Hãy đứng dậy, vác lấy giường của anh mà đi về nhà!(Lc 5: 24b-25)

Bình an của Chúa đến với bạn và gia đình hôm nay nhé. Nào ta cùng tạ ơn và tôn vinh Chúa vì Ngài đã gìn giữ bạn một đêm an lành.

Cha Vương

Thứ 2: 11/12/2023

TIN MỪNG: Đức Giêsu bảo người bại liệt-: tôi truyền cho anh: Hãy đứng dậy, vác lấy giường của anh mà đi về nhà!”Ngay lúc ấy, người bại liệt trỗi dậy trước mặt họ, vác cái anh đã dùng để nằm, vừa đi về nhà vừa tôn vinh Thiên Chúa. (Lc 5:24b-25)

 SUY NIỆM: Người mắc bệnh bại liệt phải chịu rất nhiều thiệt thòi. Họ không thể làm được những việc cần làm.  Không thể đến được những nơi muốn đến. Đó là bại liệt về phần xác. Ngoài ra còn có một loại bại liệt khác nữa. Đó là loại bại liệt về tâm hồn. Tâm hồn bị bại liệt vì yếu đuối. Tâm hồn yếu đuối bị những đam mê, dục vọng đè bẹp, không sao chỗi dậy được.  Ðam mê, dục vọng giống như những sợi dây, rất mềm mại nhưng cũng rất chặt chẽ đang trói buộc họ.  Tâm hồn bị đam mê, dục vọng trói buộc sẽ trở nên tê liệt, thấy những điều tốt đẹp nhưng ngại ngùng phấn đấu, mất hết ý chí chỗi dậy, vươn lên. Họ chỉ biết đón nhận nhưng không thốt lên lời cảm ơn. Bệnh bại liệt này ngăn cản và không đưa họ đến gần với Chúa một cách dễ dàng được. Hôm nay Chúa chữa người bại liệt cả phần xác lẫn phần hồn. Ông ta hiên ngang trỗi dậy vừa đi vừa tôn vinh Thiên Chúa. Khi bạn mất đi khả năng để tôn vinh Thiên Chúa tức là tâm hồn bạn đang bị bại liệt rồi đó. Tôn vinh Thiên Chúa đáng lẽ phải là lối sống của mọi người Kitô mới phải chứ bởi vì bạn đón nhận rất nhiều ân huệ từ Thiên Chúa. Điều này nghe có vẻ khó khăn, nhưng trong thực tế lại đơn giản. Chỉ một câu thốt phát ra từ một tấm lòng biết ơn và ngợi khen Chúa cũng đủ. Thí dụ: Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa đã dựng nên con, cứu chuộc con và gìn giữ con qua đêm/ngày yên lành. Điều này mọi Kitô hữu đều có thể làm được! Bạn hãy thử làm đi.

LẮNG NGHE: Tôi sẽ không ngừng chúc tụng CHÚA, câu hát mừng Người chẳng ngớt trên môi. (Tv 34:2)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, khi con tôn vinh Chúa tâm hồn con được vươn cao, lòng trí con được quy hướng về Chúa, việc làm của con trở lên lời chúc tụng, xin giúp con tôn vinh Chúa không ngừng trong mọi hoàn cảnh sống của đời con.

THỰC HÀNH: Nếu bạn muốn sống xứng đáng hơn, tươi trẻ hơn, hãy tập có thói quen tôn vinh Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh.

From: Do Dzung

Tôn Vinh Chúa Muôn Đời

Nguyễn Thông: Tên đường (Kỳ cuối)

Tiếng Dân News 

Cần phải coi đường, đường sá, phố xá, đường giao thông là tài sản chung của nhân dân, chứ không phải của riêng một tổ chức chính trị, đảng phái, đoàn thể nào. Nó cũng không phải của riêng nhà nước, chính quyền, bởi chính quyền chỉ thay mặt dân quản lý nó thôi. Vì vậy, đặt tên cho mỗi con đường, tiêu chuẩn tiên quyết phải là “dân”.

Từ lâu lắm rồi, ở xứ này, việc đặt tên đường bị chính trị chi phối. Lẽ dĩ nhiên đó không phải là sự áp đặt tuyệt đối nhưng gần gần như vậy. Phe nắm quyền, bên thắng cuộc, cụ thể là người cộng sản, cứ lấy những ai, những gì họ thích, họ đề cao, ca ngợi, có lợi cho họ để đặt tên đường.

Mỗi con đường đều “làm nhiệm vụ chính trị”. Vì thế, dù tên cũ đã rất ổn rồi, ăn sâu bắt rễ vào đời sống rồi, được dân chúng tán đồng rồi, vẫn bị đổi thay. Những tên đường Điện Biên, Điện Biên Phủ, Xô Viết Nghệ Tĩnh, 3 Tháng 2, Ấp Bắc, Chiến Thắng B52, 29 Tháng 3, 30 Tháng 4, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Cách Mạng Tháng 8… ra đời từ nguyên tắc đặt ấy.

Rồi danh nhân, trước hết cũng cứ xét lý lịch có phải cán bộ đảng viên, anh hùng, liệt sĩ, lãnh đạo của bộ máy từ trước tới nay thì đặt, chứ nếu “người ngoài” dù lừng lẫy, nổi tiếng bao nhiêu chăng nữa, dân chúng biết kỹ mấy chăng nữa, cũng bị lờ đi.

Chính vì thế, hầu hết những cái tên, nếu hỏi dân thì dân cũng chả biết, chẳng hạn Hồ Hảo Hớn, Trần Đình Xu, Nguyễn Thị Nhỏ, Hồ Thị Kỷ, Đoàn Văn Bơ, Huỳnh Văn Bánh, Kha Vạng Cân, Võ Văn Tần, Lý Chính Thắng… Đành rằng dân chúng không thể biết hết lai lịch mọi “danh nhân”, nhân vật lịch sử, nhưng ít ra người được đặt tên đường phải được số đông tỏ tường. Tôi dám cam đoan có những tên đường, nếu hỏi người tại chỗ rằng “danh nhân” đó là ai, phần lớn đều ú ớ tắc tị, bởi nào có biết.

Đổi tên đường, đặt tên đường theo cảm quan chính trị thường dẫn tới hành vi vô văn hóa, phi lịch sử, lúng túng, quẩn quanh. Do ghét phong kiến, căm thù nhà Nguyễn nên họ dẹp hết cả Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức, Nguyễn Hoàng, Ngô Tùng Châu, Võ Tánh, Nguyễn Văn Thoại, Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản… đã đi một nhẽ, dù đó là những nhân vật lịch sử, công lao thống nhất đất nước, mở mang bờ cõi, sống trong lòng dân. Đằng này, những Trần Quốc Toản, Cường Để, Duy Tân, rồi Trần Quý Cáp, Yên Đổ, Phan Đình Phùng (tên người), Chi Lăng (tên đất)… tội tình gì mà phải thay bằng: 3 Tháng 2, Tôn Đức Thắng, Phạm Ngọc Thạch, Võ Văn Tần, Lý Chính Thắng, Hai Bà Trưng, Phan Đăng Lưu… Không nói tới sự tốn kém, hành chính phiền hà, làm khổ dân, chỉ riêng chuyện vô văn hóa, ngu dốt lịch sử dân tộc, thiếu sự kính trọng tiền nhân có công đã rất đáng lên án rồi. Tôi chỉ nêu một ví dụ: Hà cớ gì mà phải xóa bỏ Trần Quý Cáp để thay bằng Võ Văn Tần?

Ngu dốt, chính trị thô thiển thì không thể bền. Đã xảy ra những loanh quanh đèn cù, phải trả lại hoặc phục hồi những tên đường có giá trị bền vững, ví dụ đường Lê Văn Duyệt, đường Thành Thái, Duy Tân, mà cũng chả thấy xin lỗi, rút kinh nghiệm gì. Bộ máy cai trị này là vậy, kinh tế tập trung quan liêu bao cấp là họ, đổi mới phá bỏ bao cấp cũng là họ, chả hề xin lỗi ai, thậm chí còn tự nhận có công. Họ đặt tên đường theo chủ quan của nhà cai trị chứ không theo ý dân. Đó là thói phán xét một chiều, thiên kiến, thù dai, thiếu văn hóa, bất cần lịch sử, bất cần dân, thậm chí độc tài, chỉ cho mình là đúng.

Đã tới lúc cần phải khách quan, văn hóa, khoa học, tôn trọng nhân dân trong chuyện đặt tên đường. Có những nhân vật lịch sử đã được đánh giá lại công bằng, vượt ngoài thiên kiến hủ lậu của quan điểm cách mạng vô sản, như Gia Long, Nguyễn Hoàng, Phan Thanh Giản… phải được tôn vinh bằng tên đường.

