Cuộc đời ngắn ngủi và đầy bất trắc của con gái đầu của Lê Duẩn với Bảy Vân: Lê Vũ Anh (1950-1981)

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả:  Nguyễn Văn Lục

Lê Vũ Anh (1950-1981)

Victor Maslov, nói về quyển Daring to touch Radha ( tạm dịch “ Dám chạm vào Radha )

“Tác phẩm này là tâm sự của tôi. Tôi đã cố gắng truyền tải những sự kiện và những cuộc trò chuyện một cách trung thực, nhưng tôi vẫn không biết điều gì ẩn giấu đằng sau chúng.”

Victor Maslov, Daring to touch Radha

Maslov Viktor Pavlovich:

“Tôi là một nhà toán học chuyên nghiệp. Đã viết câu chuyện “Tình yêu không vũ trang“ dưới bút danh, mặc dù nó là tự truyện. Năm 1989, kiểm duyệt khá gắt gao, dưới tên họ của tôi, tôi không thể phát hành. Bằng tiếng Anh, câu chuyện đã được xuất bản dưới họ của tôi với tiêu đề “Daring to Touch Radha” (nó nằm trên trang của tôi). Bút danh của tôi đã được tiết lộ khá sớm, vì câu chuyện này đã được bạn bè của tôi biết đến. Bây giờ tôi có thể tiết lộ những cái tên khác mà tôi đã phải mã hóa các ký tự chính.

Có lẽ mọi chuyện đã có thể khác đi nếu ngay từ đầu tôi biết Lê Vũ Anh là con gái của ai. Khi sự thật được phơi bày thì đã quá muộn. Tôi đã yêu điên cuồng và không thể từ chối nó.

Tôi hy vọng mong manh là không phải như vậy. Tội tình gì mà con gái ông phải gánh cái hệ lụy ấy chứ? Phải thú thực rằng TBT đảng cộng sản như Lê Duẩn-quyền năng có thể nói là bao trùm thiên hạ một cách tuyệt đối như một thứ Ông Trời con thì những gì thuộc gia đình ấy, dù là con cái, những tình cảm riêng tư, cuộc sống của mọi thành viên trong gia đình đều không thuộc về họ..

Vì lợi ích chính trị. Vì quyền thế, nhân danh  tiếng nói của dân tộc, tiếng nói của TBT trở thành tiếng nói tuyệt đối của một thứ ông Trời con.(Tiếng nói của người dân là tiếng nói của Thượng Đế.)

Vài lời giới thiệu của người viết bài này

Nhiều người rất dị ứng với các chế độ độc tài – dù là độc tài cá nhân hay độc tài đảng trị. Việt Nam hiện bị cai trị bởi một trong những chế độ độc tài ấy mà chính ông Lê Duẩn (1907 – 1986) đã tỏ ra là một người sắt máu với dân miền Nam.

Như nhiều người dân miền Nam, tôi rất dị ứng và căm ghét với Lê Duẩn cũng như những người cộng sản khác khác như Trường Chinh, Đỗ Mười, v.v.

Nhiều người vì những người như ông Duẩn mà đã phải liều mạng sống mình và vợ con đã phải bỏ nước ra đi.

Sự hận oán là không tả xiết.

Cuộc đời chính trị của ông đã là một lẽ, Lê Vũ Anh, con gái đầu lòng với bà vợ thứ hai – bà Bảy Vân (Nguyễn Thụy Nga) – phải chăng cũng mang một phần cái nghiệp của cha theo cách mà người đời thường nói: Đời cha ăn mặn, đời con khát nước.

Lê Duẩn và con gái Lê Vũ Anh (1950-1981)

Nhưng ngày nay, người ta nhận thức rõ ra được rằng, ngay cả những ông trùm cộng sản như Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, đến Hồ Chí Minh, Lê Duẩn họ trở thành nạn nhân của chính họ, nạn nhân của cái guồng máy đảng mà họ dựng lên.

Cái chính họ không thể thoát ra được.

Tuy nhiên, phải thấy rằng quyền lực có cái quyến rũ đến độ con người như những con thiêu thân lao vào ánh sáng, vì những đặc quyền trước mặt. Cho nên, trong một chế độ độc tài cá nhân hay độc tài đảng trị thì chuyện con cái họ được ưu đãi cách này khác là một việc rất bình thường đến hiển nhiên.

Không được ưu đãi mới là điều bất thường.

Nhưng con  cái của một người độc tài được ưu đãi đặc quyền vị tất đã là điều hay. Đôi khi họ trở thành nạn nhân của chính cái quyền uy ấy. Phải chăng Bà Lê Vũ Anh nằm trong số nạn nhân ấy, nạn nhân của cái quyền uy của chính cha mình?

Cái mâu thuẫn của người viết là có phần oán giận Lê Duẩn, giận oán cái guồng máy ấy, nhưng càng giận bao nhiêu lại càng thương cho số phận vắn vỏi và cuộc đời đầy bất trắc của bà Lê Vũ Anh.

Hận một phần mà thương bà thì đến hai ba phần. Đấy cũng là cái điểm nhược của những người Quốc gia miền Nam. Vì thế mà có bài viết này như nhắc lại số phận mong manh của một người phụ nữ thay vì phê phán một chế độ độc tài.

Đã thế, trong những tình trạng chiến tranh hoặc hoàn cảnh chính trị cực đoan, khắc nghiệt nói chung, phần thiệt thòi không hẳn chỉ người dân mà cái phần lớn vẫn là phụ nữ, những người gánh chịu nhiều hơn cả. Điều ấy xưa nay thường thấy trong thời chinh chiến; khi chồng xông pha nơi lằn tên lửa đạn, thì người ở lại trong khung cửa lo lắng trông chờ khổ cả trăm bề.

Nỗi khổ ấy đã để lại trong văn chương như trong Chinh Phụ Ngâm, trong Cung Oán ngâm khúc và trong cả truyện Kiều.
Nhưng nói đi thì cũng phải nói lại; qua câu chuyện bà Lê Vũ Anh, ngoài con cái của Lê Duẩn, còn có con cái của Võ Nguyên Giáp, và con của Chủ tịch thành phố Hà Nội. Họ đều là những kiều nữ đều được ân điển, đều được gửi sang học ở bên Nga. Nhưng xem ra số phận của họ có phần may mắn hơn bà Lê Vũ Anh, dù cũng có chung một hoàn cảnh xã hội, chung một thế hệ và cùng theo học dưới mái trường ở Liên Xô.

Nói như thế là đổ thừa cho số phận rồi và như thế thì trách ai bây giờ.

Nói cho cùng, phải chăng số phận của bà Lê Vũ Anh đã được chính cha ruột của mình định đoạt vì ý hướng mong muốn con gái thành công. Lê Duẩn, dù là cộng sản thứ thiệt, cả đời vẫn dành những gì tốt nhất, an toàn nhất cho con.

Ý hướng tốt đẹp ấy tại sao trở thành nỗi bất hạnh? Có thể, nếu làm trái ý của cha sẽ là điều không thể tha thứ chăng? Như một cái vòng luẩn quẩn của một guồng máy không có lối thoát.
Đây có thể là mấu chốt của vấn đề và cần tìm ra được câu trả lời thích đáng và công bằng nhất.

Được biết sau ngày quy định di chuyển của dân hai miền theo của Hiệp Định Genève, Lê Duẩn đã quyết định ở lại miền Nam chiến đấu. Nhưng ông vẫn cẩn thận gửi vợ con ra Bắc. Sự an toàn của vợ con ông đã được cân nhắc kỹ càng và chu đáo.
Nhưng lúc mà Trung Hoa và Việt Nam còn thuận hảo thì Vũ Anh và bà mẹ, vốn gốc Tàu, được gửi sang Bắc Kinh để ăn học.
Vũ Anh đã sống nhiều năm bên Tàu cho đến khi tình hình căng thẳng giữa Trung Hoa với Việt Nam.

Xin nhường lại cho Maslov:

Maslov viết “Truyện trinh thám thường mô tả các sự kiện và cuộc trò chuyện, và người ta chỉ biết được suy nghĩ của các anh hùng ở cuối truyện. Tác phẩm này là tâm sự của tôi. Tôi đã cố gắng truyền tải những sự kiện và những cuộc trò chuyện một cách trung thực, nhưng tôi vẫn không biết điều gì ẩn giấu đằng sau chúng. Vì vậy, sẽ không có giải pháp cho bí ẩn ở cuối sách. Tôi đã cố gắng trích dẫn lời nói trực tiếp một cách chính xác. Có lẽ tôi đã quên điều gì đó, trình bày một câu chuyện lộn xộn hoặc bỏ sót một số dữ kiện, nhưng xác suất như thế không cao lắm. Sẽ rất thú vị nếu so sánh truyện của tôi với bản ghi âm các cuộc trò chuyện được thực hiện vào thời điểm đó.”

Tài liệu tham khảo là Hồi Ký của Viktor Maslov, con rể cố TBT Lê Duẩn do Phan Độc Lập dịch. Người viết bài xin dùng bản dịch của Phan Độc Lập.

Từ đây sẽ gọi là Hồi ký.

Người viết xin chép sơ lược phần tài liệu và góp phần giải thích bằng vài nhận xét cá nhân nhằm làm sáng tỏ những khúc mắc.
Hồi Ký này được coi như tài liệu khả tín nhất về bà Lê Vũ Anh. Vì hơn ai hết Maslov là người thân nhất, gần kề nhất với bà. Maslov (15 tháng 6, 1930, hiện 92 tuổi)(2) viết về nguồn gốc của bà Bảy Vân, vốn được dấu kín:

Bà Bảy Vân (Thụy Nga), mẹ của Lê Vũ Anh

“Sau này tôi được biết, dòng máu đang chảy trong cơ thể không chỉ dòng máu Việt Nam, mà một phần trong đó có dòng máu Trung Hoa. Mẹ nàng, bà Bảy Vân mang trong người một phần tư dòng máu Trung Hoa. Ở Việt Nam, không ai biết về điều này, gia đình đã dấu kín “mối quan hệ huyết thống” với người Trung Hoa của mẹ nàng. Sự thật là nàng khi còn nhỏ đã sống nhiều năm ở Trung Quốc. Bạn thân của nàng là con gái Đặng Tiểu Bình, người đã từng là bạn của bố nàng và là người số hai dưới bầu trời Trung Quốc sau Mao. Với người cầm lái vĩ đại, nàng cũng đã quá quen thuộc. Nàng đã cho tôi xem một bức ảnh nàng đang ngồi trên đùi của Mao.”
Năm 1964, bà Bảy Vân (Thụy Nga) quyết định trở về miền Nam nên giao con gái cho em của Lê Duẩn. Bà Vũ Anh lúc bấy giờ 14 tuổi, là học sinh giỏi miền Bắc và được kết nạp Đảng từ năm lớp 10. Tới năm 1973, 23 tuổi bà Vũ Anh mới gặp lại mẹ mình ở Moskva.
Sau đó bà được gửi sang Moskva, bà theo học ngành toán vật lý ở khoa Vật lý, đại học Tổng hợp Lomonosov. Cùng khoa này còn có Võ Hạnh Phúc, con gái tướng Võ Nguyên Giáp.
Theo Maslov, bà Lê Vũ Anh say mê toán và có tham dự một lớp chuyên đề do Viktor Maslov trực tiếp giảng; khi những sinh viên khác bỏ học hết thì cuối cùng chỉ còn hai người thảo luận với nhau. Khởi đầu của mối tình Thầy-Trò đuổi bắt-trốn chạy lúc ban đầu cũng là lẽ thường tình, theo Maslov:
“Khi nàng ở lại một mình với tôi, nàng luôn luôn khiêm tốn, giữ khoảng cách và giữ mình rất đúng mực, nhưng tôi có cảm giác nàng đang phải đấu tranh dữ lắm với những cảm xúc của mình. Có một lần trong buổi hẹn hò định kỳ ở nhà nghỉ ngoại ô của tôi, suýt chút nữa thì nàng đã không làm chủ được mình.

Tôi không thể biết được, kết quả sau đó sẽ ra sao khi chúng tôi quấn chặt lấy nhau với những nụ hôn sâu đặm nồng nàn nếu như không có tiếng chuông gọi cửa bất ngờ vang lên của người hàng xóm. Tôi ra và nói chuyện ngoài cổng với người hàng xóm chỉ khoảng 5 phút không hơn, lúc quay lại thì phòng trống không. Nàng đã vọt ra ngoài qua cửa sổ, thức tỉnh từ sự quyến rũ của tình yêu và bỏ chạy về nhà.

Tôi hiểu, nàng đã phải trải qua thử thách quá lớn như thế nào khi tìm và đạt bằng được tình yêu của mình với một người đàn ông Âu Châu.”

Lê Vũ Anh cho thấy đã say mê cuồng nhiệt lao vào cuộc tình bất kể các tiêu chuẩn đạo đức truyền thống kéo dài hàng thế kỷ, cũng dẫm đạp lên kỷ luật nội bộ trong Đảng và các mối quan hệ quốc tế của cha.

Đúng như nhận xét của Maslov:

“Tình yêu của chúng tôi có thể làm tổn thương đến ba của nàng, trở thành con át chủ bài của các đối thủ trong cuộc đấu đá quyền lực. Phía sau lưng ông là Trường Chinh, đối thủ chính trị cạnh tranh đã từng là Tổng Bí Thư trước ông. Lê Duẩn định hướng phát triển kinh tế của đất nước theo mô hình Liên Xô, còn Trường Chinh muốn theo mô hình của Trung Quốc. Nàng tính toán rằng, Việt Nam sẽ sụp đổ nếu đối thủ của ba nàng giành được quyền lực. Và Liên Xô cũng mong muốn điều đó xảy ra.”

Nhưng rồi thực tế cái gì phải đến, sẽ đến, Maslov đề nghị làm đám cưới. Vũ Anh từ chối viện cớ rằng hai nước đã có thỏa thuận ngăn cấm công dân Xô Viết và Việt nam cưới nhau. Sau đó Lê Vũ Anh đã trốn biệt khi kỳ nghỉ hè bắt đầu. Cuộc trốn-đuổi vẫn tiếp tục mà nhiều phần gạo đã thành cơm. Maslov đã không đủ kiên nhẫn, nhất quyết truy tìm nàng. Ông viết:
“Tôi không thể chịu đựng được nữa và quyết định gọi điện thoại tới bà Trưởng Khoa quản lý sinh viên nước ngoài:

– Bà có thể cho tôi biết sinh viên Lê Vũ Anh hiện đang ở đâu không ạ? Cô ấy ở Khoa chúng tôi và cô ấy đã đạt được nhiều kết quả tốt.

– Vũ Anh đã lấy chồng là đồng hương; cậu ấy cũng là sinh viên của trường ta; cô ấy đã về nước. Tên cậu sinh viên ấy là Văn. Họ sẽ trở lại cuối tháng này cùng với ba của cô ấy. Ông ấy sẽ gặp Brezhnev, bà trưởng khoa khẽ trả lời.

Tôi gần như ngã quỵ khi nghe điều này. Gặp gỡ với Brezhnev cuối tháng này ư? Chắc chắn phải là Lê Duẩn.”

Biết là mình đang đùa với lửa, nhưng Maslov vẫn tiến tới, một cuộc dàn cảnh với sự có mặt của Phúc làm trung gian. Sau đó, Maslov đã thuyết phục được nàng đến nhà nghỉ ngoại ô của ông cùng với Phúc. Rồi còn thuyết phục được nàng ly dị với chồng để hai người có thể kết hôn.

