Cần biết lắng nghe và sửa sai (Kỳ 1)

Ba’o Tieng Dan

Nguyễn Thông

9-10-2023

Cách nay 69 năm, ngày 10.10.1954, những người lính Pháp cuối cùng xếp hàng ngay ngắn rời khỏi Hà Nội, theo lối cầu Long Biên do chính họ xây dựng, để về Hải Phòng tập kết 300 ngày chờ rút hết về nước. Nay ở bãi biển Đồ Sơn vẫn còn di tích bến Nghiêng, nơi quân Pháp xuống tàu hồi hương.

Pháp rút, quân ta vào tiếp quản thủ đô Hà Nội trong sự chào đón của nhân dân. Đoàn xe chở tướng Vương Thừa Vũ – Chủ tịch Ủy ban quân chính (quân quản) Hà Nội, bác sĩ Trần Duy Hưng – Chủ tịch Ủy ban hành chính Hà Nội đã cùng bộ đội vào nội thành qua 5 cửa ô một cách hòa bình, không một tiếng súng nổ nào.

Ảnh: Bác sĩ Trần Duy Hưng, Chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội trở về tiếp quản thủ đô trong sự chào đón nồng nhiệt của dân chúng, dĩ nhiên không một tiếng súng, và không phải là hành vi giải phóng. Nguồn: Tư liệu internet

Nhạc sĩ Nguyễn Thành viết “Khi đoàn quân tiến về mùa thu ấy/ Nhịp trống rung ba mươi sáu phố phường“. Ngày 10.10 được lịch sử gọi bằng cái tên chính xác với thực tế, “ngày tiếp quản thủ đô”. Lứa chúng tôi khi học phổ thông (từ lớp 1 tới lớp 10) sách giáo khoa và lời thầy cô, lời cán bộ đều ghi rõ, nói rõ là “ngày tiếp quản thủ đô 10.10”.

Chả hiểu do đâu, và cũng không biết từ khi nào, người ta, vốn quen xuyên tạc lịch sử, kiêu ngạo cộng sản, háo thắng, ngạo nghễ, đã đổi lát cắt lịch sử ấy thành “ngày giải phóng thủ đô”, “ngày thủ đô giải phóng”. Cả Hải Phòng cũng vậy, khi quân Pháp ở đó 300 ngày kể từ khi đình chiến để lần lượt rút về nước, người dân sống chung với những kẻ trước kia là quân xâm lược trong gần 1 năm hòa bình, không hề gây gổ.

Ảnh chụp màn hình/ báo Tiền Phong

Làng tôi là nơi tạm trú kiểu KT3 gần tiểu đoàn Pháp, họ đóng ở đình làng và lập doanh trại gần đó, họ khoan giếng máy lấy nước dùng, cho cả dân dùng, khi kéo nhau ra bến Nghiêng Đồ Sơn còn bàn giao đầy đủ, không phá bỏ thứ gì. Thày tôi kể, dân làng giao dịch buôn bán hàng tạp hóa với họ, họ dạy trẻ con tiếng Pháp, cho nông dân những hạt giống rau quả su hào, súp lơ, cà chua… từ Pháp gửi sang để bà con mình trồng trọt.

Nói chung là chả đánh nhau, chẳng giải phóng giải phiếc gì. Nhưng rồi cũng theo trào lưu mới tự sướng/ xuyên tạc lịch sử, người ta cũng gọi ngày 13.5.1955 là “ngày Hải Phòng giải phóng”, “ngày giải phóng Hải Phòng”, mỗi năm đến ngày này cứ um cả lên. Ông anh tôi có lần bảo, có đánh nhau đếch đâu mà giải mí chả phóng.

Giải phóng là gì? Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ do GS Hoàng Phê chủ biên, giải phóng là hành động làm cho được tự do, cho thoát khỏi tình trạng bị nước ngoài chiếm đóng; giải thoát con người bị kiềm chế, giam cầm. Giải phóng hoàn toàn khác sự tiếp quản, nhận những thứ được bàn giao. Cũng không thể lý sự rằng trước đó quân ta đã đánh nhau, đã chiến thắng, đã có trận Điện Biên nên Pháp bị thua, ta tiến vào thủ đô thì cũng là giải phóng. Vậy thì nên xóa những sự kiện lịch sử, như Hội nghị Geneve (Geneva), hội nghị Trung Giã ra khỏi biên niên sử, dù nó có ý nghĩa lập lại hòa bình, chấm dứt đánh nhau.

Vẫn biết việc tôn trọng lịch sử khách quan và việc thực hiện ý đồ chính trị luôn chỏi nhau, luôn xung khắc, thậm chí lịch sử chịu thua trong những chặng nhất định, nhưng không thể vì thế mà cứ im lặng mãi. Hỡi các nhà viết sử mậu dịch, các vị chắc đều biết tích anh em nhà Thái Sử Bá thời Chiến quốc chép sử thế nào. Nhà viết sử chân chính, chết còn không sợ, vậy các vị sợ cái gì mà không dám lên tiếng, hay là nghề sử chỉ để ấm thân mình.

KHI CHÚNG TA VỀ GIÀ …

Quỳnh Chi 

Năm tháng vô tình, đến một ngày nào đó ai rồi cũng phải già đi, cho dù đó là người giàu có hay bình thường, đều không ngoại lệ. Những năm tháng sung mãn trẻ trung không bao giờ trở lại, cũng như một ngày không thể có hai buổi bình minh. Thời gian không đợi người…

Khi chúng ta già đi, trải qua mấy chục năm cố gắng, kinh nghiệm phong phú đầy mình, tấm lòng rộng rãi. Đã từng tranh giành, đã từng chiến đấu, đã từng đắc ý, đã từng thất ý, những gì nên có đều đã có, cũng không còn ham muốn những thứ không thuộc về mình nữa, hết thảy đều đã quen rồi.

Khi về già, tôi lựa chọn mỉm cười.

Mỗi sáng sớm thức dậy rửa mặt, việc đầu tiên là soi gương, khi ta cười với nó thì nó cũng cười với ta. Thế là cả một ngày ta mỉm cười.

Mỗi sáng sớm thức dậy rửa mặt, việc đầu tiên là soi gương, khi ta cười với nó thì nó cũng cười với ta. Thế là cả một ngày ta mỉm cười. (Pixabay)

Khi về già, lựa chọn thay đổi.

Không phải là thay đổi người khác, mà là thay đổi chính bản thân mình, thay đổi tâm tính, thay đổi phong cách sống và thay đổi thói quen ăn uống của mình.

Khi về già, lựa chọn thong dong.

Bữa ăn nên ăn từng miếng một, việc làm nên làm từng chút một. Không có việc nào có thể làm xong trong một sớm một chiều, mọi thứ đều phải có quá trình. Đừng suốt ngày mệt mỏi kiệt sức, hãy sống bình tĩnh thong dong.

Khi về già, lựa chọn coi nhẹ.

Nếu chốn sơn hào hải vị, mỹ tửu giao bôi mà ẩn giấu người lừa kẻ gạt, thì sao bằng dăm ba người tri kỷ, chén trà nhạt hàn huyên.

Khi về già, lựa chọn sức khỏe.

Có một câu nói rằng: Lúc sự nghiệp có thành tựu chính là lúc cần trân quý thân thể của chính mình, lúc sự nghiệp thất bại chính là lúc cần phải làm cho mình khỏe mạnh hơn.

Du sơn ngoạn thủy, nuôi dưỡng tuổi trời, tận hưởng trọn vẹn cuộc đời lúc hoàng hôn của chính mình. Để bù đắp sự thiếu hụt của thế hệ, tìm lại tự ngã đã mất. (Pixabay)

Khi về già, lựa chọn du lịch.