Có những con người kiêm đủ tài đức, đóng góp rất nhiều cho đất nước, nhân dân, ghi dấu ấn không phai trong lịch sử nước nhà, như Trần Trọng Kim, Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi, Hoàng Xuân Hãn, Trương Tửu, Hoàng Minh Chính, Vũ Đình Huỳnh… phải có những con đường mang tên họ. Và ngay cả những danh nhân mà tên tuổi chỉ thoạt nhắc tới đã có đông đảo dân chúng hiểu biết tường tận như Bùi Giáng, Hữu Loan, Phùng Quán, Nguyễn Hiến Lê, cả Phạm Quỳnh, Nhất Linh, Khái Hưng, Phạm Duy, Thích Tuệ Sỹ… hà cớ gì bộ máy cầm quyền này không chịu tôn vinh họ.

Tôi cho rằng ngay cả cái nguyên tắc máy móc người đã khuất cứ phải sau 10 năm mới được xét đặt tên đường là rất vớ vẩn, duy lý. Để đánh giá người nào đó tốt hay xấu, có công hay không có công, xứng đáng hay không xứng đáng, khi người ta còn sống đã tương đối rõ rồi, tới khi “cái quan định luận” thì cơ bản xong, không còn gì phải lăn tăn nữa.

Chẳng hạn, hai ông nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, Hoàng Vân, cứ hỏi dân Hà Tĩnh, Bến Tre, Quảng Bình xem có biết là ai không, có xứng đáng đặt tên đường không, thì rõ ngay. Cần chi phải 10 năm trôi. Tới giờ mà thành phố Hà Tĩnh, thành phố Bến Tre vẫn chưa có tên đường/ phố Nguyễn Văn Tý, thành phố Đồng Hới chưa có đường Hoàng Vân là khí muộn, vô tâm, vô tình.

Có những danh nhân gắn với vùng đất, địa phương nhất định bởi quê quán, nơi sinh sống nên đã có tên đường tại nơi ấy, là chuyện thường tình. Nhưng thủ đô Hà Nội thì không thể hà tiện thái độ văn hóa được, cần phải gương mẫu trong đặt tên đường. Chả hạn cụ Nguyễn Hữu Đang, dù quê Thái Bình nhưng tên cụ xứng đáng đặt cho một đại lộ gần quảng trường Ba Đình. Sài Gòn cũng vậy, con đường nào nên thơ nhất hãy cho nó mang tên Bùi Giáng, Trịnh Công Sơn. Dân chúng lại chả vỗ tay rầm rầm. Đó mới thực đường trong lòng dân.

Tôi nói thật, nếu các vị thấy khó quá, phức tạp quá thì nên bắt chước nhiều nước trên thế giới, chả cần tên tiếc, danh nhân danh nhiếc, địa danh địa diếc gì sất, cứ đặt đại tên theo số 1, 2, 3, 4, 40, 41, 51, 52… là xong. Khỏi ý kiến ý cò.

BAOTIENGDAN.COM

Tên đường (Kỳ cuối) | Tiếng Dân


 

TRỞ NÊN MỘT NGƯỜI BẠN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Không tìm được lối đem người ấy vào, họ lên mái nhà, dỡ ngói ra, thả người ấy cùng với cái giường xuống ngay chính giữa, trước mặt Chúa Giêsu”.

Phillips Brooks, một giáo sĩ rất bận rộn. Khi ông sắp qua đời, một bạn trẻ viết thư hỏi bí quyết về sự thanh thản của ông. Brooks hồi âm, “Càng về chiều, tôi càng xác tín, những ngày cuối đời là những ngày bình an, viên mãn nhất. Đó là một sự hiểu biết sâu sắc, chân thật hơn về tình yêu đối với Chúa Giêsu. Tôi không thể diễn tả; nhưng Ngài ở đây, biết tôi và tôi biết Ngài, một điều thực nhất trên thế giới; và mỗi ngày, nó càng thực hơn! Tôi tự hỏi, hiểu biết này sẽ phát triển đến mức nào nếu những ngày này cứ kéo dài? Vì Ngài đã thực sự trở nên một người bạn của tôi!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Ngài đã thực sự trở nên một người bạn của tôi!”. Tin Mừng hôm nay mời chúng ta nhìn vào những người bạn của kẻ bất toại; đồng thời, chiêm ngắm ‘Giêsu’, người bạn của tất cả những ai muốn có Ngài là bạn. Để đến lượt họ, ‘trở nên một người bạn!’.

“Không tìm được lối đem người ấy vào”, các bạn của người bất toại đưa ra một quyết định không thể táo bạo hơn. Họ là một phần của phép lạ! Không có họ, chưa chắc phép lạ đã xảy ra. Đó là những ‘nghệ sĩ’ đầy lòng tin đã cống hiến ‘một màn diễn’ ngoạn mục cho Tin Mừng! Chúa Giêsu không thể lờ đi ‘chiếc võng ru người’ đong đưa trên đầu Ngài, sừng sững trước mặt Ngài. Tin Mừng nói, “Thấy họ có lòng tin”. Ngài đánh giá cao cái họ có, ‘lòng tin’ của những người bạn và của chính người bệnh. Mùa Vọng, mùa ‘trở nên một người bạn’ đầy lòng tin! Thật thú vị, ‘trở nên một người bạn’ đầy lòng tin là phép lạ thực sự của Mùa Vọng, còn hơn cả được chữa lành!

Bài đọc Isaia hôm nay nói, “Hãy làm cho những bàn tay rã rời nên mạnh mẽ, cho những đầu gối bủn rủn được vững vàng… Thiên Chúa của anh em đây rồi!”. Những lời đầy khích lệ này một lần nữa được lặp lại trong Thánh Vịnh đáp ca, “Kìa Thiên Chúa chúng ta đến cứu chúng ta!”. Mùa Vọng, mùa bạn và tôi đến với những tâm hồn xao xuyến, nói với họ rằng, “Chính Chúa sẽ đến cứu anh em!”. Và cách tốt nhất, nhanh nhất để làm điều này là đưa họ đến với “Giêsu Thánh Lộ”, như cách nói của Isaia. Có Giêsu, “sa mạc sẽ mừng vui, đồng khô sẽ hoan hỷ”; vì lẽ, Ngài là “mạch suối vọt lên nơi hoang địa” linh hồn, là “sông chảy nơi đồng vắng” lòng người; với Ngài, “người mù sẽ thấy, người điếc sẽ nghe, và người què sẽ nhảy nhót như nai!”.

Anh Chị em,

“Ngài đã thực sự ‘trở nên một người bạn’ của tôi!”. Không chỉ là một người bạn, “Giêsu” còn là Đấng giải thoát. Mùa Vọng, mùa nhắc nhở chúng ta, Ngài là “Một Người Bạn Cứu Độ”, và là một người bạn lý tưởng cho tất cả những ai muốn ‘trở nên một người bạn’. Trên các bàn thờ, Ngài đang tiếp tục ‘trở nên một người bạn’ hiến thân cho kẻ mình yêu, cách riêng cho những ai muốn bắt chước Ngài để hiến thân phục vụ tha nhân. Thế giới đang rất bất an, bao người đang rã rời, bủn rủn. Hơn bao giờ hết, bạn và tôi được mời gọi trở nên những ‘Giêsu khác’, ra đi khơi niềm cảm hứng, thắp lên hy vọng cho bao tâm hồn trong môi trường mình.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, ước gì ngày sống của con cũng viên mãn và bình an khi có Chúa là bạn; hầu con thực sự luôn ‘trở nên một người bạn’ cho tất cả những ai đang lẻ loi, trống vắng!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen


 

Tương Phản trong hệ thống thuế khóa của California và Texas

Bài phân tích của báo Điện Tín Anh – Telegraph

California không bị phá sản. Chưa. Nhưng nó đang tiếp tục theo cách sẽ thúc đẩy nó bị rơi vào tình trạng giống như vậy. Vấn đề cơ bản là những người cấp tiến điều hành tiểu bang – và chính trị truyền thống của dân California không chọn bất cứ điều gì nếu không thuộc về chính sách của nhóm tiến bộ – đã không tìm ra điều cơ bản nhất về thu nhập dựa vào hệ thống thuế. Bạn không thể cứ chi tiêu tăng theo lũy tiến trên một hệ thống đánh thuế lũy tiến.