Đây là một cuộc săn đuổi ngoạn mục, đầy đam mê và quyến rũ giữa một người đàn ông dạn dầy kiến thức, lại đầy quyền lực, giao du rộng rãi, quen đủ giới thượng lưu trí thức, giới chính trị gia và một người con gái mà tuổi đời mới chập chững còn rất nhiều non nớt.

Sự áp đảo ấy mấy ai có thể trốn tránh được.

Hồi ký của Maslov cho thấy rằng ông đã tìm đủ mọi cách bằng sự quảng giao để giữ và bảo vệ Lê Vũ Anh và con của hai người sau này bằng mọi giá.

Điều này nếu xét về quy luật thiên nhiên giữa muôn loài là điều hiểu được. Các con đực thường khỏe mạnh, sức vóc to lớn đế chế ngự và bảo vệ các con cái. Nhiều loài chim trống còn có giọng hát hay hoặc vẻ ngoài lộng lẫy sắc mầu như loài công thường có bộ cánh tuyệt đẹp để quyến rũ những con công mái.
Nó như thể cái yếu và cái mạnh là một bù trừ và một hấp lực hút vào nhau. Hiểu như thế, có thể hiểu được mối liên hệ giữa Maslov và Vũ Anh. Maslov cao lớn còn Vũ Anh thân hình bé bỏng, cân nặng chỉ trên 30 kí lô. Đừng coi thường sự khác biệt bề ngoài ấy. Bởi vì, chính sự khác biệt ấy lại cái cớ chính đáng để bù trừ cho nhau. Maslov có đủ điều kiện để lấy những cô gái Nga xinh đẹp, thân hình nảy nở chứ?

Vậy mà họ đã quấn lấy nhau, thể hiện điều mà quy luật thiên nhiên đã quy định.

Ở đây, có một vài chi tiết cần nói rõ thêm về cá tính của Maslov. Ông là người dị thường, một người không có khuynh hướng chấp nhận cuộc sống bình thường. Nhưng Maslov đẩy cái đam mê tình ái ấy đến cái ham muốn cái lạ, tìm đến một cái gout exotique nơi một xứ sở xa xôi nào đó.

Maslov viết trong hồi ký:

“Thành thật mà nói, tôi thường thích phụ nữ phương Đông. Một trong những người bạn tôi nói đùa ‘Maslov của chúng ta là một nhà Đông phương học lớn.’ Ở Khoa Vật lý cũng có nhiều sinh viên Việt Nam, tôi nhanh chóng kết bạn với họ, đặc biệt với hai cô gái Phúc và Tình. Phúc là con gái của nhà quân sự chính trị nổi tiếng Võ Nguyên Giáp, lúc đó là Bộ trưởng bộ Quốc phòng, còn Tình là con gái của Chủ tịch thành phố Hà Nội. Cả hai cô gái đều giấu giếm bố mình là ai cũng như các sinh viên Việt Nam khác xuất thân từ giới quý tộc Việt Nam, họ đề phòng lộ diện để tránh các mưu đồ và hành động khiêu khích chính trị từ chính quyền Xô Viết.”

Maslov viết tiếp về trường hợp Phúc-con gái Võ Nguyên Giáp:
“Tôi thích Phúc, tôi giúp đỡ cô ấy học tốt môn toán, tôi không chỉ một lần mời cô ấy đến nhà chơi, lúc thì một mình, lúc thì chơi với các bạn. Cô gái Việt Nam dễ thương tránh tôi chỗ đông người như tránh lửa vậy. Có một lần tôi dẫn Phúc đến gặp và làm quen với nhân viên đánh máy để giúp cô bản bá cáo khoa học, sau đó cả hai cùng nhau ra về. Đi cùng tôi trên đường phố Moskva nhộn nhịp, cô thể hiện như một nữ du kích trong hậu phương của địch: tỏ vẻ sợ sệt và suốt thời gian luôn cảnh giác quan sát tứ phía. Đặc biệt giao thông công cộng làm cô mất bình tĩnh. Chẳng hạn tại bến đỗ, xe buýt hoặc xe buýt điện vừa đến, cô đã nhanh chóng ẩn mình vào trong xe ngay.

– Chuyện gì đã xảy ra vậy, tôi hỏi, em sợ gì chứ.
– Anh nhìn xem, đằng kia hình như có người Việt Nam.
– Có gì đáng sợ ở đây.
– Nếu họ nhìn thấy em đi với người Nga, em sẽ gặp rắc rối lớn.”

Cái rủi hay phải chăng là cái may cho Phúc là không rơi vào lưới tình của Maslov. Giả dụ rủi do duyên phận thì cuộc đời Phúc sẽ ra sao. Nào ai biết được?

Và thật đến kinh ngạc, hai người có một mối chân tình sâu đậm đến như thế. Và mỗi bước đi của thời gian là một lấn sâu không gỡ ra được. Họ đã phải lòng nhau. Không lạ gì, trước khi đưa bé Lena, con của hai người, đã bị ốm và phải nhập viện. Nàng đã viết cho Maslov một bản tuyên bố chính thức như sau :

“Nếu tôi bị bắt mang đi một mình hoặc cùng con gái và đưa đến Đại sứ quán Việt Nam, mọi người cần phải biết, điều này được thực hiện bằng võ lực, trái với ý muốn của tôi, bất cứ điều gì do người thân trong gia đình tôi hoặc Đại sứ quán phát ngôn đều không giá trị. Tôi muốn sống với chồng Viktor Maslov ở Liên Xô, và tôi muốn chồng tôi nuôi dưỡng con gái của chúng tôi trưởng thành và thấm nhuần nền văn hóa Nga.

Tôi cho cất giữ tờ giấy này vào một nơi an toàn.”

Thật tuyệt vời và không còn lời lẽ nào quý giá và trân trọng hơn nữa. Sự gắn kết đến hầu như tuyệt đối theo nghĩa từ tôn giáo: “Điều gì mà Thiên Chúa ràng buộc, con người không thể tháo gỡ ra được.”

Và cũng người con gái ấy vẫn đến trường Đại Học Tổng Hợp Moskva, cố gắng hoàn thành chương trình nghiên cứu sau đại học. Và Maslov đã bộc lộ:

“Nàng có khả năng làm việc tốt hơn nhiều so với tôi, và nếu nàng tham gia vào nghiên cứu khoa học, tất cả mọi thứ hóa ra không đến nỗi quá phức tạp như tôi tưởng. Nàng đã bảo vệ luận án thành công và trở thành phó tiến sỹ khoa học và vật lý và toán học.”

Chỉ còn một vướng mắc không nhỏ như cái sà ngàn cân đang lơ lửng trên đầu họ. Đó là yếu tố phân biệt chủng tộc và chính trị của chính quyền cộng sản miền Bắc đã gây ra rắc rối chính trị không tháo gỡ được mà Vũ Anh trở thành nạn nhân của chính cha mình và của chế độ.

Vì thế, thoạt đầu, bà Lê Vũ Anh đã muốn trốn thoát, đã về nước lập gia đình với một sinh viên người Việt cùng trường đại học và muốn ở lại Việt Nam để quên đi mối tình với Maslov. Tuy nhiên, cô ta bị cha bắt buộc trở lại Nga để hoàn thành khóa học.
Khi trở lại Moskva, Vũ Anh mới biết là mình không yêu chồng mình và không thể quên được người tình.

Bà quyết định sống ly thân với chồng và tiếp tục qua lại với người hướng dẫn khoa học của mình là Maslov.

Sau khi có thai lần thứ nhì, lần đầu bị sảy thai, Vũ Anh đã có đủ nghị lực để xin ly hôn với chồng để có thể làm hôn thú (không cho gia đình biết) với Maslov. Hai mươi bảy tuổi, Vũ Anh sinh con gái đầu lòng vào ngày 31 tháng 10 năm 1977 tên là Elena và con gái kế là Tatyana, 1979, cuối cùng là người con trai, Anton, 1981, rồi qua đời.

Hôn lễ bí mật của Lê Vũ Anh và Viktor Pavlovich Maslov, 1975 tại Troitsk

Gặp cha tình cờ khi sang Nga công tác, Vũ Anh đã thú nhận mọi chuyện tình cảm của mình. Ông Lê Duẩn đã không chấp nhận việc đó, cho người theo dõi và tìm cách dụ con về nước.
Theo Maslov, liên quan đến cuộc hôn nhân, Lê Duẩn từng sỉ nhục bà Vũ Anh vì dòng máu người Hoa bên ngoại của bà.

Tuy nhiên, dần dần, Vũ Anh đã hòa giải được với gia đình. Lê Duẩn trong những lần đi Moskva, lúc nào cũng muốn gặp đươc cháu ngoại Lena, nhưng ông lại không muốn gặp Maslov. Vũ Anh sau khi tâm sự với chị Muội, một người chị thân thiết nhất của Vũ Anh. Chị Muội cho biết, Lê Duẩn bị sốc khi được tin con gái có cháu ngoại, ông mất ngủ. Nhưng Vũ Anh đã quyết định đưa cháu gái đến gặp cha cho thấy tình cảm cha-con sâu đậm như thế nào. Maslov viết:

“Khi Lê Duẩn đến Moskva lần sau đó, nàng đem theo Lena đến gặp ông. Ông ngay lập tức yêu cháu. Ông đề nghị để Vũ Anh và cháu ở lại cùng ông cho đến khi ông về nước. Lúc đầu cháu bé còn lạ, nhưng dần quyến luyến với ông ngoại. Ông chú ý giấu tất cả chuối trong nhà để tự mình đãi Lena- mong chiếm được cảm tình của đứa cháu.

Lê Duẩn luôn yêu cầu đưa Lena đến gặp ông mỗi lần đến Moskva. Còn gặp tôi thì dứt khoát không muốn.
Có lần Lê Duẩn đưa Lena và Vũ anh đi xem xiếc rồi đưa họ đi theo dự khai mạc Olympic Moskva. Con bé lên cơn đỏng đảnh đúng lúc long trọng nhất kêu to, “Mẹ ơi, con muốn đi đái.”
Ôi dễ thương làm sao. Sự ngây thơ của cháu bé hóa giải được tất cả những bất đồng của hai cha con.
Sau khi sinh Tania, 1979, bà Vũ Anh tiếp tục sinh thêm một cậu con trai là Anton, nhưng bà đã qua đời ngay khi sinh vì bị băng huyết vào năm 1981.
Thi thể bà được hỏa táng; bình tro được bà Bảy Vân đem về Việt Nam. Trong dịp này, bà Bảy Vân cũng tha thiết để mang được cháu trai Anton vừa lọt lòng đã trở thành đứa trẻ mồ côi mẹ. Bà đã hết lòng nuông chiều cháu, đó là lý do cháu được đưa về Việt Nam cho đến lúc nó được cứng cáp. Năm Anton được 4 tuổi, 1985, bà Bảy Vân đã sang Moskva vào giao Anton lại cho bố nó.
Cho nên, dù sao đi nữa thì cái hệ lụy ấy nếu đã xảy ra thì cả hai đều phải chung vai gánh vác không thể đổ cho ai được. Cùng chia xẻ hạnh phúc và cùng cam khổ chịu đựng nếu xảy ra điều bất hạnh. Hình như số phận họ đã gắn kết với nhau như một thứ duyên tiền định mà kết cục là cái chết bi thảm của Vũ Anh khi sinh Anton.
Đọc Mastov mà thấy buồn và xúc động cho mối tình oan nghiệt. Tại sao Vũ Anh lại có thể chết trẻ và lãng xẹt như thế? Oan ức quá, ông Trời ơi. Nhưng tình lụy bao giờ cũng là thứ tình đẹp nhất trên đời này mà dân gian thường ngưỡng mộ.
Nếu mọi chuyện đều bằng phẳng thì chẳng có chuyện gì để nói. Như Phúc, như Muội, như Tình và nhiều người khác.
Vì thế, sau này có người cho rằng, chuyện tình Nga-Việt là cảm động nhất thời Sô Viết. Có người nói đến cuộc tình xuyên biên giới.

Vài nhận xét của Lê Kiên Thành, em trai của Vũ Anh.

Tôi thiển nghĩ đưa ra một vài nhận xét của Lê Kiên Thành về chị mình cũng là một góc nhìn khác.
Dưới con mắt của Lê Kiên Thành về Maslov, về Lê Vũ Anh và về cha mình TBT Lê Duẩn cho thấy:
Lê Vũ Anh – Lê Kiên Thành -Lê Kiên Trung – năm 1968
“Về Maslov và về Vũ Anh. Chính cái vẻ vừa thiên tài, vừa lập dị của Maslov đã lôi cuốn chị Vũ Anh và khiến chị mê đắm. Vì chị Vũ Anh cũng là người tự trong sâu thẳm, luôn cất giấu sự nổi loạn ngấm ngầm. Chị tôi hiểu hoàn cảnh của mình, hiểu xuất thân của mình, nên đã tìm mọi cách để cưỡng lại tình yêu đó, thậm chí là cả việc kết hôn với một người bạn học vốn chị không yêu.
Nhưng cuối cùng chị tôi vẫn đi theo tiếng gọi của trái tim. Chị ly dị một cách bí mật với người chồng đầu tiên, bí mật có con, bí mật đăng ký kết hôn với Maslov rồi mới báo tin cho ba tôi biết. Dĩ nhiên ba tôi giận dữ. Dĩ nhiên là ba tôi phản đối cuộc hôn nhân đó.

Về Lê Duẩn. Khi chị Muội (con gái của Lê Duẩn và bà Lê Thị Sương, người vợ đầu của Lê Duẩn) yêu và muốn kết hôn với một gia đình có xuất thân là quan lại triều Nguyễn, cơ quan nơi chị công tác đã đề xuất phản đối cuộc hôn nhân đó, lại là ba tôi đã gặp phải rất nhiều khó khăn để xin cho chị Muội được phép kết hôn với người mình yêu.
Nhưng chuyện hôn nhân của chị Vũ Anh là một chuyện hoàn toàn khác. Ba tôi chưa từng hình dung ông sẽ có một người con rể nước ngoài, và sẽ có những đứa cháu chỉ có dòng máu có một nửa Việt Nam. Tôi nhớ có lần, nhìn con tôi và con chị Vũ Anh chơi đùa với nhau, tôi chợt nghe ông nói một mình: “Người Việt Nam đẹp thật.”
Tôi hiểu ông và thấy nhói đau một tình yêu với ông và cả với chị mình.
Tôi vẫn nhớ năm 1977, tôi gặp Ba khi ông từ Moskva về Hà Nội sau khi chị Vũ Anh thông báo kết hôn, ông chỉ nói: “Có lẽ phải chờ 5, 10 năm nữa, ‘người ta’ mới chấp nhận cuộc hôn nhân của chị con.” Đó cũng là năm mà mối quan hệ của Việt Nam và Trung Quốc bắt đầu căng thẳng. Mỗi khi gặp ba tôi luôn luôn cảm nhận được những gánh nặng khủng khiếp đang đè lên vai ông.
Và cuộc hôn nhân của chị Vũ Anh với Maslov, vào đúng thời điểm đó cũng gây cho ba nhiều khó khăn và áp lực. Một số người có suy nghĩ không tốt đã nói rằng: “Ông Lê Duẩn vì muốn kết thân với Liên Xô mà bán con gái mình, để con gái mình kết hôn với người nước ngoài.”
Thật là bất công nếu ai đó nghĩ rằng một người cha có thể làm điều gì ảnh hưởng đến sự an nguy của con mình, dù là vì lý do gì chăng nữa. Sự thật rất đơn giản: chị tôi đã qua đời vì băng huyết, ngay khi sinh hạ người con thứ ba Anton. Chị tôi qua đời vì không một bác sĩ nào ở bệnh viện khi đó dám mạo hiểm quyết định việc phẫu thuật cho chị, bởi vì họ đều biết chị tôi là con gái của Tổng Bí Thư Đảng cộng sản Việt Nam.
Lúc chị tôi rơi vào tình trạng hiểm nghèo, người ta đã gọi các bác sĩ đầu ngành đến bệnh viện nơi chị tôi đang nằm cấp cứu sau sinh để hội chẩn. Nhưng chị Vũ Anh đã qua đời trước khi họ kịp đến. Chị tôi qua đời vì sự cẩn trọng thái quá của những người biết chị tôi là ai, chứ không phải vì bất cứ âm mưu chính trị nào đằng sau đó.”

