Kissinger để lại di sản gì cho quan hệ Việt – Mỹ?

Theo VOA tiếng Việt

Kissinger khiến cho Hà Nội cay đắng mỗi khi nhớ lại đã bị Bắc Kinh bán đứng như thế nào. Điều Lê Duẩn tâm đắc, đánh Mỹ là “đánh cho cả Liên Xô lẫn Trung Quốc”, liệu có thể trở thành bài học nằm lòng trong bối cảnh địa-chính trị mới?

Kissinger qua đời ngày 29/11/2023 nhưng tên tuổi của vị Cố vấn an ninh quốc gia kiêm Ngoại trưởng Hoa Kỳ có lẽ sẽ không bao giờ tách khỏi lịch sử bang giao Mỹ – Việt, cũng như bang giao quốc tế nói chung. Theo các nguồn tin nội bộ, Ban Tuyên giáo ĐCSVN chỉ thị cho báo giới không được khen mà cũng không được chê, chỉ giữ một thái độ bàng quan. TTXVN đưa lại đánh giá của Reuters, cho rằng Tiến sỹ Kissinger là “một nhà ngoại giao nhiều ảnh hưởng, từng phục vụ dưới thời của hai tổng thống Mỹ” và “để lại nhiều dấu ấn lớn trong chính sách đối ngoại của Mỹ”. Một bản tin ngắn của VTV cũng nhắc đến việc ông Kissinger từng tham gia vào quá trình đàm phán Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam năm 1973.

Tập Cận Bình và Kissinger hồi 2015 tại Seattle, Washington.

Điều mà TTXVN trích dẫn, “Kissinger để lại nhiều dấu ấn lớn…”, đối với CSVN không chỉ bao gồm các trận tập kích Hà Nội, Hải Phòng bằng B52 của bộ đôi Nixon – Kissinger quyết đưa Việt Nam trở về thời đồ đá, cũng như các cuộc ném bom rải thảm Cambodia để tìm diệt cơ quan đầu não Việt cộng.

“Tội to nhất” của Kissinger chủ yếu là đã hành động táo tợn và bất ngờ để bóc mẽ cái gọi là “chủ nghĩa quốc tế vô sản”, sợi dây mỏng manh kết nối ba thực thể: Việt Nam, Trung Quốc và Liên Xô trong các cuộc tương tranh, nhưng đặc biệt là trong giai đoạn kết thúc cuộc chiến. Lịch sử ghi lại hai sự kiện ngoại giao chấn động một thời, gắn với tên tuổi Kissinger, đó là chuyến thăm Bắc Kinh (tháng 2/1972) và Mátxcơva (tháng 5/1972) của Tổng thống Richard Nixon. Nixon đến Trung Quốc, dù bấy giờ giữa hai nước chưa có quan hệ ngoại giao, nhằm ép Hà Nội ký một hiệp ước hòa bình có lợi cho Mỹ. Nixon hy vọng, sự “quay xe của hai đàn anh hàng đầu” của Hà Nội sẽ khiến cho Bắc Việt Nam nhượng bộ trong các cuộc hoà đàm Paris (2).

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, những ngày này Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, hơn một lần vẫn tái khẳng định sự coi trọng cao độ và ưu tiên hàng đầu của Đảng và nước Việt Nam đối với quan hệ Việt Nam – Trung Quốc. Người đứng đầu ĐCSVN cam kết như thế khi tiếp Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị ngày 2/12/2023. Về nội trị, TBT yêu cầu Công đoàn Việt Nam phải “trung thành với Đảng và giai cấp”. Mặc dù chính ông cũng thừa biết rằng, hiện nay hàng vạn công nhân đang thất nghiệp, hàng vạn người lao động đang sống lay lắt ở quê, nhưng ông Trọng “vẫn yêu cầu mỗi đoàn viên Công đoàn phải nhận thức sâu sắc hơn về Đảng, về chế độ, về giai cấp… trên nền tảng chủ nghĩa Marx – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh” (3).

Xem ra, não trạng của người đứng đầu ĐCSVN vẫn như cách đây hàng thế kỷ. Với tư duy “án binh bất động” ấy, ông Trọng và Bộ Chính trị ĐCSVN không thể nuốt nổi “quả đắng” khi mà ĐCSTQ, với tư cách là “chủ chăn” về ý thức hệ của ĐCSVN, vẫn một mực tiếc thương Kissinger như là “người bạn cũ quý giá nhất”. Các bình luận trên mạng xã hội Trung Quốc còn miêu tả ông Kissinger như một người bạn lâu năm và đáng tin cậy từ thời mà Mỹ và Trung Quốc háo hức chào đón nhau (4). Mãi đến gần cuối đời, Kissinger vẫn lặn lội qua Trung Quốc khi bang giao Trung – Mỹ chạm đáy. Riêng điều này đủ cho ta thấy sự tận tụy của ông đối với nước Mỹ và quan hệ Mỹ – Trung. Nếu sự ra đi của ông là kết thúc một kỷ nguyên, thì cái trật tự mới trong những kỷ nguyên tới đây là gì?

“Chúng ta đang ở một thời điểm quan trọng trong lịch sử thế giới, nơi mà những quyết định được đưa ra trong 3, 4 hoặc 5 năm tới sẽ định hướng cho cả thế giới trong vòng 25 đến 50 năm nữa”. Đó là tuyên bố của Tổng thống Joe Biden tại Hà Nội ngày 10/9/2023. Nhưng làm thế nào để Việt Nam có thể góp phần vào các nỗ lực chung nhằm “định hướng cho cả thế giới trong vòng 25 đến 50 năm nữa”, khi mà ký xong CSP với Mỹ, lãnh đạo ĐCSVN lại đẩy mạnh chủ trương bắt bớ và đàn áp mọi tiếng nói phản biện ôn hòa trong khuôn khổ hiến định? Con số bắt bớ trong năm nay dường như đạt kỷ lục cao hơn các năm trước, kể cả chủ trương bắt rồi sẽ điều tra sau, như trường hợp “scandal” về Phó ban Dân nguyện Lưu Bình Nhưỡng. Và không chỉ đối với ông Nhưỡng, theo Bộ Công an Việt Nam, việc đưa tin Hà Nội bắt giam các nhà hoạt động môi trường, trong đó có bà Ngô Thị Tố Nhiên và nhiều nhà hoạt động khác “là luận điệu xuyên tạc, vu cáo và can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam”.

Giới quan sát còn đế ý thấy Việt Nam vừa “đi xin tiền” nhưng lại cũng vừa “lên giọng dạy đời”. Trên thực tế, Việt Nam đã đặt một chân vào cam kết cùng chiến đấu chống lại biến đổi khí hậu khi ký thỏa thuận “Đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng” gọi tắt là JETP trị giá hơn 15,5 tỷ USD. Nhưng những năm gần đây, Hà Nội lại liên tiếp bỏ tù các nhà hoạt động môi trường tiêu biểu, trong đó ngoài bà Nhiên, còn có các bà Hoàng Minh Hồng, Ngụy Thị Khanh, các ông Đặng Đình Bách, Mai Phan Lợi và Bạch Hùng Dương. Đến nay mới chỉ có bà Khanh được trả tự do sau khi thụ án 16 tháng tù. Theo giới quan sát trong nước, các nhà hoạt động môi trường này là những “cánh chim đầu đàn” đã và đang dũng cảm tố cáo các nhóm lợi ích thân Bắc Kinh, đang tìm mọi cách duy trì năng lượng than đá. Những chiến sỹ dũng cảm đấu tranh cho JETP, lẽ ra có thể đóng vai trò chủ đạo trong giám sát độc lập quá trình chuyển đổi. Dư luận đang đặt dấu hỏi, chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Biden và việc hai nước nâng cấp quan hệ CSP liệu có giúp ích gì cho cuộc chống biến đổi khí hậu và cải thiện môi trường dân chủ ở Việt Nam?

Tựu trung lại, ý thức hệ vốn đã được “đào sâu chô

Kẻ đi Tìm

Kissinger bán đứng cả Miền Bắc, Miền Nam VN và nước Mỹ.

  • Mỗi khi cần Mỹ tương nhường là Trung Cộng lại mang con bài mà bây giờ đã xuống thấp điểm là Kissinger ra để dụ khị chính giới Mỹ, Kissinger sẵn sàng làm điều này mà không mắc cỡ bao giờ.
  • Miền Bắc CS VN thì bị Kissinger bỏ bom thủ đô Hà Nội
  • Miền Nam VN, Kissinger thúc ép ký vào hiệp định Paris kéo đến sự sụp đổ năm 1975.

Kissinger là con buôn đi đêm chỉ biết quyền lợi và bất chấp đạo lý.


 

MẸ NUÔI

Đây là những bức ảnh được chụp tại một thị trấn ở Assam, Ấn Độ.

Một người đàn ông đã mua con bò từ một thị trấn lân cận và mang nó đến thị trấn của mình.

Chó hay sủa vào ban đêm. Mọi người nghĩ rằng chó sủa dữ như vậy là do những tên trộm đang lộng hành ở đây.

Họ đã cài đặt camera quan sát và những gì họ thấy thật quá bất ngờ.

Sau khi xem camera mọi người phát hiện ra rằng, lúc trước mẹ của con báo đã chết khi bé mới được 20 ngày tuổi.

Người dân trong thị trấn đã quyết định mang báo con tới chỗ bò và dùng sữa bò để chăm sóc cho báo.

Khi báo con lớn lên, mọi người đã thả nó trong rừng, nhưng báo vẫn không quên vị cứu tinh của mình, người đã cho bé uống sữa suốt những năm tháng qua.

Và khi đêm đến ,báo lại tới chỗ mẹ bò để thăm “Mẹ nuôi” của mình.

Sưu tầm.!!

Chả bù Mẹ Nuôi vượn ! Đem bắn, chém luôn !!

From:Tu-Phung

Chuyện BÙI GIÁNG

Người ta kể, có lần thứ trưởng bộ văn hóa Huy Cận về nói chuyện ở Cao đẳng Mỹ Thuật, Bùi Giáng xuất hiện, đi tới đi lui ở trước cổng trường và chửi đổng:

-“Mẹ mày Huy Cận, mẹ mày Huy Cận.”

Sinh viên vào báo cho ban giám hiệu, nhưng tất cả đều im lặng.

Họa sĩ đồng hương Hồ Thành Đức, phu quân họa sĩ Bé Ký, có lẽ là người biết rất nhiều về Bùi Giáng trong giai đoạn ‘hậu giải phóng’:

– Nhà thơ Huy Cận, có bài thơ được Bùi Giáng sửa lại khi mang ra giảng dạy. Huy Cận biết được, phục tài sửa thơ của họ Bùi nên lúc vào miền Nam đã cho người tìm Bùi Giáng để thăm.

Nhưng, sau 75 Bùi Giáng đã thành ‘Chủ Cái Bang’, biết đâu mà tìm.

+123 Bài Thơ Bùi Giáng - Những Sáng Tác Hay Của Nhà Thơ Bùi Giáng ...

