CHUYỆN ĐỜI VOLTAIRE-TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ)

CHUYỆN ĐỜI VOLTAIRE

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ)

Triết gia Voltaire tên thật là François-Marie Arouet, sinh ngày 21-11-1694 tại Pháp. Ông là người khởi xướng phong trào Khai Sáng – Enlightenment.

Voltaire nhận được một lá thư trang nghiêm và khiêm tốn từ Lm Gaultier, tu sĩ Dòng Tên, trước khi bị cấm. Một người viết tiểu sử nhận xét rằng có vẻ như luôn có một tu sĩ Dòng Tên kể về Voltaire, từ những ngày đầu đi học cho đến khi chơi cờ ở Ferney. Khi Voltaire nghe chữ “Dòng Tên,” nó đã khuấy động một chút trong ông: đứa con chưa biết mẹ thì không yêu cha mẹ, hoặc người yêu mến thầy cô thì được họ yêu mến. Người ấy nổi loạn chống lại họ, nhưng người ấy vẫn nhạy cảm và khéo léo nhất cũng như là học trò tự hào nhất của họ. Lm Gaultier đã nói rõ trong lá thư rằng ngài muốn giúp Voltaire cứu linh hồn mình.

Voltaire có chấp nhận Lm Gaultier tới phòng của mình? Voltaire có xưng tội? Voltaire thường giả danh là người Công giáo suốt đời mình. Một lần ông đã rước lễ dịp Phục Sinh tại Ferney khi một linh mục đến thăm. Linh mục này là người đầu tiên tha tội cho ông. Đức giám mục địa phương biết điều đó nên viết cho Voltaire một lá thư trang nghiêm và ôn hòa: “Việc rước lễ của ông đã được thực hiện mà không ăn năn, không có sự sửa đổi cần thiết do các bài viết và hành vi trong quá khứ của ông. Ông không nên đến gần bàn thánh mà không cam kết chân thành, và nếu không có sự phản ánh xứng đáng, sẽ không có linh mục nào cho phép ông làm như vậy.” Voltaire bảo đảm với giáo sĩ về đức tin tốt lành của mình và xin cầu nguyện. Đức giám mục viết lại rằng đức tin bao gồm hành động, không chỉ nói suông. Đức giám mục đã cấm các linh mục giải tội hoặc trao Mình Thánh cho Voltaire.

Voltaire tức giận, tìm cách dằn mặt giám mục. Một người viết tiểu sử kể lại: Ngay trước lễ Phục Sinh sắp tới, ông ta dụ một linh mục đến phòng của mình, nơi ông ta giả bộ thực hiện hành động tuyệt vời nhất trên giường bệnh: đôi mắt đờ đẫn, giọng nói giả dối, đôi tay gầy guộc sờ tấm vải trải giường. Ông ta xin giáo sĩ nghe lời thú tội của ông ta và đặt tiền vào tay. Linh mục này sững sờ và vội vã bỏ đi, không làm theo yêu cầu của ông ta. Voltaire vẫn tiếp tục hành động của mình, cố gắng thuyết phục mọi người rằng ông ta sắp chết để linh mục đến. Ông ta hứa sẽ đưa ra bất kỳ tuyên bố nào mà Giáo hội yêu cầu. Tuy nhiên, giám mục cấm linh mục giải tội cho ông ta. Sau đó, Voltaire dọa đâm đơn kiện, vì vào thời điểm đó ở Pháp, việc từ chối ban các bí tích đối với một người sắp chết là bất hợp pháp.

Cuối cùng, Đức giám mục sai hai linh mục tới. Voltaire đọc Kinh Tin Kính của các Tông Đồ và tuyên xưng đức tin bằng lời nói: “Tôi tôn thờ Chúa trong phòng riêng của tôi. Tôi không làm điều ác với ai.” Linh mục có bản tuyên xưng đức tin khác trong túi áo và nhấn mạnh rằng Voltaire phải ký vào đó. Voltaire đáp lại rằng Kinh Tin Kính của các Tông Đồ là đủ, và ranh mãnh nói rằng lời tuyên xưng đức tin khác này có thể giới thiệu những đổi mới không chính thống. Linh mục vẫn bắt Voltaire ký, ông ta đã giả vờ yếu sức và xin miễn xá, linh mục đã đồng ý. Voltaire nằm xuống và mỉm cười. Ông ta thấy mình đã thắng giám mục. Sau khi linh mục đi, Voltaire ra khỏi giường, và nói với thư ký: “Tôi đã gặp một chút rắc rối với giáo sĩ buồn tẻ đó, nhưng tất cả đều thú vị nhất và làm cho tôi có lợi. Nào, chúng ta cùng đi dạo quanh vườn.”

Một người viết tiểu sử nhận xét rằng cả Âu châu đều nói về những trò đùa báng bổ của Voltaire, hành động đùa cợt của ông ta đối với tôn giáo. Nhưng đó chỉ đơn giản là trò đùa? Có thể chắc chắn rằng không là trò đùa với Voltaire, vì những ý tưởng của ông rất tinh tế và dao động. Một người viết tiểu sử nhận xét rằng chỉ có thể chắc chắn rằng ông ta có niềm đam mê chân thành đối với công lý, sự thật – và kịch nghệ. Voltaire đóng vai trò gì? Liệu ông ta có thể thú tội thật ngay cả khi ông ta muốn? Có phải ông ta bị cuốn hút vào kịch nghệ và giả vờ là người khác, đến nỗi ông ta không thể tiếp cận với con người thật của mình? Nếu ông ta thực sự muốn thú tội thì sao?

Voltaire trả lời thư của Lm Gaultier:

“Thưa ngài, lá thư của ngài đối với tôi dường như là của một người chân thật: điều đó đủ để xác định rằng tôi sẽ vinh dự được ngài đến thăm vào ban ngày và vào giờ thuận tiện nhất cho ngài. Tôi sẽ nói với ngài chính xác những gì tôi đã nói khi tôi chúc phúc cho cháu trai của ngài Franklin thông thái và nổi tiếng, niềm vinh dự nhất của các công dân Hoa Kỳ. Tôi chỉ nói những từ này: ‘Thiên Chúa và tự do.’ Tôi đã 84 tuổi, tôi sắp xuất hiện trước Chúa, Đấng tạo dựng tất cả vũ trụ. Nếu linh mục có điều gì muốn nói với tôi, tôi sẽ có bổn phận và đặc ân được đón tiếp ngài, mặc dù đau khổ khiến tôi choáng ngợp.”

Lm Gaultier đã đến, thẳng thắn với Voltaire, và điều đó làm hài lòng người sắp chết. Linh mục nói với Voltaire rằng ngài sẽ báo cáo cuộc gặp mặt này cho bề trên. Những người tham dự của Voltaire – bà chủ nhà và thư ký của ông ta, kể cả một người bạn – đã làm gián đoạn cuộc gặp gỡ của họ. Voltaire nói: “Hãy để tôi ở lại với người bạn linh mục của tôi – ngài không nịnh tôi.” Sự hiện diện của linh mục khiến những người khác không thoải mái. Danh tiếng của người sáng lập phong trào Khai Sáng dựa vào việc ông ta không công khai từ bỏ bất cứ điều gì. Tuy nhiên, mong muốn được chôn cất tử tế của ông ta phụ thuộc vào việc hòa giải với Giáo hội, ít nhất ở mức độ nào đó.

Lm Gaultier đã trao cho Voltaire một văn bản soạn sẵn, có lẽ là bản tuyên xưng đức tin Kitô giáo và dạng công khai từ bỏ nào đó đối với các tác phẩm chống Kitô giáo của ông ta. Nhưng Voltaire gạt sang một bên và run rẩy viết lời tuyên bố của mình: “Tôi đã thú nhận [với Lm Gaultier] rằng nếu Thiên Chúa dùng tôi, tôi sẽ chết trong tôn giáo Công giáo thánh thiện mà tôi đã sinh ra, hy vọng Thiên Chúa trong lòng thương xót của Ngài sẽ đoái thương tha thứ cho tôi mọi lỗi lầm của tôi; nếu tôi đã xúc phạm đến Giáo hội, tôi cầu xin sự tha thứ của Thiên Chúa và Giáo hội.” Hai nhân chứng cùng ký tên vào đó. Lm Gaultier đã giải tội cho Voltaire, nhưng Voltaire từ chối rước lễ vì lý do sức khỏe. Sau đó Lm Gaultier ra về.

Lm Gaultier trở lại. Giáo quyền địa phương đã không coi lời công khai rút ý kiến trước đó của Voltaire là đủ và vẫn đe dọa sẽ không cho phép chôn cất theo nghi lễ Kitô giáo. Một linh mục Dòng Tên đến với một linh mục khác để xem ông ta thế nào. Ai đó đã hét vào tai Voltaire rằng người giải tội của ông ta đã đến. Trước sự ngạc nhiên của mọi người, người đàn ông đang hấp hối nói: “Người giải tội của tôi ư? Vậy thì hãy nhớ dành cho ông ấy những lời khen của tôi.” Một linh mục khác hỏi Voltaire: “Ông có nhận ra thần tính của Chúa Giêsu Kitô không?” Voltaire lấy tay đẩy giáo sĩ ra, vừa quay mặt đi vừa nói: “Hãy để tôi chết trong bình an.”

Voltaire vô cùng đau đớn nên bác sĩ cho thuốc giảm đau. Bác sĩ viết trong một bức thư: “Bây giờ Voltaire đã đến cuối đời, người ta bắt đầu nói chuyện, đánh giá tất cả những thiệt hại mà ông ta đã gây ra cho xã hội, điều mà ngay cả những người không khắt khe lắm cũng so sánh với các cuộc chiến tranh, dịch bệnh và nạn đói trong vài ngàn năm qua đã làm hoang tàn trái đất.”

Các câu chuyện về cái chết của Voltaire gây nhầm lẫn vì tin đồn lan truyền và các nhóm tranh giành nhau để kiểm soát câu chuyện về cái chết của ông ta. Sau đó, các nhà truyền giáo Công giáo đã sử dụng các lá thư của bác sĩ để tuyên bố rằng Voltaire đã bị trừng phạt bằng cách chết trong đau đớn và sợ hãi Hỏa Ngục. Được viết bởi một nhà quan sát thiếu thiện cảm, lời kể của bác sĩ phải được sử dụng một cách thận trọng. Bà Denis nói rằng mặc dù rất đau khổ nhưng Voltaire đã chết lặng lẽ.