Sơ lược báo Công An Nhân Dân Online, ngày thứ sáu 26-08-2016

Về cái chết bi thảm của Vũ Anh khi sinh Anton

Theo như lời kể lại của Maslov:
“Ở đây các bác sĩ lập tức khám và nói, tất cả đều ổn, quá trình sinh nở bình thường. Tôi chuẩn bị ngồi chờ ở phòng tiếp nhận. Vào lúc bảy giờ sáng, Vũ Anh sinh bé trai. Người ta gọi điện cho tôi từ nhà hộ sinh thông báo điều đó, tôi hỏi tình trạng của người mẹ ra sao, đầu giây bên kia im lặng. Sau một khoảng im lặng dài, họ đề nghị tôi nói chuyện với bác sĩ. Ở Moskva tôi được biết rằng Vũ Anh bị chảy máu rất nhiều, chưa cầm được.

‘Chúng tôi làm tất cả những gì có thể. Bác sĩ nói- Sắp tới họ chuyển máu tới. Ông tốt nhất nên quay về nhà. Đợi ở đây là vô nghĩa.’

Tôi chạy đến các bác sĩ quen để hỏi ý kiến. Họ không vui, nói rằng trong trường hợp như vậy, phải lập tức cắt bỏ tử cung. Nhưng các bác sĩ Kremlin có lẽ sợ lãnh về mình trách nhiệm đó, bệnh nhân không phải nhân vật bình thường.

Tôi quay về nhà hộ sinh. Lúc ấy người ta đã phẫu thuật cho Vũ Anh. Bác sĩ phãu thuật chính của Cục 4 được mời đến xử lý cho nàng. Khi ông vừa ra khỏi phòng mổ, tôi lao đến:

– Cô ấy sẽ không chết. Cơ thể trẻ trung. Chúng ta hi vọng vào điều tốt nhất.

Vài tiếng sau, Vũ Anh qua đời. Người ta cho phép tôi vào phòng bệnh. Vũ Anh nằm trên giường, phủ tấm ra- trông nàng xinh đẹp làm sao, như đang ngủ. Một cục gì chẹn lấy cổ họng tôi, tôi quỳ xuống, hôn tay người tôi yêu dấu. Tấm ra phủ di chuyển, hé lộ thân thể vợ tôi, phủ đầy các vết xanh-đỏ. Tôi kêu lên vì sợ hãi.

Mọi người chạy đến bên, đỡ lấy tôi và đưa ra hành lang.
– Lần cuối cùng tôi nhìn thấy Vũ Anh là ở chỗ hỏa táng- mười ngày sau đó. Quyết định hỏa táng không phải do tôi đưa ra. Nói chung không ai hỏi ý kiến tôi muốn an táng vợ mình ra sao.Tại sao phải đợi lâu thế vẫn mãi là câu hỏi. Có thể Lê Duẩn đã bí mật đến Moskva. Tôi không gặp ông, còn bà mẹ thì bay sang ngay. Tro cốt cúa Vũ Anh được đưa về Việt Nam, bình tro được giữ ở nhà bà Bảy Vân, trong một căn phòng riêng.

– Còn tôi trong thời gian đầu rơi vào một trạng thái quên lãng, mù mờ sao đó. Trí nhớ của tôi từ chối tin vào những gì vừa xảy ra..Một lần tôi tỉnh dạy giữa đêm trong hoảng hốt. Trái tim bóp nghẹt trong lồng ngực. Tôi mơ thấy một luồng sáng: Người ta đã đầu độc Vũ Anh. Tôi chia xẻ phỏng đoán với các bác sĩ. Họ không loại trừ khả năng ấy, nhưng cho rằng các vết xanh-đỏ trên da có thể xuất hiện trong trường hợp chảy máu nghiêm trọng.”

Những lời trần tình của Maslov trong lúc mê xảng không lấy gì làm thuyết phục về một âm mưu đầu độc. Mà ai đầu độc. Và đầu độc đạt được ích gì. Về tình nghĩa cha con, liệu Lê Duẩn có đủ đảm và nhẫn tâm đầu độc con mình hay không? Và làm sao ông có thể có những quyết định như thế và thuyết phục được giới bác sĩ tuân thủ. Mà bác sĩ nào dám làm điều ấy?

Thật ra về mặt y học, sản phụ bị xuất huyết là điều có thể xảy ra. Hoặc phải nạo thai, lấy hết nhau còn sót lại trong tử cung. Hoặc phải buộc tử cung để cầm máu. Trong trường vỡ tử cung thì phải cắt bỏ tử cung.

Maslov ghi nhận tiếp diễn tiến về âm mưu đầu độc như sau:

“Sau đó nhiều năm, khi nằm điều trị tim tại một bệnh viện tim mạch, tôi quan sát thấy người ta đã tiêm Heparin cho các bệnh nhân để làm loãng máu. Và trên người họ cũng xuất hiện những vết đúng như thế. Theo quan điểm của tôi đã xuất hiện thêm một phương án khả tín: Việc chảy máu là do tác động cố ý, bằng cách tiêm thứ thuốc đó. Không phải tự nhiên Vũ Anh đã cảm thấy tai họa. Và máu đã chảy cạn.

Trong đám tang bà mẹ đau khổ đến mất trí. Bà ấy nói rằng cha của Vũ Anh đã giết con và muốn giúp đỡ tôi, đưa bọn trẻ về Việt Nam.”

Cái chết của Lê Vũ Anh còn trở nên bi kịch của Maslov với con gái Lena. Maslov đã phải nói dối con như sau:

“Tôi nói với Lena là Vũ Anh ở trong bệnh viện, và sau đó, rằng mẹ đã đi có việc, nhưng con bé cũng hiểu hết. Một lần nó kéo tôi ra bên và thì thầm hỏi tôi:

‘Bố ơi, người ta chôn mẹ rồi phải không?’

Lena luôn than thở về nỗi buồn vắng mẹ, nó khóc.

‘Bố hãy đi Việt Nam, mua mẹ cho con.’

Về những gì Maslov bày tỏ, tôi chỉ biết im lặng trước những nỗi đau tận cùng của ông. Nhưng tôi vẫn tin rằng tình cha con và cháu mà ông vô cùng thương tiếc, ông Lê Duẩn đã không đủ đảm lược và ra tay ám hại con mình.

Cuộc đời còn lại của Maslov và các con của ông

Viktor Maslov và 3 con

Tôi thật không thể ngờ được cuộc đấu tranh của Maslov để bảo vệ các con bên mình. Nhất là Anton. Khi ở Việt Nam, họ đã đổi tên Anton Maslov mà thành Nguyễn An Hoàn với sổ thông hành Việt Nam.

Maslov ghi lại:

“Lê Duẩn không có ý định trao cháu cho tôi. Ngược lại, ông hy vọng sẽ mang luôn cả các cháu gái về.

Con trai không nói được tiếng Nga, nó lạ tôi và không rời bà bảo mẫu người Việt nuôi cháu từ trứng nước. Ở Việt Nam Anton thực sự là hoàng tử: nó được ở cả một tầng nhà.

Bắt cóc Anton thật vô nghĩa: cháu là công dân Việt Nam và họ sẽ ngay lập tức đưa cháu đi khỏi nhà tôi.

Nhưng tôi không có ý định đầu hàng. Bấy giờ là thời của Gorbachev, tôi đã viết đơn đi khắp nơi. Một chị bạn tôi đã gợi ý nên cầu cứu Anatoly Gromyko, con trai Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô Andrei Andreyevich Gromyko .

Gromyko con tỏ ra chia xẻ và nói:

“Anh hãy viết đơn cho chính Gorbachev. Tôi hứa rằng ông ấy sẽ nhận và sẽ đọc. Nhớ kèm theo cả những bức ảnh, đặc biệt bức chụp cùng bọn trẻ này. Nó mạnh hơn bất kỳ bức thư nào.”

Kết quả không đi đến đâu. Bạn bè Maslov đã tìm được một ngôi nhà ở Belorussia. Maslov viết:

“Trong vòng bán kính 5 kilômét quanh đó không có ai cả. Chúng tôi ở đó chừng vài tháng-Lenia,Tania, Anton, bà bảo mẫu của chúng. Pussia quả thật là một chốn thiên đường. Lũ trẻ đến giờ còn còn nhớ khu rừng nguyên thủy, những bãi cỏ đầy nấm và quả rừng, có thể sờ tay vào lũ thú rừng và chim chóc. Lũ hươu kéo đến tận nhà, làm bà bảo mẫu sợ chết khiếp. Lũ bò rừng nhởn nhơ đi lại đằng xa. Anton trở thành một đứa trẻ khác hẳn khi ở Belorussia, chơi với các chị và bắt đầu nói một ít tiếng Nga.”

Sau đó, cái may đã đến. Một người bạn thân với gia đình của Vũ

Anh cho biết:

“Nếu cha chúng nó yêu chúng như vậy, thì cứ để chúng sống với anh ta.

Có vẻ hai nước đã có một nhận thức chung về chuyện này, Gorbachev và Lê Duẩn đã thỏa thuận để gia đình chúng tôi được yên. Sự đau khổ của tôi kết thúc. Mấy năm sau Lê Duẩn từ trần.”

Đôi dòng kết thúc

Và cuối những năm 80-90, Maslov thường đi giảng dạy ở nhiều nơi trên thế giới như ở Mỹ, Anh, Pháp để kiếm thêm tiền để nuôi dạy các con. Mỗi lần như thế, ông thường dẫn đám trẻ đi theo. Trong dịp này, một biến cố lớn đã xảy ra trong cuộc của đời bốn cha con. Theo Maslov:

“Nhưng năm 1991, ông cưới Irina mà ông quen biết đã lâu, từ khi Vũ Anh còn sống. Cô ấy cùng tuổi với Vũ Anh. Ira là một nhà ngôn ngữ, phó tiến sĩ khoa học. Sau khi Vũ Anh mất, giống như nhiều bạn bè và người thân của tôi, cô ấy đã giúp tôi trông nom bọn trẻ. Đối với tôi, mối quan hệ của cô với chúng cũng quan trọng không kém tình cảm giữa chúng tôi.

Irina là một phụ nữ đáng kinh ngạc. Sau khi cưới, cô ấy quyết định không sinh thêm một đứa con nữa, đứa con chung của chúng tôi, để không phải làm dì ghẻ, mà hoàn toàn thay Vũ Anh làm mẹ của Lena,Tania và Anton.”

Câu chuyện là các con của Maslov thoạt đầu đều theo học tại MGU mà không phải một trường học Tây Phương nào cả. Nhưng tình cờ xảy ra sự kiện hiểu lầm theo lời kể của Maslov:

“Về sau có nhiều dòng người từ Châu Á tràn vào Moskva và bắt đầu nảy sinh các vấn đề. Một nhân viên cảnh sát đến Datra nơi Tania theo học. Nhân viên này nhìn thấy cháu và cho rằng đây là một người di cư bất hợp pháp đến từ Trung Á, và suýt nữa tôi bị cáo buộc vào tội “che dấu”.

Chúng tôi họp gia đình và quyết định rằng sẽ tốt hơn nếu đưa lũ trẻ sang Châu Âu, ở đó đã quen với việc có nhiều sắc tộc. Kết quả là Tania và Anton sang sinh sống ở Anh, còn chị cả Lena, ở Hà Lan. Cháu lấy chồng là người Hà Lan xuất thân từ một gia đình quý tộc tỉnh lẻ lâu đời. Chồng cháu làm nghề phân tích nghiệp vụ và có thời gian là khách hàng của một hãng máy tính của Anh, nơi Lena làm việc. Mối tình bắt đầu ở nước Anh. Lena có một con nhỏ, cháu sinh con gái Anna năm ngoái.

Phần Tania chuyển nghề làm lập trình, sống với chồng là người Anh ở thị trấn ngoại ô Bristol.

Còn Anton, tốt nghiệp MVK, khoa toán học tính toán và điều khiển học ở MGU. Cháu cũng làm việc không xa chỗ chị gái. Cậu chàng chưa có vợ, và tôi sợ sẽ còn lâu. Có vẻ cháu giống tính tôi.”

Maslov thú nhận:

“Khi làm việc, tôi luôn luôn cảm thấy Vũ Anh đang nhìn mình. Trong phòng làm việc đã nhiều năm vẫn treo bức ảnh chân dung lớn của nàng. Tôi cảm thấy Vũ Anh hài lòng về cuộc sống của các con chúng tôi, có nét tán đồng. Tôi thường mơ thấy nàng, trẻ trung và hạnh phúc.

Vũ Anh giao phó cho tôi các con của chúng tôi. Không có Irina, tôi không thể thực hiện được sự ủy thác của nàng. Cái chính là bọn trẻ không lúc nào cảm thấy chúng là trẻ mồ côi.”

Người viết bài này thấy đủ và không cần phải viết thêm một dòng nào nữa.


 

Một bà ở Sài Gòn quay clip con trai 3 tuổi bị người tình hành hạ ‘để giải trí’

Ba’o Nguoi-viet

October 19, 2023

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Mỗi khi người tình hành hạ con trai mình, một bà ở quận Tân Bình, Sài Gòn, dùng điện thoại quay lại rồi gửi cho người khác “để giải trí.”

Theo báo VNExpress hôm 19 Tháng Mười, Viện Kiểm Sát ở Sài Gòn đã hoàn tất cáo trạng truy tố cô Nguyễn Thảo Nguyên, 23 tuổi, ở quận Tân Bình, về tội “hành hạ người khác,” và ông Lê Văn Bậm, 45 tuổi, ở huyện Củ Chi, về hai tội “hành hạ người khác” và “tàng trữ trái phép chất ma túy.”

Hình ảnh bé Trần Nguyễn An T., 3 tuổi, nghi bị người tình của mẹ cho hút ma túy đá, đe dọa bạo hành. (Hình: VNExpress)

Cáo trạng cho hay năm 2018, cô Nguyên kết hôn với anh Tài, có hai con chung 5 tuổi và 3 tuổi.

Tháng Mười, 2021, anh Tài bị bắt đi cai nghiện ma túy. Trong thời gian này, cô Nguyên sống như vợ chồng với ông Lê Văn Bậm ở xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn. Hai con riêng của cô Nguyên cũng sống tại đây.