Nhân viên ông Thứ Trưởng tìm đến nhờ họa sĩ Hồ Thành Đức, bởi sau 75 nơi ở của họa sĩ xem như chỗ vãng lai của nhiều nhân vật văn nghệ miền Bắc.

Anh Đức chạy kiếm nhà thơ và khuyên ông:

– “Anh à, đến thăm ông Thứ Trưởng, anh phải ăn mặc cho đàng hoàng, về nhà em tắm rửa rồi lấy áo quần em thay.”

Bùi Giáng không nghe cứ mặc nguyên áo quần rách rưới hôi hám, ai đời quần xà lỏn mà thắt cà vạt, lại tòn ten trên người lon hũ linh tinh.

… Huy Cận ra tận cửa đón Bùi Giáng, nhưng thoạt nhìn đã phải quay đi vì không thể nhịn được cười.

Huy Cận gọi nhà thơ là Tiên Sinh, chuyện vãn thân mật. Cuối cùng ông hỏi Bùi Giáng:

– “Tiên Sinh có cần giúp đỡ gì không xin cho biết?”

Bùi Giáng nói như thật:

– “Ông Thứ Trưởng giúp cho mấy chữ để tôi trình công an chớ họ gặp là đánh tôi bầm mình bầm mẩy.”

Huy Cận viết cho Bùi Giáng mảnh giấy đại ý:

*** Nhà thơ Bùi Giáng là bạn tôi.

Ông ta có tính hay đi lang thang.

Các đồng chí công lực thông cảm giúp đỡ.***

Mảnh giấy như lá bùa hộ mệnh, anh Đức bảo đưa photo để cất bản chính, nhưng Bùi Giáng không chịu.

Mấy bữa sau, gặp lại, anh Đức hỏi:

– “Sao công an còn khó dễ với anh không?”

– “Nó vẫn đánh tao học máu.”

– “Sao không trình giấy cho họ?”

– “Thì tao có lấy giấy ra, nhưng đọc xong nó vẫn đánh.”

Những giai thoại về cuộc đời Bùi Giáng

Người ta đồn rằng có hôm nhà thơ lang thang trên đường Lê Lợi, gặp một phụ nữ người Âu, ông thản nhiên… bóp vú cô đầm.

Công an can thiệp, ông nói tỉnh bơ:

– “Tôi chỉ muốn thử xem hai bầu vú Liên Sô có còn nuôi nổi Việt Nam không.”

Một lần khác trong chợ An Đông, ông giật một chiếc xe đạp của bà bán dạo trên hè.

Bà hàng đuổi theo, ông trả lại và nói:

– “Mất cả nước thì không la, mất cái xe đạp lại la oai oái!”

Xin hãy đọc một trong những bài thơ sau cùng của ông:

Uống xong ly rượu cuối cùng

Bỗng nhiên chợt nhớ, đã từng đầu tiên.

Uống như uống nước ngọc tuyền

Từ đầu tiên mộng, tới phiền muộn sau.

Uống xong ly rượu cùng nhau

Hẹn rằng mai sẽ, quên nhau muôn đời.

Em còn ở lại vui chơi

Suốt năm suốt tháng, suốt nơi lan tràn.

Riêng anh về suốt suối vàng

Trùng phùng Lý Bạch, nghênh ngang Tản Ðà.

Em còn ở với sơn hà

Anh còn mất hút, gần xa mất hoài.

(Bao Nguyen Quang ST & T/H)

From: Phong Duong


 

Buồn cho cái Tuổi Già

– Không mua nhà lớn để con cháu thỉnh thoảng đến thăm có nơi ở, hãy xài tiền đó đi.  Cứ để chúng thuê khách sạn vì đó là lý do người ta  xây khách sạn ( …that is what hotel for ).

– Nên ở gần con để tiện thăm viếng, nhưng không quá gần để chúng đem con đến gởi hằng ngày.  Nên nhớ là bạn đã làm xong bổn phận của mình ( … you have paid your due ).

SỰ THẬT: Cha mẹ và con cái.

Lạc quan hay bi quan ? Hay cần phải có cái nhìn triết lý ?

Bài nên đọc để hiểu rằng mình chỉ nên lo cho con cái xong bổn phận rồi  thì đừng bao giờ trông cậy ở chúng điều gì. Mình hãy sẵn sàng khi già không còn làm việc nổi thì vào nursing home như vậy thì mình sẽ bớt  khổ.  Đời sống này ai cũng giống như vậy mà thôi! Mình cũng còn có phúc hơn rất nhiều người là bên này mình được hưởng trợ cấp dù có làm việc hay không cũng được và có cả housing nữa vậy thì chả nên bi quan mà nên chấp nhận những gì cuộc đời đã dành sẵn cho mình rồi!..  Không chừng tới khi già lại cùng các bạn đồng tuổi vào ở chung một nursing home thì lại còn vui nữa đấy!

Mời quí vị đọc và nhớ để đời  hai thân già bớt khổ…..!!!!!

Quí vị thấy những cặp vợ chồng có 9,10 người con, dù là kỹ sư, bác sĩ, họ vẫn khổ vì con cái bạc bẽo!!! Nói chi quí vị chỉ có 4 hay 5 con!

Chính bản thân tôi đã gặp  nhiều cha mẹ khổ vì sự bạc bẽo của con cái ở xứ Mỹ này! Con họ là những người có học, giầu có, nhưng họ vẫn phải đi   “share” phòng hay “get line ” sau lưng tôi để xin nhà “ low  income “…    Bài đọc sau rất chính xác và thiết thực. Xin quí vị đọc và nhớ dùm tôi cho đời mình bớt khổ vì chính những đứa con mà mình đã suốt đời hy sinh cho chúng nên nguời. Tôi đã đọc được 1 bài rất hay: Nếu lỡ sanh con thì: vui với con khi chúng còn nhỏ. Lo cho chúng hoc hành nên người, và khi chúng trưởng thành, có gia đình rồi thì quên chúng đi để sống. Và đây là điều quan trong: Đừng trông mong chúng báo hiếu, kẻo thất vọng nặng nề…!!!!??? ( sách nói nhé ). Chính vì biết rõ điều này nên bản thân tôi, đã 73 xuân xanh, ngày ngày đi phòng  “ gym ” 3 tiếng để  tập thể dục, bơi lội…vì bà xã đã bịnh rồi, tôi bịnh nữa là chỉ còn nước dắt nhau vào “nursing  home ” thôi???

Thân chào và chúc quí vị nhiều sức khỏe .

Một bài rất hay, hãy ráng đọc cho hết, đừng đọc nửa chừng rồi cho qua !!!

Trong truyện cổ, người ta có kể chuyện một ông phú hộ và bốn người con trai. Khi bốn người con này lớn lên lập gia đình, ông phú hộ này đem một phần gia tài chia cho bốn người con, phần còn lại vợ chồng ông giữ để dưỡng già. Mấy năm sau khi vợ ông qua đời, mấy người con sợ rằng ông sẽ tìm vợ mới, lúc có con, gia tài này phải chia cho những đứa con khác. Chúng bàn với nhau thuyết phục cha, về ở với mình, săn sóc cha thật chu đáo, sung sướng để ông không cảm thấy cô đơn, khỏi cần phải tục huyền. Ðược ít lâu, chúng thuyết phục ông phú hộ chia hết tài sản  cho chúng. Bùi tai và thấy không cần giữ riêng cho mình một tài khoản nào, ông đồng ý đem gia tài chia hết cho bốn đứa con.

Sau đó ông đến ở với đứa con thứ nhất, nhưng đứa con này nghe vợ, chỉ được ít hôm, bảo ông đến ở nhà đứa em kế. Cứ như thế, không ở được với đứa con nào. Không một đồng xu dính túi, người cha bị bỏ rơi, phải đi khất thực từng nhà. Bấy giờ cây gậy cũng còn có ích hơn là những đứa con. Cây gậy đó có thể giúp ông già xua đuổi những con chó, dò dẫm trên đường, tránh những vũng nước và giúp ông những lúc yếu chân sắp ngã.

Câu chuyện này sao giống câu chuyện của một bà mẹ ở Quận Cam. Sau Tháng Tư 1975, hai vợ chồng đem một đàn con vượt biển sang Mỹ. Trong nhiều năm, ông bà vừa nuôi con khôn lớn, ăn học thành tài, dựng vợ gả chồng cho con, vừa tậu được một căn nhà khang trang trong vùng Bolsa. Sau khi người chồng qua đời ít lâu, bà vợ được con cái thuyết phục nên bán ngôi nhà đi, chia đều cho các con rồi về ở với con cháu cho đỡ cô đơn. Bà nghe theo, và cũng lần lượt ở với nhiều đứa con, chịu cảnh bạc đãi và cuối cùng bà quyết định phải rời khỏi nhà những đứa con ấy. May thay, trên đất Mỹ, bà già cô đơn này còn có chỗ nương tựa, đó là một món trợ cấp nhỏ và ngôi nhà “housing ” mà chính phủ đã đành cho bà. Nếu  ở một xứ sở khác, chắc bà cũng cần đến một cây gậy.

Những đứa con mua nhà mới có thể đã không tính đến một chỗ cho cha mẹ già khi xế bóng, nhưng tôi biết nhiều bậc cha mẹ khi luống tuổi, con cái lập gia đình đi xa cả rồi, mà vẫn giữ cái nhà cũ nhiều phòng, với ý nghĩ dành cho con lúc trở về thăm viếng. Tôi có một người bạn được con trai bảo lãnh sang Mỹ, nhưng chỉ ít lâu sau cô con dâu muốn chồng bán căn nhà đang ở và đi mua lại một cái nhà nhỏ hơn, lấy lý do để tiết kiệm cũng là lý do để cha mẹ chồng phải dọn ra.

Cha mẹ đối với con lúc nào cũng hết lòng. Mẹ có thể lăn vào lửa để cứu con, cha có thể đổ mồ hôi nhọc nhằn để đứa con có được một nụ cười hạnh phúc, nhưng những đứa con, khi đã có gia đình riêng của mình, không giữ được sự chăm sóc, lo lắng cho đời sống của cha mẹ. Người mẹ nào cũng mỗi đêm kéo chăn đắp cho con, sờ trán con, hạnh phúc theo từng nụ cười của con, nhưng bây giờ con ở xa, thời giờ dùng để gọi về thăm mẹ đôi khi cũng hiếm hoi.

Ông Chu Dung Cơ nói về mối liên hệ giữa cha mẹ già và con cái:

“ Cha mẹ thương con là vô hạn, con thương cha mẹ là có hạn. Con bệnh cha mẹ buồn lo. Cha mẹ bệnh con đến nhòm một cái, hỏi vài câu thấy là đủ.

Con tiêu tiền của cha mẹ thoải mái, cha mẹ tiêu tiền của con chẳng dễ chút nào.

