Cuộc đời ngắn ngủi và đầy bất trắc của con gái đầu của Lê Duẩn với Bảy Vân: Lê Vũ Anh (1950-1981)
Một bà ở Sài Gòn quay clip con trai 3 tuổi bị người tình hành hạ ‘để giải trí’
October 19, 2023
SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Mỗi khi người tình hành hạ con trai mình, một bà ở quận Tân Bình, Sài Gòn, dùng điện thoại quay lại rồi gửi cho người khác “để giải trí.”
Theo báo VNExpress hôm 19 Tháng Mười, Viện Kiểm Sát ở Sài Gòn đã hoàn tất cáo trạng truy tố cô Nguyễn Thảo Nguyên, 23 tuổi, ở quận Tân Bình, về tội “hành hạ người khác,” và ông Lê Văn Bậm, 45 tuổi, ở huyện Củ Chi, về hai tội “hành hạ người khác” và “tàng trữ trái phép chất ma túy.”
Hình ảnh bé Trần Nguyễn An T., 3 tuổi, nghi bị người tình của mẹ cho hút ma túy đá, đe dọa bạo hành. (Hình: VNExpress)
Cáo trạng cho hay năm 2018, cô Nguyên kết hôn với anh Tài, có hai con chung 5 tuổi và 3 tuổi.
Tháng Mười, 2021, anh Tài bị bắt đi cai nghiện ma túy. Trong thời gian này, cô Nguyên sống như vợ chồng với ông Lê Văn Bậm ở xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn. Hai con riêng của cô Nguyên cũng sống tại đây.
Trong lúc sống chung, ông Bậm tức giận mỗi khi bé Trần Nguyễn An T., 3 tuổi, quấy khóc nên hành hạ để hù dọa và lấy đó làm thú vui.
Cụ thể, hôm 10 Tháng Tư, 2022, ông Bậm bắt bé T. cầm chai nước suối đặt lên chiếc loa thùng cao ngang đầu, hai tay giữ chai nước suối không được bỏ xuống. Bé T. mỏi tay bỏ xuống liền bị ông ta chửi bới, dọa nạt làm cháu khóc lóc.
Khoảng 15 ngày sau, ông Bậm trói tay chân bé T., để cháu nằm dưới sàn nhà trong tình trạng không mặc quần áo. Sau đó, ông ta dùng tua vít, búa, kéo nhiều lần hăm dọa đánh vào vùng kín con riêng của người tình làm cháu sợ hãi, khóc to.
Những lần ông Bậm hành hạ con trai, cô Nguyên đều chứng kiến và dùng điện thoại di động quay lại, sau đó gửi các clip này cho người bạn xem.
Hồi Tháng Ba vừa qua, anh Tài cai nghiện xong trở về tìm cô Nguyên để thăm các con, đồng thời mượn trang Facebook của vợ (trước đó hai người cùng bán hàng online) để tiếp tục kinh doanh, thì phát hiện trong tin nhắn cô Nguyên gửi cho bạn có các clip con trai bị hành hạ, và bốn đoạn video quay cảnh ông Bậm cho con trai anh sử dụng chất ma túy.
Tức giận, anh Tài nhờ bạn đăng các clip lên mạng xã hội tố cáo hai nghi can Nguyên và Bậm, đồng thời đến công an trình báo.
Hôm 26 Tháng Ba, Công An Huyện Hóc Môn khám xét nơi ở của hai bị can Bậm và Nguyên, thu giữ 0.2 gram ma túy đá cùng dụng cụ sử dụng.
Qua điều tra, ông Bậm thừa đã hành hạ cháu T.. Còn số ma túy trên mua của một người không rõ lai lịch ở quận 1, đề sử dụng một mình. Cô Nguyên không biết việc này.
Bị can Lê Văn Bậm tại cơ quan công an. (Hình: Tường Vân/VNExpress)
Trong khi đó, cô Nguyên khai “thấy thích thú” khi nhìn người tình hành hạ con trai nên quay clip lại gửi cho bạn bè xem “để giải trí.”
