Công lý

Công lý

Huy Đức

Dự thảo Luật Tố tụng Hình sự đang được thảo luận tại Quốc hội (tháng 5-2015) đã “tiếp thu” được vài nguyên tắc mà “loài người tiến bộ” đã từng áp dụng từ hàng trăm năm qua. Các đại biểu Quốc hội cũng bắt đầu nhận ra, cho dù nhu cầu chống tội phạm lớn tới đâu cũng không thể chấp nhận oan sai. Tuy nhiên, nếu không nhận thấy nguyên nhân sâu xa của oan sai thì không những không thể thiết kế một nền tư pháp có thể mang lại công lý mà trong vai trò chống tội phạm, nó còn có thể trở thành công cụ của từng băng nhóm.

Dân Trí hay Quan Trí

Không ngạc nhiên khi các tướng công an không ủng hộ quyền im lặng của bị can. Quyền ấy chắc chắn sẽ làm khó hơn cho tiến trình điều tra. Chỉ ngạc nhiên, sao các tướng – những người thực thi – lại được đặt ngồi trong cơ quan lập pháp.

Quyền không khai những điều có thể trở thành bằng chứng chống lại mình khi chưa có luật sư được người Mỹ đưa vào Hiến pháp năm 1789 (Tu chính án thứ Năm). Tướng Trịnh Xuyên cho rằng áp dụng nguyên tắc này sẽ không phù hợp với dân trí nước ta. Nói như thế thật là xúc phạm người dân Việt Nam, không lẽ sau 70 năm xây dựng CNXH, dân trí nước ta lại thua dân trí Mỹ 226 năm về trước.

Nếu Quốc hội đã “học Mỹ” khi đưa “quyền im lặng” vào luật Việt Nam chỉ xin quý vị hiểu lại cho rõ nguyên lý “nhà nước của dân”. Năm 2006, khi Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An đến thăm nơi tưởng niệm Tổng thống Abraham Lincoln, tôi thấy ông đứng rất lâu trước câu nói của Lincoln: “Nhà nước của dân, do dân và vì dân”. Những nhà cách mạng Mỹ không chỉ là tác giả của câu nói này mà còn đã thể chế hóa thành công nguyên tắc này.

Khi giành được độc lập, khi đã cầm quyền thay vì quay lưng với nhân dân như nhiều nhà cách mạng khác, vị Tổng thống thứ Nhất của họ, ngay trong năm đầu cầm quyền, đã đưa vào Hiến pháp 10 tu chính án ngăn chặn Quốc hội ra các đạo luật ngăn cản các quyền tự do quan trọng nhất của người dân.

Các đại biểu đến từ phía Nam – hai Luật sư Trương Trọng Nghĩa và Trần Du Lịch – đã tranh luận khá thẳng thắn với các tướng công an. Nhưng rất tiếc chưa thấy hai ông chỉ ra hai nguyên tắc cơ bản để bảo vệ quyền im lặng: Nguyên tắc suy đoán vô tội và nguyên tắc một người không thể bị coi là có tội khi chưa có một bản án có hiệu lực của tòa. Vì không coi trọng hai nguyên tắc này mà nhiều người dân chỉ cần bị dân phòng bắt đã bị đối xử như tội phạm.

Camera & Nhục Hình

Nhiều đại biểu Quốc hội đưa ra sáng kiến dùng camera đặt trong phòng hỏi cung để ngăn chặn điều tra viên sử dụng nhục hình. Camera liệu có tác dụng không khi “phòng hỏi cung” nằm trong tay cơ quan điều tra? Các vị nghĩ rằng các điều tra viên sẽ bật nó lên cho quý vị xem cách họ làm cho những người vô tội ký vào đơn nhận tội?

Có những cuộc tra tấn được điều tra viên trực tiếp tiến hành trong phòng hỏi cung như vụ 7 công dân vô tội bị ép nhận tội giết người ở Sóc Trăng. Nhưng, không phải điều tra viên nào cũng sử dụng nhục hình thô thiển vậy.

Theo Tiến sĩ Dương Thanh Biểu, nguyên Phó Viện trưởng VKS TC, ngay cả con người huyền thoại Tạ Đình Đề – người bảo vệ Hồ Chí Minh thời đang còn là “Lý Thụy ở Vân Nam” – trong hai lần bị “công an ta” bắt (1975-1976 và 1985-1988), nếu không nhận tội, không khai đúng ý” của người thẩm vấn cũng bị “chuyển phòng giam khác, bị giao cho đầu gấu”. Tạ Đình Đề kể với ông Biểu: “Khi nghe lệnh chuyển phòng, người tôi bủn rủn… Sang phòng giam mới, bị nhốt với bọn đầu gấu mới (tôi sẽ phải chịu đủ trò) tinh quái và độc ác”(Tạ Đình Đề – NXB Hội Nhà Văn 2014, trang 254).

Kinh nghiệm của ông Tạ Đình Đề không chỉ là câu chuyện của thập niên 1970s, 1980s. Khi gặp Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, bị án Hồ Duy Hải vẫn không dám kêu oan mà chỉ xin giảm án vì Ủy ban Tư pháp gặp xong rồi về còn Hải thì phải quay lại trại giam của công an Long An. Một khi hệ thống trại giam, đặc biệt là các trại tạm giam đang nằm trong tay các cơ quan điều tra thì chuyện ngăn chặn bức cung, nhục hình là vô vọng cho dù có gắn bao nhiêu camera trong phòng hỏi cung.

Độc Lập giữa Các Cơ Quan Tố Tụng

Không có nhà nước nào cơ quan lập pháp lại mang các vụ án ra đánh giá sai đúng trong các phiên toàn thể. Không phải tự nhiên mà tố tụng phải bao gồm nhiều định chế độc lập: điều tra, VKS, TA, luật sư. Quyền giám sát tố tụng nằm ở khả năng “độc lập, chỉ tuân theo pháp luật” của các cơ quan thực thi chứ không phải là ở quyền giám sát chính trị của cơ quan lập pháp.

Điều nguy hiểm nhất hiện nay là các công tố viên và thẩm phán bị cơ quan điều tra viên “lôi vào cuộc”, bị “cộng đồng trách nhiệm” ngay trong những ngày đầu. Các thủ tục tố tụng phải dựa trên chứng cứ chứ không phải là suy đoán của điều tra viên. Nếu kiểm sát viên độc lập và không quá sợ cơ quan điều tra, anh ta sẽ không phê chuẩn tạm giam một công dân nếu chứng cứ mà cơ quan điều tra đưa ra không thuyết phục.

Tòa án cũng có khuynh hướng bị lũng đoạn bởi cơ quan điều tra nên cách an toàn nhất trong công tác xét xử của họ là “án tại hồ sơ” và với những vụ phức tạp thì tòa dưới còn tham vấn tòa trên nhằm tránh án bị “cải, sửa” khi phúc thẩm để không “mất điểm thi đua”.

Không phải tự nhiên mà trong suốt nhiều năm ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang kêu oan, VKS lẫn TATC đều im, dù họ không trực tiếp dùng nhục hình bức cung. Vì cả VKS và TA đã “đồng lõa” với cơ quan điều tra ngay từ đầu, đứng chung xuồng ngay từ đầu, nên minh oan cho ông Chấn thì họ sẽ trở thành tội phạm.

Cũng như ông Chấn, 7 bị cáo ở Sóc Trăng được minh oan là vì kẻ thực sự gây án đã ra tự thú. Những người thực sự oan khuất chưa chắc đã nằm trong số được tòa tuyên vô tội. Không ai có thể biết chắc trong số hàng triệu “vụ án đẹp”, trong số hàng triệu bộ hồ sơ án hoàn hảo, hàng triệu bị can nhận tội kia có bao nhiêu thực sự oan sai. Những kẻ gây án thực sự đang ở trong tù hay vẫn ở ngoài vòng pháp luật.

Quyền Lực Tuyệt Đối

Trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, thật khó để nhận ra quyền lực cao nhất đang nằm ở đâu. Nhưng rõ ràng không có cơ quan nào có những quyền đáng sợ như Bộ Công an đang nắm.

Trong vụ án Năm Cam và những vụ án tướng Thành sử dụng tay chân ở Tiền Giang, người dân chỉ biết câu chuyện một băng đảng xã hội đen bị đánh tan. Ít ai biết sự lộng quyền của tướng Thành, biết cái cách thức ông ta khống chế TA và VKS không khác gì Năm Cam cả.

Vì tướng Thành đã trở thành “anh hùng của nhân dân”, trở thành “thần tượng của số đông”, nên người ta đã không tống giam ông cho dù những điều tra viên Tiền Giang bắt bớ, chia chác theo lệnh ông đều đã phải vào tù hoặc vào nhà thương điên để tránh vành móng ngựa.

Không tính thứ bậc trong Đảng, TA, VKS không dễ dàng độc lập trước một Bộ có trong tay quá nhiều công cụ. “Quyền lực có khuynh hướng tha hóa, quyền lực tuyệt đối thì tha hóa tuyệt đối” (Lord Acton). Không chỉ trong hệ thống tư pháp, không có nhà nước nào nuôi dưỡng nguy cơ chính trị bằng cách tạo ra một siêu bộ nếu không muốn các chính trị gia trở thành con tin của bộ ấy.

Chưa kể sự khuynh loát của quyền lực, không ai có thể một lúc hoàn thành quá nhiều chức năng. Vậy nhưng, Bộ Công an hiện nay đang nắm trong tay vai trò điều tra, cảnh sát và cả an ninh, tình báo.

Tình báo phải là một cơ quan độc lập và chỉ nhắm vào kẻ thù bên ngoài chứ không phải nhắm cả vào bên trong (Có thể có an ninh nội địa nhưng đến khi có một nhà nước thực sự của dân thì không cần cơ quan an ninh kiểu như hiện nay). Và, ngay trong vai trò cảnh sát thì cũng nên tách ra: Cảnh sát quốc gia và cảnh sát địa phương.

Cảnh sát địa phương phải thuộc thẩm quyền của các địa phương; quy mô và phương thức hoạt động tùy từng nơi mà tổ chức khác nhau. Không nhất thiết một huyện ngoại thành cũng có cảnh sát như một huyện ở vùng nông thôn. Những thành phố quá an ninh chỉ cần có vài ba trăm cảnh sát cho vui thay vì cũng nhiều tướng tá như nơi đầy trộm cướp.