Nhà của cha mẹ là của con. Nhà của con không phải là nhà cha mẹ. Ốm đau trông cậy vào ai? Nếu ốm đau dai dẳng có đứa con hiếu nào ở bên giường đâu ( cứu bệnh sàng tiền vô hiếu tử )”.

Và lời khuyên đối với các bậc cha mẹ là: “ Khác nhau là như vậy! Người hiểu đời coi việc lo cho con là nghĩa vụ, là niềm vui không mong báo đáp. Chờ báo đáp là tự làm khổ mình. ”

Cũng có nhiều con cái nuôi cha mẹ. Luận Ngữ chép, Tử Du hỏi về đạo hiếu. Khổng Tử đáp:

“ Ngày nay người ta cho nuôi cha mẹ là hiếu, nhưng đến chó ngựa kia, người ta cũng nuôi, nếu nuôi mà không kính hiếu cha mẹ thì có khác chi! ”.  Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn, con cái có thể cho cha mẹ ăn  uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.

Người thợ hớt tóc cho tôi biết về con cái của ông, cả hai đứa con đều có nhà riêng, cùng ở trong quận Cam, nhưng không mấy khi chúng điện thoại hỏi thăm ông. Tháng trước, ông bệnh, nằm nhà một tuần lễ mà cũng chẳng đứa con nào ghé qua thăm.. Ông nói thêm: “ Chỉ trừ lúc nào chúng cần nhờ đến ông việc gì đó ”, và buồn bã kết luận: “Ở Mỹ này, có chín  đứa con, cha mẹ già bệnh cũng phải vào nursing home thôi! ”

Tuy vậy, nursing home ở Âu Mỹ,  mang tiếng là văn minh, hiện đại nhưng liệu rằng đây có phải là nơi yên ổn cho những ngày cuối cùng của tuổi già không? Tại các viện dưỡng lão trên đất Mỹ mỗi năm có hàng chục nghìn trường hợp khiếu nại vì cách đối xử của nhân viên như bỏ bê, đánh đập, đại tiểu tiện, ói mửa mà không dọn dẹp, không cho uống nước, tệ hại nhất là đối với những bệnh nhân Alzheimer. Năm ngoái, phúc trình của Bộ Y Tế Minnesota cho ta thấy chỉ trong vòng 5 tháng đã có 15 trường hợp bệnh nhân mất trí nhớ bị hành hạ, trong đó có những vụ như bị chọc ghẹo liên tục, bị nhổ nước bọt vào miệng. Phải chăng nhà dưỡng lão, chặng cuối đời của người già là chốn địa ngục có thật trên trần gian như thế!

Vậy thì con cái có hiếu tâm, xin cầu nguyện cho các đấng sinh thành sớm ra đi trước khi họ trở thành những người mất trí lú lẫn, nằm suốt ngày một chỗ, tiêu tiểu không kiểm soát được.

Thấy cha mẹ lớn tuổi mà còn minh mẫn, mạnh khỏe nên mừng, mà thấy cha mẹ ra đi nhẹ nhàng, trước khi phải chịu những cảnh đau lòng của tuổi già lại càng mừng hơn.

Tuy vậy, rất nhiều gia đình người Việt trên xứ người có được niềm an ủi là họ có những đứa con Việt Nam, nhất là những đứa con của một gia đình nghèo khó, lớn lên trong chiến tranh và thông cảm được nỗi thiệt thòi bất hạnh của cha mẹ.

PHAN NGUYÊN LUÂN

From: Truong Le


 

CHIỀU KÍCH VÔ CÙNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Dân dân lũ lượt đưa nhau tới, nước nước dập dìu kéo nhau đi!”.

Isaiah 2:2 | Book of isaiah, Read bible, Scripture verses

Trong cuốn “The Fight”, “Cuộc Chiến”, John White viết, “Một nhân chứng tốt khác hẳn một người bán hàng! 

Như một bảng chỉ đường, không quan trọng người ấy già, trẻ, đẹp, hay ít đẹp. Chỉ cần chỉ đúng hướng, dễ hiểu. Là chứng nhân Chúa Kitô, bạn phải sống làm sao để chỉ được ‘chiều kích vô cùng’ ơn Ngài cứu độ!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Bàn tiệc Lời Chúa Mùa Vọng cống hiến cho dân Chúa những món ăn tuyệt vời từ các bài đọc Cựu Ước, đặc biệt với sách Isaia, vốn được gọi là “Phúc Âm thứ năm”. Chẳng hạn hôm nay, Isaia nói đến “Núi nhà Đức Chúa”, nơi “Dân dân lũ lượt đưa nhau tới, nước nước dập dìu kéo nhau đi!”. Qua đó, ‘chiều kích vô cùng’ của ơn cứu độ được tỏ hiện.

Ở Cận Đông cổ đại, núi được coi là nơi ở của thần linh; Isaia ngước nhìn núi nhà Đức Chúa ở Giêrusalem và tiên báo những cuộc hành hương của muôn dân nước mai ngày. Mùa Vọng, mùa ngước nhìn Đền Thờ Giêsu, nơi các dân nước với con số muôn vàn sẽ đổ về. Vào những buổi đầu của Kitô giáo, nào ai có thể nghĩ, một ngày nào đó, mối hiệp thông của nó sẽ lên tới con số ‘tỷ’, một con số không hề có trong bất kỳ từ vựng nào vào thời đó!

Cũng từ Giêrusalem, rồi đây, với các môn đệ Giêsu, Tin Mừng cứu độ sẽ được loan đi tận trời cuối đất, bất chấp biên giới, vượt quá lãnh thổ, đạt đến một ‘chiều kích vô cùng’ trong các tâm hồn và muôn triệu con tim. Và Giêrusalem không cần và không còn phải là trung tâm thờ tự; vì ở đâu có Kitô hữu, ở đó có Đền Thờ và sự hiện diện của Giêsu, Đấng Phục Sinh. Thông điệp họ rao truyền là thông điệp hoà bình, yêu thương, “Họ đúc gươm đao thành cuốc thành cày”, một thông điệp không chỉ để rao giảng nhưng để sống!

Vậy mà, để có thể loan truyền sứ điệp đó, bạn và tôi cần được ‘lấp đầy’ bởi Giêsu; và cùng Ngài, đến với các tâm hồn, nói với họ như Isaia đã nói, “Hãy đến đây… ta cùng đi!”; Thánh Vịnh đáp ca có chung một tâm tình, “Ta vui mừng trẩy lên đền thánh Chúa!”. Thật trùng hợp, Tin Mừng hôm nay nói đến sự lấp đầy đó. Chúa Giêsu không cần lấp đầy nhà viên đại đội trưởng ngoại giáo, nhưng Ngài cần lấp đầy lòng ông, một người vốn đại diện cho thế giới ngoại giáo. Và quả như vậy, “Tôi không thấy một người Israel nào có lòng tin như thế!”.

Anh Chị em,

“Dân dân lũ lượt đưa nhau tới, nước nước dập dìu kéo nhau đi!”. Có biết bao anh chị em của thế giới ngoại giáo cần những bảng chỉ đường. Mùa Vọng, mùa bạn và tôi coi lại ơn gọi chỉ đường của mình.

Tôi có chỉ đúng hướng Đền Thờ Giêsu? Mùa nhìn lại lòng mình, ở đó có sự hiện diện của Giêsu? Và Mùa Vọng, còn là mùa mời Giêsu vào nhà, nếu ở đó, vắng bóng Ngài. Hãy nhìn viên đại đội trưởng! Bằng cách tự coi mình bất xứng, vô tình, ông tỏ ra rất xứng đáng để Giêsu không chỉ vào nhà mà còn ‘vào lòng’ ông; vì vào nhà mà chẳng vào lòng cũng bằng không.

Pin on Children's Church

Vì một khi đầy Ngài, bạn mới có thể là một bảng chỉ đường “chỉ đúng hướng, dễ hiểu”, kể cả khi phải chỉ ra ‘chiều kích vô cùng’ ơn Ngài cứu độ!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con chỉ trệch hướng! Thay vì chỉ Giêsu, con chỉ về con; thay vì chỉ về ‘chiều kích vô cùng’, con chỉ về những ‘chiều kích có cùng!’”, Amen.

 

From: Nguyen Kim Bang gửi đăng.


Vụ bắt ông Lưu Bình Nhưỡng trưởng ban dân nguyện QH, làm bao nhiêu người còn mơ tưởng về sự phản tỉnh của Cộng Sản, phải vỡ mộng

Kim Âu Hà văn Sơn nhận định về Bò Đỏ ngu dốt không biết đọc lịch sử chỉ hò hét chửi rửa manh động.

Chính bọn đặt mìn, pháo kích bừa bãi và xâm lăng phá hoại cuộc sống yên lành của dân Miền Nam là bọn phản động.

Làm sao chính quyền Việt Nam xóa bỏ được Lịch sử Thế Giới Về Người tỵ nạn bỏ mình ở Biến Đông vì chạy trốn Cộng Sản để Tìm Tự Do

Ông Hà văn Sơn kết luận, từ lớn chí bé Cộng Sản là bọn nói dối, cần dậy dỗ:

Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm

Kissinger không phải là người Việt Nam!

Ba’o Tieng Dan

 Yên khê

3-12-2023

Căm ghét

Kissinger không phải là người Việt Nam, đương nhiên rồi. Nhưng Kissinger được nhiều người Việt biết đến, nhất là những người Việt xuất thân từ miền Nam Việt Nam, vì ông ta là kiến trúc sư lớn nhất cho việc người Mỹ rút quân khỏi Việt Nam sau khi ký hiệp định Paris với Cộng sản Bắc Việt năm 1973.

Hơn hai năm sau khi hiệp định Paris ký kết, Sài Gòn sụp đổ. Gần một triệu người Việt bỏ chạy khỏi Việt Nam, hàng trăm ngàn quân nhân, viên chức Việt Nam Cộng hòa bị cầm tù không án trong cái gọi là “trại cải tạo”. Người Việt Nam, nhất là người Việt hải ngoại căm ghét Kissinger vì những điều kể trên.

Realpolitik

Đó là đối với Việt Nam. Đối với thế giới ông ta được biết như là một gương mặt tiêu biểu cho một chính sách ngoại giao gọi là Realpolitik, Chính trị Thực dụng, tức là hành xử để có lợi, không bị ràng buộc bởi ý thức hệ, và cả… đạo đức.

Nhưng Henry Kissinger không phải là người duy nhất của loại hành xử chính trị ngoại giao Realpolitik, trong đó các nước nhỏ chỉ là những con cờ, chỉ có các đại cường chơi với nhau, những chuyện như là dân chủ, nhân quyền… xem là chuyện vặt. Có thể kể vài tên tuổi như là Thucydides người Hy Lạp, Machiavelli người Ý,… một số nhân vật cộng sản như Mao Trạch Đông cũng có thể được xếp vô loại Realpolitik, một loại chính trị chẳng xa lạ gì với thế giới Đông Á. Đâu phải tự nhiên mà người Trung Quốc (và người Việt bắt chước theo) có câu, “Nhất tướng công thành vạn cốt khô”! (Một vị tướng thành công là cả vạn người chết).