Du sơn ngoạn thủy, nuôi dưỡng tuổi trời, tận hưởng trọn vẹn cuộc đời lúc hoàng hôn của chính mình. Để bù đắp sự thiếu hụt của thế hệ, tìm lại tự ngã đã mất.

Khi về già, lựa chọn nghỉ ngơi.

Đến tuổi này rồi, có thể không cần phải đóng góp thêm cho xã hội, không còn phải vất vả vì cháu con, không cần phải đi kiếm tiền, cũng không cần tích lũy di sản nữa.

Khi về già, lựa chọn độc lập.

Đừng quá nặng thân tình. Có câu “ở bên giường bệnh lâu ngày thì không có con hiếu thảo”. Vì vậy, cần phải chuẩn bị tinh thần để tự mình vượt qua khó khăn.

Khi về già, lựa chọn nói “có” ít, nói “không” nhiều.

Đừng làm những việc căng thẳng và nặng nề, và nên giảm những công việc cố định trong thời gian cố định.

Khi về già, lựa chọn cách đối xử tốt với bản thân và những người xung quanh.

Đối xử với bản thân tốt một chút, vì cuộc đời không dài, đối xử với mọi người xung quanh tốt một chút, vì có thể kiếp sau sẽ không còn gặp lại.

Đối xử với bản thân tốt một chút, vì cuộc đời không dài, đối xử với mọi người xung quanh tốt một chút, vì có thể kiếp sau sẽ không còn gặp lại. (Pixabay)

Khi về già, mong giữ được một trái tim trẻ trung và trong sáng.

Điều thay đổi chỉ là dung nhan, điều không thay đổi chính là tôi vẫn có một trái tim nhiệt huyết, trẻ trung, đầy đam mê. Vẫn mong muốn ngây thơ và đáng yêu như một đứa trẻ, duy trì một trái tim trẻ trung và trong sáng. Bất kể cuộc đời này là thống khổ, ưu thương hay là thất bại, hết thảy những điều này, thị phi thành bại đều đã thành hư không, yêu thương hay đau đớn đều đã là quá khứ.

Khi về già, sẽ có người thỉnh thoảng còn nhớ nhung và lo lắng trong lòng. Khi ta chống nạng, còng lưng, ngồi trên ghế đá công viên, mỉm cười nhìn mọi thứ xung quanh, sẽ có người chăm chú dõi theo và để ý, sẽ có người nguyện ý đi cùng ta, dìu lấy ta, cùng ta tản bộ chuyện trò.

Khi về già, hy vọng tự mình còn có thể lo được cho mình, đôi khi phơi nắng, chợp mắt bên bếp lửa, khẽ nhắm mắt nhớ lại con đường đời đã đi qua, nhớ về người thân, bè bạn, đôi lúc mỉm cười, và đôi khi thở dài.

Khi về già, tai điếc, răng rụng, tóc bạc, mong rằng người bạn đời vẫn còn ở bên, cùng chơi đùa, cùng nhau hồi tưởng về quãng thời gian cùng nhau trải qua, còn có thể nắm tay nhau đi trong ánh hoàng hôn, mỉm cười và ôm nhau khóc, nương tựa vào nhau, sẽ không rời xa.

Khi về già, tai điếc, răng rụng, tóc bạc, mong rằng người bạn đời vẫn còn ở bên, cùng chơi đùa, cùng nhau hồi tưởng về quãng thời gian cùng nhau trải qua, còn có thể nắm tay nhau đi trong ánh hoàng hôn. (Pixabay)

Khi về già, không còn thích náo nhiệt, thức khuya, chỉ muốn làm một khán giả tĩnh lặng, để thời gian cho bản thân một mình suy nghĩ, sống chậm lại, tĩnh tâm, lắng nghe tiếng nụ hoa hé nở, cứ như vậy lặng lẽ ngắm mọi thứ quen thuộc xung quanh rồi lặng lẽ rời đi.

Quả thật, cuộc đời của tôi quá đỗi bình thường như vậy, không oanh oanh liệt liệt, không kinh thiên động địa, nhưng tôi đã sống thật lòng, nhẹ nhàng ra đi, cũng như lúc nhẹ nhàng đến…

Mỗi người trong hơn nửa đời người đều đang theo đuổi:

Tuổi thơ theo đuổi sự thuần chân, tiện tay bôi bẩn những bức vẽ đầy màu sắc. Tuổi học trò theo đuổi lý tưởng, chăm chỉ không ngừng dệt những giấc mơ. Khi đi làm theo đuổi sự nghiệp và tình yêu, cảm nhận sự ngọt ngào và khó khăn của cuộc sống. Dần dần, cuối cùng, chúng ta bắt đầu truy cầu một cõi đi về, truy cầu một bến cảng bình yên và sự luân hồi của sinh mệnh!

Minh bạch được những điều này, cuộc sống tự nhiên sẽ nhẹ nhàng và hạnh phúc!

Quỳnh Chi 

From: tabard & NguyenNThu

KHÔNG THỂ TRỐN CHẠY – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hãy đi và làm như vậy!”.

Trong cuốn “Facing Loneliness”, “Đối Mặt Với Cô Đơn”, J. O. Sanders viết, “Vòng lẩn quẩn của các thú vui hoặc thu tích của cải đều là ‘những nỗ lực hoài hơi’ nhằm chạy trốn những nỗi đau dai dẳng! Triệu phú thường cô đơn hơn người nghèo; vua hài thường bất hạnh hơn khán giả! Bạn không thể trốn chạy cô đơn, nếu không biết yêu thương!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Không thể trốn chạy cô đơn, nếu không biết yêu thương!”. Lời Chúa hôm nay chứng thực nhận định của J. O. Sanders! Đó là câu chuyện dài của một Giôna ‘vùng vằng’; đó còn là câu chuyện ngắn của một người Samaria ‘mủi lòng’. Điều thú vị ở đây, là dù vùng vằng hay mủi lòng, hai nhân vật này vẫn ‘không thể trốn chạy’ yêu thương!

Bài đọc thứ nhất mở đầu cho ‘chuyện dài nhiều tập’ của Giôna. Thoạt tiên, Chúa sai Giôna đi Ninivê, một thành thù nghịch của Ngài, “Hô cho dân thành biết rằng sự gian ác của chúng đã lên thấu tới Ta”. Giôna bất tuân lệnh Chúa, ông chạy trốn Ngài! Thay vì lên Ninivê, hướng đông; ông xuống tàu ngược qua Tarshish, hướng tây. Chúa không để yên, Ngài theo Giôna đến cùng! Người ta ném ông xuống biển; một con cá đã chực sẵn, nuốt ông. Cá nhả ông lên bờ, Chúa gọi ông lần hai. Cuối cùng, vì ‘không thể trốn chạy’ và cô đơn mãi, ông đến Ninivê, mang cho họ thông điệp sám hối. Họ ăn năn và được thứ tha.

Nếu Giôna trốn Thiên Chúa để khỏi yêu thương kẻ nghịch, thì người Samaria vô danh kia đã nghe ‘tiếng Trời’ qua lương tâm mà phục vụ kẻ thù. Ông cứu một người Do Thái sống dở, chết dở bên đường. Nếu Giôna là sứ giả ‘bất đắc dĩ’ cho Ninivê, người Samaria là sứ giả ‘tình nguyện’ cho kẻ thù. Câu chuyện của con người tốt lành này là câu trả lời của Chúa Giêsu cho chất vấn của một luật sĩ, “Ai là người thân cận của tôi?”. Và để kết thúc cuộc phỏng vấn, Chúa Giêsu nói với nhà thông luật, “Hãy đi và làm như vậy!”.