Cảnh sát giao thông nên là một lực lượng riêng. Nếu cơ quan điều tra không cùng một mẹ với cảnh sát giao thông thì chắc sẽ mạnh tay hơn với nạn mãi lộ mà không sợ ngành tai tiếng.

Cảnh sát quốc gia thiết lập trật tự và sự thống nhất trên toàn quốc ở những vấn đề cảnh sát địa phương không với tới và nắm những lực lượng như cảnh sát cơ động, cảnh sát chống bạo động. Cảnh sát địa phương đảm trách vai trò giữ gìn trật tự và điều tra những án thuộc về trị an như cướp giật, trộm cắp, kể cả những vụ giết người thuần hình sự xảy ra trên địa bàn.

Nên lập cơ quan điều tra quốc gia để điều tra những vụ án có yếu tố băng đảng, những vụ tham nhũng và những vụ liên quan đến trách nhiệm thi hành công vụ.

Tòa Ba Cấp

Nên thiết lập hệ thống tòa án theo ba cấp xét xử: sơ thẩm, phúc thẩm và tòa phá án. Không tòa nào là cấp trên của tòa nào; các cấp xét xử chỉ tuân theo pháp luật. Không thể để chính quyền địa phương, đặc biệt là cấp ủy, “nằm trên tòa án”. Các ứng cử viên thẩm phán phải chủ yếu nằm trong số các luật sư giỏi và uy tín nhất.

Tòa nên xét xử bằng tranh tụng: công tố buộc tội; luật sư bào chữa; hội thẩm nhân dân quyết định có tội hay không; thẩm phán lượng hình nếu hội thẩm nhân dân tuyên có tội. Với thủ tục này, mỗi phiên sơ thẩm chỉ cần một thẩm phán và 5-7 hội thẩm viên. Để đảm bảo khách quan, thẩm phán có thể không cần đọc trước hồ sơ, riêng hội thẩm thì không được đọc trước hồ sơ vụ án.

Vấn đề băn khoăn nhất là luật sư. Tuy nhiên ngay cả với bị cáo không có tiền “chạy” và thuê luật sư giỏi thì tình trạng pháp lý cũng không thể xấu hơn với cách tiến hành tố tụng hiện nay. Chỉ cần yêu cầu mỗi luật sư hàng tháng phải tham gia bào chữa miễn phí một số vụ theo chỉ định của tòa. Chỉ cần cho xã hội dân sự phát triển sẽ có nhiều luật sư tình nguyện bào chữa cho người nghèo và sẽ có nhiều tổ chức hỗ trợ pháp lý cho người nghèo.

Nhà nước cũng có thể dùng một ngân khoản để trả cho luật sư trong trường hợp đặc biệt. Đây là khoản chi cho công lý chứ không phải đơn giản cho bị cáo.

Đừng sợ mất vai trò của Đảng. Một đảng tốt là một đảng đảm bảo có một hệ thống tư pháp có thể cung cấp công lý chứ không phải là một đảng.Đ. khi muốn thì thọc tay vào vụ án. Các tướng lĩnh cũng không nên cố công bảo vệ đặc quyền cho công an. Quan nhất thời. Hãy nhìn gương tướng Quắc, tướng Trần Văn Thanh. Rất có thể có ngày quý vị trở thành nạn nhân của hệ thống tư pháp mà quý vị đang thiết kế.

H.Đ.

Nguồn: Facebook Truong Huy San

40 năm sau khi Sài Gòn sụp đổ, hòa giải dân tộc vẫn còn xa vời

40 năm sau khi Sài Gòn sụp đổ, hòa giải dân tộc vẫn còn xa vời

Asahi Shimbun

Tác giả: NAOJI SHIBATA

Người dịch: Trần Văn Minh

25-05-2015

Thành phố Hồ Chí Minh – Những hình ảnh về chiến tranh Việt Nam vẫn còn sống động trong ký ức của một giáo sư 54 tuổi, đang giảng dạy tại một trường đại học tư ở thủ phủ miền nam này.

Một người lính bị bắn và ngã xuống đất trước nhà của bà. Một vụ nổ trên đường phố, thổi tung các bộ phận cơ thể con người và làm cho đám đông chạy tứ tán. Sau đó lệnh đầu hàng được công bố.

Chiến tranh kết thúc ngày 30 tháng 5 năm 1975, với một chiếc xe tăng Bắc Việt tiến vào Dinh Độc Lập của miền Nam Việt Nam. Sự sụp đổ của Sài Gòn 40 năm trước đây được chính quyền miền Bắc gọi là “giải phóng” hoặc thống nhất Việt Nam.

Vị giáo sư, người viết blog về những gì mà nhà nước không muốn nghe, nói với tôi vào cuối cuộc phỏng vấn, rằng bà muốn giữ kín danh tính. Bà nói rằng bà không muốn có bất kỳ rắc rối nào đến với gia đình hay nơi làm việc của bà.

Quốc kỳ đỏ và cờ đỏ của Đảng Cộng sản Việt Nam được thấy tung bay tại rất nhiều góc đường của thành phố. Lá cờ đỏ cũng được cài theo tất cả các xe tắc xi. Tất cả biểu ngữ này đang tạo bầu không khí cho sự kiện đáng nhớ đánh dấu kỷ niệm lần thứ 40.

“Tôi chưa bao giờ giăng lá cờ đỏ tại nhà của tôi trong 40 năm qua”, vị giáo sư nói với một giọng thấp nhẹ khi tôi sửa soạn rời khỏi. “Tôi chỉ giả vờ như không để ý”.

Chắc hẳn bà phải có can đảm để không làm như thế ở đất nước này.

Dân chúng chưa đồng lòng

Mặc dù Sài Gòn đã được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh sau khi chiến tranh chấm dứt, tên cũ của thủ đô Nam Việt Nam vẫn còn tồn tại ở nơi cách [Sài Gòn] 13.000 cây số về phía đông.

Little Saigon, thường được biết đến như một địa hạt ở quận Cam, California, là nơi có cộng đồng người Việt lớn nhất ở nước ngoài, nơi có gần 200.000 người Việt.

Nhiều biển báo trong khu vực được viết bằng tiếng Việt. Một bảng hiệu ở lối vào khu vực ghi: “Chào mừng bạn đến Little Saigon”. Lá cờ vàng ba sọc đỏ, lá quốc kỳ của Nam Việt Nam, được thấy bay phất phới đây đó.

Tôi gặp một nhân viên cao cấp của một công ty của người Việt ở trung tâm khu vực. Người đàn bà 59 tuổi là em gái của vị giáo sư.

Bà cho biết bà đã chạy khỏi Sài Gòn vào ngày Sài Gòn sụp đổ và bị quân đội Mỹ bắt giữ. Cuộc sống thật khó khăn cho các thành viên của gia đình bà còn lại ở Việt Nam vì cha bà làm việc cho chính quyền miền Nam. Bà đã lần lượt mang sáu người em trai và em gái của bà, ngoại trừ vị giáo sư, đến Hoa Kỳ.

Bà làm việc cho một công ty Mỹ sau khi tốt nghiệp cao học. Bà đã đổi việc để làm việc cho người chủ hiện nay, mặc dù với điều kiện kém thuận lợi hơn, bởi vì bà muốn gắn bó với quê hương của mình.

Nhiều người Việt lưu vong có lẽ cùng chia sẻ quan điểm với hai chị em.

Người chị nói: “Họ nói thống nhất. Hệ thống chính trị đã được thống nhất, nhưng mọi người thì không – cho đến bây giờ. Lý tưởng của chủ nghĩa xã hội ở đâu? Tham nhũng và cách biệt kinh tế đang trở nên tệ hơn nhiều so với 40 năm trước đây. Chính phủ Nam Việt Nam cũng tham nhũng, nhưng ít nhất các phương tiện truyền thông có thể chỉ trích điều đó. Nhưng bây giờ không có tự do báo chí để chỉ trích nạn tham nhũng”.

Cách Little Saigon hai tiếng lái xe, cảng San Diego bên bờ Thái Bình Dương là nơi đặt hàng không mẫu hạm USS Midway. Được đóng từ thời Đệ Nhị Thế chiến và ngưng hoạt động vào năm 1992, tàu đã được chuyển đổi thành viện bảo tàng và mở cửa cho công chúng vào xem.

Máy bay chiến đấu và trực thăng quân sự được trưng bày trên boong tàu. Máy bay cùng loại cũng được trưng bày tại Bảo tàng Chứng tích chiến tranh ở thành phố Hồ Chí Minh. Nếu các máy bay trên hàng không mẫu hạm tượng trưng cho cuộc chiến tranh mà Hoa Kỳ đã chiến đấu cho tự do, máy bay ở viện bảo tàng được trưng bày như chiến lợi phẩm của một cuộc chiến tranh mà trong đó chủ nghĩa đế quốc đã bị đánh bại.

Một người cháu của Dương M. Nguyễn, Giám đốc điều hành của công ty DS Fibertech Corp, một nhà sản xuất máy móc chuẩn xác ở San Diego, ví tàu USS Midway như chiếc “Mayflower” của gia đình.

Ông Nguyễn, 70 tuổi, từng là một phi công trực thăng quân sự của miền Nam. Ông và gia đình rời Việt Nam một ngày trước khi Sài Gòn thất thủ. Gia đình ông so sánh hàng không mẫu hạm với con tàu đã đưa dân hành hương từ Anh đến Mỹ trong thế kỷ 17 bởi vì ông Nguyễn đến Hoa Kỳ sau khi tàu Midway, khi đó đang đậu ngoài khơi Sài Gòn, đã cứu ông.

Ông Nguyễn là một trong những người thành công nhất trong số khoảng 1,7 triệu người Việt sang định cư ở Hoa Kỳ. Ông bắt đầu làm việc với mức lương tối thiểu 2 USD một giờ. Hiện nay, ông có 75 nhân viên đồng hương của ông làm việc trong một công ty với doanh số 10 triệu USD hàng năm.

Nhiều người Việt Nam tha hương đã về thăm quê hương kể từ thập niên 1990, nhưng ông Nguyễn vẫn chưa lần nào đặt chân lên đất nước xuất thân của mình.