Đối với bốn clip quay lại cảnh ông Bậm cho bé T. sử dụng ma túy, do thời gian xảy ra đã lâu, không thu giữ được tang vật, kết quả xét nghiệm cháu T. âm tính… nên cơ quan điều tra “chưa đủ căn cứ xử lý” ông Bậm về tội “lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy.” (Tr.N)
Nếu đây là lần cuối cùng trong đời ? Cha Phạm Quang Hồng
Mỹ không ủng hộ mọi hành động tự ý của chính quyền Do Thái, Netanyahu
Theo thời báo Nữu Ước và các báo khác.

Kenny Holston/Thời báo New York
Sau chuyến thăm của Tổng thống Biden, người Israel hôm thứ Năm đã ca ngợi lòng dũng cảm của ông khi đến vào thời điểm chiến tranh và vì sự ủng hộ hết mình của ông, khi ông cam kết “chúng tôi sẽ không để các bạn cô đơn” sau các cuộc tấn công từ Hamas bị giết tại ít nhất 1.400 người Israel.
Nhưng trong khi những lời này được hoan nghênh, cũng có lo ngại rằng Thủ tướng Benjamin Netanyahu, bị tổn hại nặng nề do không bảo vệ người Israel, đã trao cho ông Biden quá nhiều ảnh hưởng đến cách Israel hiện nên tiến hành cuộc chiến ở Gaza chống lại Hamas, nhóm mà điều khiển khu vực bao quanh.
Ông Biden ủng hộ Israel, nhưng cũng cảnh báo nước này không nên hoạt động quá mức để gây bất lợi cho mình trong khu vực – và ngầm hiểu là gây bất lợi cho Hoa Kỳ. Ông thậm chí còn tham dự nội các chiến tranh để thông báo tóm tắt về các kế hoạch của Israel, như Ngoại trưởng Antony J. Blinken đã làm trước ông.
Các nhà phân tích Israel cho biết mức độ tham vấn này rất hiếm, nếu không muốn nói là chưa từng có, ngay cả trong một mối quan hệ thân thiết như vậy. Nếu nó mang lại lợi ích tiềm tàng cho ông Netanyahu, thì nó cũng tiềm ẩn rủi ro. Nó có thể mang lại cho anh ta vỏ bọc chính trị cho một cuộc chiến kéo dài, nhưng nó cũng có thể hạn chế cách anh ta tiến hành nó.
Ngoài ra, Washington có thể bị coi là người cộng tác nếu Israel bị đổ lỗi vì đã đi quá xa.

Bà viết, ông Netanyahu “sợ” kết quả của cuộc chiến này “và rất vui khi có Biden ở đó với tư cách là đối tác. Đó là lý do vì sao ông không từ chối sự giúp đỡ như những người tiền nhiệm đã làm. Nhưng đã tự mình ôm lấy một cái ôm có thể là một cái ôm.”
Gadi Taub, một người ủng hộ ông Netanyahu lâu năm và là giảng viên tại Trường Chính sách công và Khoa Truyền thông tại Đại học Do Thái ở Jerusalem, tỏ ra gay gắt hơn khi cho rằng ông Biden đã hạn chế khả năng chiến đấu của Israel đến mức cần thiết.
“Biden đã chặn mọi con đường dẫn đến bức tranh chiến thắng rõ ràng của Israel, điều gì đó sẽ khiến kẻ thù của chúng ta thấy rõ rằng chúng ta yếu đuối và phụ thuộc vào người khác,” ông Taub nói trong một tin nhắn trên mạng xã hội X. Bất chấp lời hứa về sự đoàn kết và viện trợ, ông Biden “đã góp phần quan trọng vào việc làm nghiêng cán cân quyền lực trong khu vực theo hướng bất lợi cho chúng ta”.
Nhưng những người khác lại coi sự giám sát của Mỹ là quan trọng khi ông Netanyahu bị mất uy tín như vậy. Einat Wilf, cựu thành viên Knesset, Quốc hội Israel, từ cánh tả, khen ngợi ông Biden vì đã thừa nhận rằng ông Netanyahu đã mất quyền lực và đất nước đang rơi vào tình trạng chân không và cần cả sự hỗ trợ lẫn hướng dẫn. “Không có chính phủ,” cô viết trên mạng xã hội X. “Mỹ hiểu điều này ngay lập tức và đang hành động phù hợp.”
