Tôi có được xưng tội, nếu không có tội nặng không?
S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Phóng sanh
Tác Giả: Tưởng Năng Tiến
15/09/2023
Trong một buổi tọa đàm (“Về Tư Cách Trí Thức Việt Nam”) ở Berlin – vào năm 2000 – nhà văn Phạm Thị Hoài đã phát biểu “ngoài lề” khiến cho vài người tham dự mất vui, và số đông còn lại thì rất mất lòng:
“Nhân đây cũng xin nói ngoài lề là cái tinh thần rất nổi tiếng và thường xuyên được ca ngợi rằng, người Việt hiếu học, cha mẹ muốn con hay chữ, yêu thầy, theo tôi một phần cũng rất đáng kể xuất phát từ tinh thần yêu địa vị và trọng quyền lực. Nếu chữ nghĩa không mở ra được một triển vọng thơm tho như vậy, một người đi học thi đỗ làm quan thì cả họ được nhờ, tôi tin rằng cái sự hiếu học kia chắc chắn là giảm đi đáng kể.”
Diễn giả, nói nào ngay, không có chi sai trật cả (chỉ hơi thiếu tế nhị chút xíu thôi) nhưng sự thật vốn dễ mất lòng nên bà đã nhận được khá nhiều gạch đá, từ khắp bốn phương.
Mà sự thật nào chỉ có thế. Tính vị lợi của người Việt không chỉ thể hiện qua “cái chí làm quan”! Họ còn “đầu tư công ̣đức” theo kiểu “tu nhân tích đức nữa cơ. Cứ thử nghe chơi đôi ba câu ca dao, tục ngữ, hay thành ngữ của dân tộc này xem:
- Người trồng cây hạnh người chơi/ Ta trồng cây đức để đời về sau
- Có đức mặc sức mà ăn
- Làm phước để đức cho con cháu
Cách làm phước có cả đất lẫn trời chứng dám, thiên hạ quan chiêm, được ưa chuộng và phổ biến nhất nhất hiện nay là thả chim hay thả cá. Phóng sinh, tuy thế, đang bị rất nhiều người càm ràm (hay chỉ trích) tưng bừng. Xin phép được trích dẫn năm ba, theo thứ tự alphabétique:
- Thảo Dân: “Bắt bất cứ con gì rồi đem thả ra để cầu lợi lạc đều là hành động hủy diệt môi trường và hiểu sai nghĩa của từ ‘phóng sinh”.
- Thái Hạo: “Người ta đang tự do, đi bắt nhốt lại, đốt hương khói nghi ngút, khiến cho thân tàn ma dại, rồi mang thả ra, đó là làm cho khốc hại, là hiện thân của cái ác, chứ không có chút từ bi nào cả.”
- Trương Nhân Tuấn: “Trước đạo pháp, hành vi ‘phóng sinh’ của các chùa quốc doanh trở thành một ‘tội ác’. Trước thiên nhiên, chuyện phóng sinh (kiểu chùa VN) là hành vi tàn phá môi sinh, làm đảo lộn tuần hoàn của hệ sinh thái địa cầu.”
- Mạc Văn Trang:“Cách ‘diễn trò phóng sinh’ như các chùa làm hiện nay đã và đang bị rất nhiều người lên án: Đó là tội ác chứ không phải phóng sinh!”
Đúng là chúng khẩu đồng từ, ngoại trừ FB Trà Đóa. Tương tự như nhà văn Phạm Thị Hoài, trong buổi tọa đàm ở Berlin hơn 20 năm trước, nhân vật này cũng vừa phát biểu hơi bị lạc đề: “Chỉ dân tộc này mới cần phóng sinh, bị nhốt lâu quá rồi.”
Nghe thiệt mất lòng nhưng xem ra thì quả là không trật. Tuy không phải là “đối tượng” của tệ trạng phóng sinh nhưng đại đa số dân Việt lại là nạn nhân của một thứ nhân tai khác, chiến tranh giải phóng, và không chỉ một lần.
Họ đang sống tự do, chả khác chi chim trời/cá nước, ở một vùng đất an lành (“gạo trắng trăng thanh”) thì bỗng dưng miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Sau đó, sau 30 tháng 4 năm 1975 thì không chỉ hàng triệu người buồn mà còn cả triệu người phải đi tù nữa chớ. Có kẻ bị giam mãi đến 1993 (18 năm trường, dù chương trình “cải tạo” được hứa hẹn chỉ kéo dài độ mười ngày) thì có biết bao nhiêu triệu gia đình tan nát ?