Ông nói, “Chúng tôi không muốn trở lại và chứng tỏ rằng chúng tôi là công dân Mỹ gốc Việt, là những người có đủ tiền để tận hưởng một kỳ nghỉ sang trọng trong khi có rất nhiều người Việt vẫn còn rất nghèo. Tốt hơn chúng tôi nên tiết kiệm tiền để giúp đỡ người nghèo, đặc biệt là các cựu chiến binh tàn phế ở Việt Nam”.

Vết thương cũ vẫn còn đau

Tôi đã đến thăm Văn Lê, một nhà làm phim kiêm nhà văn nổi tiếng với phim tài liệu chiến tranh của ông tại thành phố Hồ Chí Minh. Tôi hỏi một cựu chiến binh và cựu phóng viên Bắc Việt 66 tuổi những gì ông nhớ về ngày Sài Gòn sụp đổ.

“Trái tim tôi tràn đầy niềm vui từ ý nghĩ rằng chúng tôi không phải chiến đấu nữa, và về nỗi đau buồn thực sự là có quá nhiều người đã bị chết”, ông Lê nói thêm rằng chỉ có năm người sống sót trong số 300 người thuộc đơn vị của ông.

Nhà làm phim đã có những lời cay đắng nói về người Việt ở nước ngoài.

“Họ không tham gia vào xây dựng đất nước, và dù vậy họ nói xấu chúng tôi từ bên ngoài”, ông nói.

Không ít người có cảm xúc lẫn lộn về cuộc sống giàu có ở nước ngoài của những người chạy khỏi Việt Nam sau thất bại trong chiến tranh.

Tất cả những người tôi gặp ở Hoa Kỳ và Việt Nam đã có một quá khứ đầy ác mộng, mà chỉ có thể để cho lịch sử phán xét. Họ có những quan điểm khác nhau, nhưng họ đã chia sẻ một sự hiểu biết rằng bốn thập niên sau chiến tranh vẫn chưa mang lại hòa giải dân tộc. Chiến tranh Việt Nam cũng là một cuộc nội chiến, đã đẩy nhóm này chống lại nhóm kia trong một quốc gia với mục đích giết hại lẫn nhau.

Các bãi chiến trường đã trở thành các khu chợ, nhưng vết thương cũ vẫn còn đau. Là một sinh viên, cảm thông cho sự xung đột của người Việt Nam để giải phóng dân tộc, tôi thấy thương tiếc cho tình hình hiện nay của đất nước này.

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, nhà lãnh đạo mà sau đó tên ông được đặt cho thành phố Sài Gòn nói.

Độc lập đã đạt được. Nhưng tự do cho công chúng vẫn còn hạn chế, và con đường đi đến dân chủ có vẻ xa vời hơn bao giờ hết.

15 công dân Trung Quốc gian lận để vào đại học Mỹ

15 công dân Trung Quốc gian lận để vào đại học Mỹ

Nguoi-viet.com

WASHINGTON, DC (NV) Mười lăm công dân Trung Quốc vừa bị truy tố tội mưu đồ một kế hoạch gian lận, trong đó họ trả tiền cho người khác, rồi dùng tên của họ để thi SAT, kể cả thi vào các trường đại học danh tiếng của Mỹ, Reuters trích thuật lời của Bộ Tư Pháp Mỹ đưa ra hôm Thứ Năm.


(Hình minh họa: Mark Ralston/AFP/Getty Images)

Những người đồng mưu được trả lên đến $600 mỗi lần họ dùng sổ thông hành giả của Trung Quốc để qua mặt ban tổ chức thi, tưởng rằng họ là người thi thật.

Sự việc xảy ra phần lớn ở Pennsylvania vào giữa các năm 2011 và 2015.

Trong thời gian này, các bị cáo trả cho người thi thế để họ thi các kỳ thi SAT, TOEFL, và GRE.

Kết quả là cả người thi thế lẫn người trả tiền để họ thi thế đều bị bắt.

Ông David Hickton, biện lý liên bang khu vực miền Tây tiểu bang Pennsylvania, nói rằng, người bỏ tiền ra thuê đương nhiên được vào học chương trình cử nhân và cao học tại “các định chế giáo dục ưu tú nhất của chúng ta.”

Ông Hickton không nêu đích danh tên các trường nhưng cho biết tất cả đều ở Mỹ.

Theo ông, các sinh viên còn dùng cả chiếu khán du học giả khi dùng giấy thông hành giả của Trung Quốc.

Các bị cáo gồm cả nam lẫn nữ tuổi từ 19 đến 26, hiện đang sống tại các thành phố nơi có các trường đại học họ muốn theo học.

Ông John Kelleghan, nhân viên điều tra đặc biệt Bộ Nội An vùng Philadelphia, nói: “Những sinh viên này không những gian lận để vào các trường đại học mà còn gian manh để luồn lách qua hệ thống di trú của chúng ta.”

Nếu xét thấy có tội, các bị cáo phải trực diện với bản án tối đa 20 năm tù, $250,000 tiền phạt, hoặc cả hai.

Người chủ mưu còn bị phạt thêm tối đa 5 năm tù giam. (TP)

Một tai nạn trên Biển Đông có thể khơi mào chiến tranh Mỹ-Trung’

Một tai nạn trên Biển Đông có thể khơi mào chiến tranh Mỹ-Trung’

Máy bay chiến đấu F/A 18 của Hải quân Mỹ cất cánh từ tàu sân bay USS Nimitz ở Biển Đông.

Máy bay chiến đấu F/A 18 của Hải quân Mỹ cất cánh từ tàu sân bay USS Nimitz ở Biển Đông.

27.05.2015

Một chuyên gia về chính sách từng giảng dạy tại Đại học Yale của Hoa Kỳ cảnh báo một ‘tai nạn’ ở Biển Đông có thể dẫn tới chiến tranh Mỹ-Trung, và nguy cơ xung đột xảy ra giữa hai cường quốc này hiện nay cao hơn bất kỳ thời điểm nào trong 20 năm qua.

Trong một bài viết cho tờ The Commentator, Giáo sư Michael Auslin, từng giảng dạy môn Lịch sử tại trường Đại học Yale, nêu ra 3 tình huống mà ông nói có thể dẫn tới xung đột.

Tình huống thứ nhất, theo ông Auslin là một tai nạn máy bay đâm va vào nhau trên không phận Biển Đông, tương tự như vụ một chiến đấu cơ Trung Quốc và một phi cơ trinh sát của Hải quân Mỹ đụng nhau ngoài khơi đảo Hải Nam, gây ra một vụ tranh cãi quốc tế.

Giáo sư Auslin nói rằng trong bối cảnh Hải quân Mỹ đang xem xét tới việc điều tàu chiến tới phạm vi 12 hải lý cách các đảo nhân tạo do Trung Quốc xây dựng trong Biển Đông, và như thế tiến vào vùng biển mà giờ Trung Quốc tuyên bố là thuộc lãnh thổ có chủ quyền của họ, thì khó có thể tránh khỏi những hành động quấy nhiễu của các tàu Trung Quốc đối với các tàu Mỹ, có nguy cơ dẫn tới một tai nạn tàu va vào nhau, kéo theo phản ứng của cả hai bên.

Ông Auslin nói đó là điều mà Trung Quốc đã làm với tàu bè của các nước khác, và một tai nạn có thể dẫn hai nước tới chỗ đối đầu với nhau.

Giáo sư Auslin nói tình huống này rất dễ xảy ra, một khi Trung Quốc hoàn tất việc xây các phi đạo trên các quần đảo trong Biển Đông, tạo điều kiện cho các chiến đấu cơ tuần tra trong không phận của các đảo này.

Tình huống thứ nhì, theo Giáo sư Auslin, là Trung Quốc có thể cố tình tạo điều kiện cho một vụ đối đầu bằng cách chỉ thị cho máy bay của họ đeo sát máy bay của Mỹ, với hy vọng sẽ tăng nguy cơ xảy ra xung đột để buộc chính phủ của Tổng Thống Obama nhượng bộ, trong bối cảnh Hoa Kỳ còn đang phải ứng phó với nhiều thách thức ở Trung Đông và với Nga ở Châu Âu.

Tình huống thứ ba là nếu Trung Quốc chận đầu các máy bay của các nước đồng minh của Mỹ như Philippines chẳng hạn. Washington lúc đó có thể can thiệp một cách chính đáng, viện lẽ Mỹ có nghĩa vụ bảo vệ luật pháp quốc tế.

Giáo sư Auslin nhận định trong khi không có một cơ chế nào để giải toả căng thẳng, và trong bối cảnh giữa hai nước hiện thiếu sự tin tưởng lẫn nhau, và khả năng quân sự của Trung Quốc đang được tăng cường, thì càng ngày càng có nhiều rủi ro hơn đối với Hoa Kỳ trong việc đối đầu với tham vọng bành trướng của Trung Quốc.

Ông Auslin kết luận rằng trong 20 năm qua, chưa có lúc nào mà nguy cơ xảy ra xung đột giữa hai nước lớn này lại cao đến mức này.

Nguồn: WSJ, CNN, Defensenews

Rúng động đường dây sex tour ‘đi khách’ giá $20,000 bị bắt

Rúng động đường dây sex tour ‘đi khách’ giá $20,000 bị bắt

Nguoi-viet.com

SÀI GÒN (NV) Từ việc bắt quả tang 2 cặp mua bán dâm tại khách sạn ở Quảng Ninh, công an đã phá đường dây “sex tour” có giá bán dâm lên đến $20,000, gây chấn động dư luận tại Việt Nam.

Truyền thông Việt Nam loan tin, ngày 27 tháng 5, cơ quan cảnh sát điều tra, Bộ Công An đã tiến hành lệnh bắt khẩn cấp Ðoàn Ngọc Minh (25 tuổi) ở phường 7, quận 5, thành phố Sài Gòn để điều tra về tội “môi giới mại dâm.”


Một người mẫu bán dâm trong đường dây sex tour đang viết phúc trình tại cơ quan công an. (Hình: Người Lao Ðộng)

Tờ Người Lao Ðộng cho hay, ông Minh là một mắt xích quan trọng trong đường dây mại dâm cao cấp liên quan đến nhiều người mẫu, người đẹp trong các cuộc thi sắc đẹp tại Hà Nội, Sài Gòn và Quảng Ninh vừa bị Cục Cảnh Sát Ðiều Tra Tội Phạm về Trật Tự Xã Hội triệt phá.