Akiva Eldar, một nhà phân tích đáng kính của Israel, cho biết chuyến thăm của Biden quan trọng vì hai lý do, lưu ý rằng ông Biden không có tình cảm đặc biệt với ông Netanyahu, thường được biết đến với cái tên Bibi. Ông Eldar nói: “Đối với người dân Israel, ông ấy ủng hộ Israel và nền dân chủ Israel, mặc dù coi thường Bibi.
Nhưng chuyến thăm của ông Biden “cũng sẽ kiềm chế những kẻ quá khích từ cánh hữu”, những người thậm chí đang kêu gọi Israel tái định cư ở Gaza, ông Eldar nói, và thúc đẩy ông Netanyahu suy nghĩ về việc tái cam kết đối với giải pháp hai nhà nước sau chiến tranh .
Ông Eldar, người ủng hộ việc thành lập một “chính phủ hòa bình” đoàn kết dân tộc, cho biết điều đó sẽ giúp ích cho các chính trị gia trung dung để quản lý những gì xảy ra sau khi vụ xung đột kết thúc.
Ông nói, với sự hỗ trợ của Mỹ, “Bibi (Netanyahu) sau này sẽ khó có thể lấy lại việc ủy quyền cho Mỹ tham gia chính sự ở giai đoạn sau chiến tranh”.
Thể chế, viên chức và cơ hội để lương thiện
Trân Văn
19-10-2023
Ngay cả trong việc tăng lương, bảo đảm cho cán bộ, công chức đủ sống, hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam cũng chật vật xoay chuyển trong vòng luẩn quẩn. Hình minh họa.
“…Chúng ta tạo ra tầng lớp công chức khi đi làm không bao giờ cho rằng lương là thu nhập mà thu nhập là từ những khoản khác. Chúng ta hay nói về ‘tham nhũng vặt’ nhưng tôi không đồng ý với khái niệm này vì không có loại tham nhũng nào là ‘vặt’ cả…”
Quốc hội Cộng hòa XHCN Việt Nam lại thảo luận về việc thực hiện kế hoạch điều chỉnh lương của cán bộ, công chức. Trong cuộc họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hồi đầu tuần này, khi thảo luận về kinh tế – xã hội năm nay và kế hoạch phát triển của năm tới, một trong các Phó Chủ tịch Quốc hội đã nhắc lại điều mà nhiều người, nhiều giới đã từng lập đi, lập lại trong nhiều năm: Cải cách chính sách tiền lương phải gắn với nâng cao chất lượng, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức (1).
Theo dự kiến, việc thực thi chính sách mới về trả lương cho cán bộ, công chức (trả lương theo chức vụ và mức độ phức tạp, tính chất, đặc điểm, quy mô hoạt động, đối tượng phục vụ; quy trình quản lý chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, công chức) sẽ bắt đầu từ 1/7/2024. Ông Nguyễn Khắc Định – Phó Chủ tịch Quốc hội – yêu cầu chính phủ “rà soát, sắp sếp đội ngũ cán bộ công chức, xử lý những người thiếu tinh thần trách nhiệm, làm việc cầm chừng, đùn đẩy, né tránh; đưa người vi phạm, năng lực yếu ra khỏi bộ máy”…. Đây là lần cải cách tiền lương thứ năm. Bốn lần trước diễn ra vào 1960, 1985, 1993 và 2003 nhưng từ xưa đến nay, lương trả cho cán bộ, công chức chưa bao giờ đúng nghĩa là lương. Lương trả cho cán bộ, công chức luôn như… hương, như… hoa!
Hôm qua, tại cuộc tọa đàm liên quan đến “xây dựng văn hóa liêm chính trong giai đoạn mới” do trường Luật của Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với tờ Pháp Luật TP.HCM tổ chức, ông Trần Văn Độ – cựu Phó Chánh án Tòa án Tối cao, cựu Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương – bảo rằng: Muốn liêm chính không đơn giản! Thẩm phán lương tám triệu, mà nghề giúp việc lương hơn tám triệu thì liêm chính không nổi. Người làm nghề công chức phải đủ sống với nghề, đủ sống với lương. Ở Việt Nam, ngoài lương còn thu nhập, mà thu nhập là chính và mỗi người có một kiểu thu nhập, nên từ đó dẫn tới tham nhũng. Góp thêm vào thực trạng mà các thành viên tham dự tọa đàm cùng thừa nhận là “hoạt động công vụ nhũng nhiễu dân nhiều quá”, ông Độ lưu ý: Trong xã hội hiện nay không phải ai cũng chính trực được đâu, bởi không liêm khiết được (2)!
