Ấn Quang bị canh giữa nghiêm ngặt và phật tử chỉ được đến chùa thắp nhang hai lần trong tháng.

Chùa Ấn Quang hay còn gọi là Tổ đình Ấn Quang là nơi chứng kiến các hoạt động sôi nổi của Phật giáo vào những năm 1960. Ngày nay, chùa nằm trên đường Sư Vạn Hạnh, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh chụp chùa vào năm 1998. Ảnh: Australian War Memorial.

Vào cuối năm 1978, sau khi Hòa thượng Thiện Minh đã chết trong trại giam, chính quyền đưa các hòa thượng của khối Ấn Quang ra xét xử với nhiều tội danh khác nhau. Dưới áp lực quốc tế, các hòa thượng Quảng Độ và Thanh Thế được trắng án. Hai hòa thượng Huyền Quang và Thuyền Ấn bị tuyên án hai năm tù treo. Hòa thượng Thông Huệ bị tuyên án ba năm tù giam.

Hòa thượng Thiên Quang nói rằng mâu thuẫn giữa Phật giáo và chính quyền sau năm 1975 đã bắt đầu từ vụ 12 tăng ni chùa Dược Sư tự thiêu ở Cần Thơ.

Ông cho biết trong năm 1977 và 1978, miền Nam đã có thêm 18 tăng ni khác tự thiêu riêng lẻ. Ông cũng cho biết rằng các tôn giáo khác như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Thiên Chúa giáo cũng đang bị đàn áp nặng nề không kém gì Phật giáo.

Khi được hỏi tại sao các nhà sư Ấn Quang phải tranh đấu với chế độ cộng sản sau khi đã gây ra quá nhiều rắc rối cho chính quyền ông Thiệu, ông trả lời: “Dưới chế độ của ông Thiệu, chúng tôi chỉ chống tham nhũng mà thôi. Bây giờ, dưới chế độ cộng sản, chúng tôi không thể tồn tại được. Giờ đây, chúng tôi phải chiến đấu để sống hoặc chết”.

Ngay sau ngày 30/4/1975, Phật giáo miền Nam đã bước chân vào một bi kịch mới. Số vụ các tăng ni đã chết vì tự thiêu bị che dấu. Tổng số các tăng ni bị giam giữ, chết trong trại giam từ sau ngày 30/4/1975 không được tiết lộ. Tổng số các chùa bị đập phá và tịch thu không được công bố. Chính phủ chưa bao giờ thừa nhận đã đàn áp Phật giáo miền Nam.

Đến những năm 1990, các vụ tự thiêu vì đàn áp tôn giáo vẫn còn tiếp diễn.


 

Người Đứng Bên Cầu – Truyện ngắn

Việtbáo

Đào Ngọc Phong

Tôi vừa nhận được một bì thư của con gái tôi, Amelia, gởi từ thành phố New York, đựng một xấp hình mới chụp trong khuôn viên đại học, và một lá thư viết tay bằng chữ Việt, nét chữ nắn-nót, tròn- trịa. Con gái báo cho mẹ biết đã được cấp một học bổng cho bậc cao học, để mẹ khỏi lo tiền bạc cho con nữa. Sở dĩ con viết tay là để mẹ vui vì con không quên tiếng mẹ đẻ; hai nữa, để nói mẹ biết về một ý định của con trong tương lai. Sau nhiều đêm suy nghĩ, con chưa muốn đi làm ngay, mà muốn học cao hơn nữa, vì muốn làm tròn ước nguyện mà mẹ không thực hiện được trong đời mẹ; nhưng điều quan trọng nhất, có lẽ con sẽ không lập gia đình, vì chỉ sợ lại rơi vào bi kịch mà mẹ chịu đựng suốt đời, mặc dù có vài bạn trai đứng- đắn tỏ ra yêu thích con.

Một giọt nước mắt rỏ xuống làm nhòe một chữ trên trang thư. Tôi có lầm lỗi không, khi nói hết sự thực cho Amelia? Không, trước khi nói điều đó, tôi đã suy nghĩ 8 năm trời đằng –đẵng. Bây giờ tôi đang ngồi trên một ghế xếp bên cầu đọc thư con gái; nhưng suốt tám năm, tôi chỉ đứng bên cầu nhìn giòng nước chảy, một tiếng đồng hồ mỗi sáng chủ nhật.Amelia sinh năm 2000 tại Orange County tiểu bang California.

Năm 2018, tốt nghiệp trung học, rời gia đình vào đại học, coi như đã trưởng thành; tâm trí đủ vững vàng đối diện với thực tế đời sống; bốn năm học xong BA, tự mình xoay-xở mọi việc; không, tôi không nên tự trách; việc tôi kể chuyện đời của mẹ vào lúc con trưởng thành vào đời là điều cần thiết.Sáng chủ nhật trước khi Amelia lên máy bay vào thứ hai, bốn năm trước, tôi và con gái ngồi bên cầu nói chuyện. Đây là một cây cầu ngắn, bắc qua một giòng suối nhỏ, nước chảy quanh năm trong một công viên quốc gia rừng nguyên sinh. Chỗ này vắng vẻ, ít du khách qua lại.

****

Tôi sanh năm 1975 tại Sài Gòn. Năm sáu tuổi, tôi đã biết giúp mẹ nhiều việc để kiếm tiền nuôi bà nội và hai mẹ con. Mẹ tôi dậy từ bốn giờ sáng để tráng bánh cuốn, bày bán trước cửa nhà trong một xóm lao động ngoại ô Sài Gòn. Mẹ làm bánh cuốn ngon, bà con trong xóm đều thích; thường chỉ đến 10 giờ sáng là bán hết. Vừa đi học vừa tập làm bánh cuốn, tôi dần lớn lên, thạo nghề, đỡ mẹ vất vả. Mẹ thường nói, bố mất sớm trong trại cải tạo, mẹ con mình phải cố gắng mưu sinh nuôi bà ; nhưng con phải hứa học cho giỏi, bán bánh cuốn chỉ là tạm thời.

Từ 10 tuổi trở lên, tôi đã thay mẹ dậy từ sáng sớm, tráng một mẻ bánh cho mẹ bán buổi sáng; nếu trưa còn khách, mẹ tráng thêm một ít để buổi chiều đi học về tôi mang hàng đi giao cho khách ở xa.   Nhờ đi giao hàng đây đó, tôi thấy việc học Anh ngữ thật cần thiết để giao dịch. Vì vậy tôi chuyên tâm học tiếng Anh. Tôi len lỏi vào những cửa hàng nước ngoài, những khách sạn đê chào hàng; khách hàng của tôi đông lên dần. Mẹ phải xin phép phường khóm cho đặt bàn trong nhà. Hai năm cuối trung học, tôi phải tập trung vào việc học để thi vào đại học, nên mẹ phải mướn thêm người giúp việc. Nhưng 4 giờ sáng tôi vẫn phải dậy sớm tráng bánh.

Tôi định hướng tương lai của tôi là trở thành giáo viên Anh ngữ, nên tôi nộp đơn thi vào Đại Học Sư Phạm.  Làm bài thi đầy tự tin, tôi hy vọng chờ đợi kết quả trúng tuyển, nhưng ngày tuyên bố kết quả lại không có tên. Mẹ tôi buồn lắm, năm sau bà nhất định không cho tôi dính vào buôn bán nữa, chỉ có học và học. Lại một lần tự tin, lại một lần thất bại. Nhưng khi xem những ai trúng tuyển, tôi ngạc nhiên thấy có những bạn học rất thường mà đậu.

Tôi đành phải đi dạy học tư, mở lớp dạy ở nhà, kiếm được khá để giúp mẹ; nhưng bà vẫn ấm ức trong lòng. Bất ngờ một lần tôi gặp một cô bạn thân hồi lớp 11 cùng tuổi tên là N. xinh- xắn dễ mến. N, là con gái của một cán bộ cao cấp; sau 75, ông được cấp một căn biệt thự trên đường Tú Xương mà chủ nhân đã bỏ ra nước ngoài. Gia đình N. thuộc loại giai cấp thượng lưu mới.

N, gặp tôi mừng lắm, hỏi sắp ra trường đi dạy chưa; tôi buồn buồn nói hai năm làm bài tự tin nhưng đều trượt; N.có vẻ ngạc nhiên, nói để sẽ nhờ cha cô hỏi Sở Giáo Dục xem sao; về phần cô thứ năm sau sẽ sang Mỹ học.

Một tuần sau cô mời tôi đi ăn kem nói chuyện. N. có vẻ buồn nói : “Ba mình đã hỏi cho cậu rồi; ông nói điểm cậu rất cao, nhưng vì….lý lịch cậu có cha là sĩ quan chế độ cũ nên bị gạc đi”.

Vừa nghe xong, tôi bỗng cảm thấy người tôi lạnh ngắt; nhưng tôi cố kìm không bật lên tiếng khóc. N. ôm lấy vai tôi: “Mình cũng vậy, khi vừa nghe xong điều đó mình không giữ được bình tĩnh; mình gay gắt nói bố của cô ấy đã chết trong tù của quí vị, đã trả nợ quí vị rồi, sao còn bắt tội con của ông ấy? Cô ấy cũng như con đây sinh năm 1975 có biết gì về các việc của quí vị trước 75 đâu? Ba mình chỉ yên lặng. Mình chán cái não trạng bộ lạc, bỏ đi sang Mỹ sống cho thoải mái”.

Khi N. sắp xuất ngoại, gởi thiếp nhiệt tình năn- nỉ tôi đến dự party tiễn đưa, tổ chức tại biệt thự nhà cô. Tối rất quí N. nên miễn cưỡng nhận lời.

