S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Ăn quỵt

 Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Theo Wikipedia Hà Nội, tác phẩm Tuổi Hai Mươi Yêu Dấu của Nguyễn Huy Thiệp “vốn hoàn thành vào tháng 1/2003, đã được dịch ra tiếng Pháp và xuất bản từ năm 2005, cũng như được phát hành ở nhiều nước như Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ, Canada. Vì ngôn ngữ nhạy cảm, cuốn tiểu thuyết phải chờ đợi 15 năm trước khi phát hành trong nước vào năm 2018.”

Mà “nhậy cảm” thiệt, và “nhậy cảm” lắm. Tác giả viết như vậy đây: “Thời của tôi đang sống là thời chó má. Tin tôi đi, một trăm phần trăm là như thế đấy!”

Trời! Sao giữa Thời Đại Hồ Chí Minh Quang Vinh (cái thời mà mọi người đều rón rén khi ăn, cũng như khi nói, để tránh vạ miệng) mà ông nhà văn lại nói năng linh tinh thế nhỉ?

What’s wrong?

Có điều gì sai trái hoặc bất ổn lắm chăng?

Câu trả lời có thể tìm được qua trong một tác phẩm khác (“Lịch Sử Thời Đại Tường Thuật Bởi Một Người Lưu Vong”) của một tác giả khác, nhà thơ Phan Nhiên Hạo:

Đây là thời chủ nhân ăn mày ăn nhặt
trong khi đầy tớ nhân dân ăn ngập mặt, ngập mũi
ăn hớt, ăn bẩn, ăn tục, ăn lận, ăn chặn, ăn cướp, ăn gian,
ăn tham, ăn lường, ăn bịp, ăn suông, ăn ké, ăn chia, ăn sống
ăn lạnh, ăn nóng, ăn theo, ăn chực, ăn vạ, ăn lẻ,
ăn tất tần tật chỉ trừ ăn năn
ăn không sợ trả miếng.

Thì ra là thế! Thế thì “chó má” thật (và chó má lắm lận) và không chỉ có thế thôi đâu. Ngoài cái thói “ăn cướp, ăn gian, ăn tham, ăn lường, ăn bịp” ra, bọn “đầy tớ nhân dân” còn có cái tật là ưa … “ăn mày dĩ vãng” nữa kìa. Thấy họ hào hứng, bận bịu chuẩn bị lễ nghi cho tiệc tùng mà ái ngại:

Dĩ vãng, tất nhiên, không nuôi được hiện tại và hiện tại thì không còn gì để vơ vét thêm được nữa nên đám “đầy tớ nhân dân” bèn “ăn chận tương lai,” mặc cho bao nhiêu lời can ngăn hay cảnh báo:

Đây là một hình thức ăn chịu. Ăn trước, trả sau. Mai mốt trả. Còn ăn vào tương lai của con cháu mình thì không phải là ăn chịu nữa mà là ăn quỵt.

Báo Thanh Niên vừa mới la làng: “Từ thành phố tới nông thôn, từ quốc lộ tới cao tốc, từ vùng cao cho tới biển đảo… mưa lũ, ngập lụt đang đe dọa hầu khắp các địa phương trên cả nước. Ám ảnh hễ mưa là ngập.”

Ngập là phải. Hệ thống cống rãnh do Pháp thiết lập từ hơn trăm năm qua có mấy khi được nhìn nhõ tới. Ngân sách dành cho việc bảo trì, tu bổ – nếu có – đều bị nuốt sạch rồi. Cứ mưa lớn mà phố phường ở Việt Nam không biến thành sông thì mới là chuyện lạ!

Điều may mắn là nạn ngập lụt nơi đô thị ở xứ sở này (thường) chỉ là chuyện nhỏ. Nó chả mấy khi gây ra thiệt hại nhân mạng hay kéo dài lâu. Chỉ sau vài giờ, hoặc chậm lắm thì vài ngày, là nước rút. Rồi đâu lại vào đó thôi. Ăn xổi ở thì mà. Không có chi để phải rầm rỹ cả.

Hệ thống đường sắt, đường hầm cũng thế, cũng được người Pháp thiết lập từ đầu thế kỷ trước (và được khai thác tận tình cho mãi đến nay) nhưng chả bao giờ được bảo trì hay tu bổ gì sất cả nên đã rệu rã là chuyện tất nhiên. Blogger Trân Văn (VOA) mới ái ngại cho hay:

“Chiều 12/4/2024 hầm Bãi Gió bị sụp khoảng 20 mét ở đoạn cách đầu hầm phía Bắc khoảng 85 mét. Sáng 13/4/2024, hầm tiếp tục bị sụp và tối cùng ngày lại sụp nữa… Đó là lý do việc di chuyển bằng xe lửa từ Bắc vào Nam và ngược lại bị gián đoạn. Tổng Công ty ĐSVN phải dùng các phương tiện vận tải đường bộ đưa hàng chục ngàn hành khách qua phía bên kia hầm Bãi Gió để họ có thể tiếp tục hành trình bằng xe lửa …”

Về sự kiện này, nhà báo Nguyễn Thông đã có lời bàn (nghe) không được lạc quan cho lắm:

Một nước dài thoòng như nước ta, cả 3.000 cây số, thì đường sắt liên vận là quan trọng nhất, kinh tế nhất. Chính vì thế người Pháp đã bắt tay làm đường sắt ngay sau khi đã tạm ổn định cuộc chinh phục. Những đoạn đường, tuyến đường cuối cùng họ làm cũng đã có tuổi cả thế kỷ. Đường sắt là thứ công trình kỳ vĩ số 1 mà người Pháp đã xây dựng và để lại cho xứ An Nam. Nói chính xác, không có “thực dân Pháp” thì không có đường sắt Việt Nam.

 Vậy nhưng, sau khi đánh đuổi được đế quốc to Pháp, người cộng sản hầu như chỉ biết tiếp thu sử dụng sản phẩm có sẵn ấy, khai thác triệt để, chứ không làm thay đổi, phát triển được bao nhiêu. Nói ngay cái khổ/cỡ đường, cho tới giờ, sau cả trăm năm, vẫn hẹp như cũ. Các toa tàu vẫn phần lớn kiểu cũ, vệ sinh xả thải ngay xuống nền đường ray. Tốc độ thậm chí còn chậm hơn tàu thời Pháp. Mua được cái vé xe lửa để xuyên Việt, để về quê dịp lễ tết còn khổ hơn bị trời hành, v.v..

 Công trình giao thông vĩ đại như thế, cái hầm qua đèo Cả vừa bị sụp chẳng hạn, rồi hầm Hải Vân, hầm đèo Ngang… cả thế kỷ bị khai thác tối đa mà không nghĩ tới bồi bổ gia cố nó, thì nó phải sụp thôi. Tất nhiên họ sẽ đổ cho trời, tại địa chất này nọ.

Đường sắt lộ thiên bị sụp, bị ngập lụt, dù hư hỏng cách mấy cũng dễ khắc phục trong thời gian ngắn, nhưng ở hầm hẹp khó bề xoay trở thì đừng nghĩ cứ có quyết tâm và tinh thần cách mạng tiến công là được. Hầm Bãi Gió (đèo Cả) là ví dụ.

 Mấy ngày rồi, cũng chưa biết khi nào mới xong, xong rồi có dám chạy lại không. Mà khi nó đã rệu rã sau trăm năm bị lợi dụng mà không bồi bổ thì chẳng riêng đoạn sụp ấy đâu, nhiều đoạn khác đang chờ tới lượt. Rồi những hầm khác nữa cũng đang xếp hàng chờ an nghỉ sau trăm năm phục vụ. Bóc lột chúng mãi, tất nhiên tới lúc chúng phải đình công bằng cách… sụp.

Nhóm “dân kỹ thuật công trình giao thông vận tải và Bách Khoa” tiên liệu với không ít bi quan:

 Nếu sụp cái hầm này thì các hầm khác có khả năng cũng ở tình trạng tồi tệ tương tự. Cho nên giải pháp tối ưu nhất là xóa toàn bộ các hầm cũ từ thời Pháp, khoan mới xây mới toàn bộ các hầm, hoặc bỏ hầm làm đường đi bên ngoài nếu có thể.

Công cuộc này xem như làm mới. xây mới lại toàn bộ hệ thống đường sắt Việt Nam theo khổ đường quốc tế 1,435 m gì đó. Còn tuyến đường sắt cũ chỉ khai thác loanh quanh các khu vực không có hầm. Công cuộc này nghe đâu tốn kém mấy trăm tỷ đô la mà đâu có thu tiền ngay được như các hầm đường bộ cho xe hơi.

Chả việc gì mà phải lo âu như thế. Không có tiền thì đi vay. Nợ công cứ để cho con cháu nó lo. Vả lại, có xây mới có cất; có làm mới có ăn chứ. Ăn quỵt mà!


 

BẬC THẦY … ĐI BỘ – (Fb Đỗ Trí Hùng)

Oanh Vy Lý

(Fb Đỗ Trí Hùng)

1 – Những ngày gần đây cõi mạng ồn ào về hình ảnh một nhà sư đi bộ, nhà sư này có pháp danh Thích Minh Tuệ. Vài người trẻ tuổi phản biện kiểu : Đi bộ suốt ngày thế để chứng tỏ điều gì? Tự làm khổ mình để thành Phật chăng? Nếu ai cũng đi khất thực thì ai sẽ lao động, đất nước này sẽ đi về đâu?

Cái kiểu đặt câu hỏi này, dù rất tôn trọng lớp trẻ học nhiều hiểu rộng, tôi vẫn phải thốt lên, sao mà ngu lấy ngu để, ngu không để đâu cho hết ngu vậy trời?

Hỏi thế chắc khi xem Messi đá bóng, lại thốt lên, ai cũng thần tượng rồi học theo Messi đi đá bóng hết, rồi lấy ai lao động làm ra của cải vật chất, đất nước sẽ đi về đâu hả ông giời?

Rồi khi xem phin lại than, ai cũng thần tượng học theo trấn thành làm phin, thì lấy ai lao động sản xuất làm ra của cải, đất nước sẽ đi về đâu hả giời?