Tuy nhiên, theo một trong những nhà viết tiểu sử người Pháp, Voltaire nằm chết trong một ngôi nhà nhỏ tối tăm, tách rời với nhà chính, nơi bà Denis – chủ nhà của Voltaire – vẫn tiếp tục tiếp khách. Bà lo rằng Voltaire có thể hủy bỏ di chúc đã biến bà thành người thừa kế của ông ấy; bà chủ nhà lo lắng về sự tranh cãi sẽ xảy ra sau cái chết của Voltaire. Bận tâm với những mối quan tâm riêng, họ tránh cảm giác khó chịu từ sự đau khổ của Voltaire, một lời nhắc nhở, như nó đã xảy ra, về cái chết của chính họ. Bà Denis không ở với ông ta; bà chọn hai người phụ nữ để trông chừng ông ta. Ông ta đau đớn quằn quại trên giường; họ trò chuyện, cười đùa và uống rượu. Ông ta xúc phạm họ và ném một cái bình vào họ khi ông ta còn sức. Có vẻ như việc chăm sóc còn nhiều điều đáng mong muốn, vì Voltaire nằm ở nơi bẩn thỉu, ghét những người xung quanh. Voltaire là người đã dựa trên những ý tưởng của mình về sự độc lập và tự túc, đã chết như ông đã sống: một con người tự trị.

Voltaire đã từng viết về “tình yêu” theo cách rút gọn nó thành quan hệ tình dục: sự hoàn hảo của tình yêu là sự sạch sẽ và chăm sóc bản thân, do đó làm cho các cơ quan khoái cảm nhạy cảm hơn. Đối với ông già, “bên ngoài không còn như cũ, những nếp nhăn kinh khủng, lông mày bạc trắng bàng hoàng, hàm răng rụng ghê tởm, sự yếu đuối kỳ lạ. Tất cả những gì người ta có thể làm là tận hưởng đức tính của y tá vui đùa, và bao dung với những gì người ta từng yêu mến. Nó đang chôn vùi một người chết.” Những lời đó trở nên ứng nghiệm khi ông ta chết dần trong cơn hấp hối. Khi được cho biết về tình trạng của ông ta, bà Denis hy vọng sớm được sở hữu khối tài sản khổng lồ của Voltaire, bà nói: “Cái gì! Ông Voltaire là người sạch sẽ nhất trong những người đàn ông, thay khăn trải giường ba lần mỗi ngày thay vì chịu đựng một dấu vết nhỏ nhất trên đó – mức độ thấp hèn của ông ta là bao nhiêu? Điều này đại diện cho sự thay đổi mang tính cách mạng nào?” Nó không đại diện cho cuộc cách mạng: chỉ có cái chết của con người và chính bà ấy bỏ rơi ông ta.

Một nhà bình luận Công giáo đã viết về cái chết đó rằng không lý lẽ nào có thể được đưa ra cho sự cứu rỗi hoặc sự nguyền rủa của linh hồn chỉ đơn giản là hình dáng của cơ thể khi qua đời, dù bình tĩnh hay bối rối. Thông thường, sự kích động của người sắp chết chỉ xuất phát từ các nguyên nhân vật lý. Cũng vậy, người tốt “theo ý muốn của Thiên Chúa, phải tuân theo những kích động đó, để thanh tẩy linh hồn, và dẫn những người xung quanh đến việc thực hành sự đền tội đích thực.”

Vào giữa buổi sáng ngày 30 tháng 5 năm 1778, Voltaire đã thốt lên một tiếng kêu dài và khủng khiếp khiến các y tá phải khiếp sợ. Và rồi ông tắt thở.

JOSEPH STUART

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)


 

Logic của việc CSVN lấy tù nhân lương tâm làm mồi câu tư bản -Lê Minh Nguyên

Ba’o Tieng Dan

Lê Minh Nguyên

21-9-2024

Cộng sản Việt Nam bắt những người dân có trí tuệ của mình làm tù nhân và dùng tù nhân đó để làm mồi câu tư bản.

Một ngày trước khi lên đường đi Mỹ, Tổng Bí thư – Chủ tịch nước Tô Lâm thả nhà hoạt động Trần Huỳnh Duy Thức sớm 8 tháng (20/9), coi nó là một món quà tặng cho Mỹ để đổi chác lấy những đòi hỏi Mỹ giúp Việt Nam về kinh tế và công nghệ.

Trong một sinh hoạt gọn nhỏ vào thập niên 1990s ở Washington D.C. mà người viết có tham dự, bà cựu thủ tướng Anh Margaret Thatcher nói rằng, một quốc gia thịnh vượng không phải là một quốc gia có đất rộng, dân đông, tài nguyên phong phú, nhưng là một quốc gia mà mỗi một người dân đều có năng lực.

Nhân tài là nguyên khí của quốc gia, nếu đem nguyên khí đó đi giam cầm rồi dùng làm con tin đổi chác với quốc gia khác để lấy những món lợi nhất thời thì quốc gia đó không thể nào hùng mạnh được.

Mỹ với sức mạnh mềm vô song, với khả năng ‘hấp tinh đại pháp’ thu hút tinh hoa của thế giới đem về phục vụ nước mình, họ đang hấp thụ những tinh hoa Việt Nam vào đất nước của họ, từ sinh viên du học, nhân tài công nghệ cao, những người có tài sản lớn, những người có năng lực xây dựng đất nước v.v…

Trung Quốc chỉ có thể hiếp đáp Việt Nam được khi Việt Nam còn là một nước nghèo, nhưng nếu Việt Nam hùng mạnh như Nhật Bản, Nam Hàn thì họ chỉ muốn buôn bán làm ăn chứ không thể đe dọa chủ quyền.

Hậu quả của việc đem tinh hoa đất nước làm mồi câu tư bản sẽ là gì?

Đầu tiên, nó là một sự chảy máu chất xám. Thứ hai, nó làm cho Việt Nam có khuynh hướng xin – cho và đổi chác bất chánh. Thứ ba, nó làm cho Việt Nam càng ngày càng yếu đi và lệ thuộc nhiều hơn vào nước láng giềng Trung Quốc. Và thứ tư là, nó làm cho việc Trung Quốc đồng hóa Việt Nam dễ dàng hơn.

Nguyên khí của dân tộc từ từ chảy về quốc gia hùng mạnh và làm cạn kiệt sức sống của dân tộc Việt Nam.

Các chế độ độc tài thường muốn ngu dân để dễ cai trị. Nhưng khi làm như vậy thì đất nước sẽ biến thành một trôn ốc xoáy, cuối cùng chế độ bị tiêu diệt và một đất nước lầm than.

Điển hình của cái vòng luẩn quẩn này là Liên Xô trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Nếu Liên Xô để cho người dân có năng lực thì người dân đòi hỏi tự do, bởi vì tự do mới có sáng tạo và có sáng tạo thì năng lực mới được phát huy, cho ra được những cái hay và mới. Những cái mới đó giúp quốc gia tiến lên.

Nhưng nếu không cho người dân có năng lực thì không thể nào chạy đua với Mỹ trên nhiều phương diện, nhất là kinh tế, công nghệ cao v.v…

Cho nên cuối cùng dù Mỹ có thua trận đánh nóng – tức chiến tranh Việt Nam, thì đã thắng cuộc chiến tranh lạnh với Liên Xô.

Nếu ông Tô Lâm chỉ tiếp nối ông Nguyễn Phú Trọng thì ông chỉ là một cái bóng mờ trong lịch sử các đời tổng bí thư của đảng CSVN và khi nó sụp đổ thì nguời dân Việt Nam không còn nhớ tới ông là ai.

Ông chỉ có thể làm nên lịch sử khi ông tạo được một sự hòa giải thật sự với dân tộc Việt Nam và một sự tự chủ tối thiểu với Trung Quốc.

Việc đầu tiên mà ông nên làm là thả các tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm, có những chính sách từ cấp cao nhất – chứ không phải tuyên truyền về đại đoàn kết – về hòa giải dân tộc.

Làm sao để biết mình bị đồng hóa? Thật ra, nó rất giản dị để nhận ra. Khi hệ thống chính trị, hệ thống kinh tế xã hội, cũng như hệ thống văn hóa giáo dục của mình giống y với nước lớn hơn ở cạnh mình thì đó là những dấu hiệu của đồng hóa vì nó được vận hành không khác gì một tỉnh của nước lớn hơn.

May mắn cho Việt Nam là có sự đa dạng về văn hóa, cho nên tuy bị nhiễm màu Hán hóa nhưng cũng còn có cơ hội để giữ sự độc lập tự chủ, nếu lãnh đạo đừng ngu dân, đừng để chảy máu chất xám, đừng đem dân mình ra đổi chác với ngoại bang mà hãy trân quý nhân tài, nguyên khí của quốc gia.


 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Buồn

Viet Ba’o

31/05/2024

Người Việt rất hay buồn. Họ buồn đủ chuyện, đủ thứ, đủ cách, đủ kiểu, đủ loại và buồn dài dài: buồn chồng, buồn vợ, buồn con, buồn chuyện gia đình, buồn chuyện nước non, buồn chuyện tình duyên, buồn trong kỷ niệm, buồn tình đời, buồn nhân tình thế thái, buồn thế sự đảo điên, buồn tàn thu, buồn tàn canh gió lạnh …  Đó là chưa kể những nỗi buồn buồn lãng xẹt: buồn trông con nhện giăng tơ, buồn trông cửa bể chiều hôm, buồn trông nội cỏ rầu rầu, buồn trông con nước mới sa …

Lúc nào và ở đâu dân Việt cũng đều có thể buồn được cả (ngoại ô buồn, thành phố buồn, đô thị buồn) và họ luôn luôn buồn quá mạng, buồn dữ dội, buồn thê thảm, buồn da diết, buồn thảm thiết, buồn tê tái, buồn miên man, buồn mênh mông, buồn man mác, buồn nát tâm tư, buồn rười rượi, buồn nẫu ruột, buồn muốn chết, buồn muốn khóc, buồn thấy mẹ, buồn tận mạng, buồn quá xá, buồn quá trời, buồn thỉu buồn thiu, buồn hết biết luôn …

Nói tóm lại là người Việt buồn muôn thuở, buồn quanh năm, buồn suốt tháng, bất kể ngày đêm: ngày buồn tênh, đêm buồn tỉnh lẻ, khuya phố thị buồn, chiều chủ nhật (cũng) buồn … Toàn là những nỗi buồn ngang, buồn bất chợt, buồn vô cớ, buồn vào hồn không tên, buồn mà không hiểu vì sao mình buồn nhưng họ đều buồn thiệt và buồn lắm lận.

