VIỆN ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT

Viện Đại học Đà Lạt được thành lập ngày 8/08/1957, trên cơ sở chính được nhượng lại ban đầu là Trường Thiếu sinh quân hỗn hợp Âu – Á (École d’Enfants de Troupe de DaLat) của Quân đội Pháp tại Dalat.

Tổ chức

Đứng quản lý Viện Đại học là Hội Đại học Đà Lạt (trong đó có Hội đồng Giám mục Việt Nam), một tổ chức pháp lý để thâu lợi nhuận, kinh tài và phát triển Viện Đại học. Hoạt động của Hội gồm việc thương lượng với chính phủ để tài trợ, vay mượn. Ngoài ra Hội còn sở hữu bất động sản như một số đồn điền cao su và thương xá TAX ở Sài Gòn cũng thuộc Hội.

Tuy là một cơ sở giáo dục thuộc Giáo hội Công giáo, Viện Đại học Đà Lạt không chủ trương gây dựng nền giáo dục theo sát quan điểm của Giáo hội. Cụ thể qua số liệu: Số giảng viên theo đạo ít hơn 25% và sinh viên Công giáo chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 30%.

Các cơ sở chính yếu của Viện tại Dalat

Cơ sở tại các khu đồi chính dùng để xây dựng, phát triển tiện nghi sinh hoạt quản trị, giảng huấn, cư trú của Viện Đại Học Đà Lạt, bao gồm có ba Khu A, B, C:

Khu A: Khu đồi chính, cũng là có sở chính của Viện nằm ở đường Phù Đổng Thiên Vương cuối Đồi Cù phía Tây thành phố Đà Lạt (là cơ sở cũ của Trường Thiếu Sinh Quân do người Pháp để lại); Diện tích chừng 40 ha, cách Trung Tâm Thành phố Đà Lạt 1,5 km. Khuôn viên Đại Học Đà Lạt tại Khu A khởi đầu chỉ có chừng hơn mười tòa nhà, với các đường đi lối lại được trải đá dăm. Các tòa nhà chính được được dùng làm giảng đường và cơ sở hành chính mang các tên là: Minh Thành, Tri Nhất, Thụ Nhân, Thượng Chí, Đôn Hóa… với hàm ý giáo dục dẫn ý từ Tứ thư, Ngũ kinh của Nho học cổ điển.

Khu B: Khu đồi Minh Hòa, nơi lúc đó có cư xá sinh viên Rạng Đông và Chủng viện Minh Hòa thuộc GP Đà Lạt, ở đường Thông Thiên Học.

Khu C: Khu C ở đường Vạn Kiếp dùng làm Cư Xá Nhân Viên và ban Giảng Huấn.

Cả ba khu đang có kế hoạch mở mang theo đúng chức năng được hoạch định. Chính Linh Mục Viện Trưởng, ủy nhiệm cho GS phụ tá hành chánh vai trò chuẩn bị với sự trợ giúp của Tòa Tỉnh Trưởng Đà Lạt, thu xếp một chuyến máy bay trực thăng từ Nha Trang lên, và đã bay ở cao độ 300 m để chuyên viên nhiếp ảnh (nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngà của Photo Hồng Châu, Khu Chợ Hòa Bình Đà Lạt) có thể chụp các không ảnh cả ba khu ABC của Viện Đại Học Đà Lạt.

Chính nhờ những không ảnh này mà các chuyên viên kỹ thuật tùng sự tại Trường Chiến tranh chính trị Đà lạt có thể giúp thiết lập một mô hình (sa bàn) thu nhỏ toàn bộ Khu A của Viện Đại Học Đà Lạt và làm cơ sở hoạch định sau này.

Đào tạo của Viện Đại học tại Dalat

Sau thời gian sửa chữa, xây dựng thêm mới từ cơ sở ban đầu, Viện đã mở niên khóa đào tạo đại học đầu tiên là năm 1958 – 1959. Quy mô phát triển của Viện Đại học Đà Lạt đến trước năm 1975 bao gồm 05 trường đại học (Tương đương là 05 phân khoa, theo khái niệm sau này).

  1. Trường Đại học Sư phạm: là trường được thành lập đầu tiên, bắt đầu đào tạo từ năm học 1958 – 1959. Trường đào tạo cử nhân sư phạm cho những sinh viên hoàn thành chương trình 3 năm của các khoa khác trong nhà trường.
  2. Trường Đại học Khoa học: bắt đầu đào tạo từ năm học 1959 – 1960, đã đào tạo cử nhân các ngành: Toán học, Vật lý, Lý – Hóa, Hóa học, Sinh – Lý – Hóa, Vạn vật và Địa chất học.
  3. Trường Đại học Văn khoabắt đầu đào tạo từ năm học 1959 – 1960, đào tạo cử nhân các ngành: Việt văn, Triết học, Hán văn, Pháp văn, Anh văn, Lịch sử và Địa lý.
  4. Trường Chính trị Kinh doanh(với hai phân khoa: Chính trị Xã hội và Quản trị Kinh doanh): bắt đầu đào tạo từ năm học 1964 – 1965, đào tạo cử nhân các ngành: Bang giao quốc tế, Báo chí học, Kinh tế tài chính và Quản trị Kỹ nghệ.
  5. Trường Đại học Thần học: bắt đầu đào tạo từ năm học 1973 – 1974.

Đào tạo Cao học:

Trường Đại học Văn khoa bắt đầu đào tạo Cao học từ năm học 1966 – 1967 với các ngành: Việt văn, Anh văn, Pháp văn, Hán văn, Triết học, Sử học và Địa lý.

Trường Chính trị Kinh doanh bắt đầu đào tạo Cao học từ năm học 1968 – 1969, ngành Chính trị Kinh doanh.

“Thụ Nhân” là tôn chỉ của Viện Đại học Đà lạt

“Nhất Niên Chi Kế, Mạc Nhi Thụ Cốc, Thập Niên Chi Kế Mạc Nhi Thụ Mộc, Bách Niên Chi Kế Mạc Nhi Thụ Nhân.”

Kế một năm, không gì bằng trồng lúa; kế mười năm, không gì bằng trồng cây; kế trăm năm, không gì bằng trồng người.

Viện Đại học Đà Lạt thu hút sinh viên trên khắp mọi miền đất nước đến học. Dù Viện Đại học Đà Lạt là một cơ sở giáo dục tư nhân của Giáo hội Công giáo, song Viện giảng dạy và đào tạo cho mọi tầng lớp người dân, không phân biệt tôn giáo.

Năm học đông sinh viên nhất là năm học 1973 – 1974 với gần 5.000 sinh viên. Tổng số sinh viên vào học từ khóa đầu đến năm học 1973 – 1974 khoảng 31.500 sinh viên, trong đó có khoảng 1.900 sinh viên đã tốt nghiệp được cấp bằng cử nhân.

Danh sách viện trưởng:

1957- 1961: Tổng giám mục Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục (1897-1984)

1961-1970: Linh mục Simon Nguyễn Văn Lập (1911-2001)

1970-1975: Linh mục Phanxicô Xaviê Lê Văn Lý (1913-1992)

Một số cựu sinh viên Viện Đại học Đà Lạt đã thành danh trong những lĩnh vực khác nhau:

Nguyễn Đức Quang, nhạc sĩ, sáng lập Phong trào Du ca Việt Nam; cựu sinh viên khóa 1, Trường Chính trị Kinh doanh.

Lê Cung Bắc, diễn viên, đạo diễn điện ảnh; cựu sinh viên Trường Chính trị Kinh doanh.

Nguyễn Xuân Hoàng, nhà văn, cựu sinh viên Văn khoa, Đại học Sư phạm.

Phạm Thùy Nhân, nhà biên kịch; cựu sinh viên Văn khoa.

Lê Văn Hiếu, Toàn quyền Tiểu bang Nam Úc, Úc; cựu sinh viên khóa 10 QTKD, Trường Chính trị Kinh doanh.

Lê Mạnh Thát (Thượng tọa Thích Trí Siêu), Giáo sư, tiến sĩ, sử gia, thiền sư; cựu sinh viên ngành triết học.

Lê Thị Diệu Hương nhạc sĩ, cựu sinh viên khóa 10 QTKD, Trường Chính trị Kinh doanh.

Johnathan Hạnh Nguyễn, doanh nhân, cựu sinh viên khóa 6 QTKD, Trường Chính trị Kinh doanh.

Ý nghĩa TÊN của các Giảng đường và Tòa nhà của Viện:

Viện Đại học Đà lạt hình thành phát triển nhằm đào tạo sinh viên có những tri thức đương thời của thế giới nhân loại khắp năm châu bốn biển, song triết lý Phương Đông, bản sắc Việt luôn được gắn liền ẩn ngụ đầy ý nghĩa. Có thể thấy điều đó qua các tên gọi đầy ý nghĩa của các Giảng đường và Tòa nhà của Viện (Theo: tác giả Hoà Giang Đỗ Hữu Nghiêm):

– Thụ Nhân (Giảng Đường): Tên giảng đường là tôn chỉ Viện Đại Học Đà Lạt. (Phần này đã được nói rõ bên trên). Thụ Nhân có nghĩa là trồng người.

– Cư Dị (Giảng đường): là tinh hoa trong tư tưởng “Thượng bất oán thiên, hạ bất vưu nhân. Cố quân tử cư dị dĩ sĩ mệnh. Tiểu nhân hành hiểm dĩ kiêu hãnh.” (ie: Trên không trách trời, dưới không trách người. Do vậy, người quân tử ăn ở dễ dàng, qua đó mà chờ mệnh trời. Kẻ tiểu nhân làm điều nguy hiểm, qua đó mà cầu may).

– Dị An (Giảng đường): dễ ở. Đào Tiềm (Đào Uyên Minh, 372-427) trong “Qui Khứ Lai Từ” có nói về chốn ở ẩn của mình là: “Thảm dung bất nhi Dị an” (ie: Chỗ đó tuy nhỏ hep, nhưng dễ yên hàn hơn)

– Hội Hữu (Giảng đường) gợi lên ý tưởng đi tìm một phương cách học tập hữu hiệu nhất. Nếu chọn bạn mà chơi, thì cũng phải biết chọn bạn mà học. Cách thế học tập có kết quả nhất là hội hữu, một bí quyết thành công của đại học chi đạo: “Tăng Tử viết: Quân tử dĩ văn hội hữu, dĩ hữu phụ nhân.” (Tăng Tử nói: người quân tử lấy văn chương mà họp bạn, lấy bạn mà giúp nhau giữ lòng nhân).

– Thượng Chí (Giảng đường): Nêu cao chí hướng sống theo nhân nghĩa. Sách Mạnh Tử kể lại rằng ông Điếm, con vua Tề hỏi: “Kẻ sĩ làm gì? Mạnh Tử trả lời: “Thương Chí!” (Nâng cao chí hướng lên.

Ông đã giải thích “Thượng Chí” như sau: “Chẳng qua là làm điều nhân nghĩa đó thôi. Giết một người vô tội là bất nhân. Chẳng phải của mình mà dành lấy là phi nghĩa. Kẻ sĩ là ở nơi nào? Ở đức nhân. Kẻ sĩ đi đường nào? Ở đức nhân. Noi theo đức nghĩa, sự nghiệp của đại nhân như vậy là đã đầy đủ rồi vậy.

– Thượng Hiền (Giảng đường): Quan niệm chính trị của người xưa là biết quí trong người hiền đức.

– Tri Nhất (Giảng đường): biểu lộ cảm nghĩ bể học của thánh hiền thì vô tận và con người phải toàn tâm toàn ý mới tới gần vị tri thức độc nhất vô cùng phong phú đó: “Hoặc sinh nhi tri chi; hoặc học nhi tri chi; hoặc khốn nhi tri chi. Cập kỳ tri chi nhất dã.” (Có người hoặc sinh ra đã biết; hoặc học mới biết; hoặc khốn khó mới biết. Khi đạt thì cái biết chỉ có một).