Mà không chỉ đám ngụy quân, ngụy quyền (hay đám ngụy dân) mới bị gạt ra ngoài bản hòa ca Bắc/Nam thôi đâu. Tuy chiến tranh đã chấm dứt nhưng hòa bình, xem ra, cũng không được an lành gì cho lắm. Đời sống của phần lớn mọi người bỗng trở nên khó khăn, khó thở, và xáo trộn “như một bầy ong vỡ tổ” – theo như lời than thở của FB Mai Thị Mùi:
“Đất nước thống nhất nhưng cuộc sống người dân như bầy ong vỡ tổ. Người ta lăn xả ra đường tìm kế sinh nhai, bán, buôn, đổi chác tất cả những gì có thể. Hàng hoá thiếu thốn, ngăn sông cấm chợ, quy định, luật lệ lộn tùng phèo tạo nên một xã hội xô bồ mạnh ai nấy buôn, mạnh ai nấy bán. Không khí đất nước những năm tháng ấy như căn phòng đóng kín cả cửa đi lẫn cửa sổ. Nó ngột ngạt, tù túng như vậy hãm con người ta trong ngục tù.”
Bà Mùi có quá lời không?
Hổng dám quá đâu!
Rảnh: hãy nghe thêm đôi lời thống thiết của một phụ nữ khác, một chiến sỹ thuộc đoàn quân giải phóng – nhà văn Dương Thu Hương: “Vào miền Nam tôi khóc vì sao? Là bởi vì tôi hiểu đạo quân chiến thắng ở miền Bắc phụ thuộc vào một chế độ man rợ.”
Bà không phải là người duy nhất ở Bên Thắng Cuộc đã ngậm ngùi rơi lệ trước một cảnh tượng bẽ bàng. Nhà thơ Phan Huy cũng thế:
Trước mắt tôi, một Miền Nam sinh động
Đất nước con người dân chủ tự do
Tôi đã khóc ròng đứng giữa thủ đô
Giận đảng giận đoàn bao năm phỉnh gạt
Với thời gian, mọi “phỉnh gạt” đều dần được phơi bầy. Tiến sĩ Lê Hiển Dương, nguyên hiệu trường Đại Học Đồng Tháp, một nhân vật tuy thuộc thế hệ sau nhưng cũng cảm thấy áy náy và bất an không kém:
“Rồi những trận đổi tiền để đánh tư sản, rồi nhiều nhà cửa của đồng bào bị tịch biên, rồi hàng triệu đồng bào bắt đầu bỏ nước ra đi, nhiều giáo sinh của trường chúng tôi cũng vắng dần theo làn sóng đi tìm tự do đó. Tôi bắt đầu hiểu đích thực ý nghĩa của cụm từ ‘giải phóng miền Nam’ và bắt đầu cảm thấy xấu hổ cho bao nhiêu năm sống trong niềm ảo vọng mù quáng của bản thân… mà dù ở chừng mực nào cũng được xem là thành phần trí thức trong xã hội.”
Mà đó có phải là lần đầu cái dân tộc này phải trải qua một cuộc “bể dâu” đâu. Hồi tháng 10 năm 54 cũng thế:
Lê Phú Khải: “Ngày vui ngắn chẳng tày gang, không khí hồ hởi vui tươi sau chiến thắng Điện Biên Phủ, sau hòa bình lập lại 1954 ở Hà Nội cũng như toàn miền Bắc mau chóng nhường chỗ cho những ngày ảm đạm, u ám của những cuộc ‘đấu tranh giai cấp’, của cải cách ruộng đất, của cải tạo tư sản, đấu tố …”
Nguyễn Văn Luận: “Hà Nội im lìm trong tiết đông lạnh giá, người Hà Nội e dè nghe ngóng từng ‘chính sách’ mới ban hành… Hà Nội đói và rách, khoai sắn chiếm 2 phần tem gạo, 3 mét vải ‘cung cấp’ một năm theo ‘từng người trong hộ’. Mẹ may thêm chiếc quần ‘đi lao động’ thì con nít cởi truồng.”