Rồi thậm chí đến nhà toán học hay nhạc công thiên tài cũng bị tra hỏi, nếu ai cũng thần tượng rồi học theo ông ngô bảo châu, ông đặng thái sơn… cứ suốt ngày ngồi làm toán với chơi đàn, thì lấy ai lao động sản xuất, đất nước này sẽ đi về đâu hả giời…

2 – Thế giới cổ kim có nhiều nhân vật vĩ đại, nhưng có ba ông được lịch sử tư tưởng đánh giá ngang hàng, chính là Socrat, Chúa Jesus và đức Phật. Ba vị này sẽ lưu danh đến muôn đời như ba bậc thầy thức tỉnh loài người khỏi cõi u mê tăm tối, dù đến nay, hàng ngàn năm đã trôi qua, nhân loại chưa hẳn đã thức tỉnh như mong muốn của họ thì ít nhất nhờ họ mà nhân loại giã từ kiếp cầm thú.

Và, cả ba vị này giống nhau y chang ở chỗ : Họ không có nhà cửa, không cần nhà cửa, họ không có chức vụ và không cần chức vụ, thậm chí họ chẳng cần cả món ăn theo nghĩa hốc đẫy tễ lấy ngon miệng như quí vị bây giờ, và … họ cứ lang thang đi bộ khắp nơi, đi suôt ngày…

Nên nhớ, trong ba vị, thì một vị từ bỏ cung vàng điện ngọc, từ bỏ ngôi báu. Một vị được mệnh danh “ người thông minh nhất hy lạp” đã từng được mời làm quan, được ban ghế thủ lĩnh hội đồng tư vấn cho chính quyền, và vị nữa thì các tín đồ xin được quyên góp xây điện để ngài ngự và giảng đạo

Nhưng, các vị ấy đã chọn … lang thang đi bộ, ăn uống tạp nham, màn trời chiếu đất, để làm gì vậy?

Và, loài sâu bọ luôn có câu trả lời thay cho sư tử, bằng cái bụng của loài sâu bọ, thế mới buồn cười.

3 – Nói về sự đi bộ bền bỉ thì Socrat là người đi ít nhất, ông chỉ loanh quanh trong thành Athen, và tháng đôi lần vẫn rẽ về nhà để nghe vợ … chửi.

Người đi thứ nhì chính là Chúa Giesu, thời kỳ đầu ngài chỉ giảng bài quanh vùng Galilea – phía bắc Israel ngay nay – và vài chuyến đến Yerushalayim tức Jezusalem và không xa hơn…

Đứng đầu trong ba vị chính là đức Phật. Ngài quả nhiên có sức lực vô biên, cả sự nghiệp hoằng pháp của ngài, ngài đã băng qua đồng bằng sông Hằng bao la, qua vương quốc Kosala – thuộc Nepan hiện tại – đến tận xứ Ma kiệt đà – tức vùng bắc Ấn độ – xuyên qua rất nhiều vương quốc nhỏ giữa các địa danh trên. Thật là kỳ tích vĩ đại…

Câu hỏi là, nếu cả ba vị thầy này đi bộ chỉ để giảng pháp, giảng triết học, giảng lẽ đời, thì, như phần 1 tôi đã nói, họ chỉ cần ngồi xuống lập tức đệ tử sẽ bu đến, và nơi họ tọa sẽ thành học viện, thiền viện, hàn lâm viện…

Vậy vì sao họ cứ đi bộ lang thang như kẻ vô gia cư, với những điều kiện sinh hoạt nhếch nhác như ăn mày?

4 – Giờ, các bạn hình dung, nếu có một thằng trọc mặc áo cà sa, tay đeo đồng hồ Rolex thụy sĩ, bước lên xe hơi Mẹc sờ đùi, tọa trong quả tháp bọc vàng…

Và rao giảng cho chúng sinh về buông bỏ, về việc coi của cải là phù du, coi vật chất là vô thường, coi cám dỗ là căn nguyên của nghiệp chướng …. thì các bạn có tin được không?

Chắc bạn phải ngu lắm mới tin!

Giống như quan to vừa giảng đạo đức vừa ăn cắp, vừa nói về công chính vừa … chịch phò, vừa hô khẩu hiệu hy sinh cho lý tưởng, vừa vơ vét của cải của bách tích găm hết vào váy vợ…

5 – Ba nhà tư tưởng bậc thầy của nhân loại họ dấn thân vào con đường tìm lý tưởng, tìm đạo, hướng tới tự do tinh thần và sự cao cả và họ dứt khoát khước từ mọi ràng buộc trần thế. Họ thực hiện đời sống của họ hoàn toàn trùng khít với tư tưởng của họ.

Họ khước từ mọi ràng buộc vật chất để đạt được sự độc lập tối đa và sự thiếu vắng hoàn toàn mọi ràng buộc đã khiến họ đạt được sự tự do vô hạn của mình…

Họ mới là bậc thầy, là bậc chí thánh của loài người.

Và, ông Thích Minh Tuệ, rất có thể ông và những người cùng dòng tu “khổ hạnh” chỉ đang muốn dấn thân trải nghiệm cuộc đời của sư tổ. Những kẻ trần tục và hạn hẹp thấy ông ấy như đang tự đày đọa, ai mà biết, trong tâm ông ấy hoàn toàn là sự thanh thản, sự tự do tuyệt đối.

P/S:

Cần phải bố thí cho thằng thích chăn bò ở chùa gì vài lời, thằng này thì ai cũng biết – trừ lũ mê muội – là hạng sư chăn bò, vơ vét tiền cúng dường và tọa trong chùa to, thấy thiên hạ tự dưng ca ngơi ông sư khổ hạnh kia thì nó sợ mất khách, nó đăng đàn thóa mạ ông ấy, đúng là đồ vô liêm sỉ. Thích chăn bò đừng lo lắng, vẫn còn nhiều bò cho ngài chăn!


 

Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế. (Mt 28:19-20)- Cha Vương

Tạ ơn Chúa đã ban cho con người Mẹ. Mẹ là tất cả những gì con có, mẹ là tất cả cuộc cuộc đời con. Happy Mother’s Day đến các người Mẹ. Xin một lời cầu nguyện cho những người Mẹ đã qua đời nhé.

Cha Vương

CN: 12/05/2024

TIN MỪNG: Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28:19-20)

SUY NIỆM: Việc Chúa Giêsu lên trời dạy cho các môn đệ một bài học mới: bây giờ họ sẽ không tìm thấy Chúa Giêsu trên “trời” nữa. Chúa Giêsu mà họ biết trước khi đóng đinh đã rời bỏ họ. Các môn đệ phải quay trở lại Jerusalem. Ở đó, qua Thần khí của Chúa Cha và Chúa Con tuônđổ trên họ, họ bắt đầu hiểu và lớn lên trong sự hiểu biết. Nếu họ muốn tìm Chúa Giêsu, họ sẽ tìm thấy Người trong cộng đồng Kitô giáo, trong những người họ giao thiệp mỗi ngày trong cuộc sống của họ. Mỗi khi họ đón nhận tình yêu từ một người anh em, đó là sự hiện diện của Chúa Giêsu. Mỗi khi họ chia sẻ tình yêu của họ với một người nào đó, họ đang biểu lộ sự hiện diện của Chúa Giêsu trong chính họ. Họ- và chúng ta – sẽ trở thành Chúa Giêsu trong thế giới này. Hay nói đơn giản là Chúa đang ở trong chúng ta và là Đấng Emmanuel—Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Thánh nữ Têrêsa Avila nói: “Chúa Kitô hiện nay chẳng còn thân xác nào trên trần gian này ngoài thân xác của bạn, không có bàn tay nào ngoài bàn tay của bạn, không có bàn chân nào ngoài bàn chân của bạn; đôi mắt của bạn là đôi mắt Chúa Kitô cảm thương đoái nhìn thế giới, đôi chân của bạn là đôi chân Chúa Kitô rảo bước khắp nơi để thi ân giáng phúc, và đôi tay của bạn là đôi tay Chúa Kitô giờ đây chúc lành cho chúng tôi.” (Thánh Teresa Avila) Điều này thực sự là một thách thức lớn và là một trách nhiệm khá nặng nề phải không bạn? Khi mọi người gặp bạn, họ có thấy Chúa Giêsu không? Khi mọi người gặp thấy bạn, họ có ao ước muốn biết Chúa Giêsu không? Khi mọi người gặp bạn, họ có muốn gia nhập vào đạo của bạn không, thông phần vào cuộc sống đức tin của bạn và lấy Tin Mừng làm nền tảng cho cuộc sống của họ không? Đó là ý nghĩa của mầu nhiệm Thăng Thiên. Hôm nay bạn được mời gọi không chỉ để nhớ một điều gì đó đã xảy ra từ lâu; nhưng bạn được nhắc nhở rằng khi Chúa Giêsu về trời, Ngài đã trao cho bạn một sứ vụ cực kỳ quan trọng. Sứ vụ đó là hãy tiếp tục biểu lộ tình yêu và ơn cứu chuộc của Ngài trong chính đời sống của bạn và trong thế giới hôm nay. Bạn hãy xin ơn Chúa trợ giúp để cùng với Ngài thi hành sứ vụ cao cả này cho xứng đáng nhé.

LẮNG NGHE: Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý. (Ga 15:7)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa đã lên trời vinh hiển để mở đường dẫn lối cho con. Khi Xin cho con biết tật dụng những khả  năng con có để biểu lộ sự hiện diện của Chúa đang ở trong con.

THỰC HÀNH: Hãy làm một việc bác ái vì lòng mến Chúa và tha nhân hôm nay.