Chỉ có nỗi buồn về mùa màng thời tiết thì dân Việt mới nêu rõ nguyên do và ghi khá rõ – từ lâu – qua những câu lục bát rất nhịp nhàng, và khá điệu đàng:

Buồn về một nỗi tháng giêng
Con chim, cái cú, nằm nghiêng thở dài
Buồn về một nỗi tháng hai
Đêm ngắn, ngày dài, thua thiệt người ta
Buồn về một nỗi tháng ba
Mưa rầu, nắng lửa, người ta lừ đừ
Buồn về một nỗi tháng tư
Con mắt lừ đừ cơm chẳng muốn ăn
Buồn về một nỗi tháng năm
Chửa đặt mình nằm gà gáy, chim kêu

Riêng tôi thì vì đã quá già (có ngủ nghê gì được mấy đâu) nên đêm dài lắm. Nghe tiếng “gà gáy, chim kêu” còn mừng là đằng khác. Bởi thế, tôi chả hề phiền hà gì “về nỗi tháng năm”. Có buồn chăng – chả qua – chỉ vì chút dư âm của tháng tư (thôi) nhưng cứ buồn hoài và buồn quá.

Ngoài chút phiền lòng vì “nắng lửa, lừ đừ, cơm chẳng muốn ăn”, tôi còn buồn lòng không ít vì cả nước chợt ồn ào và náo nhiệt một cách giả tạo và gượng gạo. Khắp nơi bỗng đều đỏ rực một mầu, ngó mà ớn chè đậu:

–         Rực rỡ cờ hoa chào mừng 49 năm Ngày Giải phóng miền Nam

–         Họp mặt kỷ niệm 49 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

–         Treo cờ và khẩu hiệu tuyên truyền kỷ niệm 49 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước

–         Giao lưu văn nghệ chào mừng kỷ niệm 49 năm ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước

–         Triển lãm ảnh kỷ niệm 49 năm ngày giải phóng miền Nam  

–         Sôi nổi hoạt động chào mừng Kỷ niệm 49 năm ngày Giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước   

Thiên hạ, xem ra, không được “sôi nổi” gì cho lắm:

–         Thái Hạo: “Anh em trong nhà, đánh nhau một trận, năm mươi năm sau’ còn ăn mừng chiến thắng. Đó là tiểu khí của người nhỏ nhen”.

–         Nguyên Tống: “Cùng là anh em nòi giống Việt, đánh nhau đến tan cửa nát nhà rồi ăn mừng mãi cái ngày đó thì làm sao mà hoà giải dân tộc được?!”

–         Nguyễn Hữu Vinh: “Quan sát hiện tượng này, người ta có cảm giác rằng đảng giống như một con nghiện. Nhân tố gây nghiện ở đây là bạo lực, là hình ảnh của sự tàn bạo, sự giết chóc để thỏa mãn bản chất bạo lực của Đảng của Giai cấp vô sản chuyên nghề lật đổ và cướp từ chính quyền cho đến lợi ích, tài sản.”

–         Nguyễn Thông: “Kiểu kỷ niệm, diễu hành, phô trương như này, xưa chỉ thấy ở đám phát xít Đức, về sau rõ nhất ở Triều Tiên … Hãy sống với thế giới văn minh chứ đừng mãi man rợ cờ phướn như thế.”

–         Phạm Quang Trung: “Anh em đánh nhau một trận rồi thôi, cười khì…đàng này đã 50 năm rồi mà vẫn tiệc tùng ăn mừng chiến thắng! Vậy là sao ta!?”

Câu hỏi thượng dẫn khiến tôi nhớ đến chuyến viếng thăm tiểu bang Hawaii của TT Nhật bản Shinzo Abe, và bài diễn văn ông đọc vào ngày hôm sau (26 tháng 12 năm 2016) tại Trân Châu Cảng. Xin trích dẫn đôi đoạn, theo bản văn của dịch giả Nguyễn Quốc Vương:

Đấy là nơi tôi đã cúi đầu mặc niệm. Nơi đang khắc tên những người lính đã mất… Mỗi người lính đều có bố có mẹ lo lắng cho mình. Họ cũng có người vợ yêu thương và người yêu. Và có lẽ họ cũng có cả những đứa con mà họ đang háo hức với sự lớn lên từng ngày của chúng.

Tất cả những tâm tư ấy đã bị cắt đứt. Khi nghĩ đến sự thật nghiêm trọng ấy và cảm nhận sâu sắc nó, tôi đã không thể thốt nên lời. Hỡi những linh hồn, xin hãy ngủ yên! Tôi, với tư cách là đại diện cho quốc dân Nhật Bản đã thả hoa xuống biển nơi những người lính đang an nghỉ với cả tấm lòng thành…

Tôi, với tư cách là thủ tướng Nhật Bản, xin được gửi lời chia buồn chân thành mãi mãi tới linh hồn của những người đã bỏ mạng ở mảnh đất này, tới tất cả những người dũng cảm đã bỏ mạng bởi cuộc chiến tranh bắt đầu từ đây và cả linh hồn của vô số người dân vô tội đã trở thành nạn nhân của cuộc chiến tranh.

Tấn thảm kịch của chiến tranh sẽ không bao giờ được lặp lại.Chúng tôi đã thề như thế. Và rồi sau chiến tranh, chúng tôi đã xây dựng nên quốc gia tự do, dân chủ, tôn trọng pháp trị và duy trì lời thề bất chiến một cách chân thành.

Khi chiến tranh kết thúc, lúc Nhật Bản trở thành cánh đồng cháy trụi mênh mông và khổ sở trong tận cùng của nghèo đói, người đã không hề ngần ngại gửi đến thức ăn, quần áo là nước Mĩ và quốc dân Mĩ. Nhờ những tấm áo ấm và sữa mà quý vị gửi đến mà người Nhật đã giữ được sinh mệnh tới tương lai…

Và rồi nước Mĩ cũng đã mở cho Nhật Bản con đường trở lại cộng đồng quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của nước Mĩ, chúng tôi, với tư cách là một thành viên của thế giới tự do đã được hưởng thụ hòa bình và sự phồn vinh.

Tấm lòng khoan dung rộng lớn, sự giúp đỡ và thành ý như thế của quý vị đối với người Nhật chúng tôi, những người đã từng đối đầu quyết liệt như kẻ địch đã khắc sâu trong lòng ông bà, bố mẹ chúng tôi. Cả chúng tôi cũng sẽ ghi nhớ điều đó. Cả con cháu chúng tôi cũng sẽ kể mãi và không thể nào quên…

Đã 75 năm sau trận “Trân Châu cảng”. Nhật Bản và nước Mĩ, những nước đã tham dự cuộc chiến tranh tàn khốc trong lịch sử, đã trở thành hai nước đồng minh gắn bó với nhau mạnh mẽ và sâu sắc hiếm có trong lịch sử…  Thứ gắn kết chúng ta chính là “sức mạnh của hòa giải”, the power of reconciliation, thứ do lòng khoan dung mang lại.

Người Nhật và người Mỹ không đợi đến ngày nay mới quyết định “bỏ đi sự thù hận và nuôi dưỡng tình bạn”. Ngay sau khi Thế Chiến Thứ II vừa chấm dứt, họ (kẻ thắng/người thua) đã nắm tay nhau để tạo nên “sức mạnh của tinh thần hòa giải” và sự “khoan dung” gần trăm năm nay.

Chiến tranh VN cũng đã chấm dứt 49 năm (rồi) nhưng không biết đến bao giờ thì Bên Thắng Cuộc ở đất nước này mới thôi việc đình đám/cờ xí/tiệc tùng ăn mừng chiến thắng, thôi kỳ thị, và thôi kích động hận thù để hòa giải và hòa hợp với Bên Bại Cuộc?

Trương Nhân Tuấn trả lời: “Tôi có thể kết luận (mà không sợ sai lầm) rằng đảng và nhà nước CSVN chưa bao giờ có chủ trương về hòa giải (hay HG&HH DT). Hòa giải-réconciliation” là hành vi chỉ có ở những dân tộc văn minh”.

Nghe thế có buồn không?

Buồn chớ và buồn muốn khóc luôn, buồn như chưa bao giờ buồn thế, buồn như không còn ai có thể buồn hơn được nữa. Buồn từ ngã bẩy, ngã ba buồn về.

Tưởng Năng Tiến


 

Ma Văn Pá- Tưởng Năng Tiến

Ba’o Tieng Dan

Tưởng Năng Tiến

20-9-2024

Ảnh: Ma Văn Bá. Ảnh chụp màn hình

Sau khi dư luận nổi sóng về phát biểu của thiếu niên Chu Ngọc Quang Vinh rằng “tôi coi đảng như một thế lực xấu chỉ biết lừa gạt dân”, tạm lắng, một tuần sau, hôm 7 tháng 9 vừa qua, trên trang Tiếng Dân, nhà văn Phạm Đình Trọng kết luận: “Sự việc cho thấy người dân, nhất là thế hệ trẻ đã có nhận thức sâu sắc về pháp luật, có ý thức về sự có mặt của cá nhân trong cuộc đời, trong xã hội”.

Khẳng định thượng dẫn về “nhận thức sâu sắc của thế hệ trẻ” khiến tôi nhớ đến tình cảnh của một bạn trẻ trẻ khác, Ma Văn Pá (MVP) quê ở Hà Giang. Cách đây hơn 10 năm – vào hôm 9 tháng 10 năm 2013 – thanh niên này cùng với hàng trăm người dân bản địa khác (từ Tây Bắc) đã lặn lội xuống miền xuôi, đến tận vườn hoa Mai Xuân Thưởng để đòi công lý.