Đương nhiên, xã hội loài người thay đổi, thời của Kissinger khác với Machiavelli, càng khác với Thucydides. Cùng thời như Kissinger và Mao, nhưng cái khung xã hội cũng khác. Tuy nhiên, cái chung của những nhân vật này là họ hành xử trong cái hệ thống của họ, họ là đại diện cho hệ thống ấy, cho nên họ chẳng bị xử phạt, trừng trị gì cả. Mao là thủ phạm của khoảng 30 triệu cái chết trong cái gọi là “đại nhảy vọt”, Hồ Chí Minh là thủ phạm của mấy chục ngàn người chết của cái gọi là “cải cách ruộng đất”. Thế nhưng, cả tỷ người Trung Quốc, gần 100 triệu người Việt, hàng ngày móc bóp ra là gặp hình hai ông này.

Trong trường hợp Kissinger, ông ta đại diện cho hệ thống tư bản Mỹ, hệ thống tư bản toàn cầu, trong đó ranh giới quốc gia mờ nhạt. Thế nên, chúng ta cũng không ngạc nhiên lắm khi Kissinger nói rằng, ông ta không quan tâm đến những người Do Thái ở Liên Xô có được đi định cư ở Israel hay không, hay là bị chế độ Soviet bỏ vào phòng hơi ngạt, mặc dù ông ta là người Do Thái. Stephen B. Young, một giáo sư Mỹ rành tiếng Việt, nhận định với BBC Việt ngữ rằng Kissinger chẳng yêu gì nước Mỹ, ông ta chỉ hành động cho thỏa cái tự cao tự đại của ông ta thôi.

Tổng thống Nga Putin gặp cựu Ngoại trưởng Kissinger ngày 12-2-2005. Nguồn: Điện Kremlin

Tất cả những điều này cũng không nằm ngoài những khuôn khổ của hệ thống tư bản toàn cầu. Cho nên những lời buộc tội ông ta, nào là bàn tay nhuốm máu, nào là đồ tể,… có lẽ cũng hơi quá. Tất cả những chuyện ông ta làm, mà hậu quả là cả triệu người thiệt mạng, hay tù đày, … đều là vì quyền lợi của hệ thống mà ông ta đại diện.

Cùng một mục tiêu chống hệ thống cộng sản, ở Đông Á ông ta bắt tay với Mao, nhưng tại Chile ông ta ra tay âm mưu lật đổ Allende. Nếu người Việt chống Cộng sản căm thù Kissinger vì cho rằng ông ta “phản bội” VNCH, gây đau khổ cho hàng triệu người Việt, thì họ có đồng ý với Kissinger qua chuyện lật đổ Allende, một người theo chủ nghĩa Marxist, dẫn tới việc hàng triệu người Chile phải đau khổ dưới chế độ độc tài Pinochet không?

Xem các nước nhỏ chỉ là con cờ, Kissinger không thèm đếm xỉa đến các viên chức Việt Nam Cộng Hòa về thái độ đối với Bắc Việt, cũng như chính sách chiến tranh Việt Nam, mà lại đi vấn kế Jean Sainteny, một người Pháp thân thiết với Hồ Chí Minh. Vì dưới mắt ông ta, người Mỹ, người Pháp chơi cờ, còn người Việt chỉ là những con tốt.

Đã nửa thế kỷ trôi qua kể từ khi Kissinger đặt bút ký hòa đàm Paris với Hà Nội, nửa thế kỷ trôi qua kể từ khi Allende tử nạn vì cuộc đảo chánh phản dân chủ của Pinochet, hơn nửa thế kỷ từ khi Kissinger cho ném bom Cambodia, không chỉ làm hàng ngàn người chết, mà còn dẫn đến sự trỗi dậy của phong trào Khmer Đỏ và chế độ diệt chủng sau đó.

Cựu tổng thống Obama nói với báo The Atlantic hồi năm 2016, rằng Mỹ đã bỏ bom Cambodia và Lào còn nhiều hơn số bom bỏ ở châu Âu hồi Thế Chiến Thứ Hai, và cuối cùng thì được cái gì?  Ông Obama nói tiếp, rằng chỉ được sự hỗn độn chết chóc cùng với các chế độ độc tài. Khi Nixon và Kissinger bàn chuyện bỏ bom Cambodia, họ có biết điều đó không? Khó mà nói được họ có thông minh và viễn kiến để thấy như vậy hay không. Và chính phủ VHCH lúc đó có ủng hộ việc ném bom đó không? Tôi cho rằng có, vì nó nằm trong kế hoạch cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh, con đường tiếp liệu của Bắc Việt.

Đương nhiên, nếu không biết được tương lai ra sao thì trách nhiệm có thể sẽ nhẹ hơn. Trường hợp Kissinger, người ta cho rằng ông ta biết người miền Nam Việt Nam sẽ gánh chịu sự cai trị của cộng sản khổ sở ra sao, người Chile sẽ bị tay độc tài Pinochet đàn áp thế nào… Người ta cho là thế, dựa vào sự biện hộ của Kissinger khi chuyện đã xảy ra.

Trường hợp Chile, ông ta nói rằng ông ta phải ra tay vì sự bất cẩn của dân chúng Chile đã bầu lên một người Marxism. Trường hợp Việt Nam, ở chỗ riêng tư ông ta nói rằng, miền Nam Việt Nam chỉ trụ giỏi lắm là một năm rưỡi. Thực tế, ông ta chỉ đoán sai chín tháng, từ ngày ký hiệp định Paris cho đến khi Sài Gòn sụp đổ là hai năm ba tháng. Ông ta biện hộ như thế dựa trên những điều ông ta đoán trước khi ra quyết định, hay chỉ là cái thói tự cao tự đại, tao như thế chúng mày làm gì tao!?

Nhưng một lần nữa, ông ta hành động trong hệ thống tư bản toàn cầu qua cuộc cạnh tranh với chủ nghĩa cộng sản, mà trong cuộc cạnh tranh đó, chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, có một phần công lớn của nhà ngoại giao Realpolitik, Henry Kissinger.

Một thế giới đã thay đổi với những ám ảnh quá khứ

Sau khi có tin Kissinger qua đời, ông Jim McGovern, dân biểu liên bang Hoa Kỳ từ Massachusetts, viết rằng, Kissinger đã hủy diệt với bạo lực kinh hoàng ở Chile, Vietnam, Cambodia, Đông Timor, Bangladesh. Đây là cái nhìn của một người Mỹ, của chủ nghĩa tư bản toàn cầu Mỹ, thuộc thế hệ sau Kissinger.

Ông Juan Gabriel Valdes, đại sứ Chile ở Mỹ, nhận xét rằng, Kissinger là một một kẻ thông minh không thèm che dấu sự thảm hại đạo đức của chính mình. Chính phủ hiện nay của Chile là một chính phủ khuynh tả, được thành lập sau một thời gian dài nước Chile bị đàn áp dưới chế độ độc tài Pinochet do Mỹ giúp dựng nên.

Có thể Kissinger đã góp phần vào sự sụp đổ của VNCH. Đó là một thời kỳ thực nghiệm dân chủ phôi thai duy nhất trong lịch sử Việt Nam. Nền dân chủ phôi thai ấy bị hy sinh cho một ý tưởng to lớn hơn, là tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản toàn cầu. Những nền dân chủ phôi thai cùng thời kỳ ở Đông Á như Nam Hàn, Đài Loan, đâu phải là không khó khăn, đâu phải là không có Kissinger, nhưng họ đã thoát và củng cố nền dân chủ hùng mạnh cho tới nay.

Một Lạt Ma Tây Tạng từng nói như thế này: Ta đã sống qua quá khứ, đâu có cần thiết phải sống lại với nó, nếu ta muốn sống với những vết thương quá khứ thì ta hy sinh hiện tại và tương lai, không thông minh chút nào cả.

Nếu không có những ồn ào bằng tiếng Việt quanh sự ra đi của Kissinger, tôi cũng không để ý lắm. Đối với tôi, ông ta chỉ là một người Mỹ, hành động với quyền lực của một siêu cường.

Và hơn hết, ông ta có phải là người Việt Nam đâu! Người Việt Nam chúng ta phải chịu trách nhiệm về thân phận của đất nước Việt Nam.


 

CÁC PHÉP LẠ CỦA THÁNH PHANXICÔ XAVIÊ…

CÁC PHÉP LẠ CỦA THÁNH PHANXICÔ XAVIÊ…

1–Thánh Phanxico Xavier đã hoán cải được rất nhiều linh hồn. Trong một năm mà ngài xây dựng được đến 45 cộng đoàn Công giáo ở trong vùng truyền giáo của ngài. Thiên Chúa đã sử dụng ngài để làm nhiều phép lạ kỳ diệu.

Tại Malacca, thánh Phanxico Xavier đã làm cho một người chết đã chôn trong nhiều ngày được sống lại. Khi Thánh Phanxico đi xa trong nhiều ngày thì người con gái của một phụ nữ chết. Người mẹ này đi tìm kiếm ngài khắp nơi khi con gái bà còn bịnh. Khi bà biết được thánh Phanxico về rồi thì bà tin rằng ngài có thể làm cho con bà sống lại. Giống như thánh Martha nói với Chúa Giêsu rằng:

“Nhưng bây giờ con biết là ngài xin điều gì với Thiên Chúa thì Chúa sẽ ban cho ngài.” (Gioan 11:22)

Khi người mẹ gặp thánh Phanxico thì bà quỳ mọp dưới chân ngài giống như bà thánh Martha. Thánh Phanxico ngạc nhiên trước đức tin vững mạnh của bà mẹ và ngài đã cầu nguyện để xin Chúa cho người con gái của bà sống lại. Rồi ngài bảo người mẹ hãy ra ngoài mộ tìm con vì con gái bà đã sống lại. Người mẹ vừa mừng, vừa sợ bởi vì thánh Phanxico không tự mình ra mộ và con bà thì đã được chôn 3 ngày rồi.

Tuy nhiên bà không hỏi thêm ngài mà chạy vào nhà thờ, nơi có mộ con bà. Tại đó, bà cùng nhiều người chứng thấy tảng đá lấp mộ được rời đi và người con gái đã được chôn 3 ngày mà sống lại. Ai ai cũng vui mừng vì phép lạ ấy.

2–Thánh Phanxico có quyền năng dù ở một nơi xa nhưng làm cho người chết sống lại. Tại Nhật Bản ở vùng Cagoxima, có một người giàu có ngoại giáo vừa mất một con gái duy nhất. Ông ta  quá sức đau buồn. Có một số người Kitô giáo cảm thương ông nên bảo ông hãy tìm đến gặp Thánh Phanxico Xavier, một thầy giáo vĩ đại người Bồ Đào Nha. Người cha bèn đến gặp ngài và quỳ dưới chân ngài. Ông ta nức nở mà không nói thành lời nhưng vị thánh hiểu tâm tình của người cha đau khổ.