– Minh Thành (Giảng đường, Phòng Thí Nghiệm) bộc lộ một ý chí chân thành trong sáng. Đạt được một nhân cách minh thành, đấy là mục tiêu của giáo dục vậy: “Tự thành minh, vị chi tính. Tự minh thành, vị chi giáo. Thành tắc minh hĩ. Minh tắc thành hĩ.” (Vì có lòng thành thật mà sáng suốt, đó là do tính. Vì sáng suốt mà có lòng thành thật, đó là do giáo dục. Vậy nên ai có lòng thành thật thì sáng suốt. Ai sáng suốt thì có lòng thành thật). Đây là giảng đường đẹp nhất của Viện, trước măt giảng đường có cầu Kiều, có mộ Đạm tiên … đầy lãng mạn, văn thơ.

– Kiêm Ái (Đại học xá sinh viên): Mặc Tử, triết nhân đời Xuân Thu, chủ trưong kiêm ái, tức là yêu thương mọi người như nhau, không phân biệt kẻ thân người sơ, lâu mau.

– Lạc Thiện (Đại học xá): Vui với điều tốt lành.

– Dương Thiện (Đại học xá): Biểu lộ cái tốt ra. Sách Trung Dung có ghi lại lời Khổng Tử tán dương vua Thuấn. Ở đó Khổng Tử ca tụng vua Thuấn là biết che dấu cái xấu của người khác mà biểu dương cái tốt đẹp của người khác như sau: “Ẩn ác nhi dương thiện”.

– Đạt Nhân (Phòng thí nghiệm): Tới đức Nhân, tức là đi tới nhân cách viên mãn.

– Dĩ lễ (Cư xá giáo sư): Sống theo lễ giáo. Luận ngữ có câu: “Đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sĩ thả cách” (Lấy đức dẫn đạo, lấy lễ mà làm cho tề theo, người ta sẽ biết hổ thẹn mà trở về đường ngay nẻo chính vậy).

– Đôn Hóa (Văn phòng). Đôn đốc, phổ cập sinh hoá theo chiếu hướng tốt đẹp. Đạo Trời Đất là con đường vạn vật sinh sống hài hòa mà không hại lẫn nhau. “Tiểu đức xuyên lưu. Đại đức đôn hóa” (Đức nhỏ như sông ngòi chảy khắp, đức lớn như phổ cập sinh hóa).

– Hòa Lạc (Toà Viện trưởng) lấy ý từ câu: “Huynh đệ ký hấp, Hoà Lạc Thả Thầm” (Anh em xum họp, Hòa Vui biết mấy).

– Spellman (Đại giảng đường): được đặt theo tên của Đức Hồng Y Francis Joseph Spellman, (4/5/1889– 2/12/1967) là vị giám mục thứ chín và Tổng GM thứ sáu của Giáo Phận Công Giáo Nữu Ước. Người đã có nhiều công sức cho giáo dân và cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.

– Năng Tĩnh (Nhà nguyện) là con đường trọng đại, để tìm thấy chính mình trong cõi thiêng liêng sau những giờ phút miệt mài học tập mệt mỏi căng thẳng.

……………

Viện Đại học Đà lạt, sau năm 1975 được Bộ Giáo dục quản lý, trường được khôi phục như là một trường đại học tổng hợp có qui mô vùng và hoạt động trở lại từ năm 1977. Tuy nhiên, quy mô cơ sở Trường thay đổi, một số nơi cũ không còn thuộc trường. Tên trường chính thức là Đại học Đà Lạt. Hiện là một trường đa ngành đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực cho vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

———-

CC: “Courbet Camp” trại lính của Pháp là cơ sở đầu tiên, sau đó là “École d’Enfants de Troupe de DaLat”.
From: taberd-6 & NguynNThu

Toàn cảnh khu A của Viện Đạo học Dalat

Khung cảnh cổng Viện … ngày xưa.

Khung cảnh cổng Viện … ngày xưa.

 Xuân Có Về Bên Ấy Hay Không – Nguyễn Thế Giác

Giac Le Nguyen

 Nguyễn Thế Giác

Xuân đang về bên ấy hay không?

Áo mới còn bay trong nắng hồng?

Mất chim én liệng từ ngày đó.

Buồn nhìn con lũ trắng mênh mông.

 

Vẫn nghe Mùa Xuân âm thầm gọi.

Từ ngày đánh mất đất Ông cha.

Buồn quá gục đầu vào bóng tối.

Trong tôi sừng sững cõi Sơn Hà.

 

Gió mang sông núi miền xa đến.

Cho tôi một chút Xuân quê nghèo.

Tôi thắp trong tôi từng ngọn nến.

Nghe hồn Tổ Quốc cũng trôi theo.

 

Trầm ngát hoa thơm lòng phất phới.

Tưởng mình đang sống giữa Quê Hương.

Nhi nhô em bé mừng năm mới.

Chưa rành tiếng Mẹ thấy thêm thương.

 

Mới đó mà nay thành dĩ vãng.

Thời gian theo con nước qua cầu.

Lòng thành một nén chong ngày… tháng…

Đất Việt triền miên nỗi khổ đau.

 

Đoài đoạn Quê Nhà sầu chất ngất.

Dù Xuân có đẹp cũng Xuân người.

Mơ ngày trở lại hôn lên đất.

Lễ Chùa hái lộc tối Ba Mươi.

 

Tôi vẫn yêu cô bé miệt Quê.

Mỗi lần lên Tỉnh ngó ngô nghê.

Nhìn em thấy rõ Mầm Dân Tộc.

Hồn nước Việt Nam hớn hở về.

 

Nhớ thuở trầm hương lạc vào đời.

Mùa Xuân e lệ ngủ trong tôi.

Mẹ ru khúc hát Giao Thừa ấy.

Theo bóng thời gian chảy tuyệt vời.

 

Mặt trời bên đó mọc không em?

Trăng vườn xưa còn mượt vai mềm?

Tóc đau khổ hạnh dài thương tiếc.

Không có bình minh, sợ bóng đêm!

 

Bên đó góc địa cầu chùng xuống.

Giữa lòng Âm Phủ vạc dầu sôi.

Trong lò nham thạch nghe cuồn cuộn.

Nước mắt cơ hồ ngập núi đồi.

 

Bên đó lòng dân con e ấp.

Người với người tai vách mạch rừng.

Cơn lốc xoáy lợi quyền tranh chấp.

Đổ hoàng hôn lạnh buốt trên lưng.

 

Bên đó ngàn sao cũng thẹn thùng

Về đâu mây dạt cánh mông lung?

Xót xa cho kẻ còn trong nước.

Chịu cắn răng và vẫn thủy chung.

 

Bên đó tử thần giương lưỡi hái.

Dân mình cơ khổ biết chừng nào.

Em tôi đánh mất thời con gái.

Mơ về ngày cũ tưởng chiêm bao.

 

Bên đó bốn mùa đong nước mắt.

Thiếu gì cô phụ tóc hoa râm.

Chắt chiu một khối tình son sắc.

Ngày… tháng… nhìn đời cứ lặng câm.

 

Bên đó Mùa Xuân không nở hoa.

Rừng đan nỗi nhớ bướm bay xa.

Trưa vang tiếng quốc hồn Vua Thục.

Muôn dặm còn nghe nỗi thiết tha.

 

Bên đó tinh cầu rơm rớm lệ.

Tình người thiêu rụi buổi ban sơ.

Hỡi ơi! Đất nước mùa dâu bể.

Sông một dòng trôi… dạt bến bờ.

Nguyễn Thế Giác


 

 Về bản án 23 năm tù vì bán con

 Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Hồ Phú Bông

25/01/2024

Vợ chồng chị Nhung bị tuyên tổng cộng 23 năm tù vì bán con

Chuyện thật, trần trụi và đau xót vừa phát hiện được là tòa án của chế độ Hà Nội ở Trà Vinh xử anh Nguyễn Vũ Hoàng Tuấn, 29 tuổi, và chị Thạch Thị Kim Nhung, 22 tuổi 23 năm tù vào tháng 12 năm 2022, vì họ quá nghèo đã bán đứa con 50 ngày tuổi để lấy 18 triệu đồng lo cho 3 đứa lớn. Lương tri còn sót lại trong xã hội đang lên tiếng. Đang phân tích nhiều mặt của vấn đề.

Nhân sự kiện nầy hãy quay lại câu chuyện của “mẹ con bà ở đợ” một gia đình địa chủ mà “thi hào” của đảng CSVN, ông Tố Hữu, viết bài thơ Hai Đứa Bé đã làm “rúng động lòng người” cách đây 86 năm. Năm 1937

Hai đứa bé

Tôi không dám mời anh đi xa lạ

Tìm đau thương trong xã hội điêu tàn

Kể làm sao cho hết cảnh lầm than

Lúc trái ngược đã tràn đầy tất cả!

.

Này đây anh một bức tranh gần gũi:

Nó thô sơ? Có lẽ. Nhưng trung thành

Nó tầm thường? Nhưng chính bởi hồn anh

Chê chán kẻ bị đời vui hắt hủi.

.

Hai đứa bé cùng chung nhà một tuổi

Cùng ngây thơ, khờ dại, như chim con

Bụi đời dơ chưa vẩn đục hồn non

Cùng trinh tiết như hai tờ giấy mới.

.

Ồ lạ chửa! Đứa xinh tròn mũm mĩm

Cười trong chăn và nũng nịu nhìn me.

Đứa ngoài sân, trong cát bẩn bò lê

Ghèn nhầy nhụa, ruồi bu trên môi tím!

.

Đứa chồm chập vồ ôm li sữa trắng

Rồi cau mày: “Nhạt lắm! Em không ăn!”.

Đứa ôm đầu, trước cổng đứng treo chân

Chờ mẹ nó mua về cho củ sắn!

.

Đứa ngây ngất trong phòng xanh mát rượi

Đây ngựa nga, đây lính thổi kèn Tây.

Đứa kia thèm, giương mắt đứng nhìn ngây

Không dám tới, e đòn roi, tiếng chưởi!

.

Vẫn chưa hết những cảnh đời đau khổ

Nhưng kể làm chi nữa, bạn lòng ơi!

Hai đứa kia như sống dưới hai trời

Chỉ khác bởi không cùng chung một tổ:

.

Đứa vui sướng là đứa con nhà chủ

Và đứa buồn, con mụ ở làm thuê.

(1937)

Thời đó xã hội VN là xã hội phong kiến, phú nông, địa chủ nuôi kẻ ăn người ở trong nhà. Chủ nhà sử dụng sức lao động của họ và họ cũng tựa vào đó để sống và vươn lên. Nhiều người thành đạt xuất thân như thế. Vấn đề là cộng sản khai thác hình ảnh đó để kích động căm thù giai cấp. Trí, Phú, Địa, Hào bị “đào tận gốc, trốc tận rễ” thời ông Hồ Chí Minh trong cải cách ruộng đất. Vết thương đó vẫn tươi rói dù đã vào lịch sử Việt.

Hiện tại, 1/4 của thế kỷ 21 đang trôi qua, tức nửa thế kỷ CSVN chiếm miền Nam. Họ “hoàn thành sứ mạng lịch sử”, “tận diệt phong kiến” và “bọn tư bản bóc lột” để tiến lên CNXH mà tương lai là thế giới đại đồng, mọi người “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”.

Nửa thế kỷ “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH” sinh ra giai cấp mới, giai cấp đảng viên và phe nhóm. Đảng viên lãnh đạo từ trung ương xuống địa phương đều tham nhũng. Họ giàu bạc triệu đô rồi lần lượt chuyển tài sản cho con cháu du học và định cư ở phương Tây. Còn đôi vợ chồng trẻ có 4 con thì sống dưới đáy xã hội, bị tuyên án 23 năm tù vì họ bán cháu bé 50 ngày tuổi để có 18 triệu đồng (thời giá là $733 USD) dùng số tiền đó lo cho 3 cháu còn lại (!)

Thử so sánh hoàn cảnh của Hai Đứa Bé năm 1937 với Bốn Đứa Bé năm 2022 ra sao.