Tình cờ có mặt tại hiện trường, FB Trần Thị Cẩm Thanh cho biết: “Người H Mông yêu cầu chính quyền phải điều tra sự thật và truy tố những cán bộ làm sai pháp luật, bồi thường thiệt hại, trả lại những đồ tang lễ, không được phá nhà bảo quản đồ tang lễ để họ trở về với cuộc sống bình an và văn minh… Người H Mông không chấp nhận chính quyền và công an mang dùi cui điện và còng số 8 đến đàn áp, phá nhà tang lễ và đánh đập người dân, nhiều người bị bắt mang đi”.

YouTube player

Sau nhiều ngày sống trong cảnh màn trời chiếu đất, giữa lòng Thủ Đô Của Lương Tâm Nhân Loại, MVP tuyên bố: “Chính quyền từ trung ương đến địa phương đều cùng một duộc… chỉ nói vu vơ ngoài pháp luật… không giải quyết gì, tôi đến chỗ Hà Nội này tôi mới biết được rằng có rất nhiều người dân oan như chúng tôi cũng đang phải gánh chịu những hậu quả mà đảng và nhà nước đã gây cho mọi dân tộc”.

YouTube player

Sau đó không lâu, Việt Báo (phát hành từ California) ái ngại loan tin: “Ông Pá bị cảnh sát giao thông bắt khi đi trên một chiếc xe khách đang chạy gần đến thành phố Hà Giang… Nhưng thay vì đưa ông về trụ sở cảnh sát giao thông để kiểm tra giấy tờ, công an đã đưa ông thẳng vào Công an thành phố Hà Giang để cho những người tự xưng là người của Bộ Công An với tên là Hùng, Thiết và Ngọc thẩm vấn…

Công an Thiết là kẻ tra tấn và dọa giết ông Pá nhiều nhất khi hắn bắt ông ký vào các biên bản và giấy tờ. Để phản đối hành vi tra khảo ông Pá đã hai lần lao mình vào cửa sổ để nhảy lầu và một lần húc đầu vào tường để tự hủy mình nhưng bất thành”.

Rồi sao nữa?

Không biết!

Không ai biết và cũng chả ai quan tâm đến số phận của một thanh niên ở tận miền ngược như MVP cả. Sự việc chỉ được ghi nhận bằng một câu chữ ngắn ngủi trong Báo Cáo Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế Năm 2015: “Hồi tháng 8, cảnh sát và các cán bộ Công an tỉnh Hà Giang đã bắt giữ và thẩm vấn tín đồ Đạo Dương Văn Mình là Ma Văn Pá sau khi anh ta gặp các quan chức của Hoa Kỳ”.

Chấm hết!

Tôi cũng sinh trưởng ở miền núi và ý thức được rất rõ thân phận hẩm hiu của tất cả những sắc dân bản địa nên cũng không dám có ý kiến hay đòi hỏi gì hơn. Tuy thế, đôi lúc, vẫn nghĩ đến tình cảnh của MVP mà không khỏi xót lòng.

Mười năm qua, thỉnh thoảng, tôi vẫn ghé thăm vài cộng đồng người H’Mong đang tị nạn ở ngoại ô Bangkok, và luôn cố dò tìm tin tức về MVP nhưng không nhận được một thông tin nào cả. Liệu em có còn sống không? Nếu còn, em sống ở đâu và sống ra sao? Làm sao có thể yên thân với lực lượng công an, sau khi em đã thản nhiên nói lên một sự thật trần trụi về chế độ toàn trị hiện hành:

“Chính quyền từ trung ương đến địa phương đều cùng một duộc… chỉ nói vu vơ ngoài pháp luật… không giải quyết gì, tôi đến chỗ Hà Nội này tôi mới biết được rằng có rất nhiều người dân oan như chúng tôi cũng đang phải gánh chịu những hậu quả mà đảng và nhà nước đã gây cho mọi dân tộc”.

***

Chu Ngọc Quang Vinh cũng đã viết một câu tương tự (“tôi coi đảng như một thế lực xấu chỉ biết lừa gạt dân”) và đã làm công luận dậy sóng, với tuyệt đại đa số ý kiến bênh vực quan điểm thẳng thắng của em. Xin chỉ ghi lại dăm ba (theo thứ tự alpha) vì nhiều quá:

– Huỳnh Ngọc Chênh: “Cả hệ thống chính trị ra tay vì phát ngôn chân thật của một học sinh.”

– Song Chi: “Nước người ta càng ngày càng đi tới cấp độ văn minh, tiến bộ cao hơn, còn mình thì cứ càng ngày càng lùi về thuở mù quáng, mông muội, dã man…”

– Manh Dang: “Cháu phát biểu vào ngày 2/9, có khác gì Bản Tuyên Ngôn của thế hệ trẻ? Cảm ơn cháu, Chu Ngọc Quang Vinh”.

– Chu Vĩnh Hải: “Dù thế nào thì việc một đám đông những người lớn tuổi trong đó có cả những người có vẻ có học hùng hổ bắt nạt, chửi rủa một cậu bé mười bảy tuổi chỉ vì cậu ấy dám nói ra những suy nghĩ của cá nhân mình vẫn là một việc làm rất đáng xấu hổ”.

– Phan Thúy Hà: “Tại sao mình cảm xúc mạnh với chuyện của cháu bé? Bởi vì, mình đã nghĩ về cái ngày này rất nhiều, mình rất lo, biết là sẽ có lúc xảy ra, và đã xảy ra. Đó là thế hệ các con của chúng ta. Các con đặt chúng ta vào một ca rất khó. Lương tâm làm cha mẹ không thể im lặng. Chúng ta không lẩn tránh được mãi một sự trả lời”.

– Hong Thai Hoang: “Cái tên Chu Ngọc Quang Vinh, mãi quang vinh như tên của con vậy”.

– Hoàng Dạ Lan: “Cách xử lý em Vinh phơi bày bản chất tuyên truyền của hệ thống giáo dục và nỗi lo sợ của chính quyền trước tự do tư tưởng và ý kiến phản biện của người trẻ”.

– Vũ Quốc Ngữ: “Bịt miệng dân thì xã hội chỉ còn những zoombie thôi”.

– Nguyễn Thị Sen: “Chu Ngọc Quang Vinh bị đấu tố vì dám nói thật”.

– Trịnh Kim Tiến: “Ủa thằng nhỏ nói có gì sai hả? Luật nào cho phép công an mời thằng bé lên làm việc? Đảng là đảng mà Tổ quốc là Tổ quốc, mắc gì yêu Tổ quốc phải biết ơn đảng”?

– Nguyên Tống: “Chỉ 1 câu nói của bé con 17 tuổi mà lên đồng tập thể vậy thì có phải là có tật giật mình không nhỉ? Hay sắp sập thật”?!

Doanh nhân Phan Châu Thành còn có đề nghị vô cùng hào sảng và cảm động: “Em Quang Vinh ở Yên Bái nếu muốn làm việc trong một mội trường ở nước ngoài, cạnh tranh công bằng, sòng phẳng với dân Tây thì chỗ mình lúc nào cũng có vị trí xứng đáng cho những người như em.

Ngay cả bây giờ, khi không có bằng cấp cũng chẳng có ý nghĩa gì, mình chưa bao giờ hỏi bằng cấp, chứng chỉ của bất kỳ ai khi tuyển dụng, vì cũng không quan tâm đến. Đủ can đảm để nói thẳng, nói thật, đó là ‘bằng cấp’ đỉnh cao rồi”.

Giá mà mọi người cũng quan tâm đến em MVP y như vậy nhỉ? Được thế thì thân phận của cá nhân em, cũng như vận mệnh của cả dân tộc này – chắc chắn – sẽ đỡ thảm thương và đen tối hơn hiện cảnh. Phân biệt đối xử sắc tộc, vùng miền … không bao giờ mang lại được ơn ích gì cho bất cứ ai, và luôn luôn làm cho cả dân tộc suy yếu, trong khi họ đang cần sức mạnh để đối phó với cả hai thứ giặc: Ngoại xâm và nội xâm!


 

Nhà đấu tranh Trần Huỳnh Duy Thức được thả

Ba’o Nguoi-Viet

September 20, 2024

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Nhà đấu tranh Trần Huỳnh Duy Thức vừa được thả và đang trên đường về Sài Gòn hôm Thứ Sáu, 20 Tháng Chín.

Tin này được đăng trên trang Facebook có tên Trần Huỳnh Duy Thức, do ông Trần Huỳnh Duy Tân, em trai ông Thức quản trị, và có đăng kèm hình ông Trần Văn Huỳnh, thân phụ của ông Thức.

Ông Trần Huỳnh Duy Thức tại phiên tòa sơ thẩm ngày 20 Tháng Giêng, 2010. (Hình: STR/AFP/Getty Images)

Trang Facebook viết như sau: “Anh Thức đang trên đường về lại Saigon!!! Hồi chiều nay 20/09/2024, vợ anh Thức & gia đình được công an khu vực nhà anh Thức ở Tân Bình thông báo là: ‘Anh Thức sẽ được trả tự do và đưa về nơi cư trú.’”

“Tại thời điểm bài này đăng anh Thức đang bay chuyến bay số VN1269, khởi hành 21:55 tối từ Nghệ An, dự tính 00:00 tối sẽ đến Saigon Tân Sơn Nhất. Kính mong mọi người chia sẻ rộng rãi dẫu biết rằng giờ này cũng khá trễ,” bản tin được viết tiếp.

“Lúc này, gia đình đang cùng tề tựu để đón người em, người con về trong vòng tay của chúng tôi, rất mong sự quan tâm của mọi người. Thay mặt anh Thức, gia đình xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến mọi người vì đã dõi theo và đồng hành cùng anh Thức trên hành trình gian khổ gần 16 năm vừa qua. Chúng tôi tin, sự tận tuỵ quan tâm ấy đã tiếp thêm dũng khí và nghị lực cho anh Thức và Gia Đình đi hết chặn đường thử thách một cách tự hào, không tiếc nuối điều gì,” bản tin tiếp.

Bản tin được viết thêm: “Ngoài thông tin mà gia đình được thông báo từ cơ quan công quyền như trên thì chúng tôi cũng chưa có thêm thông tin gì khác. Nếu có thêm thông tin gì, gia đình chúng tôi sẽ cập nhật để mọi người cùng chia sẻ niềm vui này cùng gia đình. (Hi vọng là mọi người sẽ nghe từ chính Anh).”