Trước đó, vào tối ngày 25 tháng 5, tại khách sạn Hạ Long Plaza, tỉnh Quảng Ninh, công an đã bắt quả tang 2 cặp nam-nữ đang “hành lạc” tại phòng 805 và 817. Cùng thời điểm này, công an đã bắt giữ “má mì” Trần Ðức Thùy Liên (30 tuổi), trú phường Hiệp Thành, quận 12, thành phố Sài Gòn, khi đang chờ nhận tiền của khách mua dâm tại sảnh khách sạn và ông Huỳnh Xuân Hùng, tức Hà, (39 tuổi) ở quận Gò Vấp, thành phố Sài Gòn.

Tin cho hay, bà Liên, ông Minh và ông Hùng là những người cầm đầu trong đường dây môi giới chuyên tổ chức các chuyến “sex tour” cho các đại gia.

Gái mại dâm trong đường dây này là người mẫu đã đoạt giải tại các cuộc thi sắc đẹp và những “hàng nhái” các diễn viên, “hot girl” đang đình đám ở Việt Nam, với giá “đi tour” từ $1,000 đến $20,000.

Bước đầu, công an xác định, bà Liên và ông Minh đã môi giới để cô Huỳnh Thị T.L. (25 tuổi), quê ở An Giang, hiện đang tạm trú phường 7, quận 5, thành phố Sài Gòn, bán dâm với giá $7,000/ngày.

T.L đã được bà Liên mua vé máy bay và đi cùng từ Sài Gòn ra Quảng Ninh để “đi khách “ với số tiền $14,000/2 ngày.

Ngoài ra, tại phòng 817 của khách sạn Hạ Long Plaza, cơ quan chức năng phát hiện gái bán dâm là L.T.T. (29 tuổi), quê ở Quảng Ninh, là người đã từng đoạt giải Á khôi của trường Sân Khấu Ðiện Ảnh được 2 “má mì” Liên-Minh móc nối đưa xuống Quảng Ninh để bán dâm.

Ngoài các người mẫu bán dâm, dư luận chung hiện rất quan tâm những đại gia mua dâm là ai? Làm gì?… bởi theo người dân không người bình thường Việt Nam nào lại bỏ ra những đồng tiền lương thiện đáng “một gia tài” để mua dâm như thế.

Hiện cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công An đang tiếp tục điều tra làm rõ. (Tr.N)

Tín Thác Lòng Thương Xót Chúa – Gọi Con Là Ma Sơ & Bao La Tình Chúa – Gia Ân

Tín Thác Lòng Thương Xót Chúa – Gọi Con Là Ma Sơ

httpv://www.youtube.com/watch?v=KfD2vlXj_rQ&feature=youtu.be

Bao La Tình Chúa – Gia Ân

httpv://www.youtube.com/watch?v=0DhZ9Xrhn6k

 

1.Bao la tình Chúa yêu con , mênh mông như biển thái bình,
dạt dào như ngàn con sóng, vỗ về năm tháng đời con,
tình Ngài như mưa đỉnh núi , suốt đời tuôn đổ dạt dào,
một tình yêu vô biên, một tình yêu vô biên.

ĐK: Hồng ân Chúa như mưa, như mưa
Rơi xuống đời con miên man, miên man
Nâng đỡ tình con trong tay, trong tay
Vòng tay thương mến
Đời có Chúa êm trôi êm trôi
Chúa dắt dìu con luôn luôn không thôi ,
Có Chúa cùng đi con không đơn côi
Ôi tình tuyệt vời

2.Xa xôi ngày tháng êm trôi, yêu thương như nước xuôi dòng,
mặn nồng như làn hơi ấm, đổ đầy mưa nắng đời con,
còn gì như ân tình Chúa, dắt dìu con bước trong đời,
từng nhịp chân yêu thương, từng nhịp chân yêu thương

3.Êm như làn gió đưa mây, đôi tay con hướng lên trời,
nguyện cầu cho đời con mãi, giữ trọn lời hứa trung kiên,
một đời con xin tận hiến Chúa, là hơi ấm mẹ hiền,
trọn đời con nương thân, trọn đời con nương thân

Hạnh Phúc Gia Đình

Hạnh Phúc Gia Đình

Giuse Thẩm Nguyễn

Gia đình là cơ cầu nền tảng của Giáo Hội và xã hội, vì thế gia đình có một vị trí rất quan trọng trong việc đào luyện và cung cấp cho Giáo Hội và xã hội những thành viên ưu tú trong tương lai.

Ý niệm về gia đình đã bị bóp méo khi mà có sự cho phép hôn nhân giữa hai người cùng phái. Danh từ vợ chồng thân thương đã bị thay thế bằng bên A và bên B trong một hợp đồng sống chung. Gia đình kiểu này không đáp ứng mục đích của gia đình lúc ban đầu là ” hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất…”(ST 1,28). Hai anh đực hay hai chị cái sống với nhau như vợ chồng thì làm sao có con được, có chăng là sự vay mượn, lấp liếm điền vào chỗ trống qua việc nhận con nuôi… mong thỏa mãn nỗi khát khao được làm cha mẹ.

Đó là cái nhìn về gia đình hiện nay mà xã hội chúng ta phải đối diện. Nhưng trong phạm vi chia sẻ cảm nghĩ về gia đình, tôi xin thu hẹp cái nhìn của mình vào gia đình, một gia đình Công Giáo mà thôi.

Tôi đã có dịp tham gia các cuộc hội thảo về gia đình. Buổi hội thảo nào cũng rất hay, cũng hữu ích cho các cặp hôn nhân. Các diễn giả trình bày về tâm lý người nam, tâm lý người nữ, cách giáo dục con cái, nhưng tôi có cảm tưởng là họ thiếu tâm lý Giê-su. Khoa tâm lý chỉ đưa ra cách giải quyết cái ngọn trong khi cội nguồn của hạnh phúc là chính Đấng Tạo Hóa thì bị quên lãng. Người ta chỉ có thể đem áp dụng kiến thức hôn nhân gia đình khi chúng ta có tình yêu nơi Chúa Giê-su. Vì Chúa là tình yêu, cho nên ta không yêu Chúa là Đấng Tạo Hóa thì ta không có khả năng yêu con người, một thụ tạo bằng tình yêu chân thật được. Do vậy mà tham gia hội thảo hoài, học hỏi mãi mà gia đình vẫn không có hạnh phúc?

Có lẽ những lý thuyết về tâm sinh lý, cách cư xử, điều nên làm, việc cần tránh… để có hạnh phúc thì ai cũng biết, nhưng từ cái biết, cái kiến thức đến việc thực hành có vẻ như rất xa. Các nhà tâm lý có câu “Con đường dài nhất của thế giới là con đường 18 inches từ cái đầu đến trái tim của bạn” hay là “ Khả năng biến đổi từ sự hiểu biết đến hành động là một quá trình vô cùng khó khan”. Vâng quả là khó khăn lắm đến nỗi có chuyện ngược đời là một nhà tâm lý kia khi thao thao thuyết giảng về cách bảo vệ hạnh phúc gia đình thì ông ta đang chờ ngày ra tòa ly dị vợ mình.!

Thật ra chúng ta chỉ có khả năng biến đổi, nhất là biến đổi mình để được yêu thương hơn, hạnh phúc hơn nơi Chúa Giê-su.

Là người Công Giáo, chúng ta biết rằng Giáo Hội khuyên chúng ta học hỏi và noi gương mẫu của gia đình Narazeth. Trong các lễ cưới, cha chủ tế thường hay lấy hình ảnh Thánh Gia làm khuôn mẫu cho đôi tân hôn. Vậy gia đình Thánh Giuse, Mẹ Maria, Chúa Giê-su có những bí quyết gì để chúng ta học hỏi.

Trong thời Thánh Giuse chắc là chưa có các nhà chuyên môn về tâm sinh lý, chưa có các chuyên viên về gia đình, chưa có sách học bí quyết sống hạnh phúc gia đình. Vậy thì trong hoàn cảnh đó gia đình Narazeth, tôi nghĩ sẽ không rành về tâm sinh lý, sẽ không đọc sách dạy khôn chuyện gia đình, sẽ không tham gia hội thảo như bây giờ.

Bởi đâu mà gia đình Thánh Gia hạnh phúc và nêu gương mẫu cho chúng ta. Trả lời của tôi cho câu hỏi này không biết đến từ đâu, có thể từ Kinh Thánh, từ lời dạy của Giáo Hội, từ những kinh nghiệm thực tế của cuộc sống? Nhưng tôi cảm nhận được rằng:

Gia đình Thánh Gia hạnh phúc vì có Chúa Giê-su hiện diện. Chính Chúa là nguồn yêu thương, chính Chúa là cội rễ của mọi nguồn an vui hạnh phúc. Chúng ta không tìm được hạnh phúc nơi gia đình vì gia đình mình vắng bóng Chúa Giê-su.

Vì không có Chúa nên gia đình luôn bất an tựa như con thuyền mong manh tròng trành, nhấp nhô giữa sóng đời. Tính ích kỷ, thói ghen tuông, lòng tham lam đố kỵ làm rạn nứt mối quan hệ gia đình. Sự thiếu cảm thông, thiếu hy sinh, thiếu quan tâm, thiếu tôn trọng đào sâu thêm những rạn nứt càng ngày càng trầm trọng hơn và hậu quả tất yếu là gia đình thành bãi chiến trường: những cuộc khẩu chiến, những thắng, thua, hơn, thiệt, chán nản, ngoại tình, hận thù và tan vỡ.

Khi chúng ta dọn đến một căn nhà mới, người Công Giáo thường mời linh mục đến làm phép nhà rồi sau đó là tiệc mừng. Nhưng làm phép nhà để làm gì? Phải chăng làm phép nhà là mời Chúa vào ở với mình? Khi có Chúa hiện diện, chúng ta sẽ dễ dàng nhìn nhau bằng ánh mắt yêu thương, sẽ ngọt ngào trong cách cư xử, sẽ nhận ra nhu cầu của người khác, sẽ biết cho đi hơn là nhận. Không những chúng ta cần Chúa hiện diện trong căn nhà mình đang sống (house), mà chúng ta cũng cần Chúa hiện diện nơi gia đình (home), nơi tâm hồn của mỗi thành viên trong gia đình. Ý thức về sự hiện diện của Chúa giúp chúng ta rất nhiều trong việc biến đổi cách sống mỗi ngày.