Vấn nạn hiện tại là nghiêm trọng đáng kể. Thâm hụt dự kiến cho năm tới là 68 tỷ đô la. Hầu hết chúng ta không có thước đo về quy mô của sự thâm hụt ngân sách này, đó là 30% thâm thủng ngân sách đối với tất cả mọi thứ họ sẽ chi tiêu. Đây cũng là một sự đảo ngược so với thặng dư dự đoán 100 tỷ USD chỉ mới có hai năm trước.

Làm thế nào mà điều đó xảy ra?

Vấn đề chiến thuật nhỏ dẫn đến sự đảo ngược này không phải là lần đầu xảy ra, đó là thói quên cho phép các chính trị gia có sổ séc ở bất cứ mục chi tiêu nào. Một khi có dòng tiền chảy vào ngân sách bằng cách đánh thuế lũy tiến thì mọi nhóm lợi ích và cử tri trong hệ thống chính trị đều được phân bổ nhiều tiền thuế hơn để chi tiêu. Đó là cách hệ thống chính trị hoạt động, yêu cầu các chính trị gia tiết kiệm giống như khăng khăng đòi những đứa trẻ giữ đồ ăn ngọt để dành cho đến tuần tới. Vì vậy, mỗi khi kho bạc California nhận được một số tiền, có vô số kế hoạch chi tiêu tất cả những thứ đó và hơn thế nữa. Những kế hoạch đó luôn tăng chi tiêu hàng năm và đòi hỏi nó cần phải được duy trì trong tương lai. Vì vậy,  khi doanh thu giảm, thâm hụt trở thành một con yêu tinh, như đang thấy bây giờ. Cắt giảm chi tiêu là vô cùng khó khăn vì bây giờ nó có nghĩa là gây thất vọng cho quần chúng và chiến đấu chống lại mọi nhóm lợi ích và cử tri chính trị phái tiến bộ-Progressive.

Vấn đề lớn hơn, mang tính cấu trúc, là hệ thống thuế California theo tiến bộ quá lố. Toàn bộ 50% thuế thu nhập tiểu bang (bản thân nó có thể lên tới 13,3%, trên mức cao nhất của Liên bang là 37%) đến từ 1% người nộp thuế hàng đầu. Hầu hết trong số đó, 33%, chỉ đến từ 0,1% hàng đầu. Đòi tiền người giàu là hành động tiến bộ khủng khiếp, tất nhiên là như vậy. Nhưng nó cũng hoàn toàn không thể cậy dựa vào. Đối với những người có thu nhập cao nhất, họ không làm tiền từ lương, chúng là thu nhập trong kinh doanh. Nền kinh tế suy thoái và những khoản thu nhập cao nhất đó giảm mạnh. Thị trường chứng khoán giảm và tăng vốn chuyển sang thua lỗ. Lãi suất tăng và giao dịch nhà đất giảm, giết chết nguồn thu từ thuế giao dịch. Chính xác những gì đang xảy ra ngay bây giờ, làm giảm đáng kể dòng tiền chảy vào để trả cho tất cả những lời hứa chính trị đó.

…Các chính trị gia California đã nhìn vào nền dân chủ xã hội châu Âu và thấy rằng nó là tốt. Nhưng họ đã thất bại trong việc học bài học về thuế. Bạn không thể mua quà tặng được tài trợ bằng thuế cho tất cả mọi thành phần xã hội bằng cách chỉ đánh thuế người giàu. Bạn phải đánh thuế tất cả mọi người, theo phong cách châu Âu – thuế suất VAT hấp dẫn, thuế biên chế, thuế thu nhập đáng kể của tầng lớp trung lưu. Hệ thống thuế của châu Âu ít tiến bộ hơn so với Hoa Kỳ vì lý do này – đó là cách bạn tài trợ cho nền dân chủ xã hội. Đối với thu nhập của người giàu, do đó, doanh thu thu được từ việc đánh thuế họ, rất khác nhau.

Như các nhà chính trị California đang nhận thấy, khi họ tăng lãi suất để bù đắp cho thâm hụt ngân sách, hậu quả là những người giàu có, và doanh nghiệp của họ, khởi hành đến tiểu bang Texas.

Chúng ta có thể nghĩ rằng điều này đang chiếu sáng, có thể là điều đáng buồn, nhưng bạn không thể tạo tiến bộ xã hội chỉ bằng cách sử dụng ví tiền của người giàu. Một bài học mà tất cả các chính trị gia, không chỉ những người ở California, có thể rút ra một cách hữu ích.

Kẻ đi tìm:

Một vài con số thành công của Tiểu Bang Texas, thặng dự ngân sách 32,7 tỷ USD cho dù Tiểu Bang không có thu nhập từ thuế lợi tức đánh vào cư dân của Texas. Đó là khoản thặng dư ngân sách khổng lồ mà Texas sẽ có vào cuối năm 2023.

Thặng dư 32,7 tỷ USD của Texas tương đương với quy mô ngân sách của Nam Carolina. Nó lớn hơn ngân sách của 24 bang.

 


S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Hồn Nước

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Nhạc phẩm Bên Bờ Đại Dương là sáng tác chung của Hoàng Trọng và Hồ Đình Phương, do nhà xuất bản Tinh Hoa ấn hành vào năm 1957 (khi đất nước đã bị cắt chia) nên có thể là nhiều người chưa từng nghe đến lần nào:

Đất nước tôi màu thắm bên bờ đại dương
Bắc với Nam, tình nối qua lòng miền Trung
Đất nước tôi từ mái tranh nghèo Bắc Giang
Vượt núi rừng già Trường Sơn
Vào tới ruộng ngọt phương Nam

Dân nước tôi từng đấu tranh diệt ngoại xâm
Trong máu xương từng hát ca bài thành công
Dân nước tôi nòi giống hùng cường Lạc Long
Làm gái toàn là Trưng Vương
Làm trai rạng hồn Quang Trung …

 Nếu được hân hạnh ngồi chung bàn với nhị vị tác giả của tác phẩm thượng dẫn (và nếu uống đủ nhiều) tôi “dám” sẽ đề nghị hai ông sửa đổi lại đôi câu:

Làm trai toàn là Quang Trung
Làm gái rạng hồn Trưng Vương …

Chả hiểu tại sao nhưng tôi cứ đinh ninh rằng hồn thiêng sông núi luôn luôn tiềm ẩn trong tim của những người phụ nữ, chứ không phải là nam giới. Sự chủ quan này –  phần nào – là do kinh nghiệm cá nhân vì tôi đã may mắn gặp được cái hồn của dân tộc mình rồi, và không chỉ một lần.

Lần đầu tiên tôi gặp “nó” trong hẻm Ánh Hồng (Hà Nội) cạnh một nhà xí công cộng, nơi cư trú của một kẻ bần cùng: chị Sợi. Chị có một mẹt hàng ở đầu ngõ, bầy bán các thứ linh tinh: ấm nước chè, gói thuốc lào, bao thuốc lá, lọ ô mai, gói bánh bích qui. Vì không có vốn nên hàng hoá lèo tèo, thảm hại.

Chị ấy bán hàng không đủ thu nhập để nuôi mình, và nuôi người mẹ bệnh đang nằm chờ chết nên (đôi lúc) còn buộc phải bán thân. Mẹt hàng, cũng như thân xác “xuống cấp” của người đàn bà đã quá thời xuân sắc này, chỉ hấp dẫn được một loại khách hàng duy nhất: đám ăn mày.

“Trong số những người chồng hờ ấy, chị đặc biệt yêu quý một anh ăn mày trẻ, còn ít tuổi hơn chị. Anh ta đến với chị không như người đến với gái làng chơi.

Anh đã kể cho chị nghe chuyện chân anh. Còn chị kể cho anh chuyện mẹ chị. Khi bị ngã gẫy xương hông, nằm liệt, ba năm đầu cụ hát. Ba năm sau cụ chửi. Và một năm nay cụ yên lặng. Mỗi khi có khách lên gác lửng cùng chị, cụ nhắm mắt giả cách ngủ.

Anh thương chị. Chị thương anh. Chính anh đã mượn cưa, bào ở đâu về cưa, bào, đo, cắt mộng mấy tấm gỗ cốp pha, ráp thành cái áo quan cho cụ. Và cũng chính anh, dù què một chân cũng đã bắc ghế trèo lên, xây thêm hai hàng gạch quanh tường bao cho nó cao thêm, chắn bớt cái hơi nhà xí tạt vào.