– Bà mẹ và đứa bé “ở đợ” cho gia đình địa chủ đương nhiên là có nơi để ở, chỉ thiếu thốn chứ không lo đói vì bà làm việc cho chủ. Cái khác nhau là con của chủ được sung sướng, cả vật chất lẫn tinh thần. Hai câu kết xác nhận: “Đứa vui sướng là đứa con nhà chủ. Và đứa buồn con mụ ở làm thuê”.

“Con mụ ở làm thuê” không bị xa mẹ, không bị đói mà chỉ “buồn”.

– Còn cha mẹ của bốn đứa bé năm 2022 mà cháu lớn nhứt chỉ mới hơn 6 tuổi thì đang ở tù. Bơ vơ phải nương tựa vào ông bà đã già, cũng nghèo mạt rệp, có ai kêu thì làm. Đứa 50 ngày tuổi “được” địa phương “gửi đâu đó”…

Thời phong kiến “con mụ ở làm thuê” (một đứa) “buồn”. Thời XHCN (bốn đứa) đang bơ vơ vì cha mẹ đang ở tù thì liệu chữ nghĩa nào có thể lột tả hết được tâm trạng của các cháu?

Một trong những “công lao” của “thi hào” Tố Hữu là vẽ được bức tranh rất sống động về mẹ con bà ở đợ làm “rúng động lòng người”, gây hận thù lớn để đấu tranh giai cấp. Vâng, với công trạng đó đảng trọng thưởng ông một ngôi biệt thự giá chục triệu đô.

22 năm đầu của thế kỷ 21, 4 cháu bé bơ vơ vì cha mẹ bị đảng giam tù đã gây xúc động toàn xã hội, đó là “công lao” đảng của ông Nguyễn Phú Trọng quyết đưa đất nước tiến lên XHCN?

Còn về vụ xử án, đến lúc này đã hơn một năm sau mà đồng phạm là ông Nguyễn Hữu Dương ở Hà Tĩnh, người mua cháu bé, vẫn chưa bị xét xử về “tội buôn người” vì “đang bị mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”! Câu chữ giải thích thật tối nghĩa như thế thì việc nghi ngờ công an dùng ông Dương gài bẫy để bắt và xử tù cha mẹ 4 cháu bé là không tránh khỏi. Xử tù họ mà không lo sợ họ kêu cứu vì họ quá nghèo và thiếu hiểu biết.

Phải chăng chế độ muốn dùng bản án 23 năm tù đó để “thanh minh” với quốc tế là VN không dung thứ tệ nạn buôn người? Thế nhưng, đâu phải chỉ có một vụ 39 người chết trong xe đông lạnh trên đường vào nước Anh mà các đường dây vẫn đang tiếp diễn. VN có XHCN tốt đẹp thì tại sao, dù biết có thể chết dọc đường, nhiều người vẫn tìm cách ra đi?

Chế độ Hà Nội ở Trà Vinh đã xử một bản án đến mức không thể nào viết ra hết được cảm xúc và uất nghẹn. Chữ nghĩa đành bất lực.

Sau thời phong kiến thế giới tiến đến dân chủ, văn minh. Còn VN thì ma quỷ hiện nguyên hình. Vâng, chỉ có thể nói được vậy thôi (!)

(24/1/2024)

Hồ Phú Bông

 


 

CÓ THỂ BAY LÊN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thần ô uế lay mạnh người ấy, thét lên một tiếng, và xuất khỏi anh ta”.

Một đêm yên tĩnh, có tiếng ngỗng trời bay trong đêm, R. Meredith vội vào nhà, viết xuống những cảm xúc. “Đàn ngỗng trời hoang dã bay về phía mặt trăng và mất hút vào chị Hằng; tuyệt vời! Tội nghiệp các chú ngỗng trời của tôi đang ‘hạnh phúc’ bì bõm trong ao! Chúng nghe tiếng gọi hoang dã của đồng loại như những mũi tên bắn vào tim. Cánh chúng yếu ớt rung lên; bản năng bay thôi thúc chúng, ‘Bay lên đi!’. Tiếng gọi thì thầm vang lên trong bộ ngực lông vũ; nhưng chúng không thể bay lên. Vấn đề đã rõ. Ruộng ngô và đồng cỏ quá hấp dẫn! Giờ đây, ước muốn bay của chúng chỉ làm chúng khó chịu. Những gì chúng an hưởng đang quyến rũ chúng với cái giá khá đắt: mất khả năng bay!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Thiên Chúa muốn giải thoát con người khỏi mọi ác thần bất cứ giá nào để nó ‘có thể bay lên’. Đó là những gì câu chuyện Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay tường thuật. Những chi tiết Marcô kể lại khác nào cảnh trong phim kinh dị. Vậy mà, đó là một hành động yêu thương của Thiên Chúa; qua Chúa Giêsu, quyền năng và tình yêu Ngài thể hiện.

Biến cố Chúa Giêsu trừ quỷ cho thấy một sự thật hiển nhiên là ma quỷ đang hoạt động trong thế giới. Chúng có khả năng điều khiển, thao túng; hoặc ít nhất, cám dỗ con người. Chúng là những thiên thần sa ngã chống lại Thiên Chúa; giờ đây, căm thù loài người, và đang tìm cách tiêu diệt nó. Đây là một sự thật bạn và tôi phải nhận thức sâu sắc; dẫu thế, không lý do gì để chúng ta đánh mất hy vọng, nhượng bộ hoặc sợ hãi. Bởi lẽ, ma quỷ, cuối cùng sẽ phải khuất phục Thiên Chúa; chúng không thể làm gì được nếu Chúa không cho phép. Với sức mạnh của Ngài, bạn và tôi vẫn ‘có thể bay lên’. Tuy nhiên, cần nhận ra rằng, tà lực và ảnh hưởng của ma quỷ không hề nhỏ; và không ai có thể coi thường!

Với người lành thánh, ma quỷ có những chiến lược tinh quái hơn. Một trong những cám dỗ dành cho các ‘Kitô hữu trưởng thành’ là nó khiến họ quen nhờn với các ân huệ của Chúa. Bằng mọi cách, ma quỷ khiến các phúc lành của Chúa như là những gì hiển nhiên khiến chúng ta không còn nhận ra quyền năng và tình yêu quan phòng của Ngài. “Nếu các ngôi sao chỉ xuất hiện mỗi năm một lần, mọi người sẽ thức suốt đêm để ngắm nhìn chúng. Đằng này, chúng thường xuyên xuất hiện hằng đêm nên không ai buồn ngước mắt nhìn chúng nữa. Tương tự như thế với những phúc lành của Chúa!” – Emerson.

Thánh Vịnh đáp ca thật thâm trầm, “Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa! Người phán: Các ngươi chớ cứng lòng!”. Nghĩa là anh em đừng bưng tai bịt mắt trước những gì Thiên Chúa đã làm cho anh em! Bởi “Chính Người là Thiên Chúa ta thờ, còn ta là dân Người lãnh đạo, là đoàn chiên tay Người dẫn dắt!”.

Anh Chị em,

‘Bay lên đi!’. Như những chú ngỗng trời, chúng ta muốn bay lên. Việc bạn và tôi chiến đấu mỗi ngày chống lại cám dỗ của ‘những hạt ngô, cọng cỏ’ là cần thiết; và nhất là, một chỉ luôn hạ mình trước mặt Chúa, liên lỉ tạ ơn Ngài và tuyệt đối tin cậy. Khiêm tốn là chìa khoá cho cuộc chiến này, chìa khoá để vượt qua các cuộc tấn công và cám dỗ của ác thần cách này cách khác. Đặt niềm tin vào Chúa, bạn và tôi sẽ không bao giờ thất vọng. Quyền năng và tình yêu Ngài sẽ làm tất cả. Và chắc chắn, chúng ta vẫn ‘có thể bay lên!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con đùa với lửa khi con thoả hiệp, nhượng bộ cám dỗ; xin hoán cải con, cho con biết luôn cảm tạ và sợ tội. Nhờ đó con ‘có thể bay lên’ trở lại!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen


 

Trại tị nạn của người viết – Refugees’ Tent City – Camp Pendleton Califormia – cuối năm 1975

Trần Văn Giang

 1.Cơ hội “ngàn năm một thuở” tại các trại tị nạn mà dânViệt gần như không thể có được khi sống tại Việt Nam là: sự tự do thay đổi lý lịch và học Anh ngữ miễn phí. Thực ra, đây cũng là hai sinh hoạt bận rộn và nhộn nhip nhất của dân Việt tạm trú tại các trại tị nạn.

Sự thay đổi lý lịch gồm cả việc đổi tên, đổi tuổi và đổi sự không tưởng: địa vị xã hội [social status].

Chị Nguyễn Thị Gáo với một cái tên cúng cơm rất mộc mạc, hiền lành của “hoa đồng cỏ nội.” Từ sau khi chị bị té giếng, hồi còn là thiếu nữ ở Cần Thơ, đầu óc của chị cho đến nay chưa hoàn toàn tỉnh táo, đó có thể là lý do mà chị vẫn còn “độc thân tại chỗ” với cái tuổi ba mươi mí rồi. Nhân cơ hội ngàn năm một thuở này, chị đổi tên cho có vẻ tỉnh thành, thơ mộng, văn nghệ hơn; và đổi tuổi cho trẻ trung hơn là: “Nguyễn Thị Phương Loan” hai mươi mốt tuổi. Mẹ của chị Gáo, cụ bà Nguyễn Thị Thau, thường than phiền với hàng xóm tị nạn là:

– Chèng đét ơi! Tôi đặt cho nó tên là Gáo, tức là gáo dừa để múc nước cho sạch sẽ và bền bỉ. Không biết ăn nhằm cái giống gì” mắc chứng gì” mà nó đổi tên thành “Lon!” [Loan] bằng sắt cho nó mau rỉ sét, mau lủng.

Với sự thay đổi đầy tiện nghi này, hy vọng rằng chị đã gặp được tình quân, có thể là cựu “Trung Tá Y Sĩ” hay cựu “Đại Tá” một cách mau chóng.

Cụ Lý Toét nằm chung lều [mỗi lều trong trại có thể chứa khoảng 4 đến 6 gia đình tị nạn] với tôi đã 65 tuổi, tức là tới tuổi hợp lệ về hưu ăn”tiền già” nếu sống ở đất Mỹ. Vì chúng tôi thuộc đợt thuyền nhân đầu tiên, ú a ú ớ, không có người hướng dẫn, cứ sợ ra khỏi trại Mỹ nó thấy tuổi già không mướn làm việc thì chết đói mất. Cụ tự khai rút lại tuổi, chỉ còn có 55! Tôi đoán là cụ sẽ đấm ngực “lỗi tại tôi; lỗi tại tôi mọi đàng! ” về cái lỗi lầm quá tai hại này! Bởi vì cụ sẽ còn phải “cày” thêm khoảng một chục năm nữa mới về hưu được! Có lẽ cụ đã qui tiên trước khi nhận cái “check”phụ cấp hưu trí đầu tiên của sở xã hội Mỹ. Tội nghiệp chung cho dân tị nạn, nhân bần chí đoản. Chỉ vì sự lo âu về sinh kế trên đất lạ mà đầu óc trở thành đặc kịt như khoai tây, không thể phân tích lợi với hại; hai mắt giống như mắt ngựa kéo xe bị che cả hai bên, không nhìn xa được. Cho nên tự ý khai báo lại, sửa đổi tầm bậy tầm bạ trong cái hoàn cảnh vô luật lệ, vô sổ sách này. 

  1.  Gia đình Bác Toàn [không phải tên thật,] cũng ở chung lều với tôi. Trong lần đầu tiên tiếp chuyện với Bác gái, Bác đã “khiêm nhường”thông báo cho tôi cái địa vị xã hội của gia đình Bác như sau:

– Ông nhà tôi là “cựu Đại Tá” của QLVNCH!  Trước đây gia đình tôi làm chủ 3 tiệm thuốc tây ở Sài gòn. Gia đình tôi còn có cả một bầy vú em, con ở phục vụ. Bây giờ ở đây [trại tị nạn] cái gì cũng phải tự làm lấy.Thật khổ ghê!