Trước đó, trong một tọa đàm khác, ông Ngô Thế Vinh – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Dược phẩm Vinh Gia – cũng nhận xét tương tự về lương cán bộ, công chức, đại ý: Chúng ta tạo ra tầng lớp công chức khi đi làm không bao giờ cho rằng lương là thu nhập mà thu nhập là từ những khoản khác. Chúng ta hay nói về “tham nhũng vặt” nhưng tôi không đồng ý với khái niệm này vì không có loại tham nhũng nào là “vặt” cả. “Vặt” chỉ là với một người còn nếu mỗi ngày lấy 200.000 của một người nhưng thu mức đó với 100 người thì sẽ là bao nhiêu? Đó không phải là “vặt” nhưng lại được xem là rất bình thường vì nó là thu nhập chính của công chức, cho nên mới có những viên chức cao cấp biện minh “không nhận thức được đấy là tham nhũng” bởi họ đã nhận như thế suốt mấy chục năm không những không việc gì mà còn lên cao dần…
Ông Vinh nhấn mạnh: Ở đất nước này ai cũng biết điều ấy kể cả những vị quan tòa đang ngồi xét xử. Song nói đi thì phải nói lại, tại sao người ta làm như vậy. Chuyện trở thành rất bình thường vì xã hội chúng ta, cơ chế này, chính thể này tạo ra điều đó. Muốn sửa không đơn thuần là tống giam vì làm như thế có lẽ sẽ có đến 90% công chức vướng lưới. Cho nên không phải là nhắm vào từng con người mà phải thay đổi. Bất kỳ ai đi làm trước hết cũng vì cuộc sống của chính mình. Trong hòa bình, những người đứng đầu đất nước phải làm thế nào để con người có thể phát huy năng lực, có thu nhập cao, có cuộc sống tốt nhưng không phạm tội. Muốn thay đổi thì phải tăng lương, giảm biên chế. Một công chức đi làm phải nuôi được vợ con thì mới không nghĩ đến việc khác. Ngược lại thì như đã thấy. Đây là lỗi hệ thống, chúng ta phải thay đổi (3)…
***
Ngay cả trong việc tăng lương, bảo đảm cho cán bộ, công chức đủ sống, hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam cũng chật vật xoay chuyển trong vòng luẩn quẩn. Muốn tăng lương để nâng cao hiệu quả hoạt động thì phải tinh giản nhưng càng tinh giản thì bộ máy càng phình ra. Bộ máy quá cồng kềnh thì lương chỉ có thể như đã biết và đang thấy, chưa kể điều đó khiến các hệ thống chỉ có thể thu nạp những cá nhân xem việc gia nhập là cơ hội kiếm tiền bằng nhũng nhiễu.