Thánh Phanxico bèn vào nhà nguyện dâng thánh lễ. Người giúp việc ngài là ông Joam Fernandez, đi vào nhà nguyện với ngài. Sau khi thánh Phanxico cầu nguyện, ngài đi ra ngoài và bảo người cha tội nghiệp ấy rằng lời cầu nguyện của ông ta đã được Chúa nhận lời. Thế là người cha đi về và cảm thấy buồn bã.

Trên đường đi, ông ta gặp một người đầy tớ báo tin rằng con gái của ông vừa được sống lại. Rồi người con gái chạy đi và gặp cha mình. Cô ta kể rằng khi cô tắt thở thì có hai con quỷ ghê gớm đến kéo cô đi. Bọn chúng đang định ném cô vào hỏa ngục thì có hai người thánh đến cứu cô ra. Và thế là cô được sống lại khỏe mạnh.

Khi người cha dắt con gái đến gặp thánh Phanxico thì cô ta nhận ra chính là ngài và ông Fernandez đã cứu cô thoát hỏa ngục. Thế rồi hai cha con đã xin học đạo và rửa tội.

3–Một phép lạ khác xảy ra khi thánh Phanxico ở trên chiếc tàu tên Santa Croce đến vùng San Chan. Bỗng dưng một bé trai 5 tuổi rớt xuống biển khi tàu đang chạy mau. Người cha đau buồn trong suốt 3 ngày. Đến khi Thánh Phanxico gặp ông trên tàu, ngài hỏi xem ông có tin Chúa Giêsu cứu được con ông không. Ông ta nói rằng ông ta tin dù biết đứa con đã rớt xuống biển 3 ngày và tàu đã đi xa nơi con ông rớt hàng trăm dặm.

Sau khi thánh Phanxico cầu nguyện thì người cha bỗng dưng thấy lại đứa con đang chạy đến với ông với vẻ vui mừng và hoan hỉ. Thế là hai cha con đều xin được rửa tội.

4–Tại Nhật Bản ở vùng Cagoxima, thánh Phanxico đã chúc lành cho một em bé bị tàn tật nặng nề, ngay lập tức, thân xác em trở lại bình thường và đẹp đẽ.

Một đức tính của vị thánh: Làm cho mọi người ngay thẳng và đẹp đẽ trong đôi mắt của Thiên Chúa.

5–Ngoài ra, thánh Phanxico còn làm cho một phụ nữ ngoại đạo được sống lại sau khi bà ta đã chết một ngày. Tại Malacca, ngài làm cho một người thanh niên tên là Francis Ciavos sống lại. Người này sau trở nên một linh mục dòng Tên.

Thánh Phanxico mất ngày 3 tháng 12 năm 1552, vào lúc ngài được 46 tuổi. Sau đó, khi cải táng, người ta tìm thấy xác ngài còn nguyên như ngù mà không hư hại.

Sau chỉ có 12 năm kể từ khi ngài ra đi truyền giáo thì ngài chết và xác ngài được đưa về Goa để tôn kính. Có rất nhiều phép lạ xảy ra chung quanh xác của ngài. Khi xác ngài được đặt tạm ở nguyện đường College of St. Paul vào ngày 15 tháng 3 năm 1554, có rất nhiều người mù được sáng mắt, những người liệt được hết bệnh, những người động kinh được khỏe mạnh. Ngày nay xác ngài được đặt tại Vương Cung Thánh Đường Born Jesu ở vùng Goa, nước Ấn Độ.

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

CHÚ CHÓ…ÂN TÌNH (Truyện rất ngắn)

Một người đàn ông vừa mất, và con chó thân thích của ông ấy được người con trai chăm sóc….
Mấy ngày sau, anh mới phát hiện ra rằng:
– Con chó đã biến mất…
5 ngày sau! Từ nghĩa trang điện thoại báo với anh ấy rằng… Có một con chó đã đào mộ của cha anh ấy và cứ lẩn quẩn ở đó không chịu đi.
Anh ra nghĩa trang bắt chó về, lấp đất lại cho ngôi mộ Nhưng hôm sau nó lại bỏ đi… và lại đào mộ lên.
Và cứ như thế nhiều lần…
Anh đành bỏ chó lại bên ngôi mộ cha mình và hàng ngày chịu khó đem cơm nước ra cho nó.
Nhưng tuyệt nhiên, con chó không đụng đến cơm nước và không cho ai bước gần tới ngôi mộ…
Một tuần sau, nó chết trên mộ của người chủ sở hữu mình.

– Bạn thấy đấy, chó là sinh vật duy nhất trên trái đất này… sẵn sàng hy sinh cho bạn vì bạn mà quên thân mình.

From: NGOC PHAN & KimBang Nguyen

Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến. (Mc 13:33)-Cha Vương

Mùa vọng tràn đầy ân sủng của Chúa nhé.

Cha Vương

CN: 3/12/2023

TIN MỪNG: Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến. (Mc 13:33)

SUY NIỆM: Chắc bạn đã từng nghe câu thành ngữ dân gian Việt Nam: “mong như mong mẹ về chợ”. Câu này diễn tả nỗi mong ngóng của một em bé ngồi nhà trông mẹ đi chợ về xem mẹ mua gì về cho con. Cảm giác này cũng là tinh thần của Mùa vọng. Sách Giáo Lý của Giáo hội Công Giáo dạy rằng: Mùa vọng là  Hằng năm khi cử hành phụng vụ Mùa Vọng, Hội Thánh hiện tại hóa niềm mong đợi Đấng Mê-si-a: khi hiệp thông với việc chuẩn bị lâu dài cho Đấng Cứu Thế đến lần thứ nhất, các tín hữu làm bừng sáng niềm khát khao mong mỏi Người đến lần thứ hai (x. Kh 22,17). Khi mừng sinh nhật và cuộc tử đạo của vị Tiền Hô, Hội Thánh cũng hợp ý với thánh nhân “Đức Ki-tô phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi”—Ga 3,30. (SGLHTCG, số 524). Thiết tưởng hai câu hỏi then chốt được đặt ra hôm nay để giúp bạn chuẩn bị tâm hồn gặp Chúa không những trong Mùa vọng này mà cả khoảng thời gian còn lại trong cuộc đời của bạn.

(1) Bạn mong đợi nơi Chúa điều gì?

(2) Chúa mong đợi nơi bạn điều gì?

Bạn hãy tự trả lời 2 câu hỏi này đi. Hãy hoán cải, hãy lắng nghe, hãy tỉnh thức, hãy vui mừng nhé.

 LẮNG NGHE: Thật thế, lời chứng về Đức Ki-tô đã ăn sâu vững chắc vào lòng trí anh em, khiến anh em không thiếu một ân huệ nào, trong lúc mong đợi ngày Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, mặc khải vinh quang của Người. (1 Cr 1:6-7)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, trong tâm tình ngày đầu Mùa vọng, xin giúp con chuẩn bị tâm hồn cho xứng đáng để Chúa và con có thể gặp nhau trò chuyện trong lời cầu nguyện mỗi ngày.

THỰC HÀNH: Đừng quá bận rộn trong công việc mua sắm quà Giáng Sinh, trang trí đèn mà mà quên đi việc chuẩn bị tâm hồn. Mời bạn hãy lập ra kế hoạch cụ thể cho mỗi ngày của Mùa vọng năm nay.

From: Do Dzung

Tỉnh Thức Và Cầu Nguyện 

TỬ HUYỆT – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Điều Thầy nói với anh em, Thầy cũng nói với hết thảy mọi người là phải tỉnh thức!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Mùa Vọng, thời gian của hy vọng; trong đó, ký ức về ‘lần đến’ đầu tiên khiêm nhường và ẩn giấu của Con Thiên Chúa được làm mới lại trong tâm hồn chúng ta. Và trong chính mình, mỗi người làm mới lại nỗi khát khao sự trở lại vinh quang của Chúa. Quan trọng hơn, Mùa Vọng còn là mùa sám hối, mùa nhận ra điểm yếu, ‘tử huyệt’ của mình để mỗi người trở về với Chúa, sẵn sàng nghinh đón Ngài trong giờ Ngài đến!

Mùa Vọng còn là thời gian để nhìn thế giới như nó vốn là, để thừa nhận những thứ hỗn độn đang diễn ra, để nhận ra những thất bại của mình do sự thờ ơ bản thân gây ra. Bài đọc thứ nhất là một lời cầu nguyện tuyệt vời của Mùa Vọng. Đại diện cho dân, Isaia thưa lên, “Lạy Chúa, tại sao Ngài để chúng con lạc xa đường lối Ngài? Tại sao Ngài làm cho lòng chúng con ra chai đá, chẳng còn biết kính sợ? Phải chi Ngài xé trời mà ngự xuống!”. Thánh Vịnh đáp ca có chung một tâm tình, “Lạy Thiên Chúa, xin phục hồi chúng con!”. Mùa Vọng còn là mùa tạ ơn vì hồng ân được làm con cái Chúa. Phaolô trong thư Côrintô hôm nay viết, “Trong Đức Kitô Giêsu, anh em đã trở nên phong phú về mọi phương diện… khiến anh em không thiếu một ân huệ nào!”.

Có lẽ chúng ta đã quá mất tập trung, quá đắm chìm trong những mời mọc của thế gian; đắm chìm trong những cuộc trò chuyện liên miên trên điện thoại. Mùa Vọng là món quà giúp chúng ta dành thời gian để thấy rõ, chúng ta cần một Vị Cứu Tinh, lắng nghe tiếng Ngài thầm thì trong tâm hồn mình. Mùa Vọng, mùa bạn và tôi được mời sống chậm lại để biết rằng, tôi cần ‘Chúa đến’, chỉ cho tôi ‘tử huyệt’, đưa tôi trở lại con đường đúng đắn để cùng anh em, tôi sống trên hành tinh này như ý Ngài định.

Lời Chúa hôm nay được đánh dấu sâu sắc bởi lời kêu gọi tỉnh thức đến ba lần. Với lần thứ ba, Chúa Giêsu lên tiếng một cách trang trọng, “Điều Thầy nói với anh em, Thầy cũng nói với hết thảy mọi người là phải tỉnh thức!”. Nhưng tôi đâu có mê ngủ, tôi phải tỉnh thức điều gì?

Thần thoại Hy Lạp nổi tiếng với Achilles, con của Peleus, vua Hy Lạp và thuỷ thần Thetis. Khi vừa hạ sinh Achilles, Thetis được tiên tri rằng, con bà sẽ tử trận. Vì thế, bà đem con nhúng xuống dòng sông bất tử Styx; vua cha tưởng bà hại con nên tức giận tuốt kiếm xông ra. Bà mẹ không giải thích mà bỏ về thủy cung khi chưa kịp nhúng hai gót chân con trai xuống nước. Kể từ đó, Achilles mình đồng da sắt, sức mạnh thần thánh vô địch; nhưng về sau, phải chết vì một mũi tên bắn trúng gót chân, ‘tử huyệt!’.