Cô con gái lớn của Bác, người có cái nhan sắc giống như nhan sắc của anh hề Tùng Lâm, cứ luôn miệng than vãn là:

– Tiếc quá, lúc “chạy” không đem theo được “con nhỏ làm tóc.” Bây giờ đầu tóc như ổ quạ. Thật rõ chán!

Nhận xét của chị thật đúng! Tóc của chị cả lúc nào nhìn cũng giống như đau ban mới khỏi!

Lúc đó tôi ngây thơ, rất “nể nang” cái “danh giá” của gia đình Bác. Tôi vẫn tiếp tục giữ liên lạc, thăm hỏi gia đình bác nhiều năm sau khi ra khỏi trại tị nạn. Gia đình Bác được bảo trợ [sponsored] và định cư tại San Diego ngay từ ngày đầu của tháng 9 năm 1975. Bác trai sau này làm “Security Guard” và Bác gái chứa cờ bạc xì phé ở nhà để kiếm thêm tí tiền “xâu” cho ngân quỹ gia đình.

Năm 1984 tôi lập gia đình. Tôi đã mời hai bác tham dự đám cưới của tôi. Tại đám cưới này, tôi mới biết sự thật về cái “danh giá” của gia đình Bác. Đồng thời cũng tại đám cưới của tôi, Bác gái mới biết được là quả đất tròn; không có gì che dấu được lâu dưới ánh sáng mặt trời. Bác trai, trước năm1975, là Trung Úy của cục Tiếp Vận và làm dưới quyền của Trung Tá Chín. Trung Tá Chín cũng được ông Bố vợ tôi mời dự đám cưới của tôi vì Trung Tá hồi còn ở chức vụ Thiếu Tá, đã từng là Sĩ Quan cùng đơn vị với Bố vợ của tôi. Hai thầy trò [Trung Tá Chín và “Đại Tá” Toàn] gặp nhau trong hoàn cảnh không có hẹn trước tại đám cưới này. Như tôi được giải thích rõ rằng hơn sau đó, nhà Bác Toàn chẳng có làm chủ tiệm thuốc tây nào cả. Bác gái chỉ buôn lậu thuốc Tây lặtvặt [có thể là buôn bán thuốc Tây giả!] Nhà Bác ở trong một ngõ hẻm ở khuTrương Minh Giảng cũ. Đi bộ từ ngoài đường cái vào đến nhà Bác phải hát bài” Anh Đến Thăm Em Một Chiều Mưa” hết ba lần mới đặt chân tôi cửa nhà Bác. Khi muốn trở ra đường cái từ nhà Bác, tốt nhất là phải nhờ con Bác dẫn ra; nếu không bảo đảm sẽ đi lạc nếu đến thăm nhà Bác lần đầu. Bác gái đã thật can đảm thăng một lúc 4 cấp cho Bác trai, từ “Trung Úy” lên tuốt luốt “ĐạiTá” không phải tại mặt trận, mà tại trại tị nạn chỉ vài ngày sau “30 tháng 4 năm 1975.” 

3.  Trong tại tị nạn, sự thay đổi địa vị xã hội tương tự như vậy không phải là hiếm. Anh binh nhì tự thăng cấp mình lên thành Thượng Sĩ. Anh”Trung Sĩ Y Tá” thành “Trung Tá Y Sĩ.” Anh “Thư Ký Hành Chánh” thành Phó Tổng Giám Đốc ..v.. v.. Người nào cũng làm quan lớn, chủ tiệm, chủ thương nghiệp, chủ chợ, chủ phố cho Mỹ mướn, chủ vựa cá, chủ đồn điền cà phê, chủ đồn điền trà, hoặc chủ ruộng đất cò bay thẳng cánh. Chẳng có ai làm lính trơn, chài lưới, cày ruộng, du đãng đường hẻm, cướp giựt hoặc ăn mày vô sản bần cố nông cả. Thật đúng là loạn! Không biết đâu là vàng, đâu là thau để xét đoán, lựa chọn. Nhiều cô gái ngây thơ nhẹ dạ, sau khi say mê nghe các anh “tài tử” thuyết trình không nghỉ về cái lý lịch “trời ơi dất hỡi,” vô căn cứ, đã vội vã làm đám cưới với các anh có cái lý lịch “vàng son” này ngay tại trong trại tị nạn. Khỏi cần phải bàn thêm, các cô này bây giờ có lẽ không sớm thì muộn, đã thấy hoặc phát giác ra cái thực tế, cái lý lịch “lủng” của các thợ “phỉnh” một cách phũ phàng! Một số lớn các cô này đã trở thành nữ thi sĩ. Hèn gì! thi sĩ Hà Huyền Chi đã có lần nhận xét như sau:

– Sau ngày “30 tháng 4 năm 1975,” văn đàn Việt Nam ở hải ngoại bị lạm phát thi sĩ. 

4. Việc học Anh Ngữ miễn phí trong trại tị nạn mới thật là ngoạn mục.Trong đời đi học của tôi, tôi chưa thấy bao giờ học sinh lại chăm chỉ như vậy. Tôi nhớ hồi còn ở Saigon, Mẹ tôi phải chạy ngược, chạy xuôi vay nợ để cho tôi có tiềnđóng tiền trường học thêm Anh Ngữ tại trường Nguyễn Ngọc Linh vào buổi tối. Thếmà tôi vẫn cố gắng tìm mọi cơ hội để “cúp cua” trốn học. Bây giờ thìtình thế hoàn toàn khác hẳn. Lính TQLC Mỹ đã dựng một số lều thật lớn để dùnglàm lớp dậy Anh Ngữ. Thầy giáo, cô giáo hầu hết là những người Mỹ tình nguyện củacác hội Thiện Nguyện Tình Nguyện Nhân Đạo [gọi tắt là cơ quan”Volag”] dậy học Anh Ngữ cho dân tị nạn. Họ không lãnh lương bổng gì cả. Sau giờ ăn chiều, chỉ chậm chân một tí là không tìm được chỗ ngồi trong các lớp học này. Phải đứng suốt cả mấy tiếng đồng hồ.

Những “sex symbol” của trại là các anh thông dịch viên, những anh trợ giáo [teacher aids] cho các thầy các cô người Mỹ của các lớp học Anh Ngữ này. Các anh trợ giáo nầy đại đa số là nhân viên cũ của sở Mỹ ở ViệtNam. Các anh trợ giáo nói Anh ngữ nghe như gà tây kêu, thế mà sao lúc đó tôi còn dốt đặc như cán mai, không thể phân biệt được thế nào là hay thế nào là dở cả! Mọi người trong trại tị nạn ngưỡng mộ các anh trợ giáo như thần tương. Các em gái xinh đẹp thơ mộng của trại bị các anh này “cua” hết ráo! Dân tị nạn đực rựa độc thân thuộc loại “ngọng” như tôi chỉ có nước ở giá.   

5. Cụ Lý Toét luôn luôn chọn chỗ ngồi cạnh tôi trong lớp học anh ngữ. Lý do là chúng tôi ở chung lều, đã quen thuộc với mhau rồi. Kẹt kẹt, cụ phải cần phải hỏi tôi về Anh ngữ thì cũng không ngượng. Cũng nên biết, cụ hỏi tôi khôngphải vì tôi giỏi giang gì! Nhưng vì tôi cũng đã biết “lõm bõm” Anh ngữ, còn cụ chưa từng đi học Anh ngữ hay tiếp xúc với ngoại quốc bao giờ cả. Thắc mắc đầu tiên của cụ là:

– Này anh ạ, tiếng Mỹ sao quái đản quá vậy” “ai”[I] cũng là tôi, mà “mi” [me] cũng là tôi” Không biết đường nào mà lần. Anh chỉ tôi cách phân biệt “ai” với “mi” sau giờ học nhé.

Sau vài tuần lễ, cụ Lý Toét có vẻ tự tin hơn. Lớp học Anh ngữ đã tiến đến cấp khó hơn; có nghĩa là học trò phải tập nói làm một câu dài đầy đủ chủ từ, động từ và túc từ chứ không phải học từng chữ một như mấy tuần đầu. Thầygiáo cho học sinh trong lớp tuần tự đọc và áp dụng câu “this is a…”

– This is a door.

– This is a chair.

– This is a table.

Rồi đến lượt cụ Lý Toét. Thầy giáo chỉ vào một cái ghế bố [TQLC Mỹ phát cho mỗi dân tị nạn một ghế bố gấp lại được để làm vừa giường ngủ vừa làm ghế ngồi] xếp đứng ở trong góc lớp và ra dấu cho cụ lập câu và đọc. Mọi người đều được dịp cười gần bể bụng vị cụ Lý Toét dịch là:

– This is a “Chair Father! “

Ối giời đất ơi!  Cụ đã ghép chữ đúng theo nghĩa đen.”Ghế” là “chair” và “Bố” là “father.”Tôi phải giải thích cho cụ sau này tốt hơn là nên tránh dịch nghĩa đen như vậy.Mình nên học thuộc lòng cái danh từ Anh Ngữ của từng đồ vật hay người. Ghế bố phải được dịch là “Cot” chứ không phải là “chair father! “ 

6. Anh “Thượng Sĩ” Tiến, người cũng ở cùng lều với tôi,sáng nào anh cũng ngồi trên ghế bố cầm đọc tờ báo Anh ngữ mà anh vẫn nhặt từ thùng rác do lính TQLC Mỹ quẳng để “hù” bà con láng giềng trong lều. Các cụ cao niên cứ tấm tắc khen anh Tiến là “giỏi quá, đã đọc được báo Mỹ rồi! ” Riêng tôi, qua nhiều lần ngồi nói chuyện với anh về vấn đề học Anh ngữ, tôi vẫn có câu hỏi thật lớn là không biết anh Tiến có đủ trình độ Anh ngữ để đọc báo Mỹ không” Nhưng dù sao tôi phải khen ngợi anh ở chỗ anh có cố gắng. Một hôm, sau khi đọc mục rao vặt, tìm việc, anh nói lớn, trống không để cho  mọingười trong lều cùng nghe chứ không nói trực tiếp riêng với người nào cả:

– Ở ngoài [trại tị nạn] Mỹ họ mướn người “coi con nít trênxe buýt” mà cũng trả đến $2.10 một giờ [lương tối thiếu lúc bấy giờ.]

Vì có tính hiếu kỳ nên tôi mới hỏi anh:

– Cái nghề đó tiếng Mỹ gọi là gì đó anh Tiến”

– Đó là nghề “Busboy.” Anh trả lời.

Tôi may mắn đã biết được nghĩa chữ nầy hồi còn đi học Anh văn buổi tối ở Sài Gòn, nên tôi nói:

– Không phải đâu anh. “Busboy” là người dọn bàn trong nhà hàng đó!

Nhưng anh Tiến cứ nằng nặc cãi cho bằng được “Busboy”phải là “coi con nít trên xe buýt.” Cuối cùng, tôi đành phải chào thua anh vì sự quả quyết của anh làm tôi cũng áy náy, ngờ vực không biết mình nhớ đúng hay sai!

Trong lớp học, anh Tiến là người hăng hái đưa tay hỏi thầy cô về mọi vấn đề của cuộc sống bên ngoài trại tị nạn. Anh hỏi cả cách chửi thề bằng tiếng Mỹ như thế nào. [Nên biết anh Tiến hỏi thầy bằng tiếng Việt và câu hỏi được trợ giáo dịch ra Anh Ngữ để cho thầy hoặc cô trả lời.] Riêng câu hỏi về chữ chửi thề bằng Anh ngữ, cô giáo trả lời là anh không cần phải học trong lớp. Khi ra khỏi trại, đời sống sẽ dậy cho anh biết một cách tự nhiên.

Có một lần, cô giáo yêu cầu anh dịch một câu ngắn làm thí dụ cho một đề tài về làm câu của buổi học. Anh Tiến dịch là:

– “Your eye is as beautiful as the stars.  [Mắt em đẹp như những vì sao!]”