From: Do Dzung

Mẹ Đẹp Tươi 

 MẸ TÔI – Hoàng Nguyên Linh

 Hoàng Nguyên Linh

Sách vở, báo chí, đài phát thanh và truyền hình nguời ta nói nhiều về mẹ. Đa số đều nhắc đến những kỷ niệm êm đềm bên nguời mẹ hiền, nhưng tôi thì khác. Tôi có mẹ mà như không có. Nỗi buồn này hầu như theo đuổi suốt cuộc đời tôi… Mẹ tôi là nguời vợ thứ hai của bố tôi. Bố tôi là một địa chủ khá giầu, đã có vợ cả và nhiều con nhưng bố tôi lại là một nguời ham mê sắc đẹp nên ông đã lấy mẹ tôi. Tôi không nhớ rõ mẹ tôi đẹp thế nào, chỉ nhớ mẹ tôi có đôi môi hồng, làn da trắng, nguời cao cao, mặt trái xoan, nhưng nghe bố tôi nói thì mẹ tôi đẹp lắm nên ông quyết lấy cho bằng đuợc dù phải bỏ ra rất nhiều tiền.

*****

Gia đinh bên ngoại không giầu bằng bên nội nhưng ông ngoại tôi có nhiều con, hình như có tới tất cả 11, 12 nguời, trong đó có 8 nguời con gái. Hai nguời chị của mẹ tôi đã lấy hai nguời em họ của bố tôi. Cũng vì bố tôi hai vợ nên tôi đã phải chịu những sự đau buồn, tủi nhục.

Ở ngòai Bắc thời xưa, đa số các ông địa chủ có tiền đều thi nhau lấy nhiều vợ. Ông nội tôi có 3 vợ, bố tôi có 2, nhưng ông nội tôi là nguời có bổn phận và có trách nhiệm. Tuy có 3 vợ nhưng mỗi bà ở một nơi, mỗi bà một giang sơn riêng nên không có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra, nếu có ghen tuông chắc không đến nỗi trầm trọng. Bố tôi không như ông nội tôi, bố tôi lấy vợ hai về song lại để hai bà ở chung với nhau nên mới gây ra nhiều chuyện phiền phức sau này, sự ghen tuông hầu như đã xẩy ra hàng ngày, tôi nghe cô tôi nói vậy. Tôi ra đời một năm sau khi mẹ tôi lấy bố tôi. Cũng vì tôi là con trai nên sự ghen tuông càng đi đến chỗ quyết liệt hơn. Bà cả sau khi sanh nguời con trai đầu lòng thì sanh liên tiếp 4 nguời con gái. Bà đi xem bói, thầy bói nói rằng số của bố tôi chỉ có 2 nguời con trai thôi, bà cả nghĩ rằng bà không thể có con trai thêm nữa, vậy là tại mẹ tôi đã lấy đi phần con trai của bà. Như sợ mất thế lực với mẹ tôi nên sự ghen tuông càng tăng lên, bà cả bảo với bố tôi là một mình bà đẻ đủ rồi, lấy mẹ tôi về là để làm lụng chứ không phải để đẻ nên bà nghĩ cần phải loại trừ mẹ tôi ra khỏi nhà cho bằng đuợc. Trời mùa Đông gía lạnh mà bà cả nhẩy xuống ao đòi tự tử. Bố tôi sống trong cảnh ghen tuông thì mệt quá, đáng lẽ làm như ông nội tôi tức là đưa bà hai ra ở riêng một nơi thì bố tôi lại không làm thế… Mẹ tôi sau khi sanh ra tôi vì không trưng diện, ăn mặc xuề xoà nên sắc đẹp không đủ để lôi cuốn bố tôi. Bố tôi một phần vì mệt với sự ghen tuông, một phần vì nhan sắc mẹ tôi không còn như xưa nữa nên ông đã thờ ơ, lạnh nhạt với mẹ tôi, để mặc mẹ tôi muốn làm gì thì làm.

Mẹ tôi sống trong cảnh ghen tuông của bà cả và sự thờ ơ của chồng nên đã phải ra đi, chịu cảnh bơ vơ trong tay không có một đồng ! Tôi đuợc giữ lại trong nhà để làm em một anh và bốn chị.

Giai đọan này tôi còn bé nên không biết gì, lại nữa vì thầy bói nói số của bố tôi chỉ có hai con trai nên vai trò “con trai” của tôi đã giúp tôi đỡ khổ. Tôi thực sự khổ từ khi biết nhận thức, tức là lúc 6,7 tuổi trở đi.

Khi tôi đuợc 5 tuổi thì bà cả sanh thêm đuợc nguời con trai nữa, thế là thầy bói đã nói sai và vai trò “con trai” của tôi không còn cần thiết, tôi như bị bỏ rơi. Hai nguời hành hạ tôi nhiều nhất là bà nội và nguời chị lớn. Bà nội rất mực yêu thương nguời con trai mới sanh sau này của bà cả. Bà nội yên tâm khi có đuợc nguời cháu trai phòng hờ để sau này có nguời cúng giỗ và thờ phượng, chứ một nguời cháu lớn bà chưa yên tâm…

Nguời ta nói đến mẹ, nói đến bà như một kỷ niệm đẹp, nào bà ôm cháu vào lòng, bà kể chuyện cổ tích cho cháu nghe, mẹ thì xoa lưng con, hát ù ơ ru con ngủ v.v.. nhung tôi lại khác, tôi không có đuợc cái kỷ niệm đó. Bà nội tôi và chị tôi thuờng hay đánh tôi vào đầu, hai nguời này thuờng dùng tay để “cốc” tôi. Cốc tức là cong nguợc 4 ngón tay lại để chìa ra 4 đốt xương và đập vào đầu. Chỉ những ai đã bị cốc mới biết đuợc cái đau buốt trong đầu, nhất là đầu của một đứa trẻ mới 6,7 tuổi. Tự điển Nguyễn Văn Khôn định nghiã “cốc” ( knuckle) tức là đánh một vật gì bằng khớp xương của ngón tay, thực ra phải nói “cốc” tức là đánh “vào đầu” bằng khớp xương của ngón tay mới đúng, chứ nếu đánh vào tay, chân, lưng, bụng thì không đau và cũng không ai nói “cốc” vào lưng, vào bụng bao giờ. Không những chỉ đánh mà còn chửi, mang tên mẹ tôi ra để chửi, gọi mẹ tôi là con này, con nọ, mang cả tên ông ngoại tôi ra chửi, gọi tôi là “ giống thằng cả Kiều” tức là tên ông ngoại tôi. Chị tôi có nét mặt thật ác, bố tôi bảo những đứa mà mắt nó có ve là ác lắm, tôi cũng không biết mắt có ve là mắt thế nào, chỉ nghe bố tôi nói vậy. Nhưng trái nguợc với chị tôi, bà nội tôi ai cũng khen là bà cụ đẹp lão và phúc hậu, tóc bà bạc trắng hết cả đầu. Mỗi khi tôi thấy có nguời khen dù còn bé nhưng tôi cũng lấy làm ngạc nhiên, bà nội ác với tôi như thế mà họ khen bà phúc hậu kể cũng lạ. Ngày nay tôi mới hiểu ra là sở di bà nội ghét tôi là để lấy lòng bà cả. Bà nội tưởng bà cả ghét mẹ tôi tức là ghét tôi nên bà nội muốn mọi nguời thấy rằng nay bà nội đứng về phía bà cả và những nguời con bà cả. Ngoài tôi ra, bà nội chưa hề đánh hay chửi một nguời cháu nào bao giờ. Việc đánh chửi tôi nhiều quá đã khuấy động lương tâm bà cả. Chính bà cả đã than với nhiều người mà tôi nghe đuợc: “Ngày xưa mẹ nó ở nhà thì bà bênh vực mẹ nó, về phe với mẹ nó, nay mẹ nó đi rồi sao bà lại ghét nó quá vậy !”. Bà cả chỉ ghen với mẹ tôi nhưng tốt với tôi và cũng rất thương tôi, có lẽ bà tội nghiệp tôi, tội nghiệp cho một đứa trẻ cô thế. Tôi không hề oán trách bà về chuyện ghen tuông với mẹ tôi vì tôi hiểu đó chỉ là sự thuờng tình giữa hai nguời đàn bà có chung một chồng. Tôi vẫn thầm cám ơn bà đã không đối xử tệ với tôi như những nguời mẹ ghẻ khác. Truớc khi chết bà còn căn dặn nguời chị kế tôi là lúc nào cũng phải nóí tôi là con trai của bà. Chỉ nói có thế rồi bà nhắm mắt. Có thể trong những giờ phút cuối cùng của cuộc đời bà đã có sự ân hận. Ngày nay tôi vẫn thờ cúng bà như mẹ ruột của tôi đúng như bà đã mong muốn.