Trang Facebook Trần Huỳnh Duy Thức thông báo ông được thả kèm theo hình ông Trần Văn Huỳnh, thân phụ ông. (Hình: Facebook Trần Huỳnh Duy Thức)

Bản tin kết luận: “Niềm vui mừng hơn hết là, đến cuối cùng Ba anh cũng đợi được đến ngày đoàn tựu cùng con trai, dù đang có nhiều vấn đề về sức khoẻ. Gia đình đồng kính báo.”

Vào lúc 10 giờ 30 phút sáng Thứ Sáu, giờ California, một đồng nghiệp của nhật báo Người Việt cho biết đã liên lạc được với ông Trần Huỳnh Duy Tân và được xác nhận chuyện ông Thức được thả trong lúc gia đình đang trên đường ra phi trường Tân Sơn Nhất.

Sự kiện này xảy ra một ngày trước khi ông Tô Lâm, tổng bí thư kiêm chủ tịch nước Việt Nam, lên đường đi Mỹ dự họp Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc và có thể gặp Tổng Thống Joe Biden.

Ông Thức bị chính quyền Việt Nam bắt và vu cho tội “trộm cắp cước điện thoại” nhưng sau đó, đổi sang tội danh “hoạt động lật đổ” chế độ độc tài đảng trị tại Việt Nam và bị kết án 16 năm tù vào ngày 20 Tháng Giêng, 2010.

Khi bị bắt, ông Thức là một doanh nhân thành đạt. Từ một cửa hàng nhỏ bán và lắp ráp máy vi tính vào thập niên 1990, đến năm 2000, ông chuyển hướng sang dịch vụ Internet.

Ông Thức còn mở những blog cá nhân như Trần Đông Chấn, Change We Need thông qua “Nhóm Nghiên Cứu Chấn” với các bài viết nghiên cứu, phân tích về tình hình chính trị, kinh tế, thời sự Việt Nam, thúc đẩy cải cách.

Các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế, các chính phủ Hoa Kỳ, Anh, cũng như Liên Âu lên án việc cầm tù ông Trần Huỳnh Duy Thức là “đi ngược lại với Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc” và bản án ông Thức bị áp đặt là “nhạo báng công lý.”

Ông Trần Huỳnh Duy Thức, năm nay 58 tuổi, đã nhiều lần tuyệt thực trong tù từ năm 2016 đến nay. (Đ.D.)


 

Nước Ngập Khắp Nơi ở Miền Trung: Đà Nẵng, Huế, Quảng Bình…

Theo thông tin từ Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, hồi 10 giờ sáng 19.9, vị trí tâm bão số 4 (tên quốc tế là Soulik) ở trên vùng biển Quảng Bình đến Thừa Thiên-Huế. Sức gió mạnh nhất vùng gần tâm bão mạnh cấp 8-9 (62-88 km/giờ), giật cấp 10-11 (89-117 km/giờ); di chuyển theo hướng tây tây nam với tốc độ khoảng 25 km/giờ.

Hôm nay (20/9), mưa lớn còn tiếp tục ở các tỉnh từ Quảng Bình đến Thanh Hoá.

Đêm qua và sáng sớm nay (20/9), khu vực từ Nghệ An đến Bắc Quảng Trị có mưa to đến rất to.

Lượng mưa tính từ 19h ngày 19/9 đến 3h ngày 20/9 có nơi trên 100mm như Hóa Thanh (Quảng Bình) 237.6mm, Hiền Lương (Quảng Trị) 137.6mm, Hương Lâm (Hà Tĩnh) 110.4mm.

Dự báo ngày và đêm nay 20/9, khu vực Nam Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình có mưa to đến rất to với lượng mưa phổ biến 70-150mm, có nơi trên 250mm.

Khu vực Thanh Hóa, Bắc Nghệ An có mưa vừa, mưa to, cục bộ có nơi mưa rất to và dông với lượng mưa phổ biến 40-80mm, cục bộ có nơi trên 150mm.

'Rốn lũ' xã Tân Hóa, huyện Minh Hóa (Quảng Bình) ngập sâu. Ảnh của VNEconomy
Khu vực cầu tràn La La tại Km 1+700 tuyến đường tỉnh 587 (Quảng trị)
Nhà dân ở xã Hồng Bắc (huyện A Lưới), Thừa Thiên
Sạt lở đất, trượt đất khi có mưa lớn kéo dài các xã Thượng Quảng, Thượng Long, Thượng Nhật...Thừa Thiên Huế

Thánh Andrê Kim Taegon & Thánh Paul Chong Hasang và các Bạn tử đạo người Ðại Hàn-Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình nhé. Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Andrê Kim Taegon & Thánh Paul Chong Hasang và các Bạn tử đạo người Ðại Hàn.

Cha Vương

Thứ 6: 20/09/2024

Anrê Kim Taegon là linh mục Ðại Hàn đầu tiên và là con của một người trở lại đạo. Cha của ngài, ông Ignatius Kim, được tử đạo trong thời cấm đạo năm 1839 và được phong thánh năm 1925. Sau khi được rửa tội vào lúc 15 tuổi, Anrê phải trải qua một hành trình dài 1,300 dặm để gia nhập chủng viện ở Macao, Trung Cộng.

Sáu năm sau, ngài xoay sở để trở về quê hương qua ngả Mãn Châu. Cùng năm ấy ngài vượt qua eo biển Hoàng Sa đến Thượng Hải và thụ phong linh mục. Khi trở về quê, ngài có nhiệm vụ thu xếp cho các vị thừa sai vào Ðại Hàn qua ngã đường biển, nhằm tránh né sự kiểm soát biên phòng. Ngài bị bắt, bị tra tấn và sau cùng bị chặt đầu ở sông Han gần thủ đô Hán Thành.

Thánh Phaolô Chong Hasang là một chủng sinh, 45 tuổi. Kitô Giáo được du nhập vào Ðại Hàn khi Nhật xâm lăng quốc gia này vào năm 1592, lúc ấy có một số người Ðại Hàn được rửa tội, có lẽ bởi các binh sĩ Công Giáo người Nhật. Việc truyền giáo rất khó khăn vì Ðại Hàn chủ trương bế quan tỏa cảng, ngoại trừ những hành trình đến Bắc Kinh để trả thuế.

Một trong những chuyến đi này, khoảng năm 1777, sách vở tài liệu Công Giáo của các cha dòng Tên ở Trung Cộng được lén lút đem về để dạy bảo người Kitô Giáo Ðại Hàn. Giáo Hội tại gia bắt đầu thành hình. Khoảng mười năm sau đó, khi một linh mục Trung Hoa lén lút đến Ðại Hàn, ngài thấy có đến 4,000 người Công Giáo mà chưa có ai được gặp một vị linh mục. Bảy năm sau, số người Công Giáo ấy lên đến khoảng 10,000 người. Sau cùng, tự do tôn giáo được ban hành vào năm 1883.

Khi Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đến Nam Hàn ngày 06 tháng 5 năm 1984 để phong thánh, ngoài hai Thánh Anrê Kim Taegon và Phaolô Chong Hasang, còn 98 người Ðại Hàn và ba vị thừa sai người Pháp, tất cả đều tử đạo trong khoảng 1839 và 1867. Trong số 103 Thánh tử đạo có các giám mục và linh mục, số còn lại  là giáo dân: 47 phụ nữ, 45 quý ông.

Trong những người tử đạo năm 1839 là Columba Kim, một phụ nữ 26 tuổi. Ngài bị cầm tù, bị tra tấn bằng vật dụng bằng sắt nung nóng và than. Ngài và người em là Agnes bị lột quần áo và bị giam chung với những tù nhân hình sự, nhưng họ không bị làm nhục. Sau khi Columba phàn nàn về sự sỉ nhục này, từ đó về sau không một phụ nữ nào bị nhục nhã như vậy nữa. Hai người bị chém đầu. Một em trai 13 tuổi, Peter Ryou, bị tra tấn dã man đến độ em có thể lấy da thịt của mình mà ném vào quan toà. Em bị xiết cổ cho đến chết. Protase Chong, một người quý tộc 41 tuổi, sau khi bị tra tấn ông đã chối đạo và được thả tự do. Sau đó, ông  trở lại, tuyên xưng đức tin và bị tra tấn cho đến chết.

LỜI TRÍCH: “Giáo Hội Ðại Hàn thì độc đáo vì được thành lập hoàn toàn bởi giáo dân. Giáo Hội còn non yếu, thật trẻ trung nhưng thật vững mạnh trong đức tin, và đã đứng vững sau những đợt sóng bách hại mãnh liệt. Do đó, chỉ trong vòng một thế kỷ, Giáo Hội đã kiêu hãnh với 10,000 vị tử đạo. Cái chết của các vị tử đạo này trở thành men cho Giáo Hội và đưa đến sự triển nở huy hoàng của Giáo Hội Ðại Hàn ngày nay. Ngay cả bây giờ, tinh thần bất khuất ấy vẫn còn trợ giúp cho người tín hữu của Giáo Hội thầm lặng ở miền bắc bên kia vĩ tuyến” (ÐGH Gioan Phaolô II, bài giảng trong lễ phong thánh).

(Nguồn: Người Tín Hữu Online) 

From: Do Dzung

***********************

Theo Dấu Chân Ngài (Sáng tác: Sr. Trinh Nguyên) – Sr. Hạ Phương 

PHỤ NỮ- Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cùng đi với Ngài, có Nhóm Mười Hai và mấy phụ nữ đã được Ngài trừ quỷ và chữa lành”.

“Trái ngược với phong tục Do Thái đương thời, theo đó, phụ nữ được coi là có địa vị thứ yếu. Chúa Kitô đã đạt được một điều gì đó mà chúng ta có thể gọi là ‘giải phóng phụ nữ!’” – Bênêđictô 16.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cho biết, Chúa Giêsu không lên đường thi hành sứ vụ một mình; đi theo Ngài, còn có Nhóm Mười Hai và mấy ‘phụ nữ’ đã được Ngài chữa lành – và nói như Đức Bênêđictô 16 – ‘được giải phóng!’.