Gia đình Thánh Gia hạnh phúc vì có một gia trưởng là Thánh Giuse, một người công chính. Người công chính là người luôn trung thành thờ phượng Thiên Chúa, luôn tìm kiếm và thực thi theo ý muốn của Thiên Chúa. Khi biết mẹ Maria có thai, không phải là con của mình, Thánh Giuse không điên tiết, ghen tuông, hành động cục cằn thô lỗ, mà ngài âm thầm tìm hiểu sự thật qua cầu nguyện, lắng nghe ý Chúa. Ngài nghĩ tốt về Mẹ Maria, về người bạn trăm năm của mình. Khi được Thiên Thần báo mộng, Thánh Giuse chấp nhận và làm theo ý Chúa. Ngài làm thợ mộc để nuôi vợ là Maria và con là Chúa Giê-su. Ngài kiếm tiền bằng sức lao động của mình và dạy con bằng chính đời sống của mình.

Gia đình Thánh Gia hạnh phúc vì có người vợ, người mẹ dịu hiền và khiêm nhường là Mẹ Maria, một phụ nữ được Thiên Chúa chúc phúc. Mẹ Maria là một người mẹ can đảm,sẵn sàng chấp nhận hy sinh và thi hành ý muốn của Thiên Chúa. Mẹ Maria phục tùng chồng là Thánh Giuse và cậy dựa vào sự bao bọc của chồng. Nơi Mẹ toát ra sư yêu thương ngọt ngào làm cho Thánh Giuse quên hết sự vất vả lao động hằng ngày. Mẹ không than trách, không nhiều lời trước những biến cố trong gia đình.. Mẹ giữ lấy trong lòng những biến cố buồn vui ấy và gói ghém như món quà dâng lên Chúa.

Trong phúc âm, Chúa Giê-su đã nhiều lần nhắc đến việc Ngài đến thế gian để làm theo ý Chúa Cha. “vì tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi” (Ga 6,38).Trong hôn nhân, Thánh Giuse cũng luôn tìm hiểu và làm theo ý Chúa. Mẹ Maria cũng luôn chấp nhận và làm theo ý Chúa. Trong cuộc sống gia đình, để có được hạnh phúc chúng ta cũng phải tìm kiếm, chấp nhận và làm theo ý Chúa như trong Kinh Lạy Cha “Xin cho ý­­ Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”. Làm theo ý Chúa thì sẽ đẹp ý chồng, trong ý vợ, được ý con.

Quả thật, Giáo Hội đã rất khôn ngoan khi dạy con cái mình noi theo gương mẫu Thánh Gia để xây dựng hạnh phúc gia đình. Thiên Chúa là cha yêu thương sẽ ban cho chúng ta mái gia đình hạnh phúc nếu chúng ta biết mở lòng đón Chúa ngự vào. Người làm chồng hãy sống như Giuse, người làm vợ hãy sống như Mẹ Maria, người làm con hãy sống như Chúa Giê-su. Hạnh phúc gia đình nằm trong tầm tay, chúng ta chỉ cần giơ tay đón lấy.

Lạy Thánh Gia xin nâng đỡ và bảo vệ hạnh phúc gia đình chúng con. Amen

Phát sốt với điện thoại thông minh ‘made in Vietnam’

Phát sốt với điện thoại thông minh ‘made in Vietnam’

Bphone được sản xuất ở Việt Nam.

Bphone được sản xuất ở Việt Nam.

26.05.2015

Một điện thoại thông minh được cho là sản xuất hoàn toàn ở Việt Nam có tên gọi Bphone đã ra mắt ở trong nước hôm nay.

Lãnh đạo Bkav, tập đoàn sản xuất Smartphone này, được báo chí trong nước trích lời nói rằng sản phẩm của họ “có kiểu dáng, cấu hình và camera không thua kém thiết bị của Apple hay Samsung”.

CEO của Bkav, ông Nguyễn Tử Quảng, cho biết tại lễ công bố sản phẩm hôm 26/5 rằng đây là “chiếc smartphone của người Việt và thiết kế riêng dành người Việt”.

Ông cũng khẳng định rằng “Bphone là chiếc điện thoại đẹp nhất nhì trên thế giới, và là chiếc điện thoại đầu tiên trên thế giới sở hữu kiểu dáng phẳng, loại bỏ hầu hết các chi tiết thừa”.

Ông Quảng nói thêm: “Chúng tôi vô cùng tự hào có thể thiết kế, và sản xuất được một sản phẩm như vậy ngay tại Việt Nam, một đất nước còn vô cùng nhiều khó khăn, còn vô cùng nhiều những điều không thuận lợi. Và dĩ nhiên, chúng tôi yêu bạn, yêu các bạn, và vì tôi yêu Việt Nam”.

Bkav là tập đoàn chuyên về phần mềm diệt virus nên Bphone được cho là sẽ “không bị dính mã độc, tin nhắn rác và là điện thoại đầu tiên được trang bị sẵn hệ thống Firewall giúp kiểm soát các nguy cơ an ninh”.

Sự kiện ra mắt Bphone được đánh giá là sự kiện công nghệ thu hút nhất tại Việt Nam trong năm với sự tham gia của hàng nghìn người.

Theo quan sát của phóng viên VOA Tiếng Việt, trên các diễn đàn trên mạng, nhiều người đã kêu gọi mua Bphone để ủng hộ “hàng Việt Nam”.

Theo VnExpress, Dan Tri, VOA

Trương Duy Nhất bị ném ra lề đường Hồ Chí Minh, cách trại 4km

Trương Duy Nhất bị ném ra lề đường Hồ Chí Minh, cách trại 4km

Huy Đức

Giờ này, nhà báo Trương Duy Nhất đã ở trên máy bay để về Đà Nẵng. An ninh “tiễn” anh ra tận sân bay, giờ chót mới xuất vé. Tôi không hiểu tại sao người ta sợ anh đến thế. Đón anh chỉ có 4 người phụ nữ – vợ, Cao Thị Xuân Phượng, con gái, Trương Thục Đoan, hai mẹ con người bạn lâu năm – và tôi (có việc đi qua Nghệ An, rất muốn anh nhìn thấy một người bạn trong giờ phút tự do) mà lực lượng canh chừng lên tới hàng chục người. Khi tới trại, 6:30, trực ban cho chị Phượng biết 9:00 anh Nhất sẽ ra. Thế nhưng, 8:00 thì anh Nhất bị áp tải bởi 8 người mặc thường phục và 2 người cảnh phục trên một xe 12 chỗ. Hơn chục công an xã lập tức lao theo. Nhất nhao ra gọi vợ con thì bị khoá tay, ghì xuống. Thay vì nhẹ nhàng bước ra cổng nhà tù, Trương Duy Nhất bị ném ra lề đường Hồ Chí Minh, cách trại 4km.

Từ Thanh Chương, Trương Duy Nhất phải về Đà Nẵng ngay để chịu tang bà nội vợ. Anh bị bắt chỉ vì muốn có Một Góc Nhìn khác, đã rất kiên cường trong tù; vừa lên xe, anh nói: Tôi có sau lưng 3 người anh hùng là mẹ, vợ và con gái.

Có mặt ở trại giam từ 6:00 sáng, không ăn uống gì, chỉ vợ mong chồng, con ngóng cha.

Vậy nhưng, nhà báo Trương Duy Nhất không được đối xử như một người tự do.

Không có một cái ôm chờ đợi, hơn 20 kẻ mặc thường phục đứng hằm hè, chĩa camera vào cuộc hội ngộ sau hai năm của hai vợ chồng một nhà báo chỉ mong đất nước tốt đẹp.

Sân bay Vinh.


Sau vừa đúng 2 năm.

H. Đ.

Nguồn: FB Truong Huy San

Texas mưa, lụt nặng, hàng ngàn người di tản, giao thông hỗn loạn

Texas mưa, lụt nặng, hàng ngàn người di tản, giao thông hỗn loạn

Nguoi-viet.com

Nhất Anh/Người Việt

HOUSTON (NV) – Thay vì được tận hưởng ngày lễ Memorial Day vui vẻ và trọn vẹn, trong hai ngày 25 và 26 tháng Năm, người dân tiểu bang Texas phải đối mặt với trận mưa bão gây ngập lụt lớn nhất từ trước đến nay.

Trận mưa bắt đầu từ hôm Chủ Nhật, qua đến ngày Thứ Hai thì to hơn và gây ra trận lụt lớn ở nhiều nơi thuộc Texas, trong số đó khu vực Hay County và Harris County bị ảnh hưởng nặng nề.

Xe cộ bị dồn cục và ngập trên xa lộ 45, gần downtown Houston. (Hình: David Phillip/ AP Photo)

Theo CNN,  đã có 12 người mất tích tại Wimberley, một thị trấn nhỏ thuộc Hay County, nằm giữa Austin và San Antonio. Nước dâng cao vào hôm Chủ Nhật, biến đường sá thành những con sông nhỏ, xe cộ khó khăn di chuyển và buộc hơn 1,000 người phải di tản.

“Mưa bắt đầu vào khoảng 2 giờ rưỡi chiều, đến 5 giờ thì to hơn, gây lụt nhanh, nước thoát không kịp”, cô Hồng Nguyễn, một người Việt cư ngụ tại thành phố Bhluggerville, Austin cho báo Người Việt biết.

Cô Hồng Nguyễn nói thêm: “Mình nghe những người hàng xóm nói đây là trận lụt lớn nhất trong vòng 35 năm qua. Nhà mình đến chiều là nước ngập lụt cả basement, đến sáng hôm nay mới rút. Ở giao lộ Dessau và Howland ngập lụt đến nỗi cảnh sát phải đóng đường không cho xe chạy đến gần 10 giờ tối.”

Theo nhật báo Houston Chronicle, thẩm phán Harris County, ông Ed Emmett, cho biết nước ngập cả tầng hầm của toà án ở trung tâm thành phố. Các toà nhà công sở hành chánh ở downtown Houston đã phải thông báo đóng cửa, cho các nhân viên nghỉ ở nhà hôm Thứ Ba.

Phía sau ngôi nhà của cô Hồng Nguyễn bị ngập lụt ở thành phố Bhluggerville. (Ảnh: cô Hồng Nguyễn cung cấp)

Nói với Người Việt, ông Tim Nguyễn, một cư dân đang cư ngụ tại thành phố Cypress, phía Tây Bắc Houston, hiện đang làm việc tại công ty Chemical Trading MIB, cho biết ông nhận được thông cáo từ công ty đóng cửa và không làm việc vào sáng sớm sau trận lụt suốt đêm hôm Thứ Hai.