Tất nhiên khách của N, toàn là “cậu ấm cô chiêu” thuộc giai cấp mới. Đó là vào   1998, tôi đã 23 tuổi. N. kéo tôi giới thiệu với một thanh niên : “Đây là anh K, anh họ mình, làm nghề bán xe hơi ở Mỹ, mới về thăm nhà. Còn đây là H. bạn thân của em, giỏi tiếng Anh lắm; hy vọng hai người “đấu” với nhau nhiệt tình nhá”

Có lẽ K. ở Mỹ lâu, nói tiếng Việt không sõi lắm, nên gặp tôi “đấu” tiếng Anh thì anh tỏ ra thích thú vô cùng. Anh khen tôi giỏi, và anh bám lấy tôi suốt buổi. N. rất hài lòng, cám ơn tôi đã tiếp khách giùm cô.

Cửa hàng bánh cuốn của mẹ phát đạt, nên tiền bạc gia đình tương đối rủng- rỉnh.

Một đêm, mẹ tôi kéo tôi vào phòng ngủ thì thầm “Mẹ đã để giành ít tiền, muốn lo cho con du học Mỹ như người ta. Thời buổi này cứ tiền thôi con ạ, cửa nào cũng lọt”. Tôi mừng rỡ ôm mẹ, cám ơn mẹ, nhưng con đi xa chỉ sợ mẹ già và bà nội cô đơn trống trải. Mẹ nói bố con ngày xưa là  giáo sư toán kiếm tiền như nước, con nhất định phải lấy bằng đại học thì bố mới vui mà không trách mẹ không lo được cho con ăn học đến nơi đến chốn.

Tôi tăng giờ dạy học để có thêm tiền lo việc. Tôi vô phỏng vấn, trót lọt mọi đường. Đầu năm 1999, tôi đặt chân lên xứ Mỹ, cám ơn mẹ kính yêu của con; tự hứa nhất định phải hoàn thành ước mơ đại học, một ước mơ bị tàn lụi nơi quê nhà.

Một mình đến xứ lạ, tôi mới cảm nghiệm sâu xa ý nghĩa của câu “Bơ vơ thân gái dặm trường”. Tuy nhiên, tôi bương chải từ năm sáu tuổi, nên mọi sự khốn khó tôi dều vượt qua. May mắn, tôi được bạn của mẹ đón về cho “share” một phòng trong một căn nhà nhỏ ở vùng Little Sai gòn. Con gái của bà giúp tôi học lái xe và dẫn đi mua một xe cũ.

Duyên nợ kiếp nào đưa đẩy, khiến cô dẫn tôi đến một trung tâm bán nhiều xe cũ gọi là “used car”. Vừa gặp người “dealer”, tôi nhận ra ngay K., anh họ của bạn tôi N. K mừng rỡ, nói không ngờ gặp tôi ở đây.

Anh chọn cho tôi một xe khá tốt vừa túi tiền. Từ ngày đó, chúng tôi thường đi ăn với nhau.  Việc học của tôi trôi chảy, và tôi thich nghi mau với đời sống Mỹ. K hơn tôi năm tuổi, tức là năm ấy anh 29 tuổi vẫn thích sống độc thân trong một căn “mobile home” quanh khu Phước Lộc Thọ, phố Bolsa. Tôi gọi cho N. lúc ấy đang sống ở San Francisco.

N. chúc mừng tôi và hẹn sẽ xuôi Nam hội ngộ. Cuộc hội ngộ này là cuộc hội ngộ định mệnh cho đời tôi. Sau một tuần đi chơi chung, N. bỗng đề nghị K. và tôi nên kết duyên đi.

Cả K và tôi đều sửng- sốt, vì cả hai đều chưa hề nghĩ tới cái việc “kinh khủng” này. Bởi vì, sau một thời gian giao thiệp với K, tôi thấy anh chàng này sống phóng túng, khó mà khép anh ta vào một khuôn khổ; còn tôi thì dĩ nhiên, sự nghiệp chẳng có gì, cần phải học ít nhất ba năm nữa cho xong cử nhân mới tìm việc làm đàng hoàng. Đời nào mẹ tôi chấp nhận.

N, gặp riêng tôi, nói tôi nên thực tế theo lối Mỹ, đừng có nghĩ theo kiểu Việt Nam, muốn bằng cấp này nọ, vô tích sự; ôm cái bằng cử nhân ra đời xứ Mỹ chưa chắc tìm được việc làm bằng một người “technician”. Cứ đi làm có tiền sống đã rồi dần học lên. Vả lại, nếu tôi lấy K. thì tôi sẽ có quốc tịch sớm, giúp cho tiền học phí của tôi nhẹ nhàng và được nhiều phúc lợi khác của xã hội Mỹ.

Tôi viết thư về cho mẹ, trình bày theo ý của N. Mẹ tôi quả là có óc thực tế, chấp nhân liền. Bà thấy rõ phí tổn tiền bạc rất lớn cho một du học sinh. Không biết N. thuyết phục thế nào mà K đồng ý. N. đúng là bà mai cho cuộc hôn nhân này.

Chúng tôi thành hôn và năm sau sinh bé Amelia. N. nói tôi cố gắng khép K vào nề nếp. Năm năm đầu chúng tôi có hạnh phúc trong hôn nhân.

Nhưng hầu như ngựa quen đường cũ; K chỉ chi tiền nhà hàng tháng còn bao nhiêu tiền bạc kiếm được cứ vung theo bạn bè; buổi chiều ít khi về nhà, cuối tuần miệt- mài trong vũ trường. Tôi muốn học cho xong BA để xin chân giáo viên mau có nghề tương đối ổn định, nên cố nhẫn nhục chịu đựng. Tôi gởi bé Amelia vào trường mẫu giáo để có thì giờ đi học.

Tôi không dám hé răng than thở với mẹ. May là năm sau, tốt nghiệp rồi, tôi xin được chân phụ giáo, sống đỡ, dù đồng lương khiêm tốn.

Tiền bạc eo hẹp không đủ nuôi con, tôi bật ra ý nghĩ thử quay lại nghề bánh cuốn xem sao. Thế là tôi âm thầm sắm đủ đồ nghề; ở trường về, tôi cặm cụi tráng bánh, rồi đem đi mời chào cô bác trong khu mobile home phần lớn là đồng hương Việt. Y như ngày xưa mẹ tôi vào nghề, bánh cuốn của tôi vừa rẻ vừa ngon, khiến dần dần cả khu mobile home đặt tôi làm. Tôi có đồng ra đồng vô; bèn nghĩ cách quảng cáo trên báo, kết hợp với xã giao, tôi được nhiều khách đặt hàng. Hóa ra nghề bánh cuốn của mẹ cứu tôi, chứ không phải cái bằng BA.

The Carpenters Apartment Complex | California Curiosities

Thế là suốt năm năm cho tới khi Amelia mười tuồi, năm 2010, tôi có chồng mà như chẳng có chồng. Nhưng như có phép lạ, khi bé vào trung học, thì K bỗng mỗi buổi chiều trở về tỏ ra săn sóc mẹ con; nhưng tuyệt đối, tôi tránh việc chăn gối. Bản thân tôi thấy mình lạnh rồi; việc làm bánh cuốn để sinh nhai đã làm tôi mệt nhoài rã rời thân thể; mà tâm hồn tôi cũng không còn coi K như chồng nữa. Tuy nhiên sự hiện diện của anh mỗi tối cũng làm cho Amelia vui vẻ.

Tôi đi giao bánh hàng ngày ở nhiều địa chỉ, khiến tôi quen nhiều khách hàng mến tôi. Nhờ vậy tôi mới khám phá một việc “động trời “về K. Khách hàng chỉ cho tôi một căn nhà mà K hay lui tới vào ban chiều. Hóa ra K thuê căn nhà đó cho một cô bồ mà hình như đã có một đứa con trai. Tôi suy nghĩ đối chiếu hành xử của K, đi đến kết luận K. về nhà thăm bé Amelia chỉ là đóng kịch.

Vì tương lai của bé, tôi cũng sẽ đóng kịch. Những bữa cơm chiều diễn ra có vẻ chan hòa đầm ấm. K hầu như không hề biết tôi đã khám phá ra chân tướng của anh. Nhưng cũng từ ngày đó, lòng tôi tan nát. Làm sao để tôi không suy sụp trước khi bé trưởng thành?. Tôi chỉ sợ tôi không giữ nổi vai kịch từ năm này sang năm khác.

Mom and Her Little Daughter on a Bench in the Park. Stock Image - Image ...

K. không bao giở ở nhà ngày chủ nhật, viện cớ chủ nhật đông khách.Tôi dẫn bé Amelia vào một công viên và khám phá ra môt giòng suối có cây cầu xinh xinh. Trong khi bé vui chơi trên cỏ, tôi đứng tựa bên cầu nhìn giòng nước chảy.

Có lúc nước trong veo, có lúc hơi đục vì kéo theo vài cành lá mục; có lúc chảy xiết, có lúc lờ đờ; có lúc nước đầy gần chạm cầu, có lúc gần như cạn sát đáy, trơ cát. Mắt tôi cứ dán vào giòng nước, mà tâm tư tôi trôi theo đời tôi từ hồi sáu tuổi dọn bàn, sắp ghế bán bánh cho mẹ, san chai nước mắm, pha ớt thêm đường.đi giao hàng khắp phố phường, đi thi vào đại học, đi dạy tư kiếm thêm tiền…rồi qua Mỹ, lấy chồng……Tôi nhìn giòng tâm tư trôi đi, y như nhìn giòng nước dưới cầu; nước cứ chảy, cầu cứ thản nhiên nhìn xuống. Tôi bỗng thấy tâm tôi như cây cầu thản nhiên nhìn giòng đời.  Lòng tôi êm ả, bao nhêu buồn bã, phiền muộn tan đi. Tôi khám phá ra phương pháp đứng vững nhìn giòng dời. Tôi không còn buồn về chồng, không còn lo về con,

Tôi cảm thấy tự tin điều khiển giòng đời theo ý mình, không để cho ngoại cảnh chi phối.

