Báo Việt Nam và Trung Quốc khẩu chiến vì Mỹ

Báo Việt Nam và Trung Quốc khẩu chiến vì Mỹ

Bức biếm họa về quan hệ Việt - Mỹ trên trang web của Hoàn cầu Thời báo.

Bức biếm họa về quan hệ Việt – Mỹ trên trang web của Hoàn cầu Thời báo.

VOA Tiếng Việt

07.06.2015

Truyền thông của hai quốc gia cộng sản mới đây đã dùng những ngôn từ không hề kiêng nể để nhắm vào nhau, gây ra một cuộc đối đầu trên ‘mặt trận báo chí’ nhà nước của hai quốc gia láng giềng.

Trong một bài bình luận đăng ngày 2/6 về chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter, tờ Hoàn cầu Thời báo thuộc cơ quan Ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc viết rằng “người Việt Nam thừa biết là Washington đang lợi dụng Hà Nội để khống chế Trung Quốc tại biển Đông”.

“Người Mỹ không hâm mộ thể chế chính trị của Việt Nam. Điều gì sẽ xảy ra sau khi nước này tự ngả vào vòng tay của Mỹ? Câu trả lời không thể rõ ràng hơn”.

Bài viết của tờ báo thuộc Nhân dân Nhật báo của Trung Quốc viết thêm rằng “Hà Nội luôn luôn cảnh giác trước Washington, và điều đó không dễ thay đổi vì những lời đường mật của ông Carter, và ngược lại. Hoa Kỳ sẽ không tin Việt Nam sẽ trung thành với mình”.

Đáp lại, tờ Giáo dục Việt Nam nói rằng “bài xã luận sặc mùi cay cú” của Hoàn cầu Thời báo “xuyên tạc quan hệ hợp tác quốc phòng Việt – Mỹ, Việt – Trung”.

Tờ báo thuộc Hiệp hội các Trường đại học, cao đẳng Việt Nam viết tiếp: “Đúng là Hoa Kỳ không ngây thơ, và người Việt Nam cũng không ngây thơ. Người Việt Nam không quên quá khứ, nhưng quá khứ ấy không chỉ có 2 cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, mà còn cả ngàn năm Bắc thuộc, gần nhất cũng là những cuộc chiến như năm 1979 Trung Quốc xua quân xâm lược tàn sát hàng ngàn đồng bào mình và xâm lược, thôn tính Hoàng Sa năm 1974, 6 bãi đá Trường Sa năm 1988”.

‘Xóa sạch quá khứ’

“Còn Trung Quốc thì sao? Bề ngoài Bắc Kinh luôn miệng muốn “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai” nhưng thực bụng lại chỉ muốn láng giềng xóa sạch quá khứ bị phương Bắc xâm lược để tiếp tục bành trướng, “xâm lược mềm” lãnh thổ trong hiện tại và tương lai,” tờ báo viết thêm.

Báo chí Việt Nam nằm dưới sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước, nên các nhà quan sát cho rằng phản ứng của tờ Giáo dục Việt Nam nhiều khả năng đã được “bật đèn xanh”.

Trên bình diện ngoại giao, Việt Nam và Trung Quốc thời gian qua cũng đã có lời qua tiếng lại về vấn đề chủ quyền lãnh thổ.

Đích thân các lãnh đạo cấp cao của Việt Nam đã nồng hậu đón tiếp ông Carter. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã “khẳng định chủ trương nhất quán của Việt Nam coi trọng thúc đẩy quan hệ với Hoa Kỳ, vì lợi ích lâu dài của nhân dân hai nước”.

Trong khi đó, Chủ tịch Trương Tấn Sang thì nói rằng “hai bên đã khép lại quá khứ và hướng tới tương lai thể hiện bằng việc thiết lập quan hệ đối tác toàn diện, đặc biệt quan trọng là trao đổi cấp cao diễn ra thường xuyên hơn”.

6.4 triệu người Mỹ có thể mất phụ cấp y tế Obamacare

6.4 triệu người Mỹ có thể mất phụ cấp y tế Obamacare

Nguoi-viet.com

WASHINGTON, DC (NV) – Khoảng 6.4 triệu người Mỹ có thể không còn được hưởng trợ cấp y tế theo chương trình Obamacare của chính phủ, nếu phán quyết của Tối Cao Pháp Viện vào tháng tới đi ngược với chính phủ Obama, Washington Post trích dẫn dữ kiện thu thập từ chính phủ liên bang.