Trong lúc sống chung, ông Bậm tức giận mỗi khi bé Trần Nguyễn An T., 3 tuổi, quấy khóc nên hành hạ để hù dọa và lấy đó làm thú vui.

Cụ thể, hôm 10 Tháng Tư, 2022, ông Bậm bắt bé T. cầm chai nước suối đặt lên chiếc loa thùng cao ngang đầu, hai tay giữ chai nước suối không được bỏ xuống. Bé T. mỏi tay bỏ xuống liền bị ông ta chửi bới, dọa nạt làm cháu khóc lóc.

Khoảng 15 ngày sau, ông Bậm trói tay chân bé T., để cháu nằm dưới sàn nhà trong tình trạng không mặc quần áo. Sau đó, ông ta dùng tua vít, búa, kéo nhiều lần hăm dọa đánh vào vùng kín con riêng của người tình làm cháu sợ hãi, khóc to.

Những lần ông Bậm hành hạ con trai, cô Nguyên đều chứng kiến và dùng điện thoại di động quay lại, sau đó gửi các clip này cho người bạn xem.

Hồi Tháng Ba vừa qua, anh Tài cai nghiện xong trở về tìm cô Nguyên để thăm các con, đồng thời mượn trang Facebook của vợ (trước đó hai người cùng bán hàng online) để tiếp tục kinh doanh, thì phát hiện trong tin nhắn cô Nguyên gửi cho bạn có các clip con trai bị hành hạ, và bốn đoạn video quay cảnh ông Bậm cho con trai anh sử dụng chất ma túy.

Tức giận, anh Tài nhờ bạn đăng các clip lên mạng xã hội tố cáo hai nghi can Nguyên và Bậm, đồng thời đến công an trình báo.

Hôm 26 Tháng Ba, Công An Huyện Hóc Môn khám xét nơi ở của hai bị can Bậm và Nguyên, thu giữ 0.2 gram ma túy đá cùng dụng cụ sử dụng.

Qua điều tra, ông Bậm thừa đã hành hạ cháu T.. Còn số ma túy trên mua của một người không rõ lai lịch ở quận 1, đề sử dụng một mình. Cô Nguyên không biết việc này.

Bị can Lê Văn Bậm tại cơ quan công an. (Hình: Tường Vân/VNExpress)

Trong khi đó, cô Nguyên khai “thấy thích thú” khi nhìn người tình hành hạ con trai nên quay clip lại gửi cho bạn bè xem “để giải trí.”

Đối với bốn clip quay lại cảnh ông Bậm cho bé T. sử dụng ma túy, do thời gian xảy ra đã lâu, không thu giữ được tang vật, kết quả xét nghiệm cháu T. âm tính… nên cơ quan điều tra “chưa đủ căn cứ xử lý” ông Bậm về tội “lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy.” (Tr.N) 

Mỹ không ủng hộ mọi hành động tự ý của chính quyền Do Thái, Netanyahu

Theo thời báo Nữu Ước và các báo khác.

Tổng thống Biden với Thủ tướng Benjamin Netanyahu của Israel tại Tel Aviv hôm thứ Tư.

Kenny Holston/Thời báo New York

Sau chuyến thăm của Tổng thống Biden, người Israel hôm thứ Năm đã ca ngợi lòng dũng cảm của ông khi đến vào thời điểm chiến tranh và vì sự ủng hộ hết mình của ông, khi ông cam kết “chúng tôi sẽ không để các bạn cô đơn” sau các cuộc tấn công từ Hamas bị giết tại ít nhất 1.400 người Israel.

Nhưng trong khi những lời này được hoan nghênh, cũng có lo ngại rằng Thủ tướng Benjamin Netanyahu, bị tổn hại nặng nề do không bảo vệ người Israel, đã trao cho ông Biden quá nhiều ảnh hưởng đến cách Israel hiện nên tiến hành cuộc chiến ở Gaza chống lại Hamas, nhóm mà điều khiển khu vực bao quanh.

Ông Biden ủng hộ Israel, nhưng cũng cảnh báo nước này không nên hoạt động quá mức để gây bất lợi cho mình trong khu vực – và ngầm hiểu là gây bất lợi cho Hoa Kỳ. Ông thậm chí còn tham dự nội các chiến tranh để thông báo tóm tắt về các kế hoạch của Israel, như Ngoại trưởng Antony J. Blinken đã làm trước ông.

Các nhà phân tích Israel cho biết mức độ tham vấn này rất hiếm, nếu không muốn nói là chưa từng có, ngay cả trong một mối quan hệ thân thiết như vậy. Nếu nó mang lại lợi ích tiềm tàng cho ông Netanyahu, thì nó cũng tiềm ẩn rủi ro. Nó có thể mang lại cho anh ta vỏ bọc chính trị cho một cuộc chiến kéo dài, nhưng nó cũng có thể hạn chế cách anh ta tiến hành nó.

Ngoài ra, Washington có thể bị coi là người cộng tác nếu Israel bị đổ lỗi vì đã đi quá xa.

Người dân đứng sau rào chắn, cầm máy ảnh. Một người đàn ông cầm cờ Israel.
Người Israel xếp hàng khi đoàn xe của Tổng thống Biden đi qua Tel Aviv hôm thứ Tư. Anh của Kenny Holston/Thời báo New York

 

Bà viết, ông Netanyahu “sợ” kết quả của cuộc chiến này “và rất vui khi có Biden ở đó với tư cách là đối tác. Đó là lý do vì sao ông không từ chối sự giúp đỡ như những người tiền nhiệm đã làm. Nhưng đã tự mình ôm lấy một cái ôm có thể là một cái ôm.”

Gadi Taub, một người ủng hộ ông Netanyahu lâu năm và là giảng viên tại Trường Chính sách công và Khoa Truyền thông tại Đại học Do Thái ở Jerusalem, tỏ ra gay gắt hơn khi cho rằng ông Biden đã hạn chế khả năng chiến đấu của Israel đến mức cần thiết.

“Biden đã chặn mọi con đường dẫn đến bức tranh chiến thắng rõ ràng của Israel, điều gì đó sẽ khiến kẻ thù của chúng ta thấy rõ rằng chúng ta yếu đuối và phụ thuộc vào người khác,” ông Taub nói trong một tin nhắn trên mạng xã hội X. Bất chấp lời hứa về sự đoàn kết và viện trợ, ông Biden “đã góp phần quan trọng vào việc làm nghiêng cán cân quyền lực trong khu vực theo hướng bất lợi cho chúng ta”.

Nhưng những người khác lại coi sự giám sát của Mỹ là quan trọng khi ông Netanyahu bị mất uy tín như vậy. Einat Wilf, cựu thành viên Knesset, Quốc hội Israel, từ cánh tả, khen ngợi ông Biden vì đã thừa nhận rằng ông Netanyahu đã mất quyền lực và đất nước đang rơi vào tình trạng chân không và cần cả sự hỗ trợ lẫn hướng dẫn. “Không có chính phủ,” cô viết trên mạng xã hội X. “Mỹ hiểu điều này ngay lập tức và đang hành động phù hợp.”

Akiva Eldar, một nhà phân tích đáng kính của Israel, cho biết chuyến thăm của Biden quan trọng vì hai lý do, lưu ý rằng ông Biden không có tình cảm đặc biệt với ông Netanyahu, thường được biết đến với cái tên Bibi. Ông Eldar nói: “Đối với người dân Israel, ông ấy ủng hộ Israel và nền dân chủ Israel, mặc dù coi thường Bibi.

Nhưng chuyến thăm của ông Biden “cũng sẽ kiềm chế những kẻ quá khích từ cánh hữu”, những người thậm chí đang kêu gọi Israel tái định cư ở Gaza, ông Eldar nói, và thúc đẩy ông Netanyahu suy nghĩ về việc tái cam kết đối với giải pháp hai nhà nước sau chiến tranh .

Ông Eldar, người ủng hộ việc thành lập một “chính phủ hòa bình” đoàn kết dân tộc, cho biết điều đó sẽ giúp ích cho các chính trị gia trung dung để quản lý những gì xảy ra sau khi vụ xung đột kết thúc.

Ông nói, với sự hỗ trợ của Mỹ, “Bibi (Netanyahu) sau này sẽ khó có thể  lấy lại việc ủy quyền cho Mỹ tham gia chính sự ở giai đoạn sau chiến tranh”.


 

Thể chế, viên chức và cơ hội để lương thiện

Ba’o Tiếng Dân

Blog VOA

Trân Văn

19-10-2023

Ngay cả trong việc tăng lương, bảo đảm cho cán bộ, công chức đủ sống, hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam cũng chật vật xoay chuyển trong vòng luẩn quẩn. Hình minh họa.

“…Chúng ta tạo ra tầng lớp công chức khi đi làm không bao giờ cho rằng lương là thu nhập mà thu nhập là từ những khoản khác. Chúng ta hay nói về ‘tham nhũng vặt’ nhưng tôi không đồng ý với khái niệm này vì không có loại tham nhũng nào là ‘vặt’ cả…”

Quốc hội Cộng hòa XHCN Việt Nam lại thảo luận về việc thực hiện kế hoạch điều chỉnh lương của cán bộ, công chức. Trong cuộc họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hồi đầu tuần này, khi thảo luận về kinh tế – xã hội năm nay và kế hoạch phát triển của năm tới, một trong các Phó Chủ tịch Quốc hội đã nhắc lại điều mà nhiều người, nhiều giới đã từng lập đi, lập lại trong nhiều năm: Cải cách chính sách tiền lương phải gắn với nâng cao chất lượng, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức (1).

Theo dự kiến, việc thực thi chính sách mới về trả lương cho cán bộ, công chức (trả lương theo chức vụ và mức độ phức tạp, tính chất, đặc điểm, quy mô hoạt động, đối tượng phục vụ; quy trình quản lý chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, công chức) sẽ bắt đầu từ 1/7/2024. Ông Nguyễn Khắc Định – Phó Chủ tịch Quốc hội – yêu cầu chính phủ “rà soát, sắp sếp đội ngũ cán bộ công chức, xử lý những người thiếu tinh thần trách nhiệm, làm việc cầm chừng, đùn đẩy, né tránh; đưa người vi phạm, năng lực yếu ra khỏi bộ máy”…. Đây là lần cải cách tiền lương thứ năm. Bốn lần trước diễn ra vào 1960, 1985, 1993 và 2003 nhưng từ xưa đến nay, lương trả cho cán bộ, công chức chưa bao giờ đúng nghĩa là lương. Lương trả cho cán bộ, công chức luôn như… hương, như… hoa!

Hôm qua, tại cuộc tọa đàm liên quan đến “xây dựng văn hóa liêm chính trong giai đoạn mới” do trường Luật của Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với tờ Pháp Luật TP.HCM tổ chức, ông Trần Văn Độ – cựu Phó Chánh án Tòa án Tối cao, cựu Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương – bảo rằng: Muốn liêm chính không đơn giản! Thẩm phán lương tám triệu, mà nghề giúp việc lương hơn tám triệu thì liêm chính không nổi. Người làm nghề công chức phải đủ sống với nghề, đủ sống với lương. Ở Việt Nam, ngoài lương còn thu nhập, mà thu nhập là chính và mỗi người có một kiểu thu nhập, nên từ đó dẫn tới tham nhũng. Góp thêm vào thực trạng mà các thành viên tham dự tọa đàm cùng thừa nhận là “hoạt động công vụ nhũng nhiễu dân nhiều quá”, ông Độ lưu ý: Trong xã hội hiện nay không phải ai cũng chính trực được đâu, bởi không liêm khiết được (2)!

Trước đó, trong một tọa đàm khác, ông Ngô Thế Vinh – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Dược phẩm Vinh Gia – cũng nhận xét tương tự về lương cán bộ, công chức, đại ý: Chúng ta tạo ra tầng lớp công chức khi đi làm không bao giờ cho rằng lương là thu nhập mà thu nhập là từ những khoản khác. Chúng ta hay nói về “tham nhũng vặt” nhưng tôi không đồng ý với khái niệm này vì không có loại tham nhũng nào là “vặt” cả. “Vặt” chỉ là với một người còn nếu mỗi ngày lấy 200.000 của một người nhưng thu mức đó với 100 người thì sẽ là bao nhiêu? Đó không phải là “vặt” nhưng lại được xem là rất bình thường vì nó là thu nhập chính của công chức, cho nên mới có những viên chức cao cấp biện minh “không nhận thức được đấy là tham nhũng” bởi họ đã nhận như thế suốt mấy chục năm không những không việc gì mà còn lên cao dần…

Ông Vinh nhấn mạnh: Ở đất nước này ai cũng biết điều ấy kể cả những vị quan tòa đang ngồi xét xử. Song nói đi thì phải nói lại, tại sao người ta làm như vậy. Chuyện trở thành rất bình thường vì xã hội chúng ta, cơ chế này, chính thể này tạo ra điều đó. Muốn sửa không đơn thuần là tống giam vì làm như thế có lẽ sẽ có đến 90% công chức vướng lưới. Cho nên không phải là nhắm vào từng con người mà phải thay đổi. Bất kỳ ai đi làm trước hết cũng vì cuộc sống của chính mình. Trong hòa bình, những người đứng đầu đất nước phải làm thế nào để con người có thể phát huy năng lực, có thu nhập cao, có cuộc sống tốt nhưng không phạm tội. Muốn thay đổi thì phải tăng lương, giảm biên chế. Một công chức đi làm phải nuôi được vợ con thì mới không nghĩ đến việc khác. Ngược lại thì như đã thấy. Đây là lỗi hệ thống, chúng ta phải thay đổi (3)…

***

Ngay cả trong việc tăng lương, bảo đảm cho cán bộ, công chức đủ sống, hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam cũng chật vật xoay chuyển trong vòng luẩn quẩn. Muốn tăng lương để nâng cao hiệu quả hoạt động thì phải tinh giản nhưng càng tinh giản thì bộ máy càng phình ra. Bộ máy quá cồng kềnh thì lương chỉ có thể như đã biết và đang thấy, chưa kể điều đó khiến các hệ thống chỉ có thể thu nạp những cá nhân xem việc gia nhập là cơ hội kiếm tiền bằng nhũng nhiễu.

Chẳng quốc gia nào có thể phát triển nếu phần lớn nội lực được trút vào việc nuôi bộ máy quản trị, điều hành. Lấy gì bảo đảm điều chỉnh lương của cán bộ, công chức sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động khi tuyển dụng, bổ nhiệm vẫn theo phương thức “hồng hơn chuyên” và chính phương thức này đã tạo ra bộ máy vừa cồng kềnh, vừa kém năng lực? Khi tinh giản được xem là điều kiện cần và đủ để thực thi tiêu chí cán bộ, công chức phải sống được bằng lương nhưng vẫn duy trì hai hệ thống – một do đảng thiết lập để chỉ đạo, giám sát và một vận hành hệ thống công quyền thì tiền đâu để tăng lương, tiền đâu để thực hiện các kế hoạch phát triển? Bởi cả hai hệ thống giống hệt nhau, trong khi cần tinh giản số cán bộ, công chức hưởng lương, nhận phụ cấp, giữa thập niên 2010, giới lãnh đạo đảng CSVN bắt đầu xiển dương “nhất thể hóa”…

“Nhất thể hóa” là gom bộ phận lãnh đạo đảng và lãnh đạo bộ máy công quyền ở các cấp, các ngành, các địa phương thành một nhằm giảm sự cồng kềnh, chồng chéo khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Song chưa biết vì sao “nhất thể hóa” lại chết non sau khi thử nghiệm ở cấp xã, cấp huyện tại Quảng Ninh và cấp xóm, thôn, tổ dân phố ở Hà Nội. Có thể vì giảm số lượng nhân sự theo kiểu “nhất thể hóa” đụng chạm đến quyền lợi của nhiều băng nhóm. Cũng có thể vì “nhất thể hóa” làm diện mạo của “dân chủ XHCN” biến dạng, bởi làm như thế, đảng sẽ hiện nguyên hình là “độc tài” và không còn cơ hội biện minh trước chỉ trích “đảng trị”. Thôi thì chúc cán bộ, công chức may mắn khi phục vụ “sự nghiệp cách mạng” – sự nghiệp mà liêm chính hay không phụ thuộc hoàn toàn vào may rủi, vào việc có bị đưa vào diện cần trừng trị để… “làm gương” hay không.