Nỗi khổ thứ hai của tôi là bị chế diễu, trêu chọc bởi những đứa cùng lớp, cùng tuổi. Chúng gọi tôi là “ thằng không có mẹ ”. Tôi rất xấu hổ khi có nguời biết tôi không có mẹ, biết tôi là con người vợ thứ hai của bố tôi. Đã thế tôi còn bị đặt tên là “Thứ” (là con nguời vợ thứ) để khỏi lẫn với con nguời vợ cả. Cũng vì sợ có nguời biết và chế nhạo nên mỗi lần gặp mẹ là tôi sợ run lên. Nhưng mẹ tôi không biết tôi sợ nên bà hay đón tôi lúc tan truờng. Mẹ tôi thuờng mặc áo nâu, yếm màu đỏ nhạt, trên đầu chít khăn mỏ quạ, miệng cuời rất tươi mỗi khi gặp tôi. Mẹ tôi từ khi bỏ nhà ra đi , bà buôn bán hàng xén, gánh những đồ lặt vặt ra chợ bán như cái kim, sợi chỉ để sống qua ngày. Tôi không biết rõ mẹ ở đâu, hình như vừa ở nhà ông ngoại, vừa ở nhà họ hàng hay bạn bè gì đó. Tôi sợ bị chế diễu nên tuyệt đối không dám nghĩ tới mẹ và cũng không dám nói chuyện với ai về mẹ. Mỗi khi đi học về gặp mẹ là tôi chạy trốn để khỏi phải ở bên bà. Tôi chưa kịp trông thấy mẹ thì mấy đứa trẻ cùng lớp đã gọi “Thứ kìa, bu của Thứ kìa !” thế là tôi lại phải một phen sợ hãi. Có lần đi ngược chiều với mẹ, tôi không thể chạy thoát đuợc. Mẹ tôi nắm tay tôi và nói: “Thứ lại đây với bu, con của bu ngoan, bu thương con…” Tôi giật tay ra khỏi mẹ và hét: “Bỏ tay người ta ra, bỏ ra ! bỏ ra !” rồi tôi vụt chạy. Cũng có lần mẹ nắm đuợc tay tôi lâu hơn và bỏ tiền vào túi tôi. Hôm ấy về nhà, bị bà chị lớn vặn hỏi, tôi sợ quá vất tiền vào gầm giường và thầm trách sao mẹ tôi lại cho tiền để tôi bị mắng. Tuy sợ hãi như vậy nhưng tôi lúc nào cũng mong mẹ tôi về với tôi, để tôi có mẹ ở bên như những đứa trẻ khác, tôi sẽ không bị mấy đứa trẻ chê cười là “thằng không có mẹ” nữa. Sự khao khát có mẹ không phải chỉ trong lúc còn bé mà ngay cả khi tôi truởng thành. Tôi nhớ lúc đã là sinh viên ban Cao học, tôi quen một cô nữ sinh Trưng Vương, tôi với nàng tình cảm chưa có gì đậm đà nhưng tôi quý bà mẹ của nàng, bà rất dịu dàng, ôn tồn, bà bảo tôi: “ cháu uống ly nuớc chanh cho mát ”, “ cháu uống ly nuớc trà cho ấm ” mỗi khi trời trở lạnh hoặc “ cháu đợi một lát em ra bây giờ … ”. Bà ngồi bên tôi, nụ cuời của bà thật hiền hậu, bà hỏi han tôi những câu chân tình mà trong đời tôi chưa bao giờ có ai hỏi tôi như vậy. Mỗi lần đến chơi tôi mong đuợc gặp bà, đuợc nói chuyện với bà hơn là gặp nguời con gái út của bà. Ngày nay mỗi khi tôi nghe ai nói đến mẹ hiền là tôi liên tưởng tới bà. Tôi cũng hay đi chơi với nguời con trai thứ hai của cô tôi. Cô tôi thương con trai rất mực, mỗi khi bọn tôi đi chơi về khuya cô tôi nhẹ nhàng trách con “ Sao con đi chơi về khuya quá vậy? ” hoặc “ Con nhớ về sớm không rồi lại ho ”. Con trai cô muốn đuợc tự do, không muốn bị gò bó, nhưng nguợc lại tôi thèm có đuợc nguời mẹ săn sóc như vậy mà tôi không có. Tôi đã đọc nhiều lần cuốn Bông Hồng Cài Áo. Mỗi lần đọc càng khiến tôi thêm buồn, thêm tủi cho một nguời con có mẹ mà không đuợc ở bên, có mẹ mà không dám nhận mẹ mình là mẹ.

Tôi sống trong sự khiếp sợ mọi nguời trong gia đình. Bản năng tự vệ của một đứa trẻ trong tôi thúc đẩy tôi phải thật ngoan, thật lễ phép cho tôi bớt bị hành hạ. Tôi nghĩ rất đơn giản là mẹ tôi bị mọi nguời trong nhà ghét, tôi cần phải từ khước mẹ thì tôi mới là đứa trẻ ngoan, đứa trẻ có hiếu trong gia đinh. Nhưng mấy nguời thợ làm cho nhà tôi, họ không biết lại chửi tôi là đứa con bất hiếu, tệ bac, không nhìn nhận mẹ đẻ ra mình. Lúc đó tôi không hiểu và lấy làm lạ tại sao tôi là đứa trẻ ngoan ngoãn, không bao giờ dám cãi lại ai trong gia đinh mà họ lại chửi tôi là đứa con bất hiếu. Tôi nghe nguời nhà nói mẹ tôi tranh để làm vợ cả không đuợc nên bỏ nhà ra đi. Như vậy là mẹ tôi bỏ tôi, chứ tôi đâu có bỏ mẹ, còn tôi đến gần mẹ thì tôi bị chế diễu, chê cuời và nhất là sợ nguời nhà, tôi đâu có làm gì khác hơn đuợc… Sự ngoan ngoãn, sợ sệt của tôi chỉ đuợc lòng bà cả và nguời anh lớn, còn đối với bà nội và nguời chị thì không lay chuyển đuợc. Có lần chị lớn đánh tôi đau quá cũng động lòng bố tôi. Bố tôi không có một sự ngăn cản nào nhưng rủ tôi ra ngoài ruộng xem mấy nguời nông dân gặt lúa cho nhà tôi, ý ông muốn tôi xa lánh bà chị độc ác. Gió đồng thổi nhẹ làm lay động những bông lúa vàng tạo nên âm thanh êm dịu và bay lên mùi thơm của lúa mới. Tôi cảm thấy thật thoải mái, tôi chạy nhẩy tung tăng đi bắt những con cào cào, châu chấu và đã quên đi cái đau do chị tôi đánh lúc ban trưa. Nhưng tối về tôi bị nguời chị chửi một trận: “ Chỉ có một mình bố bênh mày, còn mọi nguời ghét mày, bố không làm gì đuợc đâu ! ”. Gần đây tôi có đọc một truyện ngắn của một tác giả vô danh, đại ý câu chuyện nói về tâm sự của một nguời con có mẹ mù một mắt. Đứa trẻ bị bạn bè chế nhạo và gọi là “ cái thằng có mẹ một mắt ” nên rất xấu hổ khi đi với mẹ, không muốn ai biết về mẹ mình, không dám nhận mẹ mình là mẹ. Tôi hiểu đuợc tâm trạng của tác giả lúc đó, tâm trạng của một đứa trẻ như tôi, nhưng tôi không hiểu được khi tác giả của câu chuyện này lúc đã truởng thành, đã có vợ con, mẹ từ nơi xa sang tận Singapore để thăm mà còn sợ bị vợ con chê cuời để xua đuổi mẹ vì mẹ có một mắt. Điểm cảm động nhất của câu chuyện là sở di mẹ có một mắt vì lúc còn nhỏ con bị tai nạn và hỏng một bên mắt người mẹ đã hy sinh để bác si lấy mắt mình thay cho con nên mẹ chỉ còn một mắt. Khi người con biết đuợc việc này thì mẹ đã chết… Đọc xong chuyện tôi thấy bàng hoàng và gần gui với tác giả. Nhưng tôi cầu mong đây không phải là chuyện thật, nếu có thật thì chỉ thật ở phần trên chứ không thể thật ở phần duới, tức là phần nguời con đã trưởng thành, đã có đầy đủ lý trí mà còn trốn chạy mẹ, hất hủi mẹ thì không chấp nhận đuợc.

Cuộc di cư năm 1954 xẩy ra, bố tôi vào Nam, tôi đuợc cho đi theo để sau này săn sóc bố. Gia đình tôi ở miền quê, một vùng truớc kia đa từng là nơi kháng chiến nên sự ra đi rất khó khăn, phải đi thành từng nhóm nhỏ. Bố tôi đi truớc, tôi đi sau và giữ khoảng cách khá xa để không ai biết. Tôi phải gỉa làm đứa trẻ đi câu, chân đi đất, quần xắn đến đầu gối và đi tắt qua những cánh đồng lúa. Hai bố con đi bộ từ sáng sớm đến tối và nằm ở duới thuyền bến đò Khuể chờ gần nửa đêm nguời lái đò mới dám chở sang đất Kiến An. Sang đuợc Kiến An rồi bố con tôi không biết ở đâu cho hết đêm. Ban đầu chúng tôi định ngồi ở gốc cây đa bên đuờng đợi sáng về sau nghĩ lại thấy tình trạng an ninh có vẻ nguy hiểm nếu ngồi đó nên đã cố gắng đi tìm một nơi khác trú ngụ cho an toàn hơn. Sao may đi đuợc chừng nửa giờ thì gặp một ngôi chùa. Chúng tôi vào xin tạm trú, mới đầu sư bà rất ngại vì là chùa nữ và đã quá khuya nhưng lòng từ bi đối với khách lỡ độ đường nên đã thuận cho chúng tôi ở tạm nơi gác chuông bên ngoài chứ không cho vào trong chùa. Sư bà sai người mang nuớc uống và cho mượn chăn đắp. Tôi nghe tiếng cầu kinh và tiếng gõ mõ nho nhỏ biết là sư bà đã thức suốt đem hôm đó như để cầu nguyện và canh chừng khách lạ. Sáng sớm hôm sau bố con tôi cám on sư bà rồi đáp xe đò đi Hải Phòng và ở trại tạm trú Lạch Chay, nơi đây cũng có rất nhiều gia đình trú ngụ để đợi chuyến tàu vào Nam. Khoảng hơn một tuần lễ hai bố con tôi xuống đuợc tàu vào Sài Gòn. Giai đoạn này thật là đen tối vì gia đinh tôi ra đi với hai bàn tay trắng, mọi tài sản phải bỏ lại hết. Nguời chị lớn và bà nội bị kẹt lại ngoài Bắc không vào Nam đuợc. Tôi đuợc nguời cô, chị ruột của bố tôi ở Sài Gòn nuôi hai năm cho đi học. Cũng tại đây, cô tôi đã cho tôi biết sự thật về mẹ tôi, khác hẳn với những tin tức truớc kia mà gia đinh nói sai về bà.