Người thứ hai chị Sợi yêu quý là một phụ nữ… một bà già thấp bé, lại còng, mặt chằng chịt vết nhăn, chẳng biết bao nhiêu tuổi nữa … Bà ở vùng Hà Nam, Phong Cốc. Anh con trai duy nhất của bà a dua với bọn xấu trong làng đi ăn trộm lợn. Án xử hai năm. Trong tù bị bọn đầu gấu đánh chết. Người con dâu bỏ đi lấy chồng, để lại cho bà hai đứa cháu gái, đứa chín tuổi, đứa bảy tuổi.

Một lần bà Mít đến, nắm lấy bàn tay chị:

– Em ơi. Chị nhờ em một cái này được không.

Bà ngập ngừng. Chị Sợi không hiểu chuyện gì. Nhưng rõ ràng là một việc hệ trọng, rất hệ trọng đối với bà… Thì ra bà muốn gửi chị tiền.

Tiền là vàng, là cuộc sống của hai đứa cháu côi cút của bà ở quê. Để nhiều tiền trong người, bà sợ. Suốt ngày đi bộ rạc cẳng mà đêm cứ ngủ chập chờn. Nên nghe chừng thấy nằng nặng hầu bao, bà phải mang tiền về quê … Chị nắm chặt tay bà: Bà yên tâm. Tiền bà gửi con không suy suyển một xu.

Nhưng cả tháng sau bà Mít vẫn không quay lại…  Chị Sợi kiểm lại số tiền bà Mít gửi một lần nữa. Cho tất cả vào một cái túi xách. Bây giờ chị không chờ bà Mít nữa. Chị chờ anh què đến. Chị bảo anh:

  • Bà Mít chết thật rồi. Anh phải giúp em. Ở đây trông nom, cơm nước, rửa ráy cho mẹ em vài ngày. Em phải đi đây.
  • Em biết quê bà ở đâu mà tìm?
  • Cứ về Hà Nam, Phong Cốc hỏi. Thế nào cũng ra … Phải đem chỗ tiền này về cho hai đứa trẻ mồ côi. Phải thực hiện nguyện ước của bà cụ, kể cả việc mua hai bộ quần áo mới cho chúng nó… Phải đi ngay kẻo lỡ mất chuyến tàu”. (Bùi Ngọc Tấn. “Truyện Không Tên.” 05/17/2009).

Sau khi đọc xong câu chuyện này, tôi viết thư cảm ơn tác giả vì đã giúp cho tôi cảm được cái hồn của dân tộc mình. Nhà văn hồi đáp rằng ông không viết truyện mà chỉ kể lại chuyện đời, theo đúng y như lời tâm sự của chị Sự chứ không thêm bớt chi cả.

Bùi Ngọc Tấn đã ra người thiên cổ nhưng chị Sợi, anh Què chắc vẫn quanh quẩn nơi những con hẻm tối tăm (nào đó) giữa lòng Hà Nội. Ở đây, không phải lúc nào ra ngõ cũng gặp anh hùng hay một vị tiến sỹ mà (đôi khi) chúng ta còn gặp được những mảnh hồn của đất nước nữa nhưng không có cơ duyên để nhận biết thôi.

Mới đây, tôi lại may mắn gặp cái hồn của đất nước mình tại một nơi chốn khác –qua câu chuyện kể của một người chủ tiệm cơm tấm ở Hóc Môn, Sài Gòn:

Cách đây không lâu, mình thấy hai bà cháu ngồi xin ăn bên đường nên đã đem làm 2 phần cơm qua ủng hộ. Mỗi phần cơm tấm quán bán trị giá 45 nghìn.

Lúc qua thì thấy bé cầm sẵn tiền lẻ, bà ngồi bên có nói là nó thèm cơm, đang định qua mua nhưng mà chỉ có tờ 1 nghìn, 2 nghìn, tiền cũng bị rách nữa, sợ qua chủ quán không chịu bán.

Lần thứ 2, mình dặn nhân viên đem cơm qua, nói là quán tụi con cũng hay cho cơm vậy lắm, bà đừng ngại gì hết.

Rồi lần thứ 3, hôm đó trời mưa, quán mình cũng vắng khách, em bé mới cầm tiền qua, nói hôm nay con mua ủng hộ chú, nay bà cháu con xin được nên có tiền rồi”. (Thủy Tiên. “Đem xấp tiền lẻ tới mua cơm, cậu bé bán vé số thuật lại lời dặn của bà khiến chủ tiệm bối rối.” Soha 24/09/2023).

“Lòng tự trọng của hai bà cháu” cũng khiến tôi bối rối theo, và bối rối lắm, khi liên tưởng vụ án VTP đang làm dậy sóng dư luận suốt mấy tuần qua. Nhân vật chính bị cáo buộc đã chiếm đoạt một số tiền kếch xù khiến nhiều người rất băn khoăn:

  • Trần Ngọc Tuấn: “Bạn nào giỏi toán tính hộ mình: số tiền của Vạn Thịnh Phát xây được bao nhiêu ngôi nhà, cho người cơ nhỡ, tàn tật không nơi nương tựa?”
  • Nguyễn Bước BD: “Con số 304 ngàn tỷ đồng rất lớn và lớn đến mức nào? Để dễ mường tượng, ta quy ra tương đương:
  • Viết đầy đủ: 304.000.000.000.000 VND.
  • Quy ra USD: 12 tỷ đô la Mỹ.
  • Quy ra vàng 24K: 170 tấn.
  • Quy ra lương tối thiểu 5 triệu đồng/người/tháng, mỗi lao động làm việc chừng 25 năm thì thu nhập của khoảng 200.000 đời người không tiêu xài…”
  • Nguyên Tống: “Để dễ hình dung 300,000 tỷ mà Vạn Thịnh Phát chiếm dụng lớn cỡ nào, ta cần chia nó ra tờ 500,000 để bớt các số 0 đi mới bấm được máy tính. Nó là 600 triệu tờ. Mỗi tờ tiền này có trọng lượng chính xác là 1g. Vậy là số tiền này sẽ nặng 600,000kg, hay 600 tấn…
  • Nguyen Nhoc: “VTP nguyên dòng họ ăn cả đời ko hết, mà sao lấy chi mà lắm vậy.”

Vậy mà giữa cái ngõ Ánh Hồng Hà Nội vẫn có người phụ nữ tuy phải bán thân nuôi miệng (và nuôi mẹ) nhưng không tơ hào một đồng xu cắc bạc nào của tha nhân. Trong một con hẻm tăm tối ở Sài Gòn vẫn có người ăn mày đủ “tự trọng” để từ chối những phần ăn được trao tặng miễn phí (cho cả hai bà cháu) khi túi có đủ tiền để chi trả đàng hoàng, sòng phẳng.

Bao giờ mà quê hương còn những tấm lòng thơm thảo như thế thì chúng ta vẫn còn có thể hy vọng vào hậu vận của dân tộc này, mặc cho bao bầu trời đã sụp và đang sụp!


 

Các con bà Mohammadi đang ở tù Iran, nhận Giải Nobel Hòa Bình của mẹ

Ba’o Nguoi-Viet

December 10, 2023

TEHRAN, Iran (NV) – Hai người con song sinh của nhà hoạt động Narges Mohammadi, đang bị chính quyền Iran bỏ tù, đã nhận Giải Thưởng Nobel Hòa Bình thay cho mẹ, Đài BBC loan tin vào hôm Chủ Nhật, 10 Tháng Mười Hai.

Bà Mohammadi, đang thọ án 10 năm tù tại Tehran, đoạt giải thưởng năm nay vì công lao chống nạn đàn áp phụ nữ ở Iran.

Trong diễn từ nhận giải được đưa lén ra ngoài và do hai con của bà đọc lên, bà Mohammadi tố cáo chính quyền “độc tài chuyên chế” của Iran.

Khôi Nguyên Nobel Hòa Bình, nhà hoạt động người Iran Narges Mohammadi (trong khung hình) được đại diện bởi con gái Kiana Rahmani, con trai Ali Rahmani, nhận giải thưởng từ Chủ Tịch Ủy Ban Trao Giải Nobel Berit Reiss Andersen tại Tòa Thị Chính Oslo, Na Uy, hôm 10 Tháng Mười Hai, 2023 (Hình: Rune Hellestad/Getty Images)

“Với lòng kiên trì tranh đấu, dân tộc Iran sẽ chiến thắng thế lực đàn áp và chế độ độc tài,” bà Mohammadi viết. “Khỏi phải nghi ngờ gì cả, điều này chắc chắn sẽ xảy ra.”

Giải thưởng quốc tế danh giá này đã được phát ra tại Oslo vào hôm Chủ Nhật, cùng với các giải thưởng Nobel khác về văn chương, khoa học và kinh tế.