“Mặc dù ở khu vực tôi ở không bị ảnh hưởng lụt lội, nhưng công ty đang làm việc lại toạ lạc ngay ở downtown Houston, không có cách nào có thể đi xuống đó do mưa to lụt cao trên đường. Các xa lộ để đi vào downtown đều bị cảnh sát đóng cửa”.

Cũng theo nhật báo Houston Chronicle, có hơn 59,000 căn nhà ở khu vực Houston bị mất điện.

Ngoài ra, đã có rất nhiều người lái xe tìm cách né tránh các khu vực ngập nước để kiếm đường về nhà. Tuy nhiên, một số người lại không may mắn, bị mắc kẹt trong vùng nước lụt hơn nhiều giờ đồng hồ.

Cô Du Hạ, cư dân ở thành phố Missouri, cách downtown Houston khoảng 23 miles về phía Đông Nam, cho hay, các kênh thoát nước ở các xa lộ như I-10, 59 hay 45 hướng về phía downtown không kịp thoát nước vì mưa to, nước dâng quá nhanh.

“Các đồng nghiệp của tôi sinh sống ở khu vực Downtown nói với tôi rằng nơi họ ở bị lụt nặng nề. Có người thì mắc kẹt trên xa lộ hơn mấy tiếng đồng hồ vẫn chưa về được tới nhà. Có người có nhà bị ngập lên đến bàn ăn. Coi tin tức trên tivi thấy xe nằm trên đường nước ngập lên đến nóc, trông mà sợ”.

“Vì Downtown Houston là nơi vùng trũng, nên việc ngập lụt nặng nề nhất cũng là điều dễ hiểu. Các trường học xung quanh đều đóng cửa hết toàn bộ. Mặc dù sáng hôm nay nước đã rút bớt, nhưng cứ mưa rả riết như thế này, có khi mai lại được công ty thông báo cho nghỉ thêm một ngày”, cô Du Hạ chia sẻ.

Cũng vẫn tại Houston, đến tối Thứ Ba, 26 tháng Năm, một số xa lộ đã mở đường trở lại. Ở khu vực đường 288, một số làn xe đã mở trong khi xa lộ I-10 vẫn còn đóng.

THIÊN ĐÀNG Ở ĐÂU?

THIÊN ĐÀNG Ở ĐÂU?

Đỗ Trân Duy

Đối với Kitô hữu, có lẽ ai cũng nghĩ rằng mình biết Thiên đàng ở đâu, dĩ nhiên là ở trên trời. Tin như vậy là đủ, chẳng ai cắc cớ thắc mắc thiên đàng ở chỗ nào trên trời. Vả lại ai có thẩm quyền trả lời cho một thực thể siêu hình đó. Cuối cùng chỉ những tay vô thần sừng sỏ nêu ra vấn đề này với thâm ý bắt bí tín lý Thiên Chúa giáo. Vấn đề xem ra không đơn giản, vì gần đây chính một số nhà tư tưởng Công Giáo cũng nói về “nơi chốn” của thiên đàng. Vậy chúng ta phải hiểu về chốn thiên đàng như thế nào? Bài viết này không dám trả lời cho vấn đề lớn đó. Đây chỉ là một chú giải nhỏ, phụ theo lời giảng của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II mà thôi.

Thiên đàng hiểu theo truyền thống

Thiên đàng, theo đức tin truyền thống Việt Nam, là một nơi chốn cụ thể và được đồng hóa với cõi trời. Trong kinh “Lạy Cha” câu mở đầu nói rõ: “Lạy Cha chúng con ở trên trời”.  Rồi những khóm từ như “Đức Mẹ lên trời”, “lễ Thăng Thiên”, “hoan hô Chúa trên các tầng trời”… tất cả đều xác định thiên đàng là cõi trời. Trong những truyền thống đức tin khác, như của Âu Mỹ, họ không dùng chữ “trời” mà dùng danh xưng “heaven” (thiên đàng). Cũng trong kinh “Lạy Cha”, câu mở đầu là “Our Father who art in heaven.” Theo tiếng Hebrew, heaven có nghĩa là “trên cao” (Catholic Encyclopedia). Tuy heaven không xác định là ở trên trời, nhưng vẫn được hiểu ngầm như vậy. Trong thánh kinh có rất nhiều trình thuật gợi ý như “Hãy nhìn lên thiên đàng mà xem các tầng mây cao hơn ông biết mấy!” (Yob 35:5). Thánh Stêphanô nói, “Này tôi thấy các tầng trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa” (CV 7:56). Thánh Gioan miêu tả cảnh phục sinh: “Rồi các ngài nghe một tiếng lớn từ thiên đàng: ‘Hãy lên đây’, và các ngài lên thiên đàng trong đám mây, trước mặt thù địch của các ngài” (KH 11:12). Sách Tông đồ công vụ miêu tả rõ hơn, “Khi Chúa Giêsu được đưa lên cao, các môn đệ nhìn theo Chúa cho đến khi một đám mây che kín mất Ngài” (CV 1:9).
Nếu chúng ta đi tìm lời nói của Đức Giêsu về vấn đề này, chúng ta không thấy có chỗ nào Người nói thiên đàng ở trên trời. Đức Giêsu cũng không đồng hóa Thiên Chúa với thiên đàng (hay trời). Lời cầu nguyện của vua Salômôn chứng tỏ người xưa cũng ý thức như vậy: “Có thật Thiên Chúa cư ngụ dưới đất chăng? Này, trời cao thăm thẳm còn không chứa nổi Ngài, huống chi ngôi nhà con đã xây đây!” (1 Vua 8:27)

Đại chúng cho rằng có thể suy diễn vấn đề trên qua nguyên tắc: thiên đàng là nơi Thiên Chúa ngự, vậy nếu biết Thiên Chúa ở đâu, ta sẽ biết thiên đàng ở đâu. Người ta cũng đã tưởng rằng chỉ có ba câu trả lời cho vấn đề ấy. Thứ nhất, thuở xưa người ta tin Thiên Chúa tạo ra vũ trụ nhưng Chúa là Đấng siêu việt vượt trên vật chất, nên không đồng hóa với vũ trụ. Thiên Chúa ở ngoài vũ trụ. Đến thế kỷ 18, con người khám phá ra vũ trụ vô cùng lớn, lớn đến mức dù ta có di chuyển với tốc độ ánh sáng, qua hằng ngàn năm, cũng chưa tới biên giới của nó. Con người không chấp nhận nổi có chỗ nào gọi là bên trên hay bên ngoài vũ trụ. Vả lại nếu Thiên Chúa ở bên ngoài vũ trụ, vậy vũ trụ càng lớn, Chúa lại càng ở rất xa con người. Làm sao con người có thể gần Thiên Chúa để cầu nguyện.

Câu trả lời thứ hai, người ta đặt Thiên Chúa vào bên trong vũ trụ. Do đó mà có niềm tin thiên đàng ở trên trời, tức là ở bên trong vũ trụ. Nhờ thế mà con người có thể gần với Thiên Chúa. Quan niệm này cũng không ổn, vì nếu ở trong vũ trụ Thiên Chúa phải là một sinh thể của vũ trụ. Có lý nào Thiên Chúa là một phần của vũ trụ mà vũ trụ ấy lại do chính Ngài tạo ra. Những niềm tin sơ thuần cho rằng Thiên Chúa ở bên ngoài hay bên trong vũ trụ đều đẩy trí thức đến ngõ bí vì kết quả vô lý của suy luận.

Câu trả lời thứ ba dựa vào tín lý. Trong lãnh vực này, chúng ta thấy có hai phe. Phe thứ nhất, đại diện là Joseph Campbell, tin rằng con người không thể nào biết được Thiên Chúa là ai. Vì vậy không nên đặt vấn đề sự hiện hữu của Thiên Chúa. Thánh kinh cũng nói: “Thiên Chúa vượt xa hơn và vượt trên tất cả những gì chúng ta có thể tưởng nghĩ về Ngài” (GLCG 2794). Thần học gia Paul Tillich phủ nhận lối diễn tả “hiện hữu của Thiên Chúa”. Ông cho rằng nói như vậy chúng ta đã mặc nhiên cho Thiên Chúa là một phần thực thể của thiên nhiên. Bởi vì “hiện hữu” có nghĩa là đang có và đang biệt lập đứng lơ lửng ở đâu đó ngoài mặt đất. Ông đổi ý niệm “hiện hữu” (exist) bằng ý niệm Thiên Chúa “thường hằng” (God is). Nhóm thứ hai cho rằng Thiên Chúa mang bản chất pantheism, nghĩa là mọi thứ đều ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở khắp mọi nơi (omnipresence) vì Ngài là Đấng vô hạn (immensity) (Council of Lateran, c. “Firmiter”; Vatican Council, Sess. III, c. 1.).  Như vậy vũ trụ ở trong Thiên Chúa. Tóm lại, như chúng ta thấy, với những nhận định trên, câu trả lời về “thiên đàng ở đâu” vẫn còn bỏ ngỏ.

Điểm thời sự không thể tránh

Trong buổi cầu nguyện với quần chúng ngày 21 tháng 7 năm 1999, Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tạo nên vấn đề thời sự. Ngài nói: “Thiên đàng là một trạng thái sống (state of being) chứ không phải là một nơi chốn (place) theo nhận thức của ngôn ngữ loài người.”  Giáo hoàng nói rõ thêm,“Thiên đàng không phải là một khái niệm trừu tượng hay là một địa điểm cụ thể trong những cụm mây, nhưng là một lối sống, là mối quan hệ giữa cá nhân với Thiên Chúa Ba Ngôi. Đó là cuộc gặp gỡ Chúa Cha, diễn ra trong Chúa Kitô phục sinh, và hiệp thông với Chúa Thánh Thần.” (1) Đối với giới truyền thông ngoài Công Giáo, lời tuyên bố này quá bất ngờ vì đi ra ngoài nhận định về thiên đàng của truyền thống.