Cô giáo khen là câu nói của anh Tiến rất “lãng mạn!”[romantic.] Nhưng rất tiếc là, theo lời cô giáo, người yêu của anh Tiến chỉ có một mắt! !! Câu này phải nên sửa lại với mắt là số nhiều:

– “Your eyes are as beautiful as the stars.”

Sau này, tôi có dịp gặp lại anh Tiến ở San Jose khoảng năm 1992. Anh làm chủ một cây xăng “Shell.” Lúc đó có lẽ anh đã biết phân biệt danh từ số ít và số nhiều mạnh giỏi rồi. 

7.  Một cảnh bên trong Tent City – Camp Pendleton California

Khi làm giấy tờ định cư tại “processing center” trong trại. Tôi gặp một ông Mỹ trắng chỉ dẫn dân Việt tị nạn cách điền vào các mẫu đơn và hoàn tất hồ sơ nộp cho Sở Di Trú Hoa Kỳ. Rất đặc biệt là ông ta nói tiếngViệt trôi chảy. Tiếng Việt với giọng Quảng Nam mới ly kỳ. Tôi rất lấy làm thích thú vì trong khi mình còn ấp a ấp úng chưa nói được chữ tiếng Mỹ nào mà đã  co’ nguoi Mỹ nói tiếng Việt quá giỏi! Tôi tìm cách lân la lại làm quen với ông Mỹ này và được biết ông là Mục Sư Tin Lành đã từng làm việc Tuyên Úy cho quân đội Mỹ tại Việt Nam.

Tôi hỏi Mục Sư:

– Thưa Mục Sư. Mục Sư có biết là đang nói tiếng Việt với giọng “Quảng Nam” không”

Mục Sư trả lời:

– Tôi biết chứ! Ông thầy tôi là người “Đè Nẽng” mà!Tôi còn phân biệt được giọng Bắc, giọng Nam và giọng Huế nữa.

Tôi hỏi thêm:

– Thế Mục Sư đã có gặp những trường hợp khó khăn nào khi giao thiệp với người Việt bằng tiếng Việt chưa”

– Có nhiều lần rồi! Trong một lần đọc bài giảng [sermon] cho giáo dân tin lành người Việt trong trại tị nan. Tôi lấy làm lạ vì thấy họ cười khúc khích với nhau. Sau buổi lễ, hỏi ra thì tôi mới biết là tôi dùng dấu chữ Việt trật lất làm cho ý nghĩa thay đổi hết. Thay vì tôi muốn nói: “Chúa ‘ban’ phước lành cho anh chi em [God bless you all.]” Tôi lại nói là: “Chúa ‘bán’ phước lành cho anh chị em [God sell the blessing to you all!]”  Trongmột lần khác, tôi nói: “con chim nó ‘ngồi’ trên cây [the bird is sitting in the tree.]” Đáng lẽ tôi phải nói: “con chim nó ‘đậu’ trên cây mới đúng.”

Tôi xin bái phục vị Mục Sư Mỹ này làm Sư Phụ. 

8. Năm 1976, tôi và tám chín đứa “tứ cố vô thân” và “thất cơ lỡ vận” giống như hoàn cảnh của tôi, mướn chung nhau một”apartment” 2 phòng ngủ ở San Diego – California và chia nhau tiền thuê mỗi tháng cho đỡ tốn kém vì đứa nào cũng làm lương tối thiểu cả. Mỗi lần,vì một lý do nào đó, “Manager” của khu “apartment” đến thăm, thì đám “tứ cố vô thân” vội vàng chạy trối chết trốn vào trong các tủ [closets] quần áo, bởi vì điều lệ thuê nhà không cho phép người thuê ở quá đông như vậy. Họ biết sẽ đuổi cổ ra khỏi “apartment.” Thật tội nghiệp! Bạn cứ tưởng tượng quang cảnh chúng tôi lúc đang ăn cơm vội vàng bỏ bát đũa chạy vào tủ quần áo để trốn; giống hệt như lúc bạn bước vào bếp buổi tối, bật đèn lên rồi nhìn thấy một đàn gián [cockroaches] chạy bán sống bán chết vào các góc kẹt trong nhà bếp vậy!

Trong đám “tứ cố vô thân” này có anh “roommate”Sĩ Phú. Anh Phú, chẳng những là một ca sĩ tài danh mà còn là một Thiếu Tá phi công trực thăng của KQVN. Anh Phú nói tiếng Anh rất giỏi vì anh Phú đã được đi học lái trực thăng tại Hoa kỳ. Anh Phú chạy qua Mỹ với cùng tình trạng “khố rách áo ôm” như tôi. Anh “độc thân tại chỗ” vì bỏ lại vợ và 5 con ở Việt Nam. Lâu lâu, cuối tuần mấy anh em thường rủ nhau đi nhà hàng Mỹ để nghe nhạc sống cho đỡ buồn. Một hôm, vì ngứa nghề, anh Phú lên nói với anh  chàng Mỹ trưởng ban nhạc là anh muốn được lên hát góp vui một bản nhạc. Không biết anh nói thế nào mà anh trưởng ban nhạc, sau đó, nói qua cái”micro” tuyên bố với tất cả thực khách là:

– Ladies and Gentlemen, this is my honor to introduce to you ourspecial guest singer, Mr.  “Seafood” who will sing for us abeautiful hit song, the “Unchained Melody.”

Từ sau hôm đó, anh Phú có cái “nickname” là “Mr.Seafood.”

Đến khi tôi thấy đã khuya rồi, ngày mai còn phải dậy sớm đi cày.Tôi nói với đám “tứ cố vô thân:”

– Thôi mình đi về đi! Mai còn phải dậy sớm đi làm.

Anh Phú trả lời là:

– Mày chờ tao vào “restroom” để “giặt” [wash]bộ râu xong rồi mới về nghe.

Sau này, khi có dịp gặp lại anh Phú lúc anh còn sống, tôi vẫn thường nhắc lại với “Mr. Seafood” về cái kỷ niệm này. 

9. Hôm nay, cái “nạn” của đất nước đã đánh dấu năm thứ 32. Nhiều người tị nạn trong chúng ta đã đổi quốc tịch để thành “Mỹ gốc Á Châu!” Tên họ được viết đảo ngược [tên gọi đặt trước tên họ.] Nhiều người còn tiến bộ hơn, đổi cả tên lẫn họ thành tên Mỹ. Anh bạn Nguyễn Văn Tèo bây giờ trên giấy tờ là “Tony Newell!” Lúc đầu đọc nghe thấy kỳ kỳ; nhưng riết rồi cũng quen. Tôi còn nhớ lúc anh Tèo mới vào quốc tịch với cái tên mới Tony, bạnMỹ gặp anh trên đường phố, gọi anh: “Tony, Tony…” Vậy mà anh nghe thấy,vẫn cứ bước đi thẳng như không có chuyện gì xẩy ra! Chính ngay anh cũng quên tên mới của anh là “Tony! ” Có một lần anh đi ra tiệm giặt ủi của Mỹ để lấy quần áo giặt ủi về. Bà chủ tiệm người Mỹ nhìn cái biên nhận với cái tên mới “Tony Newell” của anh, rồi bà ta nhìn anh nói là:

– You do not look like “Tony Newell” to me!

 Tony Newell là một vận động viên phóng phi tiêu chuyên nghiệp người Anh 

10. Hơn ba mươi năm trời trôi đã qua mà cứ tưởng như mới ngày hôm qua. Đầu óc tôi cứ lơ đãng để ở một nơi nào đó ở Phi Luật Tận. Tôi chợt bừng tỉnhvới cái thực tế của hiện tại khi thằng con trai bẩy tuổi của tôi gọi to:

– Bố! bố! “Giặt” cái đầu cho con. Xà bông đang chẩy vào mắt con “nóng” quá!

Tôi nghe mà không khỏi vừa cười thầm vừa lo âu! Cười thầm vì tiếngViệt đã bị Mỹ hóa nghe khôi hài, ngớ ngẩn. Lo âu vì không biết tương lai tiếng Việt trên đất Mỹ sẽ đi về đâu” Chính bản thân tôi tiếng Mỹ đã không thấy giỏi hơn chút nào mà tiếng Việt đã quên bớt đi rất nhiều. Lo âu cho thế hệ con, thế hệ cháu về sau này” Không biết tiếng Việt có trở thành “endangeredspecies” giống như voi và tê giác ở Phi Châu đang bị giết để lấy ngà làm đồ trang sức và sừng làm thuốc bắc hay không”

Trở về thăm quê nhà, nói chuyện với bạn bè cũ, láng giềng cũ thì sự lo âu đó càng to lớn hơn. Mình là người ngoại quốc sống trên đất Mỹ đã đành. Bây giờ, mình cũng lại là người ngoại quốc đối với ngay quê hương cha sanh mẹ đẻ của mình. Đó là cái giá mà mình phải trả cho sự tự do. Đành phải chấp nhận “gặp thời thế, thế thời phải thế.” Người Việt ở quê nhà bây giờ đang nói tiếng Việt với một bộ chữ Việt khác hẳn với chữ Việt như hồi tôi còn sống ở quê nhà. Nhiều khi tôi phải nhờ người nhà giải nghĩa mới hiểu!

“Còn trời còn đất còn non nước

Có lẽ ta đâu mãi thế này!”

(Nguyễn Công Trứ)

– Quân Tử Cố Cùng)

“Xin trời đất thương cho nước Việt và dân Việt!” Tôi vẫn thường cầu nguyện.

Trần Văn Giang


 

Thánh An-giê-la Mê-ri-si, Trinh nữ-Cha Vương

Tạ ơn Chúa đã ban cho bạn một ngày mới để mang chữ “NHÂN” vào những mảnh đời đang đau khổ. Hôm nay 27/1 Giáo Hội mừng kính thánh An-giê-la Mê-ri-si, Trinh nữ. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 27/01/2024

Thánh nhân sinh ngày 21 tháng 3 năm 1474  tại Desenzano, xứ Lombardie, Ý Đại Lợi. An-giê-la  mồ côi cha mẹ và ở với các anh và cậu. Vào lúc 56 tuổi, An-giê-la Mê-ri-si (Angela Merici) từ chối lời yêu cầu của Ðức Giáo Hoàng. Ngài biết Ðức Clementê VII muốn ban cho ngài một vinh dự lớn lao và một cơ hội vĩ đại để phục vụ khi đức giáo hoàng yêu cầu ngài nhận trách nhiệm lãnh đạo một dòng nữ tu chuyên về điều dưỡng. Nhưng An-giê-la  biết công việc điều dưỡng không phải là điều Thiên Chúa muốn mời gọi ngài thi hành.

Ngài mới từ Ðất Thánh trở về. Khi trên đường đến đó ngài bị bệnh nặng và bị mù. Tuy nhiên, ngài nhất quyết tiếp tục cuộc hành hương và thăm viếng các thánh địa với tất cả lòng sùng kính hơn là muốn chiêm ngưỡng bằng cặp mắt. Trên đường về ngài được chữa lành và được sáng mắt. Ðiều ấy chắc chắn đã nhắc nhở ngài rằng không thể nhắm mắt trước nhu cầu của những người chung quanh, và đừng đóng cửa lòng trước lời mời của Thiên Chúa.

Ở khắp nơi trong thành phố, đâu đâu ngài cũng thấy các em gái nghèo nàn, không có học vấn và cũng không có tương lai. Trong thế kỷ mười lăm và mười sáu của Thánh Angela, vấn đề giáo dục phụ nữ là dành cho người giầu và cho các nữ tu. An-giê-la là người có học thức. Cha mẹ ngài chết sớm khi ngài mới mười tuổi và sau đó ngài phải sống với người chú. Ngài thực sự bối rối khi thấy chị của ngài từ trần mà không được lãnh nhận các bí tích. Trong một thị kiến ngài được đảm bảo là chị của ngài được an toàn trong bàn tay Thiên Chúa — và cũng qua thị kiến ấy ngài tận hiến cuộc đời cho Thiên Chúa.