Chẳng quốc gia nào có thể phát triển nếu phần lớn nội lực được trút vào việc nuôi bộ máy quản trị, điều hành. Lấy gì bảo đảm điều chỉnh lương của cán bộ, công chức sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động khi tuyển dụng, bổ nhiệm vẫn theo phương thức “hồng hơn chuyên” và chính phương thức này đã tạo ra bộ máy vừa cồng kềnh, vừa kém năng lực? Khi tinh giản được xem là điều kiện cần và đủ để thực thi tiêu chí cán bộ, công chức phải sống được bằng lương nhưng vẫn duy trì hai hệ thống – một do đảng thiết lập để chỉ đạo, giám sát và một vận hành hệ thống công quyền thì tiền đâu để tăng lương, tiền đâu để thực hiện các kế hoạch phát triển? Bởi cả hai hệ thống giống hệt nhau, trong khi cần tinh giản số cán bộ, công chức hưởng lương, nhận phụ cấp, giữa thập niên 2010, giới lãnh đạo đảng CSVN bắt đầu xiển dương “nhất thể hóa”…
“Nhất thể hóa” là gom bộ phận lãnh đạo đảng và lãnh đạo bộ máy công quyền ở các cấp, các ngành, các địa phương thành một nhằm giảm sự cồng kềnh, chồng chéo khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Song chưa biết vì sao “nhất thể hóa” lại chết non sau khi thử nghiệm ở cấp xã, cấp huyện tại Quảng Ninh và cấp xóm, thôn, tổ dân phố ở Hà Nội. Có thể vì giảm số lượng nhân sự theo kiểu “nhất thể hóa” đụng chạm đến quyền lợi của nhiều băng nhóm. Cũng có thể vì “nhất thể hóa” làm diện mạo của “dân chủ XHCN” biến dạng, bởi làm như thế, đảng sẽ hiện nguyên hình là “độc tài” và không còn cơ hội biện minh trước chỉ trích “đảng trị”. Thôi thì chúc cán bộ, công chức may mắn khi phục vụ “sự nghiệp cách mạng” – sự nghiệp mà liêm chính hay không phụ thuộc hoàn toàn vào may rủi, vào việc có bị đưa vào diện cần trừng trị để… “làm gương” hay không.
Chú thích
(3) https://www.facebook.com/watch/?extid=CL-UNK-UNK-UNK-AN_GK0T-GK1C&mibextid=Nif5oz&v=303516455610206
Điều Bất Ngờ Thứ 7: Bạn bắt đầu sống biến cố Nhập Thể-Cha Vương
TRUYỀN GIÁO THEO GƯƠNG MẸ TÊRÊSA – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt
S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Đường phía Bắc
Tác Giả: Tưởng Năng Tiến
Lúc còn tại thế, có lúc, ông Phạm Văn Đồng đã phải đối diện với một câu hỏi khó:
“Xin thủ tướng cho biết ý kiến về sự kiện thuyền nhân hồi 1975, nhất là hồi 1978, 1979… Về nguyên nhân và trách nhiệm trong những sự kiện ấy, với những hiện tượng bán bãi thu vàng và khá nhiều tầu, thuyền bị hải tặc bão tố và chìm trong đại dương… Là người đứng đầu chính phủ, một trong những người lãnh đạo cao nhất của đảng cộng sản, thủ tướng nhìn nhận ra sao trách nhiệm của mình trong cuộc di dân rộng lớn và bi thảm ấy?” (Bùi Tín, “Hai Câu Hỏi Cần Trả Lời Rõ Ràng Trước Khi Thế Kỷ 20 Khép Lại,” Cánh Én, Feb.1999:05).
Phạm Văn Đồng, tất nhiên, không “nhìn nhận trách nhiệm” gì ráo trọi. Và đây là thái độ chung của giới hữu trách ở Việt Nam – theo như nhận xét của ông Ngô Nhân Dụng: “Khi thấy dân tố cáo bất cứ cái gì, phải chối ngay, phải lấp liếm, bịa đặt, bưng bít, bằng bất cứ cách nào, không bao giờ nhận lỗi.”
Ông nhà báo này nói tầm bậy tầm bạ như vậy mà … không trật. Khi được phóng viên báo Nhân Dân, số ra ngày 31 tháng 8 năm 1987, hỏi về cuộc “di dân rộng lớn và bi thảm ấy,” Trung Tướng Nguyễn Đình Ước (Viện Trưởng Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam) đẩy cây như máy:
“Đó là chuyện có thật … Đã có một bộ phận người Việt Nam bỏ đất nước ra đi. Không ít người đã thiệt mạng trên biển do bị chìm thuyền, bị bọn đưa người vượt biên trái phép lừa gạt giết chết. Đó đúng là một thảm cảnh nhưng là hệ quả do những chính sách chống phá Việt Nam từ bên ngoài.”
Mới đây, ông Dương Trung Quốc mô tả đó là một “vết thương lịch sử” nhưng (sau một lúc quanh co) ông kết luận rằng là nó sắp … lành đến nơi rồi : “Tôi không nghĩ kiều bào còn lấn cấn nhiều về chế độ chính trị, có lẽ chỉ còn ở một thế hệ nào đó do hoàn cảnh lịch sử.”