Mười một năm sau, 2010, dưới triều Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, Tòa Thánh cho phát hành cuốn YOUCAT (Youth Catechism – Giáo Lý Công Giáo cho Giới trẻ). Trong tập sách này, hiện thực của thiên đàng được lập lại và chính thức đưa vào mục giáo lý. Theo đó thiên đàng không phải là một nơi chốn mà là một trạng thái sống (a kind of life) trong ý thức về Thiên Chúa hiện diện. Sự hiện diện này không lệ thuộc vào không gian và thời gian (không-thời gian). (2) Như vậy cả hai đức Giáo Hoàng, những vị có thẩm quyền tông truyền, đều quan niệm về “nơi chốn” thiên đàng như nhau.

Sự tiếp nhận

Ngay sau khi Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phát biểu, không ít người sửng sốt và phản đối. Có người dè dặt cho rằng, “Có lẽ Giáo hoàng có một mạc khải tư nào đó về thiên đàng chăng.” Đa số tín hữu vướng mắc trong  những sự kiện như: Đức Mẹ hồn xác lên thiên đàng (trời), hay: đến ngày tận thế xác chết sống lại, kẻ lành lên thiên đàng… Họ cho rằng vì thể xác là vật chất, nếu không có nơi chốn thì thể xác sẽ tồn tại ở đâu. Ngoài ra những khóm từ gợi hình trong thánh kinh như: mở cửa thiên đàng, tầng trời mở ra, ngự bên hữu Chúa Cha… tất cả đều trình bày theo kinh nghiệm ở trong một nơi chốn.

Mặc dù thánh Phaolô đã giảng thân xác phục sinh là một thân xác thần linh (celestial bodies) không phải là thân xác huyết nhục. (1 Côr 15: 35-44) Thân xác Chúa Giêsu phục sinh là một điển hình. Chúa chợt “xuất hiện” để nói chuyện với hai đệ tử trên đường đến Emmaus, rồi “tan biến” khi tới nơi. Chúa cũng “hiện ra” giữa các môn đệ đang họp trong gian phòng cửa khóa kín, rồi cũng “biến mất” sau khi chúc lành cho họ. Xem thế, thân xác thần linh không cần một nơi chốn cụ thể để trú ngụ. Đa số tín hữu quen trong giới hạn của không gian 4 chiều, nên muốn giới hạn thiên đàng và Thiên Chúa trong không gian 4 chiều. Họ không thể tưởng tượng nổi một thân xác thần linh và một thiên đàng không có nơi chốn. Họ hoang mang đối diện với sự kỳ diệu của thực thể vô không-thời gian mà con người khó diễn tả và trí tưởng tượng phải dừng lại nơi giới hạn của nó.

Đàng khác cũng có rất nhiều người tiếp nhận lời giảng của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II một cách dễ dàng. Họ cho rằng Giáo Hoàng đưa ra một nhận thức thần học đúng, nhưng tạo ra dao động chỉ vì ngài thiếu phần chú giải đi kèm. Nhận xét này rất chính xác. Chúng ta có thể đặt chú giải cho nhận thức đó qua nhận định về bản thể của thân xác hiển linh. Có lẽ không hình ảnh nào cụ thể hơn là bánh và rượu trong thánh lễ. Nếu thân xác Chúa Giêsu bị giới hạn trong thể chất, và trong không-thời gian, làm sao chúng ta có Mình Máu Chúa Giêsu, trong dạng bánh và rượu, hiện diện cùng lúc ở khắp mọi nơi trên thế giới. Bàn về thân xác hiển linh của Đức Mẹ, chúng ta cũng biết Đức mẹ đã hiện ra và biến mất rất nhiều lần. Mỗi lần hiện ra chỉ vài người tuyển chọn mới có diễm phúc chiêm ngưỡng Đức Mẹ. Chẳng hạn lần hiện ra ở Fatima, mặc dù có rất nhiều người đứng tại chỗ Đức Mẹ hiện ra, nhưng chỉ có 3 em nhỏ nhìn thấy Đức Mẹ. Như vậy thân xác Đức Mẹ vừa là hữu hình vừa là vô hình tùy theo liên hệ với từng cá nhân. Nếu xác Đức Mẹ là thể chất vật lý, mọi người đều phải thấy như nhau. Rõ ràng là thân xác phục sinh không bị trói buộc bởi bất cứ một luật lệ vật lý nào. Suy ra mối kết hợp giữa cá nhân và Thiên Chúa (thiên đàng) là một trạng thái sự sống riêng tư, chứ không theo bất cứ luật lệ vật lý nào.

Chân lý bao gồm cả đức tin lẫn kiến thức, nên tín hữu chúng ta buộc phải học hỏi tìm hiểu. Ðó là lý do Thánh Phêrô đã dạy, “Hãy nỗ lực bổ sung đức tin với nhân đức, và bổ sung nhân đức với sự hiểu biết” (2 Phê 1:5). Năm 2000, ký giả vô thần Peter Seewald hỏi Hồng y Ratzinger “Thiên đàng ở đâu?” Hồng y trả lời, “Những từ như ‘mây’ và ‘thiên đàng’ chỉ là cách nói mà con người muốn tìm cho Thiên Chúa có một nơi chốn. Đúng ra cách nói ‘Chúa Giêsu lên thiên đàng’ chỉ có nghĩa là không còn nhìn thấy trên mặt đất chứ không phải không còn hiện diện trên mặt đất.” (3) Bởi vậy vẫn có người tuyển chọn có ơn phước nhìn thấy Chúa Giêsu, chẳng hạn thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, thánh Padre Pio…

Quan điểm thần học

Chúng ta hãy bắt đầu bằng một tín lý quen thuộc và đặt tín lý đó vào một tam đoạn luận đơn giản: Thiên Chúa ở khắp mọi nơi. Thiên đàng là nơi Thiên Chúa ngự. Vậy thiên đàng ở khắp mọi nơi.

Như vậy phải chăng giữa thiên đàng và con người không còn ranh giới? Theo thần học, đoạn lý luận trên vô giá trị, bởi vì đã không thấy thiên đàng là ơn phước. Thiên đàng không phải là kết quả của một điều kiện hay của một định luật vật lý. Mặc dù Thiên Chúa ở khắp mọi nơi nhưng Chúa tỏ lộ vinh quang của Người qua phương cách ơn phước đặc sủng. Theo thần học gia Gerhard Ebeling, “Không phải Thiên Chúa ở đâu, thiên đàng ở đó, mà là thiên đàng ở đâu Thiên Chúa ở đó” (not that God is where heaven is, but rather heaven is where God is). Vì là ơn phúc nên phải có sự kết hợp sống động giữa cá nhân và Thiên Chúa. Cũng không phải ai cũng có mức độ ơn phước giống nhau. Gọi là thiên đàng, hay trời, chỉ là cách biểu đạt bất toàn của ngôn ngữ loài người về trạng thái cá nhân “hiệp thông trong sự sống và tình yêu với Thiên Chúa Ba Ngôi” (GLCG 1024). Nói cách khác, không hề có một thiên đàng tĩnh, tồn tại bất biến ở nơi nào đó trong vũ trụ.

Tình kết hợp giữa cá nhân và Thiên Chúa biểu lộ giáo huấn vô cùng quan trọng về tính tự do của con người. Tính tự do đặt con người ở thế chủ động trước ơn phước của Thiên Chúa. Ta muốn liên kết với Thiên Chúa hay không là tùy ở ta. Bởi vì Thiên Chúa chỉ “hiện diện” ở những nơi đạo đức tốt lành. Thiên Chúa không “hiện diện” ở nơi tội lỗi sa đọa. Đức Giêsu đã nói, “Phúc cho những ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa (Mat. 5:8). Tuy nhiên lại phải hiểu rằng “hiện diện” không nằm trong bất cứ phạm trù nào thuộc không-thời gian. Lm Phan Đình Cho tóm tắt rằng thiên đàng phải hiểu là một ơn phước mà Thiên Chúa dành cho người tốt lành và hoả ngục là một thái độ con người tự do từ chối ơn phước đó. (4)

Vài sự kiện trong hạnh các thánh có thể làm rõ hơn về ý tưởng thiên đàng là một ơn phước của Thiên Chúa.  Các vị thánh cao trọng như Gioan Thánh Giá (John of the Cross), Têrêsa Lisieux, và thánh Têrêsa  Calcutta đã trải qua một khoảng thời “mất ơn phước vì bị Thiên Chúa bỏ rơi”. Thánh Gioan Thánh Giá gọi kinh nghiệm này là “đêm đen của linh hồn”. Thiên Chúa cố tình không “đến” với họ khiến tâm hồn họ lạc lõng, trống rỗng, tối đen và đau khổ. Thiên Chúa dành riêng cho một số vị đặc sủng ơn thử thách “đêm đen” này. (5) Nhưng đây là một chủ đề khác, chúng ta không muốn đi ra ngoài chủ đề hôm nay.

Trở lại với tín lý “Thiên Chúa ở khắp mọi nơi”. Thần học dạy rằng chúng ta phải thấy tín lý đó theo hướng nhìn về ơn sáng tạo và ơn cứu độ phổ quát. Thiên Chúa ở khắp mọi nơi có nghĩa Thiên Chúa nâng đỡ sự hiện hữu của vũ trụ. Bởi vì duy chỉ có Thiên Chúa là Hữu. Không gì có trước Hữu, nên Thiên Chúa là Đấng tự Hữu, Hữu Tuyệt Đối. Thiên Chúa đã tạo dựng nên vũ trụ từ hư vô. Nghĩa là mọi vật từ hư vô nhờ Hữu, qua Hữu mà được thành hữu thể. Vì từ Hữu mà ra, nên mọi hữu thể đều thuộc về Hữu, và hiện tính của Hữu có trong mọi hữu thể. Vì vậy mọi hữu thể đều ở trong Hữu. Nếu Thiên Chúa vắng mặt mọi thứ trở thành hư vô ngay tức khắc.

Nếu cảnh giới thiêng liêng nằm ngoài không-thời gian, thì hiển nhiên thiên đàng không nằm trong vũ trụ vật chất. Vì ngôn ngữ của lời cầu nguyện, bắt buộc chúng ta phải xưng hô với Thiên Chúa như một Đấng ở đối diện, nhưng không phải như vậy. Thánh Augustine đã nói những lời cảm khái, “Chúa ở bên trong và luôn luôn ở cùng tôi.” Thánh Phaolô đã có lần đứng giữa chợ trong thành Athens giảng đạo. Thánh nói, “Họ đã đi tìm Thiên Chúa, nhưng thực ra Thiên Chúa đâu có ở xa chúng ta. Chúng ta sống và sinh hoạt trong Thiên Chúa. Nhờ đó chúng ta hiện hữu” (CV 17:27). Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói, “Nếu Thiên Chúa là một đối tượng cụ thể có thể thấy được thì người đó không phải là Thiên Chúa.”