Với Đức Phanxicô, “Không thể phủ nhận, các ‘phụ nữ’ đã đóng góp vào lợi ích chung theo cách riêng của họ. Chúng ta thấy điều này trong Thánh Kinh, nơi ‘phụ nữ’ thường đóng một vai trò quan trọng vào những thời khắc quyết định trong lịch sử cứu độ. Hãy nghĩ đến Sarah, Rêbêcca, Judith, Susanna và Ruth, lên đến đỉnh điểm với Maria và những ‘phụ nữ’ đã đi theo Chúa Giêsu thậm chí đến tận thập giá, nơi – chúng ta đừng quên – người đàn ông duy nhất còn lại là Gioan, đang khi những người khác đều đã bỏ trốn. Chỉ những người can đảm mới dám ở lại, và họ là ‘phụ nữ!’. Sau đó, trong lịch sử của Giáo Hội, chúng ta có thể nghĩ đến những ‘phụ nữ’ như Catarina Siêna, Joséphine Bakhita, Edith Stein, Têrêxa Calcutta!”.

“Và chúng ta cũng có thể nghĩ đến “những người phụ nữ hàng xóm”, những liệt nữ anh hùng chịu đựng những cuộc hôn nhân khó khăn, những đứa con có vấn đề… đó là những con người mạnh mẽ sống chủ nghĩa anh hùng của phụ nữ. Ngoài những khuôn mẫu của một thể loại tiểu sử của một số thánh nữ, tất cả ‘phụ nữ’ này đều có quyết tâm, lòng dũng cảm, lòng chung thủy ấn tượng, đáng chú ý vì khả năng kiên trì, cả trong đau khổ, để truyền đạt niềm vui, sự chính trực, sự khiêm nhường và quyết tâm vững chắc!”.

“Lịch sử của chúng ta đầy dẫy những ‘phụ nữ’ như thế, dù nổi tiếng hay vô danh – mặc dù không phải với Chúa! – họ đã truyền cảm hứng và duy trì hành trình của các gia đình, xã hội và Giáo Hội. Đó là lý do tại sao các Nghị phụ Công Đồng Vaticanô II đã viết, “Vào thời điểm này, khi nhân loại đang trải qua những thay đổi sâu sắc như vậy, ‘phụ nữ’ có thể giúp nhân loại thoát khỏi sự thoái hoá rất nhiều!”.

Anh Chị em,

“Cùng đi với Chúa Giêsu, có Nhóm Mười Hai và mấy phụ nữ”. Đây là nhận xét của chỉ một mình Luca. Ước muốn đi theo Chúa Giêsu không chỉ là một cảm xúc; đúng hơn, đó là một cảm nhận biết ơn đáng kinh ngạc và kết quả là, một ‘tương quan mới’ được tạo ra bởi quà tặng ân sủng và cứu rỗi. Ân sủng đã biến đổi cuộc sống họ; và họ sẵn sàng và sẵn lòng biến Chúa Giêsu thành trung tâm đời mình. Họ hỗ trợ sứ vụ của Ngài bằng cách cung cấp vật chất cho công cuộc truyền giáo. Họ sẽ còn được Luca nhắc đến khi từ đồi Canvê, theo dõi tất cả những gì diễn ra chung quanh cái chết của Thầy. Họ thấy ngôi mộ và cách thi hài Ngài được đặt; sau đó, đến mồ ngày thứ nhất trong tuần, họ đã gặp Chúa Phục Sinh. Họ trở nên mẫu mực về sự cởi mở trước ân sủng, về sự sẵn sàng cho đi một cách hào phóng và về lòng yêu mến Đấng họ đã đi theo!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin trả công bội hậu cho những liệt nữ quảng đại – được biết đến hay vô danh – đã cống hiến cho xã hội và Giáo Hội; cách riêng cho sứ vụ của con!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

***************************

Thứ Sáu Tuần XXIV, Mùa Thường Niên, Năm Chẵn

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

1 Khi ấy, Đức Giê-su rảo qua các thành phố, làng mạc, rao giảng và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Cùng đi với Người, có Nhóm Mười Hai 2 và mấy người phụ nữ đã được Người trừ quỷ và chữa bệnh. Đó là bà Ma-ri-a gọi là Ma-ri-a Mác-đa-la, người đã được giải thoát khỏi bảy quỷ, 3 bà Gio-an-na, vợ ông Khu-da quản lý của vua Hê-rô-đê, bà Su-san-na và nhiều bà khác nữa. Các bà này đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giê-su và các môn đệ.


 

HÀNH ĐỘNG TỬ TẾ CỦA MỘT NGƯỜI ĐÀN ÔNG KHIẾN CẢ NƯỚC MỸ CẢM ĐỘNG…TRUYEN NGAN HAY

Đây là một câu chuyện có thật xảy ra ở Hoa Kỳ. Câu chuyện được lan truyền trên Internet này nói với mọi người rằng: Thiên lý thiện ác hữu báo đối với bất cứ ai đều có tác dụng, thuận theo thiên lý chính là phúc báo. Dưới đây là câu chuyện của Seine Marne.

Đó là một buổi tối đầu xuân tháng hai, trên trời có chút mưa tuyết lất phất, Seine Marne đang lái chiếc xe Ford từ Portland đến Sheridan để ký hợp đồng đặt hàng. Hợp đồng này rất quan trọng, nó gần như quyết định số phận của công ty ông, là kết quả của hơn ba tháng đàm phán gian khổ.

Seine Marne vô cùng vui vẻ, ngâm nga một giai điệu trên suốt quãng đường. Trên đường không có nhiều xe, đèn xanh nên ông lái xe rất nhanh. Khi đến nơi hẹn, lúc dừng xe, ông dường như nhìn thấy điều gì đó qua ánh đèn? Seine Mane cúi xuống nhìn kỹ hơn và phát hiện có gì đó kỳ lạ ở bánh trước bên phải. Khi đến gần, ông ngửi thấy mùi máu tanh nồng nặc. Khi ông chạm vào nó, nó thực sự là máu! Seine Marne giật mình, đột nhiên trở nên căng thẳng, chẳng lẽ ông đã tông vào ai đó khi đang lái xe với tốc độ cao? Ông cố gắng nhớ lại nhưng dường như không có ấn tượng gì về việc chiếc xe tông vào vật thể nào. Nhưng vết máu trên bánh xe là có thật!

Nhưng Seine Marne, giữa sự giàu có sắp đến gần và vụ tai nạn xe hơi, ông gần như không hề do dự, nếu không nhanh chóng quay ngược lại để tìm người có thể đã bị mình làm bị thương thì hậu quả sẽ khủng khiếp biết bao! Có lẽ mạng sống của họ còn có thể cứu được? Dựa theo lương tâm của mình, ông lập tức lên xe, nổ máy, quay đầu xe và quan sát kỹ con đường mình đã đi.
Lúc này, đối tác kinh doanh đang chờ ký hợp đồng đã gọi điện hỏi ông tại sao không để ý đến thời gian? Họ thúc giục ông nhanh lên! Seine Marne giải thích rằng ông ấy đang vội và sẽ đến đó ngay, đồng thời cầu xin sự tha thứ của họ. Đối tác kinh doanh đang đợi ở đó rất tức giận và hét lên: “Cút đi, đồ không đúng giờ!” rồi cúp điện thoại.

Seine Marne sững sờ, đó là một hợp đồng trị giá 3 triệu đô la Mỹ! Ông thật muốn chạy tới, bản hợp đồng này có ý nghĩa sống còn với ông! Có lẽ số phận của cuộc đời ông sẽ được thay đổi, bởi bản hợp đồng này! Tuy nhiên, ông vẫn lái xe đi tiếp. Trong mắt ông dường như nhìn thấy người bị thương đang nằm trên vũng máu, rên rỉ đau đớn, mạng sống của họ đang bị đe dọa.

Trong đêm sương mù, Seine Marne vừa lái xe vừa nhìn dọc đường. Cuối cùng đi gần nửa đường, ông nhìn thấy bóng một người nằm ở đó! Ông nhanh chóng đỗ xe rồi bước ra ngoài. Một cô bé mười ba, mười bốn tuổi đang nằm bất tỉnh trên đường. Cô bé bị thương ở đầu và máu chảy rất nhiều. Seine Marne bế bé gái lên và đưa bé đến bệnh viện. Sau khi được giải cứu, cháu bé tạm thời thoát khỏi cơn nguy kịch nhưng vẫn bất tỉnh.

Cảnh sát đã liên lạc với cha mẹ của cô bé, cặp vợ chồng vô cùng yêu thương con gái đã gầm lên và đánh Seine Marne. Seine Marne không bào chữa và âm thầm chịu đựng trong nước mắt. Ông nghĩ rằng nếu mình là cha mẹ của đứa trẻ, ông cũng sẽ đấm đá hung thủ! Ông bị đánh đến mức mũi bầm tím, mặt sưng vù, nhổ ra hai chiếc răng đầy máu. Khi về nhà, gia đình nói ông thật ngu ngốc, vì không có bằng chứng chứng minh ông là hung thủ nên tại sao ông phải làm vậy? Tại sao lại nhận trách nhiệm về mình?

Seine Marne không giải thích nhiều, ông gác lại công việc kinh doanh trong tay, hàng ngày hộ tống bé gái bị thương tên Catherine đến bệnh viện, đồng thời thanh toán mọi chi phí y tế kịp thời. Catherine hôn mê trong 26 ngày và Seine Marne đã bảo vệ cô bé trong 26 ngày, tiêu tốn 38.000 USD chi phí y tế.
May mắn thay, đến ngày thứ 27, Catherine cuối cùng cũng tỉnh dậy và nói cho mọi người biết sự thật: Vào ngày xảy ra sự việc, cô bé đang mang tập hồ sơ tranh về vùng quê để phác họa, trên đường về, cô nhớ rất rõ mình bị một chiếc xe máy màu đỏ đang chạy rất nhanh đụng ngã!

Cảnh sát đã ghi lại lời kể của cô và gọi đến video giám sát trên đường phố ngày hôm đó, từ video giám sát họ xác nhận được lời kể của cô bé và đã tìm ra chủ nhân của chiếc xe máy màu đỏ gây tai nạn! Vết máu trên bánh xe Seine Marne chỉ là vết máu nhỏ giọt trên mặt đất khi Catherine bị xe máy tông.

Sự tình trở nên rõ ràng. Cha mẹ cô gái ôm ông khóc, ông không phải người gây tai nạn, mà là ân nhân cứu mạng của cô gái này! Nếu như không phải ông ấy quay lại kịp thời, đưa cô gái đến phòng cấp cứu của bệnh viện thì có lẽ cô gái đáng yêu này đã sớm không còn!