Từ nhiều năm qua, bà Mohammadi đã là một gương mặt tranh đấu cho nhân quyền nổi bật tại Iran. Người phụ nữ 51 tuổi này đã ở tù hầu như liên tục kể từ năm 2010, và bà đã bị nhà cầm quyền bắt giữ tổng cộng 13 lần, bị kết án năm lần, và bị kết án một tổng số là 31 năm tù ở.

Bà hiện vẫn còn đang ngồi tù về tội “loan truyền thông tin phản động.”

Chồng bà, nhà hoạt động chính trị Taghi Rahmani, đang sống lưu vong tại Paris cùng với hai con, và hai vợ chồng này không gặp mặt nhau từ nhiều năm qua.

Một đoạn khác trong diễn từ được đưa lén ra ngoài của khôi nguyên Giải Nobel Hòa Bình Narges Mohammadi viết: “Cuộc đối kháng [chống chế độ cai trị hiện tại ở Iran] vẫn tồn tại, và cuộc tranh đấu vẫn không hề bị suy suyển. Đối kháng và bất bạo động là chiến lược tốt nhất của chúng ta — cũng là những khó khăn mà dân tộc Iran đã trải qua cho đến ngày nay — nhờ vào ý thức truyền thống và sức mạnh tập thể.” (TTHN) 


 

7 PHƯƠNG PHÁP GIÚP BẠN THÔNG THÁI HƠN

Gieo Mầm Ơn Gọi

  1. Đọc sách và ngẫm nghĩ nhiều hơn:

Đọc sách, là khoản đầu tư có lãi nhất của đời người. Sách chính là nguồn sáng soi tỏ con đường đi của những người thành công. Hãy nhìn xem, những vị tỷ phú hàng đầu thế giới như Bill Gates, Mark Zuckerberg, Mark Cuban… đều là những người đam mê đọc sách và luôn dành ít nhất 3 tiếng mỗi ngày để thu nạp tri thức nhân loại.

Nhưng đọc sách không phải để lấy thành tích, mà cần đọc chọn lọc, đào sâu suy ngẫm và biến những lý thuyết khô khan kia trở nên sống động, hiệu quả khi áp dụng vào thực tiễn đời sống.

  1. Mạnh dạn và phát biểu ý kiến:

Ngại đưa ra ý kiến cá nhân là hiện trạng của không ít bạn trẻ hiện tại. Vì sợ sai, sợ phô bày sự thiếu hiểu biết của bản thân. Việc “giấu dốt” ấy vô cùng nguy hiểm, có khả năng hủy hoại tương lai của chính bạn. Đừng sợ hãi nói lên tiếng nói, chính kiến của mình, chỉ có trao đổi kiến thức mới giúp mở rộng vốn sống, vốn hiểu biết mà thôi.

  1. Tập trung vào những gì đã biết:

“Một nghề cho chín, còn hơn chín nghề”. Việc phát huy sở trường, thế mạnh của bản thân rõ ràng tốt hơn việc khởi đầu mông lung với con số 0.

  1. Luôn tự chất vấn chính mình:

“Tôi làm việc như vậy đã hiệu quả chưa?”, “Làm thế nào để gia tăng năng suất, sản lượng?”, “Cần rút lại bài học gì sau cuộc gặp gỡ đối tác ngày hôm nay…”, hãy liên tục để đầu óc vận động, tư duy bằng các câu chất vấn chính mình. Vạch những câu hỏi ấy trong đầu và nhất định tự tìm ngay câu trả lời thỏa đáng. Việc tự chất vấn, vừa là cách giúp bạn nhìn nhận lại thiếu sót, rút ra được kinh nghiệm quý báu, mà cũng là cách gia tăng độ linh hoạt cho bộ não.

  1. Coi trọng việc học ngoại ngữ:

Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên thế giới phẳng, tất nhiên, ngoại ngữ là tối quan trọng. Ngoài ngôn ngữ toàn cầu là tiếng Anh, các bạn trẻ hãy bỏ túi thêm những ngoại ngữ khác, phụ trợ cho công việc tương lai của mình: tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Pháp, Tây Ban Nha…

  1. Bớt phụ thuộc vào công nghệ:

Công nghệ, một mặt nâng tầm đời sống, biến đổi cuộc sống của chúng ta một cách chóng mặt. Nhưng, cũng chính công nghệ khiến mối quan hệ giữa người – người, thậm chí, mối quan hệ của chính bản thể dần trở nên xa cách. Quá phụ thuộc vào công nghệ khiến chúng ta lười tư duy, lười động não… khiến bản thân dễ rơi vào trạng thái thụ động, trì trệ.

  1. Kiên trì luyện tập thể dục thể thao:

Là cách vừa nâng cao sức khỏe, tăng cường khả năng sáng tạo. Hãy dành ít nhất 1 tiếng mỗi ngày để vận động, tập thể dục hoặc chơi một môn thể thao nào đó.

ST


 

VỀ TỪ CHỐN LƯU ĐÀY – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi!”.

“Chúa Kitô có thể được sinh ra hàng ngàn lần ở Bêlem – nhưng tất cả đều vô ích cho đến khi Ngài được sinh ra trong tôi!” – Angelus Silesius.

Kính thưa Anh Chị em,

Nói rằng, “Cho đến khi Ngài được sinh ra trong tôi!” khác nào nói, cho đến khi tôi được thực sự tự do để đón Ngài; được giải thoát khỏi mọi hình thức nô lệ, được trở ‘về từ chốn lưu đày’. Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay mời gọi chúng ta – hưởng ứng lời Gioan Tẩy Giả – chỉnh đốn con người mình hầu có thể mở ra những con đường cho Chúa ngự đến.

Marcô thật tài tình khi mở đầu Phúc Âm bằng việc giới thiệu Gioan, vị tiền hô báo trước cuộc tiến vào ‘đất hứa mới’, “Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con”. Đó là một lời hứa của Thiên Chúa, một biểu thị bảo vệ, báo trước chiến thắng và kết thúc của cuộc lang thang trong sa mạc. Marcô muốn độc giả của mình biết rằng, Gioan Tẩy Giả là tiền hô của một Môsê mới, Đức Kitô; một cuộc xuất hành mới, tiến vào Vương Quốc Ngài!

Đó là sự khởi đầu của một chiến dịch mở ra những con đường chống lại các thế lực thù địch vốn đang chế ngự đất lưu đày. “Con đường”, “hodos”, trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là đường đi hoặc hành trình; nhưng trong Tân Ước, nó thường đề cập đến “lối sống mà Thiên Chúa đòi hỏi”. Năm 586 trước Công Nguyên, Giêrusalem rơi vào tay Babylon, hàng ngàn người Do Thái bị lưu đày ở đó. 47 năm sau, Cyrus, vua Ba Tư, đánh bại Babylon, cho phép người Do Thái hồi hương về Israel. Vì thế, Marcô khôn khéo sử dụng Isaia – bài đọc thứ nhất – để nói đến cuộc xuất hành mới. Nói cách khác, “dọn đường cho Chúa” nghĩa là bắt đầu một cuộc xuất hành khỏi ách nô lệ tội lỗi. Đó là ‘về từ chốn lưu đày’; đúng hơn, một lối sống, một hành động phù hợp với lối sống Thiên Chúa đòi hỏi.

Mùa Vọng, mùa chuẩn bị cuộc trở về, một cuộc hoán cải. Mùa Vọng, mùa tái định hướng triệt để cuộc sống của mình hướng về Thiên Chúa. Phêrô – bài đọc hai – cũng có một lời kêu gọi tương tự, “Ngài muốn cho mọi người đi tới chỗ ăn năn hối cải”. Vì thế, “Anh em phải cố gắng sao cho Ngài thấy anh em tinh tuyền!”.

Với Đức Phanxicô, “Để chuẩn bị những con đường cho Chúa đến, cần lưu ý đến yêu cầu cần hoán cải mà Gioan mời gọi. Những yêu cầu cần hoán cải là gì? Trước hết, hãy lấp đầy những “thung lũng” do sự lạnh lùng và thờ ơ gây ra, mở lòng mình ra với người khác bằng những tâm tình như tâm tình của Chúa Giêsu, nghĩa là với sự thương cảm và quan tâm huynh đệ vốn đáp ứng mọi nhu cầu của anh chị em mình”.