Cái “hoàn cảnh lịch sử” này ra sao là điều mà ông Tổng Thư Ký Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam không muốn nói đến. Ông Trương Tấn Sang cũng vậy:
“Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, luôn mong muốn và làm hết sức mình để hỗ trợ đồng bào đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, hòa nhập vào cộng đồng dân cư trên đất nước cư trú…”
Dưới mắt nhìn của những người cầm quyền ở Việt Nam thì mấy triệu thuyền nhân cứ y như một đám người từ trên trời rớt xuống, tứ tán khắp năm Châu. Đảng và Nhà Nước đã gom cái tập thể này lại và biến họ thành cục bột, muốn nắn bóp nó ra sao – tùy thích.
Có lúc Nhà Nước mô tả những kẻ ra đi là một lũ người “bất hảo, cặn bã của xã hội, ma cô, đĩ điếm, trộm cướp, trây lười lao động, ngại khó ngại khổ, phản bội tổ quốc, chạy theo bơ thừa sữa cặn… ”. Không hiểu đám thuyền nhân đã hành nghề ma cô, đĩ điếm và tổ chức trộm cướp ra sao – nơi đất lạ quê người – nhưng số lượng bơ thừa sữa cặn mà họ đều đặn gửi về cố hương đã cứu toàn dân, cũng như toàn Đảng, thoát chết (đói) nhiều phen.
Từ đó, Đảng ta đổi giọng : những kẻ phản bội tổ quốc không những đều được “khoan hồng” mà còn được “tôn vinh” như “những sứ giả Lạc Hồng,” và (bỗng) trở thành “một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc,” hay “là cầu nối phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước trên thế giới…”
Thiệt khoẻ!
Thế còn chính những thuyền nhân họ nghĩ sao? Theo nhận xét của giáo sư Nguyễn Văn Tuấn thì dường như đây là một đám đông thầm lặng, không nghe ai lên tiếng nói năng gì hết trơn hết trọi : “Đúng là một cuộc di tản qui mô lớn chưa bao giờ có trong lịch sử Việt Nam. Nhưng không có ai của Nhà nước chính thức ghi nhận sự kiện này. Tôi chưa bao giờ nghe / đọc một người từ miền Bắc nhắc đến sự kiện này.”
Nói nào ngay thì có nhưng rất ít. Lý do giản dị chỉ vì những nạn nhân của những biến cố kinh hoàng, vượt ngoài sức chịu đựng bình thường của con người, thường không mấy ai muốn nhắc đến những kinh nghiệm hãi hùng mà họ đã phải trải qua. Đây là hội chứng PTSD (Post Traumatic Stress Disorder) theo như ghi nhận của DSM – IV – TR (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorder, Fourth Edition. Text Revision. Washington, DC, American Psychiatric Association, 2000 – cẩm nang của khoa Tâm Thần Học).
Hiện tại, trên bàn viết của chúng tôi chỉ có hai cuốn sách thuộc loại này:
- Góc Bể Bên Trời của Võ Hoàng có lẽ là tác phẩm đầu tiên, viết về chuyện vượt biên, tạp chí Nhân Văn (California) xuất bản năm 1984. Tác giả vốn là một ngư dân ở Rạch Giá đã ghi lại một cuộc vượt biển “phụ,” một đoạn đường đi “thêm” từ vịnh Thái Lan đến tận Úc Châu – trên một chiếc thuyền con mong manh, thiếu thốn tất cả những phương tiện, những điều kiện cần thiết tối thiểu cho một hải trình dài dặc, và có trăm ngàn thứ gian nguy – của chính ông và bè bạn.
- Buồn Vui Đời Thuyền Nhâncủa Lâm Hoàng Mạnh, Tiếng Quê Hương (Virginia) xuất bản năm 2011. Đây là tập hồi ký dầy hơn ba trăm trang của một y sĩ kiêm văn sĩ, ghi lại hết sức sống động và chi tiết cuộc trốn chạy của những người Việt gốc Hoa từ bến Tam Bạc (Hải Phòng) qua Hồng Kông, và điểm đến cuối cùng là Anh Quốc.