Khi chú ngài từ trần, trở về nhà ngài nhận thấy các em gái trong vùng không có một chút học vấn. Nhưng ai sẽ dạy các em? Thời ấy thật khác biệt. Phụ nữ không được phép làm nghề giáo và các cô chưa chồng thì không được tự ý đi ra ngoài — dù để phục vụ người khác. Nữ tu là các phụ nữ có kiến thức nhưng họ không được phép bước chân ra khỏi tu viện. Thời đó không có dòng nữ tu chuyên về giáo dục như ngày nay.

Ðể giúp đỡ các em, An-giê-la nghĩ ra một phương cách mới. Ngài quy tụ một nhóm các cô thuộc dòng Ba Phanxicô, đi ra đường phố và tụ tập các em gái lại để dạy học cho các em. Các cô không có tiền cũng như không có quyền thế, họ chỉ có tấm lòng tận tụy cho việc giáo dục và cho Ðức Kitô. Sống trong chính nhà của mình, họ gặp gỡ để cầu nguyện và dạy học. Họ thành công đến nỗi An-giê-la được yêu cầu đưa sáng kiến ấy để thực hiện ở các thành phố khác, và đã làm nhiều người kinh ngạc, kể cả đức giáo hoàng.

Mặc dù ngài từ chối đức giáo hoàng, nhưng có lẽ thỉnh cầu của đức giáo hoàng đã gợi ý cho ngài thấy rằng cần phải chính thức hóa tổ chức của ngài. Mặc dù chưa bao giờ là một nữ tu, Hội Thánh Ursula của An-giê-la  là nhóm nữ tu đầu tiên hoạt động ngoài khuôn khổ nhà dòng và là dòng nữ đầu tiên chuyên lo giáo dục.

Thánh An-giê-la Mê-ri-si từ trần ngày 27 tháng 1 năm 1540 tại Brescia, khi ngài khoảng bảy mươi tuổi. Mộ phần trở nên một nơi hành hương. Thánh tích còn tại thánh đường Thánh Afra, Brescia Ý Đại Lợi. Ngay sau khi qua đời, nữ tu Angela đã được dân chúng thành phố ca tụng như một đấng thánh. Họ đến kính viếng thi hài của chị thánh đông đảo đến độ phải hoãn lễ an táng đến 30 ngày sau.

Thánh nữ được tôn phong Chân Phước năm 1768 do Đức Giáo Hoàng Clement XIII và đến ngày 27 tháng 5 năm 1807 Đức Giáo Hoàng Pius VII đã ghi tên thánh nữ vào sổ bộ các thánh của Giáo Hội.

(Nguồn: Dòng Tên)

Mời bạn suy niệm 2 câu nói của ngài hôm nay nhé:

1/ Chúng ta phải làm phúc bố thí. Đức bác ái chinh phục và lôi kéo các linh hồn đến với nhân đức.

2/ Hãy nhớ rằng ma quỷ không ngủ đâu nhưng luôn tìm đủ mọi cách để huỷ hại chúng ta.

3/ Hãy làm ngay bây giờ những gì mà bạn ao ước làm khi giờ lâm tử của bạn đến.

Câu nào đánh động bạn nhất? Theo mình thì câu 3

Lạy Thiên Chúa nhân từ, Chúa đã cho thánh An-giê-la trinh nữ nên gương bác ái và khôn ngoan; vì lời thánh nữ cầu thay nguyện giúp, xin cho chúng con cũng noi theo Người mà trung thành tuân giữ lời Chúa dậy, và tuyên xưng đức tin trong cuộc sống hằng ngày

(Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh nữ An-giê-la Mê-ri-si).

 From: Do Dzung

Lời Nguyện Cầu (Sáng tác: Sr. M. Tigon) – Tuyết Mai

Trần Huỳnh Duy Thức thông báo: “Ngày mai” anh tuyệt thực!

Ba’o Tieng Dan

Trần Huỳnh Duy Thức

27-1-2024

Anh Thức điện thoại về 26/01/2024: Nói “Ngày mai” anh tuyệt thực!

NHỜ CỘNG ĐỒNG CẦU NGUYỆN TIẾP SỨC CHO ANH THỨC!

Chiều hôm qua anh Thức gọi điện thoại về. Gia đình xin đăng nội dung cuộc gọi vào nửa phút cuối trước vì cần tiếp sức cho anh.

Anh nói với người chị qua điện thoại “Mấy hôm nay rất lạnh và đói, em đói run luôn nha. Đặt đồ căn-tin là dứt khoát không bán nên là ngày mai là em tuyệt thực nha chị. Nhưng mà nói với ở nhà đừng lo có Bề Trên che chở cho em. Có nghe nói gì thì cũng Mùng 3 Tết mới ra nha. Dứt khoát không phải lo gì hết nhưng mà em sẽ tuyệt thực em phản đối Trại này không có tôn trọng pháp luật, xem thường pháp luật lắm. Rồi. Mọi chuyện thì cứ bình tĩnh hết sức bình tĩnh cho em nha”. Kết thúc cuộc gọi anh bye bye cả nhà.

Dù hôm qua chưa tuyệt thực nhưng anh Thức cũng đã bị “đói run” từ nhiều ngày trước vì căn-tin không bán đồ ăn cho anh. Dù mấy tháng trước có bị thiếu đói nhiều ngày nhưng anh còn lay lắt thêm 10, 11 ngày mua thức ăn căn-tin bán với số tiền là 1,7 triệu đồng. Nhưng tháng này số ngày chịu đói của anh tăng lên gấp bội, căn-tin không bán dù anh có tiền. Vậy là anh phải chịu thêm 10, 11 ngày bị bỏ đói so với mấy tháng trước!

Vậy là tháng này Anh chỉ sống được trong phạm vi 10 ngày nhờ vào nguồn thức ăn gia đình gửi theo tiêu chuẩn cho anh thôi. Anh Thức không còn chọn lựa nào khác nên phải tuyệt thực để phản đối việc bỏ đói tù nhân theo cách này!

Gần 8 năm tù ở trại giam số 6 Nghệ An, anh Thức chưa lần nào than lạnh dù vào những lúc trời lạnh nhất, rét đậm rét hại nhất. Có phải vì sự chịu đựng của anh giảm đi, sức khỏe yếu đi hay vì tình trạng thiếu thốn mọi thứ ngày càng khắc nghiệt mà anh phải nói lên trong tình trạng vô cùng căng thẳng, bức xúc, và sức khỏe không được bảo vệ an toàn, máy đo đường huyết, đèn pin nhỏ, quạt nhỏ, kim chỉ, bật lửa, đồ cạo râu đều bị thu giữ từ tháng 7/2013 đến nay (1*).

Suốt nửa năm nay anh sống trong tình trạng tối tăm khi Trại giam thường xuyên cúp điện, nóng bức trong cái nắng rực lửa của 4 bức tường giam, ăn mì gói với nước lạnh vì không có nước sôi, thiếu thốn mọi vật dụng cá nhân dù nhỏ nhất!

Như từ lúc gia đình thăm gặp hôm 3/10/2023 (2*) anh đã nói: Tình hình đã rất căng thẳng rồi, nếu như vậy nữa sẽ có khả năng anh tuyệt thực đến chí mạng để phản đối. Và để tiếp tục kêu cứu Chủ Tịch nước như lần anh gọi điện thoại về nhà hôm nay 30/10/23 (3*) nhờ “Đăng lên hỏi ông Võ Văn Thưởng rằng nếu người ta dám bảo vệ lẽ phải, dũng cảm và tỉnh táo chống lại những điều xấu cái ác mà bị cắt đường sống thì phải làm gì? Kêu luật sư phải làm thế nào đi, chứ như vầy thì sống không nổi!”.

Hôm nay 27/01/2024 anh Thức bắt đầu tuyệt thực để phản đối Trại giam tăng gia sự khắc nghiệt, tăng thêm nhiều ngày bỏ đói anh, căn tin không bán đồ ăn cho anh. Hiện giờ anh chỉ nhờ vào nguồn thức ăn gia đình gửi theo tiêu chuẩn hàng tháng để anh có thể tạm bợ mươi ngày.

Gia đình mong được nhiều hưởng ứng tiếp sức cho anh Thức bằng nhiều cách của mọi người, bằng cách cầu nguyện, bằng những cái like, những chia sẻ hay những comment chúc sức khỏe… để hỗ trợ cho anh Thức vượt qua thời gian tuyệt thực đòi hỏi sự sống bằng nguồn thức ăn căn-tin trong trại giam bán cho anh đầy đủ mỗi ngày.

Mong nhận được nhiều năng lượng hỗ trợ từ mọi người tiếp sức cho anh Thức. Gia đình rất trân trọng và biết ơn!


 

 S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Nguyễn Công Khế

 Ba’o Tieng Dan

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

26/01/2024

Bữa rồi, nhà thơ Inra Sara tâm sự: “Non 30 năm sống đất Sài Gòn, tôi gặp vô số người được cho là thành công, thuộc nhiều ngành nghề, đủ lứa tuổi, thành phần. Lạ, nhìn sâu vào mắt họ, cứ ẩn hiện sự bất an, lo âu.”

“Bất an” có lẽ không chỉ là tâm trạng của người Sài Gòn mà dường như là tâm cảm chung của toàn dân Việt – không phân biệt chủng tộc, giới tính hay giai cấp nào ráo trọi – nhất là những kẻ sắp từ giã cõi trần.

Di Cảo của Chế Lan Viên và di bút (Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất) của Nguyễn Khải,  theo nhận xét của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn, chỉ là những tác phẩm “cốt để xếp hàng cả hai cửa. Cửa cũ, các ông chẳng bao giờ từ. Còn nếu tình hình hình khác đi, có sự đánh giá khác đi, các ông đã có sẵn cục gạch của mình ở bên cửa mới (bạn đọc có sống ở Hà Nội thời bao cấp hẳn nhớ tâm trạng mỗi lần đi xếp hàng và không sao quên được những cục gạch mà có lần nào đó mình đã sử dụng).”

Tôi vốn không “sính” chuyện thơ văn, cũng không sinh cùng thời (và sống cùng nơi) với nhị vị nghệ sỹ nói trên nên chả dám vội vã đồng tình với cái nhìn hơi khắt khe thượng dẫn. Là một thường dân, tôi chỉ nghĩ giản dị rằng việc “xếp hàng cả hai cửa” là một cách ứng xử bình thường – nếu chưa muốn nói là khôn ngoan – của bất cứ ai.

Gặp thời thế, thế thời phải thế!

Mà cái thế nước hiện nay, theo như nguyên văn cách nói của G.S Tương Lai, lại “chông chênh” lắm! Cỡ Tổng Bí Thư trong một xứ sở đảng trị mà có lúc vẫn phải bám liền hai ghế (cho nó chắc ăn) thì nói chi tới nhà văn với nhà thơ, đám “người ăn kẻ ở trong nhà” của Đảng.

Ngay đến quí vị đại biểu quốc hội cũng thế, cũng vẫn phải chạy cái quốc tịch thứ hai mà! Nghĩ cho cùng thì chả có ai đáng trách. Sống trong hoàn cảnh xã hội bấp bênh thì trừ đám dân đen (không tóc) mới đành chịu trận, chứ giới quan chức có quyền hành và tiền bạc thì ai cũng phải lo sao cho bản thân và gia đình được an ổn mới thôi.

Thảng hoặc, mới có trường hợp quá lố – đáng bị phàn nàn – theo như ghi nhận của họa sỹ Đỗ Duy Ngọc : “Một anh từng là tổng biên tập tờ báo lớn, sau khi thu vén được hàng triệu đô la bèn đưa hết vợ con qua Mỹ, sắm nhà to, xe đẹp còn anh thì qua lại hai nước, lâu lâu viết bài biểu diễn lòng yêu nước thương dân, trăn trở với tiền đồ tổ quốc, khóc than cho dân nghèo, kinh tế chậm lớn, đảng lao đao…”

Thế Nguyễn Công Khế đã “biểu diễn lòng yêu nước” ra sao mà bị than phiền như vậy?