Bùi Ngọc Tấn: “Quản lý chặt dạ dày, hộ khẩu, duy trì tình trạng thiếu đói cả ở nông thôn và thành phố, chia nhau từng mét chỉ, nửa cây kim, nửa cái bát sành…”
Từ 1954 đến 2023 là một khoảng thời gian không ngắn, vừa đủ cho cả mấy thế hệ luôn. Có lẽ FB Trà Đóa nói đúng: “Cả dân tộc này mới cần được phóng sinh, họ bị nhốt lâu quá rồi.” Lâu đến mức mà hầu như không ai còn nhớ rằng mình đang bị giam cầm nữa.
NGUYỆN GIÚP CẦU THAY – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
“Tôi không đáng rước Ngài vào nhà tôi!”.
Kính thưa Anh Chị em,
Một chi tiết khá bất ngờ trong Tin Mừng hôm nay là những lời của viên sĩ quan chỉ đến được với Chúa Giêsu qua trung gian những người bạn! Ông là kiểu mẫu trong việc chúng ta khẩn xin các thánh và những người khác ‘nguyện giúp cầu thay!’.
Trên bước đường rao giảng của Chúa Giêsu, ai cũng có thể trực tiếp đến gặp Ngài. Tuy nhiên viên sĩ quan ngoại giáo giàu có và quyền thế này không làm vậy. Lý do, “Tôi không đáng rước Ngài vào nhà tôi”, nghĩa là ‘Tôi không xứng đáng đi mời Thầy’. Chúa Giêsu thực sự kinh ngạc, “Tôi chưa thấy một người nào có lòng tin mạnh như thế!”. Và ngay giờ ấy, từ xa, đầy tớ của ông được lành.
Việc khẩn xin các thánh cầu bầu và những người khác cầu nguyện là cách chúng ta thừa nhận rằng, tôi yếu hèn, tội lỗi; thậm chí, không xứng đáng để ra trước mặt Chúa, phương chi việc thưa lên với Ngài điều này điều kia. Lời Chúa nhắc nhở chúng ta đừng tự phụ, hãy chọn cho mình một vị thánh để được các ngài ‘nguyện giúp cầu thay’. Khi làm điều này, chúng ta muốn nói rằng, Thiên Chúa vui thích khi chúng ta hạ mình để đến với Ngài qua trung gian ‘một ai đó’. Mẹ Maria chẳng hạn! “Grigorusa”, một tước hiệu của Mẹ, tiếng Hy Lạp có nghĩa là, “Mẹ chóng cầu bầu”. Với thánh Giuse, “Mỗi người có thể khám phá nơi ngài, một người không mấy ai chú ý, mỗi ngày đang ‘nguyện giúp cầu thay’, trợ lực và hướng dẫn khi chúng ta gặp khó khăn!” – Phanxicô.
Thời nội chiến, một người lính trẻ – mất cha và anh cùng lúc – tìm đến Washington xin miễn dịch; anh hy vọng có thể ở nhà giúp mẹ và em gái. Đến Toà Bạch Ốc, anh xin gặp tổng thống; lính gác từ chối. Thất vọng, anh thơ thẩn ra công viên. Tình cờ, một cậu bé lại gần, “Trông anh không vui. Chuyện gì vậy?”. ‘Người bạn tí hon’ nghe anh tâm sự. Sau đó, không một lời, cậu bé nắm tay anh đi một quãng, dẫn anh qua cửa sau, vượt các lính gác, vào thẳng văn phòng. Lincoln hỏi, “Tad, con cần gì?”; Tad nói, “Ba ơi, người lính này cần gặp ba!”. Kết quả, binh sĩ trẻ được ở nhà giúp mẹ!
Anh Chị em,
‘Người bạn tí hon’ đó chính là hình ảnh Chúa Giêsu, Đấng ‘nguyện giúp cầu thay’ số một! Bên cạnh đó, bao vị thánh khác và thánh bổn mạng của mỗi người. Và các linh hồn! Ôi, những người thân yêu tốt lành; các ngài là những ‘nhà đàm phán’ uy tín trước Chúa! Cũng đừng quên! Bạn và tôi là những ‘thánh sống’ khi chúng ta tuyệt đối sống đẹp lòng Chúa. Phaolô không nói trong thư Timôthê hôm nay sao? “Hãy dâng lời cầu xin, khẩn nguyện, nài van, tạ ơn cho tất cả mọi người”; Thánh Vịnh đáp ca đồng tình, “Chúc tụng Chúa, vì Ngài nghe tiếng tôi khẩn nguyện!”.
Là những tội nhân, chúng ta còn làm được điều đó, phương chi các thánh! Hãy là những ‘vị thánh’ đó! Tại sao không?
