Chuyện cười ra nước mắt: Chỉ có ở CHXHCN, tòa tối cao cho phép án oan sai ở mức 1,5%

Theo RFA tiếng Việt.

 

Công lý được phép sai sót đến 1,5% là không chấp nhận được!

Diễm Thi, RFA
2023.09.21
sharethis sharing button

Công lý được phép sai sót đến 1,5% là không chấp nhận được!Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Nguyễn Hòa Bình báo cáo về công tác của các Toà án trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XIV, vào ngày 12/1/2021.

Oan sai ở VN do lỗi “định mức”!

Câu nói của ông Bình gây bất bình trên mạng xã hội khi nhiều người lập luận rằng: những người cầm cân nảy mực mà được phép sai sót thì người dân biết đòi công lý ở đâu?

Cựu Trung tá Quân đội Vũ Minh Trí nhận định với RFA với tư cách một người dân, về vấn đề trên:

“Về mặt lý luận hay về mặt nguyên tắc thì phát biểu như vậy là hoàn toàn sai. Bởi đã xử án thì phải bảo đảm đến mức tuyệt đối chính xác không có oan sai. Đằng này, họ đặt ra định mức cho phép như thế, có nghĩa án oan sai dưới định mức coi như hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Tôi thấy điều này hoàn toàn sai trái. Với những người ở những nước dân chủ tự do và có tam quyền phân lập thì họ sẽ không bao giờ chấp nhận.  Cái phát biểu như vậy và con số đó nó phản ánh đúng một thực tế ở Việt Nam. Tức là án oan sai do lỗi chủ quan nó vượt quá con số 1,5%. Sai bao nhiêu thì mình chưa biết, nhưng có rất nhiều vụ án tử hình đang kêu oan nổi cộm như Hồ Duy Hải, Lê Văn Mạnh, Nguyễn Văn Chưởng… Chính vì vậy, để giảm sự oan sai thì người ta bắt buộc phải đặt ra định mức để kéo nó xuống.

Nhưng theo tôi, để giảm oan sai thì không phải đưa ra một chỉ tiêu mà phải xem xét lại toàn bộ quy trình từ truy tố, điều tra, xét xử… Nguyên nhân của mọi nguyên nhân là ở Việt Nam thật sự chưa có tam quyền phân lập. Riêng lỗi chủ quan đã được 1,5% thì lỗi khách quan là bao nhiêu nữa? Giữa lỗi chủ quan và khách quan rất dễ chối.”

Về mặt lý luận hay về mặt nguyên tắc thì phát biểu như vậy là hoàn toàn sai. Bởi đã xử án thì phải bảo đảm đến mức tuyệt đối chính xác không có oan sai. Đằng này, họ đặt ra định mức cho phép như thế, có nghĩa án oan sai dưới định mức coi như hoàn thành tốt nhiệm vụ. – Cựu Trung tá Quân đội Vũ Minh Trí

Với cái nhìn ở khía cạnh luật pháp, Luật sư Vũ Đức Khanh cho rằng, nếu cho tỷ lệ sai sót chỉ là 0,01% thì cũng phải nghĩ đến sinh mạng của người bị oan sai và thân nhân của họ nữa, huống chi tỷ lệ đến 1,5%. Ông nói tiếp:

“Điều này chỉ nghe nói đến đã thấy không bình thường và không có tính công bằng. Điều đó không có nghĩa không có những sai phạm của ngành tư pháp. Vấn đề đầu tiên là bên cơ quan điều tra và bên công tố. Thứ hai là bên cơ quan xét xử. Lỗi phần nhiều là bên cơ quan điều tra và công tố.

Nên, việc đầu tiên là phải thay đổi bên điều tra và bên công tố. Nhưng ngay cả khi hồ sơ ở hai cơ quan đã hoàn thiện thì vẫn có những trường hợp sai sót và đưa qua tới bên cơ quan xét xử, tức là thẩm phán và tòa án. Do đó, thẩm phán và tòa án phải hoàn toàn độc lập với Viện kiểm sát, là bên công tố và bên điều tra. Thẩm phán phải độc lập và có năng lực để ra quyết định riêng của mình. Nhưng tất cả do con người thực hiện nên cũng có thể có sai sót, nhưng nếu lấy tiêu chí là thẩm phán phải độc lập với các bên khác thì điều đó đã hạn chế sai sót.

Bước sau cùng là tòa án. Giả sử tòa án có sai, số lượng sai không biết là bao nhiêu nhưng để cho phép ở mức 1,5% thì không thể chấp nhận được. Quá nhiều.

Tuy nhiên, với sự hội nhập của Việt Nam với thế giới và sự lớn mạnh của xã hội dân sự, vai trò của luật sư sẽ được nâng cao. Các luật sư nên được mời với tư cách các chuyên gia hoàn toàn độc lập cùng với những thẩm phán được chọn, vào một ủy ban để xét lại những vụ án oan sai của người dân.”   

Án oan, sai gây ảnh hưởng đến cuộc sống và sức khỏe của người bị oan rất lâu dài. Nếu là án tử hình thì không gì có thể bù đắp được. Điều này từng được Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng nêu rõ trong buổi làm việc với lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao ở Hà Nội cách đây sáu tháng rằng, mỗi phán quyết, quyết định của tòa án liên quan đến sinh mạng chính trị và thậm chí là sinh mạng con người, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân, vì thế không được để xảy ra oan, giảm tối đa tình trạng sai hoặc với yêu cầu cao là không được để xảy ra sai.

Gây mất lòng tin vào hệ thống tư pháp

Trao đổi với RFA, một số chuyên gia trong ngành tư pháp cho rằng, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các vụ án oan, sai ở Việt Nam mấy chục năm qua là do yếu tố con người. Các bị cáo bị oan nhưng vẫn nhận tội vì không chịu nổi bức cung, nhục hình. Hơn nữa, các cơ quan tố tụng không đảm bảo được nguyên tắc suy đoán vô tội cho bị can, bị cáo dù tinh thần của nguyên tắc suy đoán vô tội đã được hiến định tại khoản 1, điều 31 Hiến pháp 2013.

Cụ thể: Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Trước nay, tuy công chúng đã hoàn toàn mất lòng tin vào hệ thống tư pháp, thế nhưng, sự tiết lộ mang tính cách công khai, chính thức của người đứng đầu ngành tư pháp vẫn khiến công chúng choáng váng. Hậu quả sẽ rất tai hại. Vì lẽ, từ nay trở đi, mọi phán quyết của tòa án trong bất kỳ vụ án nào cũng sẽ đều bị công chúng nghi ngờ về khả năng nằm trong 9000 vụ án oan sai(!?) – Luật sư Đặng Đình Mạnh

Trở lại câu chuyện Quốc hội cho phép 1,5% của 600.000 vụ án, tức là khoảng 9.000 vụ án, được phép sai do lỗi chủ quan, Luật sư Đặng Đình Mạnh nói với RFA quan điểm của ông:

“Tiết lộ của ông Chánh án TAND Tối cao Nguyễn Hòa Bình rằng, ‘bây giờ cứ sai là bị kỷ luật hết thì lấy đâu ra người làm việc’ đã cho thấy một bức tranh quá u ám về nền tư pháp XHCN do Đảng Cộng Sản lãnh đạo.

Trước nay, tuy công chúng đã hoàn toàn mất lòng tin vào hệ thống tư pháp, thế nhưng, sự tiết lộ mang tính cách công khai, chính thức của người đứng đầu ngành tư pháp vẫn khiến công chúng choáng váng. Hậu quả sẽ rất tai hại. Vì lẽ, từ nay trở đi, mọi phán quyết của tòa án trong bất kỳ vụ án nào cũng sẽ đều bị công chúng nghi ngờ về khả năng nằm trong 9000 vụ án oan sai (!?).

Hệ thống tư pháp sẽ không còn được công chúng trông cậy để ban phát công lý, công bằng nữa. Mà họ sẽ tự mình hoặc thuê các thế lực khác giúp họ. Xã hội rối loạn… Điều đó chính là hệ quả tất yếu của hệ thống đào tạo luật gia trong nước đã không đáp ứng được và cũng không có khả năng ban phát công lý, công bằng cho người dân. Bên cạnh đó, là sự xuống cấp đạo đức xã hội của đội ngũ cán bộ, nhân viên ngành tư pháp ở mức độ trầm trọng.”

Luật sư Mạnh cho biết, tất cả đã khiến ông hoàn toàn bi quan về mọi hoạt động của ngành tư pháp hiện nay, đến mức ông nghĩ, “xóa bàn làm lại” là giải pháp duy nhất cho ngành tư pháp nói riêng và tất cả các ngành khác trong hệ thống công quyền nói chung.

Lời bàn của Kẻ Đi Tìm

Hỡi nhưng anh Bò Đỏ, Bò húc, Bò vàng. Các anh có lạnh gáy không? Tòa tối cao cho phép 1, 5% án oan sai, coi chừng có ngày chính những người Yêu XHCN sẽ bị kết án oan uổng.

Xin hỏi những ai yêu XHCN đã sáng mắt ra chưa? Các bạn yêu một chế độ đang ở vào thời kỳ đồ đá mạt hạng của nền công lý nhân dân.