Tôi ý thức đuợc và đã ngẩng đầu lên nhìn nhận mẹ đẻ ra mình chứ không như truớc nữa, nhưng không có cách nào để gặp mẹ. Khi tôi vào Nam rồi mẹ tôi vì nhớ con, đã đi khắp nơi dò hỏi, mãi sau mới biết đuợc địa chỉ của tôi tại Saì Gòn do con trai lớn của cô tôi ở lại Hà Nội cung cấp nên đã viết bưu thiếp cho tôi. Bưu thiếp là một miếng bìa cứng to bằng nửa trang giấy học trò theo điều kiện của Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đinh Chiến chứ không đuợc viết thư có phong bì dán kín để cho hai bên dễ kiểm soát. Đại ý mẹ tôi hỏi thăm tôi và mong tôi học giỏi, khỏe mạnh v. v. Tôi rất cảm động về tấm lòng rộng luợng của mẹ vì đã nhiều lần tôi chạy trốn mà mẹ không bỏ rơi tôi, vẫn tìm tôi và vẫn muốn đến gần tôi. Lòng mẹ thật bao la như nguời ta đã nói. Tôi viết hồi âm cho mẹ, lần đầu tiên tôi đuợc gọi mẹ tôi là mẹ, xưng con, và an ủi mẹ tôi là vì chế độ phong kiến, lạc hậu nên hai mẹ con phải xa nhau và hứa với mẹ là sẽ chăm học rồi ký tên: “ Thứ, con trai của mẹ bên này vi tuyến”. Viết xong nước mắt tôi tự nhiên chảy ra, nếu có mẹ ở bên chắc tôi đã gục đầu vào lòng mẹ để khóc thật to cho vơi đi nỗi buồn bao năm tôi phải ôm giữ. Sau này tôi đuợc biết khi nhận đuợc tin, mẹ tôi mừng lắm và mang tờ bưu thiếp đi khoe với mọi nguời là tôi không còn trốn chạy mẹ tôi. Mẹ con tôi đã nhận nhau, hiểu nhau và thương nhau tuy không còn cơ hội gần nhau nữa…

Cuộc chiến mỗi ngày một khốc liệt, thư từ Nam-Bắc bị gián đoạn, tôi không sao liên lạc đuợc với mẹ tôi thêm một lần nào nữa kể từ đấy.

Rồi vận nuớc nổi trôi, tôi sang đuợc Hoa Kỳ. Sau một thời gian đời sống nơi đây đã tạm ổn định, đường bưu điện giữa hai quốc gia Mỹ và Việt Nam được thiết lập, tôi cố gắng liên lạc về Sài Gòn để nhờ tìm mẹ. Tiếc thay, tôi đuợc tin mẹ tôi đã qua đời từ lâu tại vùng quê xứ Bắc. Mẹ tôi chết trong cô đơn, mang theo xuống huyệt lạnh tất cả nỗi buồn khổ của một nguời đàn bà không chồng, không con bên cạnh…

Hôm nay là ngày giỗ mẹ, tôi viết những dòng này là tâm sự của một nguời con suốt đời không có mẹ ở bên và thành kính dâng lên hương hồn mẹ như một nén nhang thắp muộn.

Cám ơn mẹ đã gửi bưu thiếp cho con để trong đời con đuợc một lần gọi “ Mẹ ”.

Hoàng Nguyên Linh

Viết theo tâm sự của nguời con một đời phải xa mẹ… _____________________________________________________________

(Trích trong Tập Truyện “Mẹ Và Những Mùa Xuân” của Hoàng Nguyên Linh

Đã xuất bản.)


 

MỘT KHỞI ĐẦU MỚI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 (Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Các tông đồ ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông!”.

Không ai trong chúng ta muốn nói với người thân yêu của mình hai tiếng “Tạm biệt!”; càng không ai muốn nói với họ hai tiếng “Vĩnh biệt!”. Chúng ta luôn ao ước nói với họ một lời tin yêu hy vọng, “Hẹn gặp lại!”. “Hẹn gặp lại!”, đó cũng là những gì Chúa Giêsu muốn nói với mỗi người chúng ta trong Chúa Nhật mừng Chúa Lên Trời.

Kính thưa Anh Chị em,

Giữa lễ Phục Sinh và lễ Hiện Xuống, lễ Thăng Thiên – phần nào – khá bị lãng quên. Một điều đáng tiếc! Thăng Thiên không phải là một hành động biến mất ma thuật của Chúa Giêsu như của David Copperfield, ảo thuật gia người Mỹ; đúng hơn, cuộc Thăng Thiên của Ngài, theo một nghĩa nào đó, là ‘một khởi đầu mới’ cho ‘một sự hiện diện mới’, ‘một hoạt động mới’, cũng là khởi đầu ‘một thiên đàng mới’ mà chúng ta đang hướng về.

Khi các môn đệ đang đăm đăm nhìn trời vào lúc Chúa Giêsu được cất lên, sứ thần Chúa hỏi họ, “Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn trời?” – bài đọc một. Nghĩa là, việc đứng nhìn trời như vậy, giờ đây, không thích hợp! Vì dẫu trở về với Chúa Cha, Thầy của họ không thực sự rời bỏ, nhưng hiện diện với họ theo một cách thức mới mẻ. Vì thế, ngày mừng Chúa Lên Trời là ngày kỷ niệm ‘một khởi đầu mới’ của một sự hiện diện hoàn toàn mới của Con Thiên Chúa. Đây không phải là một sự kiện đánh dấu hoặc tưởng nhớ cho việc ‘ra đi’ hay cho một sự ‘vắng mặt’ nào đó; đúng hơn, đây là khoảnh khắc bắt đầu cho một sự ‘ở lại’ hoàn toàn mới mẻ của Chúa Cứu Thế.

Từ đó, “Emmanuel” có một ý nghĩa tròn đầy hơn bao giờ hết. Sau khi Chúa Giêsu được cất lên, thánh sử Marcô đã rất ý tứ, “Các tông đồ ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông!”. Đây là ý nghĩa cốt lõi của ngày lễ! Chúa Phục Sinh đang ở với các môn đệ, với Hội Thánh, với chúng ta, đang cùng hoạt động trong Thánh Thần của Ngài ngay hôm nay, như Ngài đã ở, đang ở và hoạt động trong hơn 2.000 năm qua. Vì thế, biến cố Thăng Thiên là ‘một khởi đầu mới’ của một nhân loại được cứu, được chữa lành trong Chúa Kitô qua Giáo Hội của Ngài.

Cuối cùng, lễ Thăng Thiên gợi lên ‘một khởi đầu mới’ về ‘một thiên đàng mới’. Trạng thái mà chúng ta gọi là thiên đàng là trạng thái hiệp thông hoàn hảo với Ba Ngôi Thiên Chúa. Chúa Kitô mở ra cho chúng ta cửa ‘thiên đàng’ mà nguyên tổ đã bị đuổi khỏi thuở xưa. Nhờ Ngài, chúng ta tìm thấy ‘la bàn’ cuộc đời; biết nơi mình sẽ đến; ở đó, Mẹ Maria, các thánh, cả triều thần và những người thân yêu đang chờ đợi chúng ta.

Anh Chị em,

“Các tông đồ ra đi rao giảng khắp nơi”. Đức Phanxicô nói, “Lễ Thăng Thiên mời gọi chúng ta ngước mắt lên trời, để ‘ngay lập tức’ quay lại trái đất, thực hiện những gì Chúa Phục Sinh giao phó! Hãy trở thành những ‘người con’ của Lễ Thăng Thiên, những người tìm kiếm Chúa Kitô dọc theo các nẻo đường của thời đại, mang lời cứu độ của Ngài đến mút cùng trái đất. Trên hành trình này, chúng ta gặp gỡ chính Chúa Kitô nơi anh chị em mình, đặc biệt nơi những người đang phải chịu đựng trong thân xác và linh hồn những kinh nghiệm khắc nghiệt, nhục nhã của những hình thức nghèo đói cũ và mới!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, Chúa về trời, con vào đời. Đừng để con mất phương hướng vì đã đánh mất ‘la bàn Giêsu!’”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen 

 ***************

CHÚA NHẬT VII PHỤC SINH, CHÚA THĂNG THIÊN, NĂM B

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ê-phê-xô.

17 Thưa anh em, tôi cầu xin Chúa Cha vinh hiển là Thiên Chúa của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, ban cho anh em thần khí khôn ngoan để mặc khải cho anh em nhận biết Người. 18 Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ, đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi, đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú anh em được chia sẻ cùng dân thánh, 19 đâu là quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu. Đó chính là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực, 20 mà Người đã biểu dương nơi Đức Ki-tô, khi làm cho Đức Ki-tô trỗi dậy từ cõi chết, và đặt ngự bên hữu Người trên trời. 21 Như vậy, Người đã tôn Đức Ki-tô lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được, không những trong thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới tương lai. 22 Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Ki-tô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh ; 23 mà Hội Thánh là thân thể Đức Ki-tô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn.

✠Kết thúc Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.

15 Khi ấy, Đức Giê-su hiện ra với Nhóm Mười Một và nói với các ông rằng : “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. 16 Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án. 17 Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin : nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. 18 Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ.”

19 Nói xong, Chúa Giê-su được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. 20 Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng.


 

 Vì sao người cộng sản thích ăn mừng ‘chiến thắng’?

Ba’o Nguoi-Viet

May 9, 2024

Thường Dân/SGN

Cộng sản như quỷ dữ, chúng chỉ ăn mừng trên xương máu dân tộc, và ngạo nghễ trên đất nước như một đạo quân cưỡng chiếm.

Ngày 7 Tháng Năm vừa rồi là một ngày vui của cái gọi là “toàn quân toàn dân Việt Nam” nhân kỷ niệm 70 năm ngày chiến thắng Điện Biên Phủ nên nhà nước cộng sản Việt Nam tổ chức hết sức rầm rộ.

Tôi có đọc được câu “Thù hận hay ăn mừng, cả hai đều bít lối tương lai” của Thái Hạo trên Facebook. Cộng sản ăn mừng suốt từng đấy năm ai dám nói gì đến bọn họ? Thù hận thì là tiêu cực, không thể hợp tác, không thể phát triển đất nước, nó khiến con người ta trở nên bạo lực, trở nên nguy hiểm. Còn ăn mừng vốn dĩ là việc vui vẻ, hân hoan tưởng chừng vô hại.