“Hãy đi và làm như vậy!”. Chúa Giêsu đã đi và làm như vậy! Và kìa, người Samaria, ‘một người lương’ đại diện cho Ngài; và nạn nhân, đại diện cho cả nhân loại, cho mỗi người chúng ta. Khi con người không thể tự cứu mình, đang trầy trụa, ghẻ lạnh vì tội lỗi; Chúa Giêsu đã rời trời, xuống thế, lưu lại để cứu chúng ta. Chúng ta ‘sống dở, chết dở’ hay đã ‘chết một nửa!’. Ngoài cái chết thể chất, chúng ta có thể ‘chết một nửa’ theo nghĩa tinh thần khi lửa đã tắt trong tim và chỉ còn ‘sống một nửa’ khi đang lây lất ‘sống qua ngày, đợi qua đời’ lúc không còn một chút nhiệt huyết cho bất cứ điều gì! Chính trong tình trạng đó, Chúa Giêsu vực chúng ta lên; đưa chúng ta ra khỏi huyệt. Thánh Vịnh đáp ca thật thâm trầm, “Lạy Chúa, Ngài đã đưa con lên khỏi huyệt để con được sống!”.

Anh Chị em,

“Hãy đi và làm như vậy!”. Có người nói rằng, người có đạo vào nhà thờ để yêu Chúa và ra ngoài để yêu người lân cận. Đức Bênêđictô XVI nhấn mạnh, chương trình của Kitô hữu – chương trình của người Samaritanô nhân hậu, chương trình của Chúa Giêsu – là “một trái tim có thể nhìn thấy”. ‘Không thể trốn chạy’, nhưng là xem và dừng lại! Đây là lý do Chúa Giêsu khiển trách giới biệt phái “Các ông có mắt mà không thấy!”. Người Samaritanô thấy và dừng lại, ông có lòng thương xót và nhờ đó cứu được mạng sống của người bất hạnh và ‘cứu được chính mình’. Bạn và tôi cũng “Hãy đi và làm như vậy!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, bao lần, con thật cô đơn khi con trốn chạy yêu thương. Dạy con bài học “Hãy đi và làm như vậy!” để con bớt cô đơn mỗi ngày!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

Tại sao Giáo hội phải chăm sóc cách riêng cho người bệnh?

Chúc bình an! Ngày Thứ 2 đầu tuần tốt lành và mạnh khoẻ nhé.

Cha Vương

Thứ 2: 09/10/2023

GIÁO LÝ: Tại sao Giáo hội phải chăm sóc cách riêng cho người bệnh? Chúa Giêsu cho ta biết: Thiên đàng đau khổ với ta khi ta đau khổ dưới đất. Thiên Chúa còn muốn chúng ta nhận ra Người nơi “người anh em bé mọn nhất” (Mt 25, 40). Đó là lí do tại sao, Chúa Giêsu muốn việc chăm sóc người bệnh, người nghèo phải là nhiệm vụ chính của các môn đệ. Người truyền dạy: “Hãy chữa lành bệnh tật” (Mt 10, 8), và Người hứa ban quyền thiêng liêng cho môn đệ “Nhân danh Thầy, họ sẽ trừ quỷ, sẽ đặt tay chữa lành bệnh nhân” (Mc 16,17). (YouCat, số 242)

SUY NIỆM: Một trong những đặc tính nổi bật của Kitô giáo là luôn luôn dành trọng tâm chăm sóc bệnh nhân, người già và những người nghèo túng. Mẹ Têrêsa là người đón nhận những người đang hấp hối ở đường phố Calcutta chỉ là một Kitô hữu như mọi Kitô hữu khác, nhưng Mẹ đã nhìn thấy Chúa Kitô trong những người bị mọi người loại bỏ và chạy trốn. Nếu Kitô hữu là Kitô hữu đích thật, thì từ nơi họ sẽ toát ra một ước muốn an ủi, nâng đỡ, được thực hiện trong hành động. Họ có thể giúp người khác khỏi bệnh phần xác, nhờ sức mạnh của Thánh Thần. (YouCat, số 242 t.t.)

❦  Việc lo lắng cho người nghèo phải là một ưu tiên: cần phải giúp đỡ họ như họ là chính Chúa Kitô vậy. (Thánh Benoît de Nursie, khoảng 480 – 547, đấng sáng lập dòng

Biển Đức)

❦  Và chúng tôi còn có lời thề là hứa trở nên người tận tâm phục vụ các người bệnh tật của Chúa chúng ta. (Luật dòng thánh Jean de Malte)

 LẮNG NGHE: Các ông trừ được nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh. (Mc 6:13)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin mở tâm trí con để con ý thức rằng những gì con làm cho người bé nhỏ nhất, chính là con làm cho Chúa Giêsu. Xin giúp con biết phóng ra khỏi mình để gặp Chúa nơi những người anh em đau yếu ốm đau bệnh tật.

THỰC HÀNH: Cầu nguyện cách riêng cho những người chăm sóc bệnh nhân

Xin Tỏ Lòng Từ Bi 2- Thánh Vịnh 84

Chuyện đời bèo bọt của các bà “chế độ cũ”

Ba’o Saigon nhỏ

Ảnh minh họa: Unsplash/Bady-abbas

Mấy bà thuộc “chế độ cũ” ở quê tôi là vợ sĩ quan, con lai, nhà có của để dành trong thể chế Việt Nam Cộng Hòa. Sau năm 1975, có bà thì lặng lẽ nuôi con trong khi chồng đi cải tạo, có bà thì lầm lũi, có bà thì hóa điên vì chế độ mới tịch thâu gia sản.

Dù rời xa làng quê để lên Sài Gòn tìm kế sinh nhai đã lâu nhưng tôi vẫn còn nhớ rõ mấy bà thuộc “chế độ cũ” trong xóm. Đó là bà Mười Tiều, dì Năm Thiếu Úy, dì Tám Quyện, dì Bảy, chị Lệ. Hồi tôi khoảng 9 tuổi thì bà Mười Tiều ngoài 70 tuổi, dì Năm Thiếu Úy, dì Tám Quyện và dì Bảy ngoài 30 tuổi, chị Lệ ngoài 20 tuổi.

Trước hết là câu chuyện về bà Mười Tiều. Hàng xóm láng giềng kể lại là trước năm 1975 bà Mười Tiều giàu có lắm. Việt Cộng vô một cái, tịch thâu hết vàng bạc. Cho dầu bả giấu vàng trong cái nồi, bỏ vào cái rế, treo lên giàn bếp nhưng Việt Cộng vẫn tìm ra được.

Khi tôi lớn lên, bả đã hóa điên rồi. Ban ngày, bả đóng cửa im ỉm ở trong nhà với ông chồng; còn con cái sống ở xa, lâu lâu mới về. Thỉnh thoảng tôi nghe tiếng cãi lộn của ông bà.

Chiều xuống, bả bắt đầu ra khỏi nhà trong bộ dạng nguyên bộ đồ trắng, đi chùa. Khi bả đi chùa xong thì trời đã sụp tối. Lúc đó bả chui vô mấy cái bụi tầm vông, bụi tre, bụi trúc, canh me có ai đi ngang qua, phóng ra hù người ta cho hết hồn chơi.

Ông Chín Rô trong xóm – người làm ruộng trong hợp tác xã, kể là có hôm ổng vác cuốc ngoài ruộng về nhà, đi ngang qua bụi tầm vông thì bị bả phóng ra hù. Ổng tưởng ma nên mém xáng cán cuốc xuống đầu bả. Tức thời bả la làng lên: “Tui đây!  Mười Tiều Đây!”. Ông Chín Rô kịp dừng tay lại.