Câu chuyện của ông đã khiến cả nước Mỹ cảm động, và vận mệnh của ông cũng vì thế mà thay đổi. Những hợp đồng kinh doanh đến như mưa tuyết, khiến ông choáng ngợp. Mọi người đều tin rằng đồng hành cùng một doanh nhân như vậy sẽ dẫn đến thiên đường!

Trong cuộc phỏng vấn với đài truyền hình địa phương, câu trả lời của Seine Marne với phóng viên rất đơn giản: “Lúc đó, tôi chỉ nghĩ nếu không quay lại kiểm tra thì tôi sẽ không bao giờ cảm thấy thoải mái trong cuộc đời. Tôi làm điều này chỉ để thỏa mãn lương tâm của mình, tôi không có quyền lựa chọn giữa sinh mạng của người khác và lợi ích kinh doanh”.

Theo: Triệu Tử Hinh
Nguyên Anh biên dịch

From:  Ngoc Bich & KimBang Nguyen


 

BỨC THƯ QUÁ HAY-Tôn Vận Tuyền

Tôn Vận Tuyền (孫運璿, Sun Yun-Suan, 10/11/1913 – 15/2 /2006), một nhà kinh tế, một chính trị gia Đài Loan. Ông là Bộ trưởng Bộ Kinh tế từ năm 1969 đến 1978, sau đó được bầu làm Thủ tướng Đài Loan (Premier of the Republic of China) từ năm 1978 đến 1984. Ngày 24 tháng hai năm 1984 ông bị đột quỵ do xuất huyết não và sau khi phục hồi chỉ có thể ngồi trên xe lăn. Tháng 2 năm 2006, ông qua đời tại Đài Bắc, hưởng thọ 92 tuổi. Ngoài các trước tác về Kinh tế, Chính trị, tôi quan tâm đến một bức thư ông để lại cho các con của ông.

Một bức thư giản dị nhưng thật chân tình và sâu sắc. Tôi (GS Nguyễn lân Dũng – NV) xin phép được giới thiệu lại cùng các bạn bức thư này:

KIẾP SAU (NẾU CÓ) DÙ THƯƠNG HAY KHÔNG THƯƠNG, CŨNG KHÔNG CÒN DỊP GẶP LẠI NHAU ĐÂU “…. Tôn Vận Tuyền đã để lại những lời căn dặn như sau: Các con thân mến, Viết những điều căn dặn này, cha dựa trên 3 nguyên tắc như sau:

Đời sống là vô thường, không ai biết trước mình sống được bao lâu, có những việc cần, nếu được nói ra sớm để hiểu thì hay hơn.


Cha là Cha của các con, nếu không nói ra thì chắc không ai nói rõ với các con những việc này đâu!


Những điều căn dặn để ghi nhớ này là kết quả của bao kinh nghiệm xương máu, thất bại đắng cay trong cuộc đời của chính bản thân mà Cha ghi nhận được, Nó sẽ giúp các con tránh những nhầm lẫn hoang phí trên con đường trưởng thành của các con.


Dưới đây là những điều nên ghi nhớ trong cuộc đời:


1. Nếu có người đối xử với con không tốt, đừng thèm để tâm cho mất thời giờ. Trong cuộc đời nầy, không ai có bổn phận phải đôi xử tốt với con cả, ngoại trừ cha và mẹ của các con. Nếu có người đối xử tốt với con, ngoài việc các con phải biết ơn, trân quý, các con cũng nên thận trọng một chút, vì người đời thường làm việc gì cũng có mục đích của nó, chớ có vội vàng cho là bạn tốt của mình ngay.


2. Không có người nào mà không thể thay thế  hay tồn tại mãi với mình được cả; không có vật gì mà nhất thiết phải sở hữu, bám chặt lấy nó. Nếu hiểu rõ được nguyên lý nầy, thì sau nầy trong cuộc đời, lỡ người bạn đời không còn muốn cùng đi trọn cuộc đời, hay vì lý do gì con bị mất đi những gì trân quý nhất trong đời con, thì cũng nên hiểu: đó cũng không phải là chuyện trời sập.


3. Đời người ngắn ngủi, nếu hôm nay ta để lãng phi thời gian, mai đây hiểu được thì thấy rằng quãng đời đó đã vĩnh viễn mất rồi!. Cho nên, nếu ta càng trân biết quý sinh mạng của mình càng sớm, thì ta được tận hưởng cuộc đời mình càng nhiều hơn. Trông mong được sống trường thọ, chi bằng mình cứ tận hưởng cuộc đời mình ngay từ bây giờ.


4. Trên đời nầy chẳng hề có chuyện yêu thương bất diệt. Aí tình chẳng qua là một cảm xúc nhất thời, cảm giác nầy tuyệt đối sẽ theo thời gian, hoàn cảnh mà biến thiên, thay đổi. Nếu người yêu bất diệt rời bỏ con rồi, hãy chịu khó nhẫn nại một chút, để thời gian dần dần trôi qua, để tâm tư mình từ từ lắng đọng, cái đau khổ cũng sẽ từ từ nhạt nhòa đi. Không nên cứ ôm ấp cái ảo ảnh yêu thương mãi, cũng không nên quá bi luy vì thất tình.


5. Tuy có nhiều người trên thế giới này thành công, nổi tiếng mà chẳng có học hành nhiều, chẳng có bằng cấp cao, nhưng điều đó cũng không có nghĩa là không cần học hành nhiều sẽ thành công. Kiến thức đạt được do việc học hành, giáo dục là vũ khi trong tay của mình. Ta có thể lập nên sự nghiệp với bàn tay trắng, nhưng không thể trong tay không có tấc sắt. Nên nhớ kỹ điều nầy!


6. Cha không yêu cầu các con phải phụng dưỡng cha trong nửa quãng đời còn lại của cha sau nầy. Ngược lại, cha cũng không thể bao bọc nữa quãng đời sau này của các con. Lúc các con đã trưởng thành, độc lập, đó cũng là lúc cha đã làm tròn thiên chức của mình. Sau nầy các con có đi xe Bus công cộng hay đi Auto nhà, các con ăn soup vi cá hay ăn mi gói, đều là trách nhiệm của các con.


7. Các con có thể yêu cầu mình phải giữ chữ TÍN, nhưng không thể bắt người khác phải giữ chữ TÍN với mình. Các con có thể yêu cầu mình phải đối xử TỐT với người khác, nhưng không thể kỳ vọng người khác phải đối xử TỐT với mình. Mình đối xử người ta thế nào, không có nghiã là nguời ta sẽ đối xử lại mình như thế, nếu không hiểu rõ được điều nầy, sẽ tự chuốc lấy buồn phiền cho mình.


8. Trong mười mấy, hai mươi năm nay, có người tuần nào cũng mua vé số, nhưng vẫn nghèo trắng tay, điều nầy chứng minh: muốn phát đạt, phải siêng năng làm ăn mới khá được. Trên thế gian nầy không có cái gì là miễn phí cả.


9. Sum họp gia đình, thân thích đều là duyên phận, bất luận trong kiếp nầy chúng ta sống chung với nhau được bao lâu, như thế nào, nên trân trọng và hãy qúy khoảng thời gian chúng ta được chung sống với nhau, kiếp sau (nếu có), dù ta có thuơng hay không thương, cũng không có dịp gặp lại nhau đâu.

From:   Ngoc Bich & KimBang Nguyen


 

Sự trở lại của Văn học đô thị miền Nam- Tuấn Khanh/SGN

Ba’o Nguoi-Viet

September 19, 2024

Tuấn Khanh/SGN

Thời gian trước, tôi thật may mắn được chứng kiến buổi ngỏ ý của một nhà xuất bản, muốn tái bản lại cuốn “Vòng tay học trò” của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng, một cây viết quen thuộc của độc giả miền Nam Việt Nam trước năm 1975.

Với Nguyễn Thị Hoàng, bà rõ là điểm sáng đáng quý trên bầu trời lấp lánh của văn chương tự do miền Nam Việt Nam trước năm 1975.

Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng, một trong những danh sĩ của miền Nam được cho phép tái bản gần đây (Hình: TK)

Văn chương miền Nam nói chung, thời gian gần đây dần dần được tái bản lại nhiều ở trong nước, trong con mắt nhìn kiểm duyệt ít vằn vện nghi ngờ hơn. Rồi thoáng thấy trên Facebook, báo điện tử… những lời chia sẻ với nhà văn Nguyễn Thị Hoàng về cuốn sách “Vòng tay học trò” được tái bản, cùng sự hào hứng của những người giới thiệu, quen gọi tên là tác phẩm thuộc “dòng văn học đô thị miền Nam.”

Nhưng nghe mà sao đột nhiên thấy chạnh lòng. Nghe “đô thị” có vẻ như co cụm và không thuộc về nhân dân, không thuộc về một thời, một đời. Nói như nhà văn Nguyễn Hưng Quốc, nói văn chương “đô thị” miền Nam, thì không sai nhưng thừa. Bởi sự nhấn nhá riêng “đô thị” của miệng lưỡi tuyên truyền là thừa ác ý. Có nơi còn gọi là sự “trở lại” – sự trở lại của “văn chương đô thị miền Nam.” Cụm từ giới thiệu này thường được thấy khi có một tác phẩm của miền Nam trước 1975 được in lại.

Thế nhưng văn chương miền Nam đi đâu mà trở lại?

Toàn bộ chữ nghĩa đã được hình thành, nuôi dưỡng và tồn tại suốt trong hai nền cộng hòa ở miền Nam Việt Nam chỉ có một hành trình duy nhất là đi xuyên qua sự thù hận, bước qua chà đạp và hủy diệt… mà dù có đau đớn hay rách nát thế nào, nền văn chương (hay nền văn hóa Cộng hòa miền Nam Việt Nam nói chung) vẫn tiếp tục tồn tại trong một thời đại mới, và vẫn tỏa sáng với những tư tưởng tự do không kiểm duyệt.

Văn chương miền Nam Việt Nam, tự nó cũng giống như số phận của ông Khai Trí, một người ước mơ đem sách và chữ đến cho dân tộc mình, rồi chính quyền mới, nói tiếng Việt, tịch thu. Gia sản tri thức bị đốt và bản thân ông cũng bị cầm tù. Nhưng câu chuyện Khai Trí và những ấn phẩm của ông vẫn tiếp tục lưu truyền một cách im lặng trong lòng người dân Việt Nam, mà có những giai đoạn phải thầm kín và gìn giữ trong nơm nớp sợ hãi không khác gì những tờ truyền đơn của người Do Thái trong thời Phát xít Đức.