Anh Chị em,

“Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa!”. Để dọn đường cho Chúa, hãy lấp đầy các thung lũng do ‘giá lạnh’ gây ra. Người ta không thể yêu thương, bác ái và huynh đệ nếu vẫn còn những “khoảng không” cũng như những ổ gà trên các con đường. Điều này đòi hỏi chúng ta phải thay đổi thái độ. Sau đó, cần phải hạn chế sự thờ ơ do kiêu ngạo và tự phụ. Như Gioan đã mở ra những con đường trong sa mạc, bạn và tôi chỉ ra những viễn cảnh hy vọng, ngay trong những bối cảnh hiện sinh đầy gian khổ của thế giới vốn đang bị đánh dấu bởi những thất bại này đến những thất bại khác!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con đang ở đâu? Liệu Chúa đã được sinh ra trong con? Xin đưa con ‘về từ chốn lưu đày’ nếu con đang bị đày ải ở đâu đó!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen


 

Hãy dọn sẵn con đường của ĐỨC CHÚA, sửa lối cho thẳng để Người đi. (Mc 1:3)

Mong bạn có một lòng ao ước “cần Chúa hơn bao giờ hết” hôm nay.

Cha Vương

CN: 10/12/2023

TIN MỪNG: Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường của ĐỨC CHÚA, sửa lối cho thẳng để Người đi. (Mc 1:3)

SUY NIỆM: Trong Mùa Vọng, bạn được kêu gọi chuẩn bị cho sự giáng sinh của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế. Bạn đã và đang làm gì để sẵn sàng? Bài Tin Mừng hôm nay nhắc nhở bạn hãy “sửa lối cho thẳng để Người đi”.  Điều này có nghĩa là bạn phải chuẩn bị tâm hồn cho sạch sẽ để Chúa đến với bạn một cách dễ dàng hơn. Bạn chuẩn bị qua việc dành nhiều thời gian hơn với Chúa và đặt Chúa làm ưu tiên hàng đầu trong ngày. Hãy nhớ rằng ở đâu có Chúa thì ở đó không có xấu xa tội lỗi. Điều này cũng nhắc nhở rằng bạn cần phải sám hối, tức là định hướng lại cuộc đời mình để trở về với Chúa. Nó bao gồm ba khía cạnh: (1) Trở về với Thiên Chúa bằng cả trái tim. (2) Từ bỏ sự ác của tội lỗi và tránh xa những điều không phù hợp với giới răn của Chúa. (3) Quyết tâm thay đổi cuộc đời.

Lời cầu nguyện duy nhất của mình, trong Mùa Vọng này, là bạn hãy đến với Chúa thường xuyên hơn qua Bí tích Thánh Thể nếu có thể, không chỉ một lần mỗi tuần hay hai lần một năm. Bí tích Thánh Thể là sự kết hiệp mật thiết và là cuộc gặp gỡ thân mật nhất với Chúa Giêsu. Ngài là nguồn mạch của sự hoán cải. Ngài sẽ thêm sức và nâng đỡ bạn vượt qua mọi khó khăn và cạm bẫy của ma quỷ đó.

LẮNG NGHE: Vùng lên, Giê-ru-sa-lem hỡi! Đứng trên nơi cao mà nhìn: Kìa THIÊN CHÚA đem hoan lạc đến cho ngươi. (Br 5:5;4:36)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin hãy đến và tẩy sạch tâm hồn, con yêu mến Chúa, xin ở lại với con luôn mãi. Con cần Chúa!

THỰC HÀNH: Điều gì đang ràng buộc và ngăn cản bạn trở về với Chúa? Hãy cầu nguyện và xin ơn can đảm để từ bỏ nó nhé.

From: Do Dzung

CON CẦN CHÚA || THÁNH CA GIANG ÂN 

CÁC NHÀ BÁC HỌC NÓI VỀ THIÊN CHÚA

Antonio Son Tran

– Louis Pasteur : “Càng nghiên cứu khoa học, tôi càng tin vào Đức Chúa Trời.. Thật là mĩa mai cho lòng dạ con người, nếu chết là hết, hoặc chết là trở về với hư vô … Một chút khoa học sẽ gạt bỏ Chúa, giàu khoa học sẽ quay về với Chúa” .

…

– Albert Einstein: “Sự gian ác là do vắng bóng Thiên Chúa trong linh hồn … khoa học không tôn giáo là mù lòa, tôn giáo thiếu khoa học là què quặt….Tôi chưa hề gặp điều gì trong Khoa học của tôi mà lại đi ngược với Tôn giáo.”

…

– James Simpson : “Phát minh quan trọng nhất của đời tôi là tìm được Chúa Cứu Thế Giêsu .”

…

– Andre Marie Ampere “Con người chỉ vĩ đại khi quỳ xuống cầu nguyện với Thiên Chúa .”

…

– Blaise Pascal :”Giả như Thượng Đế không có, ta chẳng mất gì cả, nếu đã tin vào Ngài. Nhưng nếu có Ngài, ta sẽ mất tất cả, nếu ta không tin”

…

– Victor Hugo nói: “Nước Anh có hai cuốn sách: Kinh Thánh và Shakespeare. Nước Anh sinh ra Shakespeare; còn Kinh Thánh làm nên nước Anh”.

…

– Isaac Newton : “Cái huy hoàng của thái dương hệ, các hành tinh, sao chổi, chỉ có được là do sự điều hành của Một Đấng Thông Minh, Toàn Năng …Tôi thấy Thượng Đế qua viễn vọng kính ….Thánh Kinh có nhiều biểu hiện chăc chắn về tính có thực hơn bât cứ một câu chuyện nào chống lại sách đó …Trong đời mình tôi nhận biết được hai sự thật: thứ nhất – tôi là kẻ đại tội nhân, và thứ hai – Jêsus Christ vĩ đại vô lượng là Đấng Cứu Chuộc tôi …Lực hút Trái đất chỉ giải thích sự chuyển động của các hành tinh nhưng không thể làm rõ ai, khi nào và bằng cách nào đã đưa các hành tinh vào vị trí chuyển động như vậy. Chính Chúa trời là người điều khiển và sắp đặt vạn vật. Người là bất diệt, là vĩnh cửu…”.

…

– Becquerel: “Nhờ nghiên cứu khoa học, đã dẫn tôi đến Thượng Đế và tôi có đưc tin .”

…

– Bourgeois: “Không có gì cản trở tinh thần khoa học hòa hợp với tín ngưỡng đã được suy nghĩ sáng suốt. Trái lại, khoa học càng được đào sâu, thì tôn giáo lại càng được tăng thêm sức mạnh và bàn tay uy quyền của Thiên Chúa, Đấng Tạo hóa, lại càng được sáng to hơn .”

…

– Duclaux: “Nếu sự sống đầu tiên xuât hiện trên mặt đât do tình cờ, nơi mà (vũ trụ này) mọi sự đều có luật, thì sự xuât hiện kia, nó kỳ dị như hòn đá, tự bò lên sườn núi .”

…

– Alessadro Volta : “Niềm tin như điện, bạn không thể thấy nó, nhưng có thể thấy ánh sáng .”

…

– Moreux : “Tôi liên lạc với cac vị giám đôc thuộc hầu hêt mọi đài thiên văn trên thế giới, tât cả đều tin có Thiên Chúa .”

…

– Charles Nicolle :“May mắn thay trong tôn giáo có những bí nhiệm. Nếu không tôi sẽ hoài nghi nó, vì cho rằng tôn giáo là do trí loài người tạo ra. Bí nhiệm làm tôi vững tâm; đó là dấu ấn của Thiên Chúa .”

…

– Thomas Alva Edison : “Edison hết sức khâm phục và ca ngợi tât cả kỷ sư, trong đó gồm cả Thiên Chúa .”

…

– Chevreul : “Tôi không thấy Thiên Chúa vì Ngài thiêng liêng, nhưng tôi thấy công trình tạo dựng của Ngài”

…

– Diderot : “Chỉ cần con mắt và cái cánh của con bướm, cũng đủ diệt tan mọi lý lẽ của kẻ vô thần .”

…

– LaBruyère: “Tôi muốn thấy một người trong sạch và tiêt độ tuyên bố rằng không có Thượng đế, nhưng không thấy ai cả .”

…

– Wernher Von Braun : “Sự bao la huy hoàng của vũ trụ đã làm cho đức tin vào Đấng Tạo Hóa của tôi được tăng thêm. Khoa học và đạo không thể mâu thuẫn nhau, nhưng là chị em ruột thịt, vì khoa học tìm thấy sự huy hoàng của vạn vật, mà đạo thì tìm thấy Đấng Tạo Hóa quyền năng đã dựng nên vạn vật tốt đẹp lạ lùng”

…

– Bacon: “Kiến thức nông cạn đưa người ta xa tôn giáo, ngược lại kiến thức sâu sa đưa người ta lại gần tôn giáo .”