Một y tá phát biểu trong một buổi tập hợp ở Florida, kêu gọi tiểu bang này chấp nhận chương trình Obamacare. (Hình minh họa: Joe Raedle/Getty Images)

Dữ kiện ghi danh theo chương trình săn sóc y tế cho thấy 10.2 triệu người đã ghi danh và trả tiền, tính đến Tháng Ba.

Trong số này, 6.4 triệu được chính phủ phụ cấp, giúp họ trả tiền bảo hiểm tư nhân tại 34 tiểu bang.

Nếu Tối Cao Pháp Viện nghiêng theo phía chống Obamacare, những người được hưởng chương trình bảo hiểm y tế của chính phủ sẽ mất trợ cấp này, vào khoảng $1.7 tỷ mỗi tháng.

Được biết việc phụ cấp được căn cứ vào thu nhập của cá nhân, với phụ cấp trung bình là $272 mỗi tháng.

Nhiều người được phụ cấp săn sóc y tế của chính phủ là người da trắng sống ở miền Nam Hoa Kỳ.

Phân nửa người được phụ cấp có việc làm toàn thời gian.

Nhiều người sống tại các tiểu bang như Florida, Georgia, Louisiana, North Carolina và Texas, nơi lãnh đạo tiểu bang là những người thuộc Đảng Cộng Hòa, chống lại luật săn sóc y tế của chính phủ.

Nhiều người khác sống tại vùng Trung Tây như Illinois, Indiana, Ohio và Wisconsin.

Nếu mất phụ cấp, 1.3 triệu người dân ở Florida bị ảnh hưởng nặng nhất với tổng số $389 triệu hàng tháng.

Thứ nhì là Texas, với 832,000 dân mất phụ cấp tổng cộng $206 triệu/tháng.

Người được phụ cấp sau khi bị mất quyền lợi này sẽ rơi vào hoàn cảnh tiền bảo hiểm trung bình tăng 287%. (TP)

KHIÊM CUNG

KHIÊM CUNG

Lễ phép là phép thuật giữa đời thường, và thường ...

(Giáo dục thời VNCH)

Mạnh Kim

Mở đầu: “Xin được mạn phép…”

Kết thúc:”Có điều gì sai sót, xin niệm tình thứ lỗi.”

Tôi vẫn tin, một cách cực đoan, rằng chỉ có nền giáo dục tử tế mới có những con người tử tế và biết cách khiêm cung, biết cách giới hạn lòng tự tôn và biết cách kiểm soát bản thân trước những lời khen. Chẳng có gì nhanh chóng đẩy chúng ta xuống vực bằng cách thỏa mãn sự vuốt ve lẫn sự tự vuốt ve. Giới học giả trước 1975 tại miền Nam gần như chẳng ai phách lối coi mình là cái rốn của vũ trụ, kể cả triết gia cực ngông Phạm Công Thiện.

Sự khiêm cung thể hiện ở ngay trong tác phẩm họ soạn hoặc dịch. Trong “Nam Hoa Kinh” (Tủ sách Tân Việt xuất bản, 1962), dịch giả – cụ Nhượng Tống – viết lời mở đầu: “… Tôi mong các bạn sẽ phân-tích và được chịu những lời dạy-bảo cao-minh. Tài học tôi có lẽ chưa đủ hiểu hết phần cao-siêu trong học-thuyết Trang và chưa đủ quyền nói đến những chuyện mà phạm-vi là “vô cực”…

Trong “Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam” (NXB Hiện Tại, 1959), Linh mục Mậu Hải viết lời giới thiệu cho tác giả-Linh mục Nguyễn Hồng: “… Nhưng trí một người có hạn, óc cá nhân có mức nên tác giả cũng như kẻ cầm bút viết mấy lời này vẫn thành thực thầm ước được nghe lời chỉ giáo của chư độc giả bốn phương”. Và trong “Việt Nam Văn học Sử yếu” (Trung tâm Học liệu, Bộ giáo dục VNCH, 1968), cụ Dương Quảng Hàm viết: “…. Quyển sách này còn có nhiều chỗ thiếu-thốn sơ-lược, sau này cần phải bổ-khuyết hoặc giải-thích thêm…, ngõ-hầu một ngày kia tìm thấy những hoa lạ quả quý hiện nay còn ẩn khuất trong đám cành lá rậm-rạp, thì thật là hân-hạnh cho chúng tôi lắm”.