Gần nửa thế kỷ, suốt thời thống nhất địa lý, văn chương miền Nam Việt Nam (chứ cũng không phải là đô-thị-miền-Nam), trở thành một di sản quý được tìm mua với những giá ngày càng đắt. Hãy thử nghĩ xem, vì sao một tổng tập của nhà thơ Tố Hữu có thể được in ấn tuyệt đẹp, trợ giá bán rẻ vẫn không có sức thu hút bằng một tập thơ mỏng, cũ rách của Nguyên Sa hay Thanh Tâm Tuyền?

“Văn học đô thị miền Nam” – cách gọi bị ám ảnh từ lối tuyên truyền văn hóa của chính quyền mới sau năm 1975 cho đến nay – vẫn ngầm chứa trong đó như một sự khinh thị, chỉ để góp vào cái nhìn toàn cảnh cố không công nhận miền Nam Việt Nam là một chính thể.

Rất nhiều những tham luận, những nghiên cứu, và cả cuốn sách dày cộp của tác giả Trần Trọng Đăng Đàn “Văn hóa văn nghệ Việt Nam từ 54 đến 75” đều coi văn chương miền Nam là một thứ hỗn độn hình thành từ sự phồn vinh giả tạo của Mỹ-Ngụy.

Báo Nhân Dân số ra ngày 13-9-2016, với bài viết “Ứng xử với văn học miền Nam trước năm 1975” của tác giả Hạnh Nguyễn, còn nói với giọng trịch thượng rằng “bằng sự gạn đục khơi trong, chính quyền cách mạng đã cho phép lưu hành 1067 cuốn sách tiếng Việt, 562 cuốn sách tiếng Anh, 359 cuốn từ điển bằng tiếng nước ngoài.”

Sự cho phép nó chỉ là một giả định trên đời sống thật. Không có phép thì suốt vài thập niên nay, người miền Nam vẫn ca hát những bài hát không được duyệt, thậm chí còn làm cho nó lan ra đến cả nước. Sách vở không được in, không có phép thì vẫn được chuyền tay nhau, và vẫn được thế hệ mới ngày hôm nay tìm đọc với một sự kinh ngạc về khung trời tự do trong tư tưởng. Cho phép và không cho phép, chỉ là màn trình diễn giả định về luật pháp giữa người dân và chính quyền, nghiễm nhiên tồn tại suốt bấy lâu nay.

Vì vậy, cách nói rằng văn chương đô thị miền Nam “trở lại”, khi có dăm ba cuốn sách cũ tái bản, có vẻ khiên cưỡng trong sự thật lịch sử của một di sản văn hóa vĩ đại của Việt Nam Cộng Hòa.

Trong sự kiểm duyệt chặt chẽ, một số sách vở của miền Nam VNCH dần được tái bản vì giá trị không thể phủ nhận được (Hình: Facebook)

Nói “trở lại” là giả tạo trong việc mô tả một chính quyền đủ tốt để dung nhận tất cả. Giả tạo như tất cả mọi thứ trong cuộc sống đang là một vòng quay đẹp đẽ theo tự nhiên, nhưng lờ hẳn phần xin lỗi về một giai đoạn mà những nhà văn, nhà thơ miền Nam đã từng bị tù đày, và tác phẩm của họ thì bị đấu tố như kẻ thù của dân tộc.

Trong tiểu luận “Văn học Miền Nam 1954-1975: những Khuynh hướng chủ yếu và thành tựu hiện đại hóa” của giáo sư, tiến sĩ Huỳnh Như Phương, mô tả về căn nguyên quan trọng ra đời của nền văn hóa văn nghệ Miền Nam Việt Nam là bởi “nhờ đồng lương và các khoản thu nhập khác, nên một bộ phận công chức và giới trung lưu có thể chi tiêu những khoản tiền vào việc mua sắm theo ý muốn, ngoài các nhu cầu thiết yếu hằng ngày. Chính đây là tiền đề dẫn đến sự hình thành một thị trường văn nghệ ở miền Nam những năm 1954-1975.”

Có vẻ sự căn bản hình thành của văn chương miền Nam Việt Nam thực dụng và không được cao quý, theo cách mô tả của tất cả những ngôn luận nhận định từ bên thắng cuộc. Nhưng lại không hiểu vì sao hàng chục năm xây dựng xã hội chủ nghĩa, với những thành tựu xuất chúng, như trên báo chí vẫn nói, xã hội cách mạng hôm nay vẫn reo mừng khi những thứ bị chà đạp ấy quay “trở lại,” như “Vòng tay học trò” của nữ sĩ Nguyễn Thị Hoàng, và của nhiều trí thức miền Nam khác, từng bị phủ nhận.


 

Vì sao vùng cao ngập mưa, vùng trũng ngập triều?

Ba’o Tieng Dan

Mai Bá Kiếm

19-9-2024

Đọc tin mưa ngập ở TP.HCM sáng 18/9, tuy thời sự nhưng rất cũ, có vài chi tiết mới: Công ty Thoát nước đô thị cử nhiều nhân viên đặt cảnh báo, chỉ dẫn người dân chọn đường ngập thấp; điều xe bồn đến hút nước trên đường Nguyễn Văn Khối (Gò Vấp) để giảm ngập. Do phóng viên dốt, không biết xe bồn màu vàng là xe hút cống bị nghẹt, và một xe có bồn năm khối không thể hút hết nước trên đường Nguyễn Văn Khối được!

Báo trích dẫn “tổng kết” của Sở Xây dựng: Thành phố có 13 tuyến trục chính ngập do MƯA (ở Gò Vấp, Thủ Đức, Q.12, TP.HCM) và năm tuyến trục chính ngập do TRIỀU CƯỜNG (Bình Chánh, Nhà Bè, Q.7). Sở không nói nguyên nhân gây ngập mưa và ngập triều, chỉ hứa nạo vét cải tạo kênh Hàng Bàng, kênh Tham Lương – Bến Cát – Rạch Nước Lên. Người dân không biết vì sao vùng đất gò cao (Gò Vấp, Thủ Đức) bị ngập sau mưa rất lâu (24 tiếng) và vùng đất thấp (Bình Chánh, Nhà Bè) ngập do triều cường 2-3 tiếng?

Nói thẳng ra, do “đô thị hóa tham lam ngu dốt”! Ngày xưa, Thủ Đức, Gò Vấp là đất gò trồng rẫy, nước mưa ngấm xuống đất và chảy trên bề mặt tùy theo lưu vực đổ ra kênh, mương. Khi cấp phép xây dựng, Sở Xây dựng không xét code nền có cản trở nước mưa thoát trên bề mặt không? Sở cho mật độ xây dựng, nhưng không kiểm tra phần diện tích không được xây phải để trống cho nước mưa ngấm xuống đất.

Tất cả cao ốc, chung cư, nhà phân lô đều tráng xi măng phần đất không được xây, chỉ chừa vài lõm đất trồng cây và hoa. Nước mưa chỉ còn cách thoát trên bề mặt nhưng bị cản bởi code sân cao hơn mặt đất. Khốn nạn nhất là việc cho phép các dự án Bất động sản san lấp cống hở, mương hở để thoát nước (ở Gò Vấp, Tân Bình, Thủ Đức…) rồi thay bằng cống hộp. Mặc dù, đứa con nít cũng biết lưu lượng nước mưa chảy xuống cống, mương hở, nhiều gấp 100 lần lượng nước gom vào miệng hố ga (hố cách nhau 20m, còn bị bịt bằng lưới rác).

Hồi xưa ở Tân Sơn Nhứt, nên tôi biết 1.530ha đất phi trường và vùng đệm xung quanh (Tân Bình, Gò Vấp, Hóc Môn) đều xài mương, cống hở. Ở phía nam, mương hở từ Sư đoàn Dù chảy qua trường Quốc gia nghĩa tử, đổ ra cây cầu (nay lấp bít xây Bệnh viện đa khoa Tân Bình) chảy vô kênh Nhiêu Lộc. Cống hở từ cổng Phi Long chảy ra trước cổng Bệnh viện 3 dã chiến Hoa Kỳ (nay là Bệnh viện phụ sản). Mương hở phía Bắc Tân Sơn Nhất dẫn ra kênh Hy Vọng dài 1,2km đổ vào Tham Lương. Mương hở phía Đông Tân Sơn Nhất, đổ ra Gò Vấp.

Sau năm 1975, lần lượt các mương hở xung quanh Tân Sơn Nhất bị lấp thành cống hộp, các hồ trữ nước (trong trại Hoàng Hoa Thám) bị lấp, xây Khu dân cư Cộng Hòa, Hoàng Hoa Thám. Chưa kể, tất cả kênh trong nội thành bị lấn chiếm, thu hẹp, nhiều đoạn kênh bị lấp đặt cống vì lý do hôi thúi, như kênh Hy Vọng, kênh Hàng Bàng (từ Lò Gốm đến Bình Tiên).

Nếu Sở chỉ nạo vét các kênh mương, mà không tháo dỡ bê tông phần đất không được xây dựng, hạ các code nền cản dòng chảy bề mặt, không phục hồi ao chứa nước trong Hoàng Hoa Thám, hồ Kỳ Hòa, Radar Phú Lâm, Bàu Cát… thì hệ thống cống hộp không đủ thể tích để thoát nước.

Bởi vậy, mới có các bài báo đặt tựa mỉa mai “Gò Vấp, Thủ Đức: Nâng đường cao mấy vẫn không hết ngập”; “Nhiều đường ở TP Thủ Đức ngập nước 24 tiếng chưa rút”.

Trước năm 1975, Nhà Bè, Bình Chánh là vùng ruộng bán ngập (nước lớn ruộng ngập 40-50cm, nước ròng mặt ruộng cao hơn mặt nước 1-2m). Ngày nay, do san lấp ruộng xây nhà, nước không tràn đồng được, mực nước lớn trên dòng sông cao lên, nên Nhà Bè, Bình Chánh chuyển từ “RUỘNG BÁN NGẬP” thành “ĐƯỜNG BÁN NGẬP!