Chú thích

(1) https://vnexpress.net/pho-chu-tich-quoc-hoi-tang-luong-phai-di-kem-voi-trach-nhiem-can-bo-4665244.html

(2) https://dantri.com.vn/xa-hoi/trung-tuong-tran-van-do-hien-nay-khong-phai-ai-cung-chinh-truc-duoc-dau-20231019133813546.htm

(3) https://www.facebook.com/watch/?extid=CL-UNK-UNK-UNK-AN_GK0T-GK1C&mibextid=Nif5oz&v=303516455610206


 

Điều Bất Ngờ Thứ 7: Bạn bắt đầu sống biến cố Nhập Thể-Cha Vương

Ngày Thứ 5 an lành trong Chúa và Mẹ yêu nhé. Đừng quên cầu nguyện cho nhau.

Cha Vương

Thứ 5: 19/10/2023

Bạn biết không nơi Đức Mẹ, Thiên Chúa ban cho bạn một Người bảo vệ nhiệt tình nhất. Mọi sự ưu ái của Mẹ đều nằm trong Kinh Mân Côi. Nếu bạn cầu nguyện thường xuyên với chuỗi Mân Côi nó sẽ mang lại cho bạn nhiều điều bất ngờ.

Và sau đây là Điều Bất Ngờ Thứ 7: Bạn bắt đầu sống biến cố Nhập Thể—Sức mạnh của chuỗi Mân côi nằm ở trong sự đơn giản của nó. Nó quá đơn giản đến nỗi mà dường như có thể ngu ngốc đối với những bộ óc thông minh. Vậy nên chúng ta thường nghĩ rằng, chúng ta cần phải tìm những giải pháp phức tạp, thông thái và đòi hỏi kiến thức tổng hợp để giải quyết những vấn đề phức tạp, khó khăn. Chúng ta tập trung vào vực thẳm của những vấn đề của mình và tự hỏi làm sao có thể tìm thấy giải pháp với một vấn đề quá lớn như vậy. Chúng ta không cần phải như thế. Thiên Chúa đến thế gian như một em bé nhỏ nhắn, yếu đuối và đơn độc khi sinh ra trong hoàn cảnh khó nghèo. Kinh Mân côi quá đơn giản tới mức mà nó có thể cầu nguyện trong bất cứ hoàn cảnh nào, đó là vũ khí mạnh mẽ nhất của đời sống cầu nguyện mà chúng ta có. “Chẳng có vấn nạn nào mà chúng ta lại không thể được giải quyết bởi chuỗi Mân côi, dầu có khó khăn đến đâu, dẫu là vấn đề thuộc thế gian hay trời cao, trong đời sống cá nhân hay gia đình.” Sr. Lucia (một trong các thị nhân Đức Mẹ Hiện ra tại Fatima).

Xin Bạn đọc 10 Kinh Kính Mừng với tâm tình dâng hiến cả cuộc đời của Bạn cho Đức Mẹ.

From: Do Dzung

Tận Hiến Cho Mẹ 

TRUYỀN GIÁO THEO GƯƠNG MẸ TÊRÊSA – ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

TRUYỀN GIÁO THEO GƯƠNG MẸ TÊRÊSA

 

Pope John Paul II Blood | Fr Brian D'Arcy: ‘It’s too early to make John ...

 

Hôm nay, toàn thể Giáo Hội cầu nguyện cho việc truyền giáo.  Ngày Đức Thánh Cha Gioan Phaolô đệ nhị tuyên phong Mẹ Têrêxa lên bậc Chân Phúc mà ta quen gọi là Á thánh cũng là ngày cầu nguyện cho việc truyền giáo.  Và Đức Thánh Cha khuyên nhủ chúng ta hãy truyền giáo theo gương Mẹ Têrêxa.  Vậy Mẹ Têrêxa là ai và Mẹ đã truyền giáo như thế nào?

 

 

  1. CUỘC ĐỜI

Mẹ Têrêxa sinh tại nước Anbani cũ.  Mẹ đã xin gia nhập dòng Đức Mẹ Loretto và được sai đi Ấn độ để phục vụ người nghèo.  Khi đến Ấn độ, Mẹ được chứng kiến cả một đại dương mênh mông những người nghèo đói.  Trẻ sơ sinh bị bỏ rơi nằm la liệt ngoài đường.  Những người già cả bệnh tật nằm chờ chết bên những đống rác, và khi chết, bị vất vào đống rác như một con thú vật.  Xúc động trước cảnh nghèo khổ.  Mẹ lăn xả vào phục vụ người nghèo.  Việc đầu tiên là mở những trung tâm đón tiếp, đưa những người hấp hối ngoài đường về, săn sóc để họ được chết như một con người.  Rồi mở cửa nhà cô nhi nuôi dưỡng trẻ em bị bỏ rơi.  Rồi mở bệnh viện chăm sóc chữa trị những người nghèo khổ.  Rồi mở trường cho trẻ em nghèo đến học.  Công việc càng ngày càng phát triển.  Số người theo giúp Mẹ càng ngày càng đông.  Chẳng bao lâu, một dòng mới được thành hình với tên Nữ tử Thừa sai Bác ái.  Ngoài 3 lời khấn như những nữ tu khác, còn có lời khấn phục vụ người nghèo.  Mẹ được thế giới biết tiếng.  Cả thế giới gọi Mẹ là Mẹ Têrêxa.  Khi Mẹ qua đời, 80 nhà lãnh đạo quốc gia trên toàn thế giới, trong đó có phu nhân tổng thống Mỹ Bill Cliton và phu nhân tổng thống Pháp Jacques Chirac đã đến nghiêng mình kính cẩn trước thi hài của Mẹ.  Nước Ấn độ có đa số dân theo Ấn độ giáo, vốn không ưa đạo Công giáo, thế mà đã nghi thức quốc táng cho Mẹ, đã bắn hai mươi mốt phát súng đại bác tiễn đưa linh hồn Mẹ về thiên đàng.

  1. TRUYỀN GIÁO

Mẹ Têrêxa đã truyền giáo cách nào mà thành công như thế?  Thưa, Mẹ đã dùng 4 phương cách sau:

Phương cách thứ nhất: cầu nguyện.  Có nhiều người tưởng Mẹ Têrêxa là con người hoạt động.  Không phải thế.  Trước hết Mẹ là con người cầu nguyện.  Những giờ cầu nguyện triền miên phát xuất từ nỗi niềm khao khát Chúa.  Cầu nguyện đã đưa Mẹ đến phục vụ người nghèo.  Rồi việc phục vụ người nghèo đã đưa Mẹ trở về với kinh nguyện.  Dòng chảy cầu nguyện liên lỷ không bao giờ ngừng.  Có thể nói cuộc đời Mẹ là cuộc đời chiêm niệm trong hoạt động.

Phương cách thứ hai: thấm nhuần Lời Chúa.  Mẹ tha thiết yêu mến Lời Chúa.  Lời Chúa thấm vào tận mạch máu thớ thịt, để Mẹ suy nghĩ, nói năng và hành động theo Lời Chúa.  Mẹ thường nói: Lời Chúa phải ở trên đầu ngón tay ta.  Theo Mẹ 5 từ ngữ quan trọng khắc ghi tên 5 đầu ngón tay của Mẹ là: You did it for me.  Đó là 5 từ tóm tắt 25 chương Tin Mừng theo thánh Mátthêu: “Mỗi lần các con làm những việc này cho một trong những anh em bé nhỏ nhất, đó là các con làm cho Thày.”

Phương cách thứ ba: yêu mến người nghèo.  Nơi Mẹ, yêu mến người nghèo không phải là cảm tính nhất thời.  Yêu mến người nghèo thực sự phát xuất từ một đức tin sâu xa.  Tin thật Thiên Chúa đang ở trong nhưng người nghèo.  Vì yêu mến người nghèo Mẹ đã tự nguyện sống nghèo.  Mẹ sống trong một căn phòng đơn sơ, chỉ có một chiếc giường, một bàn nhỏ, một ngọn đèn và một chậu nước.

Phương cách thứ tư: phục vụ bằng tình yêu.  Vì tin Chúa đang ngự trong người nghèo, nên phục vụ người nghèo chính là phục vụ Chúa.  Vì thế, phục vụ người nghèo là một bổn phận phải thực hiện trong khiêm nhường.  Phải phục vụ một cách kính cẩn.  Phải phục vụ bằng tình yêu.

Giữa thế kỷ 20 tôn trọng vật chất, quay lưng lại với đời sống tâm linh, Mẹ Têrêxa đã trở nên một nhân chứng sống động của thế giới thần linh.  Giữa nước Ấn độ xa lạ với Kitô giáo, Mẹ Têrêxa đã trình bày được khuôn mặt dễ thương dễ mến của Chúa, làm cho mọi người yêu mến đạo Chúa.  Mẹ xứng danh là nhà truyền giáo của thế kỷ 20.  Giữa những bế tắc Mẹ đã khai thông một lối đi.  Lối đi vào thẳng trái tim con người.  Trong bóng tối dày đặc, Mẹ đã thắp lên một ngọn đèn.  Ngọn đèn đó chiếu lên ánh sáng niềm tin.  Giữa trần gian lạnh lẽo, Mẹ đã đốt lên ánh lửa yêu mến.  Ánh lửa đó sưởi ấm tình người.

Chúng ta hãy noi gương Mẹ Têrêxa, biết tha thiết cầu nguyện, biết yêu mến Lời Chúa, nhất là biết yêu mến người nghèo và biết phục vụ bằng tình yêu.  Để mỗi người Công giáo thực sự là một ngọn đèn chiếu toả ánh sáng của Chúa.  Để mỗi người Công giáo là một niềm vui cho những người chung quanh.

Lạy Mẹ Têrêxa, xin cầu cho chúng con.  Amen!

ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

From: Langthangchieutim

Hoạt Động của Mẹ Teresa

Suy Tư Thần Học của Mẹ Teresa

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Đường phía Bắc

Ba’o Đàn Chim Việt

Tác Giả:  Tưởng Năng Tiến

Lúc còn tại thế, có lúc, ông Phạm Văn Đồng đã phải đối diện với một câu hỏi khó:

“Xin thủ tướng cho biết ý kiến về sự kiện thuyền nhân hồi 1975, nhất là hồi 1978, 1979… Về nguyên nhân và trách nhiệm trong những sự kiện ấy, với những hiện tượng bán bãi thu vàng và khá nhiều tầu, thuyền bị hải tặc bão tố và chìm trong đại dương… Là người đứng đầu chính phủ, một trong những người lãnh đạo cao nhất của đảng cộng sản, thủ tướng nhìn nhận ra sao trách nhiệm của mình trong cuộc di dân rộng lớn và bi thảm ấy?” (Bùi Tín, “Hai Câu Hỏi Cần Trả Lời Rõ Ràng Trước Khi Thế Kỷ 20 Khép Lại,” Cánh Én, Feb.1999:05).

Phạm Văn Đồng, tất nhiên, không “nhìn nhận trách nhiệm” gì ráo trọi. Và đây là thái độ chung của giới hữu trách ở Việt Nam – theo như nhận xét của ông Ngô Nhân Dụng: “Khi thấy dân tố cáo bất cứ cái gì, phải chối ngay, phải lấp liếm, bịa đặt, bưng bít, bằng bất cứ cách nào, không bao giờ nhận lỗi.”

Ông nhà báo này nói tầm bậy tầm bạ như vậy mà … không trật. Khi được phóng viên báo Nhân Dân, số ra ngày 31 tháng 8 năm 1987, hỏi về cuộc “di dân  rộng lớn và bi thảm ấy,” Trung Tướng Nguyễn Đình Ước (Viện Trưởng Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam) đẩy cây như máy:

“Đó là chuyện có thật … Đã có một bộ phận người Việt Nam bỏ đất nước ra đi. Không ít người đã thiệt mạng trên biển do bị chìm thuyền, bị bọn đưa người vượt biên trái phép lừa gạt giết chết. Đó đúng là một thảm cảnh nhưng là hệ quả do những chính sách chống phá Việt Nam từ bên ngoài.”

Mới đây, ông Dương Trung Quốc  mô tả đó là một “vết thương lịch sử” nhưng (sau một lúc quanh co) ông kết luận rằng là nó sắp … lành đến nơi rồi : “Tôi không nghĩ kiều bào còn lấn cấn nhiều về chế độ chính trị, có lẽ chỉ còn ở một thế hệ nào đó do hoàn cảnh lịch sử.”

Cái “hoàn cảnh lịch sử” này ra sao là điều mà ông Tổng Thư Ký Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam không muốn nói đến. Ông Trương Tấn Sang cũng vậy:

“Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, luôn mong muốn và làm hết sức mình để hỗ trợ đồng bào đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, hòa nhập vào cộng đồng dân cư trên đất nước cư trú…”

Dưới mắt nhìn của những người cầm quyền ở Việt Nam thì mấy triệu thuyền nhân cứ y như một đám người từ trên trời rớt xuống, tứ tán khắp năm Châu. Đảng và Nhà Nước đã gom cái tập thể này lại và biến họ thành cục bột, muốn nắn bóp nó ra sao – tùy thích.

Có lúc Nhà Nước mô tả những kẻ ra đi là một lũ người “bất hảo, cặn bã của xã hội, ma cô, đĩ điếm, trộm cướp, trây lười lao động, ngại khó ngại khổ, phản bội tổ quốc, chạy theo bơ thừa sữa cặn… ”.  Không hiểu đám thuyền nhân đã hành nghề ma cô, đĩ điếm và tổ chức trộm cướp ra sao – nơi đất lạ quê người – nhưng số lượng bơ thừa sữa cặn mà họ đều đặn gửi về cố hương đã cứu toàn dân, cũng như toàn Đảng, thoát chết (đói) nhiều phen.

Từ đó, Đảng ta đổi giọng : những kẻ  phản bội tổ quốc không những đều được “khoan hồng” mà còn được “tôn vinh” như “những sứ giả Lạc Hồng,” và (bỗng) trở thành “một bộ phận  không thể tách rời của cộng đồng dân tộc,”  hay “là cầu nối phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước trên thế giới…”

Thiệt khoẻ!

Thế còn chính những thuyền nhân họ nghĩ sao? Theo nhận xét của giáo sư Nguyễn Văn Tuấn thì dường như đây là một đám đông thầm lặng, không nghe ai lên tiếng nói năng gì hết trơn hết trọi : “Đúng là một cuộc di tản qui mô lớn chưa bao giờ có trong lịch sử Việt Nam. Nhưng không có ai của Nhà nước chính thức ghi nhận sự kiện này. Tôi chưa bao giờ nghe / đọc một người từ miền Bắc nhắc đến sự kiện này.”