 

Xin lỗi Mạnh, người đồng hương và đồng bào của tôi – Thái Hạo

Lê Vi

– Thái Hạo

Vậy là đã dừng lại rồi, gần 20 năm ngục tù kêu oan thảm thiết. Tôi đau đớn. Nhưng rồi lại nghĩ, giờ ít ra anh đã thoát khỏi những song sắt, và chắc đang về thăm mẹ rồi. Anh đang nhìn thấy mẹ, ngồi bên mẹ trong ngôi nhà của mẹ… Chắc anh đã khóc, có cả giọt nước mắt hạnh phúc nữa vì được trở về và đoàn tụ, phải không anh? Tôi cầu nguyện rằng tôi đã đúng.

Giờ anh được tự do rồi, hãy đi thật nhiều để trả lại cho những năm tháng thanh xuân tù ngục đằng đẵng.

Nếu anh bị oan uổng, tôi cũng tin, oán hận không thể dễ dàng cởi bỏ. Sự đau đớn và nỗi uất ức sẽ kết lại, anh sẽ ở đó, và làm tiếp tục đòi công lý, theo cách của riêng anh. Phải không anh?

Tạm biệt anh, Lê Văn Mạnh. Cho tôi được cúi đầu, Xin lỗi anh.

– Thái Hạo

IM LẶNG LÀ CÙNG CHẾT VỚI NHAU

Huỳnh Thị Tố Nga 

IM LẶNG LÀ CÙNG CHẾT VỚI NHAU

Một tử tù vừa bị xử tử trong khi vụ án đang bị chính bản thân tử tù và gia đình kêu oan, công luận ở Việt Nam và quốc tế quan tâm kêu gọi tạm dừng thi hành án để điều tra minh oan. Vậy tại sao tử tù vẫn bị xử tử? Chúng ta chưa thấy câu trả lời thích đáng nào của cơ quan thi hành án từ bộ công an, từ bộ tư pháp và của nhà nước CHXHCNVN trả lời cho gia đình tử tù, cho công luận trong nước và cả quốc tế được minh bạch.

Phải chăng họ cho rằng, đây là pháp luật của họ, họ muốn xử thế nào cũng được, người dân trong nước và quốc tế không được quyền can thiệp vào “nội bộ” của họ.

Khi họ xử lý công dân mà họ cho là vi phạm, họ luôn đưa ra một lập luận rằng, là công dân Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam, đừng có so sánh với luật pháp của những quốc gia khác, nếu muốn, thì người dân cứ đi nước ngoài mà sống, đừng ở Việt Nam. Lập luận như vậy khác nào các bạn đem bản thân mình vào một cái hang hay khu rừng tách biệt với thế giới loài người?

Lập pháp, hành pháp, tư pháp phải lấy QUYỀN CON NGƯỜI để làm nền tảng chuẩn mực.

Lập pháp, hành pháp, tư pháp phải bảo vệ tối đa quyền con người, mà quyền con người là gì, như thế nào thì phải dựa trên quy chuẩn chung của thế giới loài người chứ không phải của riêng mỗi quốc gia. Vậy nên, QUYỀN CON NGƯỜI khác với QUYỀN CÔNG DÂN. Khi bộ máy nhà nước không chuẩn mực, cốt chỉ để bảo vệ cho đảng phái lãnh đạo họ sẽ đánh tráo khái niệm quyền con người thành quyền công dân, bởi vì, công dân quốc gia nào thì tuân theo luật lệ quốc gia đó, đây là khái niệm bóp chẹt quyền con người cơ bản, chưa kể, ở Việt Nam, quyền công dân cũng chưa bao giờ được thực thi đúng tiêu chuẩn thì làm sao công dân có được quyền con người trọn vẹn.

Việc đánh tráo khái niệm của bộ máy lãnh đạo và sự hiểu biết không rốt ráo của người dân về quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của mình làm cho sự độc tài như hổ mọc thêm cánh.

NHÂN LÀ NHẤT NGUYÊN, DÂN LÀ ĐA NGUYÊN. Đây là khái niệm cơ bản mà một chính phủ chuẩn mực phải nắm được cốt tủy và thực thi.

Nhân là nhất nguyên, có nghĩa là nhân loại phải có cùng những đặc điểm cơ bản, về chủng tộc, sinh sản, phát triển, trong quá trình sống đó, có sự liên kết thành các giềng mối gia đình, giềng mối xã hội. Có những quyền lợi và nghĩa vụ phải thực thi để có thể duy trì cá thể và tập thể, đó là đặc định, là đặc điểm chung cho loài người, không phân biệt chủng tộc và quốc gia, nên gọi là nhất nguyên.

Trong nhất nguyên đó, mỗi cá thể là một sự sống có tâm thức, mà tâm thức là sự phát triển riêng biệt, cho nên các cá nhân có sự khác nhau về nhận thức, sự khác nhau đó sẽ càng cách biệt khi các cá thể ở những địa phương khác nhau, ở những quốc gia khác nhau. Vậy nên mới hình thành nhiều thành phần, nhiều kết cấu về các cấu trúc phân bố trong xã hội, đó là điều căn bản để thấy được, trong cái chung, có cái riêng và ngược lại, nên nói, dân là đa nguyên là vậy.

Vậy nên, nhà nước là một thành phần quan trọng nhất để đại diện cho những thành phần “đa nguyên” của quốc gia thì không thể nào duy trì độc tài để điều hành được, đó là sai quy chuẩn ngay từ nền tảng. Lấy “nhất nguyên” để làm cốt tủy vì phải hiểu được đặc tính loài người là gì, từ đó mới hiểu rốt ráo quyền con người là thế nào, mới xây dựng một nền lập pháp cốt chỉ để bảo vệ quyền này. Hành pháp, tư pháp phải từ quy chuẩn này mà thực thi, trên nền tảng hiểu được dân là đa nguyên, phải linh động, rõ ràng và minh bạch.

Vậy nên, nhất nguyên khác biệt với độc đảng mà đa phần vẫn đang nhầm lẫn khái niệm này.

Có người dân nào không mong muốn một cuộc sống tự do, được hiểu và thụ hưởng quyền con người mà đúng ra là con người, tất nhiên phải được thụ hưởng, vì trong sự bình đẳng, quyền con người là đặc định một cách tự nhiên, không ai ban cho, cũng không có bất kỳ ai được quyền tước đoạt nó.

Huỳnh Thị Tố Nga

Sep 23, 2023

Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!” (Lc 1:34)

Mến chúc bạn ngày mới đầy tràn ân phúc nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 23/09/2023

TIN MỪNG: Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!” (Lc 1:34)

SUY NIỆM: Trọng đức khiết trinh: Sứ thần đưa tin cho Đức Mẹ làm Mẹ Thiên Chúa, mà chưa cắt nghĩa cho Mẹ hiểu ơn trọng ấy có thể hòa hợp với việc Người đã khấn giữ đồng trinh nên hình như Đức Mẹ không đang tâm, vì Người muốn nổi vượt trên các tạo vật về công giữ đức khiết trinh hơn được phẩm trọng quyền cao.

Song Sứ thần trấn tĩnh Đức Mẹ: Maria đừng lo sợ. (Lc 1:30) Mẹ quý trọng đức đồng trinh nên đáng Chúa Cứu Thế ngự vào lòng: Vì Chúa chỉ muốn sinh ra do một Nữ Đồng Trinh. Sau khi Đức Mẹ hiểu biết lời Sứ thần đưa tin cho Người làm Mẹ Thiên Chúa, mà không mất Đức khiết trinh Người vâng lời ngay.

Nhân đức tối trọng đáng ta yêu chuộng biết bao! Vì đức khiết trinh đã sản xuất được Chúa Cứu Thế, vì thánh nữ đồng trinh đã ham yêu Đức ấy hơn chức Mẹ Chúa Trời. Vì đức khiết trinh mà Chúa Giêsu đã ban đặc ơn cho môn đệ yêu dấu. Phúc cho những linh hồn có lòng thanh sạch trên mặt đất này vì trên trời họ sẽ được theo dõi con chiên đi khắp nơi. (Kh 14:4) (x. Sách Gương Đức Mẹ, Q1:9:1)

 LẮNG NGHE: Phaolô viết: “Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu. Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng” (Rm 13:12-14)

 CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ Maria, xin giúp con sống một đời đoan chính, đoan chính trong tương quan với chính mình, tức là sống trong sạch, và trong tương quan với người khác, tức là sống bác ái.

 THỰC HÀNH: Noi gương Mẹ Maria sống thanh sạch hơn mỗi ngày nhé.

From: Đỗ Dzũng

Khiết Tâm Mẹ Maria – Nguyễn Hồng Ân | Tác giả: Phạm Đức Huyến

“ĐỨC TIN ĐI TÌM LÝ TRÍ” – CÁC NHÀ BÁC HỌC VÀ THIÊN CHÚA

Maria Nguyễn Vân

CÁC NHÀ BÁC HỌC VÀ THIÊN CHÚA

– Louis Pasteur : “Càng nghiên cứu khoa học, tôi càng tin vào Đức Chúa Trời.. Thật là mĩa mai cho lòng dạ con người, nếu chết là hết, hoặc chết là trở về với hư vô … Một chút khoa học sẽ gạt bỏ Chúa, giàu khoa học sẽ quay về với Chúa” .

…

– Albert Einstein: “Sự gian ác là do vắng bóng Thiên Chúa trong linh hồn … khoa học không tôn giáo là mù lòa, tôn giáo thiếu khoa học là què quặt….Tôi chưa hề gặp điều gì trong Khoa học của tôi mà lại đi ngược với Tôn giáo.”