Có lần tôi đi thả diều về ngang qua bụi tầm vông ngay góc trường học, bả mặc nguyên bộ đồ trắng phóng ra hù mà hết cả hồn. Rồi chắc nhờ bả đi chùa nhiều nên một thời gian sau bả tịnh tâm lại, hết hù người ta và sống thọ hơn 100 tuổi. Tui chắc hẳn đã có khoảng thời gian dài dằng dặc bả sống trong tiếc nuối vì mất của cải một cách lãng xẹt.

***

Tiếp đến là câu chuyện về dì Năm Thiếu Úy. Sở dĩ mọi người gọi dì là bà Năm Thiếu Úy vì hồi trước dì là vợ một sĩ quan thiếu úy trong chế độ cũ. Sau Tháng Tư 1975, ông thiếu úy bị đưa đi cải tạo nên dì lấy ông Phèo – một người Hoa, để nương tựa.

Ông Phèo thì không có con riêng, hơn dì khoảng 20 tuổi, tạng người bự chảng, không có hai hàm răng, cái miệng lúc nào cũng ngồm ngoàm như đang nhai một thứ gì đó.

Dì Năm Thiếu Úy có hai đứa con trai riêng với ông thiếu úy. Một đứa lớn hơn tôi vài tuổi, đứa kia thì bằng tuổi tôi. Cả hai đứa đều học chung với tôi từ năm lớp 1 đến năm lớp 3 thì tụi nó nghỉ học. Nhà dì Năm Thiếu Úy ở ven chợ. Hằng ngày dì bán gạo.

Gạo của dì có hai loại: gạo cũ và gạo mới. Gạo cũ là loại gạo khi được nấu lên thì nở tét bét cho ra nhiều cơm. Những gia đình đông con thì mua loại gạo này để nấu được nhiều cơm, đặng chia đủ cơm cho tất cả thành viên trong gia đình. Gạo mới là loại gạo khi đem nấu lên thì không nở mấy nhưng được cái là cơm dẻo và ngon hơn.

Trong khi đó, ông Phèo hằng ngày bán bánh mì. Ổng có cái tủ bánh mì đựng tùm lum thứ như là bánh mì, thịt ba rọi xắt nhỏ, ngò gai, ngò rí, dưa leo, dao rạch bánh mì, thớt để xắt thịt, nước tương, giấy báo cũ để gói bánh mì v.v.

Sáng sáng và xế xế ổng chở cái tủ bánh mì trên xe đạp lượn vòng quanh xóm. Có điều ngộ là thay vì rao hàng thì ổng dùng một cái kèn có trái bóng bóp phát ra tiếng kêu “tò tí toe”. Ai muốn ăn bánh mì thì chạy ra trước cổng kêu “ông Phèo”.

Dì Năm Thiếu Úy đếm thời gian qua từng lần đong gạo bằng cái lon 1 lít (lon 1 lít bằng ba lon sữa Ông Thọ) để bán cho dân quê, còn ông Phèo đếm thời gian qua từng lần bóp kèn “tò tí toe”.

Cho đến khi tôi 18 tuổi mà vẫn chưa thấy ông Năm Thiếu Úy về, có thể là ổng đã chết trong tù hoặc là ổng đã ra tù nhưng không về xóm tôi, vì dì Năm Thiếu Úy lúc bấy giờ đã là vợ người ta?!

Kế đến là câu chuyện về dì Tám Quyện. Tui không chắc tên dì là Quyện hay Huyện vì ở quê người ta phát âm phụ âm “h” giống như phụ âm “qu” thành ra “quờ” hết trơn hết trọi. Nhà dì Tám Quyện ở sát bên nhà dì Năm Thiếu Úy.

Dì Tám Quyện có hai đứa con gái. Đứa đầu lai Mỹ. Tui không biết tên thật của nó là gì nhưng mà mọi người cứ gọi nó là “con Mỹ”. Con Mỹ không đi học vì nó sợ đám con nít trêu chọc nó bằng những từ bậy bạ.

Sáng nào nó cũng phụ dì Tám Quyện đổ bánh kẹp để bán ở chợ. Dì Tám Quyện và con Mỹ ngồi chèm bẹp dưới đất, sát bên mấy cái thúng gạo của dì Năm Thiếu Úy.

Khi con Mỹ độ chừng đâu 12 tuổi thì dì Tám Quyện cho nó đi ở đợ xa nhà. Mấy năm sau đó tôi có thấy nó trở về xóm, đi bộ ngang qua nhà tôi vài lần. Có lần nó banh hàng rào chui qua sân nhà tôi cốt để đi tắt từ phía sau nhà tôi ra con đường lộ, hòng tránh đám con nít trêu chọc nó bằng những từ bậy bạ. Sau cái lần đó thì tôi không thấy nó nữa.

Không biết là nó có đi Mỹ theo diện con lai hay không?! Liệu rằng nó còn trốn đám con nít cho khỏi nghe những lời chọc ghẹo?!

Chị Lệ ngoài 20 tuổi cũng lai Mỹ. Mọi người thường gọi chị là “Lệ Khùng”. Thật ra chị không có hành vi nào bất thường và cũng không la hét quấy phá ai. Chỉ vì trên người chị lúc nào cũng lấm lem bùn đất, chị không bao giờ cười hay nói chuyện với bất cứ ai, có lẽ vì thế người ta gọi chị là “Lệ Khùng”?

Hằng ngày chị cùng chồng đi bộ quanh xóm để đào giếng hay vét giếng cho người ta. Vai chị vác cuộn dây thừng, tay cầm cái nón cối của lính Mỹ. Ông chồng thì vác cuốc, xẻng, xà beng.

Tui xin phép dừng chuyện của chị Lệ một chút để giải thích thêm về cách lấy nước từ giếng lên. Quê tôi thuộc vùng cao nên người ta phải đào giếng sâu xuống khoảng 20 mét thì mới có nước ngầm.

Hồi ấy, tụi tôi kéo nước từ giếng lên bằng cái thùng cột sẵn vào dây mũi (loại dây được bện bằng sợi nylon, và người ta thường dùng loại dây này để cột mũi con bò mà dắt đi).

Cứ mỗi lần muốn lấy nước, người ta dùng dây mũi cột sẵn thùng nhôm hay thùng mủ vào, thả thùng xuống giếng, kéo từng đoạn dây lên. Có khi cái thùng lên khỏi miệng giếng thì trong thùng không còn miếng nước nào, do thùng bị lủng hoặc bị lắc lư cho nên nước tạt hết ra ngoài rồi.

Đến mùa nắng, giếng bắt đầu cạn nước. Khi đó người ta phải mướn vợ chồng chị Lệ vét giếng sâu xuống nữa thì mới có nước lên trở lại. Tui chưa từng tận mắt thấy vợ chồng chị Lệ đào giếng nhưng vài lần tôi có thấy họ vét giếng cho nhà tôi.

Họ thay phiên nhau đu dây thừng xuống đáy giếng đã cạn nước. Một người ở dưới đáy giếng đào, múc đất sét bỏ vào cái nón cối lính Mỹ được cột vào dây thừng. Người ở trên miệng giếng kéo nón đất sét lên, bỏ đất qua một bên.

Người ở dưới đáy giếng được một lúc sẽ bị ngộp thở nên người kia phải thay phiên đu dây xuống đáy giếng. Họ vét từ trưa đến chiều thì mạch nước ngầm sẽ phún lên. Chị Lệ chỉ làm việc mà không nói cười, còn ai muốn nói gì thì nói với chồng của chị.