Điều mà hai Giáo Hoàng đưa ra đã được các thần học gia nói tới từ thời thánh Augustinô cho tới ngày nay. Thiên đàng là “điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không thể nghĩ tới, lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Ngài” (1cor 2:9). Vì vậy, hiện tại con người chỉ có thể “thấy” Thiên Chúa bằng đức tin mà thôi. Cho nên “thấy qua đức tin” là một trạng thái của sự sống. Cái thấy này khác với cái thấy trọn vẹn “mặt giáp mặt”, trong cõi vĩnh hằng, khi con người có thân xác phục sinh hiển linh. Khi đó con người không những kết hợp với Thiên Chúa, mà còn kết hợp với các thánh và với các thiên thần (GLCG 962). Thời điểm vĩnh hằng đó, đối với kinh nghiệm hạn hẹp của con người tại thế, chỉ có thể hình dung bằng cách đặt toàn bộ vào một nơi chốn. Theo truyền thống, ngôn ngữ loài người gọi “nơi chốn” đó là thiên đàng. Thiên đàng là một huyền nhiệm không thể nói rõ ra được.

Đỗ Trân Duy
————–
(1) Xin đọc “Heaven”, L’Osservatore Romano, Weekly Edition in English. 28 July 1999.
(2) Xin đọc các câu hỏi 52, 123, 158, 242, 285, và 518 về thiên đàng trong YOUCAT. 2011. Ignatius Press, San Francisco
(3) Xin đọc “Where is God?” P. 105, God and the World. 2002. Joseph Ratzinger. Ignatius Press, San Francisco.
(4) Phan Đình Cho. 2000. Câu hỏi 47, Giải đáp 101 câu hỏi về cái chết và sự sống vĩnh hằng. University Press. New York, USA.
(5) Mẹ Têrêsa Calcutta. Come Be My Light. 2007. Brian Kolodiejchuk chủ bút. Nhà xuất bản Doubleday. Đồng thời để hiểu rõ hơn ý nghĩa của “đêm đen” xin tham cứu bài “On A Dark Night” trong sách The Ascent To Truth. 1981. Thomas Merton. Nhà xuất bản Harcourt Brace & Company, San Diego, California.

Má tôi, vài tâm tình và lòng biết ơn.

Má tôi, vài tâm tình và lòng biết ơn.

Người viết: Phùng Văn Phụng

(Hôm nay 26-05-2015 kỷ niệm ngày má tôi mất được 30 ngày)

Từ trong nhà thờ ra, đang chạy xe về, con gái út báo tin bà nội mất. Lòng tôi xao xuyến, buồn , hụt hầng, bàng hoàng và vẫn bất ngờ vì tôi vẫn hy vọng má tôi còn sống thêm thời gian nữa. Không biết phải tính làm sao, chắc chắn không về kịp rồi vì má đã dặn chỉ làm đám tang trong ba ngày. Má mất sáng chúa nhật 26 tháng 4 năm 2015 ở Việt nam. Ở Mỹ mới là tối thứ bảy, má dặn tẩn liệm trong ngày. Ngày thứ hai thăm viếng và ngày thứ ba thì lễ an táng. Như vậy làm sao mà về dự tang lễ được.

Tử biệt sinh ly là qui luật của đất trời. Không ai thoát khỏi. Vậy mà tôi vẫn cảm thấy buồn, vẫn không muốn chấp nhận.

Mẹ tôi đã sống được 103 tuổi, thật là quý hiếm, hồng ân Thiên Chúa bao la. Thượng Đế đã thương ban cho má con dư đầy,  nên má con mới được hưởng phúc sống lâu trăm tuổi. Vậy mà tôi vẫn còn muốn má tôi sống thêm vài năm nữa.

Nói về cuộc đời của má tôi thì không thể kể hết được những khó khăn, cực khổ theo vận nước nổi trôi.

Trước đình chiến năm 1954, má tôi sống tại làng Đông Thạnh, quận Cần Giuộc, gần chợ Rạch Núi, tảo tần buôn bán để lo cho các con ăn học. Từ năm 1959, 1960, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thành hình, má tôi chịu sống giữa hai lằn đạn của hai bên quốc gia và cộng sản, thường ngủ ở dưới hầm để tránh đạn của hai bên đánh nhau. Đến năm 1963 má tôi phải bỏ nhà cửa ở dưới quê lên Sài gòn, vừa tránh chiến tranh, vừa để lo nấu nướng cơm nước cho các con đi học.

Rồi đến biến cố ngày 30 tháng 04 năm 1975, má tôi rất lo buồn vì có hai đứa con đi ” học tập cải tạo” không biết ngày về. Tôi ở trong các trại cải tạo miền Bắc Việt Nam gần 8 năm, em tôi chịu đựng đói khát, khổ sở trong các trại cải tạo miền Trung, gần 13 năm mới được về với gia đình. Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, má tôi phải bỏ Sài gòn tiện nghi để về quê làm ruộng. Má tôi có tiệm tạp hóa nhỏ để buôn bán, sống với ba đứa cháu nội vừa giữ nhà và giữ vài công ruộng, nếu không có mặt ở dưới quê, nhà nước mới sẽ tịch thâu ruộng đất, nhà cửa.

Sức chịu đựng của má tôi trong thời gian này thật vô cùng lớn lao. Không than thở, không oán trách ai.

Lúc còn trẻ, có lần tôi than phiền chưa làm được việc gì,chưa có sự nghiệp gì, má tôi liền nói: “ Mầy có mấy đứa con rồi đó còn muốn gì nữa.” Rất đơn giản thôi. Sống bình dị, đơn giản như mọi người vậy là vui vẻ, hạnh phúc lắm rồi.

Má tôi phải qua cuộc giải phẩu bao tử ở bịnh viện Grall, còn gọi là “bịnh viện đồn đất” hồi năm 1972, tưởng rằng sẽ giảm thọ nhiều năm.

Sau này, khi về già, có lúc lẫn lúc không. Lúc lẫn, nói chuyện thời xưa nhiều, đòi đi ra khỏi nhà, lúc đó má tôi có sức mạnh lạ kỳ và nhanh nhẹn nữa. Cản má đi ra ngoài nhà, thật là vất vả. Khi tỉnh lại má tôi đâu có mạnh được như  thế đâu, muốn đi đâu cũng phải sốc nách, dẫn đi. Không hiểu tại sao lúc đó lại mạnh như  vậy?

Sau này, phải xay nhuyển thức ăn để đút cho má ăn, chứ không còn ăn cơm bình thường được. Tắm rửa, ăn uống, nhờ con cháu trong nhà, chứ không tự làm lấy được. Hồi năm 2011, tôi về thăm, lúc đó má đi đâu cũng phải dẫn rồi. Mấy tháng sau này chỉ nằm, không thể ngồi được nữa, ăn uống càng ngày càng ít đi.

Các chú, các thím thay nhau đút cơm, tắm rửa, thay quần áo cho má.

Nhiều lúc má không tỉnh mới là rắc rối vì nhiều khi đi vệ sinh mà không biết, thường xuyên phải giặc giũ thay áo quần và tấm “ra”trải giường.

Trước khi má tôi mất một tuần lễ, thím ba đã rửa tội cho má tôi, lấy tên Thánh là Anna, để má được làm con cái Chúa, để  được hưởng VĨNH PHÚC trên Thiên đàng như Cha Chu Quang Minh phân ưu, cầu nguyện  như sau:

Chân thành cầu khẩn để

Cụ LÂM THỊ CHẦU

Mau được An Hưởng Vinh Phúc Ngàn Thu trên Thiên Đàng,

và Phân Ưu cùng anh chị song nguyền Phụng & Điện

cũng như toàn thể tang quyến trong lúc tử biệt uy nghiêm.

Thành kính,

Lm. Phêrô Chu Quang Minh, S.J.

Sáng lập Chương Trình TTHNGĐ

Chúng con xin cám ơn Cha Chu Quang Minh sáng lập Chương Trình Thăng Tiến Hôn Nhân Gia đình, Tân và Cựu Chủ nguyền cũng như các song nguyền của Chương trình Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Đình .

Xin cám ơn Cha Nguyễn Ngọc Thụ Chánh Xứ Giáo Xứ Ngôi Lời Nhập Thể.

Xin cám ơn Cha Bùi Tiến, Thầy Phó Tế Nguyễn Sĩ Bạch, chị Kim Bằng,

Xin cám ơn  Thầy Cựu Hiệu Trưởng Uông Đại Bằng, Thầy Cựu Giám Học Hồ Công Hưng, và các em Cựu Học sinh trường Lương văn Can Quận 8 Sài gòn.

Ban Trị Sự Họ Đạo Cao Đài quận 8 và quý Đạo Hữu Đạo Cao Đài,

Xin cám ơn Anh Đoàn Hữu Đức và các bạn trong văn phòng Đoàn Agency

Xin cám ơn các bạn Cựu giáo sư và Cựu học sinh truờng Châu văn Tiếp.

Nhóm cầu nguyện, chia sẻ Lời Chúa tối thứ năm hàng tuần.

Xin cám ơn Ban Điều Hợp Lớp Tân Tòng.

Đoàn Liên Minh Thánh Tâm của Giáo Xứ Ngôi Lời.

Anh chị em đồng hương Cần Giuộc Ca li và Houston.

Các thông gia và gia đình.

Xin cám ơn bà con, anh chị em ở Phạm Thế Hiển và xã Tân Tập, quận Cần Giuộc Long An.

đã phân ưu, gởi vòng hoa, đọc kinh, xin lễ, điện thư chia buồn, tiễn đưa Mẹ của chúng con là

Cụ Bà Anna Lâm Thị Chầu

đến nơi an nghĩ cuối cùng.

Xin quý vị tiếp tục cầu nguyện cho linh hồn Mẹ con. Trong tang lễ chắc chắn có nhiều điều thiếu sót, xin niệm tình tha thứ và xin Chúa chúc lành cho quí vị.

Vợ chồng Phùng văn Phụng, gia đình các em 

và các con, các cháu.

26 -05-2015

Tác giả: Phùng Văn Phụng