Mà không phải trong giới nghiên cứu học thuật mới có sự khiêm cung. Trong khoa học cũng tương tự. Có thể thấy điều này trong giới khoa học thuộc cộng đồng Việt kiều. Chúng ta đã nghe nói đến kỹ sư Đinh Trường Hân (đoạt giải môi sinh của Nhà Trắng năm 2006, được tạp chí Public Works chọn là một trong 50 nhà lãnh đạo có ảnh hưởng lớn nhất nước Mỹ năm 2006); từng nghe nói đến bà Lê Duy Loan (kỹ sư Texas Instruments-TI; với hàng chục bằng sáng chế; trở thành phụ nữ đầu tiên và là gương mặt châu Á đầu tiên được bầu làm viện sĩ TI – chức danh trước đó chỉ được trao cho bốn gương mặt nam trong lịch sử TI); từng nghe nói đến bà Dương Nguyệt Ánh (tổng giám đốc Phòng khoa học-kỹ thuật thuộc Trung tâm chiến sự Hải quân Hoa Kỳ, người thiết kế bom cực mạnh chuyên phá hầm bêtông); từng nghe nói đến ông Trung Dũng (tiến sĩ khoa học máy tính Đại học Boston; cử nhân toán và khoa học máy tính Đại học Massachusetts; từng xuất hiện trên các tạp chí Forbes, Financial Times, Wall Street Journal, San Francisco Chronicle cũng như trong quyển The American Dream của nhà báo kỳ cựu Dan Rather)… Chúng ta đã nghe về tài năng của họ. Điều chúng ta chưa nghe đến là thái độ vung vẩy ngạo mạn lố bịch của họ. Có lẽ điều đó không bao giờ xảy ra.

Gần đây, trong chương trình “Tôi Là Người Việt Nam”, cô Nguyễn Cao Kỳ Duyên cũng kể đến trường hợp ông Trịnh Tiến Trinh, người dù từng được giải “NASA’s Inventor of The Year 1992″ nhưng vẫn thấy… “mắc cỡ” khi được ông Nguyễn Ngọc Ngạn dùng từ “khoa học gia” gọi mình. Hoặc chuyện ông Đinh Xuân Anh Tuấn (bác sĩ, giáo sư, nhà nghiên cứu). Khi được ông Ngạn hỏi: “Ông vừa là một bác sĩ, vừa là một nhà giáo vậy ông muốn tôi xưng bác sĩ hay giáo sư?”. Ông Tuấn trả lời: “Thưa anh Ngạn, tôi chỉ là một bác sĩ khi đứng trước bệnh nhân và một giáo sư khi đứng trước học trò, còn ở đây anh cứ gọi bằng tên thường được rồi”.

Khiêm cung. Tại sao họ lại khiêm cung? Họ hẳn hiểu rằng chẳng ai có thể toàn bích và sự hiểu biết dù mênh mông của họ vẫn luôn có những giới hạn nhất định… Cá nhân tôi vẫn tin rằng, một cách cực đoan, chỉ có một nền giáo dục tử tế mới sinh ra những con người tài năng và khiêm cung.

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

Xem thêm:

– Lời Phật dạy “Hãy thắng người hơn mình bằng đức tánh khiêm cung.”

Đức Khiêm Cung của người tu học

Chúa nói : HẪY BẮT CHƯỚC TA HIỀN LÀNH VÀ KHIÊM NHƯỜNG TRONG LO`NG .

Việt Nam ‘muốn vứt đi $63 triệu’ trong dự án metro Hà Nội

Việt Nam ‘muốn vứt đi $63 triệu’ trong dự án metro Hà Nội

HÀ NỘI 7-6 (NV) – Đó là nhận định của nhiều người Việt, sau khi Việt Nam công bố dự tính sẽ bỏ ra $63.2 triệu để mua 13 tàu điện của Trung Quốc cho tuyến metro Cát Linh – Hà Đông.