…

– James Simpson : “Phát minh quan trọng nhất của đời tôi là tìm được Chúa Cứu Thế Giêsu .”

…

– Andre Marie Ampere “Con người chỉ vĩ đại khi quỳ xuống cầu nguyện với Thiên Chúa .”

…

– Blaise Pascal :”Giả như Thượng Đế không có, ta chẳng mất gì cả, nếu đã tin vào Ngài. Nhưng nếu có Ngài, ta sẽ mất tất cả, nếu ta không tin”

…

– Victor Hugo nói: “Nước Anh có hai cuốn sách: Kinh Thánh và Shakespeare. Nước Anh sinh ra Shakespeare; còn Kinh Thánh làm nên nước Anh”.

…

– Isaac Newton : “Cái huy hoàng của thái dương hệ, các hành tinh, sao chổi, chỉ có được là do sự điều hành của Một Đấng Thông Minh, Toàn Năng …Tôi thấy Thượng Đế qua viễn vọng kính ….Thánh Kinh có nhiều biểu hiện chăc chắn về tính có thực hơn bât cứ một câu chuyện nào chống lại sách đó …Trong đời mình tôi nhận biết được hai sự thật: thứ nhất – tôi là kẻ đại tội nhân, và thứ hai – Jêsus Christ vĩ đại vô lượng là Đấng Cứu Chuộc tôi …Lực hút Trái đất chỉ giải thích sự chuyển động của các hành tinh nhưng không thể làm rõ ai, khi nào và bằng cách nào đã đưa các hành tinh vào vị trí chuyển động như vậy. Chính Chúa trời là người điều khiển và sắp đặt vạn vật. Người là bất diệt, là vĩnh cửu…”.

…

– Becquerel: “Nhờ nghiên cứu khoa học, đã dẫn tôi đến Thượng Đế và tôi có đưc tin .”

…

– Bourgeois: “Không có gì cản trở tinh thần khoa học hòa hợp với tín ngưỡng đã được suy nghĩ sáng suốt. Trái lại, khoa học càng được đào sâu, thì tôn giáo lại càng được tăng thêm sức mạnh và bàn tay uy quyền của Thiên Chúa, Đấng Tạo hóa, lại càng được sáng to hơn .”

…

– Duclaux: “Nếu sự sống đầu tiên xuât hiện trên mặt đât do tình cờ, nơi mà (vũ trụ này) mọi sự đều có luật, thì sự xuât hiện kia, nó kỳ dị như hòn đá, tự bò lên sườn núi .”

…

– Alessadro Volta : “Niềm tin như điện, bạn không thể thấy nó, nhưng có thể thấy ánh sáng .”

…

– Moreux : “Tôi liên lạc với cac vị giám đôc thuộc hầu hêt mọi đài thiên văn trên thế giới, tât cả đều tin có Thiên Chúa .”

…

– Charles Nicolle :“May mắn thay trong tôn giáo có những bí nhiệm. Nếu không tôi sẽ hoài nghi nó, vì cho rằng tôn giáo là do trí loài người tạo ra. Bí nhiệm làm tôi vững tâm; đó là dấu ấn của Thiên Chúa .”

…

– Thomas Alva Edison : “Edison hết sức khâm phục và ca ngợi tât cả kỷ sư, trong đó gồm cả Thiên Chúa .”

…

– Chevreul : “Tôi không thấy Thiên Chúa vì Ngài thiêng liêng, nhưng tôi thấy công trình tạo dựng của Ngài”

…

– Diderot : “Chỉ cần con mắt và cái cánh của con bướm, cũng đủ diệt tan mọi lý lẽ của kẻ vô thần .”

…

– LaBruyère: “Tôi muốn thấy một người trong sạch và tiêt độ tuyên bố rằng không có Thượng đế, nhưng không thấy ai cả .”

…

– Wernher Von Braun : “Sự bao la huy hoàng của vũ trụ đã làm cho đức tin vào Đấng Tạo Hóa của tôi được tăng thêm. Khoa học và đạo không thể mâu thuẫn nhau, nhưng là chị em ruột thịt, vì khoa học tìm thấy sự huy hoàng của vạn vật, mà đạo thì tìm thấy Đấng Tạo Hóa quyền năng đã dựng nên vạn vật tốt đẹp lạ lùng”

…

– Bacon: “Kiến thức nông cạn đưa người ta xa tôn giáo, ngược lại kiến thức sâu sa đưa người ta lại gần tôn giáo .”

…

– Francois Coppée: “Làm sao từ nay tôi không tin có phep lạ, sau khi đã được phép lạ do sách Phúc Âm làm nơi tôi? Linh hồn tôi trước kia mù tịt trước ánh sáng đức tin, bây giờ đã thấy ánh sáng này với tât cả vẻ huy hoàng của nó. Linh hồn tôi trước kia điếc đặc trước Lời Chúa, nay đã nghe rõ ràng và vui sướng cảm phục. Linh hồn tôi trước kia tê liệt vì không tìm hiểu tôn giáo, lúc này đã nóng nảy hăng hái bay lên trời. Qủy dơ bẩn mà linh hồn tôi bị ám ảnh, nay đã bị đuổi đi .”

…

– T. Termier: “Cứ chung mà nói, mọi khoa học đều dọn trí khôn ta nhận biêt Thiên Chúa hiện hữu…khoa học dẫn đến Thiên Chúa; và cũng chính vì thế mà người ta có thể nói, vũ trụ vật lý là bí tích của Thiên Chúa .”

…

– A. Eynieu : trong số 432 nhà bac học thuộc thế kỷ 19; 34 vị không biêt lập trường tôn giáo, còn 398 phân chia như sau: 15 vị dửng dưng, 16 vị vô thần, 367 vị tin; như vậy là 92% cac nhà bac học tin có Thiên Chúa.

…

– Bossuet : “Những chân lý đời đời không thay đổi [của luân lý] buộc ta phải tin rằng có một Đấng Tạo Hóa”.

…

– Victor Gess : “Một nhà khoa học chân chính có thể tin vào Đức Chúa Trời được không? Tôi nghĩ là có … Tôi phải thừa nhận rằng qua suốt bấy nhiêu năm nghiên cứu khoa học của mình trong lĩnh vực vật lý và địa chất tôi chưa bao giờ nhận thấy những kết quả nghiên cứu khoa học có điều gì trái nghịch với đức tin vào Đức Chúa Trời – Đấng Tạo Hóa.”

…

– Charles Dickens : “Kinh Thánh Tân Ước chính là quyển sách tốt nhất đã từng và sẽ được biết đến trên thế giới”.

…

– Platon : “Những ai có một chút trí khôn, đều phải kêu cầu Đức Chúa Trời trước khi bắt đầu công việc của họ, dù việc lớn hay việc nhỏ”.

…

– Chateaubriand : “Tiêu hủy sự tin kính theo Phúc âm, thì mọi làng phải xây nhiều nhà ngục và phải có nhiều lý hình”.

– và tôi haha:

Kẻ vô thần không tin có đời sau

Vậy đời này chúng cần gì tích đức

Lời nói, việc làm từ trong vô thức

Cõi tâm hồn sâu thẳm hư không.

Nguồn: Copy từ Cha John Nguyen Sinh  

Hơn 48 năm sau…

Báo Tiếng Dân

Thục Quyên

23- 9- 2023

Sáng 30 tháng 4 năm 1975, Đại sứ Graham Martin được sơ tán bằng trực thăng khỏi Toà Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Lúc 7h53, chiếc trực thăng cuối cùng của Thủy quân Lục chiến Mỹ cũng cất cánh, đánh dấu kết thúc sự hiện diện của Mỹ ở Việt Nam.

Đảng Cộng sản Việt Nam sau khi chủ động gây ra một cuộc chiến đẫm máu kéo dài 20 năm (1955- 1975) nhằm thôn tính miền Nam Việt Nam, mà họ gọi là “cuộc chiến chống Mỹ cứu nước”, rồi 48 năm sau đó, họ không ngừng khoe rằng, đó là “chiến thắng đẩy lùi trận địa của Chủ nghĩa Đế Quốc, mở rộng trận địa của Chủ nghĩa xã hội” (1); ngày 10/09/2023, họ đã hân hoan đón Tổng Thống Hoa Kỳ Joe Biden, rồi ra Tuyên bố chung về nâng cấp quan hệ Việt – Mỹ lên thành “Đối tác chiến lược toàn diện”.

Bản Tuyên bố chung nhấn mạnh, hai nước sẽ “cùng nhau hiện thực hóa nguyện vọng của người dân về một tương lai tươi sáng và năng động, góp phần duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực quan trọng này cũng như trên toàn thế giới”.

Trong đó (2), đôi bên cam kết sẽ tiếp tục làm sâu sắc hơn nữa hợp tác trên các lĩnh vực:

– Quan hệ chính trị – ngoại giao

– Hợp tác kinh tế – thương mại – đầu tư

– Hợp tác số, khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo

– Hợp tác giáo dục đào tạo

– Hợp tác về khí hậu, năng lượng, môi trường và y tế

– Hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh

– Hợp tác về quốc phòng – an ninh

– Thúc đẩy và bảo vệ quyền con người

– Phối hợp về các vấn đề khu vực và quốc tế

Tóm lại, đó là tất cả những lĩnh vực hợp tác khi xưa giữa chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (1955- 1975) và Hoa Kỳ, với một vài triển khai để thích hợp với thời đại văn minh toàn cầu hóa hiện nay.