Trang sổ tay hôm nay chúng tôi xin dành để giới thiệu một tác phẩm khác ( Đường Phía Bắc) của nhà văn Lê Đại Lãng, tuần báo Trẻ (Texas) xuất bản đầu năm 2012, viết về “hành trình của những người hướng Bắc sinh và sống từ cầu Hiền Lương đến nàng Tô Thị.”
Tác giả là một thuyền nhân đi từ phía Nam nhưng có một thời gian dài làm việc thiện nguyện trong những trại tị nạn, ở Hồng Kông. Ông cũng là tác giả của tập bút ký Nước Mắt Trong Tim do tạp chí Người Dân (California) xuất bản năm 1990, và tiểu luận Vietnamese-English Bilingualism: Patterns of Code-Switching – Routledge Studies in Asian Linguistics – xuất bản năm 2003, ký tên thật là tiến sĩ Hồ Đắc Túc.
Trong phần lời tựa của Đường Phía Bắc, Lê Đại Lãng tâm sự :
“Tôi viết lại những mẩu chuyện nho nhỏ mà các bạn đã kể cho tôi nghe như một người nghèo thiếu áo, chắp lại những mẩu áo đủ màu đủ cỡ, lành có rách có, đậm có nhạt có, để ráp thành một cái áo vụng về xấu xí mặc cho qua rét mướt mùa đông. Dù cho công tôi chắp vá mà thành, nhưng chất liệu vẫn là các bạn, nếu có chỗ nào (nói cho le) là hư cấu thì cũng xin coi là cái cúc áo đơm vào để gài kín ngực. Bỏ cái cúc ra, áo vẫn hoàn áo, vải gấm hay vải thô vẫn là của các bạn. Vốn liếng và chất liệu đã làm nên cuốn sách này là từ đời sống của các bạn tôi… và những hạt mưa dầm.”
“Những mẩu chuyện nho nhỏ” của người đi từ phía Bắc và những kẻ đi từ phía Nam, gần như, chả khác gì nhau. Đều là những chuyện nát lòng, và những mảnh đời tơi tả, của những kẻ bị đẩy đến bước đường cùng không còn lựa chọn nào khác nên phải (đành đoạn) rời bỏ quê hương đâm sầm ra biển – như một cách lao đời vào cái chết để tìm sự sống.
Người ta ước đoán chừng vài trăm ngàn thuyền nhân đã vùi thây trong lòng biển cả (*). Những kẻ thoát chết đến được bến bờ không nhất thiết đã là những người may mắn. Đường Phía Bắc là tác phẩm viết về họ, những kẻ trong các trại cấm ở Hồng Kông sau giờ khắc định mệnh “0 giờ ngày 16 tháng 6 năm 1988” – giờ khắc mà nhiều trại tị nạn ở Đông Nam Á đã đột ngột biến thành những trại tù, qua ngòi bút của Lê Đại Lãng :
“Những dãy nhà lợp tôn dài hai mươi chín mét, rộng sáu mét trống trải không có giường nhét đủ ba trăm mạng người. Hải băng qua những đường rãnh lềnh bềnh rác lẫn với phân người, theo trưởng buồng lách chân giữa một lối đi hẹp giữa buồng, hai bên thùng bọng la liệt, kẻ nằm người ngồi tràn lan trên nền đất rin rỉn nước.”
Và đây là vài mẩu đối thoại của những con người sống trong vòng rào của những trại cấm này:
- Tiên sư con cái nhà ai mà cứ ỉa tòe loe ra đấy. Bẩn đéo chịu nổi.
- Giọng một bà trả đũa:
- Con cái nhà bà đấy. Nó muốn ỉa đâu thì nó ỉa, bà thách thằng chó nào đụng tới nó coi nào.
- Gã đàn ông bị chạm tự ái, cáu :
- Ỉa thì có nhà cầu, cứ tươm cả ra đấy thì cái nhà này biến thành lăng bác cả à!
- Tiếng cười rúc rích thú vị, chị đàn bà đổi hướng:
- Có giỏi thì đứng ở Ba Đình nói câu ấy. Qua đây nói ai nghe nào. Lũ hèn…!
- Thằng bé cắt lời mẹ, ré lên đòi chùi đít. Bà mẹ bảo: “Cứ chờ đấy, chừng nào nước mở hẵng rửa”.