…

– Francois Coppée: “Làm sao từ nay tôi không tin có phep lạ, sau khi đã được phép lạ do sách Phúc Âm làm nơi tôi? Linh hồn tôi trước kia mù tịt trước ánh sáng đức tin, bây giờ đã thấy ánh sáng này với tât cả vẻ huy hoàng của nó. Linh hồn tôi trước kia điếc đặc trước Lời Chúa, nay đã nghe rõ ràng và vui sướng cảm phục. Linh hồn tôi trước kia tê liệt vì không tìm hiểu tôn giáo, lúc này đã nóng nảy hăng hái bay lên trời. Qủy dơ bẩn mà linh hồn tôi bị ám ảnh, nay đã bị đuổi đi .”

…

– T. Termier: “Cứ chung mà nói, mọi khoa học đều dọn trí khôn ta nhận biêt Thiên Chúa hiện hữu…khoa học dẫn đến Thiên Chúa; và cũng chính vì thế mà người ta có thể nói, vũ trụ vật lý là bí tích của Thiên Chúa .”

…

– A. Eynieu : trong số 432 nhà bac học thuộc thế kỷ 19; 34 vị không biêt lập trường tôn giáo, còn 398 phân chia như sau: 15 vị dửng dưng, 16 vị vô thần, 367 vị tin; như vậy là 92% cac nhà bac học tin có Thiên Chúa.

…

– Bossuet : “Những chân lý đời đời không thay đổi [của luân lý] buộc ta phải tin rằng có một Đấng Tạo Hóa”.

…

– Victor Gess : “Một nhà khoa học chân chính có thể tin vào Đức Chúa Trời được không? Tôi nghĩ là có … Tôi phải thừa nhận rằng qua suốt bấy nhiêu năm nghiên cứu khoa học của mình trong lĩnh vực vật lý và địa chất tôi chưa bao giờ nhận thấy những kết quả nghiên cứu khoa học có điều gì trái nghịch với đức tin vào Đức Chúa Trời – Đấng Tạo Hóa.”

…

– Charles Dickens : “Kinh Thánh Tân Ước chính là quyển sách tốt nhất đã từng và sẽ được biết đến trên thế giới”.

…

– Platon : “Những ai có một chút trí khôn, đều phải kêu cầu Đức Chúa Trời trước khi bắt đầu công việc của họ, dù việc lớn hay việc nhỏ”.

…

– Chateaubriand : “Tiêu hủy sự tin kính theo Phúc âm, thì mọi làng phải xây nhiều nhà ngục và phải có nhiều lý hình”.

– và tôi haha:

Kẻ vô thần không tin có đời sau

Vậy đời này chúng cần gì tích đức

Lời nói, việc làm từ trong vô thức

Cõi tâm hồn sâu thẳm hư không.

Nguồn : Sưu tầm

 


 

LORETO VÀ PHÉP LẠ THIÊN THẦN CHUYỂN NHÀ

Anne Bernet (Aleteia) – Lê Hưng (TGPSG) chuyển ngữ

Đức Bà Loreto, được Giáo Hội mừng lễ vào ngày 10-12, là Đức Bà phù hộ các phi công, các lữ khách đi máy bay… và của cả các công nhân chuyển nhà nữa.  Nhưng tại sao lại có sự bảo trợ này?

Gần thánh phố Ancône, trong vùng Marches nước Ý, có một trong những ngôi đền thờ được tôn kính nhiều nhất trong thế giới Công giáo: đền thờ Đức Bà Loreto.

Câu chuyện về nơi này thật lạ lùng và có thật, tuy dù cũng có đôi chút tô điểm cho thêm phần dễ thương.

Tất cả khởi sự từ đầu thế kỷ 14, khi Rôma được tin người ta vừa khai sinh thêm một cuộc hành hương Đức Mẹ, ở một nơi gọi là Loreto, “một cánh rừng nguyệt quế nhỏ;” nơi đây người ta tôn sùng một tượng Đức Mẹ đen cổ kính có nguồn gốc phương Đông được tạc từ gỗ thông tuyết và một ảnh thánh Đức Mẹ được cho là do thánh Luca vẽ.

Đến đây thì mọi chuyện khá bình thường: những đền thờ như vậy thì rất nhiều trong thế giới Kitô giáo nên người ta không thắc mắc lắm về tính lịch sử của những thánh tích được tôn sùng – sự sùng kính của khách hành hương thường phủ một lớp ân điển lên những vật được trưng bày để tôn kính.

Tuy nhiên sự độc đáo của địa điểm này không nằm ở nơi ảnh thánh và bức tượng nói trên, mà ở nơi ngôi nhà đặt ảnh tượng đó.  Nếu tin những gì người ta nói tại chỗ thì, ngôi nhà nguyện nhỏ vừa kể thật ra chính là ngôi nhà ở Nazarét, nơi thiên thần Gabriel hiện ra với Đức Maria – là nơi ơn cứu độ nhân loại được thể hiện…  Đó là lý do tại sao các tín hữu đã tuôn đến và sờ vào những viên đá linh thánh đó một cách thành kính, trào nước mắt xúc động vì còn được đến tận nơi.

Một nỗi đau không thể tưởng tượng

Đến tận nơi ư?  Đúng vậy, vì từ năm 1291 với sự thất thủ của thành Saint-Jean d’Acre – cứ điểm cuối cùng của vương quốc La tinh tại Giêrusalem, bị phe đạo Hồi chiếm giữ – Miền Đất Thánh gần như đóng cửa hoàn toàn với khách hành hương và hối nhân.  Nhà cầm quyền Hồi giáo chỉ cấp giấy phép nhỏ giọt để vào những địa điểm thánh và những Kitô hữu hiếm hoi dám bước vào đây lại gặp vô vàn nguy hiểm.

Chúng ta ngày nay quá thiếu sốt sắng nên khó đo lường được sự thiếu thốn như vậy nặng nề ra sao đối với những bậc tiền bối của chúng ta.  Không còn có hy vọng đến thăm xứ Galilê để cầu nguyện trong căn phòng mà Đức Maria đã thưa lời Fiat (Xin Vâng), không được theo dấu chân Chúa Giêsu, không được quỳ trong vương cung thánh đường Bêlem trên cái ngôi sao đánh dấu nơi đặt máng cỏ, không được tắm trên sông Giođan, không bao giờ được nhìn ngắm Giêrusalem, không được canh thức trong vườn Giêtsêmani, không được vừa đi vừa cầu nguyện vừa khóc trên con đường khổ nạn, không được leo núi Golgotha, không được ôm hôn hòn đá của ngôi mộ trống… mà biết rằng tất cả đều bị giao cho kẻ ngoại đạo, đó là một nỗi đau mà chúng ta không thể hình dung nổi.

Giáo Hội xót xa khi biết điều đó, nhưng làm gì được bây giờ?  Thánh chiến thì không còn hợp thời.  Do đó, để xoa dịu cái tang của giới Công giáo, Hội Thánh đưa ra những giải pháp khác cho các tín hữu đang than khóc.  Trước hết là hướng họ về điều cốt yếu: sùng kính Bí tích Thánh Thể.  Không cần thiết phải đi qua đầu kia của thế giới để tìm thấy Chúa Kitô vì Người có mặt hằng ngày trên bàn thờ và trong nhà tạm, dù là ở một nhà nguyện nhỏ bé nhất.  Chính trong bối cảnh đó mà lòng tôn kính Mầu Nhiệm Thánh Thể phát triển chưa từng thấy.

Thánh tích và đền thờ thay thế

Một cách khác là khiến người ta chú trọng đến những thánh tích của cuộc Khổ Nạn – có rất nhiều và đôi khi vô giá – như một mảnh của cây Thánh Giá mà nữ hoàng Radegonde đã có được cho tu viện của bà tại Poitiers (Pháp), mão gai được vua Thánh Louis mua, hay Khăn Liệm Chúa được trưng bày ở Lirey vùng Champagne (Pháp), hay những mảnh của máng cỏ đặt tại vương cung thánh đường Đức Bà Cả ở Rôma; những đồ vật này được đưa tới Châu Âu theo dòng thời gian, chủ yếu là đến Pháp vì các vua dòng họ Capet rất xem trọng chúng.  Vì không đến Miền Đất Thánh được nữa, nên đi viếng những chứng tích của mầu nhiệm Nhập Thể,  của cuộc Thương Khó và cuộc Phục Sinh của Chúa được xem như tương đương.