Cần 68 năm để Đảng Cộng Sản Việt Nam tìm thấy con đường này và hiểu rằng đó chính là “nguyện vọng của người dân về một tương lai tươi sáng và năng động”.

Dù thế hệ của người Việt trẻ hôm nay không bị ràng buộc bởi những ngậm ngùi đổ vỡ, máu và nước mắt, hay những ý tưởng thua – thắng chính trị Quốc – Cộng của những thế hệ cha – ông, nhưng hai phần ba thế kỷ chậm trễ, không theo đà tiến hoá của thế giới là một lo ngại đáng kể cho cả dân tộc.

Một sự thay đổi đường hướng ngoại giao dù có được thực hiện đúng tiêu chuẩn cũng không đủ khả năng để tạo sức mạnh cho đất nước. Làm sao để Việt Nam bù đắp lại sự xuất huyết những tinh anh của dân tộc, một sự xuất huyết thường trực từ thời Pháp thuộc, kéo dài đến thời chiến tranh, tiếp theo bởi những bất công, o ép triền miên những người tài, cho tới ngày nay chưa hề chấm dứt?

Hợp tác kinh tế – thương mại – đầu tư, hợp tác số, khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo,  hợp tác giáo dục đào tạo, hợp tác về khí hậu, năng lượng, môi trường và y tế… tất cả đòi hỏi nhân lực với kỹ năng mới, lao động với công nghệ cao.

Óc sáng tạo cần môi trường tự do để trao đổi ý tưởng, và trong thời đại toàn cầu hóa cần tích lũy kinh nghiệm và hiểu biết quốc tế mới có thể cạnh tranh lành mạnh với các quốc gia khác. Mọi vấn đề cần chuyên viên có trình độ để hiểu và giải quyết tận gốc.

Những tuyên bố có cánh hay tăng tốc những hình phạt không thay đổi tình trạng nếu không có giải pháp thích nghi. Thí dụ, nếu bị bỏ mặc ngư dân Việt Nam một mình đối phó với tàu Trung quốc tấn công truy đuổi trên biển nhà, để kiếm sống, ngư dân (3) Việt Nam vẫn sẽ liều mạng ra đánh bắt ở những vùng biển nước ngoài, bất chấp mọi đe dọa, hình phạt.

Hoặc muốn thu hút đầu tư thì phải chú trọng huấn luyện để tạo ra người lao động có chuyên môn kỹ thuật. Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Nguyễn Bá Hoan đã phải lên tiếng báo động rằng nguồn lao động giá rẻ không còn là lợi thế thu hút đầu tư. Việc từ chối không bàn chuyện tăng lương tối thiểu (4) chỉ là một thái độ bóc lột người lao động chứ không giúp Việt Nam có cơ hội cạnh tranh tốt.

Ngay cả chiến dịch “đốt lò” của ông Tổng bí thư Trọng nhằm ra tạo hình ảnh tốt đẹp với các quốc gia đối tác, vì tất cả những hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đều có những ràng buộc rất nghiêm khắc, liên quan đến tham nhũng; cũng mau chóng bị nghi ngờ vì chính chế độ cộng sản không có cơ chế kiểm soát, nên thuận tiện đẻ ra tham nhũng.

Tuyên bố chung ngày 10-9-2023 về nâng cấp quan hệ Việt – Mỹ lên “Đối tác chiến lược toàn diện“, là một cánh cửa cơ hội đáng mừng. Nhưng muốn nắm cơ hội để tiến lên thì chính phủ Việt Nam cần phải quyết tâm “vượt qua chính mình”, gạt bỏ mọi sợ hãi, kỳ thị, để mời sự đóng góp của mọi thành phần trong xã hội, cũng như phải có một chính sách thu hút nhân tài thật sự, trong và ngoài nước.

Quan trọng nhất hiện nay để thành công là, một khuôn khổ pháp lý nhằm ngăn chặn tình trạng lộng quyền, giúp điều hành thích ứng luật lệ Việt Nam với luật lệ quốc tế (những quốc gia đối tác).

_____

(1) Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại đại hội lần thứ IV có đoạn: “… Đối với thế giới, thắng lợi của nhân dân ta đã đập tan cuộc phản công lớn nhất của tên đế quốc đầu sỏ chĩa vào các lực lượng cách mạng kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, đẩy lùi trận địa của Chủ nghĩa Đế quốc, mở rộng trận địa của Chủ nghĩa Xã hội, phá vỡ một phòng tuyến quan trọng của đế quốc Mỹ ở Đông Nam Á, làm đảo lộn chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chúng, đẩy Mỹ vào tình thế khó khăn chưa từng thấy, làm yếu hệ thống đế quốc chủ nghĩa, tăng thêm sức mạnh và thế tiến công của các trào lưu cách mạng thời đại, đem lại lòng tin và niềm phấn khởi cho hàng trăm triệu người trên khắp trái đất đang đấu tranh vì hòa bình độc lập dân tộc, dân chủ và Chủ nghĩa Xã hội“.

(2) https://nhandan.vn/tuyen- bo- chung- ve- nang- cap- quan- he- viet- nam- hoa- ky- len- doi- tac- chien- luoc- toan- dien- post771872.html

(3) https://www.bbc.com/vietnamese/forum- 66886405

(4) https://www.bbc.com/vietnamese/articles/c04jl2ynlzgo

Tử tù Lê Văn Mạnh bị thi hành án tử hình vào sáng ngày 22/9

Báo Tiếng Dân

RFA

23-9-2023

Mẹ tử tù Lê Văn Mạnh (thứ 4 từ trái qua) sau khi biết tin con mình bị thi hành án hôm 23/9. Ảnh: FB Đặng Bích Phượng

Tử tù Lê Văn Mạnh đã bị thi hành án tử hình vào sáng ngày 22/9 sau hơn 18 năm kêu oan trong một vụ án có nhiều tình tiết, bằng chứng không rõ ràng mà theo các luật sư là không đủ để kết tội.

Luật sư Lê Văn Luân, thuộc Văn phòng Luật sư Hưng Đạo Thăng Long ở Hà Nội – nơi gia đình tử tù Lê Văn Mạnh đã đến nhờ nộp đơn kêu oan hôm 20/9 – vừa đăng dòng trạng thái trên Facebook cá nhân với nội dung: “Tin và văn bản chính thức cho biết, bị án Lê Văn Mạnh đã bị thi hành án tử hình vào sáng ngày 22/9/2023.”

Trên các trang mạng Facebook đồng thời đăng tải một văn bản “Trích lục khai tử” đề ngày 22/9/2023 của UBND xã Thu Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình cho biết tử tù Lê Văn Mạnh (sinh năm 1982) đã chết vào 8 giờ 45 phút ngày 22/9/2023 tại nhà thi hành án tử hình, Công an tỉnh Hòa Bình, xã Thu Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình.

Trích lục khai tử. Ảnh trên mạng

Trước đó, vào ngày 18/9, gia đình tử tù Lê Văn Mạnh đã nhận được giấy báo có chữ ký của Chánh án Toà án Nhân dân tỉnh Thanh Hoá về việc thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc đối với Lê Văn Mạnh.

Ngay sau khi nhận được tin này, gia đình tử tù Lê Văn Mạnh đã nói họ không chấp nhận bản án vì đây là án oan sai và tiếp tục ra Hà Nội để kêu oan cho con.

Năm 2005, khi mới 23 tuổi, Lê Văn Mạnh bị kết tội tử hình về hành vi “hiếp dâm và giết” một nữ sinh ở cùng thôn 4, xã Yên Thịnh, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá trong vụ án xảy ra hồi đầu năm đó.

Mẹ của Mạnh là bà Nguyễn Thị Việt cho biết, trong đúng ngày xảy vụ án, bà cùng Mạnh giúp chuyển đồ cho con gái bà cả ngày, và khi trở về nhà vào chiều muộn thì mới nghe tin thiếu nữ ở cùng thôn tên Lan bị giết chết. Bà đã giục con trai và chồng ăn cơm rồi cùng bà con trong thôn đi mò xác của người xấu số trên con sông ở làng.

Bà cho biết vì quần áo của con trai mình đã đem đi giặt trước đó nên Mạnh buộc phải mặc quần đùi rách để đi phụ giúp.

Người trong thôn mò được xác, Mạnh lên bờ với cái quần rách đó nhưng sau đó cởi ra vứt vào bụi cây để mặc quần khác vì bị trêu.

Khi công an về khám nghiệm tử thi và khám nghiệm hiện trường, họ tìm thấy cái quần đùi rách của Mạnh cách đó không xa, cho rằng đó là quần của thủ phạm và từ đó họ bắt người thanh niên này.

Vụ án xảy ra từ ngày 21/3/2005 nhưng đến ngày 20/4 công an Thanh Hóa mới bắt Mạnh về cáo buộc “cướp tài sản” trong một vụ án khác xảy ra ở Đồng Nai.

Sau bốn ngày bị tạm giam, Lê Văn Mạnh tiếp tục bị khởi tố bị can về cáo buộc “giết người, hiếp dâm trẻ em” vì một lá thư gửi cho gia đình thú nhận hành vi phạm tội.

Bà Việt cho biết, con trai bà kể lại là bản thân đã bị điều tra viên tra tấn, đánh vào chỗ hiểm để buộc phải nhận tội, và Mạnh phải viết giấy nhận tội theo ý của điều tra viên nếu không khó có thể bảo toàn tính mạng.