- Thằng bé dang dang hai chân đi về giường. Có tiếng la dẫy nẩy: “Coi chừng nó ngồi lên giường là khốn đấy. Địt mẹ, biết thế này ông thèm vào”.
- Ở trong những trại tị nạn này, trẻ con Việt Nam không biết nói tiếng “không.”
- Chúng thay bằng tiếng khác :
- Tao đéo thèm chơi với mày nữa
- Tao đéo vào
- Mầy có cái đó không?
- Đéo có.
Những mảnh đời méo mó qua những mẩu đối thoại thô tục (thượng dẫn) của những kẻ may mắn sống sót đến được bến bờ, cùng với oan hồn của hàng triệu sinh linh dưới đáy biển sâu không thể nói lấp liếm cho qua chuyện (”Tôi không nghĩ kiều bào còn lấn cấn nhiều về chế độ chính trị, có lẽ chỉ còn ở một thế hệ nào đó do hoàn cảnh lịch sử”) theo cái kiểu xuê xoa của ông Dương Trung Quốc. Cũng không thể yêu cầu những quốc gia láng giềng đục bỏ những bia tưởng niệm thuyền nhân là kể như huề – như cách hành xử của ông Trần Đức Lương.
Họa cộng sản sẽ qua, và sắp qua. Ngoài chuyện Thu Vàng Bán Bãi Vuợt Biên, còn nhiều “vụ động trời” khác nữa – như C.C.R. Đ, Nhân Văn, Xét Lại, Thảm Sát Mậu Thân, Đổi Tiền, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Mười Ngày Học Tập, Khai Thác Bauxit, Vinashin … – cần phải được ghi nhận, và xét xử minh bạch, trong tương lai gần.
Vấn đề không phải là để tầm thù hay báo oán. Điều này hoàn toàn không cần thiết, và hoàn toàn đi ngược lại với truyền thống văn hoá bao dung dân tộc Việt. Tuy nhiên, quá khứ cần phải được thanh thoả để chúng ta an tâm hơn khi hướng đến tương lai.
Tưởng Năng Tiến
3/2012
(*) Death Tolls and Casualty Statistics Vietnam – Vietnamese Boat People
- Jacqueline Desbarats and Karl Jackson (“Vietnam 1975-1982: The Cruel Peace”, in The Washington Quarterly, Fall 1985) estimated that there had been around 65,000 executions. This number is repeated in the Sept. 1985 of State Bulletinarticle on Vietnam.
- Orange County Register(29 April 2001): 1 million sent to camps and 165,000 died.
- Northwest Asian Weekly(5 July 1996): 150,000-175,000 camp prisoners unaccounted for.
- Estimates for the number of Boat People who died:
- Elizabeth Becker (When the War Was Over, 1986) cites the UN High Commissioner on Refugees: 250,000 boat people died at sea; 929,600 reached asylum
- The 20 July 1986 San Diego Union-Tribunecites the UN Refugee Commission: 200,000 to 250,000 boat people had died at sea since 1975.
- The 3 Aug. 1979 Washington Postcites the Australian immigration minister’s estimate that 200,000 refugees had died at sea since 1975.
- Also: “Some estimates have said that around half of those who set out do not survive.”
- The 1991 Information Please Almanaccites unspecified “US Officials” that 100,000 boat people died fleeing Vietnam.
- Encartaestimates that 0.5M fled, and 10-15% died, for a death toll of 50-75,000.
- Nayan Chanda, Brother Enemy(1986): ¼M Chinese refugees in two years, 30,000 to 40,000 of whom died at sea. (These numbers also repeated by Marilyn Young, The Vietnam Wars: 1945-1990 (1991))
- Rummel
- Vietnamese democide: 1,040,000 (1975-87)
- Executions: 100,000
- Camp Deaths: 95,000
- Forced Labor: 48,000
- Democides in Cambodia: 460,000
- Democides in Laos: 87,000
- Vietnamese Boat People: 500,000 deaths (50% not blamed on the Vietnamese government)
-
- Vietnamese democide: 1,040,000 (1975-87)



