Tuy nhiên, nghe chương trình phát thanh sáng ngày 7 Tháng Năm trên loa phường, tôi lại dấy lên một suy nghĩ khác. Ăn mừng suốt 70 năm về một trận chiến, cộng sản đúng là mặt dày. Người ta nói “không được ngủ quên trên chiến thắng” nhưng 70 năm rồi, cộng sản vẫn tự ru ngủ bản thân, ru ngủ toàn dân.

Tôi không nói việc Hà Nội ăn mừng sẽ khiến ai ngứa mắt, ngứa gan hay dấy lên lòng căm thù của kẻ bại trận, nhưng tôi cho rằng việc cộng sản ăn mừng chiến thắng không đơn thuần vì ngoài chiến tranh, xương máu, họ không có gì để thấy tự hào.

Để có được một “chiến thắng,” biết bao máu xương của binh lính đã phải đổ xuống. Một chính quyền có lòng nhân đạo sẽ không nhảy múa kỷ niệm, mà sẽ là tưởng nhớ những người đã nằm xuống, bởi tất cả chỉ là một quá khứ đã đi qua.

(Hình minh họa: Kayla Ng)

Chiến tranh vốn dĩ là đau thương, luôn tìm cách ăn mừng chiến thắng, không chỉ thể hiện bản chất của một kẻ nhỏ mọn, háo thắng. Nó còn cho thấy việc ăn mày quá khứ để che lấp thất bại của hiện tại. Hơn nữa khát vọng hòa bình được tuyên truyền ra rả chỉ là giả tạo. Mất mát của chiến tranh nào đâu chỉ của riêng bên thua cuộc?

Nếu không có chiến tranh, tô vẽ những ngày kỷ niệm máu xương, người cộng sản có một mục đích gieo vào lòng người dân sự tự hào, niềm tin vào “đảng và nhà nước” đầy huyễn hoặc.

Nhắc đến Việt Nam mỗi ngày đang bị nhồi nhét sự tự hào đầy xương máu của cộng sản, tôi nhớ đến bài quốc ca mà trước kia, sáng đầu tuần nào tôi cũng phải hát, từ thuở ấu thơ. Ở tuổi cầm chén chưa vững, cầm đũa chưa thạo, mà tuần nào tôi cũng đi “xây xác quân thù.” Đã có lúc, cho vậy là hào hùng, là vĩ đại lắm, thật đáng tự hào.

Rồi tới ngày tôi đọc những áng văn chương của người “dưới chế độ cũ,” mới thấy lạ. Sao họ không căm thù, sao họ không oán hận ai? Họ chỉ kể lại những khổ đau cùng cực của bản thân một giọng văn nhẹ nhàng, trung dung, lại khiến tôi càng cảm nhận sâu sắc hơn nỗi đau thầm lặng trong lòng họ.

Tôi ngỡ ngàng tự hỏi, tôi có phải người Việt Nam không? Hình như tôi bị nhồi nhét, cũng từng thích nhảy múa ăn mừng “chiến thắng,” mà không phải người Việt Nam trong câu hát “Việt Nam không đòi xương máu, Việt Nam kêu gọi thương nhau.” Tôi nhìn thấy mình bị lai tạp của chủ nghĩa cộng sản, là một khúc sông nước lợ vô dụng trong lòng đất nước của mình.

Người cộng sản hay cười ý nghĩa Quốc Hận của những người miền Nam, mỗi khi đến 30 Tháng Tư. Nhưng người dân của chế độ Việt Nam Cộng Hòa gọi là Quốc Hận, vì đã để cộng sản đang tàn phá quê hương từng ngày, từng giờ. Chúng tàn phá đất, tàn phá nước, tàn phá cả tình dân tộc.

Chúng ta vẫn thấy người cộng sản sẽ hối hả tìm mọi dịp để ăn mừng. Bất chấp người khác chê cười. Họ sẽ nhảy múa bất chấp người dân đói khổ.

Năm nay là “70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ,” sang năm sẽ tới “50 năm giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước,” và còn nhiều nữa. Sau nửa thế kỷ sống cùng cộng sản, tôi chợt hiểu rằng, chế độ đang kiểm soát đất nước Việt Nam sẽ không có khả năng ăn mừng thanh bình, ăn mừng hòa hợp dân tộc. Cộng sản như quỷ dữ, chúng chỉ ăn mừng trên xương máu dân tộc, và ngạo nghễ trên đất nước như một đạo quân cưỡng chiếm.


 

Hài cốt chồng trong trại tù cải tạo .- Đoàn Trọng Hiếu

 Pham Thanh Tòng – Sài Gòn Xưa

Đoàn Trọng Hiếu

Dường như đã được sắp xếp, người thiếu phụ lặng lẽ đi theo, tên cán bộ ra lệnh cho chúng tôi đi ra khu nghĩa địa. Đến nơi, hắn bảo chúng tôi đi tìm mộ của Trần Thiên Thọ Hải. Chúng tôi nhớ ra đại úy Hải chết vào đợt những anh em đầu tiên năm 1977, như vậy là nằm ở sâu trong cùng sát chân đồi. Sau gần 15 phút chúng tôi đã tìm được ngôi mộ của anh với tấm bia chỉ nhỏ bằng tờ giấy học trò ghi lờ mờ, còn nắm đất thì chỉ cao hơn mặt đất chừng một tấc. Chúng tôi được lệnh là đào để bốc cốt cho chị mang về trong Nam . Việc đầu tiên là tìm một ít cành khô để đốt một đống lửa sưởi ấm và lấy ánh sáng, chị bắt đầu lấy ra môt bó nhang đốt lên rồi quỳ xuống vái ba lạy. Cầm nguyên bó nhang chị thổn thức khóc và nằm phủ phục lên ngôi mộ. Dưới ánh lửa tôi thấy thiếu phụ còn rất trẻ chỉ khoảng dưới 30, nét mặt xương xương.

Chúng tôi đứng lặng yên tôn trọng nỗi đau của chị, cho đến khi tên cán bộ yêu cầu chúng tôi “khẩn trương” bắt tay vào việc, vì trời đã lâm râm mưa phùn. Chúng tôi dìu chị đứng dậy sang bên cạnh và bắt đầu đào. Chỉ không đầy 20 phút chúng tôi đã đụng lớp ván đã mục, vì khi tù nhân chết thì chỉ được bỏ vào cái quan tài nhỏ vừa khít người được đóng bằng loại gỗ bạch đàn hay bồ đề, một loại cây được trồng để làm giấy, nên rất nhẹ xốp, được xẻ thành từng thanh và đóng hở như cái vạt giường, nên thấy cả xác nằm bên trong và đám tù hình sự khi đi chôn thì chỉ đào sâu khoảng 4 tấc rồi vùi lấp qua loa. Gỡ lớp ván trên mặt, bên trong là bộ quần áo tù đã rữa nát. Tôi đi xách một thùng nước ở dưới ruộng để rửa cho sạch đất, người thiếu phụ cũng đã lấy ra một cái thau nhựa và đổ vào đó một ít rượu. Chúng tôi cẩn thận nhặt từng cái xương rũ cho bớt đất, rửa cho sạch rồi trao cho chị. Chị cầm từng cái rửa trong rượu, rồi bỏ vào cái bịch nylon hai lớp. Chị đưa cho chúng tôi mỗi người một gói thuốc Tam Đảo rồi vừa làm chị vừa tâm sự:

– Giữa năm 79, em có xin phép ra thăm, nhưng khi đến trại thì họ nói là không có anh Hải ở đây, nhưng ít tháng sau thì em được tin anh Hải đã chết từ năm 77, do một chị bạn ra thăm chồng về cho biết.

Như vậy là họ đã dấu nhẹm không báo cho gia đình, mới đây một người mách bảo cho em ra Bộ Nội Vụ ngoài Hà Nội làm đơn xin bốc cốt, sau mấy lần làm đơn cuối cùng họ đã phải cho. Nhưng khi đến đây thì họ chỉ cho làm vào ban đêm và sau khi xong, họ không cho em ở lại nhà tiếp dân qua đêm với lý do là ô uế.

Sau gần một giờ, thấy có thể đã không còn sót cái xương nào, chúng tôi bảo chị để tránh rắc rối chị không nên mặc bộ đồ tang này. Chúng tôi lấy bộ quần áo tang quấn quanh cái bao nylon đựng cốt bỏ vào cái bị cói lớn rồi lấy sợi dây chuối khô khâu miệng lại để không ai nhìn thấy. Trên đường về trại, lúc đến chỗ rẽ, chị lý nhí vừa thổn thức khóc vừa cám ơn rồi dúi vào tay chúng tôi mấy gói thuốc còn lại. Nhìn người thiếu phụ tay xách cái bị cói đựng cốt chồng, lặng lẽ đi trong đêm, trên con đường rừng cô quạnh, khiến chúng tôi vô cùng thương cảm, ngậm ngùi, đứng trông theo.

Bỗng sự uất ức trào lên rồi không nén lại được, tôi thốt lên trong kẽ răng:

– Đ.M. Chúng mày rồi sẽ phải trả giá cho hành động này!

Chúng tôi đi vào theo cửa hông của cổng trại, rồi lặng lẽ đi về phòng. Tên thường trực thi đua đã đứng đợi sẵn để mở cửa.

Đã quá nửa đêm, cái lạnh đã thấm sâu vào người, nằm co quắp dưới lớp chăn mỏng, tôi thầm ái ngại cho số phận của người đàn bà bất hạnh. Chị mang cốt chồng đi giữa đêm trời giá lạnh của vùng rừng núi Việt Bắc, như người vợ, người mẹ Việt Nam đang mang nỗi đau, nỗi bất hạnh của cả một dân tộc đi trong đêm tối bão bùng.

Đoàn Trọng Hiếu

(Hình : Hồt cốt chồng trong tù cải tạo)


 

Nền tảng tư tưởng của đảng!?

 Phan Thế Hải

Sáng mở TV, xem chương trình thời sự lại được nghe câu: “Kiên quyết giữ vững nền tảng tư tưởng của đảng”. Theo đó, “Chủ nghĩa Mác – Lênin luôn luôn là nền tảng tư tưởng của đảng ta, chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”.