Tôi thấy rõ tôi phải làm gì để tự cứu; không ai cứu tôi được.  Tiền kiếm được, tôi chắt-chiu dành-dụm; trong bảy năm tôi có tạm đủ số tiền để “down” một căn nhà kiểu townhouse hai phòng ngủ cho hai mẹ con; tôi không muốn phụ thuộc vào căn mobile của K nữa.

Tôi bí mật ra luật sư làm sẵn giấy tờ ly dị.

Khi con sắp hết lớp 12, tôi âm thầm “book” vé cho con rời gia đình sang tiểu bang khác vào đại học, dặn dò con kín tiếng không cho ai hay. Cha con cũng chẳng quan tâm con đã học đến đâu. Ngày mai thứ hai, khi con lên máy bay rồi, mẹ sẽ báo cho cha con biết, và mẹ sẽ dọn nhà ngay, trả lại ông ấy căn mobile home.

Bốn năm trước vào sáng chủ nhật bên cây cầu này, hai mẹ con tôi nói chuyện như thế. Tôi nhớ khi nói hết câu chuyện, Amelia òa khóc, ôm chặt lấy tôi, nói con không muốn đi đâu hết, không để mẹ một mình. Tôi an ủi, khich lệ con, nói tương lai của con là lẽ sống của đời mẹ, con phải can đảm ra đi.

****

Tôi nhớ thứ hai buổi chiều, chồng tôi về, không thấy Amelia, tỏ vẻ ngạc nhiên. Tôi lạnh lùng mời anh ra phòng khách; tôi nói màn kịch đã chấm dứt; tôi biết từ lâu anh đã có phụ nữ khác hợp với anh, nhưng cám ơn anh đã đóng kịch khéo để cho Amelia an lòng học hết trung học, không bỏ lớp giở -dang; trong tám năm tôi đã cần lao tự lực mua được căn nhà riêng cho hai mẹ con rồi, ngày mai tôi sẽ dọn ra, trả lại căn mobile này mà không đòi hỏi gì; tôi sẽ thuê người lại làm sạch sẽ hoàn toàn; cám ơn anh đã cho mẹ con tôi tá túc bao năm. Hiện giờ Amelia đã vào cư xá sinh viên bên New York rồi. Đây là đơn ly dị, xin anh ký vào.

K. không nói một lời nào, anh lặng- lẽ ký giấy, rồi bỏ vào phòng. Nghĩ cho cùng, tôi không giận anh, vì hai chúng tôi chưa đủ tình yêu với nhau trước hôn nhân. Thì tôi đã nói, duyên nợ kiếp nào đã buộc chúng tôi vào nhau một thời gian.

Pin by JAN ITA on photography | college grad | College photography ...

Bây giờ ngồi bên cầu, tôi giở xem xấp hình Amelia trong khuôn viên đại học. Nhin giòng nước êm đềm trôi, tôi cám ơn cây cầu và giòng suối đã giúp tôi đứng vững giữa giòng đời . Hồ sơ bảo lãnh mẹ tôi đã xong, tôi chờ ngày đoàn tụ với mẹ, vì bà nội tôi đã mất mấy năm nay rồi.

Amelia text cho tôi, nói con còn một tháng nghỉ ngơi trước khi vào khóa học, sẽ bay về ở với mẹ, sẽ cùng mẹ ra ngồi bên cầu bốn chủ nhật, vì mẹ đã đứng mấy trăm lần bên cầu rồi.

From: giang pham&KimBang Nguyen


 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Trần Huỳnh Duy Thức

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

07/09/2023

Với tất cả trân trọng và thương cảm, nhà văn Ngô Thế Vinh đã gửi đến cho mọi người một tin buồn lớn: Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã từ trần vào hôm 29 tháng 1 năm 2017.

Ông để lại một sự nghiệp đồ sộ, bộ sách Cây Cỏ Việt Nam (gồm 6 quyển, hai tập) với lời đề tặng:

– Những ai còn sống hay đã chết trong tù vì tháng Tư năm 1975 đã quyết định ở lại để tiếp tục dâng góp cho đất nước.

– Tặng giáo sư Nguyễn Duy Xuân nguyên viện trưởng Đại Học Cần Thơ, mất ngày 10/XI/1986 tại trại Cải Tạo Hà-Nam-Ninh.

– Tặng hương hồn những ai trên biển Đông đã chết nghẹn ngào.

Tôi băn khoăn tự hỏi: Giáo sư Nguyễn Duy Xuân là ai? Sao một công trình nghiên cứu về thực vật học mà lại mở đầu bằng những “lời đề tặng” u ám, u uẩn và u uất thế? Chúng ta đang sống trong một thời đại, và một đất nước, bi thương đến độ này sao?

Những trang viết kế tiếp của nhà văn Ngô Thế Vinh, với nhiều dòng chữ nghẹn ngào, đã giúp cho tôi lý giải những câu hỏi vừa nêu:

“Giáo sư Nguyễn Duy Xuân cũng là người Cần Thơ, sinh năm 1925 hơn Giáo sư Phạm Hoàng Hộ 4 tuổi, tốt nghiệp Tiến sĩ Kinh tế tại Đại học Vanderbilt Hoa Kỳ, trở về Việt Nam 1963, giáo sư Luật. Nhận chức Viện trưởng từ Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, Giáo sư Nguyễn Duy Xuân đã nỗ lực phát triển Viện Đại học Cần Thơ trên mọi lãnh vực từ chương trình giảng dạy, đào tạo ban giảng huấn, xây cất thêm giảng đường, phòng thí nghiệm, thiết lập ký túc xá như hệ thống campus cho sinh viên đến từ các tỉnh xa Miền Tây…

Chỉ trong vòng 9 năm [1966 – 1975] với công lao xây dựng của hai Viện trưởng tiền nhiệm: GS Phạm Hoàng Hộ, GS Nguyễn Duy Xuân, Viện Đại Học Cần Thơ như một Ngọn Hải đăng Miền Tây, trở thành một trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học, đặc biệt bước đầu ưu tiên phát triển hai lãnh vực Sư phạm và Nông nghiệp, vững vàng sánh bước với các Viện Đại học lâu đời khác của Miền Nam, đóng góp cho sự thăng tiến của vùng ĐBSCL…

Chỉ mấy ngày trước biến cố 30 tháng 4, 1975, cũng như GS Phạm Hoàng Hộ, GS Nguyễn Duy Xuân như một trí thức dấn thân, quyết định ở lại và giữa cảnh dầu sôi lửa bỏng, ông vẫn can đảm nhận chức Tổng trưởng Bộ Văn hóa Giáo dục cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa. Giữ chức vụ đó chưa đầy một tuần lễ thì chính quyền Miền Nam sụp đổ, TT Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng.

GS Nguyễn Duy Xuân bị đưa vào trại tù cải tạo, sau đó bị đưa ra Bắc … đã chết trong tù cải tạo Hà Nam Ninh ngày 10 tháng 11 năm 1986 trong đói khát và bệnh tật không thuốc men. Xác của ông được vùi nông trong nghĩa địa tù cải tạo trên triền núi phía sau trại tù Ba Sao.”

Tôi đã có lần nhìn thấy tấm ảnh chụp bia thờ 626 linh hồn tử vong (từ năm 1975 đến năm 1988) của trại tù này, trên trang web của blogger Phạm Thanh Nghiên.

Có lẽ tên tuổi của giáo sư Nguyễn Duy Xuân cũng được ghi trên tấm bia này vì ông từ trần vào năm 1986, thời điểm mà giới truyền thông nhà nước vẫn xưng tụng (không tiếc lời) về sự “dũng cảm nhìn vào sự thực” và “quyết tâm đổi mới của ĐCSVN.

Nếu “dũng cảm nhìn vào sự thực” thì đây chỉ là sự quyết tâm “bẻ lái con tầu đất nước” theo hướng Trung Nam Hải – như nhận xét và cảnh báo của blogger Trần Huỳnh Duy Thức:

“Trung Quốc và Việt Nam tạo ra một phiên bản khác về sự vi phạm tính toàn vẹn của các quyền con người. Hai nước này đã thừa nhận quyền kinh tế cho người dân nhưng vẫn tước đoạt không khoan nhượng quyền chính trị của họ, gây nên một kiểu tự do què quặt khác.

Mặc dù mô hình này có thể tạo nên sự tiến bộ kinh tế và các thành tích ấn tượng về xóa đói giảm nghèo, nhưng nó cũng đồng thời nuôi dưỡng bất bình và suy thoái xã hội rồi nhốt chúng lại.

Khi sự trầm trọng này trở nên mục rỗng thì nó sẽ dẫn tới việc bộ máy chính trị tự dân chủ hóa hoặc sẽ kết thúc trong sụp đổ toàn diện về kinh tế, xã hội, chính trị và một chế độ bị lật nhào. Đây là tiến trình tất yếu vì nó phá vỡ sự toàn vẹn của các quyền con người vốn thuộc về luật của Tạo hóa.

 Dưới tác động của toàn cầu hóa và xã hội Internet, tiến trình này sẽ diễn biến rất nhanh, nhanh hơn đã từng chứng kiến trong thời gian chiến tranh lạnh dẫn đến sự tan rã của hệ thống Đông Âu và Liên Xô.”

Lời cảnh báo này, tiếc thay, đã bị những người đứng đầu chế độ hiện hành coi như là một “lời nguyền” hay “trù ẻo.” Tuy mang tiếng là theo chủ nghĩa duy vật nhưng họ lại là những kẻ rất dị đoan.