Trong các phiên toà, Mạnh liên tục kêu oan. Luật sư của Mạnh yêu cầu giám định thân thể của bị cáo để xác định liệu có bị tra tấn trong quá trình điều tra không nhưng toà bác bỏ.

Hôm 21/9, Phái đoàn Liên minh châu Âu (EU) cùng với Đại Sứ quán của Canada, Vương quốc Anh và Vương quốc Na Uy tại Việt Nam ra tuyên bố chung kêu gọi Hà Nội dừng việc thi hành án đối với ông Lê Văn Mạnh.

Tuyên bố chung đăng tải trên trang Facebook của Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam, đại diện ngoại giao của khối 27 quốc gia và ba quốc gia khác viết:

“Chúng tôi cực lực phản đối việc áp dụng hình phạt tử hình trong mọi thời điểm, mọi hoàn cảnh, đây là một hình phạt tàn ác, vô nhân đạo, hạ thấp nhân phẩm và không bao giờ có thể biện minh được, đồng thời vận động Việt Nam hoãn thi hành tất cả các án tử hình.”

Đây là tuyên bố chung thứ hai của EU và Anh quốc, Na Uy và Canada về án tử hình ở Việt Nam trong hai tháng gần đây. Cuối tháng trước, các quốc gia trên đã ra tuyên bố kêu gọi nhà chức trách Việt Nam dừng thi hành án tử hình đối với Nguyễn Văn Chưởng, người cũng bị kết tội giết người trong một vụ án hình sự ở Hải Phòng năm 2007.

Tản mạn về một bài viết: Một môn học mà thầy không muốn dạy trò không muốn học của Lý Chánh Trung

Báo Đ àn Chim Việt

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

22/09/2023

Tôi đã dụng tâm lấy lại tựa đề bài viết của Giáo sư Lý Chánh Trung đăng trên tờ Tuổi Trẻ chủ nhật, 13.11.1988 làm tựa đề cho bài viết của mình. Nay đã 35 năm trôi qua, 1988- 2023, qua mà như thể nó vẫn đúng.

Cũng ít ai làm như thế, vì thiếu gì tựa đề. Dụng tâm đó có thể là muốn nhắc lại, như ghi nhớ hình ảnh những người đã gặp, đã đi qua đời tôi. Nhưng cũng đồng thời muốn nói cho mọi người, nói cho độc giả đọc bài này thấy rằng: Cái tựa đề đó hay quá, súc tích và đủ nghĩa, muốn chê cũng không được. Vì thế, phần đầu bài viết của tôi chỉ cố gắng triển khai cái tựa đề của bài viết mà không đụng tới nội dung bài viết.

Ông Lý Chánh Trung, mặc dầu dân du học Pháp nhưng gốc gác vốn dân Vĩnh Bình, còn gọi là Trà Vinh, thuộc miền Tây. Ông bảo, về đến Vĩnh Bình là như chui vào cái rọ: tới nữa là lọt xuống biển, sang hai bên thì đụng hai cửa sông Cửu Long. Ông là dân miệt vườn, chữ nghĩa tuy có đầy mình nhưng cách diễn tả vẫn là dân ruộng, có sao nói dzậy. Ông nói: một môn học mà thầy không muốn dạy, trò không muốn học.

Ðối với ông cũng như đối với dân ruộng, nói dzậy là đủ rồi. Qua không muốn nói nữa. Ðủ rồi là không cần nói nữa, nói nữa là thừa. Nói nữa là qua nổi quạu.

Ðã không nói nữa thì ta thử xem, tựa đề đó muốn nói cái gì? Có đời nhà ai, có cái môn học kỳ quái gì mà thầy không muốn dạy, trò không muốn học? Thường thì chỉ có trò không muốn học. Ðiều đó hiểu được đối với những tên học trò lười. Nhưng học trò giỏi, học trò chăm thì vẫn muốn học.

Nhưng chữ trò ở đây, ông thầy muốn ám chỉ tất cả mọi trò, không trừ đứa nào. Ðứa dốt không muốn học đã đành, đứa giỏi cũng không muốn. Ðứa nhà quê, đứa ở tỉnh, đứa trong Nam, đứa ngoài Bắc, đứa học năm nay, đứa năm tới sắp lên, đứa thế hệ hôm nay, đứa thế hệ ngày mai…

Tất tần tật. Tất cả các trò, bất kể lứa tuổi, bất kể trai gái đều không muốn học.

Chúng đồng lòng bảo nhau không muốn học.

Trò đã không muốn học, đến thầy cũng không muốn dạy là cớ làm sao? Ai đã từng đi dạy học đều ôm lấy nghề, ấp ủ môn mình dạy như đứa con tinh thần. Nghề dạy nó chỉ cao quý ở chỗ ấy, chỗ muốn truyền đạt, muốn để lại di sản tinh thần cho những thế hệ đàn em. Nhưng chính ông thầy không muốn dạy thì còn gì là giáo dục?

Không thể có một nền giáo dục chân chính khi không có thầy, hay có thầy mà thầy không muốn dạy. Không thể nói tới một nền giáo dục hay một môn học mà cả người đi dạy và người đi học đều không muốn nhìn nhận nó.

Mà khi thầy không muốn dạy và trò không muốn học có nghĩa là những người lớn, những đàn anh, những cha mẹ, những cô dì chú bác, những bạn bè, những họ hàng, những láng giềng đều đã có thời chui qua cái ngưỡng cửa hẹp của môn học đó rồi.

Họ đều đã có thời không muốn học. Và ngay cả những kẻ cầm quyền, những kẻ đang hò hét ở bên trên bắt người khác phải học cái môn học đó, cũng đã một thời cố thu nhỏ mình lại để có thể chui lọt qua cái lỗ nhỏ của môn học ấy.

Họ cũng đã cố nhồi nhét cho xong, trợn mắt trợn mũi nuốt cho bằng được chữ nghĩa của môn đó, ê a tụng như tụng kinh cứu khổ. Họ học mà không tin, biết nó tào lao, nhưng vẫn học.

Nói cho cùng, té ra cả nước đều không ai muốn học.

Nhưng nếu không muốn dạy mà vẫn phải dạy, không muốn học mà vẫn phải học thì cớ sự sẽ ra làm sao? Còn làm sao nữa, chết cả nước! Hậu quả không lường hết được.

Nào ta thử xem. Thầy không muốn nói cứ phải nói trở thành giả dối, nói điều không thật, nói một đằng nghĩ một nẻo, hay nói xuôi, nói ngược, nói lắt léo. Thầy lúc đó đánh mất phẩm cách, tự hạ giá mình. Thầy phải đóng kịch giả bộ như tin tưởng vào điều mình muốn nói, giả bộ khen lấy được.

Ðóng kịch như thế thầy không còn là thầy, thầy không phải là người mà hóa ra ngợm. Trò không muốn học mà vẫn cứ phải học hóa ra đầu óc trở thành trì trệ, u tối, nói sảng hay học vẹt. Mất sáng kiến, mất sáng tạo, thiếu óc phê bình, thiếu tinh thần cầu học, thiếu óc tìm tòi.

Thà đừng học, nói cho cùng là càng học càng ngu. Cứ nhân bội số lên cả nước thì sẽ có một dân tộc đầu óc trì trệ, xuẩn động. Một dân tộc có tinh thần nô lệ, bảo thủ, giáo điều cản trở mọi xu hướng canh tân, mọi đà phát triển.

Nếu cả nước đều đóng kịch thì cả nước sẽ làm thành một vở kịch.

Cả nước đóng kịch cho nên bộ môn kịch nước ta coi như không khá được. Trước đây còn miền Nam, trụ sở nhà hát lớn đổi thành trụ sở Quốc hội. Trước thì nghệ sĩ trình diễn, nay có các dân biểu trình diễn thay thế họ. Ðã thế thì cần gì phải đi coi kịch nữa.

Và đây là một vài kết quả để chúng ta cùng nhau suy nghĩ về hậu quả của nền giáo dục của đất nước chúng ta.

Báo Tuổi Trẻ, ngày 21.08.1993 đã báo động về nguy cơ hụt hẫng nghiêm trọng đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao. Dân chúng nghi ngờ các bằng tiến sĩ, phó tiến sĩ ở Việt Nam như ông  Hoàng Ngọc Hiến, một người đỗ tiến sĩ ở Liên Xô về đã nói đại ý: «Dắt con bò sang Liên Xô về cũng đậu tiến sĩ». Nói quá đáng chăng? (Trích Nhìn lại những chặng đường đã qua, Nguyễn Văn Trung, Nhà xuất bản Nam Sơn, Montréal, 1989).

Vì thế, người ta trù liệu ở Việt Nam đến năm 2010 có khoảng 35 ngàn tiến sĩ 62 ngàn thạc sĩ. Con số kể là lớn, đáng nể, nhưng chỉ tội là có đến 75% các ông bà có bằng tiến sĩ đó không giảng dạy mà lại đi làm cho các cơ quan công quyền. Theo Viện Thông tin Khoa học Philadelphia, từ 1998 đến 2002, Việt Nam có công bố gần 1500 công trình khoa học tự nhiên, nghĩa là cứ 200 người làm công trình khoa học ở Việt Nam, chỉ có hơn một người có công trình nghiên cứu (0,3 ở Mã Lai, tức cứ ba người làm công tác khoa học, có một người có công trình. Ở Ðại Hàn, riêng năm 2001, có đến 43.000 bằng sáng chế). Ðã thế, có vị có bằng tiến sĩ về sinh vật, nhưng lại viết hằng trăm bài về những đề tài chẳng có liên quan gì đến ngành học của ông cả (trích «Cái danh và cái thực của Giáo sư, Phó Giáo sư ở Việt Nam», tác giả Nguyễn Thế, talawas, 16.11.2004).