Anh Chị em,

Mùa Vọng, mùa tự hỏi, “Gót chân Achilles, ‘tử huyệt’, của tôi là gì?”. Điểm yếu nhất của tôi là gì? Ngoại tình? Trộm cắp? Dối gian? Phá vỡ hiệp nhất? Đây không chỉ là những câu hỏi đưa đến một lời khuyên khổ hạnh, nhưng là một lời mời gọi sống như trẻ thơ, sống trong ánh sáng ban ngày. Tôi có sẵn lòng để Chúa, người Thợ Gốm; và tôi, đất sét trong tay Ngài? Tôi có sẵn sàng để Chúa định hình đời tôi? Chúng ta tin Chúa, nhưng có tin cậy Chúa đủ, hầu cho phép Ngài uốn nắn và uốn nắn theo những hướng khác với ý muốn của bản thân? Hãy lùi lại khỏi ghế điều khiển và để Chúa cầm lái! Như thế, Mùa Vọng, còn là mùa mở lòng ra để được biến đổi bởi ân sủng.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin hãy ‘nhúng’ linh hồn con, trí tri con, toàn thân con trong nước ân sủng Chúa! Xin tha thứ cho con, để Mùa Vọng này còn là mùa con được đổi mới!”, Amen.

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen


 

HÀ GIANG…. NGƯỜI ĐÀN BÀ HIẾM CÓ TRONG ”TRẠI TÙ” LAO CẢI (Phạm Tín An Ninh)-Truyện ngắn hay

Tác giả Phạm Tín An Ninh:

Phạm Tín An Ninh : Sinh ra và lớn lên tại Khánh Hòa, Tuổi Quý Mùi. Mất mẹ lúc 3 tuổi, nên sống với ông bà nội. Lúc nhỏ, theo học tại trường Trung học Văn Hóa và Võ Tánh Nha Trang. Nhập ngũ: Khóa 18 SQ Trừ Bị Thủ Đức. Phục vụ tại Sư Đoàn 23 BB. Sau tháng 4/75: Đi tù tại các trại tù Nam và Bắc Việt Nam.(Thân sinh cũng bị đi tù và chết trong tù cải tạo vào tháng 6/1976). Vượt biên, định cư tại Vương Quốc Na-Uy từ năm 1984. Đi học và làm việc trong ngành Ngân Hàng Bưu Điện. Về hưu từ đầu năm 2008. Tác phẩm: Ở Cuối Hai Con Đường (2008), Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân (sẽ xuất bản)
Nghỉ hè ở Mallorca

1-
Mallorca, một hòn đảo du lịch nổi tiếng của Tây Ban Nha, nằm trong quần đảo Balearic. Trước khi đến đây, vì nghĩ là đảo, nên tôi tưởng chỉ có rừng núi và biển cùng một vài làng mạc hay khu phố nhỏ. Nhưng tôi rất ngạc nhiên khi phi cơ đáp xuống phi trường Palma rộng lớn, kiến trúc tân kỳ, sang trọng còn hơn nhiều phi trường quốc tế khác mà tôi đã từng đi qua. Palma là thủ phủ tráng lệ của Mallorca, nằm trên một dãy đồi cao nhìn xuống biển xanh. Đặc biệt khu nhà thờ Cathedral nằm bên cạnh giáo đường Mussulman, gồm những kiến trúc độc đáo, nổi tiếng theo kiểu Mediterranean Gothic từ thế kỷ thứ 13.

Chiếc xe bus của công ty du lịch đưa chúng tôi đi qua vài thành phố cảng, sang trọng và sầm uất, nằm dọc theo bờ biển, để đến Alcudia, khu nghỉ mát nằm phía đông bắc Palma chừng ba giờ xe. Chúng tôi chọn nơi này, vì bờ biển đẹp, một cái vịnh nhỏ, nằm khuất sau dãy núi Victoria, nên không có sóng và khá an toàn cho trẻ em. Những em bé năm, sáu tuổi có thể lội ra cách bờ 50-60 mét.
Thực ra kỳ nghỉ hè này chỉ là món nợ mà vợ chồng tôi phải trả cho con bé cháu nội. Trước đây hai năm tôi hứa với cô bé là sẽ thưởng một kỳ nghỉ hè hai tuần lễ ở Mallorca nếu nó đọc và viết được tiếng Việt. Chúng tôi ở trong một khách sạn, đi bộ ra biển chừng vài phút. (Đa số khách sạn ở vùng này giống như những khu apartment, mỗi phòng trọ, ngoài các phòng ngủ, còn có phòng khách và bếp với đầy đủ dụng cụ nấu ăn). Ở Bắc Âu thời tiết lạnh đến bảy, tám tháng, không có nhiều dịp được ra biển tắm, nên con bé cháu nội rất mê biển. Sáng nào, mới vừa thức dậy, con bé cũng giục ông bà nội ra biển, mãi đến chiều, khi trời sắp tắt nắng mới chịu trở về. Đã vậy khi về đến khách sạn, cô bé còn xin được tiếp tục bơi lội trong hồ tắm của khách sạn đến tối mịt mới chịu vào phòng. Trong khi bà xã làm thức ăn, tôi có nhiệm vụ ngồi trên bờ hồ trông chừng con bé.

Ở đây, hầu hết khách du lịch đến từ Âu Châu, đa số là người Bắc Âu và Đức. Suốt tuần lễ đầu tiên, tôi không gặp người Á châu nào, ngoại trừ gia đình người Tàu làm chủ một nhà hàng buffet, sinh sống ở đây đã lâu năm. Một hôm, khi nằm trên chiếc ghế dựa bên hồ tắm nhìn trời, bất ngờ nghe cô bé cháu nội nói chuyện bằng tiếng Việt với một người nào đó. Nhìn xuống hồ tôi nhận ra một cô gái tóc đen đang tắm và đùa giỡn với con bé. Thấy tôi nhìn, cô gái lạ đưa tay vẫy, và nở một nụ cười chào tôi. Giữa một nơi xa lạ, người đồng hương dễ quen nhau.

Trưa hôm sau, trong lúc vợ chồng tôi nằm trốn nắng dưới cây dù lớn ngoài bãi tắm, con bé cháu nội dắt tay cô gái đến chào chúng tôi. Cô gái tự giới thiệu tên mình là Lam Khê, khoảng chừng 19, 20 tuổi, khuôn mặt khá xinh và đôi mắt thật to, tự nhiên dễ mến. Nhưng điều làm tôi chú ý chính là cái tên Lam Khê, trùng hợp với một địa danh vẫn còn đậm trong ký ức, cho dù cuộc đời thăng trầm đây đó của tôi còn có biết bao nhiêu cái tên để nhớ.

Buổi chiều, khi vợ chồng tôi và cô bé cháu nội đang ăn tối trong nhà hàng buffet của một người chủ gốc Tàu, thì bất ngờ thấy Lam Khê đi vào cùng với một người đàn bà Việt Nam và một người đàn ông ngoại quốc. Có lẽ Lam Khê đã kể về chúng tôi, nên cả hai người đến chào và bắt tay chúng tôi. Khi đứng lên bắt tay bà mẹ, tôi bất ngờ đến giật mình khi nhận ra người đàn bà này chính là người mà tôi vừa nghĩ tới sáng nay khi gặp Lam Khê. Trong khi tôi đang ngạc nhiên về những cuộc hạnh ngộ bất ngờ trong đời mình, thì bà nở nụ cười giới thiệu người đàn ông ngoại quốc đi bên cạnh:
-Đây là ông xã em. Anh người Đức. Chúng em sống ở thành phố Hamburg.
Tôi đưa tay bắt tay và gật đầu chào người đàn ông, nhưng lại hỏi bà:
-Xin lỗi, tên bà có phải là Hà Giang?
-Sao ông bà biết tên tôi? Người đàn bà trố mắt nhìn chúng tôi ngạc nhiên.
-Không ngờ tôi lại gặp bà ở đây – Tôi vừa nói vừa kéo ghế mời cả ba người- Hóa ra chúng ta đã từng gặp nhau. Chúng tôi xin được mời ông bà và cháu Lam Khê.
Bà ngồi xuống bên cạnh vợ tôi, nét ngạc nhiên vẫn còn nguyên trên mặt. Để đánh tan không khí căng thẳng, tôi giải thích:
– Tôi biết bà khi tôi đang ở tù ngoài miền Bắc. Sáng nay khi gặp và biết tên cháu Lam Khê, tôi đã nghĩ ngay đến bà. Bởi cái tên Lam Khê, tôi và đám bạn tù không thể nào quên. Không ngờ bây giờ lại gặp bà ở đây. Xin cám ơn tình cảm và lòng tốt của bà đã dành cho chúng tôi trong những ngày sa cơ khốn khó.
Bà nhìn tôi dò xét. Suốt bữa ăn, chúng tôi nhắc lại những ngày vui buồn ở vùng núi xa xăm ấy. Trong khung cảnh vui vẻ, nhưng nhìn khuôn mặt và nụ cười không trọn, tôi có cảm giác bà ta đang ưu tư một điều gì đó.

Lam Khê, cái tên khá đẹp đó lại là một khu núi rừng Thanh Hóa, tiêu điều hoang vắng, nằm sát biên giới Lào-Việt, mà bọn tù “cải tạo” chúng tôi bị đưa đến đây để phát rừng trồng cây, xây dựng một lâm trường, trong một mùa hè nắng và gió Lào muốn cháy cả thịt da.
Ngày đầu mới đến, giữa một khu núi rừng xa xôi hẻo lánh, chúng tôi chỉ thấy có hai căn nhà lá cọ vừa mới dựng lên, trong đó chỉ có vài người ở. Họ được giới thiệu là “những bảo vệ và cán bộ lâm trường”. Điều làm chúng tôi vừa ngạc nhiên vừa thích thú là sự có mặt của một cô con gái trẻ, trông dáng dấp e ấp thư sinh, mà lại là “thủ trưởng” toàn bộ lâm trường này. Tôi nhớ một câu ví von của người nào đó: “Hoa lạc giữa rừng gươm”!

Cả đội tù chúng tôi trên sáu mươi người được lệnh ngồi trên một bãi cỏ bên bìa rừng, để “nghe nữ đồng chí giám đốc lâm trường lên lớp”. Mặc một bộ đồ công nhân màu xanh, rộng thùng thình, khuôn mặt không một chút phấn son, nhưng trông khá xinh với đôi mắt thật to và buồn. Cô chào chúng tôi bằng một nụ cười, nói năng từ tốn, tự giới thiệu tên là Hà Giang, trước khi nói về địa thế, đặc tính khu rừng, cách thức phát hoang và phương pháp an toàn. Cô gọi chúng tôi là các chú và xưng mình là em. Sự kiện chưa từng thấy trong những năm tù. Cuối cùng cô nhờ anh đội trưởng cắt cử cho cô năm người để cô hướng dẫn việc đo đạc, cấm cọc, căng giây. Tôi được may mắn nằm trong năm thằng được chọn.