Nói nào ngay thì có nhưng rất ít. Lý do giản dị chỉ vì những nạn nhân của những biến cố kinh hoàng, vượt ngoài sức chịu đựng bình thường của con người, thường không mấy ai muốn nhắc đến những kinh nghiệm hãi hùng mà họ đã phải trải qua. Đây là hội chứng PTSD (Post Traumatic Stress Disorder) theo như ghi nhận của DSM – IV – TR (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorder, Fourth Edition. Text Revision. Washington, DC, American Psychiatric Association, 2000 – cẩm nang của khoa Tâm Thần Học).

Hiện tại, trên bàn viết của chúng tôi chỉ có hai cuốn sách thuộc loại này:

  • Góc Bể Bên Trời của Võ Hoàng có lẽ là tác phẩm đầu tiên, viết về chuyện vượt biên, tạp chí Nhân Văn (California) xuất bản năm 1984. Tác giả vốn là một ngư dân ở Rạch Giá đã ghi lại một cuộc vượt biển “phụ,” một đoạn đường đi “thêm” từ vịnh Thái Lan đến tận Úc Châu – trên một chiếc thuyền con mong manh, thiếu thốn tất cả những phương tiện, những điều kiện cần thiết tối thiểu cho một hải trình dài dặc, và có trăm ngàn thứ gian nguy – của chính ông và bè bạn.
  • Buồn Vui Đời Thuyền Nhâncủa Lâm Hoàng Mạnh, Tiếng Quê Hương (Virginia) xuất bản năm 2011. Đây là tập hồi ký dầy hơn ba trăm trang của một y sĩ kiêm văn sĩ, ghi lại hết sức sống động và chi tiết cuộc trốn chạy của những người Việt gốc Hoa từ bến Tam Bạc (Hải Phòng) qua Hồng Kông, và điểm đến cuối cùng là Anh Quốc.

Trang sổ tay hôm nay chúng tôi xin dành để giới thiệu một tác phẩm khác ( Đường Phía Bắc) của nhà văn Lê Đại Lãng, tuần báo Trẻ (Texas) xuất bản đầu năm 2012, viết về “hành trình của những người hướng Bắc sinh và sống từ cầu Hiền Lương đến nàng Tô Thị.”

Tác giả là một thuyền nhân đi từ phía Nam nhưng có một thời gian dài làm việc thiện nguyện trong những trại tị nạn, ở Hồng Kông. Ông cũng là tác giả của tập bút ký Nước Mắt Trong Tim  do tạp chí Người Dân (California) xuất bản năm 1990, và tiểu luận Vietnamese-English Bilingualism: Patterns of Code-Switching – Routledge Studies in Asian Linguistics – xuất bản năm 2003, ký tên thật là tiến sĩ Hồ Đắc Túc.

Trong phần lời tựa của Đường Phía Bắc, Lê Đại Lãng tâm sự :

“Tôi viết lại những mẩu chuyện nho nhỏ mà các bạn  đã kể cho tôi nghe như một người nghèo thiếu  áo, chắp lại những mẩu áo đủ màu đủ cỡ, lành có rách có, đậm có nhạt có, để ráp thành một cái áo vụng về xấu xí mặc cho qua rét mướt mùa đông.  Dù cho công tôi chắp vá mà thành, nhưng chất liệu vẫn là các bạn, nếu có chỗ nào (nói cho le) là hư cấu thì cũng xin coi là cái cúc áo đơm vào để gài kín ngực. Bỏ cái cúc ra, áo vẫn hoàn áo, vải gấm hay vải thô vẫn là của các bạn.  Vốn liếng và chất liệu đã làm nên cuốn sách này là từ đời sống của các bạn tôi… và những hạt mưa dầm.”

“Những mẩu chuyện nho nhỏ” của người đi từ phía Bắc và những kẻ đi từ phía Nam, gần như, chả khác gì nhau. Đều là những chuyện nát lòng, và những mảnh đời tơi tả, của những kẻ bị đẩy đến bước đường cùng không còn lựa chọn nào khác nên phải (đành đoạn) rời bỏ quê hương đâm sầm ra biển – như một cách lao đời vào cái chết để tìm sự sống.

Người ta ước đoán chừng vài trăm ngàn thuyền nhân đã vùi thây trong lòng biển cả (*). Những kẻ thoát chết đến được bến bờ không nhất thiết đã là những người may mắn. Đường Phía Bắc là tác phẩm viết về họ, những kẻ trong các trại cấm ở Hồng Kông sau giờ khắc định mệnh “0 giờ ngày 16 tháng 6 năm 1988” –  giờ khắc mà nhiều trại tị nạn ở Đông Nam Á đã đột ngột biến thành những trại tù, qua ngòi bút của Lê Đại Lãng :

“Những dãy nhà lợp tôn dài hai mươi chín mét, rộng sáu mét trống trải không có giường nhét đủ ba trăm mạng người. Hải băng qua những đường rãnh lềnh bềnh rác lẫn với phân người, theo trưởng buồng lách chân giữa một lối đi hẹp giữa buồng, hai bên thùng bọng la liệt, kẻ nằm người ngồi tràn lan trên nền đất rin rỉn nước.”

Và đây là vài mẩu đối thoại của những con người sống trong vòng rào của những trại cấm này:

  • Tiên sư con cái nhà ai mà cứ ỉa tòe loe ra đấy. Bẩn đéo chịu nổi.
  • Giọng một bà trả đũa:
  • Con cái nhà bà đấy. Nó muốn ỉa đâu thì nó ỉa, bà thách thằng chó nào đụng tới nó coi nào.
  • Gã đàn ông bị chạm tự ái, cáu :
  • Ỉa thì có nhà cầu, cứ tươm cả ra đấy thì cái nhà này biến thành lăng bác cả à!
  • Tiếng cười rúc rích thú vị, chị đàn bà đổi hướng:
  • Có giỏi thì đứng ở Ba Đình nói câu ấy. Qua đây nói ai nghe nào. Lũ hèn…!
  • Thằng bé cắt lời mẹ, ré lên đòi chùi đít. Bà mẹ bảo: “Cứ chờ đấy, chừng nào nước mở hẵng rửa”.
  • Thằng bé dang dang hai chân đi về giường. Có tiếng la dẫy nẩy: “Coi chừng nó ngồi lên giường là khốn đấy. Địt mẹ, biết thế này ông thèm vào”.
  • Ở trong những trại tị nạn này, trẻ con Việt Nam không biết nói tiếng “không.”
  • Chúng thay bằng tiếng khác :
  • Tao đéo thèm chơi với mày nữa
  • Tao đéo vào
  • Mầy có cái đó không?
  • Đéo có.

Những mảnh đời méo mó qua những mẩu đối thoại thô tục (thượng dẫn) của những  kẻ may mắn sống sót đến được bến bờ, cùng với oan hồn của hàng triệu sinh linh dưới đáy biển sâu không thể nói lấp liếm cho qua chuyện (”Tôi không nghĩ kiều bào còn lấn cấn nhiều về chế độ chính trị, có lẽ chỉ còn ở một thế hệ nào đó do hoàn cảnh lịch sử”) theo cái kiểu xuê xoa của ông Dương Trung Quốc. Cũng không thể yêu cầu những quốc gia láng giềng đục bỏ những bia tưởng niệm thuyền nhân là kể như huề –  như cách hành xử của ông Trần Đức Lương.

Họa cộng sản sẽ qua, và sắp qua. Ngoài chuyện Thu Vàng Bán Bãi Vuợt Biên, còn nhiều “vụ động trời” khác nữa – như C.C.R. Đ, Nhân Văn, Xét Lại, Thảm Sát Mậu Thân, Đổi Tiền, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Mười Ngày Học Tập, Khai Thác Bauxit, Vinashin … – cần phải được ghi nhận, và xét xử minh bạch, trong tương lai gần.

Vấn đề không phải là để tầm thù hay báo oán. Điều này hoàn toàn không cần thiết, và hoàn toàn đi ngược lại với truyền thống văn hoá bao dung dân tộc Việt. Tuy nhiên, quá khứ cần phải được thanh thoả để chúng ta an tâm hơn khi hướng đến tương lai.

Tưởng Năng Tiến
3/2012

(*) Death Tolls and Casualty Statistics Vietnam – Vietnamese Boat People

  • Jacqueline Desbarats and Karl Jackson (“Vietnam 1975-1982: The Cruel Peace”, in The Washington Quarterly, Fall 1985) estimated that there had been around 65,000 executions. This number is repeated in the Sept. 1985  of State Bulletinarticle on Vietnam.
  • Orange County Register(29 April 2001): 1 million sent to camps and 165,000 died.
  • Northwest Asian Weekly(5 July 1996): 150,000-175,000 camp prisoners unaccounted for.
  • Estimates for the number of Boat People who died:
    • Elizabeth Becker (When the War Was Over, 1986) cites the UN High Commissioner on Refugees: 250,000 boat people died at sea; 929,600 reached asylum
    • The 20 July 1986 San Diego Union-Tribunecites the UN Refugee Commission: 200,000 to 250,000 boat people had died at sea since 1975.
    • The 3 Aug. 1979 Washington Postcites the Australian immigration minister’s estimate that 200,000 refugees had died at sea since 1975.
      • Also: “Some estimates have said that around half of those who set out do not survive.”
    • The 1991 Information Please Almanaccites unspecified “US Officials” that 100,000 boat people died fleeing Vietnam.
    • Encartaestimates that 0.5M fled, and 10-15% died, for a death toll of 50-75,000.
    • Nayan Chanda, Brother Enemy(1986): ¼M Chinese refugees in two years, 30,000 to 40,000 of whom died at sea. (These numbers also repeated by Marilyn Young, The Vietnam Wars: 1945-1990 (1991))
  • Rummel
    • Vietnamese democide: 1,040,000 (1975-87)
      • Executions: 100,000
      • Camp Deaths: 95,000
      • Forced Labor: 48,000
      • Democides in Cambodia: 460,000
      • Democides in Laos: 87,000
      • Vietnamese Boat People: 500,000 deaths (50% not blamed on the Vietnamese government)

Điều Bất Ngờ Thứ 6: Bạn ý thức hơn trước cơn cám dỗ – Cha Vương

Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Luca, mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thứ 4: 18/10/2023

Thánh Gioan Henry Newman, một vị Thánh thời đại, được ĐGH Phanxicô phong thánh năm 2019. Ngài nói, “Mẹ Maria là đấng bảo vệ Giáo Hội, không ai, con người lẫn ma quỷ, làm hại chúng ta được.” Hôm nay mời Bạn suy niệm Điều Bất Ngờ Thứ 6 khi bạn cầu nguyện thường xuyên với chuỗi Mân Côi. Xin Mẹ hãy bảo vệ Bạn và gia đình.

Điều Bất Ngờ Thứ 6: Bạn ý thức hơn trước cơn cám dỗ.

Một trong số mười năm lời hứa về chuỗi Mân côi là: “việc lần chuỗi sẽ giúp phá bỏ những thiếu sót, giảm tội lỗi và đánh bại dị giáo.” Theo kinh nghiệm của tôi, khi tôi cầu nguyện thường xuyên với chuỗi Mân côi, tôi thấy rằng khoảnh khắc trước khi tôi phạm tội chậm xuống. Theo đó, chẳng hạn nếu tôi muốn trì hoãn hay nói chuyện phàm tục, tôi không làm nó một cách tự động nữa. Tôi nhận thức rằng những hành vi ấy bắt đầu với một cuộc đối thoại trong đầu tôi. Tôi ý thức hơn về cám dỗ trước khi hành động và có thêm thời gian để suy xét tôi có thực sự muốn làm nó hay không. Và khi cầu nguyện bằng chuỗi Mân côi, tôi bắt đầu nhìn đời sống của mình qua một lối nhìn liên kết với Thiên Chúa và bắt đầu thấy những gì Người muốn cho tôi là tốt lành và tôi cũng muốn cùng một điều Người muốn.

Hôm nay xin Bạn đọc 10 Kinh Kính Mừng với ý chỉ cầu nguyện cho khỏi bị sa chước cám dỗ.

From: Đỗ Dzũng

Thánh Ca: Maria Mẹ Của Con – Trình bày: Ca Sĩ Như Ý

Tin nổi bật: Chiến tranh Israel-Hamas – Ai tấn công bệnh viện Al Ahli ở Gaza?

Vụ nổ bom chết 500 người ở bệnh viện Al Ahli, Gaza: Kẻ Nói Dối như Vẹm là ai?

Theo đài BBC Luân Đôn

BBC đã có thể đối chiếu thông tin chi tiết về các tòa nhà và cách bố trí của bệnh viện Al Ahli với hình ảnh vệ tinh được công bố rộng rãi để xác định rằng bệnh viện là hiện trường vụ nổ.

Dựa trên những bằng chứng sẵn có, có vẻ như vụ nổ xảy ra ở sân trong của bệnh viện. Hình ảnh mặt đất sau vụ nổ không cho thấy thiệt hại đáng kể đối với các tòa nhà bệnh viện xung quanh. Những gì hình ảnh thể hiện bao gồm vết cháy sém và những chiếc ô tô bị cháy rụi.

Ảnh của BBC cho thấy vụ nổ chỉ xảy ra ở bãi đậu xe và chỉ có sự thiệt hại nhỏ

An annotated graphic of damage at the hospital

Cho đến nay những phát hiện là không thuyết phục. Bộ phận kiểm chứng tin của BBC Verify đã đưa bằng chứng cho một số chuyên gia vũ khí, một số người trong số họ nói rằng nó không phù hợp với những gì bạn mong đợi từ một cuộc không kích điển hình của Israel.

GAZA CITY, GAZA - NGÀY 18 THÁNG 10: Quang cảnh xung quanh Bệnh viện Al-Ahli Baptist sau khi nó bị tấn công ở Thành phố Gaza, Gaza vào ngày 18 tháng 10 năm 2023. (Ảnh của Ali Jadallah/Anadolu qua Getty Images)

J Andres Gannon, trợ lý giáo sư tại Đại học Vanderbilt, Mỹ, cho biết vụ nổ có vẻ nhỏ, nghĩa là nhiệt sinh ra từ vụ va chạm có thể là do nhiên liệu tên lửa còn sót lại chứ không phải do vụ nổ từ đầu đạn.

Lời Bàn của Kẻ đi tìm:

  • Có vẻ như vụ này sẽ được sáng tỏ vì có bomb nổ sập bệnh viện hay sập một góc bệnh viện hay không thì sẽ có không ảnh và hình chụp chứng minh.
  • Để đánh chết 500 người thì phải có một quả bom hoăc tên lửa loại mạnh nhất và chúng phải đánh sập một góc của bệnh viện Al Ahli
  • Có thể đây chỉ là một vụ nói dối không có bằng khoán của Hamas và phe nhóm, công chúng sẽ được tỏ tường nhanh trong vụ bomb nổ này. Cứ chờ xem hồi sau sẽ rõ.
  • Hamasas có thể đã ăn phải đũa ngậm máu phun người của Cộng Sản Việt Nam chăng?

 

Theo báo Ấn Độ Ngày Nay

Ahmed Zakot/Reuters

Ahmed Zakot/Reuters© Được cung cấp bởi The Daily Beast

Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF) hôm thứ Tư đã công bố bằng chứng mà họ khẳng định xác nhận rằng họ không chịu trách nhiệm về vụ nổ thảm khốc tại một bệnh viện ở Gaza khiến hàng trăm người thiệt mạng.