Vốn bệnh tật nên họ sợ “tiếng cú,” và đã vu vạ cho Trần Huỳnh Duy Thức đủ loại tội danh (trộm cắp cước điện thoại, hoạt động chính trị nhằm lật đổ chính quyền) cùng một bản án nặng nề –16 năm tù và 5 năm quản chế, vào ngày 20 tháng 1 năm 2010 – qua một phiên toà mà đại diện của Hội Ân Xá Quốc Tế đã mô tả như là “sự nhạo báng công lý.”

Nhiều năm đã trôi qua nhưng chưa bao giờ người tù nhân lương tâm quả cảm này bị công luận lãng quên. Ông vẫn luôn được nhắc đến với rất nhiều trân trọng, qúi mến, cùng quan ngại:

– BBC (21/01/2010) Người Có Án Nặng Nhất Nói Bị Bức Cung

– BBC (21/01/2010) Các Nhóm Nhân Quyền Chỉ Trích Bản Án

– RFI (30/01/2010) Bốn Nhà Bất Đồng Chính Kiến Ở Việt Nam Kháng Án

– Bauxite VN (14/06/2013) Duy Thức Đã Không Ngủ Suốt 10 Ngày Biệt Giam

– RFA (15/10/2013) Trần Huỳnh Duy Thức Được Vinh Danh Giải Nhân Quyền

– RFA (07/05/2016) Tù Nhân Trần Huỳnh Duy Thức Bị Chuyển Trại Giam

– BBC (17/05/2016) Ông Trần Huỳnh Duy Thức Sẽ Tuyệt Thực

– Ba Sàm (28/05/2016) Trí Thức Tuyệt Thực Cùng Trần Huỳnh Duy Thức

– VOA (31/01/2017) Ông Thức Nhất Quyết Không Lưu Vong

Tôi chưa bao có cái hân hạnh được giao tiếp với ông Trần Huỳnh Duy Thức. Tôi chỉ được biết người tù nhân lương tâm bất khuất này qua công luận. Và công luận thì đã vạch rõ sự ác độc và tính man rợ của những kẻ đứng đầu chế độ công an trị hiện hành. Họ đã gây ra không biết bao nhiêu là cái chết đớn đau và oan khuất:

“Những người bị giết đều là những tinh hoa, là danh sĩ đạo cao đức trọng, yêu nước thương dân, có thành tựu văn hóa sáng giá cống hiến cho nền văn hiến nước nhà. Họ chết mỗi người mỗi cách đau xót và hàm oan:

 Nhà văn Lan Khai bị xô xuống vực, văn hào Ngô Tất Tố bị bức cho treo cổ tự vẫn, Khái Hưng bị bỏ rọ trắn sông, Phạm Quỳnh đối thủ đáng gờm của thực dân Pháp bị xử tử, Tạ Thu Thâu nhà yêu nước lớn bị tử bắn; nàng thơ nữ sĩ Thu Hồng bị bắn lén từ sau lưng; Nhượng Tống dịch giả tài hoa số 1 bị ám sát; Dương Quảng Hàm vị giáo sư đáng kính ra khỏi nhà đi mãi không về; vị bồ tát Thiều Chửu bị bức hại nhảy xuống sông tự tận…

Đó là tất cả sự thực về những cái chết tức tưởi oan khuất của các nhà văn, nhân sĩ mà bọn gieo ác vẫn sống nhởn nhơ trên pháp luật với bộ mặt người lương thiện! Nguyên tắc bất di bất dịch nằm trong ý thức hệ tư tưởng của những kẻ sát nhân lương thiện này là: yêu nước và chính kiến là độc quyền của tao, mày không đi với tao, mày là kẻ thù của tao. Đã là kẻ thù thì mày không có quyền tồn tại! (“Thái Doãn Hiểu – Những Cái Chết Tức Tưởi Của Nhà Văn, Chuyện Bây Giờ Mới Kể”).

Phạm Quỳnh, Ngô Tất Tố, Khái Hưng, Dương Quảng Hàm sinh vào cuối thế kỷ XIX. Lan Khai, Thu Hồng, Nhượng Tống, Nguyễn Duy Xuân sinh vào đầu thế kỷ XX. Kể từ khi cướp được quyền bính đến nay, những người cộng sản Việt Nam đã giết chết bao nhiêu là anh tài và nhân sĩ (thuộc mấy thế hệ kế tiếp nhau) rồi?

Chúng ta bắt buộc phải luôn quan ngại (và canh thức) về sinh mệnh của Trần Huỳnh Duy Thức, cùng hàng trăm tù nhân lương tâm khác, đang nằm trong vòng tay của cường quyền và bạo lực!


 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Vũng lầy giáo dục

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Vũng lầy giáo dục

Báo Đàn Chim Việt  –   Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Đường đến trường của học sinh vùng rốn lũ miền Tây

Lá vẫn còn xanh. Hè vẫn còn nấn ná. Trời vẫn chưa muốn vào thu mà (không dưng) sáng nay California chợt thoáng chút âm u, và lấm tấm vài hạt mưa nho nhỏ. Mưa chưa ướt đất nhưng cũng đủ làm cho tôi hơi thấy ngại ngần khi nghĩ đến chuyện phải ra khỏi nhà chỉ vì một ly cà phê nóng.

Thôi thì bắt chước cổ nhân thắp vài cây nến nhỏ, châm một bình trà, rồi ngồi nhẩn nha đọc lại vài bức thư xưa. Lá thư cũ nhất mà tôi còn giữ được (“Thư Gửi Các Cháu Học Sinh”) Chủ Tịch Hồ Chí Minh, đề ngày 3 tháng 9 năm 1945, có mấy câu vô cùng thắm thiết và cảm động:

 “Ngày hôm nay là ngày khai trường đầu tiên ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa… Bác đã tưởng tượng thấy trước mắt cái cảnh nhộn nhịp tưng bừng của ngày tựu trường ở khắp các nơi… từ giờ phút này trở đi các cháu bắt đầu được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam.”

Viễn ảnh về một ngày tựu trường “nhộn nhịp tưng bừng … ở khắp các nơi” và một “nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam” dễ khiến cho lòng người phấn chấn:

“Chúng tôi thường tự hào đây là một nền giáo dục riêng của người Việt, một nền giáo dục không có dây dưa gì nhiều với nền giáo dục mà thế kỷ trước, người Pháp đã mang lại.” (Vương Trí Nhàn. “Mấy Cảm Nhận Về Sự Khác Biệt Giữa Giáo Dục Miền Nam Và Giáo Dục Miền Bắc.”  Tạp Chí Nghiên Cứu Và Phát Triển số 7-8 năm 2014).

Niềm tự hào này, tiếc thay, không kéo dài lâu. Khi có cơ hội so chiếu, nhà phê bình văn học và văn hóa Vương Trí Nhàn đã nhìn ra sự bất toàn:

 “Cái mà ta gọi là giáo dục miền Bắc chỉ là sự kéo dài của lối phát triển giáo dục trong chiến tranh… Giáo dục chiến tranh, do dó, luôn luôn là một nền giáo dục dở dang chắp vá, mà lại vẫn phải khoác cho mình cái chức danh lớn lao của một nền giáo dục mới mẻ, cách mạng…

Nói quá lên thì có thể bảo, như một cơ thể, GDMB thuộc loại tiên thiên bất túc, tức sinh ra đã không đủ các bộ phận cần thiết, sinh ra đã bất thành nhân dạng. Phương châm ở đây là làm lấy được, tức là chưa đủ điều kiện, nhưng thấy cần, vẫn cứ làm —  rồi để yên lòng nhau, sẽ viện ra đủ lý lẽ để chống chế, để lấp liếm và xa hơn nữa, sẵn sàng tự ca tụng…”

Hệ quả, tất nhiên, là thảm họa – vẫn theo như nhận định của tác giả bài viết thượng dẫn:

“Mươi năm gần đây, tình hình có chút đổi khác, nhưng là chỉ đổi khác trên bề mặt. Cựa quậy mấy thì nền giáo dục này cũng không khác được so với chính mình. Nó đã cạn kiệt năng lực tự cải hóa. Ngay cả những người trong bộ máy quyền lực cũng đều tính chuyện cho con em mình qua nhiểu nước phương Tây, nhất là sang Mỹ để học.

Nhưng họ chỉ lo được cho gia đình riêng của họ thôi. Ở trong nước, những bài bản của miền Bắc cũ được tân trang lại chút ít vẫn ngự trị trong toàn bộ nền giáo dục, và trong thâm tâm, nhiều người đã bắt đầu nghĩ rằng hình như có một bãi lầy đã được tạo ra và chúng ta không bao giờ ra thoát.”

Đối với những thế hệ đến sau (những kẻ sinh trưởng ngay giữa “bãi lầy”) thì vấn đề không còn gì để mà bàn cãi nữa. Vũ Thạch Tường Minh, một học sinh lớp 8, đã khẳng định như vậy: “Bây giờ giáo dục Việt Nam con thấy là, con không có tính từ nào khác nên con phải dùng tính từ này, là giáo dục Việt Nam bây giờ con thấy là quá ‘thối nát’ rồi. Mà suốt bao năm qua các vị cải đi, cải lại, cải tiến, cải lùi mà nó vẫn không thay đổi được kết quả gì cả.”

Khoảng cách giữa nhà nghiên cứu văn học Vương Trí Nhàn và cháu Vũ Thạch Tường Minh là ba thế hệ người. Tuy vậy, cả hai đều “nhất trí” là nền giáo dục hiện nay của nước CHXHCNVN (đã) hết thuốc chữa rồi!

Để minh chứng, xin xem qua một “trường hợp thú vị” – nơi một vùng quê, thuộc tỉnh Rạch Giá –  theo như nguyên văn lời của giáo sư Nguyễn Văn Tuấn:

“Một em gốc Khmer học giỏi, thi đậu vào 3 trường đại học (2 đại học ở Sài Gòn và 1 ở ĐH Cần Thơ), nhưng cuối cùng thì giấc mơ đại học cũng đành phải bỏ. Ba má em ấy lí giải rằng: học để làm gì, nhìn quanh số sinh viên tốt nghiệp đại học thất nghiệp tùm lum cả, mà ngay cả xin được việc thì cũng cần đến 500 triệu đồng đút lót thì làm sao nhà có khả năng lo nổi.