Dường như từ ngày có chúng tôi, đôi mắt của cô trông bớt buồn hơn. Nhiều lúc cô đùa giỡn rất thân tình. Mỗi ngày năm đứa chúng tôi theo cô vào rừng để đo đạc. Những lúc ấy cô thường ngồi tâm tình. Cô kể về đời mình và thường hỏi mỗi người chúng tôi về hoàn cảnh cha mẹ, vợ con ở quê nhà. Nghe chúng tôi kể sự gian truân của gia đình cùng nỗi nhớ thương vô vọng, nhiều lần cô đã lau nước mắt. Thấy một anh đeo trên cổ tấm ảnh của vợ lồng trong mảnh gỗ mun nhỏ, cô xin được xem rồi bảo nhỏ “các chú thật chung tình”.

Hà Giang là một sinh viên giỏi, được gửi sang Đông Đức học về Lâm Nghiệp. Sau khi tốt nghiệp trở về đúng vào lúc đảng Cộng Sản phát động phong trào “trí thức đi thực tế”, cô được đưa lên Lào Cai, hướng dẫn những người dân tộc trồng và bảo vệ rừng. Mới đến Lào Cai vài tháng, chưa quen với khí hậu khắc nghiệt và tập quán địa phương, thì giặc “bành trướng” Trung Quốc tràn qua biên giới. Rất may mắn, lúc ấy cô đang về học một lớp chính trị ở Hà Nội, nên thoát nạn và được Bộ điều vào Thanh Hóa để thành lập lâm trường mới. Đó chính là lâm trường mà chúng tôi đang có mặt. Thực ra đây chỉ là một vùng núi rừng hoang vắng, với ban điều hành gồm năm người, do cô làm giám đốc, cơ sở chỉ là hai căn nhà lá, công nhân là 60 thằng tù khổ sai bọn tôi, và dụng cụ chỉ có toàn dao phát rừng và vài cái cuốc chim!

Một hôm, thấy thấp thoáng một người đàn ông lạ, chúng tôi hỏi cô. Ngập ngừng một lúc thì cô mới buồn bã tâm sự. Người đàn ông ấy là một công nhân máy kéo tiên tiến, đang phục vụ ở một lâm trường khác, cách nơi này hơn hai mươi cây số, có nhiều tuổi đảng, được đảng bộ sắp xếp để lâp gia đình với cô, làm gương cho kế hoạch “trí thức cùng chung sống với công nhân” của đảng mới đề ra. Mục đích làm cho đám công nhân ít học, phấn khởi trước sự ưu ái của đảng, đem hết sức lực ra phục vụ và trung thành với đảng. Đây cũng là “phần thưởng” để cô được bổ nhậm về lâm trường mới này với chức danh giám đốc!

Chúng tôi ngạc nhiên, vì gã công nhân tiên tiến này trông lớn hơn cô nhiều tuổi, rổ mặt, đen đủi, cục mịch. Không có điều nào hợp với cô con gái có học và dễ thương này. Cô còn bảo là trong trái tim cô, không hề có một ngăn nhỏ nào dành cho anh ta, nhưng không dám làm trái ý đảng, sẽ bị kỷ luật nặng, vì vậy cô phải gật đầu, nhưng tìm cách trì hoãn đám cưới được ngày nào hay ngày ấy. Cô nói là cô đang trong thời kỳ “nín thở qua sông”!

Mặc dù có cảm tình và tội nghiệp cô, nhưng chúng tôi luôn “đề cao cảnh giác” không dám nói điều gì. Vì kinh nghiệm cho chúng tôi biết, Cộng Sản luôn gài nhiều cái bẫy chung quanh, và chuyện “mỹ nhân kế” không phải bây giờ mới có. Một hôm, trong lúc ngồi nghỉ trưa, cô lấy ra từ chiếc bao nhỏ, mời chúng tôi mỗi người một củ khoai lang luôc, rồi buột miệng hỏi:
-Nghe nói các anh ở trong trại bị bọn công an hành hạ dữ lắm phải không?
– Bọn tôi là những người thua trận, thì chuyện bị tù đày, hành hạ cũng là lẽ thường tình – Một anh bạn tù trong bọn tôi trả lời.
Cô trầm ngâm giây lác rồi lên tiếng:
– Theo em thì trong cuộc chiến ấy, tất cả chúng ta, miền Bắc và miền Nam, chẳng có ai chiến thắng. Chỉ có những kẻ ngu muội, luôn cúi đầu làm tay sai ngoại bang, mà cứ tưởng là mình đại thắng, để cầm tù và hành hạ lẫn nhau thôi. Chỉ trong các nước Cộng Sản mới có chuyện lạ đời: một lũ ngu dốt lại được giao trách nhiệm “giáo dục, cải tạo” những người trí thức, mà đòi hỏi người ta phải tiến bộ tốt! Khôi hài thật!

Bọn tôi chỉ im lặng. Những lần nói chuyện sau đó cô thường bảo là cô rất ghê tởm cái đảng Cộng sản, nhưng muốn chống lại hay thoát ra, phải trả bằng mạng sống, có khi làm khốn khổ cho cả gia đình. Điều làm chúng tôi vui là được lao động thoải mái, không cần phải đạt một chỉ tiêu nào, và thường được cô cho bồi dưỡng bằng khoai, có khi mì sợi. Anh em nào có áo quần dân sự hay khăn tắm mang theo, Cô nhận mang đi đổi lấy gạo, đường hay vài loại thực phẩm khác.
Lâm trường mới khởi công vừa được hơn ba tuần thì trại tù có lệnh biên chế. Tôi bị chuyển sang một trại mới, tiếc nuối những ngày lao động tương đối thoải mái, hiếm hoi trong gần bảy năm tù.

2-
Chiều hôm sau, khi dắt con bé cháu nội ra hồ tắm trong khách sạn, tôi bất ngờ gặp Hà Giang và cô con gái Lam Khê. Hai mẹ con đang nằm trên ghế đọc sách. Thấy tôi, Hà Giang ngồi dậy, mời tôi ngồi vào ghế bên cạnh và vui vẻ bảo Lam Khê xuống hồ bơi và chơi đùa với con bé cháu nội của tôi, dặn dò trông chừng con bé, và có nhã ý muốn đến phòng trọ thăm bà xã của tôi.
Chúng tôi mời cơm, nhưng bà từ chối, chỉ xin uống trà. Khi tách trà vừa cạn, bà đề nghị chúng tôi cứ gọi bà bằng cô và đột ngột hỏi tôi:
– Anh còn nhớ anh Đôn không ?
Thấy tôi chau mày, bà nói thêm như để xác định:
– Trần Chánh Đôn!
Tôi hỏi lại:
– Đôn pilot, cùng toán đo đạc với tôi lúc làm việc với cô ở lâm trường?
Hà Giang gật đầu, không nói. Một lúc, tôi thấy bà đưa khăn tay lau nước mắt. Và sau đó, vợ chồng tôi ngồi nghe tâm sự của bà:
– Anh Đôn đã chết rồi! Tất cả là do lỗi của em. Chính em đã cung cấp cho anh Đôn thực phẩm, thuốc men, tấm bản đồ và một chiếc la bàn, em lấy của lâm trường khi ấy, và chỉ vẽ cho anh cách thức trốn khỏi lâm trường cùng với ba người bạn tù khác. Với tấm bản đồ, cái la bàn và sự hướng dẫn tường tận của em, em tin chắc là các anh ấy đã dễ dàng trốn được qua khỏi biên giới. Không ngờ sau hơn ba tuần, khi em đang khấp khởi mừng thầm thì được tin tất cả đều bị bắt tại Lào. Em như muốn quỵ xuống, mất ăn mất ngủ, nhưng cũng cố giữ bình tĩnh tìm cách hỏi một số cán bộ công an trại giam.

Họ cho biết là tất cả bốn anh đều bị công an bắn chết trên đường dẫn độ từ Lào về trại, bởi các anh đã chống cự để tìm cách thoát thân. Mặc dù tin tưởng vào thái độ kiên cường và tư cách của các anh, dù có tra tấn thế nào các anh cũng sẽ không khai ra sự tiếp tay trợ giúp của em, nhưng em vẫn lo sợ bị liên lụy, nếu họ phát hiện tấm bản đồ và cái la bàn của lâm trường thì hậu quả khôn lường, nên em đã khẩn trương chạy về Bộ, năn nỉ và hối lộ tất cả số tiền dành dụm để ông Thứ Trưởng cho em được trở lại Đông Đức hai tuần, đệ trình cho trường đại học cũ một số nghiên cứu mà em vừa viết xong, sau hơn một năm tốt nghiệp và ra thực tế ngoài lâm trường. May mắn em được ông ta gật đầu, và liên lạc can thiệp bên tòa đại sứ Đức cấp visa sớm. Chỉ hơn mười ngày là em rời khỏi nước. Tất nhiên đó chỉ là cái cớ. Sau khi sang Đức, em trốn lại ở nhà vợ chồng người bạn Đức mà em quen thân lúc còn học ở đây. Ông chồng em mà anh chị gặp tối hôm qua trong quán ăn, là anh ruột của cô bạn thân này. Anh ấy đã hết lòng lo lắng và chở che em.

Rời khỏi Việt Nam, ngoài quê hương và gia đình, em còn mang theo hình ảnh của anh Đôn. Xin anh chị đừng ngạc nhiên, em yêu anh ấy! Ngoài sự hiểu biết, đẹp trai với nụ cười độ lượng, em còn nhìn thấy bên trong của anh Đôn là sự thủy chung và lòng tự trong, có cả một chút nghệ sĩ lãng mạn nữa.Thời gian làm việc bên nhau, trong khu núi rừng Lam Khê ấy, em đã học được ở anh rất nhiều điều hay, nghe anh hát những bản tình ca, đọc những bài thơ lãng mạn, tuyệt vời. Trái tim em lần đầu tiên biết rung động. Tội nghiệp, em yêu anh Đôn trong một hoàn cảnh quá nghiệt ngã. Điều duy nhất mà em có thể làm được cho người yêu của mình là giúp anh trốn trại, vượt ra khỏi khung cảnh đày ải man rợ, để anh ấy luôn được xứng đáng với những điều anh đang có. Vì chính những điều ấy đã làm cho trái tim em rung động, để em biết thế nào là một tình yêu, mà nếu không gặp anh ấy, có lẽ suốt cả đời em không có được. Quan trọng hơn, đó lại là thứ vũ khí tốt nhất, hiệu quả nhất giúp em đủ can đảm và nghị lực để chống lại số phận, mà trước đó em nghĩ là sẽ tới một ngày em sẽ phải đầu hàng, buông xuôi, bất lực.