Ðã đến lúc, cần quy định rõ ràng như ở Mỹ, Publish hay Perish, hoặc là công bố công trình nghiên cứu hay xé bỏ văn bằng như tấm giấy lộn. Ở nước người, sau ba năm cầm cái bằng tiến sĩ về treo ở phòng khách mà không dùng để làm gì, không có công trình cũng không có giảng dạy thì nếu có tư cách, nên tước bỏ cái danh đó đi. Ðó chỉ là một thứ tiến sĩ giấy giống như những ông cửu phẩm, bát phẩm thời xưa thôi.

Về phía học trò, dưới đây, xin ghi lại một vài câu trả lời theo lối học vẹt, trả lời ngô nghê đến như… vô học.

«Năm 1963, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Cao Kỳ, cuộc đảo chánh Ngô Đình Diệm đã đi đến thành công tốt đẹp.»

«Ðến rạng sáng ngày 30 tháng tư năm 1975, quân và dân ta hoàn toàn thắng lợi. Ðế quốc Mỹ và tay sai đầu hàng với một số đã rút về nước và một số đã trúng vào mũi tên đã tẩm thuốc độc đã hơn 4000 năm của dân tộc Việt Nam ta.»

«Nhiệm vụ của cụ Phan Chu Trinh là đứng ra thành lập Đảng Cộng sản để lãnh đạo các tổ chức của phong trào quần chúng thay đổi về nền kinh tế theo lối tư bản chủ nghĩa.»    

Ngay từ những năm sau Hiệp định Genève, tháng 10 năm 1956, nghĩa là 3 tháng sau khi Đảng nhìn nhận những sai lầm trong cải cách ruộng đất, luật sư Nguyễn Mạnh Tường, giáo sư trường Ðại học Văn khoa, Hà Nội đã đọc một bài tham luận: «Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo», nhằm vạch ra những sai lầm trong sự lãnh đạo của Ðảng và nhà nước. Cũng vì bài diễn văn này, ông đã mất chức giáo sư đại học và sống cuộc đời còn lại trong túng thiếu và bị bỏ rơi.

Năm 1991, nhân được dịp sang Pháp, ông đã đưa cho nhà xuất bản Quê Mẹ ở Paris in và phát hành cuốn sách tự thuật của mình: cuốn L’ excommunié (Kẻ bị khai trừ).

Kể từ lúc LCT cho đăng trên nhật trình cái bài báo quái đản: «Một môn học mà thầy không muốn dạy, trò không muốn học» đến nay đã gần nửa thế kỷ. Mặc dầu có chính sách cởi trói cho khoa học xã hội, mặc dầu đất nước đã có những thay đổi lớn lao về mặt kinh tế theo định hướng kinh tế thị trường với những quy luật của nó.

Cái môn học đó vẫn ngồi lì ra đó.

Ngay từ các nước cộng sản Ðông Âu. «Chính Đảng cộng sản và các người cầm đầu kể từ Hồ Chí Minh đã là nguyên nhân cho không biết bao nhiêu sai lầm, di lụy đến số phận dân tộc, đất nước. Di lụy đó kể từ chính sách cải cách ruộng đất, hợp tác hoá, cải tạo tư sản, đấu tố, chỉnh huấn, Nhân Văn Giai phẩm, chống xét lại.» (Trích Lữ Phương: «Lại một bóng ma của Mác», talawas, 16.4.2005).

Vì đánh mất cơ hội, họ lấn sâu thêm một lần nữa vào những sai lầm đáng nhẽ có thể tránh được sau 20 năm sai lầm ở miền Bắc. Nay thì có những sai lầm với những tên gọi mới: Chính sách đi vùng kinh tế mới, chính sách bần cùng hoá toàn bộ dân chúng miền Nam bằng đổi tiền, đánh tư sản mại bản, đánh tàn dư văn hoá Mỹ ngụy và nhất là chính sách học tập cải tạo đối với quân nhân và công chức miền Nam. Ðất nước Việt Nam thống nhất, một lần nữa chìm đắm trong những hận oán, trả thù đã quẳng hàng triệu người ra biển theo chính sách «con bò sữa thuyền nhân».

Sau 30 năm, chưa hề có một ngày vui. Chưa hề có một lời xin lỗi và chúng ta đòi hỏi cái tối thiểu là một lời xin lỗi đối với dân miền Nam.

Xin lỗi tất cả không trừ.

Xin lỗi ngững người làm ăn buôn bán vì bị tước đoạt tài sản, nhà cửa, tiền bạc. Truất hữu, chiếm đoạt tài sản của hằng trăm ngàn người, phải gọi tên nó là gì? Xin lỗi những nhà văn, những nhà trí thức vì bị sỉ nhục, mất cái quyền được phát biểu, được viết. Xin lỗi những sĩ quan, công chức đi học tập cải tạo chỉ vì khác chiến tuyến, chỉ vì thua và thắng, bất chấp luật lệ, giam giữ vô hạn định. Xin lỗi vợ con những người đi học tập, vì đã chia cắt, xa lìa vợ chồng con cái, làm đổ nát tan vỡ không biết bao nhiêu gia đình. Xin lỗi những người lính đã nằm xuống như tử sĩ ở nghĩa trang Biên Hoà vì không được mồ yên mả đẹp. Xin lỗi tuổi trẻ vì đã đánh mất tương lai, lẽ sống của họ vào những chủ nghĩa giáo điều áp đặt. Không muốn dạy mà phải dạy, không muốn học mà phải học.

Xin lỗi cả nước vì bao nhiêu năm đã làm cả nước buồn.

Trước giải phóng, người dân miền Nam cùng lắm chỉ biết lo. Sau giải phóng, chưa có một ngày vui, người dân chỉ thấy buồn. Nỗi buồn đó lan khắp phố phường, từ ngoài ngõ đến trong nhà, rồi thâm nhập vào tâm hồn mỗi người. Cái cảnh mà Trần Dần đã từng ghi lại:

Tôi bước đi

không thấy phố

không thấy nhà.

Chỉ thấy mưa sa

trên mầu cờ đỏ.

Hòa Thượng Tuệ Sĩ, một cao tăng còn sót lại, cũng ghi lại cùng một cảm nghiệm như thế :

Phố trưa nắng đỏ cờ hồng
Sầu trên thế kỷ điêu linh.
Giấc mơ hoang đảo thu hình tịch liêu
Hận thù sôi giữa nắng chiều
Sông tràn núi lở nước triều mênh mông
Khói mù lấp kín trời Ðông
Trời ơi tóc trắng rũ lòng quê cha
Con đi xào xạc tiếng gà
Ðêm đêm trông bóng Thiên hà buồn tênh.

Cũng xin ghi lại đây cảm nhận của một người xa quê hương, sau 13 năm du học, trở về thăm quê nhà vào năm 1977: «Trở về Huế sau mười mấy năm xa cách, tôi đã gặp lại một Huế thật là – người Huế thường chỉ tình trạng này bằng bốn chữ ‘xanh xương mét máu’ – một Huế đang giật mình, một Huế đang run sợ kinh hãi cho ngày mai, bên cạnh một Huế rất nghèo, rất khổ. Ði trên đường phố, ít ai ngẩng đầu lên, có trao đổi một nụ cười với ai thì nỗi gượng gạo nơi người ấy đã ngăn vành môi bên kia không cho cười hết miệng.

Huế 1977 mà tôi gặp lại là một Huế lơ đãng, sầu hận và nghi ngờ, một Huế bị phá sản hết mọi thiết tha.» (Thái Kim Lan, «Một niềm vui. Một giọt nước mắt», 1977).

Xin lỗi chính họ vì sự mù quáng, dốt nát của họ đã làm cả nước khốn khổ.

Lẽ dĩ nhiên là họ không bao giờ nhận lỗi. Họ cũng chẳng tự khúm núm để xin lỗi chính mình.

Nhưng tôi vẫn cứ đòi. Ðòi hôm nay. Không được. Mai đòi nữa. Không xin lỗi, cho nên không lạ gì, sau gần nửa thế kỷ, người miền Nam vẫn không quên và hiện nay vẫn chưa hàn gắn được những vết thương cũ.

Vì thế, đất nước chỉ thống nhất về mặt địa lý, nhưng lòng người vẫn chưa thực sự thống nhất.

Tôi cũng xin ghi lại ở đây: Hình ảnh một thanh niên Âu Châu trên chiếc áo T-Shirt với câu: Good bye Lenin. Thế hệ thanh niên, thế hệ tương lai của các dân tộc trên toàn thế giới giã từ cái chủ ngĩa Mác-Lê để lên đường.

Ðiều đó cũng muốn nhắn nhủ, hay mong mỏi, hay ước mơ, hay cầu vọng tuổi trẻ Việt Nam cũng có cơ may giã từ cái chủ nghĩa ấy để cùng với thanh niên thế giới, để có cơ hội xây dựng một đất nước Việt Nam chẳng những thanh bình, thịnh vượng mà còn Nam Bắc một nhà.