Nhà chị Lệ ở trong một con hẻm. Mà đúng hơn là chòi. Cái chòi được cất tạm bợ bằng tre trúc lá dừa. Người ta cho anh chị ở đậu trong khoảnh sân phía trước nhà. Khi anh chị sinh được một bé trai, họ lại ẵm con theo, đặt thằng nhỏ nằm trên tấm nylon ở chỗ mát trong khi họ làm việc.

Khi độ chừng đâu 8 tuổi, thằng nhỏ đi lẽo đẽo theo sau họ để phụ giúp công việc. Đến bây giờ tôi cũng không biết là chị Lệ đã thoát khỏi cái hố sâu dìm phận đời đứa con lai trong chế độ mới chưa?!

Liệu rằng chị đã gột rửa sạch lớp bùn đất lấm lem trên người và có thể cười nói để người đời không còn gọi chị bằng cái tên “Lệ Khùng”?!

***

Khác với vẻ mặt âu sầu của chị Lệ, dì Bảy luôn luôn lúc nào cũng tươi cười nói chuyện hoạt bát. Chồng dì Bảy cũng bị đưa đi cải tạo giống như chồng của các bà vợ sĩ quan khác.

Dì Bảy có hai đứa con: thằng con trai nhỏ hơn tôi một tuổi, đứa con gái thua tôi ba tuổi. Dì Bảy mở một sạp bán bánh kẹo và đồ chơi cho con nít bên trong trường học. Con nít bên ngoài trường hay con nít học trong trường đều có thể đến sạp của dì để mua mấy thứ mà chúng thích.

Hồi thời ấy, dì Bảy có bán xổ số đồ chơi: đồ chơi được treo trên một tấm bìa giấy cứng, bên dưới là những miếng giấy nhỏ có ghi số được gấp lại, con nít muốn chơi thì đưa dì Bảy 50 xu, rồi rứt một miếng giấy, mở ra thấy số nào thì lấy món đồ chơi có đánh dấu số đó; mở ra trống trơn không có số thì coi như trật lất, mất toi 50 xu.

Hai đứa con của dì Bảy học rất giỏi, năm nào tụi nó cũng được lãnh thưởng. Có lần tụi nó khoe với tôi rằng mẹ nó nói ba nó giỏi tiếng Anh lắm, bất cứ từ vựng tiếng Anh nào mới, ba nó đều đọc được. Hồi đó tụi tôi học dở tiếng Anh lắm vì ngay cả thầy cô giáo dạy tụi tôi còn đọc sai bét thì tụi con nít chúng tôi làm gì mà đọc đúng được?

Khoảng đâu thời gian thằng con trai dì Bảy học hết lớp 9 thì ba tụi nó về. Chồng dì Bảy về trong dáng vẻ gầy guộc, nước da xanh lè xanh lét, mặt hóp xọp trơ xương hai bên gò má. Đùng một cái, tụi nó bỏ học, cả nhà nó dọn nhà đi đâu mất tiêu. Cái thời đó cho dù có học giỏi thì hai con của dì Bảy cũng không học lên cao được với lý do “con của sĩ quan ngụy không được đi thi đại học”.

Tuy mỗi bà “chế độ cũ” xóm tôi có hoàn cảnh riêng nhưng tất cả họ đều có điểm chung là chịu đựng phận đời bèo bọt trong chế độ mới sau Tháng Tư 1975. Và ngay cả con cái của họ cũng gánh chung phận đời bị chế độ mới trù dập cho te tua tơi tả!

VẪN CHIẾN THẮNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường!”.

Thống Tướng Douglas MacArthur, Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ thập niên 1930, đã để lại một câu nói bất hủ, “In war, there is no substitute for victory!”, “Trong chiến tranh, không gì thay được chiến thắng!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Dụ ngôn “Tá Điền Vườn Nho” của Chúa Nhật hôm nay nằm trong bối cảnh Chúa Giêsu nhất quyết tiến lên Giêrusalem như tiến vào một trận chiến mà với Ngài, không gì thay được chiến thắng! Và dù kết cuộc có thế nào đi nữa, Ngài ‘vẫn chiến thắng!’.

Tiếng hò reo của dân chúng ngày ấy đã khiến giới lãnh đạo tôn giáo lo sợ đến nỗi họ tìm cách giết Ngài. Vì lý do đó, Chúa Giêsu đã kể ra một loạt dụ ngôn; đặc biệt dụ ngôn tá điền vườn nho, nhằm ám chỉ rằng, nếu họ tiếp tục chống lại Ngài, họ sẽ thua. Và dù có giết chết Ngài, Ngài ‘vẫn chiến thắng!’; một chiến thắng của tình yêu!

Mượn lại hình ảnh vườn nho là nhà Israel mà Isaia đã báo trước, bài đọc một, Chúa Giêsu nói đến sự thất vọng của Thiên Chúa chủ vườn khi vườn không sinh trái ngọt mà chỉ sinh quả chua. Với Ngài, đó còn là một vườn nho kinh khủng với sự nổi loạn của các tá điền, những kẻ chỉ muốn chiếm đoạt cả vườn. Họ đã giết chết các tôi tớ được sai đến, tức là các ngôn sứ; và sau cùng giết luôn con trai của chủ, chính Ngài, Con Thiên Chúa!

Trích dẫn Thánh Vịnh 117, Chúa Giêsu sánh mình với viên đá bị loại vốn trở nên đá tảng góc tường. Không chỉ dừng lại ở những câu trích – mà kẻ thù Ngài hẳn đã thuộc lòng – Chúa Giêsu còn ám chỉ việc Thiên Chúa sẽ chiến đấu cho tôi tớ Ngài. Như thể Chúa Giêsu thách thức họ rằng, “Các người không thể đánh bại Tôi cả khi các người giết tôi! Cha Trên Trời của Tôi sẽ không bỏ rơi Tôi. Ngài sẽ chiến đấu vì Tôi, và Tôi, sẽ trở thành đá tảng. Tốt hơn hết, các người nên nghe Tôi và cộng tác với Tôi!”. Vì viên đá bị loại sẽ trở thành ‘nền đá ân sủng’, “Đó chính là công trình của Chúa!”, và “Tôi ‘vẫn chiến thắng!’”.

Chúa Giêsu đã chiến thắng và cho đến ngày nay, Ngài tiếp tục giành chiến thắng. Kẻ thù của Ngài chỉ cứ đập mình thành từng mảnh. Lịch sử cho thấy những gì đã xảy ra với hết nhóm này đến nhóm khác chống lại Chúa Giêsu và Giáo Hội Ngài! Họ biến vào quên lãng! Và Giêsu là tương lai của thế giới! Ngài chiến thắng, tiếp tục chiến thắng, để cuối cùng, giành chiến thắng! Vì thế, sự tiến bộ của nhân loại chỉ có thể là sự tiến bộ hướng về Ngài, hướng về nền văn minh tình thương, công lý và bình an mà Ngài muốn thiết lập.