Vào tối thứ Ba, Hamas – tổ chức đang cai trị Gaza – đã đổ lỗi cho cuộc không kích của Israel gây ra thảm họa tại bệnh viện Al-Ahli al-Arabi, khiến các quan chức y tế Gazan cho biết đã giết chết 500 người.

Bây giờ IDF cho biết họ “có thể xác nhận” rằng vụ nổ thực sự là do một vụ phóng tên lửa thất bại từ bên trong khu vực này.

Người phát ngôn của IDF, Chuẩn đô đốc Daniel Hagari, cho biết trong một tuyên bố rằng Jihad Hồi giáo, nhóm chiến binh lớn thứ hai ở Gaza, “phải chịu trách nhiệm”. Ông cho biết vào lúc 6:59 chiều giờ địa phương, Thánh chiến Hồi giáo đã phóng một loạt 10 quả tên lửa từ một nghĩa trang. Hagari cho biết thêm, các báo cáo về vụ nổ tại bệnh viện cũng xuất hiện cùng lúc.

 

Hagari nói: “Theo thông tin tình báo của chúng tôi, Hamas đã kiểm tra các báo cáo, hiểu rằng đó là một tên lửa Jihad của Hồi giáo đã bắn nhầm và quyết định phát động một chiến dịch truyền thông toàn cầu để che giấu những gì thực sự đã xảy ra”. “Họ đã đi xa đến mức thổi phồng con số thương vong.”   

GIẾT CHO ĐỦ CHỈ TIÊU! – PHAN NHẬT NAM                      

PHAN NHẬT NAM   

 

 

GIẾT CHO ĐỦ CHỈ TIÊU! 

Về Cải Cách Ruộng Ðất | Nghiên Cứu Lịch Sử

PHAN NHẬT NAM         

 Một.

Năm 2020, Thúy Hà, họ Phan là một người nữ thuộc thế hệ thứ ba sau 1975 (sinh 1979 tại Hương Khê, Hà Tĩnh, nay sống tại Hà Nội, thủ đô CHXHCNVN) tuy “không phải là nhà văn” (tuyên bố ngày 8 Tháng Sáu 2023 tại Collège de France, Paris) nhưng do đã nghe ra, nên đã viết xuống những “cảnh (thật) chết”:

“Vào năm giảm tô, ông nội bị bắt giam. Ông bị treo lên, đầu dọng xuống đất. Sao lại dọng đầu ông xuống đất, sau này tôi hỏi mẹ. Mẹ bảo, để cho ông có nuốt vàng vào trong bụng thì nhả ra. Họ dọng đầu ông như thế từ sáng đến trưa, từ trưa đến tối. Cho đến lúc không tra khảo gì nữa thì tống vào tù… Ông nội bị treo ngược đầu, sau đó chết vì bệnh. Bác Võ Tá Cảnh, con trai cả của ông bà, chết trong trại giam. Có người nói bác tự vẫn (…)

Anh chết, em phải thế mạng. Cha tôi, Võ Tá Tân, phải đền tội thay Võ Tá Cảnh. Cha về làng để nhận án tử hình thay thế bác Cảnh (…). Trên quả đồi trọc, những bó đuốc giơ lên. “Cho mi nói một lời cuối cùng với bà con nông dân”. Cha nói: “Con thưa bà con nông dân, con là một thằng phản dân, phản đảng, phản nước, con xin ông bà nông dân tha tội bắn cho con…” Ba phát súng. Ở nhà chúng tôi nghe rõ. Cha tôi gục xuống.” Đoạn kể của Võ Tá Tạo (Phan Thúy Hà. Gia Đình. NXB/PNVN, Hà Nội, 2020; trang 49-53).

Với cảnh “thật chết/chết thật” như trên, Phan Thúy Hà có thắc mắc chân thành: “Cải cách ruộng đất” – gọi chung vậy – Phải chăng là câu chuyện của (cả) loài người? Đó không chỉ là câu chuyện của riêng Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam (cộng sản). Phần lớn người Việt Nam không nhận thức được hết Nỗi Đau. Cái này đến từ rất nhiều nguyên nhân. Họ (có thể-Pnn) đồng nghĩa “Nỗi Đau với Sự Không May”. Điều này xảy ra trong suy nghĩ của cả những vị học cao. Khi chưa được nói cho hết nhẽ thì câu chuyện chưa thể gọi là đã qua, dù xảy ra cách bảy mươi hay một trăm năm”.

Thoạt tiên bản thân cũng muốn “tin” như cô Phan để tạm an lòng, nhưng khi phải đọc thêm câu chuyện. Hãy nghe kể tiếp…

VIETNAMSAIGON75: "CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT" - Tội ác Hồ Chí Minh

“Ba tên phản động hàng đầu của xã Bùi Xá là Trần Yến, Nguyễn Oánh, Đặng Yên. Đấy là ba tên cộng sản của thời điểm 1930-1931 (hàng cán bộ cộng sản cốt cán của Phong Trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, 1930-1931-Pnn), bị Pháp đưa vào nhà lao bảy năm, trong Ban Mê Thuột. Nhưng (sau khi được thực dân Pháp “tàn ác”trả tự do-Pnn) trở về địa phương Nghệ An theo quan điểm cách mạng thì:

“Chúng chui vào đảng để phá hoại cách mạng (?!). Bắn. Tên đầu sỏ số 1: Trần Yến. Là cha của nhân vật Trần Văn Dung. Chết sau 10 ngày bị tra tấn, bỏ đói, chưa kịp bắn. Lấp rồi, mẹ con mới được báo. Khi cất mộ, thấy dây thừng ở cổ. Dây thừng lôi xác từ xóm Trúc ra bờ sông sau đình Làng Khê.

Tên đầu sỏ số 2: Nguyễn Oánh. Bắn 5 phát mới chết. Cổ bị lìa một nửa. Bà Chắt Hinh (vợ) phải dùng chạc mụi (dây thừng) tròng nốt nửa phần cổ lôi đi chôn. Đi được hai chục mét, bà Chắt Hinh ngất. Người ta dội nước vào mặt, bà tỉnh lại, lôi thêm hai chục mét, lại khuỵ xuống. Người ta lại dội nước vào mặt bà. Lôi đến cái hố đào sẵn bên hố xí. Thằng con mới bốn tuổi kêu khóc, mẹ ơi đừng chôn cậu, con sợ. Hai mẹ con bị đuổi ra mé làng. Bắt cua ăn sống, vì không có nồi nấu. Thằng bé qua được chết đói nhờ những con cóc, con nhái.

Tên đầu sỏ số 3: Đặng Yên. Để kết tội chết, một vụ án giết người được dựng ra: Đặng Yên giết một phụ nữ miền Nam tập kết đang đi trên đê. Những thợ đấu đứng lên mô tả cảnh giết (giả tạo-Pnn) rùng rợn đến nỗi sau này đi qua địa điểm giết người (tưởng tượng) đó bác Trần Văn Dung vẫn rờn rợn. Bắn xong, ông Đặng Yên gục xuống, không thấy máu phun ra, bởi khi đó thân người ông đã như que củi – Xong.

Vietnam Future: Hình ảnh Cải cách ruộng đất ở miền Bắc (1953–1956)

Tuy nhiên (sau nầy – Pnn) Đảng ra tuyên bố: “Ba ông bị (giết) oan”. Được (đảng-Pnn) công nhận là “cán bộ tiền khởi nghĩa”, được hưởng tiền chế độ. Ông Nguyễn Oánh được (công nhận-Pnn) là liệt sỹ, cho nên thằng bé con ông (ăn cóc nhái mà sống) năm xưa nay (trở nên) là “con liệt sỹ”, được sang Ba Lan học!

Xã Bùi Xá còn có chị gái của ông Lê Văn Thiêm: Bà Cửu Hối. Bà không phải đảng viên nên không bị đưa vào diện bắn, chỉ đưa vào trại giam. Xã Bùi Xá là quê nhà của hoạ sĩ, điêu khắc gia nổi danh Phùng Thị Điềm (sau nầy là nghệ sĩ thiên tả/chống VNCH tại Pháp trong thập niên 1960). Cha của bà là Cụ Án Cần bị giam chết đói tại nhà.

Con trai cụ là chiến sĩ Phùng Duy Phiên, cán bộ trung đoàn đầu tiên khi kháng chiến bắt đầu. Bùi Xá là xã khá giả của huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh bấy giờ – về tất cả các mặt kinh tế, văn hoá, giáo dục. Thầy giáo Phong, thầy giáo Cơ chết đói và chết trong trại giam. Thầy giáo Trị bị đuổi dạy. Anh Cửu Thiêm cháu nhà quan tự tử. Bà Đoàn Phương tự tử. Anh Viên bị giam chết đói. Đó là chuyện xảy (CHỈ) ra ở một xã – xã có truyền thống cách mạng!

Hai.

Như vậy là thế nào? Chỉ trong một xã, Xã Bùi Xá, Đức Thọ, Hà Tĩnh nơi có những người lương thiện, công chính, có học vấn, có “công lớn với cách mạng” (cán bộ lãnh đạo tiên khởi của Phong Trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, 1930-1931), mà người con trai của nạn nhân (bị kết án oan) là cán bộ chỉ huy cấp trung đoàn Phùng Duy Phiên khi kháng chiến mới bắt đầu (19/12/1946)!

Vậy phải có một nguyên nhân từ một cá nhân/nhóm cá nhân cụ thể/rất cụ thể để khởi động “kế hoạch giết người/với (chính) người của ta”. Chúng ta hãy tìm từ đầu cội nguồn…

“Hoàng Tùng (Biên tập/Tổng biên tập Nhân Dân (1951-1982); Ủy viên BCH/TUĐ (1976-82)-pnn) đã viết trong hồi ký:

“… Mùa hè năm 1952, Mao Trạch Đông và Stalin gọi Bác sang, nhất định bắt phải cải cách ruộng đất. Sau thấy không thể từ chối được nữa Bác mới quyết định phải thực hiện… Họ (Stalin, Mao) muốn qua cải cách ruộng đất để “chỉnh đốn” lại Đảng ta. (Trích đăng từ hồi ký Hoàng Tùng “Vài chuyện về Bác Hồ với Trung Quốc –Pnn). “Trung Quốc đã rắp tâm đưa đảng cộng sản Việt Nam vào quỹ đạo của Trung quốc như bóng với hình” (Trần Đĩnh. Đèn Cù, Người Việt Books, US, 2014. Trang 95).

Vietnam Future: Cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam (WIKIPEDIA)

Đến đây chúng ta có thể kết luận không sợ sai lầm: Chính Hồ Chí Minh chứ không ai khác là tác nhân “xây dựng/lãnh đạo/điều hành” toàn diện các kế hoạch của đảng cộng sản Việt Nam từ ngày thành hình (3 Tháng Hai 1930) qua các giai đoạn cao trào cũng như thoái trào của tổ chức chính trị bạo lực nầy.

Tiến trình nầy hiện thực cụ thể trong “Chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất” khởi động từ 1953 đến năm 1956 như trên đã đề cập với những nhân sự điển hình: “Phá đảng lừng danh quân Đặng Thí. Giết người khét tiếng gã Chu Biên” (Đèn Cù, trang 111).

Những tên sát nhân thành danh nầy không hề bị trừng phạt, trái lại được tưởng thưởng do công lao “xây dựng chế độ” với thành tích: “Chu Văn Biên, bí thư đoàn ủy cải cách ruộng đất Nghệ Tĩnh, bắt ghế ngồi trên thềm cao chỉ tay vào mặt mẹ đẻ chắp tay đứng dưới sân gằn giọng.. “Tao với mi không mẹ, không con mà chỉ là kẻ thù giai cấp của nhau. Tao có phận sự tiêu diệt mi”.

Chu Biên được đề bạt thứ trưởng nông nghiệp do “nhiệt tình cách mạng”. (Đèn Cù, trang 111) và Đặng Thí được đề cử vào BCH/TUĐ khóa 1967-1982 cùng với Hoàng Tùng, đồng nghiệp, đồng chí thân thiết của “nhà văn” Trần Đĩnh trong ban biên tập báo Nhân Dân từ 1951.

Thế nên, tôi có ý nghĩ: “Phải chăng do không muốn dính dấp với loại “nhà văn/nhà thơ” của Hà Nội (Trần Đĩnh, Tô Hoài, Chế Lan Viên, Tố Hữu…) nên tác giả Phan Thúy Hà đã từ chối danh tính “nhà văn” trong lần phát biểu tại College de France trong ngày 8 Tháng Sáu 2023?! Hy vọng tôi ước đoán không sai.

Tóm lại, Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn, Lê Khả Phiêu… Tất cả tập đoàn bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam nơi Hà Nội, ở Trung Ương Cục Miền Nam (Cục R) là (đích) thủ phạm hàng đầu của (nhiều) lần tàn sát tập thể Người Dân Việt Nam một cách có hệ thống kể từ ngày đảng cộng sản thành lập (3 Tháng Hai 1930) dẫu tay họ không hề dính máu của ai. Nhưng “Tội Ác Đảng Cộng Sản” không ngừng lại tại Ngày 30 Tháng Tư, 1975 với 600,000 người Việt chết trên đường vượt biên, vượt biển bởi kế hoạch “công an tổ chức vượt biên-công an bán bãi vượt biên-công an tàn sát vượt biên”. Tội ác đúng sách lược, có chỉ tiêu hôm nay (Thế Kỷ 21) vẫn đang tiếp tục.

Ba.

Vụ án Nguyễn Hữu Giộc/Mười Vân, nguyên Giám Đốc Công An Đồng Nai (Biên Hòa, Phước Tuy trước 1975) bị tử hình gây chấn động dư luận sau 1975. Năm 1948, Mười Vân/Giộc gia nhập vào công an xã Long Định, Chợ Lớn. Thời kỳ 1948-1949, Huyện Cần Đước nơi chính quyền quốc gia chưa kiểm soát được, Mười Giộc đã làm mưa làm gió giết hại rất nhiều người trong đó có lãnh đạo huyện đội trưởng Việt Minh/cộng sản với vu cáo (giả tạo) ghép vào tội theo “Đại Việt Quốc Dân Đảng” – Lý do thông dụng dùng để (giải thích/hợp lý hóa) chủ trương giết người của cộng sản Việt Minh trong những năm trước, sau 1945, 1946.

Năm 1954, Giộc tập kết ra Bắc, được cử làm Phó Phòng cảnh sát Trị An/Ty Công An Hòa Bình. Năm 1962, Giộc trở về miền Nam “chống Mỹ cứu nước”. Sau năm 1975, Giộc được cử làm giám đốc công an Tỉnh Đồng Nai (mới). Điển hình Giộc đã hạ ngục tra tấn, bức cung rất dã man hơn cả cầm thú bằng cách bỏ đói “đồng chí” tên Ba Lan, bắt ăn phân người trộn với bo bo – học từ cách của Mao đối với Thống Chế Hồng Quân Trung Quốc Bành Đức Hoài trong Cách Mạng Văn Hóa, 1965!