Tác giả Hoàng Tùng, với bài tham luận «Thời đại mới, tư tưởng mới» đã đề ra những hướng thay đổi chủ nghĩa xã hội cho kịp thời đại mới, nhưng vẫn khăng khăng cho rằng cho đến nay «chưa có học thuyết nào hơn hẳn học thuyết Marx trong việc thay thế chủ nghĩa tư bản để xây dựng tương lai con người.» (trích Lữ Phương, bài đã dẫn). Nhưng bằng vào cái ý hướng muốn cải sửa chủ nghĩa Mác của một số người trong Đảng, người ta vẫn hy vọng đản cộng sản đem lại một chút ánh sáng mới vào đêm trường tối tăm của cái chủ nghĩa ấy.

Trong bài viết của mình, ông Lý Chánh Trung viết vào năm 1975, ông Phạm Như Cương, Viện trưởng Viện Triết học có cho rằng cần mở thêm một khoa triết học đầy đủ ở trường Ðại học Tổng hợp Hà Nội. Ðã 30 năm rồi, lời hứa của ông Phạm Như Cương vẫn chưa thực hiện nổi. L.C. T viết: «Chúng tôi nghĩ không phải chỉ học triết học trước Mác, mà còn học cả triết học sau Mác… ngay cả cái triết học mà chúng ta đã phê phán rất nhiều như triết học hiện sinh thì nó cũng có những phần tích cực của nó. Một anh học trò cũ của tôi, đã thoát ly đi kháng chiến năm 1968, sau đó khi ra Hà Nội thì mấy anh có hỏi: tại sao anh lại đi theo cách mạng, động cơ nào thúc đẩy anh đến với cách mạng? Anh học trò trả lời rằng do triết học hiện sinh, chính vì triết học hiện sinh mà tôi đi theo cách mạng.»

Câu trả lời thật trớ trêu, nhưng vẫn là sự thật.

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Thủ Huồng

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

21/09/2023

Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở nước tôi – bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh.

Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can’t breathe, nothing else matters!

Vì thường xuyên sống bấp bênh và bồng bềnh (“giữa cõi âm và cõi dương”) như thế nên tôi … rất nhát. Địa ngục gần xịt hà. Mà địa ngục trong trí tưởng của tôi (kẻ luôn luôn theo mẹ đi chùa suốt thời thơ ấu) thì vô cùng khủng khiếp: đầy bọn lâu la đầu trâu mặt ngựa, với dầu sôi, lửa đỏ… ngó là muốn xỉu liền. Bởi vậy, suốt đời tôi không bao giờ dám làm điều gì ác; cũng không dám giữ riêng chi cho cá nhân mình, và sẵn sàng thực hiện mọi điều thiện khi có thể.

Với thời gian, cùng những phát kiến của y khoa, bệnh suyễn không còn hành hạ và đe dọa đến mạng sống của tôi như khi còn trẻ nữa. Nhưng cũng với thời gian, tà tà đời xế về chiều, rồi tôi cũng sắp sửa phải đối diện với cái chết thôi.

Nhờ đã từng sống “giữa cõi âm và cõi dương” nên tôi không ngán Thần Chết xíu nào ráo trọi. Tôi cũng chả ngại ngùng gì khi gặp mặt Diêm Vương. Tui sống rất đàng hoàng quá xá nên dù có xét nét tới đâu chăng nữa thì thằng chả vẫn phải công nhận rằng tui là “thằng đàng hoàng nhứt trong cái đám lộn xộn,” cùng thời.

Trong đám này có hai tên tuổi rất đáng phàn nàn là Ba Dũng và Bắc Hà, theo như ghi nhận của nhà báo Huy Đức:

“Trong bức ảnh này (Bogaya, Ấn Độ), khi xếp bằng dưới gốc bồ đề nơi được cho là Phật tổ từng ngồi, Bắc Hà (thứ nhất bên phải) là người duy nhất có dáng điệu rúm ró khác thường. Đây là giai đoạn mà ở quốc gia này, Bắc Hà chỉ ‘dưới Ba Dũng’ và hách dịch với phần còn lại, vậy nhưng khi đối diện với thần linh nhìn ông ta vô cùng sợ hãi.

Không chỉ có Bắc Hà, rất nhiều quan chức tối cao cứ sắp bước chân ra khỏi nhà là thỉnh ý các thầy tâm linh, đổ không biết cơ man nào tiền để xây chùa, xây đền… Họ nên đọc lại ‘Chuyện Thủ Huồng’ để thấy rằng, khi sợ Trời Phật thì cách tốt nhất là ngưng làm điều ác để bắt đầu các việc thiện. Đừng vì tâm quá hoảng loạn mà vội vàng truyền bá cái văn hóa hối lộ trần tục đến cõi thiêng liêng: vẫn thỏa sức vơ vét của dân rồi mong gỡ tội bằng cách cuống cuồng “mua Trời, bán Phật.”

Nhìn “dáng điệu của Bắc Hà” quả là “rúm ró” thiệt. Còn nét mặt của Ba Dũng – xem chừng – cũng không được tự tin gì cho lắm, ngó cũng lấm lét thấy rõ. Huy Đức còn khuyên “họ nên đọc lại ‘Chuyện Thủ Huồng’ để thấy rằng, khi sợ Trời Phật thì cách tốt nhất là ngưng làm điều ác để bắt đầu các việc thiện.”

Ủa, chớ Thủ Huồng là ai vậy cà?

Tui vô gu gồ thì thấy Wikipedia có những đoạn sau:

“Ngày xưa, khoảng năm 1755, ở châu Đại Phố có một người tên là Võ Hữu Hoằng. Ông xuất thân làm thơ lại. Trong hai mươi năm làm việc trong nha môn, ông đã thu tóm được nhiều tiền của. Sau khi vợ mất sớm lại không con, mà tiền bạc thì quá thừa thải, Thủ Huồng xin thôi việc về nhà.

Thủ Huồng (có sách ghi là Thủ Huồn) rất yêu vợ, cho nên khi nghe người mách rằng ở chợ Mãnh Ma (Quảng Yên) là chỗ người sống và người chết có thể gặp nhau, ông quyết đi tìm vợ.

Gặp nhau, trong lúc trò chuyện, Thủ Huồng ngỏ ý muốn xuống âm phủ chơi và được vợ đồng ý. Ở cõi âm, ông tận mắt nhìn thấy những cực hình dành cho những kẻ phạm nhiều tội ác khi còn sống. Và ông cũng đã nhìn thấy một cái gông to, mà cai ngục cho biết là để dành cho ông…

Khi trở lại cõi dương, Thủ Huồng đem toàn bộ tài sản dùng vào việc bố thí, xây dựng những công trình phúc lợi, đặc biệt là làm nhà để giúp dân nghèo…

Sau, Thủ Huồng được vợ đưa xuống cõi âm lần nữa, và thấy cái gông ngày cũ đã nhỏ lại rất nhiều.Từ đó, ông tiếp tục làm việc thiện, việc nghĩa cho đến khi mất …”

Hèn chi mà bữa rồi tôi có nghe nhà báo Đinh Ngọc Thu cho hay là ông Trần Đại Quang vừa cúng chùa Vĩnh Nghiêm một cặp đèn trị giá 19 tỷ lận. Trước đó, dư luận cũng có hơi lăn tăn chút xíu về một món quà từ thiện (bất ngờ) dành cho trẻ em ở huyện Võ Nhai – tỉnh Thái Nguyên.

Về sự kiện này, VOA có bài (“Chia Rẽ Về Quỹ Xây Trường Từ Con Gái Nguyễn Tấn Dũng”) nghe được vào hôm 11 tháng 9 năm 2017. Xin được trích dẫn vài đoạn ngắn:

Tin cho hay trường mới trông như một “bông hoa nổi bật giữa núi rừng”, có đầy đủ các phòng học, phòng chức năng, phòng đa năng, thư viện, bếp nấu, nhà ăn, nhà nội trú, khu vệ sinh, sân vui chơi cho các em…

Ông Hoàng Dũng ở TP. HCM, người từng nhiệt tình tham gia các hoạt động vì dân chủ, viết: “Nếu cả tập đoàn dòng họ nhà bạn khai thác một đất nước đến kiệt quệ rồi xây dựng lại vài chục công trình thiện nguyện bất kể đó là tiền sạch hay bẩn, thì bạn có xứng được tung hô không?”

Nhà báo Võ Văn Tạo ở Nha Trang, người thường xuyên lên tiếng về những chuyện gây bất bình ở Việt Nam, viết: “Cứ mặc sức tham nhũng trăm nghìn tỷ, phá nát đất nước, tạo trường rách nát đi. Hưu, bỏ vài tỷ xây 1 trường, sẽ được tri ân”.

Đã có hàng trăm những lời bình luận hay các ý kiến tương tự như của ông Dũng và ông Tạo.

Đáp lại các ý kiến này, trên trang Facebook cá nhân, giáo sư Ngô Bảo Châu bày tỏ ông có cái nhìn “đơn giản” về việc vận động nguồn tài trợ xây trường.

Với cái nhìn của một người từng sống giữa cõi âm và cõi dương như tôi thì tất cả những ý kiến thượng dẫn (dù pro hay con) đều hoàn toàn không đáng được quan tâm. Vấn đề thực sự cần được đặt ra là liệu những cái gông, đang nằm chờ dưới cõi âm, sẽ có nhỏ lại hay không – sau khi quý vị lãnh đạo quốc dân chịu chi (ít nhiều) để làm việc nghĩa?