Anh Chị em,

“Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường!”. Điều đáng kinh ngạc nhất từng xảy ra trên thế giới là cái chết của Con Thiên Chúa. Thật đáng kinh ngạc khi Chúa Cha để Con Ngài bị bọn ác nhân sát hại một cách dã man! Thật đáng kinh ngạc khi Chúa Con không gọi các thiên thần chấm dứt cuộc đàn áp! Thật đáng kinh ngạc khi Ngài đã nói những lời thứ tha từ thập giá… Nhưng có lẽ khía cạnh đáng kinh ngạc nhất là từ đó, ‘món quà cứu rỗi đời đời’ được thực hiện! Một Thiên Chúa, dù thất vọng vì những lỗi lầm và tội lỗi của con người, vẫn không quên giữ Lời, Ngài không bỏ cuộc; và trên hết, không tìm cách báo thù. Bất chấp sự tàn độc của con người, tình yêu Ngài ‘vẫn chiến thắng!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dù thế gian có loại con ra ngoài, giúp con sinh nhiều hoa trái tốt tươi, hầu trở nên ‘nền đá ân sủng’ Chúa cho toàn thế giới! Và như thế, con ‘vẫn chiến thắng!’”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

Giải Nobel Hoà Bình năm nay được trao cho nhà đấu tranh cho nữ quyền Narges Mohammadi

Ba’o Tieng Dan  

Vũ Ngọc Yên

6-10-2023

Ngày 6-10-2023,Ủy ban Nobel Na Uy thông báo, giải Nobel Hòa bình năm 2023 được trao cho Nhà hoạt đông nữ quyền Iran, cô Narges Mohammadi. Bà Berit Reiss-Andersen, Chủ tịch Ủy ban Nobel Na Uy, cho biết tại thủ đô Oslo là cô Mohammadi được vinh danh vì những nỗ lực dấn thân cho quyền phụ nữ ở Iran và thúc đẩy nhân quyền và tự do cho tất cả mọi người…

Ảnh: Cô Narges Mohammadi chụp ảnh tại nhà ở Iran trong thời gian ra tù hồi năm 2021 vì lý do y tế. Nguồn: Reihane Taravati

Có 351 ứng cử viên cho giải Nobel Hòa bình năm 2023, trong đó có 259 cá nhân và 92 tổ chức. Theo ban tổ chức, 351 là số ứng cử viên cao thứ hai từ trước đến nay. Tính cả năm nay, số lượng ứng cử viên đã vượt quá 300 trong 8 năm liên tiếp, với kỷ lục 376 ứng viên được đề cử vào năm 2016. Theo quy định, tên của những người được đề cử, cũng như những người đề cử giải Nobel Hòa bình sẽ không được tiết lộ cho đến 50 năm sau, trừ trường hợp người đề cử tự tiết lộ.

Nhà đấu tranh cho nữ quyền

Cô Mohammadi, 51 tuổi, đã đấu tranh suốt 30 năm qua để mang lại thay đổi căn bản cho Iran, thông qua giáo dục và các biện pháp hòa bình khác. Mohammadi đã bị bắt 13 lần, bị kết án 5 lần với tổng án tù 31 năm. Ngay cả khi ở trong tù, cô cũng kịch liệt lên tiếng phản đối các điều kiện giam giữ đối với các nữ phạm nhân.

Narges Mohammadi đã viết sách về tra tấn tù nhân, trong đó cô mô tả trải nghiệm của chính mình và của những phụ nữ bị giam cầm khác. Năm 2011, Narges Mohammadi bị kết án sáu năm tù chỉ vì hoạt động nhân quyền ôn hòa của cô tại Trung tâm Bảo vệ Nhân quyền. Trong một phiên tòa bất công khác hồi tháng 4 năm 2016, cô bị kết án thêm 16 năm tù. Niềm tin của cô chỉ dựa trên công việc nhân quyền của cô. Đầu tháng 10 năm 2020, Narges Mohammadi được trả tự do sớm, rời khỏi Nhà tù Zanjan ở Iran.

Sau khi được trả tự do, Narges Mohammadi tiếp tục con đường bảo vệ nhân quyền không ngày nghỉ. Ngày qua ngày, cô đấu tranh cho các tù nhân chính trị, gia đình họ và những người sống sót, cũng như cho quyền của phụ nữ ở Iran. Với nhiệm vụ này, một lần nữa cô bị chính quyền Iran nhắm tới.

Vào ngày 16 tháng 11 năm 2021, Narges Mohammadi lại bị bắt giữ một cách tùy tiện và bạo lực tại Karaj, tỉnh Alborz, khi cô ấy đang tham dự một buổi lễ tưởng niệm. Trong tù, cô bị tra tấn và ngược đãi bởi các quan chức thực thi pháp luật theo lệnh của Bộ Tình báo. Cô đã bị từ chối chăm sóc sức khỏe đầy đủ; họ trừng phạt cô vì hoạt động nhân quyền của cô. Cô cũng phải đối mặt với 154 đòn roi. Cô bị kết án tổng cộng 10 năm 8 tháng tù giam, cũng như 154 roi và các biện pháp trừng phạt khác trong hai vụ án riêng biệt.

Hành quyết, tra tấn và đàn áp là phương tiện để chế độ độc tài Hồi giáo ở Iran đe dọa người dân và duy trì quyền lực. Mức độ vi phạm nhân quyền ở Iran là đáng báo động. Chúng bao gồm việc sử dụng tùy tiện hình phạt tử hình, tra tấn có hệ thống trong nhà tù và các hình phạt về thể xác tàn bạo, vô nhân đạo và hạ nhục như đánh roi và những màn đánh đập khác.

Chế độ Tehran là một trong những nước vi phạm nhân quyền tồi tệ nhất trên thế giới. Các biện pháp đàn áp tàn bạo, bắt bớ và tra tấn trong nhà tù là mệnh lệnh của độc tài Hồi giáo. Không có tự do ngôn luận hay tín ngưỡng ở Iran. Dấn thân cho dân chủ và nhân quyền bị đàn áp dã man.

Các Giải Nobel khác

Hôm thứ hai 2-10, Katalin Karoko và Drew Weissman được vinh danh là người thắng giải Nobel Y Sinh năm 2023, nhờ nghiên cứu công nghệ mRNA, mở đường tạo ra các loại vaccine ngăn ngừa Covid-19 hiệu quả.

Ngay ngày hôm sau 3.10, Ban tổ chức giải cho biết, Pierre Agostini, Ferenc Krausz và Anne L’Huillier đã đoạt giải Nobel Vật lý 2023, nhờ “các phương pháp thử nghiệm tạo ra xung ánh sáng attosecond để nghiên cứu động lực học điện tử trong vật chất”.

Ngày 4-10, ba nhà khoa học Moungi Bawendi, Louis Brus và Alexei Ekimov được Ủy Ban Nobel về hóa học ca ngợi là “những người tiên phong trong việc khám phá thế giới nano”. Ngày 5-10, Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố, tiểu thuyết gia và nhà viết kịch Na Uy Jon Fosse, 64 tuổi giành được giải Nobel văn học cho các tác phẩm “lên tiếng cho những điều không thể nói”.

Tất cả các giải thưởng Nobel có giá trị khoảng 11 triệu Krone Thụy điển, tương đương 986.000 USD. Lễ trao giải Vật lý, Hóa học, Y khoa và Văn chương được tổ chức tại thủ đô Stockholm (Thụy Điển) ngày 10-12, ngày Alfred Nobel qua đời.

Riêng giải Nobel Hòa bình là giải Nobel duy nhất không trao ở Stockholm, mà được Ủy ban Nobel của Quốc hội Na Uy trao tại thủ đô Oslo, cũng vào ngày 10-12. Giải này được coi là giải thưởng chính trị danh giá nhất thế giới.

Trong di chúc, nhà sáng lập giải Nobel nêu nguyện vọng giải thưởng lập ra để trao cho những cá nhân hay tổ chức góp phần xây dựng tình hữu nghị, huynh đệ giữa các dân tộc, cũng như giải thể hay cắt giảm quân đội ở mọi quốc gia trên thế giới.

Bài tập nâng cao sờ-ku-rờ-ty…

Ba’o Tieng Dan

Chu Mộng Long

8-10-2023

Ảnh tư liệu

Tôi nhiều lần lên tiếng yêu cầu bãi bỏ ngay quy định phiên âm tiếng nước ngoài trong sách giáo khoa. Cách phiên âm trên sách giáo khoa trước đây và cho đến bây giờ rất tùy tiện, thậm chí đọc lên nghe rất tục tĩu, phản văn hoá, vô giáo dục. Thực chất đó là tiếng bồi của kẻ vô học ở ngoài Bắc chứ tiếng bồi vô học ở trong Nam trước 1975 cũng không kinh dị như vậy.