Hà Giang ngưng lại, lau tiếp những giọt nước mắt chảy dài trên gò má. Tôi rót thêm trà mời cô.
Bà xã tôi hỏi:
– Cô có giữ tấm ảnh nào của anh Đôn?
– Tiếc là khi ấy anh Đôn không có tấm ảnh nào hết. Anh có cho em địa chỉ của bố mẹ anh ở thành phố Nha Trang, nhưng em gởi mấy cái thư về địa chỉ ấy đều bị trả lại, với lý do: người nhận không còn ở tại địa chỉ này. Nghe nói bố mẹ anh đều là thầy giáo, không biết có bị đi vùng kinh tế mới hay không?
Tôi đưa tay ngăn lời cô:
– Cô còn nhớ địa chỉ ấy không? Chúng tôi cũng đều là người gốc Nha Trang. Tôi có thể hỏi thăm tin tức cho cô. Nhân tiện chúng tôi cũng muốn biếu cha mẹ anh ít tiền, vì Đôn cũng là bạn tù của tôi.
Hà Giang chau mày:
– Lâu quá, nên em quên, nhưng có thể em còn giữ ở nhà. Em xin địa chỉ e-mail để gởi đến anh chị, nếu em tìm lại được. Em thiết tha muốn gặp bố mẹ anh Đôn, nếu các người còn sống.

Thực ra chuyện Hà Giang yêu Đôn, cũng chẳng làm tôi ngạc nhiên nhiều lắm. Đúng như Hà Giang nói: Đôn là một phi công trẻ. Bao nhiêu năm trong cảnh khốn cùng, đã không làm mất đi nét đẹp trai, tính nghệ sĩ và tư cách của Đôn. Bạn tù ai cũng quí mến. Chuyện Đôn cùng ba người bạn tù khác trốn trại, khi tôi đã bị chuyển đi trại khác hơn tám tháng, sau này ra hải ngoại, tôi có nghe đám bạn bè kể lại, nhưng mỗi người mỗi cách.

Chỉ hơn một tuần về lại nhà, sau kỳ nghỉ hè khá thú vị, nhất là bất ngờ gặp lại Hà Giang, hồi tưởng lại một thời tù đày, tôi nhận được e-mail của Hà Giang gởi thăm, có ghi địa chỉ của ông bà Trần Chánh Nghị, cha mẹ Đôn, ở Nha Trang.
Tôi viết thư nhờ người bạn thân còn ở lại Nha Trang, tìm đến địa chỉ nhà Đôn mà Hà Giang vừa mới cho. Tôi cũng cho anh bạn biết là gia đình Đôn đã dọn đi nơi khác, nhưng từ đó hỏi thăm biết đâu có thể tìm ra manh mối.

Sau gần hai tháng, tôi nhận được thư hồi âm của người bạn cũ. Một đoạn trong thư làm tôi bất ngờ, nhưng sáng lên hy vọng:
“Đúng như mày viết, gia đình người này đã dọn đi khá lâu rồi. Nhưng có người láng giềng cho biết là ông bà chủ nhà đã qua đời hơn hai mươi năm nay. Ông bà chỉ có người con trai duy nhất bị tàn tật, hình như là đang đi tu ở một ngôi chùa nào đó. Tao dò tìm khắp nơi theo lời kể khá mơ hồ của những người hàng xóm, đến nay vẫn chưa gặp được…“
Tôi đọc đi đọc lại dòng chữ “Ông bà chỉ có người con trai duy nhất“, rồi chạy ra ngân hàng gởi một ít tiền cho người bạn, kèm theo lời nhắn: Mày cố gắng mọi cách tìm gặp người con trai này, và hỏi có phải tên là Trần Chánh Đôn. Có gì ra bưu điện gọi điện thoại cho tao biết.

Tôi nôn nao chờ đợi, bỗng một hôm, lúc nửa đêm, điện thoại reo. Bốc ống nghe lên, tôi vui mừng và hồi họp khi nghe tiếng của người bạn từ Việt Nam:
“Tao đã tìm được anh ta. Đúng là Trần Chánh Đôn. Bây giờ là đại đức Thích Thiện Hòa. Anh đang tu ở một ngôi chùa nhỏ, nằm dưới triền núi, phía trên đèo Ngoạn Mục, đèo Bellevue đó, thuộc quận Đơn Dương, cách Đà Lạt gần bốn mươi cây số. Chùa do người bác ruột xây dựng và làm trụ trì. Tội nghiệp, ông Thiện Hòa bị mù một con mắt và què cả hai chân, nhưng khuôn mặt trông đẹp và phúc hậu lắm. Tao nghĩ là ông không bao giờ rời khỏi chùa, vì từ dưới chân núi đi lên, tao đếm hơn năm mươi bậc tam cấp.“
Tôi viết e-mail cho Hà Giang, báo cho cô cái tin bất ngờ này. Đắn đo mãi, cuối cùng mới quyết định nói thật mọi điều. Nhớ lại nhiều lần cô lau nước mắt khi kể về Đôn với vợ chồng tôi ở Mallorca, tôi nghĩ là cô sẽ đau lòng lắm khi nhận được tin này.

Sáng hôm sau tôi nhận e-mail hồi âm của Hà Giang:
“Anh Chị ơi.
Em đã khóc hết nước mắt khi nhận được tin anh Đôn. Suốt cả đêm hôm qua em không thể nào chợp mắt. Em phải xin nghỉ làm hôm nay, và bây giờ lòng dạ cứ thẫn thờ. Không thể ngờ là anh Đôn vẫn còn sống. Em vừa mừng nhưng cũng vừa đau lòng lắm, khi biết anh đã bị mù một mắt và tàn phế cả đôi chân.
Suy nghĩ mãi, em mới dám nói ra điều này với anh chị, vì anh cũng là bạn của anh Đôn và với em như là một người anh, người chú.
– Cháu Lâm Khê, đứa con gái mà anh chị đã gặp ở Mallorca, chính là giọt máu của anh Đôn. Trước ngày chia tay, để anh ra đi, chúng em có đôi ngày hạnh phúc ngắn ngủi trong rừng, em tự nguyện dâng hiến cho anh, thay cho lời hẹn ước, là dù góc biển chân trời nào, dù có phải trải qua bao nhiêu giông bão, chúng em cũng sẽ tìm gặp để đoàn viên. Nhưng rồi ông trời đã hại em, vì em cứ đinh ninh là anh ấy đã chết. Để tang cho anh đến sáu năm, em mới lấy ông chồng này, đền đáp lòng yêu thương và cưu mang đùm bọc của ông khi em thân cô trôi dạt xứ người. Bây giờ biết được anh Đôn còn sống, nhưng đã trở thành một vị đại đức, em vừa hối hận vừa băn khoăn, không biết phải làm sao. Em tha thiết xin anh chị cho em một lời khuyên, để em biết mình sẽ phải làm gì. Bây giờ chắc anh ấy chẳng cần một sự giúp đỡ vật chất nào, nhưng còn Lam Khê, dù sao nó cũng l giọt máu của anh. Làm thế nào để cha con nhận ra nhau? Lam Khê cũng nghĩ là ba nó đã chết. Thỉnh thoảng cháu hỏi em về ba nó. Cháu thương và hãnh diện về ba cháu lắm.“

3-
Cuối cùng, vợ chồng tôi bàn tính mãi nhưng cũng không tìm ra một lời khuyên nào để giúp Hà Giang, ngoài việc hỏi cô nếu muốn gặp Đôn, vợ tôi có thể giúp cô, cùng về Việt Nam, vì vợ tôi sống ở Nha Trang khá lâu, lại có thằng bạn thân ở đó, biết rõ đường đi đến vùng núi Đơn Dương, Đà Lạt, nơi có ngôi chùa.

Không ngờ Hà Giang mừng rỡ đón nhận đề nghị này, và xin vợ tôi về Việt Nam ngay trong tuần để đón giùm mẹ con cô tại phi trường Tân Sơn Nhất. Đây là lần đầu tiên cô bước chân đến miền Nam Việt Nam. Số chuyến bay và giờ đến phi trường, cô sẽ cho biết sớm.

Và dưới đây là lời kể của vợ tôi, về cuộc trùng phùng:
…Họ gặp nhau và nhận ra nhau. Mới đầu, Hà Giang ôm chầm lấy Đôn mà khóc nức nở. Cô quên mất anh đang là một vị thầy tu. Xúc động nhất là khi Hà Giang cho anh biết Lam Khê chính là con của anh. Hai cha con họ ôm lấy nhau thật lâu và cả hai đầm đìa nước mắt. Thầy đem cả triết lý đời và đạo để an ủi, khuyến khích và hướng dẫn Lam Khê bước đi trong cuộc sống có quá nhiều muộn phiền và bất trắc. Thầy nói thật hay và cảm động.

Thầy kể lại chuyện trốn tù, lý do vì sao bị bắt, chuyện thầy bị đánh vỡ một con mắt và bị bắn nát hai bàn chân chỉ vì thầy nhất định không khai người nào đã giúp thầy cùng ba người bạn tù trốn trại một cách tài tình mà chúng nghi ngờ, mặc dù thầy đã kịp giấu tấm bản đồ và cái la bàn dưới một tảng đá trước khi bị bắt. Họ không đưa về trại cũ mà giao cho một trại tù khác. Bị biệt giam ở đây đến mấy năm mà thầy chẳng biết vì sao không chết. Hà Giang ngồi khóc nức nở.
Sau khi mọi người tìm lại được sự bình tĩnh, Hà Giang xin cúng dường cho chùa một số hiện kim, nhưng thầy Thiện Hòa từ chối, bảo là nhà chùa không cần một số tiền lớn như vậy. Hà Giang tha thiết xin được đưa thầy đi sang Đức làm đôi chân giả và thay con mắt mù lòa, thầy cũng chối từ, bảo thầy đã quen rồi với những mất mát ấy, hơn nữa bây giờ thầy đã tu hành, năm tháng chỉ quanh quẩn trong chùa, không cần thiết phải đi đó đi đây. Thầy có mở một lớp học dạy các em học sinh nghèo hiếu học trong vùng, nhưng phòng học là gian nhà trống vách ngay phía sau chùa.

Đêm cuối cùng ở Nha Trang, Hà Giang quyết định đổi vé máy bay, ở lại một thời gian nữa. Cô cho biết là mẹ con cô sẽ cố gắng thuyết phục Đôn, để mua cho anh cái xe lăn, xin được xây lại ngôi chùa mới, thay những bậc tam cấp bằng con đường lát đá, đặc biệt phía sau chùa, từ gian phòng Thầy dạy học nhìn ra, đã có sẵn khu rừng với ít hoa dã quỳ, cô sẽ cho sửa sang lại thành một khu vườn đẹp đẽ, trồng thêm hoa, làm suối nước, và xin đặt tên là Lam Khê Viên, vì chữ Lam nghe cũng hợp với khung cảnh chùa chiền…

Khi ngồi viết những dòng này, tôi không biết là những điều mong ước của Hà Giang có được thầy Thích Thiện Hòa chấp nhận hay không, và cuộc tình đẹp và bi tráng này có còn sống mãi trong lòng mỗi người cho đến thiên thu.

PHẠM TÍN AN NINH