Là một người có “thẩm quyền” trong lãnh vực này, tôi khẳng định: Có! Hồi thời Thủ Huồng dưới âm phủ tính toán ra sao, thời nay cũng y như vậy thôi.

Nói thí dụ cho dễ hiểu là nếu cái gông của ông Quang dài một thước thì sau khi cúng chùa cặp đèn giá trị 19 tỷ đồng nó sẽ ngắn bớt lại được một phân. Cứ như thế mà nhân lên, khi số tiền làm việc thiện lên tới 190 tỷ thì cái gông của ổng sẽ ngắn lại một tấc.

Theo tiến trình này, cùng với hàng vài chục tỷ đô la mà quý vị quan chức sốt sắng nôn ra thì chả mấy chốc mấy cái gông dưới địa ngục (dám)  sẽ biến mất luôn hết ráo. Cùng lúc trên dương gian số trẻ em Việt Nam  bán vé số sẽ bớt dần vì trường học mọc lên như nấm, bệnh viện cũng mọc theo nên hết có cái vụ chồng chất ba bốn mạng một giường như hiện tại. Còn cầu đường thì (ôi thôi) bắc ngang bắc dọc khắp nơi… nên không còn cái vụ con nít chết trôi, chết chìm đều đều nữa.

Mọi người đều vui như Tết. Ở ngoài nước, tất nhiên, tui cũng vui luôn. Chỉ có điều đáng tiếc, và cũng là chuyện đáng buồn, là riêng ông Trần Đại Quang mới góp có 19 tỷ đồng (cái gông mới ngắn lại được một phân) thôi thì đã chuyển qua từ trần – vào hôm 21 tháng 9 vừa qua. Phen này, dưới cõi âm, tôi e rằng ông (nguyên) Chủ Tịch Nước sẽ gặp nhiều chuyện lôi thôi lớn, và lôi thôi lắm.

VẪN LUÔN TUYỆT VỜI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Có nhóm Mười Hai cùng đi với Ngài, có cả mấy phụ nữ”.

Một trong những ca khúc được yêu nhất của Irving Berlin là “I’m Dreaming of a White Christmas”, “Mơ Về Một Giáng Sinh Tuyết Trắng”. Trong một cuộc phỏng vấn, Berlin được hỏi, “Có câu hỏi nào mà ông chưa từng được hỏi, nhưng lại muốn ai đó đặt ra?”. Berlin trả lời, “Có chứ!”; đó là, “Bạn nghĩ sao về nhiều ca khúc mà chúng không là những ‘điểm nhấn’ nổi tiếng?”. “Tôi sẽ trả lời rằng, tôi chỉ nghĩ, chúng ‘vẫn luôn tuyệt vời!’”.

Kính thưa Anh Chị em,

Trong nhãn quan của thiên đàng, của đời đời, bất cứ ai theo Chúa Giêsu, dẫu không là những ‘điểm nhấn’ nổi bật, họ ‘vẫn luôn tuyệt vời!’. Tin Mừng hôm nay tiết lộ, trên bước đường rao giảng của Con Thiên Chúa, “Có nhóm Mười Hai” và “Có cả mấy phụ nữ!”.

Đó là những cộng tác viên tuy khác biệt, nhưng có Chúa Giêsu, với Chúa Giêsu, họ trở nên đặc biệt! Bởi lẽ, khác biệt của từng người lại trở thành điểm mạnh. Việc chọn các môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu cho thấy Ngài là một con người đầy tư chất và bản lãnh của một lãnh đạo bậc thầy. Ngài chọn họ từ nhiều hoàn cảnh khác nhau. Họ sẽ không là bạn của nhau, càng không là những người làm việc với nhau nếu không vì Ngài. Kết quả là họ hợp tác, trân trọng và đánh giá cao khả năng của nhau. Có Ngài, khác biệt không còn là dị biệt cản trở, nhưng là những ưu thế để họ ‘vẫn luôn tuyệt vời’.

Không chỉ các ông đi theo Chúa Giêsu; bên cạnh đó, còn có các phụ nữ. Ngài giao cho họ những vai trò khác nhau, dẫu việc Ngài cứu chữa và biến đổi cuộc đời họ xem ra giống nhau. Cũng thế, những phụ nữ này dẫu không như nhau nhưng một khi chọn theo Ngài, họ trở thành những điểm mạnh; ít nữa, đã hy sinh của cải và thời giờ cho công cuộc loan báo Tin Mừng.

Chúa Giêsu có khả năng truyền cảm hứng cho bất cứ ai. Bạn và tôi được mời gọi xây dựng Vương Quốc ở mọi cấp độ, đấng bậc, trong vị trí của mình. Vấn đề là Ngài có trở nên trung tâm cuộc đời chúng ta không? Bạn và tôi có thuộc về Ngài không? Hay đi theo Ngài, chúng ta lại cứ tính toán theo thói đời, rán thành những ‘điểm nhấn’, để rồi không biết mình thuộc về ai, làm gì! Trong thư Timôthê hôm nay, Phaolô lưu ý, “Bởi chưng gốc rễ mọi sự dữ là lòng tham tiền bạc”; Giuđa Iscariôt là một ví dụ. Lời Đáp Ca cũng thật thâm trầm, “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ!”. Nước Trời ở đây chính là Chúa Giêsu, trái tim mọi ơn gọi, để mỗi người quy về và ‘vẫn luôn tuyệt vời!’.

Anh Chị em,

“Có nhóm Mười Hai cùng đi với Ngài”. Là những môn đệ Giêsu, Thánh Kinh không gọi chúng ta là ‘con ngươi mắt Chúa’ đó sao! Cũng thế, bạn và tôi đừng bao giờ coi thường một ai, dù người ấy không là ‘điểm nhấn’. Lấy Chúa Giêsu làm điểm quy chiếu, chúng ta trở nên những cộng sự viên của Ngài dù khác biệt nhau; và bằng một đời sống yêu thương, chúng ta đón nhận nhau. Với ơn Chúa, không ai không trở thành môn đệ và trở nên anh chị em của nhau. Và như thế, khác biệt không làm chúng ta phân hoá, nhưng có Giêsu, chúng ta gắn bó, trở nên những ‘điểm nhấn’ cho nhau và cho thế giới.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, chẳng cần là ‘điểm nhấn’ nổi bật trước mắt người đời, cũng không mơ trở nên tuyệt vời; chỉ cần con luôn ‘dễ thương’ như một em bé trước mặt Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

MUỐN NGƯỜI VIỆT NAM CÓ TỰ DO HÃY KHAI SÁNG DÂN TRÍ THỨC TỈNH QUỐC DÂN THỨC TỈNH ĐỒNG BÀO.

Góc nhìn Báo chí – Công dân

Viết văn không chỉ là một nghề nghiệp mà còn là tâm nguyện cả đời của Lỗ Tấn. Năm 1902, khi được cử sang Nhật Bản học, Lỗ Tấn chọn ngành y nhằm mục đích cứu người.

Nhưng về sau ông ý thức rõ căn bệnh tinh thần của dân tộc mới trầm kha hơn căn bệnh thể xác nên ông đã chuyển sang sáng tác văn học nhằm dùng ngòi bút lương y của mình để đẩy lùi căn bệnh thời đại.

Lỗ Tấn không chỉ là nhà văn hóa lớn mà còn là nhà giáo dục lớn. Tư tưởng giáo dục quan trọng nhất của Lỗ Tấn là vấn đề lập nhân- xây dựng và đào tạo con người.

Ông không có trước tác chuyên bàn về giáo dục nhưng trong các tác phẩm của Lỗ Tấn có rất nhiều ý kiến sâu sắc đã được các nhà nghiên cứu giáo dục sưu tập rồi sau đó hệ thống hóa thành những quan điểm khoa học rất có giá trị cả về lý luận và thực tiễn, cụ thể.

Lỗ Tấn qua đời vào năm 1936 tại Thượng Hải. Tang lễ ông hết sức trọng thể và phủ trên quan tài ông lá cờ đề ba chữ “Dân tộc hồn” có nghĩa là linh hồn của Dân tộc. Đó là sự sùng bái của nhân dân Trung Quốc dành cho Lỗ Tấn đến tận cuối cuộc đời.

Ban đầu vì học giỏi nên ông được cử sang Nhật du học ngành y. Nhưng rồi nhân một lần xem phim thời sự giữa giờ học, Lỗ Tấn thấy cảnh một người Trung Quốc bị quân Nhật trói ở giữa chuẩn bị xử chém, xung quanh là những kẻ đứng xem, người nào người nấy thân thể khỏe mạnh còn vẻ mặt thì thờ ơ mà không có lấy một chút thương xót.

Từ đó, ông nhận thấy học thuốc không còn là việc quan trọng vì dân mà còn ngu muội, hèn nhát thì dù thân thể có khoẻ mạnh, cường tráng cũng chỉ có thể làm thứ người mà người ta đem ra chém đầu thị chúng và trở thành loại người đứng xem vô vị như thế kia mà thôi.

Chính vì thế nên ông cho rằng điều trước tiên là phải biến đổi tinh thần họ. Và theo ông để làm điều đó không gì hiệu quả bằng văn nghệ nên cuối cùng ông theo nghề viết văn để thức tỉnh quốc dân, đồng bào.