Cách đây vài mươi năm, có thể chấp nhận cách phiên âm đó để thầy và trò dễ đọc. Nay chính Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện Đề án ngoại ngữ quốc gia rồi phổ cập tiếng Anh từ lớp 1 đến lớp 12. Riêng học đại học, sau đại học và chuẩn năng lực thầy cô giáo đều bắt buộc phải có trình độ và chứng chỉ ngoại ngữ tiêu chuẩn châu Âu hoặc bậc của khung trình độ quốc gia. Vậy mà hà cớ gì cứ phải đọc tên nước, tên địa phương, tên người của người ta bằng thứ tiếng bồi của đứa vô học?

Lẽ nào các loại bằng cấp, chứng chỉ ngoại ngữ tiêu tốn hàng ngàn ngàn tỉ đồng lâu nay đều là giả?

Hội nhập mà gọi tên người ta như thứ ngôn ngữ mách qué thì có mạo phạm người ta không?

Tôi thật ngạc nhiên là trong Chương trình 2018, ông Thuyết, ông Thống còn bắt buộc đưa vào sách bài học, bài tập riêng về cách viết phiên âm. Cả hệ thống sách giáo khoa phiên âm rất tùy tiện, không thống nhất trên một quy tắc nào cả. Khi thì phụ âm kép, nguyên âm đôi bị tách ra thành 2 âm tiết độc lập (chẳng hạn Xít-ta-lin, Anh-sờ-tanh, Xi-át-tơn…), khi thì ghép một âm (chẳng hạn Ốt-strây-lia, Pát-scan, Stiêng…), khi thì âm cuối ng giữ nguyên (King, Sing, Hê-ming-way…), khi thì biến thành nh (Kinh, Xinh, Râu-linh, Hê-minh-uê…). Kể cả thích thì bỏ dấu thanh (sắc, huyền, nặng – U-nai-tịch, Oai-chịch, Uy-lích, Mai-cồ..), không thích thì không bỏ dấu thanh. Các phụ âm khi thì S khi thì X tùy tiện, bừa bãi. Bất quy tắc như vậy thì học sinh chỉ có thuộc lòng và nhớ mặt chữ ư? Trong khi ngay ở một tập sách, chỉ một tên người, tên đất mà phiên âm thành nhiều chữ khác nhau, khi thì phiên âm theo cách đọc tiếng Pháp, khi thì theo cách đọc tiếng Anh, loạn cả lên. Tổ chức học hành như vậy thì có làm loạn não trẻ em không?

Tác hại rõ nhất là khi học tiếng Anh, trẻ em đang thẩm âm và phát âm chuẩn theo người bản ngữ thì đến khi học tiếng Việt với cách đọc phiên âm méo mó của ông Thuyết, ông Thống, tiếng Anh của trẻ em bị méo mó theo và hỏng hết.

Tôi đề nghị ông Thuyết, ông Thống chấm dứt ngay việc áp đặt tiếng bồi của các ông vào tai, vào mắt, vào não bọn trẻ. Thứ tiếng đó không chỉ làm hỏng tiếng Anh mà còn hỏng cả tiếng Việt. Sờ-ku-rờ-ty là thứ tiếng của văn hoá con heo!

Ngôi mộ được nhiều phụ nữ Paris chiếu cố

Colnav Nguyen

Quận 20 (20th arrondissement) của thủ đô Paris, nước Pháp, không có được một công trình lịch sử nào, tuy nhiên nghĩa trang Père-Lachaise lại là nơi thu hút hằng trăm ngàn du khách mỗi năm vì là nơi an nghỉ của nhiều danh nhân, xưa từ khoảng 200 năm trước cho đến thời cận đại, như nhạc sĩ Frédéric Chopin, nhà thơ Jean de La Fontaine, thi sĩ và cũng là nhà viết kịch Oscar Wilde, văn hào giải Nobel đầu tiên Sully Prudhomme, nữ ca sĩ Edith Piaf, nam ca sĩ ban nhạc The Doors của Mỹ Jim Morrison, và còn nhiều, nhiều người nữa không thể kể ra hết …

Tuy nhiên ngôi mộ của Victor Noir (1848-1870), một người mà tên tuổi không ai biết đến lại không ngày nào vắng bóng phụ nữ tìm đến. Họ không chỉ mang hoa đến thăm mà để được hôn, được vuốt ve, được sờ lên bức tượng đồng lớn bằng người thật của chàng trai trẻ, người đã qua đời lúc 22 tuổi, cách đây hơn 100 năm.

Tượng đồng của Victor Noir lớn bằng người thật, nằm dài trên mộ phần, nơi luôn có phụ nữ lai vãng chung quanh.

Ra đời ở Attigny, Đông Bắc nước Pháp, trong gia đình một người thợ đóng giày, chàng được đặt tên là Yvan Salmon nhưng về sau cải danh theo tên của mẹ thành Victor Noir, đồng thời lấy làm bút hiệu luôn khi làm nghề báo. Victor Noir lên Paris, xin làm phóng viên tập sự cho nhật báo La Marseillaise do ông Henri Rochefort làm chủ và điều hành, còn ông Paschal Grousset phụ trách phần biên tập.

Vào Tháng 12, 1869 xảy một cuộc đấu đá giữa hai tờ báo vốn do dân xuất xứ từ đảo Corse chủ trương, đó là tờ La Revanche cấp tiến, ảnh hưởng bởi ông Grousset, và tờ báo bảo hoàng L’Avenir de la Corse, do một nhân viên Bộ Nội Vụ tên Della Rocca làm chủ bút.

Tờ La Revanche viết một bài nội dung thóa mạ cố Hoàng Đế Napoleon I, khiến vào ngày 30.12, Hoàng Thân Pierre Bonaparte, thuộc đời chắc của Napoleon I và cũng là anh em họ với đương kim Hoàng Đế Napoleon III, gửi một lá thư đến chủ bút tờ L’Avenir, yêu cầu đăng nguyên văn, trong đó chê ban điều hành tờ La Revanche là hèn nhát và phản bội.

Ông Grousset phản ứng, đòi rửa nhục, đồng thời lại được thêm sự ủng hộ của tờ La Marseillaise.

Ngày 09.01.1870, Hoàng Thân Bonaparte viết cho ông Rochefort lá thư, bênh vực danh giá của dòng tộc, đòi đấu súng với ông.

Ngày hôm sau, ông Grousset phái hai phụ tá là Victor Noir và Ulrich de Fonvieille đến thương lượng, cho biết ông muốn đích thân đấu súng với ông Pierre Bonaparte.

Trái với lệ thường, hai người đến gặp thẳng Hoàng Thân Bonaparte, thay vì với phụ tá của ông này trước tiên. Mỗi người có một khẩu súng lục để sẵn trong túi. Victor Noir và de Fonvieille trao cho ông Bonaparte lá thư của ông Grousset. Đọc xong, Bonaparte khước từ, nói rằng không thèm đấu với “đầy tớ” mà muốn đấu với chủ nhân là nhà quí tộc Rochefort.

Về sau trước tòa án, Fonvieille khai rằng lúc ấy Bonaparte bèn tát vào mặt anh, đồng thời bắn chết Noir. Ngược lại, ông Bonaparte khai là Victor Noir vì cảm thấy mích lòng nên đánh ông trước khiến ông phải rút súng bắn kẻ hiếu chiến.
Tòa đứng về phía ông hoàng thân và phán quyết này khiến công chúng phẫn nộ.