Tôi kinh ngạc về con số 500 triệu đồng (tức là 25000 đôla), nên phải hỏi lại cho chắc ăn, thì bà con đều khẳng định đó là con số tiêu biểu, có trường hợp thấp hơn nhưng cũng có trường hợp cao hơn. Tình trạng mua chức đâu phải chỉ ở ngoài Bắc, mà đang lan về nông thôn miền Tây rồi đấy.”

Mọi tệ trạng vừa nêu đang được Đảng và Nhà Nước “đối phó” hay “giải quyết” bằng … chỉ thị số 42-CT/TW (“Tăng Cường Sự Lãnh Đạo Của Ðảng Đối Với Công Tác Giáo Dục Lý Tưởng Cách Mạng, Đạo Đức, Lối Sống Văn Hóa Cho Thế Hệ Trẻ Giai Đoạn 2015 – 2030”) như sau:

“Công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ phải được tiếp tục tăng cường và nâng cao về chất lượng, nhằm góp phần xây dựng thế hệ trẻ Việt Nam giàu lòng yêu nước, tự cường dân tộc, kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có đạo đức trong sáng, ý thức tuân thủ pháp luật; có năng lực, bản lĩnh trong hội nhập quốc tế; có sức khỏe, tri thức, kỹ năng lao động, trở thành những công dân tốt, tích cực tham gia vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.”

Sự thực thì thiên hạ không còn ai kỳ vọng hoặc quan tâm gì ráo vào bất cứ lời “kêu gọi” (nghe cứ như hô khẩu hiệu) nào của Đảng tự lâu rồi. Người dân tìm cách tự cứu qua nhiều nỗ lực rất đáng trân trọng, dù gặp không ít khó khăn, ngăn trở và sách nhiễu.

Từ Bangkok, biên tập viên Gia Minh có bài tường thuật (“Nhóm Cánh Buồm Ra Mắt Sách Giáo Khoa Mới”) khá bất ngờ và thú vị. Xin trích dẫn một vài đoạn ngắn:

Nhóm soạn sách giáo khoa Cánh Buồm do nhà giáo Phạm Toàn chủ xướng vào ngày 12 tháng 8 vừa qua giới thiệu bộ sách Văn và Tiếng Việt lớp sáu tại Trung tâm Văn Hóa Pháp ở Hà Nội. Việc ra mắt sách mới của Nhóm Cánh Buồm không thuộc Bộ Giáo Dục như thế được cho là một dấu chỉ tích cực trong tình hình giáo dục Việt Nam hiện nay.…

Một nhà giáo công khai đấu tranh chống những tiêu cực trong ngành giáo dục Việt Nam lâu nay, thầy Đỗ Việt Khoa cũng tỏ rõ sự ủng hộ đối với sách giáo khoa do Nhóm Cánh Buồn soạn thảo:

 “Đây là nhóm khá tâm huyết đang soạn bộ sách giáo khoa cho liên cấp từ tiểu học trở lên. Theo quan điểm của tôi làm được một bộ sách giáo khoa như vậy là công sức cực kỳ lớn, rất tốt. Sẽ có những chỗ chưa được, có người sẽ đánh giá khiếm khuyết… nhưng sửa dần không sao cả…”

Cùng vào thời điểm này, một công dân Việt Nam khác (ông Hoàng Thành, 25 tuổi) đã đến trước cổng trụ sở Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, cầm ảnh của chính mình – với poster in hình con chuột bạch đang bị tiêm thuốc – cùng dòng chữ: “Học sinh, sinh viên không phải là CHUỘT BẠCH.”

Khi được hỏi về “ý nghĩa” của việc làm này, ông cho biết:

“Bức ảnh của tôi đơn thuần là một hình thức thực hiện quyền biểu đạt ý kiến của mình. Tôi chỉ muốn nhắn tới các bậc cha mẹ và các em học sinh … rằng: Hãy thể hiện quan điểm của mình trước các vấn đề xã hội, thay vì chỉ biết kêu than, vì đó không những là quyền của chúng ta, mà còn là cách chúng ta giúp chính quyền hiểu được nhu cầu của dân chúng và hoàn thiện chính sách sao cho hợp lý nhất…”

Ở bình diện cá nhân, cũng như tập thể – rõ ràng – đang có những nỗ lực đáng kể của rất nhiều người để vượt ra khỏi cái “vũng lầy giáo dục” hiện nay. Với ý thức và quyết tâm, chắc chắn, chúng ta sẽ “thoát” bất chấp sự ngăn trở (cùng sức ì) của chế độ hiện hành – một chế độ mà mọi người đều biết là sinh mệnh của nó đang được đo đếm từng ngày.


 

Các tổng thống Mỹ gần đây đã nói gì với Việt Nam

Báo Tiếng Dân

Washington Post

Tác giả: Olivier Knox

Cù Tuấn, biên dịch

6-9-2023

Từ khi Tổng thống Bill Clinton tới Việt Nam hồi cuối năm 2000, mọi Tổng thống Mỹ đều đã đến thăm quốc gia cựu thù thời chiến mà nay đã trở thành đối tác thương mại. Tổng thống Biden sẽ đưa tên mình vào danh sách này vào Chủ nhật tới, với những lo ngại về Trung Quốc xuất hiện sau một chuyến thăm chớp nhoáng.

Lịch trình của Nhà Trắng không nói rõ liệu ông có mặt tại Hà Nội trong 24 giờ hay không. Tuy nhiên, điểm dừng chân của ông ở đó sẽ được theo dõi chặt chẽ trên toàn khu vực – và Bắc Kinh sẽ đặc biệt quan tâm – phần lớn là do những căng thẳng Trung – Mỹ gần đây.

Sẽ rất thú vị để xem thông điệp mà Biden mang đến. Clinton và những người kế nhiệm ông đã đưa ra một số chủ đề chung ở đó, nhưng những khác biệt của các chủ đề này cho thấy, sự tiến triển của mối quan hệ Mỹ – Việt trong một phần tư thế kỷ qua.

Đây là những gì họ đã nói.

Clinton: Chiến tranh đã kết thúc

Chuyến thăm của Clinton tới Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là khúc hát thiên nga về ngoại giao trong nhiệm kỳ tổng thống của ông. Ông được chào đón trên thảm đỏ, trở thành một ngôi sao nhạc rock và trở thành nhà lãnh đạo nước ngoài đầu tiên có bài phát biểu được truyền hình trực tiếp trên đài truyền hình quốc gia tại Việt Nam.

Nhưng thông điệp mạnh mẽ nhất mà ông gửi tới Việt Nam thực ra đã đến từ 5 năm trước đó, vào tháng 7 năm 1995, khi ông tuyên bố Mỹ và quốc gia cựu thù thời chiến của họ sẽ nối lại quan hệ ngoại giao. Điều này diễn ra sau khi Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại và sự phản đối của Mỹ đối với viện trợ đa phương.

Tại Đại học Quốc gia Việt Nam, Clinton thúc giục Việt Nam chấp nhận sự cởi mở về chính trị – tự do ngôn luận, tự do tôn giáo – nhưng nhấn mạnh thông điệp cốt lõi của ông rằng, cả hai nước cần phải vượt qua di sản chiến tranh.

Ông nói: “Một quá khứ đau thương và khổ đau có thể được chuộc lại bằng một tương lai hòa bình và thịnh vượng”.

Bush: Đó là vấn đề kinh tế, đồ ngốc ạ

Tháng 6 năm 2005, Tổng thống George W. Bush tiếp đón một nhà lãnh đạo Việt Nam đầu tiên tại Nhà Trắng kể từ sau chiến tranh. Tháng 11 năm 2006, ông [Bush] tới Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, tập trung chủ yếu vào việc ca ngợi nền kinh tế Việt Nam mà ông nói là “giống như một con hổ non”.

Dựa trên thông điệp của Clinton về quyền tự do dân sự, Bush đã tham dự một buổi lễ tại nhà thờ ở Hà Nội và nói rằng “mọi người trên khắp thế giới” nên được hưởng quyền tự do tôn giáo. Ông cũng đến thăm Viện Pasteur ở Thành phố Hồ Chí Minh để nêu bật sự hợp tác giữa Mỹ và Việt Nam trong nghiên cứu khoa học.

Nhưng nền kinh tế của nước chủ nhà vẫn ở vị trí trung tâm của các thảo luận, và ông đã gặp gỡ các lãnh đạo doanh nghiệp và tham quan thị trường chứng khoán Việt Nam.

Ông Bush nói tại một bữa tiệc chiêu đãi cấp nhà nước: “Trong nhiều thập niên, các bạn đã bị chiến tranh tàn phá. Ngày nay, nhân dân Việt Nam có được hòa bình và nhìn thấy được lợi ích của cải cách. Người Việt đã có quyền sở hữu doanh nghiệp riêng và ngày nay nền kinh tế Việt Nam đang phát triển nhanh nhất ở Đông Nam Á”.

Obama: Súng đạn và bơ sữa (và cải cách)

Tổng thống Barack Obama đã dành phần lớn thời gian trong chuyến công du tới Việt Nam vào tháng 5 năm 2016 để thuyết giảng về cải cách chính trị – ông hát bài thánh ca gần giống với bài thánh ca của Clinton và Bush.

Phát biểu tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia ở Hà Nội, ông nói: “Việc bảo vệ các quyền cơ bản – quyền tự do ngôn luận, hội họp và tôn giáo – không phải là mối đe dọa đối với sự ổn định, mà thực sự nó củng cố sự ổn định và là nền tảng của sự tiến bộ”.