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa Giêsu, ‘Trung Gian của các trung gian!’. Lạy các thánh, ‘nguyện giúp cầu thay’ cho con; giúp con cũng trở nên ‘một trung gian’ của anh chị em con!”, Amen.
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
From: KimBang Nguyen
Oán hờn và giận dữ là những điều ghê tởm, về chuyện đó kẻ tội lỗi có biệt tài. (Hc 27:30)
Hoả hoạn phố Khương Hạ, nguyên nhân chỉ có một
15-9-2023
Nghịch lý: Đất nước không có chiến tranh, không có khủng bố, không có thiên tai, ngay trong thời bình, sống giữa thủ đô, nơi mà cơ quan chính quyền dầy đặc, nơi mà cán bộ ăn lương sống nhung nhúc, nơi được trang bị phòng cháy chữa cháy, cứu hộ và y tế với mật độ cao nhất, hiện đại nhất… thì chỉ trong một buổi tối, hơn cả trăm đồng bào thương vong, trong đó, quá nửa nạn nhân tử vong một cách tức tưởi?
“Nhà chung cư của con cháy rồi, hai cháu chết rồi, con cũng chết đây bố ơi”. Rồi im bặt, tiếng tút tút trong chiếc điện thoại cứ kéo dài mãi, khô khốc… Tương tự vậy ở một ngôi nhà khác “Con không thở được nữa”. Rồi im bặt, tiếng tút tút trong chiếc điện thoại cứ kéo dài mãi, khô khốc…
Đó là vài câu nói hiếm hoi sau cùng trong cuộc đời của người con trai với cha mình vào đêm hỏa hoạn 12/09 định mệnh ngay giữa thủ đô. Lúc này, mái đầu bạc đang khóc mái đầu xanh và bao nhiêu gia đình đang phủ vành tang trắng khóc thương người thân đột ngột, tức tưởi buông tay rời xa cuộc sống này.
Ngẫm xem, cái đêm định mệnh, ngoại trừ tòa nhà 9 tầng sơn trắng, hình khối hộp ngún lửa và khói đen tràn vào ngập phổi làm nạn nhân ngộp thở, thì xung quanh đấy, vẫn là bầu khí quyển trong lành cho hàng triệu cư dân Hà Nội hít thở. Thật trớ trêu, sinh tử cách nhau chỉ sau bức tường 10cm oan nghiệt như vậy.
56 con người tức tưởi buông tay cuộc đời, thậm chí, nhiều người không trăn trối được câu cuối “…con cũng chết đây bố ơi” hoặc “…con không thở được nữa” như hai anh con trai trút lời cuối, từ biệt với bậc sinh thành qua chiếc điện thoại. Cả cha, cả con, cứ ngỡ sống ở thị thành là sinh đạo, mà ai ngờ đã trở thành tử lộ!
Lúc đầu, tin tức 20 người chết trong cơn hỏa hoạn đã làm rúng động xã hội, vì tuy không quen biết, nhưng sinh mạng người đều quý giá như nhau, vì họ đều đang là anh chị em, con cháu của một gia đình nào đó đang rất trông tin họ. Nhưng tin tức không dừng lại ở đó, khi con số nạn nhân tăng dần, 30, 40 và rồi là 56 người chết, làm nỗi thương cảm cũng tăng dần đến bàng hoàng. Đồng bào mình với nhau… Đã không trông mong thì lại càng không muốn tin là sự thật. Sự nghèn nghẹn từ cổ họng làm chúng ta muốn tức thở, không chỉ vì sự thương cảm và cả sự uất ức vào dân tộc khốn khổ này!
Nếu là một chính quyền lương hảo có trách nhiệm, đã không để tồn tại những căn chung cư xây dựng trái phép như vậy. Nếu quản lý đô thị có trách nhiệm, đã không để tồn tại những con hẻm nhỏ không thể cứu hỏa như vậy. Nếu công an phòng cháy chữa cháy có trách nhiệm, đã buộc chủ nhà phải làm lối thoát hiểm, phải trang thiết bị chữa cháy, có phương án chữa cháy nơi hẻm nhỏ và kịp thời đến cứu hộ hiệu quả. Nếu cơ quan cấp phép kinh doanh nhà thuê có trách nhiệm, đã kiểm tra ấn định số người tối đa được cư trú… để bảo đảm an toàn sinh mạng cho người dân, thì thảm cảnh đã không xảy ra và nếu có hỏa hoạn, thì cũng đã không gây mức thiệt hại về người đến mức kinh hoàng như thế.