Hôm 12 Tháng Giêng, dưới sự dẫn dắt của nhà hoạt động chính trị Auguste Blanqui, hơn 100.000 người đi theo quan tài của Victor Noir đến nghĩa trang ở Neuilly-sur-Seine.

Hoàng Đế Napoleon III đang lúc không được lòng dân lại gặp sự kiện Hoàng Thân Bonaparte được tha bổng tội sát nhân khiến quần chúng phẫn nộ đưa đến những cuộc xuống đường bạo động. Cộng thêm nhiều biến cố khác đưa đến cuộc chiến tranh Pháp-Nga, mà kết quả là triều đại của Napoleon Bonaparte III bị lật đổ vào hôm 4 Tháng Chín, 1870.

Năm 1891, ngay sau khi nền Đệ Tam Cộng Hòa được thành lập, thi hài của Victor Noir được dời về nghĩa trang Père Lachaise và nắm vĩnh viễn tại đây cho đến ngày nay.

Hàng chữ ghi trên mộ của Victor Noir, gần dưới chân tượng, thay cho bia đá như những mộ khác.

Nằm trên ngôi mộ mới của Victor Noir là bức tượng bằng đồng lớn bằng người thật của ông do nhà điêu khắc nổi tiếng Jules Dalou tạc. Bức tượng hiện thực đến độ nhìn vào trông như ông vừa mới bị trúng đạn, nằm ngã xuống trên đường phố, với chiếc nón rơi bên cạnh, phía dưới, gần bàn tay phải.

Chỗ “ba gết” (baguette) nơi quần của Noir, nhô lên một cách đáng chú ý. Chính điểm đặc biệt này khiến ngôi mộ trở thành một trong những ngôi mộ được nhiều phụ nữ đến thăm viếng nhất trong nghĩa trang nổi tiếng này của Paris.

Người ta truyền tụng rằng phụ nữ nào đặt hoa vào trong nón của Noir, sau khi đã hôn lên môi và sờ lên chỗ kín của tượng, sẽ được có con, có đời sống tình dục sung mãn, ngay cả người độc thân cũng sẽ có chồng nội trong một năm.

Kết quả là bất kỳ lúc nào, ai đến viếng mộ của Victor Noir cũng đều thấy chỗ môi, cằm, mũi, chỗ kín, của tượng đều luôn luôn láng bóng vì được sờ vuốt mỗi ngày.

Năm 2004, một hàng rào được dựng bọc quanh ngôi mộ của Noir để ngăn những ai mê tín tin theo những truyền thuyết ấy đến sờ vào tượng. Tuy nhiên, do gặp phải sự chống đối quyết liệt từ “giới phụ nữ của Paris,” đúng ra do sự cổ súy của bà Péri Cochin, người dẫn chương trình đài truyền hình Pháp, hàng rào cuối cùng phải được lấy đi.

Người viết này từng đến viếng ngôi mộ của Victor Noir lần đầu tiên vào năm 1983, hồi ấy cũng đã từng thấy những chỗ láng bóng nhưng khác với hiện nay là chỗ láng đều khắp mặt trên của tượng. Bạn đọc cứ tưởng tượng một thân thể trườn tới trườn lui bên trên tượng, chỗ nào tiếp xúc nhiều chỗ đó láng như vậy. Đó là ý người viết này muốn diễn tả. Hồi đó báo chí Paris viết rằng, một số phụ nữ vào lúc chiều tối ẩn nấp trong nghĩa địa, chờ đến giờ đóng cửa, mò đến ngôi mộ Victor Noir để ngủ chung với bức tượng. Sau này chỗ láng trên tượng khác với mấy chục năm trước, có thể do người ta có biện pháp để không ai có thể ngủ lại qua đêm trong nghĩa địa được, bằng cách tăng cường hệ thống chiếu sáng hoặc thêm những cách nào khác.

From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

ĐẠO LÀM NGƯỜI…

Không đau khổ lấy chi làm chất liệu

Không buồn thương sao biết chuyện con người

Không đói nghèo làm sao thi vị hoá

Không lang thang sao biết gió mưa nhiều.

Không hổ thẹn sao biết đời vinh nhục

Không đau buồn sao biết nghĩa gian nan

Không yêu thương sao biết sầu ly biệt

Không hiếu thảo sao biết đạo làm người…

QH

Khách hàng bị bệnh gan, thiệt mạng, công ty nước đóng chai ở Las Vegas phải bồi thường $228.5 triệu

Ba’o Nguoi-viet

October 6, 2023

LAS VEGAS, Nevada (NV) – Công ty nước đóng chai alkaline ở Las Vegas, Nevada, bị tòa buộc bồi thường gần $229 triệu cho nhiều nguyên đơn liên quan tới vụ khách hàng bị bệnh gan, có người thiệt mạng, sau khi dùng sản phẩm của công ty này, theo USA Today hôm Thứ Sáu, 6 Tháng Mười.

Hôm Thứ Tư, bồi thẩm đoàn ở Clark County quyết định công ty Real Water phải bồi thường thiệt hại tổng cộng $228.5 triệu. Hai công ty thiết bị thử nước cũng bị tòa buộc bồi thường.

Sản xuất nước đóng chai. (Hình minh họa: Jody Amiet/AFP via Getty Images)

Năm 2021, giới chức y tế công cộng khuyến cáo người tiêu dùng không uống nước đóng chai Real Water sau khi xác định sản phẩm của công ty này có liên hệ với bệnh gan của năm đứa trẻ được đưa vô bệnh viện. Ông Will Kemp, luật sư đại diện phần lớn nguyên đơn, cho hay nước đóng chai Real Water bị nhiễm hydrazine, loại hóa chất làm nhiên liệu hỏa tiễn.

Nguyên đơn trong vụ này có gia đình bà 69 tuổi thiệt mạng sau khi uống nước đóng chai Real Water và gia đình bé gái 7 tháng tuổi phải vô bệnh viện vì suy gan, ông Kemp cho biết.

“Sản phẩm căn bản như nước uống mà còn bị nhiễm bẩn thì làm sao người ta tin tưởng hệ thống phân phối thực phẩm,” ông Kemp nói với USA Today.

Tháng Ba, 2021, Real Water thu hồi sản phẩm sau khi nhận thấy sản phẩm của họ có lẽ liên hệ với những ca viêm gan không do virus (non-viral hepatitis) được báo cáo ở vùng Las Vegas khoảng Tháng Mười Một, 2020, theo thông báo của công ty đăng trên trang web Cơ Quan An Toàn Thực Phẩm và Dược Phẩm (FDA). Vài tháng sau, Real Water đồng ý ngưng sản xuất tới khi có thể đáp ứng tiêu chuẩn của liên bang.

Bệnh viêm gan không do virus là tình trạng gan bị sưng, có thể dẫn tới suy gan, theo Trung Tâm Phòng Ngừa Dịch Bệnh (CDC). Triệu chứng gồm sốt, mệt mỏi, chán ăn, muốn ói, ói mửa, đau bụng, nước tiểu đục, đau khớp, phân màu đất sét hoặc xám, vàng mắt, vàng da.

Tới nay, Real Water vướng hàng loạt vụ kiện liên quan tới nước uống nhiễm hóa chất. Sản phẩm của họ bán trên Amazon.com và ở nhiều tiểu bang, gồm Nevada, Arizona, California, Tennessee, New York và New Mexcio.

Đơn kiện cũng nêu Hanna Instruments và Milwaukee Instruments là bị đơn, cáo buộc thiết bị thử nước của hai công ty này bị hư, góp phần làm nước bị nhiễm hóa chất, theo ông Kemp. (Th.Long)