Nhưng Obama đã gửi một thông điệp mạnh mẽ hơn nhiều vào ngày đầu tiên của chuyến thăm, khi ông tuyên bố, Mỹ sẽ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương cho Việt Nam sau chiến tranh – một bước đi được nhiều người coi là một phần trong nỗ lực củng cố năng lực khu vực, trước một Trung Quốc đang trỗi dậy.

Ông Obama nói: “Sự thay đổi này sẽ bảo đảm rằng, Việt Nam có quyền tiếp cận các thiết bị cần thiết để tự vệ và xóa bỏ dấu tích còn sót lại của Chiến tranh Lạnh. Nó cũng nhấn mạnh sự cam kết của Mỹ trong việc bình thường hóa hoàn toàn mối quan hệ với Việt Nam, bao gồm cả quan hệ quốc phòng mạnh mẽ với Việt Nam và khu vực này trong dài hạn”.

Trump: Sứ mệnh với Kim Jong-un là có thể thực hiện được

Tổng thống Donald Trump đã có hai chuyến thăm Việt Nam: Một vào tháng 11/2017, một vào tháng 2/2019.

Đầu tiên, thông điệp của Trump phần lớn là ca ngợi sự chuyển đổi kinh tế của Việt Nam. Ông gọi những thay đổi kể từ sau chiến tranh “thực sự là một trong những điều kỳ diệu vĩ đại của thế giới”. Ông cũng thúc đẩy thương mại song phương giữa hai nước.

Thông điệp lần thứ hai được xác định bằng cuộc gặp thượng đỉnh với nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un, một nỗ lực cuối cùng không có kết quả nhằm thuyết phục lãnh đạo Triều Tiên từ bỏ các chương trình hạt nhân và tên lửa của mình. Nhưng ở đây, Trump cũng đề cập đến nền kinh tế Việt Nam, đề cập đến thương mại song phương và khuyến khích nước chủ nhà mua thiết bị quân sự của Mỹ.

Biden: Chưa xảy ra, chỉ hóng thôi

Thông qua đồng nghiệp Matt Viser, tôi biết được sự thật kỳ lạ này: Đây là lần đầu tiên Biden đến Việt Nam. Điều đó hơi gây tò mò vì ông đã phục vụ nhiều năm với tư cách là chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện, và đã đi đến nhiều quốc gia.

Ông dường như đang đi đúng hướng để tận hưởng dư âm thành công của Clinton, Bush và Obama, đặc biệt là về việc tăng cường quan hệ đối tác chiến lược (dù ông có đề cập rõ ràng đến Trung Quốc) và có thể nhẹ nhàng mắng mỏ nước chủ nhà về các quyền dân chủ – và có lẽ sẽ nêu bật sự ngưỡng mộ về kinh tế Việt Nam và thúc đẩy thương mại song phương theo kiểu Trump.

Matt lưu ý rằng, Biden đã tổ chức ăn trưa với Tổng bí thư Việt Nam Nguyễn Phú Trọng vào năm 2015, nhân kỷ niệm 20 năm quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Hai người sẽ gặp lại nhau vào Chủ nhật này.

Vào thời điểm bữa ăn trưa đó, ông Biden nói: “Thật đáng chú ý là trong suốt hai thập niên qua, tôi vẫn tin rằng… mối quan hệ của chúng ta chỉ mới bắt đầu”.

Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người. (Lc 5:10b,11)

Xin Chúa chúc lành cho bạn và gia quyến nhé.

Cha Vương

Thứ 5: 07/09/2023

TIN MỪNG: Đức Giê-su bảo ông Si-môn: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta.” Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người. (Lc 5:10b,11)

SUY NIỆM: Giống như Phê-rô, tất cả chúng ta đều có những cá tính riêng biệt, không ai giống ai. Bài học gì rút ra được khi Phê-rô đáp theo lời mời gọi của Chúa? Bài học ở đây là Chúa có thể đón nhận một người trực tính có tính khí như Phêrô, và giúp ông lớn lên trong đức tin và sự khôn ngoan. Chúa cũng có thể sử dụng những người như bạn với tất cả những lỗi lầm, thiếu sót và giới hạn để biến bạn trở thành một người sống cho mục đích của Ngài. Mục đích của Ngài là “muốn mọi người nhận biết chân lý và được cứu độ.” (1Tm 2:4) Giống như Phê-rô, qua đời sống đức tin hàng ngày, bạn cũng được mời gọi phó thác cuộc đời mình vào tay Thiên Chúa, tin tưởng rằng Ngài có thể hoạt động trong và qua bạn để giúp đưa người khác nhận biết chân lý và được cứu rỗi.

LẮNG NGHE: Cũng vậy, ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được. (Lc 14:33)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin cho con biết vâng theo Lời Chúa, từ bỏ để theo Chúa đến cùng.

THỰC HÀNH: Lối sống của bạn hàng ngày có ăn khớp với giới luận của Chúa không? Làm một thay đổi để sống tốt hơn.

From: Đỗ Dzũng

Đừng sợ – Lửa Hồng

CUỘC ĐÁNH BẮT KỲ DIỆU – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Họ bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới!”.

Rừng Bắc Âu, Bắc Mỹ nổi tiếng với “Chồn Ermine” tuyệt đẹp; bộ lông của nó trắng như tuyết. Ermine bảo vệ ‘áo’ mình bất cứ giá nào. Tận dụng bản năng này, thợ săn không bẫy; thay vào đó, tìm chỗ ở của Ermine. Họ bôi bẩn lối vào ổ của chúng; sau đó, thả đàn chó để săn đuổi. Những con vật sợ hãi chạy ‘về nhà’, nhưng không vào, vì sợ bẩn! Thay vì để lấm lem chiếc áo trắng tinh của mình, Ermine nộp mạng để gìn giữ sự thanh khiết.

#WildlifeWednesday hashtag on Twitter | Stoat, Super cute animals ...

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không nói đến kiểu đánh bắt độc đáo loài Ermine xinh đẹp, nhưng nói đến các ‘cuộc đánh bắt kỳ diệu’ của Thiên Chúa trong lịch sử. Những cú đánh bắt này cho thấy, “Chúa đã biểu dương ơn Người cứu độ!” như Thánh Vịnh đáp ca tán dương.

Thư Côlôssê nói đến ‘cuộc đánh bắt kỳ diệu’ lớn lao nhất từ tạo thiên lập địa; qua đó, Thiên Chúa đã biểu dương ơn cứu độ và lòng thương xót của Ngài khi “Giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm, và đưa vào vương quốc Thánh Tử chí ái!”. Câu chuyện ‘đánh bắt’ của Tin Mừng hôm nay xoay quanh Chúa Giêsu và Phêrô, một người đã chứng kiến những điều lạ lùng từ nhân vật ‘huyền bí’ có tên “Giêsu” mới xuất hiện. Ông đã chứng kiến mẹ vợ mình được Ngài nâng lên; các bệnh nhân và nhiều người quỷ ám được chữa lành. Để sau đó, “Giêsu” này bước xuống thuyền ông, xin ông chống ra xa để đánh cá. Ông đã vâng lời và đã bắt được rất nhiều cá, nhiều “đến nỗi hầu như rách cả lưới!”.

Jesus Helps His Disciples Catch Fish

Đó là cú đánh bắt thần kỳ trong đời các ngư phủ miền Galilê, nhưng điều thần kỳ không phải là ‘cá’, nhưng là ‘những người đánh cá’ vốn đã bị đánh bắt! Phép lạ không ‘thuộc về vật chất’, nhưng ‘hoàn toàn tinh thần’; Giêsu đã giúp họ không trở thành nạn nhân của chán nản khi đối mặt với thất bại, nhưng trở nên tuyệt vời khi họ để mình ‘bị đánh bắt’ và trở nên những ngư phủ sẽ đi khắp thế giới ‘vung chài’ đánh bắt các linh hồn.

Vậy thì điều gì đã dẫn đến cú đánh bắt ngoạn mục mang tính cứu độ này? ‘Cứu độ!’, vì đó là mục đích của mầu nhiệm Con Thiên Chúa nhập thể. Những con người này đã để Đấng Cứu Độ bước xuống thuyền mình; ngoan nguỳ chèo ra chỗ nước sâu, thả lưới. Cũng thế, Ngài yêu cầu bạn và tôi đón Ngài vào thuyền đời mình, giữ Ngài ‘đủ lâu’, đi với Ngài ‘đủ xa’, đến những vùng biển mới đầy bất ngờ! Hãy đón Ngài, đừng để Ngài lớ ngớ! Hãy nhớ, Ngài giỏi ‘đi trên nước!’; hãy ‘cột chân’ Ngài bằng ‘dây yêu mến’ và đừng quên tỏ ra háo hức, tập thích thú lắng nghe câu chuyện dài ‘Nghìn lẻ một đêm’ Ngài sẽ kể!

Anh Chị em,

“Họ bắt được rất nhiều cá!”. Sẽ không có ‘cuộc đánh bắt kỳ diệu’ nào nếu bạn và tôi không để Giêsu bước xuống lòng thuyền đời mình và mạnh dạn chèo ra xa bờ! Bờ của những tính toán hơn thiệt, bờ của những suy nghĩ tục hoá. Và sẽ là cú đánh bắt Chúa Giêsu mong đợi nhất, tuyệt vời nhất, trước nhất, là cuộc đánh bắt linh hồn bạn và tôi! “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là người tội lỗi!”. Bạn và tôi hãy để mình ‘bị đánh bắt’ theo cách này; và Ngài cũng sẽ nói với chúng ta, “Đừng sợ!”. Những lời an ủi này của Ngài tất yếu cũng cần được đáp lại khi bạn và tôi “bỏ hết mọi sự mà theo Ngài!”.