Đất nước ta giờ đây tham nhũng nhiều, tung hoành công khai như chỗ không người. Mà những ông tham nhũng đều có số má, học hàm học vị cao ngất ngưởng, đều có chức sắc, đều được trang bị lý luận cao cấp, đều thấm nhuần sâu sắc nền tảng tư tưởng của đảng. Vậy mà sự thất thoát tài sản công ngày càng lớn, vụ sau to hơn vụ trước, hậu quả rất lớn, khó khắc phục. Tham nhũng đang trở thành giặc nội xâm lớn nhất mà chỉ một mình cụ Tổng gò lưng chống, chống mãi vẫn không thấy bớt, không những thế càng ngày càng trầm trọng hơn, không biết bao giờ mới hết! Vậy cái gọi là “nền tảng” ấy có đáng để giữ hay không!?

Nhìn sang các nước láng giềng như Hàn, Nhật, Sing, tham nhũng không có cơ hội hoành hành như ở ta, không biết nền tảng tư tưởng của họ là cái gì?


 

NGÀY CHÚA THĂNG THIÊN, CHÚA VỀ TRỜI CÙNG CHA – Tuyết Mai

Tuyết Mai

Lạy Chúa Giêsu,  Chúa của muôn dân nước, Chúa của tình yêu hải hà và độ lượng. Chúa đã ra đời và sống trong một thân xác của người phàm, trừ tội lỗi. Chúa đã bỏ bao thời giờ, công sức và yêu thương con cái Chúa để giảng về Nước Trời cho chúng con nghe để chúng con biết hướng về Trời Cao và biết hướng lên Thiên Chúa, suốt 33 năm dài. Chúa đã chịu khổ hình và chết treo trên thập giá. Tới ngày thứ ba Chúa sống lại và ngày hôm nay Chúa về trời để hội ngộ cùng Cha Ngài.

—

Ước gì tất cả chúng con sau này đúng thời điểm thì chúng con cũng được Chúa đem chúng con Về Trời cùng Chúa. Đó là niềm khát khao bao nhiêu năm dài và càng già thì chúng con càng khát. Cố gắng sống sao cho đẹp lòng Chúa. Trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy … Thật là khó thưa Chúa chứ chẳng đơn giản như lời nói thốt ra để gió bay đâu. Vì trước tiên là phải có trái tim biết rung động trước tình người. Sau là phải thực hành để lập công với Chúa. Chứ tay làm mà còn đi khoe khoang lung tung thì như Chúa nói là “các con đã được người đời thưởng rồi” là lời khen, là hình ảnh, là số like và thời nay càng nhiều like thì càng có tiền vào nữa.

—

Nhưng trên hết xin Chúa thương ban cho tất cả mọi gia đình được yêu thương nhau, trên nhịn dưới nhường, không chê bai, không trách móc, không đả kích nhau như câu “Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”. Phận làm con thì phải trọng chữ hiếu thảo và thực thi trong sự hiếu đễ và trả hiếu. Không được ăn nói lớn tiếng và hỗn hào với cha mẹ vì công lao của cha mẹ thật là to lớn, làm sao các con có thể hiểu được khi các ngài chỉ làm mà không bao giờ than thở. Cha mẹ đã luôn bỏ bao công sức cả một cuộc đời, cố gắng lắm trong khả năng. Không một ngày nghỉ ngơi nếu được thì luôn cố gắng làm thêm. Không nề hà sự vất vả, chỉ mong cho con cái có được cái ăn, cái mặc và học hành. Sự hy sinh ấy và tình thương ấy nó luôn là củi lửa trong bếp không bao giờ thiếu hơi ấm của một mái gia đình có đủ cha đủ mẹ, dù nghèo mà vui.

—

Nhưng khi chúng lớn khôn đủ lông đủ cánh, vắng bóng một thời gian thì khi chúng trở về chốn cũ, thì lạ thay chúng cảm thấy xấu hổ với cái mái nhà xưa mà chúng được sinh ra và lớn lên, vì sao? Thưa là vì bây giờ chúng đã là ông này, bà kia. Thành công, thành danh và có địa vị cao trong xã hội. Có vẻ như khinh dể cha mẹ nghèo của mình, có vẻ như coi mình học cao biết rộng nên còn muốn dạy đời cho cha mẹ mình nữa đó. Mà chúng không còn nhớ bao công lao dưỡng dục, khổ sở của cha mẹ đã nuôi chúng. Chúng đổ thừa đủ thứ trên đầu của cha mẹ là không đủ thời giờ dành cho chúng trong khi cha mẹ người ta thì sinh hoạt của con cái họ đều có mặt, v.v…

—

Lạy Chúa về già thì tất cả bậc cha mẹ chỉ muốn con cái chúng để cho sống yên lành. Để cha mẹ tự lo cho nhau để có sức khỏe chớ ai dè chúng lại mang những phiền phức đến cho cha mẹ. Có phải cha mẹ đã xong bổn phận và trách nhiệm trên chúng đã xong và lâu lắm rồi không?. Bình thường thì chúng đi chơi những chỗ xa hoa, ăn uống sang trọng thì chúng chẳng nhớ gì đến cha mẹ chúng. Nhưng khi chúng có vấn đề, cần người than thở thì chúng chọn than thở ỉ ôi với cha mẹ của chúng, là sao?. Phải mạnh mẽ lên đi chứ …

—

Lạy Chúa Giêsu, hôm nay là ngày Chúa Thăng Thiên, Chúa về Trời … Xin Chúa đem theo tất cả những muộn phiền và bệnh tật của con theo Chúa lên Trời để lòng con cảm thấy nhẹ nhõm. Xin Chúa ban bình an cho chúng con là món quà quý giá nhất trên trần đời mà Chúa ban tặng nhưng có nhiều người họ chê và tìm những thứ rất phức tạp (chóng qua, chóng tàn) có thể mang lại cho họ nhiều cạm bẫy, vướng mắc mà không thể tự thoát ra được. Nhẹ thì vào tù, còn nặng thì mất cả xác lẫn hồn. Amen.

Y tá con Chúa,

Tuyết Mai

11 tháng 5, 2024


 

Bà thầy cúng ở Nam Định lừa được gần $12 triệu

Ba’o Nguoi-Viet

May 10, 2024

NAM ĐỊNH, Việt Nam (NV) – Bị can Bùi Thị Ninh, 44 tuổi, ở thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, vừa bị bắt, khởi tố với cáo buộc đóng vai thầy cúng để lừa đảo, chiếm đoạt 300 tỷ đồng ($11.8 triệu).

Theo báo Công An Nhân Dân hôm 10 Tháng Năm, bị can Ninh bị bắt khi đang trốn tại quận 4, Sài Gòn.

Bị can Bùi Thị Ninh khi bị bắt. (Hình: Công An Nhân Dân)

Hồ sơ của Công An Tỉnh Nam Định cho hay, thoạt đầu, có bảy người ở tỉnh Nam Định và tỉnh Yên Bái làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo 128 tỷ đồng ($5 triệu) của bị can Ninh.

Khi công an mở cuộc điều tra thì phát giác có thêm nhiều nạn nhân khác của nữ bị can đã “cao chạy xa bay.”

Kết quả điều tra sơ bộ cho hay, bị can Bùi Thị Ninh thường xuyên đi lễ chùa, dùng chiêu thức “xem tướng, đoán số mệnh” để tạo mối quan hệ với nhiều người.

Trong các năm 2018-2020, bị can Ninh hùn vốn kinh doanh nhà đất với nhiều người và bị thua lỗ nên nợ nần, mất khả năng thanh toán.

Để có tiền trả nợ, nữ bị can nói dối với nhiều người là mình đang cần khoản tiền lớn để đầu tư kinh doanh nhà đất, xăng dầu, mua cổ phiếu của các dự án thủy điện tại hai tỉnh Sơn La, Khánh Hòa hoặc vay tiền làm dịch vụ “đáo hạn ngân hàng.”

Thấy bà này “uy tín,” nhiều người góp vốn làm ăn.

Khi nhận được tiền của các nạn nhân, bị can Ninh không làm như đã thỏa thuận mà dùng để trả nợ gốc, tiền lãi dẫn đến số nợ nần ngày càng tăng cao.

Đến khi nhận thấy mình không tiếp tục vay được tiền của ai nữa, bị can Ninh cắt hết liên lạc với chủ nợ rồi bỏ trốn khỏi địa phương.

Công An Tỉnh Nam Định xác nhận đến nay có ít nhất 19 người sập bẫy “đầu tư kinh doanh” với bị can Bùi Thị Ninh.

Hiện nhà chức trách tỉnh Nam Định đề nghị những ai là nạn nhân hoặc có thông tin, chứng cứ về hành vi vi phạm của bị can Bùi Thị Ninh ra công an trình báo.

Trong một hành vi lừa đảo tương tự, bị cáo Trần Thị Thanh Tiền, 45 tuổi, ở huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, bị kết án 14 năm tù với cáo buộc lừa đảo vay tiền “đáo hạn ngân hàng,” chiếm đoạt 2.1 tỷ đồng ($82,628).

Báo Thanh Niên hôm 3 Tháng Năm dẫn cáo trạng cho hay, trong hai năm 2019-2021, do làm ăn thua lỗ và nợ nần, bị cáo Tiền nảy sinh ý định lừa tiền người khác.

Bị cáo Trần Thị Thanh Tiền, 45 tuổi, ở huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, bị kết án 14 năm tù với cáo buộc lừa đảo vay tiền “đáo hạn ngân hàng,” chiếm đoạt 2.1 tỷ đồng ($82,628). (Hình: Nam Long/Thanh Niên)

Bị cáo Tiền nói dối với ông TU, đồng nghiệp cũ, rằng bà quen biết cán bộ một chi nhánh ngân hàng ở huyện Tam Bình và đang cần nguồn vốn cho vay nhằm làm dịch vụ “đáo hạn ngân hàng.”

Tin lời nữ bị cáo, ông U. giới thiệu một người em họ là ông TSNR cho bà này vay tổng cộng 6.3 tỷ đồng ($247,884).