Cũng vậy đối với việc cố gắng tìm đến những linh địa khiêm tốn hơn nhiều với chỉ một cục sỏi nhặt được ở Palestine, thậm chí chỉ ít bụi từ nơi này…  Có những lãnh chúa hay những giám mục khá giả không ngần ngại xây dựng những đền thờ thay thế – được cho là tái hiện cách chân thật ít nhiều – những kiến trúc ở Miền Đất Thánh, như bản sao của Mộ Thánh ở Neuvy-Saint-Sépulcre, vùng Berry (Pháp), hay tái tạo ở Ý những nơi đáng chú ý nhất của Giêrusalem lúc đó.

Phải chăng đền thờ Loreto chỉ đơn giản là một trong những cách bắt chước mang tính đạo đức sùng mộ như vậy?  Hay, như những người sùng kính nơi đó tin tưởng, đây đúng là ngôi nhà ở Nazarét, được mang từ Palestine về, nhờ một phép lạ nào đấy?  Vấn đề này đã làm chảy không biết bao nhiêu mực.

Một điều có thực: đền thờ đã mọc lên trên một thửa đất của gia đình De Angelis – một gia đình thương nhân và chủ tàu giàu có thành Ancône, đã làm giàu nhờ buôn bán giữa phương Đông và phương Tây, thời kỳ có mặt người Franc tại Palestine.  Cho rằng vương quốc La tinh sẽ tồn tại được ở Giêrusalem – điều này xem ra không phải là ý hay – nhà De Angelis đã đầu tư một phần vốn liếng vào bất động sản ở đây; có thể họ đã mua nhiều miếng đất ở Nazarét, trong đó có đất của ông bà Gioakim và Anna, cùng với đó là căn nhà của ông bà – căn nhà mà vào buổi sáng ngày Truyền Tin, thiên sứ Gabriel đã hiện ra với Đức Maria.

Một ngôi nhà từ trời rơi xuống

Người ta phản bác rằng, vào thời Chúa Kitô, những căn nhà địa phương chủ yếu là nhà hang, nghĩa là được đào trong đá, và mặt khác họ còn chỉ ra cho thấy căn nhà được coi là của Đức Maria ở Nazarét.  Tuy nhiên, có thể vào một lúc nào đó, căn nhà ấy đã được cơi nới với một căn phòng ở mặt tiền, có diện tích nhỏ, xây bằng gạch và bao quanh là ba mặt tường; cái nhà hang nguyên thủy trở thành căn phòng cuối nhà.  Chính cái phòng ngoài của căn nhà đã được nhà De Angelis – đang lo ngại vì diễn biến của tình hình và tin chắc vào sự tái chiếm của người Hồi giáo trong nay mai – cẩn thận tháo dỡ và chất lên một trong những tàu buôn của họ đem về cất ở Ý, vào khoảng năm 1290.

Mới đầu, không hiểu vì lý do gì, cái kiện hàng tuy linh thánh nhưng cồng kềnh đó lại cập bến cảng ở Trast ở Croatia – nơi nhà De Angelis có một cửa hàng thương mại.  Đáng lẽ Ngôi Nhà Linh Thánh đó sẽ ở lại đây – ở Trast người ta vẫn còn tôn kính kỷ niệm về lần “dừng chân” đó.  Nhưng các chủ tàu vì linh cảm thấy rồi ra đạo Hồi sẽ tràn ngập vùng Balkans nên quyết định chở ngôi nhà về Ý năm 1294 và dựng lại y như cũ trên miếng đất của mình ở Loreto.  Sự kiện đã xảy ra như thế.  Rất mau chóng, các phép lạ diễn ra hàng loạt, danh tiếng của đền thờ vang xa, còn người hành hương thì ngày càng đông.

Cuối thế kỷ 15, ông Pietro Tolomei de Terramo – “sử gia” đầu tiên của Loreto – trình bày phiên bản của riêng mình về chuyện đó; ông khẳng định ngôi nhà linh thánh này được đưa đến đây trực tiếp từ hành trình trên không qua trung gian của các thiên thần.  Thực ra trong tiếng la tinh, De Angelis có thể dịch như vậy (nhờ thiên thần); như vậy thì không phải gian dối mà chỉ là một trò chơi chữ khôn khéo, kiểu đùa nghịch ngoan đạo của các nhà La tinh học uyên bác.  Tuy nhiên, có một điều có thể tạo sức nặng nào đó cho phiên bản nói về phép lạ này, khiến người ta phải bối rối, đó là ngôi nhà ở Loreto lại không có nền móng: nhà nằm ngay trên mặt đất, như thể các thiên thần đã đặt nó ở đó và bay đi mất mà không quan tâm gì đến nó nữa.

Nơi Ngôi Lời làm người

Tất nhiên, phiên bản quá thơ mộng này khiến giới Tin Lành, sau cuộc Cải Cách, cười nhạo không ít; mà không chỉ có họ, đến ngay trong lòng Giáo Hội, những bậc tu hành rất thông thái cũng từ chối không tin vào điều đó, cho rằng cái nhà được cho là của Đức Maria, nhờ một sự quảng cáo khôn khéo, đã kịp thời thúc đẩy lại nền thương mại địa phương đang gặp khó vì mất Miền Đất Thánh…

Một số người khác, cũng thông thái không kém, lại ủng hộ sự thật về sự chuyển dịch nhiệm lạ, khẳng định rằng chỉ có một sự kiện khác thường nào đó mới có thể giải thích được sự thành công của đền thờ Loreto.  Sự kiện xuất hiện tức thời và siêu việt của ngôi nhà ấy phải chăng là đã được chính các thiên thần đặt xuống ở nơi đó, hay để xây dựng lại ngôi nhà thật ở Nazarét?  Vấn đề này còn lâu mới có sự đồng thuận, nhưng có điều chắc chắn là các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những nét giống nhau thật sự giữa ngôi nhà thánh này và địa điểm Truyền Tin tại Nazarét.

Sự sùng kính Đức Bà Loreto phổ biến tới mức rất nhiều nhà thờ và nhà nguyện được đặt dưới sự cầu bầu của Đức Bà Loreto, nhất là tại Pháp, Áo và vùng Bavière, Đức.

Dù sao đia nữa, ngay giữa lúc bùng nổ lòng sùng kính Đức Mẹ, đền thờ Loreto đã được khoác lên một sự tôn vinh toàn cầu.

Năm 1450, Đức Giáo hoàng Phaolô II đã tặng cho ngôi nhà nhỏ này một “cái hộp đựng” tuyệt đẹp và giao cho kiến trúc sư Bramante việc dựng lên một đại thánh đường hoành tráng ôm trọn căn nhà.  Trước mặt tiền vừa xây xong, Đức Giáo hoàng Sixto V cho khắc dòng chữ: “Đây là nhà của Mẹ Thiên Chúa nơi Ngôi Lời nhập thể làm người.”

Năm 1669, lễ mừng sự di dời của ngôi nhà linh thánh Loreto được ghi vào lịch phụng vụ, ngày 10-12, với phụng vụ giờ kinh riêng.  Mặc dù từ dạo đó đã có nhiều lời kinh khác do các Đức Giáo hoàng thêm vào để tăng phần phong phú, những kinh cầu cùng Đức Mẹ, được soạn theo hình thức hiện hành chính là tác phẩm của Giám mục Giulio Candiotti – giám quản vương cung thánh đường này – đã soạn chúng năm 1578, lấy cảm hứng từ những phiên bản cổ khác nhau, nên được gọi là những kinh cầu Loreto.  Những kinh cầu này được Đức Giáo hoàng Grêgôriô 13 chúc lành và được các tu sĩ dòng Tên đọc để cầu nguyện, đặc biệt là Thánh Phêrô Canisius; thánh nhân xem đây là vũ khí hữu hiệu nhất chống lại cuộc Cải Cách (Tin Lành), và phổ biến những kinh này ra toàn thế giới.  Việc sùng kính Đức Bà Loreto phổ biến đến mức rất nhiều nhà thờ và nhà nguyện được đặt dưới sự cầu bầu của Đức Bà Loreto, nhất là ở Pháp, Áo và xứ Bavière, Đức.

Cuối cùng, do truyền thuyết chuyển dời ngôi nhà trên đôi cánh các thiên thần, Đức Bà Loreto trở thành quan thầy của các phi công và tất cả những ai đi máy bay.  Và cũng hợp lý thôi khi cũng là quan thầy của những công nhân chuyển nhà.

Anne Bernet (Aleteia) – Lê Hưng (TGPSG) chuyển ngữ

Nguồn: https://tgpsaigon.net

From: Langthangchieutim