43 HQ Pictures Jesus And Peter Fishing - Bunch Three Fishing Lessons ...

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, sẽ không có cú đánh bắt nào nếu Chúa sẩy mất linh hồn con! Chúa cứ bước xuống lòng thuyền con, con sẽ làm tất cả những gì Chúa muốn, hôm nay và mỗi ngày!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

TRÁCH NHIỆM VỚI THA NHÂN – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

Con người không sống đơn lẻ trên đời, nhưng sống với, sống cùng, sống nhờ và sống cho người khác.  Khi ý thức được điều này, chúng ta sẽ nhận ra những giới hạn của bản thân, cùng với sự phụ thuộc của chúng ta vào người khác, đồng thời dễ dàng cảm thông với anh chị em, khi họ có điều không phải với chúng ta.  Cuộc sống “công nghiệp” trong xã hội chúng ta như một vòng xoáy, trong đó, mỗi người chỉ sống cho riêng mình, ít quan tâm đến người khác, kể cả những người ruột thịt trong gia đình.  Không ít những người già bị bỏ rơi, người bệnh tật bị quên lãng, và người nghèo phải chìm trong sầu khổ.  Những người này vừa thiếu thốn vật chất vừa thiếu thốn tình cảm.

Paying homage to Mother Teresa on her 105th birthday - Slideshow - Livemint

Khi có trách nhiệm đối với tha nhân, chúng ta có thể giúp họ nên hoàn thiện.  Trên đời này, có ai sinh ra đã hoàn thiện bao giờ?  Tiến trình “thành nhân” là một chuỗi những cố gắng liên lỉ, kèm theo những hy sinh của bản thân, cùng với sự giúp đỡ đồng hành của người xung quanh.

Trong Cựu ước, Đức Chúa trao cho ngôn sứ Ê-dê-ki-en trách nhiệm phải góp ý sửa sai người khác.  Ông là một ngôn sứ sống ở miền Nam (Giu-đê-a) vào thế kỷ thứ VI.  Đối tượng mà ông được trao để sửa sai không chỉ là cá nhân, mà là cả một dân tộc.  Trách nhiệm này nặng lắm.  Nếu vị Ngôn sứ ngậm miệng làm thinh trước sự dữ, thì bao tai họa của dân chúng, một mình vị Ngôn sứ sẽ lãnh hết.  Nếu vị Ngôn sứ trung thành chuyển tải sứ điệp của Chúa, thì ông vô tội, dù người ta không lắng nghe và sửa mình.  Trong thực tế, nhiều khi ông Ê-dê-ki-en nói mà dân chúng đâu có chịu nghe.  Không những thế, có lần họ còn nổi xung và chống lại ông.  Theo truyền thống Do Thái, ông bị kết án tử hình bởi một vị thẩm phán đã từng bị ông khiển trách nặng nề.  Giống như Ê-dê-ki-en, ngôn sứ Giê-rê-mi-a cũng phải trải qua nhiều thử thách và bách hại như thế.  Dù khó khăn, Ê-dê-ki-en vẫn can đảm kiên trung.  Giữa một dân chúng đang hoang mang và lầm lạc, ông vẫn loan báo niềm hy vọng.  Ê-dê-ki-en là một trong bốn vị ngôn sứ mà truyền thống Thánh Kinh gọi là “những ngôn sứ lớn”: I-sai-a, Giê-rê-mi-a, Ê-dê-ki-en, Đa-ni-en.

Meaning, origin and history of the name Ezekiel - Behind the Name

Chính Đức Chúa đã gọi Ê-dê-ki-en là “người canh gác cho nhà Israel.”  Đây là lối nói tượng trưng.  Với vai trò “Người canh gác,” ông có trách nhiệm phát hiện, cảnh báo và bảo vệ dân Israel khỏi mọi thói tục ngoại lai, đồng thời trung thành với truyền thống của tiền nhân và tuân giữ Lề Luật.  Suốt cuộc đời, Ê-dê-ki-en đã trung thành với sứ mạng Chúa trao, bất chấp những gian nan khốn khổ.

Nội dung Tin Mừng Chúa nhật này như một tổng hợp ba giáo huấn của Chúa Giê-su.  Đó là việc sửa lỗi anh em, lòng quảng đại bao dung đối với mọi người, và tình liên đới hiệp thông trong lời cầu nguyện.

Cả ba giáo huấn này đều có chung một nội dung duy nhất: đó là bác ái.  Góp ý sửa lỗi anh chị em phải được thực hành trong sự bác ái trước hết, để vừa giúp người ấy nên hoàn thiện, vừa không mất đi một người bạn.  Theo văn mạch, ý tưởng “ràng buộc và tháo cởi” ở đây, khác với quyền “ràng buộc và tháo cởi” mà Chúa Giê-su trao cho ông Phê-rô, sau khi ông tuyên xưng đức tin (Mt 16,19), vì khi nói với Phê-rô cùng với việc trao chìa khoá, Chúa trao quyền bính cho ông Phê-rô và cho Giáo hội.  “Ràng buộc và tháo cởi” ở đây, hiểu một cách cụ thể, là cố chấp hay là tha thứ.  Điều này được soi sáng bởi lời kết thúc dụ ngôn liền sau đó về người mắc nợ không biết thương xót: “Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình” (Mt 18,35).  Ý tưởng này cũng là âm hưởng của kinh Lạy Cha: “Xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con” (Mt 6,12).  Giáo huấn thứ ba trong bài Tin Mừng, đó là tình hiệp thông giữa những người tin Chúa.  Hiệp thông vừa là cùng nhau hướng về Chúa để thực thi lời Ngài dạy, vừa là thể hiện tình mến đối với nhau để cùng nhau thực hiện tình mến đối với những người khác.  Hình ảnh hai hay ba người họp nhau cầu nguyện, chính là bằng chứng nói lên sự tâm đầu ý hợp giữa họ.  Lời cầu nguyện xuất phát từ con tim yêu thương và lòng mến chân thành sẽ được Chúa Cha nhận lời.  Chúa Giê-su hứa ngự giữa những người đang cầu nguyện, dù họ ở bất cứ nơi nào và trong bối cảnh nào.  Lời dạy của Chúa giúp chúng ta cảm nhận được tính thiêng liêng của lời cầu nguyện.  Chúa Giê-su hiện diện giữa chúng ta và như thế, mà lời cầu nguyện của chúng ta có hiệu lực mạnh mẽ.  Nhờ Chúa Giê-su hiện diện và cùng cầu nguyện với chúng ta mà lời cầu nguyện ấy được đẹp lòng Chúa Cha và được Chúa Cha nhận lời.

Đức bác ái cũng là lời khuyên của thánh Phao-lô gửi cho tín hữu Rô-ma (Bài đọc II).  “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái, vì ai yêu người thì đã chu toàn lề luật.”  Điều này cho thấy tình yêu thương có sức mạnh kỳ diệu và có giá trị thay thế Lề Luật.  Nói các khác, tất cả Lề Luật đều quy về tình yêu thương, nên khi ta yêu thương, thì chính là ta đang giữ Lề Luật một cách trọn vẹn.  Chúng ta hãy nghe thánh Augustino viết về sức mạnh kỳ diệu của tình yêu: “Tình yêu có đôi chân đến với người nghèo.  Tình yêu có đôi mắt để thấy bất hạnh và thiếu thốn.  Tình yêu có đôi tai để nghe được tiếng than thở của tha nhân.”  Sống bác ái, đó là sống có trách nhiệm đối với tha nhân.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

THẦN TƯỢNG “ĐIÊN”!

Mình thần tượng thằng cha điên quái kiệt này: Elon Musk. Dân nhập cư, đến Mỹ, được đất nước và nền giáo dục tạo điều kiện học hành.

Thế rồi “hắn” đứng ra thành lập, lãnh đạo, phát triển hàng loạt những thương hiệu hay tập đoàn “Quái vật”. Từ PayPal, qua Tesla, tới SpaceX, SolarCity, Hyperloop… tập đoàn nào cũng là những nhà khổng lồ, khai phá, tạo nên những cuộc cách mạng về khoa học, công nghệ, kinh tế, y khoa…

Mới vừa đây, lại thấy cái tin gây sửng sốt cho giới khoa học, người ta cấy chip vô não 3 con heo, mở ra một hướng đột phá phát triển trí tuệ nhân tạo, tương tác với não người trong tương lai, để chữa rất nhiều bệnh liên quan đến não. Lại là một cái tên khác, Neuralink, cũng của Musk!

Even if Elon Musk's Neuralink brain chip never gives us telepathy, it ...

Phải nói, chỉ cần có được một phần nhỏ những gì Musk làm được, đã đủ là vĩ nhân, là thiên tài…

Elon Musk làm việc với cường độ trên 80 giờ/tuần (gấp đôi giờ hành chính hiện nay) là chuyện thường. “Hắn” có thể ngủ trong xưởng máy với công nhân, hay vùi mình với đám kỹ sư đầy máu điên trong phòng thí nghiệm.

Why are all of Elon Musk's children male only? - AR15.COM

Đã nhiều năm, Musk làm việc với cường độ đó và không có ngày nghỉ, cũng như những đợt du lịch xả hơi.

X Æ A-Xii (Elon Musk Son) Biography, Age, Mother, Birthday, Height, Net ...

Và tất nhiên, Musk giàu. Nhưng lại như “đồng bọn” là hàng loạt tỉ phú Mỹ khác, hắn hứa và đã dành hầu hết tài sản để làm từ thiện.

Hình như (và đã rõ ràng), chỉ có môi trường Mỹ Quốc mới có thể tạo nên những quái kiệt như vậy. Họ như từ hành tinh nào đến, đóng góp cho nhân loại, vắt kiệt mình, rồi ra đi.

SpaceX Starships at Mars Base Alpha by Konstantin Ermolaev | human Mars

SpaceX với viễn tượng mô hình thám hiểm Sao Hỏa trong tương lai.