Sau đó, bị cáo Tiền đã trả lại một phần tiền cho ông R. và còn nợ 2.1 tỷ đồng cho đến ngày bị bắt giam.

Bản tin cho hay, tại phiên tòa, bị cáo Tiền được ghi nhận “không thành khẩn khai báo” nên bị Hội Đồng Xét Xử tuyên mức án nêu trên. (N.H.K) [qd]


 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Thế hệ Trần Vàng Sao

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Cách đây chưa lâu, Tần Hoài Dạ Vũ và Nguyễn Đông Nhật đã cho xuất bản cuốn Phác Hoạ Chân Dung Một Thế Hệ. Theo báo chí nhà nước đây là “một hồi ký đậm chất văn chương của hai con người đã từng sống, từng viết và từng tranh đấu trong các đô thị miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ” và tác phẩm đã “đưa ‘giấc mơ đẹp’của một thế hệ đến những thế hệ tiếp nối.”

“Giấc mơ đẹp” này của hai nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ và Nguyễn Đông Nhật, chả may, lại là ác mộng của một thi nhân khác – cùng thời:

… mả cha cuộc đời quá vô hậu
cơm không có mà ăn
ngó lui ngó tới không biết thù ai
những thằng có thịt ăn thì chẳng bao giờ ỉa vất

lâu ngày tôi thấy quen đi
như quen thân thể của mình
tiếng ho gà nửa đêm của những đứa bé chưa đầy hai tuổi
buổi chiều không có cơm ăn
những con ruồi ăn nước mũi khô trên má…
hai mắt tôi mở to
đầu tôi cúi thấp
miệng tôi há ra
những lá khoai nhám và rít mắc vài hột cơm
dồn cứng chật cuống họng

(Trần Vàng Sao – Người Đàn Ông 43 Tuổi Nói Về Mình)

Toàn bản bài thơ thượng dẫn đã được đăng lại trên trang Quà Tặng Xứ Mưa, với đôi lời giới thiệu (rất buồn) về tác giả :

“Nhà thơ Trần Vàng Sao (tên thật là Nguyễn Đính) ở Đường Tuy Lý Vương, Phường Vỹ Dạ, Huế là nhà thơ nổi tiếng với bài thơ ‘Bài thơ người yêu nước mình’. Giữa lúc phong trào ‘xuống đường’ ở Huế những năm 1965-1968 đang rầm rộ mà dám lấy bút danh ‘Trần Vàng Sao’ là rất ghê gớm. Thế mà, năm 1988, ông có bài thơ ‘ Người đàn ông 43 tuổi nói về mình’ in ở Tạp chí Sông Hương đã gây nên cuộc cãi vã náo loạn ở Huế. Cán bộ chính trị, các ‘nhà văn đỏ’ đua nhau suy diễn chính trị, phán xét. Đài phát thanh, báo đảng địa phương đăng nhiều bài viết chửi rủa nhà thơ, họ ‘phỏng vấn’ cả các bà tiểu thương chợ Đông Ba để tố cáo nhà thơ. Trên diễn đàn họ gọi Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ (Tổng biên tập TC Sông Hương) là ‘bọn tay sai của địch…”

Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia cho biết chi tiết hơn :

“Trần Vàng Sao sinh ở Thừa Thiên – Huế, năm 1961 ông thi đỗ tú tài rồi vào Đại học Huế, tham gia các phong trào đấu tranh của sinh viên cùng thế hệ với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Quang Long, Ngô Kha. Từ 1965 đến 1970, ông lên chiến khu và công tác tại Ban Tuyên huấn Thành uỷ Huế, viết báo với các bút danh Nguyễn Thiết, Lê Văn Sắc, Trần Sao.

Năm 1970 ông được đưa ra miền Bắc an dưỡng, chữa bệnh. Ở nơi đây, ông có viết nhật ký gồm những suy nghĩ của ông về cái gọi là ‘hậu phương xã hội chủ nghĩa’ đó và sau đó bị tố cáo, đấu tố và cô lập đến nỗi ông có cảm giác ông không còn được coi là con người mà đã thành ‘một con vật, một con chó’ – theo như Hồi ký ‘Tôi bị bắt (Nhớ lại những năm tháng tôi bị bắt rồi được thả ra và sống như tù)’ sau này của ông.”

Tập hồi ký này có thể đọc được ở diễn đàn talawas. Xin trích dẫn lại vài đoạn ngắn:

Thứ Ba, ngày 31.10.1978

Mong có một bữa cơm không, ăn với cá, cá vụn, với muối và một chút ớt.

Thứ Hai, 22.07.1979

Nhà cứ không có gạo hoài. Có nửa lon, một lon dành cho Bồ Câu. Phải bới sắn non, nhưng chỉ vài ba bữa, còn thì quá non. Hay chưa có được gạo. Giấy trả về làm việc từ 1.6. Chúng mày không có gạo thì chúng mày đói chứ tao có đói đâu …

Và không ai dám nói ra những suy nghĩ của mình về chế độ, thậm chí những suy nghĩ của mình về một người thứ ba cho một người thứ hai nghe. Người ta phải nói láo hoặc nói nhỏ. Kinh khủng thật. Thành ra có một không khí chính trị giả dối trong dân chúng. Nhưng mà chưa ai chết ngay cho. Có người nói: không chết tươi ngay mà chỉ chết mòn, chết dần…

Phần đời (“vô hậu”) này của Nguyễn Đính gần giống như hoàn cảnh sống cơ cực của Nguyễn Hữu Đang, sau 15 năm tù, qua cảm nhận của Phùng Cung : Gót nhọc men về thung cũ/ Quì dưới chân quê/ Trăm sự cúi đầu/ Xin quê rộng lượng/ Chút thổ phần bò xéo cuối thôn.

Cớ sao mà “cách mạng” lại “chiếu cố” Nguyễn Hữu Đang tận tình (và tuyệt tình) như thế? Một trong những nguyên do – có thể nhìn thấy được – là vì ông đã không chịu chấp nhận sự “xộc xệch” trong hiến pháp của nước VNDCCH :

“Do pháp trị thiếu sót mà Cải cách Ruộng đất hỏng to đến thế. Do pháp trị thiếu sót mà quân đội chưa có chế độ binh dịch hợp lý, công an hỏi giấy giá thú đôi vợ chồng ngồi ngắm cảnh trăng lên ở bờ hồ, hộ khẩu rình bên cửa sổ khiến người ta mất ăn, mất ngủ, cán bộ thuế tự tiện vào khám nhà người kinh doanh, ở khu phố có chuyện đuổi nhà lung tung hoặc ép buộc người ở rộng phải nhường lại một phần nhà cho cán bộ hay cơ quan ở. Do pháp trị thiếu sót mà nhiều cơ quan bóc xem thư của nhân viên và một ngành rất quan trọng nọ đòi thông qua những bài báo nói đến mình, làm như một bộ phận của Nhà nước lại có quyền phục hồi chế độ kiểm duyệt mà chính Nhà nước đã bãi bỏ. Do pháp trị thiếu sót, người ta đã làm những việc vu cáo và đe doạ chính trị trắng trợn…” (Nhân văn số 4, phát hành ngày 5.11.1956).

Sáu năm sau, vào năm 1961, “người ta đã trắng trợn vu cáo” Nguyễn Hữu Đang là gián điệp. Mười hai năm sau nữa thì đến lượt Nguyễn Đính bị vu cáo là CIA – theo như ghi nhận của chính nhà thơ, qua cuốn hồi ký thượng dẫn: :

“Khi ra Bắc, ai giao nhiệm vụ cho anh? Nhiệm vụ đó là nhiệm vụ gì? Anh đã gặp ai, ở đâu, bao giờ? Anh đã tổ chức họ như thế nào? Công việc của anh hiện nay đã tiến hành đến đâu? Anh phải nói thật, nói hết, không được giấu giếm. Sinh mạng của anh là do nơi sự thành khẩn của anh quyết định đó…”

Nguyễn Hữu Đang và Nguyễn Đính đều đã trải qua nhiều năm tháng não nề, ê chề, và cay đắng. Họ bị chôn sống nhưng nhất định không chịu chết. Hai ông, nói nào ngay, chỉ là hai nạn nhân tiêu biểu – của hai thế hệ kế tiếp nhau – đã dấn thân vào cuộc cách mạng vô sản (và vô hậu) ở Việt Nam.

Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, Đào Duy Anh, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Phùng Cung, Trần Dần, Trần Duy, Phan Khôi, Dương Bích Liên, Hữu Loan, Phùng Quán, Nguyễn Mạnh Tường, Trương Tửu… đều không còn nữa nhưng tâm cảm trân trọng và quí mến của mọi người dành cho họ chắc chắn sẽ còn lâu. Thế hệ của Nguyễn Đính (e) khó có mà nhận được tình cảm tương tự.

Sự nông nổi, ồn ào và lố bịch của nhiều người trong bọn họ khiến cho thiên hạ cảm thấy khó gần! Dù vở kịch cách mạng đã hạ màn từ lâu, lắm kẻ vẫn làm bộ như không có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra, vẫn cứ xưng xưng coi đó như Một Thời Để Nhớ, vẫn kịch cỡm viết sách tự phác hoạ Chân Dung của thế hệ mình và xem là tác phẩm đã “đưa ‘giấc mơ đẹp’ của một thế hệ đến những thế hệ tiếp nối.”

Họ cố tình quên rằng chính hiến pháp của hai chế độ đệ I và đệ II Cộng Hoà của miền Nam Việt Nam, tuy non trẻ và yếu ớt, vẫn là đồ thật (chớ) không phải đồ sơn. Nó đã bảo vệ cho họ được sống như những con người, với những quyền tự do tối thiểu, để có được “những hình ảnh khí phách” và “những tháng ngày sục sôi” – thay vì bị đạp vào mặt chỉ vì đi tuần hành biểu lộ lòng yêu nước. Họ đã được chế độ hiện hành choàng vào người những vòng hoa (giả) nhưng cứ thế mà đeo mãi cho đến cuối đời.

Tội!