Và nếu, chỉ cần một trong những cái nếu vừa nêu có trách nhiệm, thì đã không có cái đêm 12/09 định mệnh của 56 đồng bào, gây tang thương cho gia đình họ.
Chúng ta có thể dẫn ra hàng tá câu hỏi về trách nhiệm như vậy để thấy rằng dân tộc ta đã xấu số như thế nào khi phải sống trong một thể chế chính trị vô trách nhiệm, bất tài, bất lực đến thế.
56 đồng bào tử vong, nếu chỉ cho rằng họ là nạn nhân của trận hỏa hoạn là chưa thật sự thấy nguyên nhân tử vong của họ, mà thực tế, họ là nạn nhân của một chế độ vô trách nhiệm và đó mới là nguyên nhân của mọi nguyên nhân. Vì một lẽ đơn giản, chế độ nào đi nữa, thì chẳng có trách nhiệm nào lớn hơn sự bảo đảm an toàn của người dân.
Nếu không, sao có thể giải thích được nghịch lý: Đất nước không có chiến tranh, không có khủng bố, không có thiên tai, ngay trong thời bình, sống giữa thủ đô, nơi mà cơ quan chính quyền dầy đặc, nơi mà cán bộ ăn lương sống nhung nhúc, nơi được trang bị phòng cháy chữa cháy, cứu hộ và y tế với mật độ cao nhất, hiện đại nhất… thì chỉ trong một buổi tối, hơn cả trăm đồng bào thương vong, trong đó, quá nửa nạn nhân tử vong đột ngột một cách tức tưởi?
Giải thích đi, những kẻ được đồng bọn xưng là “Hồng phúc của dân tộc” (?!)
Tiên sư hồng phúc…
KHÔNG BAO GIỜ SAI LẦM – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
“Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là tha đến bảy mươi lần bảy!”.
“Chỉ khi tha thứ, người ta mới không bao giờ sai lầm!” – Rustand.
Kính thưa Anh Chị em,
Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay mời gọi bạn và tôi nhân hậu, từ bi, xót thương như Thiên Chúa; nên những con người tha thứ. Vì khi tha thứ, chúng ta sẽ ‘không bao giờ sai lầm!’.
Bài đọc Huấn Ca cho thấy những cám dỗ nuôi lòng oán hận là điều Thiên Chúa ghê tởm, “Người với người cứ nuôi lòng hờn giận, thế mà lại xin Đức Chúa chữa lành!”. Đó là cám dỗ “sống cho chính mình” mà Kitô hữu phải tránh xa như Phaolô lưu ý trong bài đọc hai.
Nghĩ đến tình yêu, lòng tốt, sự dịu dàng, lòng thương xót… là điều dễ hiểu; chúng truyền cảm hứng cho chúng ta trở nên thánh thiện. Nhưng đôi khi, bạn và tôi cần nhiều hơn thế. Đây là một trong những lý do dẫn tới dụ ngôn hôm nay, bạn và tôi ‘không bao giờ sai lầm’ khi tha thứ! Chúa Giêsu nói với Phêrô, “Tha đến bảy mươi lần bảy!”.
Linh Thao của Ignatiô trình bày một cấu trúc, trong đó, vị linh hướng dẫn người tĩnh tâm đi trọn 30 ngày. Điều thú vị là Ignatiô không bắt đầu bằng việc mời gọi mỗi người suy gẫm về các nhân đức cao đẹp; thay vào đó, tuần đầu tiên, họ được yêu cầu suy gẫm sự khủng khiếp của tội và những hậu quả tàn khốc của nó. Bằng cách này, mắt họ mở ra trước tội lỗi mình; để trong ba tuần kế tiếp, họ sẽ có thái độ đúng đắn khi chiêm ngắm Chúa Giêsu.
Theo một nghĩa nào đó, Tin Mừng hôm nay thật lý tưởng để suy gẫm trong tuần đầu tiên với Ignatiô. Và vì lý do đó, bài Tin Mừng này thật quý báu để suy gẫm bất cứ lúc nào bạn và tôi muốn sắp xếp lại đời sống thiêng liêng. Bởi lẽ, chúng ta rất dễ trở nên tự mãn; cũng như dễ trở nên hâm hẩm trong cầu nguyện và lơi lỏng trong đời sống luân lý. Nếu đó là bạn ở bất kỳ mức độ nào thì Lời Chúa hôm nay đáng để chú ý thật cẩn thận và kỹ lưỡng.