Sau 1975, trong thời gian hai năm 1978-1979, Giộc câu kết với Kim Anh (chủ nhà hàng Cyrnos, Vũng Tàu trước 1975), tổ chức hệ thống tàu vượt biên, bán bãi, chung chi đầy đủ (bằng vàng) tại các bãi Hồ Cốc, Bình Châu, Lộc An, thuộc Quận Xuyên Mộc, Phước Tuy (trước 1975). Theo ước tính không chính thức, Giộc thu cả nửa tấn vàng, giao cho Kim Anh chờ ngày đoàn tụ ở Mỹ. Thu được khối vàng lớn, nhưng Giộc nộp ra Hà Nội không bao nhiêu.

Thế nên, đã đến lúc phải hạ thủ Giộc. Năm 1983, Bộ trưởng Bộ Công An Phạm Hùng đích thân ký lệnh bắt giam. Phiên tòa sơ chung thẩm xét xử Mười Vân/Giộc tại hội trường lớn Tỉnh Đồng Nai là một phiên tòa lịch sử của ngành tòa án cộng sản do Phó Tòa Phúc Thẩm tối cao Phạm Như Phấn chủ tọa.

Sau ba ngày xét xử, tòa tuyên án tử hình Giộc. Theo báo chí của nhà nước cộng sản thì kết quả phiên tòa là “niềm vui khôn tả của hàng ngàn người dân”, đặc biệt là những người từng phải chết oan, tù tội và nhục hình do Mười Vân/Giộc gây ra. Nói như thế là nói (láo) lấy có, bởi trong khoảng thời gian dài 35 năm từ 1948 đến 1983, Giộc/Mười Vân đã giết rất nhiều người (cán bộ cộng sản, đảng phái quốc gia, và dân thường) với cớ “cách mạng”.

Thế nhưng, tại sao phải đến 1983, Phó Thủ Tướng/Bộ Trưởng Công An Phạm Hùng mới “lên kế hoạch” bắt Giộc (phải) chết? Chúng ta có thể nói chắc: “Giộc/Mười Vân đã giết đủ chỉ tiêu, và dấu chấm hết chính là mạng sống và khối vàng khổng lồ mà y ta đã chiếm được từ cái chết của ngàn người (Việt và Hoa của Miền Nam) vượt biên sau 30 Tháng Tư 1975.

Chẳng có người dân nào “vui khôn tả” án tử hình của Giộc, bởi họ đã là những người đã chết, máu thấm đủ, thịt da, xương cốt rơi rớt trên đoạn đường dẫn đến những bãi vượt biên Hồ Cốc, Bình Châu, Lộc An… xuyên rừng Xuyên Mộc (Phước Tuy) mà dân chúng vùng Biên Hòa, Long Khánh, Phước Tuy, Vũng Tàu gọi là “đường Mười Giộc”.

Tội danh khi tuyên án tử cho Mười Vân/Giộc là: “Cố ý làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ, thể lệ kinh tế gây thiệt hại nghiêm trọng tài sản XHCN”. Không phải thế, mà phải nói: “Mười Giộc đã thực hiện “rất đúng” nguyên tắc/chính sách/chế độ/chỉ tiêu” để đảng ta với đám cán bộ trung ương nơi Bộ Chính Trị, Bộ Công An ở Hà Nội được “vui khôn tả”, vì chỉ mở một “trận tòa án” thu được 1,979 lượng vàng theo báo cáo chính thức. Thực tế đến nửa tấn (8,000 lượng) và có thể nhiều hơn thế nữa mà cộng sản Hà Nội dần thâu lại được sau nầy.

Thảm kịch vượt biển/vượt biên không chấm dứt sau án tử hình Mười Giộc với thây xác của người chết thảm bao gồm trẻ nhỏ vị thành niên do “quy định” của “đảng, nhà nước ta” dành cho bọn “bán nước/phản bội tổ quốc”: Muốn nhận xác người vượt biển đem về chôn, nhà nước đề ra “tử thi phí”: Xác người lớn/1,000 đồng tiền HCM! Xác trẻ nhỏ/600! Với “tử thi phí”, nhà nước chxhcnvn (không đủ sức viết nguyên chữ hoa) vượt quá khả năng tàn độc của tất cả thứ, loại nhà nước ác độc, man rợ nhất đã có trên hành tinh quả đất nầy. Chúng ta tiếp theo dõi “biện pháp phát triển/nâng cao chất lượng kinh tế xhcn” của đảng, nhà nước Hà Nội.

Bốn.

Cuối Thế Kỷ 20, bắt đầu thập niên 1990, phong trào vượt biên/vượt biển dần chấm dứt, các trại tỵ nạn vùng Đông-Nam Á đóng cửa. Đảng ta không còn “mối (sinh) lợi chiến lược” từ kế hoạch “tổ chức/bán bãi/tàn sát” với đối tượng “thuyền nhân” – Thế nên Đảng “sáng tạo” kế hoạch “xuất khẩu lao động/khởi động kinh tế vĩ mô” với “đối tượng/sản phẩm” có giá trị chất lượng, giá trị (kinh tế) cao mà không phải tốn công xây dựng, đào tạo – “Thùng nhân” được thành hình và đưa vào hoạt động, đẩy mạnh kinh tế “xã hội chủ nghĩa” lên một tầm vóc mới trên quy toàn cầu!

Nhưng trước khi đề cập “Thùng nhân” với kế hoạch Xuất Khẩu Lao Động/XKLĐ, chúng tôi đề cập một “khâu” tài chánh chiến lược KHÁC mà đảng, nhà nước Hà Nội đã quá “hên” mà thâu đạt được – Đấy là nguồn tài chánh đến từ các nước tư bản có hệ thống “kinh tế/tài chánh rẫy chết” với chính sách “người bóc lột người” qua thành phần đối tượng mà đa số nếu không nói hầu hết là “Công Dân VNCH/Tỵ nạn cộng sản” rời khỏi nước sau 30 Tháng Tư 1975.

Đối tượng đau thương, tan tác nầy sau đợt vượt biên suốt thập niên 1980 nếu sống sót qua thảm trạng “vượt biên-mua bãi vượt biên-sát hại (người) vượt biên”do công an cộng sản tổ chức và thực hiện như phần trên đã trình bày với thành phần sát nhân (điển hình) tên Mười Vân/Giộc. Và (nếu) sống sót, thoát nạn hải tặc Thái, Mã dậy mờ biển Đông, họ đến được một đất nước ”không phải là cộng sản”, chủ yếu Mỹ, Úc, Gia Nã Đại…

Và tại những xứ sở mới nầy, lượng người bất hạnh (đông đảo) thực hiện ngay động tác cấp thiết hàng đầu: “Nỗ lực làm việc để nuôi sống lượng người thân còn kẹt lại Việt Nam, thành phần nam giới đang trong hệ thống trại cải tạo dày đặc từ Nam ra Bắc”. Vô tình một cách hợp lý, đám người đọa đày sau năm 1975 với danh tính (bị) lăng nhục “bọn người bỏ nước, phản bội tổ quốc” chính thức biến thái thành “khúc ruột ngàn dặm” mà “Đảng và Nhà nước ta” luôn luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam – Điều 2 của Nghị Quyết 36 (2004)”.

Số lượng kiều hối của cộng đồng kể trên tăng theo lũy tiến phần lớn chuyển về gia đình cư ngụ vùng Sài Gòn. Điển hình qua Thế Kỷ 21 vẫn đạt hơn US$6.6 tỷ/2022, tương đương 33% thu ngân sách của thành phố, và chiếm trên 50% so với cả nước. Sài Gòn vẫn luôn là Sài Gòn, thành phố giàu nhất nước. Vào Thế Kỷ 21, nhu cầu sinh tử “Kiều Hối” luôn là ưu tiên chiến lược hàng đầu để Việt Nam cộng sản (được) ở trong nhóm ba quốc gia nhận kiều hối nhiều nhất khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, và thuộc toán 10 quốc gia nhận kiều hối nhiều nhất thế giới.

Thế nên kế hoạch XKLĐ để lượng kiều hối “nuôi dưỡng chế độ/làm giàu đất nước “tư bản đỏ hóa” (phải) được duy trì, phát triển. Trong tình hình “khẩn trương” nầy, đường dây “XKLĐ CHUI” được thành hình như một “đột phá chiến lược xã hội chủ nghĩa” và “Thùng Nhân” là “kết quả tất yếu” của, từ Tính Đảng/Đảng Cộng Sản!

Năm.  

Kiều Hối đã là MỘT trong những nguồn vốn quan trọng từ nước ngoài/quyết định cho sự sống còn của nền “kinh tế – xã hội của CHXHCNVN” khi các “quả đấm (thép) kinh tế” điển hình như VINASHIN/Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam; HUD/Tập đoàn đầu tư và phát triển Nhà và Đô Thị Việt Nam; VNIV/Tập đoàn Công Nghiệp và Xây Dựng Việt Nam… lần lượt phá sản!

Nền kinh tế XHCN tan nát như thế, nhưng cán bộ đảng từ địa phương đến trung ương tiếp tục xây “biệt phủ” và mỗi tỉnh, thậm chí mỗi huyện đều có “tượng đài”?! Kiểu như bức tường gốm sứ (dài 1,950 thước) tiêu mất 1,000 tỷ đồng/500 triệu đôla Mỹ cho công trình “hoành tráng” 1,000 năm Thăng Long/Đúng “quốc khánh, 1 Tháng Mười 2010” của Tàu. Đến Tháng Sáu 2020 bức tường bị đập bể!

Vì lẽ sống chết nầy, Đảng, Nhà nước cộng sản Hà Nội đã không ngừng phát triển kế hoạch (lớn) thâu đạt kiều hối, đặc biệt chuyển người lao động Việt Nam đi làm việc chính thức (và chui) tại các nước phát triển trên thế giới, chủ yếu là Nhật Bản, Đại Hàn, Đài Loan… Châu Âu với Anh Quốc là mục tiêu lớn nhắm tới.

Bi thảm kịch điển hình mở ra theo như câu chuyện sau… Lê Văn Hà, 30 tuổi người huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, một vùng quê nghèo chuyên nông nghiệp. Hà ra đi từ Tháng Bảy 2019 với đích đến là nước Anh. Chuyến đi phải mất 20 ngàn bảng Anh (tức khoảng 25 ngàn đôla Mỹ) trả cho “đường dây đưa người ra nước ngoài”.

Đây là một khoản tiền quá lớn mà gia đình phải cầm thế (với ngân hàng nhà nước) hai lô đất mới vay được với hy vọng tới đất Anh, Hà sẽ tìm được việc làm để trả nợ. Nhưng trước ngày 24 Tháng Mười 2019, khi báo chí Anh và quốc tế đưa tin có 39 người nhập cảnh lậu vào Anh Quốc bằng container đã bị chết tại khu công nghiệp Waterglade, thị trấn Grays (Quận Essex, Anh Quốc), thì ông Lê Minh Tuấn, cha của Hà nhận được một tin nhắn (cuối cùng) của con trên Facebook ngay trước thời điểm mà anh Hà nói rằng đang chuẩn bị vào Anh.

Thế nên, ông Tuấn tin rằng người con nằm trong số 39 nạn nhân chết trong lòng xe oan nghiệt ở Essex. Lê Văn Hà không chết một mình, anh chết vì ngạt thở với nhiều nạn nhân cùng Huyện Yên Thành, Tỉnh Nghệ An (vùng đất cách mạng kiên cường với thành phần nạn nhân bị giết oan từ mà phần trên Phan Thúy Hà đã kể ra). Trong số người chết có cô gái 19 tuổi Bùi Thị Nhung, người thiếu nữ thông minh, sáng đẹp nhất trong số bốn anh chị em. Bùi Thị Nhung là hy vọng tốt nhất cả toàn cho gia tộc.

Lê Văn Hà, Bùi Thị Nhung… những công dân CHXHCNVN sinh trưởng sau 1975, hoàn toàn không dính dấp đến chiến tranh chống Thực Dân Pháp (1946-1954); chống Ngụy Quân-Ngụy Quyền-Đế Quốc Mỹ xâm lược (1960-1975), đã chết cùng với nhiều người khác, tổng cộng 39 người; lớn nhất 44 tuổi, nhỏ nhất là một cậu bé vị thành niên, 15 tuổi. Tất cả đều Chết Ngạt trong lòng container để cố vào đất Anh tìm việc làm kiếm tiền trả nợ ở quê nhà.

Chết sau lời trăn trối cuối cùng (được ghi lại trong cell phone) của anh Nguyễn Thọ Tuân, 25 tuổi gởi về cho vợ con tại giây phút cuối ngày 23 Tháng Mười 2019… “Anh Tuân đây. Anh xin lỗi. Anh không chăm sóc được cho mẹ con em. Anh xin lỗi. Anh xin lỗi. Khó thở quá rồi…”

39 người chết tại ngày 23 Tháng Mười 2019 không vô tình, ngẫu nhiên có mặt cùng nhau trong thùng xe tử thần. Công việc đưa họ ra nước ngoài là một phần hoạt động của thế giới ngầm thuộc của một mạng lưới toàn cầu/Nơi khởi hành là Hà Nội. Họ rời Việt Nam từ sân bay Nội Bài với giấy tờ XKLĐ “hợp lệ/hợp pháp”, qua ngả Trung Cộng, dần tới các nước cộng sản thuộc khối Đông Âu cũ (trước 1990).

Nhưng khi đến English Channel (eo biển Manche), cho dù mức phí đã nộp là bao nhiêu chăng nữa, thì con đường duy nhất vào đất Anh vẫn là phải trốn vào container. SỰ CHẾT BẮT ĐẦU. Thành phần thuộc đường dây buôn người bắt đầu từ Hà Nội kia đã thu một khoản tiền rất lớn từ 10 ngàn bảng đến hơn 30 ngàn bảng Anh, tỷ lệ chia chác giữa kẻ tổ chức ở Hà Nội và tài xế lái xe container nơi cửa khẩu Essex là Bao Nhiêu và gồm có những AI chúng ta không thể biết?!

Chỉ biết sau thảm kịch ở Essex, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã ra lệnh điều tra về các vụ việc đưa công dân Việt Nam “xuất cảnh chưa hợp pháp”/theo cách nói của báo chí nhà nước, xử lý nghiêm các vi phạm! Bất chấp lệnh của Thủ tướng Phúc (năm 2019), hay đe dọa trừng trị của Tướng Công An Tô Lâm (hiện thời), khoản tiền khổng lồ kiếm được từ việc buôn người đã trở thành một “ngành kinh doanh “hợp pháp gọi là XKLĐ” béo bở và đang tiếp tục phát triển mạnh ở Việt Nam.

Tháng Mười 2019 kia đến nay, Tháng Mười 2023 đúng bốn năm, nạn buôn người/trốn thoát bất hợp pháp ra khỏi Việt Nam có giảm không? Tháng Ba vừa qua của năm 2023 báo chí Đài Loan đưa tin 14 người Việt gồm 9 nam và 5 nữ, vượt biên giới đường bộ bất hợp pháp sang Trung Quốc, sau đó di chuyển đến khu vực duyên hải của Tỉnh Phúc Kiến, tìm cách vượt biển vào Đài Loan nhưng thuyền đã bị lật chìm giữa biển khiến tất cả thiệt mạng!

48 năm sau 30 Tháng Tư 1975, người Việt Nam vẫn tiếp tục vượt biên. Nhưng phần lớn thuộc Miền Bắc vĩ tuyến 17 – Công dân Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trước 1945, hoặc CHXHCNVN sau 1975.

Cali, Tháng 10/2023

From: TRUONG LE