Ngày 19 tháng 11 năm 2014, trong một cuộc phỏng vấn do Mặc Lâm (RFA) thực hiện, nhân vật này chê trách lãnh đạo những tờ báo hiện nay “sợ bị ‘mất ghế’ cho nên không dám dũng cảm để nói lên sự thật” mà “chỉ sa đà vào những chuyện vặt vãnh.”

Trong suốt hai mươi năm làm Tổng Biên Tập báo Thanh Niên chả hiểu có bao giờ ông Khế đủ “dũng cảm” để nói lên cái sự thật trần trụi (hèn với giặc, ác với dân)  của chế độ đảng trị (và toàn trị) hiện hành không?

Có bao giờ ông “dám” nêu lên vấn đề đa nguyên, và phân quyền như là những phương thức khả thi để đưa đất nước ra khỏi cái vũng bùn nhầy nhụa hiện tại chưa? An toàn hơn là những vấn đề liên quan đến thảm họa môi sinh, bất công xã hội, và nạn cướp đất vẫn diễn ra hằng ngày (ở khắp mọi nơi) ông cũng lặng thinh thôi.

Ông chỉ sôi nổi trong những cuộc thi hoa hậu, hay những trận túc cầu giữa lúc cả nạn ngoại xâm lẫn nội xâm đang đe dọa sự tồn vong của đất nước thì trách chi thiên hạ “sa đà vào những chuyện vặt vãnh” ?

Ngày 27 tháng 10 năm 2019, sau thông tin 39 người Việt bị chết ngạt trong một chiếc xe vận tải ở Anh, ông Nguyễn Công Khế liền bàn về “con đường thoát nghèo” và đòi hỏi “mọi thứ phải là trên cơ sở của Nhà nước pháp quyền”!

Ông cũng đặt vấn đề: “Một xã hội mà cán bộ không sống bằng đồng lương, thì phải sống bằng đồng ‘lậu’ thôi. Rất nhiều cán bộ hiện nay rất sợ câu hỏi này: Sao đồng lương anh như thế, mà anh có nhà như thế này, xe như thế kia, con anh đi du học.”

Có lẽ đó là những câu hỏi mà Nguyễn Công Khế nên đặt ra cho chính mình, về khối tài sản của ông ở trong cũng như ngoài nước, về chuyến xuất ngoại êm ru của cả gia đình mình trong khi thiên hạ thì phải đi chui mà tiền mất mạng vong.

Trong trường hợp ông Nguyễn Công Khế không cảm thấy thoải mái lắm trong việc tự vấn thì cũng chả sao, nỏ phải lăn tăn chi cả. Cái thời bao cấp đã qua. Đảng và Nhà Nước “đã dũng cảm và quyết tâm” đổi mới. Xứ sở đã thoát cảnh xếp hàng, đặt hai cục gạch, để mua nhu yếu phẩm từ lâu rồi.

Bây giờ thì có thể mua nhà ở tận nước ngoài luôn :

“Trên con đường dài dẫn ra biển Huntington Beach, Quận Cam, có những khu nhà rất đẹp mà chủ hầu hết là người Việt. Họ là những người rất trẻ, hoặc đó là những gia đình bình thường nhưng sống khép kín. Bạn tôi, một người đã sống ở nơi này, gần bằng thời gian của thế hệ người Việt đầu tiên đặt chân đến Mỹ sau tháng 4/1975, nói rằng đó là những khu định cư mới của ‘Việt cộng’.

Những ngôi nhà đó được mua rất nhanh trong khoảng vài năm gần đây – mỗi căn từ 450.000 cho đến hơn 1 triệu USD, cho thấy có một nguồn ngoại tệ khổng lồ được chuyển ra khỏi nước Việt Nam, để xây dựng một ước mơ thầm kín và khác biệt bên ngoài tổ quốc của mình.” (Tuấn Khanh. “Người Việt cố Giàu Lên Để Làm Gì?” – RFA 2015/10/02).

Tôi không biết “ước mơ thầm kín” của Nguyễn Công Khế ra sao (nếu có) chỉ cầu mong ông nên sống “khép kín” như bao người khác thôi, đừng láu táu hay bao biện quá. Loại người đứng chàng hảng – chân trong, chân ngoài – trên hai cục gạch như ông mà thỉnh thoảng vẫn học đòi (“phù thế giáo một vài câu thanh  nghị”) để tỏ lòng “yêu nước thương dân” thì e có hơi lố bịch, nếu chưa muốn nói là trơ tráo!

 


 

 KHI CHÚA GIÊSU NGỦ TRONG CƠN BÃO CUỘC ĐỜI CỦA CHÚNG TA

 Stephen Beale – Bro. Giuse Trung Tran, ‎C.Ss.R 

Trong đêm tối của đức tin, Thánh Têrêsa thành Lisieux xác tín Chúa Giêsu vẫn luôn ở với mình, nhưng cũng đau khổ khi Ngài dường như ngủ say và ẩn kín.

Thánh nhân đã miêu tả cảm giác này:

“Linh hồn của tôi giống như một chiếc thuyền mong manh bập bềnh mà không có người lái trong một vùng biển bão tố.  Tôi biết rằng Chúa Giêsu ở đó, ngủ trong thuyền của tôi, nhưng trời quá tối để tôi thấy Ngài.  Tất cả là bóng tối.  Giống như Chúa Giêsu trong cơn đau đớn của Ngài trong Vườn, tôi cảm thấy mình bị bỏ rơi và không có sự giúp đỡ nào cho tôi trên trái đất hay trên thiên đàng.  Chúa đã bỏ rơi tôi” (Câu chuyện về linh hồn, 61).

Kinh nghiệm của Thánh Têrêsa giống với kinh nghiệm của các môn đệ trong Tin mừng Máccô chương 4 và Matthêu chương 8.

Đây là bản văn kinh thánh trong Macco chương 4:

“Hôm ấy, khi chiều đến, Đức Giê-su nói với các môn đệ : “Chúng ta sang bờ bên kia đi !”  Bỏ đám đông ở lại, các ông chở Người đi, vì Người đang ở sẵn trên thuyền ; có những thuyền khác cùng theo Người.  Và một trận cuồng phong nổi lên, sóng ập vào thuyền, đến nỗi thuyền đầy nước.  Trong khi đó, Đức Giêsu đang ở đàng lái, dựa đầu vào chiếc gối mà ngủ.  Các môn đệ đánh thức Người dậy và nói: “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?”  Người thức dậy, ngăm đe gió, và truyền cho biển: “Im đi! Câm đi!”  Gió liền tắt, và biển lặng như tờ.  Rồi Người bảo các ông: “Sao nhát thế?  Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin ư?”  Các ông hoảng sợ và nói với nhau: “Vậy người này là ai, mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh?”

“Thưa Thầy, Thầy không quan tâm rằng chúng ta đang chết đến nơi rồi?”  Bao lâu trong những cơn bão của cuộc đời chúng ta có cảm giác như Chúa Giêsu đang ngủ như vậy?  Nếu ngay cả một vị thánh vĩ đại như Thánh Têrêsa cũng có thể cảm thấy loại bỏ rơi này, chúng ta không nên mặc cảm tội lỗi nếu chúng ta trải nghiệm điều gì đó tương tự.

Trong câu chuyện phúc âm, mọi thứ trở nên rất thảm khốc trước sự can thiệp của Chúa Giêsu.  Sóng đang đâm vào thuyền và lấp đầy nước, có nguy cơ bị chìm sớm.  Mặc dù vậy, Chúa Giêsu vẫn ngủ.  Các môn đệ trước tiên phải kêu lên với Ngài để được giúp đỡ.  Như Thánh vịnh 18:7 “Trong lúc đau khổ, tôi kêu lên: Lạy Chúa!  Tôi kêu lên với Thiên Chúa của tôi.”  Chúa nghe thấy sự đau khổ của họ.  Tiếng kêu khóc của họ, chứ không phải cơn bão, đã đánh thức Chúa Giêsu dậy.

Có ba điều cần lưu ý về cách Chúa Giêsu trả lời.

Đầu tiên, Ngài có quyền chỉ huy hoàn cảnh.  Chúa không làm cho con thuyền vững chắc hơn, hoặc giảm bớt cơn bão.  Chúa loại bỏ hoàn toàn vấn đề, mang đến một sự bình yên tuyệt vời.

Thứ hai, Ngài biến đổi tình hình qua lời nói của Ngài.  Sức mạnh của Ngôi Lời nhập thể nằm trong lời nói.  Chúa không cần phải cố gắng.  Chẳng hạn, Chúa không nhảy vào vùng sóng đánh dữ dội và kéo thuyền vào bờ.

Thứ ba, tác động biến đổi mà Ngài tạo ra mang tính toàn bộ – từ hoàn cảnh bên ngoài cho đến trái tim của các môn đệ.  Chúa Giêsu muốn các môn đệ có niềm tin rằng sự hiện diện của Ngài là đủ.  Ngài muốn họ có niềm tin rằng Ngài đã nhận thức được tình hình, ngay cả khi Ngài dường như đang ngủ.

Giấc ngủ của Chúa có thể được coi là một bài kiểm tra đức tin của họ.  Nó cũng là một lời xác nhận răng: chỉ sự hiện diện của Chúa là đã đủ an toàn rồi.

Giấc ngủ vĩ đại nhất mà Chúa Giêsu trải qua là giấc ngủ của tử thần.  Cuối cùng, trong trình thuật của phúc âm về giấc ngủ này, chúng ta rút ra sự an ủi lớn nhất.  Như bài giảng cổ xưa rất hay của Thứ Bảy Tuần Thánh:

Chuyện gì đang xảy ra vậy?  Hôm nay có một sự im lặng tuyệt vời trên trái đất, một sự im lặng vĩ đại, một sự im lặng tuyệt vời vì Đức vua đang ngủ; Trái đất vẫn còn bị trong sự kinh hãi, bởi vì Chúa đã ngủ trong xác thịt và nâng dậy những người đang ngủ từ thời xa xưa.  Chúa đã chết trong xác thịt, và âm phủ đã run rẩy.

Bài giảng gợi ý một lời giải thích cho giấc ngủ này: Chúa Giêsu bước vào giấc ngủ của sự chết để Ngài có thể ở cùng với những người đang ngủ say, những người cha thánh của Cựu Ước đang chờ đợi Ngài trong tình trạng lấp lửng.  Giống như Chúa đã lấy xác phàm để ở giữa những người sống, nên Ngài cũng mặc lấy giấc của sự chết mà Ngài cũng có thể ở cùng sự chết như vậy.

Chúa Giêsu không đánh thức chúng ta ra khỏi giấc ngủ tinh thần bằng cách lay chuyển chúng ta từ bên ngoài.  Ngài đi vào chính Ngài để đánh thức chúng ta từ bên trong.  Như bài giảng có nói:

Ta ra lệnh cho ngươi: Thức tỉnh đi hỡi kẻ còn đang ngủ, Ta đã không tạo ra ngươi để bị giam giữ như một tù nhân trong âm ngục.  Trỗi dậy từ cõi chết; Ta là sự sống của kẻ chết.  Trỗi dậy, hỡi con người, công trình của tay Ta làm nên, Trỗi dậy, vì người mang hình ảnh của Ta.  Hãy trỗi dậy, nào chúng ta hãy đi, vì Ta ở trong ngươi và ngươi ở trong Ta, cùng nhau chúng ta nên một mà không thể bị chia cắt.

Bóng tối của Thứ Bảy Tuần Thánh dẫn đến sự tươi sáng của Chúa nhật Phục Sinh.  Sự phục sinh thực sự có khởi đầu không phải trong ngôi mộ, nhưng trong khoảnh khắc linh hồn Chúa Giêsu bắt đầu bay lên từ sâu thẳm địa ngục.  Ngay cả khi Chúa Giêsu ngủ say, lúc đó, Ngài thực sự rất chủ động, trong địa ngục Ngài tuyên bố chiến thắng của thập tự giá, chà đạp ma quỷ và giải cứu những người cha thánh trong tình trạng Limbo.