Tội lỗi Chúa Giêsu đề cập hôm nay là tội không tha thứ. Rõ ràng, cơn thịnh nộ của Chúa sẽ giáng xuống những ai không biết tha thứ. “Đầy tớ độc ác” được tha “một món nợ rất lớn”. Người này là tất cả chúng ta! Bạn và tôi được tha một món nợ lớn bằng mạng sống Chúa Kitô. Hậu quả tội lỗi của chúng ta là cái chết của Ngài. Mỗi chúng ta đáng nhận án tử hình! Nhưng giờ đây, cái chết đã hoá nên phương tiện của sự sống mới qua việc tha tội. Và nếu muốn nhận sự tha thứ và sự sống mới đang chờ đợi, chúng ta phải thông phần trọn vẹn vào sự tha thứ của Thiên Chúa. Không chỉ nhận sự tha thứ, chúng ta còn phải tha thứ cho những người đã có lỗi với mình. Hoàn toàn! Thảy thảy! Không dè giữ!
Anh Chị em,
“Tha đến bảy mươi lần bảy!”. Mọi tội chúng ta phạm dù nặng đến đâu trước mắt Thiên Chúa, cũng chỉ là một món nợ nhỏ so với món nợ chúng ta nợ Ngài, “Đấng từ bi nhân hậu” như Thánh Vịnh đáp ca tuyên xưng. Do đó, đừng bao giờ ngần ngại “Tha đến bảy mươi lần bảy!”. Không bao giờ! Vì chúng ta sẽ ‘không bao giờ sai lầm’ khi tha thứ! Nếu điều này khó khăn và nếu việc suy gẫm về lòng thương xót, nhân hậu, từ bi và tình yêu của Thiên Chúa không buộc bạn phải hoàn toàn tha thứ cho tha nhân đến mức tối đa, hãy dành thời gian cho dụ ngôn này! “Ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao?”. Đó là những lời yêu thương Chúa Giêsu đang thức tỉnh chúng ta.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, trẻ em thường không giận lâu. Đừng để oán hờn gặm nhấm linh hồn con. Xin giải thoát con khỏi những dày vò đến từ sự không tha thứ!”, Amen.
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
From: KimBang Nguyen
TẠI SAO CƠ THỂ CHÚNG TA LẠI BỊ BỆNH?
Các chuyên gia tâm lý học chỉ ra. Mỗi một loại bệnh, là một điều mà nội tâm của bạn biểu lộ. Khi nội tâm bị kìm nén một điều gì đó, chúng ta không biểu lộ ra ngoài. Nhưng cơ thể sẽ thay nội tâm thực hiện điều đó. Lúc ấy bệnh tật sẽ xuất hiện.
Cơ thể và cảm xúc có liên quan mật thiết với nhau. Có thể não bộ sẽ không nhớ những nỗi buồn, lo âu, sợ hãi… nhưng thân thể sẽ không bao giờ quên. Trong Đông Y nói: Giận quá hại tim, lo âu hại bao tử, suy tư hại lá lách, đau buồn hại phổi.
Rất nhiều người trong chúng ta thân thể mắc bệnh, nhưng thực chất là tâm lý đang gặp vấn đề. Thế nên, cách đối xử tốt với thân thể là đối tốt với cảm xúc của bạn. Cho dù chúng ta có gặp bất kể chuyện gì đi nữa. Hãy cố gắng mở lòng và học cách buông bỏ.
Đừng để bản thân chìm đắm trong đau khổ hay sự lo âu. Tâm trạng tốt, sức khỏe mới tốt. Bạn nhất định phải tin rằng, cuộc sống có một ngàn lý do để buồn, thì bạn cũng có cả ngàn lý do khiến cho bản thân được vui.
Lê Huỳnh Phương Thảo
From: Tu-PHUNG
MỘT MÙA BỘI THU – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
“Chúc tụng Danh Thánh Chúa, tự giờ đây cho đến mãi muôn đời!”.
Trong “The Complete Disciple”, tạm dịch, “Thợ Lành Nghề”, Paul W. Powell mô tả một tình trạng khá buồn: “Nhiều nhà thờ nhắc tôi về một nhóm thợ ngồi xuống đứng lên trong kho nông cụ. Mỗi Chúa Nhật, họ đến nghiên cứu, mài cày, tra dầu vào máy; sau đó, đứng dậy, ra về. Chúa Nhật, họ trở lại, nghiên cứu, mài cày, tra dầu vào máy; sau đó, đứng dậy, ra về. Tuần này qua tuần khác, năm này qua năm khác, cũng ngần ấy việc! Không ai còn nhớ đến chuyện ra đồng. Vì thế, với họ, ‘một mùa bội thu’ là những gì thuộc về các giấc mơ!”.