Và càng ngơ ngẩn, chẳng hiểu tại sao, người ta kêu là “bọn tư bản bóc lột” và kiên quyết duy trì học thuyết đó!

FB Nguyễn Danh Lam

Bạn nhìn thấy gì? Cảm thấy gì?

Báo Tiếng Dân

Đoàn Bảo Châu

1-9-2023

Thẩm mỹ viện JT Angel Clip phát quà từ thiện ngày 31-8-2023 tại quận 6, thành phố Hồ Chí Minh.

Hai tấn rưỡi gạo đã “bốc hơi” trong vòng 5 phút, ba người ngất xỉu phải đi cấp cứu, cổng viện bị đạp đổ, hai bàn gỗ vỡ tan, chiếc xe Range Rover bị móp nóc, vỡ kính, xước xát. 500 phong bì 300K đồng phải dừng, không được phát như kế hoạch.

Người dân quá khổ sau 48 năm được “giải phóng”. Thiên đường XHCN nhất định không phải của dân. Thiên đường là của quan tham, lợi dụng kẽ hở, sự lỏng lẻo của luật pháp để kiếm lợi chứ không phải của đám đông.

Việt Nam là nước xuất khẩu gạo thứ 3 trên thế giới, vậy mà người dân phải bỏ qua tất cả những sự ngại ngần, ý niệm về nhân phẩm để xông vào lấy gạo vì nỗi lo người khác lấy mất. Có người đến từ 3 giờ sáng để chờ.

Tôi không trách người dân. Họ quá khổ mới phải làm vậy. Tôi hy vọng clip này được các vị quan ở Việt Nam nhìn thấy và suy ngẫm. Tôi tin là các vị sẽ có cảm giác buồn và xấu hổ như tôi đang có, bởi các vị luôn nói chính quyền này là chính quyền “do dân, vì dân”.

https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2023/09/Clip-phat-gao.mp4?_=1

Tôi tự hỏi, nếu trong một hội nghị quốc tế, một người bạn ngoại quốc cho các vị xem clip này thì các vị sẽ cảm thấy gì và sẽ giải thích sao?

Điều này cho thấy rằng tại sao nạn cướp giật ở thành phố Hồ Chí Minh lại tệ đến vậy.

Nhưng tôi tự hỏi, có bao nhiêu quan chức sẽ có cảm giác buồn và xấu hổ khi mà trong thời gian qua, trong những đại án Việt Á và “chuyến bay giải cứu” chúng ta được chứng kiến sự táng tận lương tâm, sự tham lam vô độ, miệng nói “vì dân” mà tay liên tục vơ vét, của những bộ mặt danh giá nhất trong hệ thống?

Nhìn clip này ta sẽ thấy một sự “bung, toang” thật sự và không hề “ngạo nghễ” chút nào. Tôi tự hỏi, còn bao nhiêu đồng chí chưa bị lộ, bên ngoài thì “trong veo” ngây thơ trong sáng như trẻ mẫu giáo nhưng thật ra trong lòng run sợ?

Đây cũng chỉ là một tiếng thở dài bất lực của một thằng dân yếu thế là tôi, đừng quy kết gì to tát mà nực cười.

Độc đảng – lưỡng đảng

Báo Tiếng Dân

Nguyễn Văn Nghệ

4-9-2023

Vừa qua, tôi có xem trên Facebook báo Tiếng Dân bài viết “Ước mơ tếu ngày Quốc khánh” của tác giả Mạc Văn Trang. Tác giả kể chuyện xem trận chung kết Cup bóng chuyền nữ quốc tế năm 2023 qua màn ảnh VTV giữa hai đội VN1 và VN2. Trận đấu diễn ra quyết liệt: “Nhân dân được xem hai đội thể hiện tài năng, ý chí, đạo đức thi đấu nên vô cùng hào hứng, sướng con mắt, đã cái bụng, đáng bỏ thì giờ, tiền bạc ra để thưởng thức tài nghệ của các cầu thủ, con em yêu quý của mình”.

Sau khi xem xong trận đấu chung kết giữa hai đội VN1 và VN2, tác giả bài viết: “Bỗng nhiên cảm hứng thăng hoa, nghĩ: Giá như Việt Nam cũng có hai đảng: Đảng Cộng sản 1 và Đảng Cộng sản 2, cùng lấy Chủ nghĩa Mác, Lê nin – Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng… cũng chẳng sao, miễn là có hai đội thi đấu với nhau như hai đội bóng chuyền nữ VN1 và VN2 đấu công khai, sòng phẳng, có trọng tài độc lập, khách quan, lại có công nghệ VAR để kiểm tra lại những pha bên kia khiếu nại. Khách quan, công khai, minh bạch, công bằng như thế thì Dân chen nhau mua vé để xem và bầu chọn những người xứng đáng vào mỗi vị trí, tuyệt biết chừng nào”.

Ước mơ của Mạc Văn Trang khó mà thực hiện, bởi vì những nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định: Kiên định đi theo con đường Bác đi! Mao Trạch Đông nói: “Đảng ngoại vô đảng, đế vương tư tưởng” (Ngoài đảng không có đảng nào khác, đó là ý nghĩ của các bậc đế vương). Do đó trên các thông tin lề phải khi đề cập đến đa đảng đều chốt lại một câu: “Đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam không cần đa đảng và không chấp nhận đa đảng”.

Hiện nay, đa số người dân Việt Nam khi được hỏi trước đám đông (xin nhấn mạnh là “trước đám đông”): Ông (bà) thích độc đảng hay là đa đảng? Không cần phải suy nghĩ và sẽ có câu trả lời: Độc đảng tốt hơn!

Vào thập niên chót của thế kỷ trước, khi còn là sinh viên, tôi vào phòng ký túc xá nữ để thăm một người bạn. Tôi hỏi các bạn nữ trong phòng: Các bạn thích độc đảng hay đa đảng? Các bạn sinh viên sinh sống bên kia vĩ tuyến 17 trả lời phát một: Độc đảng!

Sau khi nghe xong, tôi mới đưa ra một ví dụ: Nếu cho bạn chọn lựa một trong hai, một bộ quần áo đẹp nhất trần gian và hai bộ quần áo xấu hơn một ít, vậy bạn chọn món nào? Sau một hồi đắn đo suy nghĩ và phân tích, các bạn nữ mới nói: bộ quần áo đẹp nhất trần gian, mặc vào rồi đến lúc phải dơ và cần phải giặt giũ và chẳng lẽ trong lúc giặt giũ phơi phóng mình phải khỏa thân sao? Hai bộ quần áo tuy có xấu hơn nhưng cũng có cái để thay ra thay vô!

Tất cả các cán bộ đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam đều có trình độ lý luận chính trị vững vàng, đều trải qua nhiều năm “Học tập và làm theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh” nhưng xem đi ngó lại thì những bộ mặt tham nhũng trong thời gian qua toàn là đảng viên. Số lượng đảng viên tham nhũng ngày càng “đông như quân Nguyên” và họ đã “ăn không từ một thứ gì” (Lời phát biểu của bà Cựu Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan).

Với mong muốn làm trong sạch bộ máy của đảng, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã mở “Chiến dịch đốt lò” chống tham nhũng. Những việc thanh trừng chống tham nhũng hiện nay chẳng qua là giữa phe này phái nọ “ghen ăn tức ở” với nhau mà thôi (Trong nội bộ đảng vẫn có phe phái. Mao Trạch Đông đã nói: “Đảng nội vô phái, thiên kỳ bách quái” [Trong nội bộ đảng mà không có phe phái là chuyện kỳ quặc, lạ đời]).

Năm Bính Thân (1296) thời vua Trần Anh Tông: “Nhân Huệ vương Khánh Dư từ Bài Áng vào chầu. Người trong trấn kiện Khánh Dư tham lam thô bỉ. Hành khiển đem sự trạng tâu lên. Khánh Dư nhân đó tâu vua: “Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng có gì là lạ?”. Vua không hài lòng, Khánh Dư bèn trở về. Khánh Dư vào chầu không quá 4 ngày đã trở về, vì sợ ở  lâu bị vua khiển trách” [*].

Từ xa xưa đã có chuyện nương tay hoặc bao che cho nhau của giới cầm quyền. Giới cầm quyền có ai lại đi bẻ hết móng vuốt chim ưng mình đâu!

Thời Nguyễn Tấn Dũng còn giữ chức Thủ tướng, có phát biểu: “Tôi nhớ đồng chí Phạm Văn Đồng – có lẽ làm thủ tướng lâu nhất – có lần nói chưa xử lý kỷ luật một đồng chí nào. Hơn ba năm nay tôi làm thủ tướng cũng chưa xử lý kỷ luật một đồng chí nào” Hoặc nhiều vị lãnh đạo vin vào cái câu: Diệt hết tham nhũng lấy ai làm cán bộ? [**] Do đó móng vuốt chim ưng ngày càng dài ra và sắc bén.

Y phục có thuộc loại xịn nhất thế giới, mặc một thời gian sẽ bị dơ bẩn và khi ấy sẽ phải thay bộ y phục ấy chẳng lẽ bận bộ ấy hoài, như thế ai chịu nỗi. Sau khi thay thì phải cần có bộ y phục khác để mặc vào.

Câu nói “Đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam không cần đa đảng và không chấp nhận đa đảng” luôn xuất hiện trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng của Nhà nước Việt Nam nhưng vẫn chưa được thực hiện bằng cuộc trưng cầu dân ý nào cả!

Nguyễn Văn Nghệ, Diên Khánh – Khánh Hòa

________

Chú thích:

[*] Đại Việt sử ký toàn thư tập II, Nxb Văn hóa- Thông tin, Hà Nội, 2000, t. 110

[**] https://tuoitre.vn/thu-tuong-nguyen-tan-dung-hon-3-nam-nay-toi-chua-ky-luat-ai-348716.htm