Nếu Chúa Giêsu đôi khi dường như ngủ trong cuộc đời chúng ta, thì Ngài có thể sống động theo những cách mà chúng ta không thể nhìn thấy.  Chúa đang làm việc trong nhiều trường hợp.  Những kiểu trợ giúp mà chúng ta thường cần có công việc phải được thực hiện ở những nơi mà chúng ta không thể nhìn thấy như trái tim của những người thân bị ghẻ lạnh, tinh thần của một đứa trẻ bị giam cầm trong cơn nghiện, tâm trí và trái tim của các ông chủ, chủ nợ hoặc người thu tiền hóa đơn của chúng ta và trong tất cả những người có sức ảnh hưởng đến an toàn kinh tế của chúng ta.

Nếu sự giúp đỡ mà chúng ta cần nhất là trong việc chữa lành một căn bệnh về thể xác hoặc bệnh tâm thần thì chúng ta chắc chắn sẽ không thể nhìn thấy Chúa Giêsu đang làm việc.

Điều này tạo ra khả năng để chúng ta được ngạc nhiên.  Bởi vì mỗi Thứ Bảy Tuần Thánh, chúng ta có thể mong đợi được ‘niềm vui ngạc nhiên” của sự Phục Sinh.

Stephen Beale – Bro. Giuse Trung Tran, ‎C.Ss.R – chuyển ngữ
Nguồn: https://catholicexchange.com/when-jesus-sleeps-through-our-storms

 From: Langthangchieutim


 

GIỮA LÒNG THUYỀN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Các con vẫn chưa có lòng tin sao?”.

“The Storm on the Sea of Galilee”, “Bão Trên Biển Galilê”, là một kiệt tác sơn dầu vẽ về “biển” duy nhất gần 400 tuổi của Rembrandt! Tiếc thay, từ 1990, nó bị đánh cắp; đến nay, vẫn biệt vô âm tín. Danh hoạ mô tả khoảnh khắc nhóm Mười Hai cầu cứu Chúa Giêsu khi thuyền của họ sắp chìm. Một số cật lực chống chọi; số khác co rúm vì sợ hãi hoặc lùi về mạn thuyền; và thật thú vị, Rembrandt, môn đệ 13, xuất hiện giữa bức tranh. Tác giả như muốn nói, “Từ giữa lòng thuyền, Ngài nhận ra tôi!”; và bạn, “Bạn sẽ ở đâu trong bão?”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Bạn sẽ ở đâu trong bão?”. Lời Chúa hôm nay gợi lên những cơn bão cuộc đời. Nó có thể là cơn bão đang hất tung con thuyền Giáo Hội, đang vùi dập con tàu thế giới, hoặc đang muốn nhấn chìm con thuyền nan đời bạn. Trong cơn hỗn mang, bạn ở đâu? Ngài thấy bạn? Bạn có lắng đọng đủ để nghe Ngài trách yêu, “Các con vẫn chưa có lòng tin sao?”.

Con thuyền là một hình ảnh thiết thực của Giáo Hội, nó phải vượt bão và đôi khi, dường như sắp chìm. Điều cứu lấy Giáo Hội không phải là kỹ năng và lòng dũng cảm của thuỷ thủ đoàn, mà là niềm tin! Niềm tin cho phép Giáo Hội rẽ sóng, tiến lên, cả trong bóng tối. Nó cho thấy sự chắc chắn về sự hiện diện của Đấng ở ‘giữa lòng thuyền’; tay Ngài sẽ nắm lấy để kéo mỗi người chúng ta khỏi mọi nguy biến; và chúng ta cảm thấy an tâm khi có Ngài kề bên bất chấp những hạn chế và yếu nhược của chính mình. Chúng ta được an toàn khi mỗi người biết hướng về Giêsu, kêu cầu Ngài, vì Ngài là Đấng Cứu Độ.

Trong câu chuyện này, các môn đệ chỉ tập trung vào một điều, họ sắp chết! Nhưng Giêsu có đó, Ngài chờ được đánh thức. Để một khi chỗi dậy, Ngài sẽ trả lại sự yên tĩnh hoàn hảo! Điều quan trọng là chúng ta hướng mắt về Giêsu, Đấng đem lại yên tĩnh tuyệt đối cho linh hồn. Để được vậy, bạn phải tin rằng, “Từ ‘giữa lòng thuyền’ Ngài nhận ra tôi!”.

Trong cuộc sống, chúng ta rất dễ chán nản, dễ chỉ tập trung vào sự hỗn loạn. Một bất ổn dân sự, một vấn đề gia đình… và ngay cả một tội lỗi nghiêm trọng. Rất nhiều lý do để chúng ta rơi vào chiếc bẫy của sợ hãi, thất vọng và trầm cảm. Nhưng có khi nào bạn tự hỏi, “Lúc nào tôi gần Chúa nhất?”; câu trả lời, “Khi khổ đau”. Như vậy, từ trải nghiệm bão tố của các môn đệ, Chúa Giêsu mang đến một thông điệp rõ ràng và thuyết phục rằng: Ngài, hiện thân của bình an, đang ở ‘giữa lòng thuyền’. Chỉ cần tin! Đavít là một ví dụ. Sau khi Nathan nói cho biết tội của Đavít, ông đau buồn khóc lóc – bài đọc một. “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng!”. Chúa đã thứ tha! Đó cũng là tâm tình của Thánh Vịnh đáp ca, một kiệt tác của Đavít, một người biết tìm về ‘một Ai đó’ ‘giữa lòng thuyền’.

Anh Chị em,

“Bạn sẽ ở đâu trong bão?”. Trong con thuyền Giáo Hội và thuyền nan của cuộc đời mỗi người, Giêsu luôn có đó. Không bao giờ Ngài rời chúng ta, Ngài là Emmanuel; căn tính của Ngài là Cứu Độ, tên Ngài là Cứu Chúa. Đừng sợ đánh thức Ngài! Cần ghi nhớ, Ngài có sự chiến thắng cuối cùng; Ngài cho phép bão tố xảy đến để chúng ta biết nương tựa Ngài hơn. Khi cuộc sống không còn đáng sống, bế tắc, tuyệt vọng… bạn cần đào sâu đức tin vào Đấng ở ‘giữa lòng thuyền’, Đấng sẽ viết chương cuối cùng cuộc đời của mỗi người.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con ‘văng khỏi thuyền’ khi bão ập xuống đời con; vì con tin rằng, ‘một Ai đó’ luôn có mặt ‘giữa lòng thuyền’ đời con, Ngài nhận ra con!”, Amen.

 

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen


 

Sống tới 100 tuổi và cách sống ở những “vùng xanh”

 

Bài này tóm tắt những điều mà bà con sống trong vùng xanh sống. Vùng xanh là những vùng có nhiều người sống tới 100 tuổi.

Thật ra thì những điều này cũng không có gì là lạ lùng và không phải ai cũng áp dụng được, như nhiều người không uống rượu vang được. Quý anh chị  đọc chơi cho vui.

Biến việc vận động thành thói quen

Những người ở vùng xanh không nhất thiết phải tham gia vào các phòng tập thể dục, các gyms. Bằng cách kết hợp các hoạt động thể chất vào cuộc sống, họ trở nên năng động mỗi ngày mà không cần cố gắng. Một số cách họ làm điều này bao gồm:

Bằng tay: Những người lớn tuổi ở vùng xanh không dựa vào nhiều tiện ích để hoàn thành công việc. Họ quen với việc chặt gỗ, nhào bánh mì, làm đồ thủ công và thực hiện sở thích của mình bằng tay. Bên cạnh việc giữ cho cơ bắp và trí não của họ hoạt động, việc nhìn thấy thành quả lao động của họ có thể giúp họ có được cảm giác thỏa mãn.

Đi bộ: Thay vì sử dụng xe hơi làm phương tiện di chuyển, các thành viên vùng xanh đi bộ khắp nơi. Điều này giúp họ tập thể dục thường xuyên.

Khu vườn: LÀm vườn giúp người lớn tuổi hạ thấp trọng tâm của thân thể và rèn luyện khả năng giữ thăng bằng. Cũng giống như làm mọi việc bằng tay, việc làm vườn có thể vừa bổ ích vừa giúp giảm căng thẳng.

Quan điểm

Một quan điểm tích cực là tốt nhất.

Theo nghiên cứu của Buettner, những người sống trong vùng xanh có xu hướng duy trì trạng thái bình tĩnh và có mức độ căng thẳng thấp hơn. Một số cách họ nuôi dưỡng sự bình yên trong tâm hồn bao gồm:

Thư giãn thường xuyên: Mặc dù những người ở vùng xanh làm việc chăm chỉ và đã qua độ tuổi nghỉ hưu thông thường nhưng họ vẫn có thời gian để thư giãn mỗi ngày. Thay vì giảm căng thẳng bằng cách ngồi trên ghế dài và đọc truyện, họ chuyển sang gặp gỡ, khiêu vũ và thậm chí uống rượu cùng nhau.

Tìm kiếm đức tin: Bất kể giáo phái của họ là gì, người dân ở vùng xanh có xu hướng thuộc về các cộng đồng dựa trên đức tin và dành thời gian cho cộng đồng tôn giáo tương ứng của họ.

Phát triển ý thức về mục đích: Cho dù đó là ikigai (lẽ sống)  hay plan de vida (dự định cho cuộc sống ), các vùng xanh đều có khái niệm khi họ thức dậy mỗi sáng với ý tưởng về những gì họ sẽ làm, sẽ mang đến cho đời sống cái gì.

Ăn uống khôn ngoan

Chúng ta ăn gì và ăn bao nhiêu có thể ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và tuổi thọ của chúng ta. Nhưng câu trả lời không nhất thiết phải là những chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt, buồn tẻ và thiếu đi những thức ăn ngon vật lạ.

Dựa trên thực vật: Hầu hết các vùng xanh đều ăn chế độ ăn chủ yếu dựa trên thực vật, với tới 95% chế độ ăn của họ đến từ nhiều loại rau, đậu và hạt giàu vitamin và protein. Các món ăn có thể đa dạng từ món khai vị truyền thống đến “ba chị em” Nicoyan gồm :  đậu, bí và bắp.

Rượu vang: Ngoại trừ những người Cơ Đốc Phục Lâm ở Loma Linda, tất cả các vùng xanh đều uống một hoặc hai ly rượu mỗi ngày khi giao tiếp với cộng đồng của họ. Hãy lấy ví dụ những người Ikarians ở Hy Lạp, những người thường xuyên kết hợp rượu vang tự làm của họ với các buổi họp mặt cộng đồng.

Điều độ: Người dân Okinawa có câu nói, hara hachi bu, nhắc nhở họ ngừng ăn khi dạ dày đã no 80%. Họ cũng thực hành một số thói quen tại bàn ăn tối, bao gồm ăn chậm để cơ thể phản ứng với các tín hiệu và tập trung vào thức ăn để thưởng thức hương vị.

Kết nối

Kết nối với người khác thường xuyên nhất có thể

Bất kể tuổi tác, mọi người trong vùng xanh đều kết nối với các thành viên trong cộng đồng của họ. Đó là điểm chung quan trọng nhất giữa tất cả các vùng màu xanh và có thể là bí quyết có ảnh hưởng lớn nhất đến tuổi thọ.

Gia đình là trên hết: Họ đặt gia đình lên hàng đầu, đặc biệt là khi nói đến người lớn tuổi. Giữ các thành viên lớn tuổi trong gia đình ở bên cạnh hoặc ở trong nhà bảo đảm cho họ vẫn được kết nối qua nhiều thế hệ. Điều này có tác động thực sự đến tuổi thọ của họ, như đã thấy ở vùng Sardinia không có viện dưỡng lão.

Quan hệ đôi bên: Những người ở vùng xanh đầu tư vào mối quan hệ lãng mạn của họ và tạo nên những mối quan hệ đối tác bền chặt và yêu thương, bao gồm cả hôn nhân.

Nhóm Bạn Hợp Rơ: Ở Okinawa, một số người già thành lập moais, hay nhóm bạn hàng xóm, gặp nhau thường xuyên và hỗ trợ lẫn nhau khi cần thiết.