Kính thưa Anh Chị em,
Sẽ khá bất ngờ khi Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta nhìn lại ‘cánh đồng’ đời mình. Đúng hơn, nhìn lại những vụ mùa, năm tháng… xem đâu là thời điểm tốt nhất, đâu là mùa bội thu khi Danh Chúa được nhận biết như Thánh Vịnh đáp ca hát khen, “Chúc tụng Danh Thánh Chúa, tự giờ đây cho đến mãi muôn đời!”.
Hãy nhìn lại cuộc sống theo từng thập kỷ, từng năm và thậm chí, từng tháng; nhìn lại những vụ mùa ‘được’ nhất, ‘mất’ nhất! Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta một phương thức tối đơn giản, “Xem quả thì biết cây!”. Hãy lục lọi trong các quãng thời gian khác nhau đó, đâu là ‘mùa được’ khi Danh Chúa rạng sáng; đâu là ‘mùa mất’ khi Danh Ngài bị che khuất. Thực tế, có khi thập giá và khó khăn dồn dập lại là thời điểm ‘được mùa’; có khi xem ra thành công, nhưng thực chất, chúng ta ‘mất trắng!’.
Qua thư Timôthê hôm nay, Phaolô nhận ra ơn cứu độ Thiên Chúa ban cho nhân loại và cho bản thân mình, “Đức Kitô Giêsu đã đến thế gian, để cứu những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi”. Phaolô nghiệm ra rằng, quãng thời gian Chúa Giêsu đau đớn nhất, chết chóc nhất lại là lúc Ngài mang về ‘một mùa bội thu’ cho Chúa Cha nhất! Từ đó, Phaolô dâng đời mình cho sứ vụ giữa cánh đồng dân ngoại và đã bội thu, khi Danh Chúa được nhận biết, “Kính dâng Ngài danh dự và vinh quang đến muôn thuở muôn đời!”.
Anh Chị em,
“Chúc tụng Danh Thánh Chúa!”. Cũng thế, cuộc đời của bạn và tôi tựa hồ một cánh đồng hứa hẹn những vụ mùa gặt hái cho Danh Chúa. Có những quãng thời gian; trong đó, những quyết định được thực hiện, những hoạt động được tham gia, khi đời sống cầu nguyện trở nên sâu sắc, dẫu đó có thể là những tháng ngày bi đát… nhưng chúng ta đã có ‘một mùa bội thu’. Tạ ơn Chúa vì Danh Ngài được hiển vinh! Đang khi bên cạnh đó, có thể có những vụ mùa mà bên ngoài là thành công với sự kiện này, sự kiện khác… nhưng đôi khi, bên trong, chỉ là trống rỗng, hão danh, vụ lợi và thực chất là chúng ta ‘mất trắng!’. Mất cả giống lẫn công, cả chài lẫn chì. Đó là những vụ mùa mà danh bạn và tôi ‘rạng sáng’, đang khi Danh Chúa thì ‘tắt ngủm!’.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, đừng để con sống ‘văn hoá nhàn rỗi’, suốt ngày đứng lên ngồi xuống, đi ra đi vào; cho con biết nghiên cứu, mài cày, tra dầu vào máy và ‘lái xe ra đồng’, hầu có thể có ‘một mùa bội thu’ đúng nghĩa!”, Amen.
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
From: KimBang Nguyen
BI THƯƠNG NHƯNG KHÔNG MẤT ĐƯỜNG HY VỌNG
Lm. Antôn Nguyễn Văn Dũng, DCCT
Hôm nay, chúng ta cùng với toàn thể Giáo hội mừng lễ Đức Mẹ Sầu Bi. Ngẫm nghĩ đến việc mừng lễ Đức Mẹ sầu bi, dường như ta cảm thấy có cái gì đó kỳ kỳ, không ổn thì phải! Đời thuở nhà ai lại đi ăn mừng lễ một người mẹ khi người mẹ đó gặp cảnh sâu thảm, bi thương vì phải chứng kiến cái chết của con mình bao giờ! Ở trong nỗi khổ đau, sầu bi thì làm sao có cái gì để mà ăn mừng?
Thực ra, hôm nay mừng lễ Đức Mẹ Sầu Bi, Giáo hội nhắc nhớ cho chúng ta biết về giá trị của hạnh phúc, giá trị của niềm hy vọng trong chính nỗi khổ đau và chết chóc. Ngay ở bài đọc 1 trích trong thư gửi tín hữu Do thái hôm nay, chúng ta được nhắc nhớ về niềm hy vọng trong đau thương, hoạn nạn. Tác giả thư Do thái viết: “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính.” Suy gẫm đoạn lời Chúa này, bấy lâu nay ta không khỏi thắc mắc: Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc xin Cha Ngài khỏi phải chết, và rõ ràng tác giả thư Do thái bảo rằng Ngài đã được nhậm lời! Nhưng thực tế, Đức Giêsu vẫn phải chết tức tưởi trên thập giá! Vậy nghĩa là sao?
Lời kêu xin của Đức Giêsu đã được Thiên Chúa Cha chấp nhận ở chỗ: Thiên Chúa Cha đã cho Ngài được bình an đón nhận cái chết, và đón nhận cái chết với một niềm tin tưởng, hy vọng, chứ không thất vọng ê chề. Trong đời sống thường ngày, chúng ta đã từng chứng kiến hoặc kinh nghiệm được rằng trước những tai ương, hoạn nạn, khổ đau, nhiều người chưa kịp chết về đàng thân xác, nhưng đã bị hoạn nạn, khổ đau giết chết về đàng tinh thần rồi! Đối với Đức Giêsu thì khác, hoạn nạn, khổ đau có thể giết chết Ngài về đàng thân xác, nhưng tinh thần của Ngài không bao giờ bị vùi dập, bị giết chết. Tâm hồn Ngài vẫn tràn trề niềm cậy trông và phó thác vào Cha Ngài.
Với Mẹ Maria cũng vậy, dù phải đứng dưới chân thập giá và phải chứng kiến cái chết thảm thương của con Mẹ là Đức Giêsu, nhưng lòng mẹ vẫn ngập tràn niềm tín thác vào quyền năng và tình thương của Đấng Tối Cao. Về mặt xác thịt con người, chắc chắn lòng Mẹ không khỏi tan nát, buồn đau, nhưng trong lòng tin, Mẹ vẫn có được niềm hy vọng hướng về tương lai tươi sáng của sự phục sinh vinh hiển của con Mẹ. Vì lẽ đó, hôm nay chúng ta mừng lễ với Mẹ: Vui mừng với Mẹ, vì khi gặp nỗi khổ đau tột cùng là phải chứng kiến cái chết thê thảm của con Mẹ, Mẹ vẫn không để nỗi khổ đau ấy bóp chết con tim yêu mến và ngập tràn hy vọng của Mẹ.
Sống ở đời này, ai trong chúng ta cũng phải kinh qua đau khổ. Ta không đau khổ vì điều này thì sẽ đau khổ vì điều khác. Đau khổ vì bệnh tật, vì nghèo đói, vì bất công, vì thiên tai, vì nhân tai. Đau khổ vì bị tù đầy, bị kỳ thị, bị khinh khi, miệt thị. Và đau khổ lớn nhất của thân phận nhân loại chúng ta đó là vì sự chết chóc đau thương. Nhưng đứng trước mọi nỗi đau khổ, Lời Chúa hôm nay mời gọi ta hãy đón Đức Mẹ về nhà mình, đón Mẹ về với tâm hồn mình để Mẹ dạy cho ta con đường tin yêu, hy vọng ngay trong nỗi đau khổ tột cùng.
“Này con, Đây là Mẹ con” – Lời của Chúa Giêsu đang ngỏ với bạn và tôi! Bạn và tôi hôm nay được mời gọi đón Mẹ Maria về nhà mình ngõ hầu nhờ lời Mẹ cầu thay nguyện giúp, dù đau khổ, nhưng ta không để đau khổ giết chết ta về đàng tinh thần. Nói cách khác, hoạn nạn, khổ đau có thể giày vò, giết chết thân xác ta, nhưng tâm hồn ta không thể bị vùi dập trong nỗi cô đơn, thất vọng. Chính trong đau khổ và khi vượt qua được khổ đau với niềm tin yêu tín thác, ta sẽ cảm nếm được hết giá trị của hạnh phúc, của nụ cười sau cơn hoạn nạn, khổ đau.
Lm. Antôn Nguyễn Văn Dũng, DCCT
From: Langthangchieutim