 

Giàn giáo xây dựng tuyến metro Cát Linh – Hà Đông sập xuống hôm 28 tháng 12 năm 2014. (Hình: VnMedia)

Theo báo chí tại Việt Nam, 13 tàu điện vừa kể do Công ty Trang thiết bị tàu điện ngầm Bắc Kinh sản xuất. Mỗi tàu có bốn toa. Mô hình của loại tàu điện này sẽ được giới thiệu vào cuối năm nay. Sang năm sau, Công ty Trang thiết bị tàu điện ngầm Bắc Kinh sẽ giao sản phẩm.

Trước các chỉ trích của công chúng, một vài tờ báo ở Việt Nam phân trần rằng, sở dĩ Việt Nam phải mua tàu điện của Trung Quốc là vì trong một hiệp định được ký vào năm 2008, Việt Nam đã hỏi vay và Trung Quốc đồng ý cho vay hàng trăm triệu Mỹ kim để thực hiện các dự án đường sắt với điều kiện phải sử dụng cả công nghệ lẫn trang thiết bị của Trung Quốc.

Tuy chưa có dự án đường sắt nào thực hiện bằng vốn vay của Trung Quốc hoàn tất nhưng quá trình thực hiện những dự án này, ví dụ như tuyến metro Cát Linh – Hà Đông ở Hà Nội đã tạo ra hàng loạt scandal, khiến mọi người vừa lo ngại, vừa phẫn nộ.

Tuyến metro Cát Linh – Hà Đông chỉ có 13 cây số, lẽ ra phải hoàn tất vào năm 2012 nhưng đến nay vẫn còn dở dang. Tuy nhà thầu Trung Quốc cam kết sẽ hoàn tất công trình vào tháng 6 năm 2015 nhưng gần đây, thời điểm khánh thành được thông báo là tiếp tục dời lại đến cuối năm.

Hồi hạ tuần tháng 11 năm ngoái, tại điểm xây dựng một nhà ga trong tuyến metro Cát Linh – Hà Đông, ở đoạn chạy qua quận Thanh Xuân, do cẩu bị đứt cáp, ba thanh dầm bằng thép đã rớt xuống đường, đè chết một người và làm hai người trọng thương. Lúc đó, Bộ Giao thông – Vận tải Việt Nam đã ra lệnh cho nhà thầu Trung Quốc tạm ngưng thi công để kiểm tra toàn bộ qui trình giám sát – bảo đảm an toàn. Nửa tháng sau, nhà thầu Trung Quốc được phép tiếp tục thi công và chỉ trong hai tuần lại gây thêm tai nạn khác.

Rạng sáng 28 tháng 12 năm 2014, giàn giáo trong công trình xây dựng tuyến metro Cát Linh – Hà Đông, ở đoạn sát Bến xe Hà Đông đột nhiên sụp xuống lúc đang đổ bê tông. May mắn là tai nạn xảy ra vào lúc rạng sáng, đường chưa đông người qua lại nên không có tổn thất nhân mạng. Sắt thép, bê tông chỉ đè nát phần đầu của một chiếc taxi vừa trờ tới. Tài xế taxi và ba hành khách trong xe không bị thương. Theo một số chuyên gia, giàn giáo sập do bị dịch chuyển lúc đang đổ bê tông.

Công trình xây dựng tuyến metro Cát Linh – Hà Đông không chỉ thiếu an toàn, kém chất lượng mà còn nổi tiếng vì sự tráo trở của nhà thầu Trung Quốc. Nhà thầu Trung Quốc đã đòi nâng vốn đầu tư dự án từ $553 triệu lên $892 triệu. Tuy yêu sách này phi lý, Việt Nam vẫn bất chấp sự can gián của chuyên gia nhiều giới, vay thêm của Trung Quốc $339 triệu để đáp ứng đòi hỏi của… nhà thầu Trung Quốc!

Lúc đó, theo tường thuật của báo chí Việt Nam, tại cuộc họp với ông Chu Hằng Vũ, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Hữu hạn của Cục 6 ngành đường sắt Trung Quốc, ông Đinh La Thăng, Bộ trưởng Giao thông – Vận tải Việt Nam, nhận định, tuyến metro Cát Linh – Hà Đông là công trình giao thông tồi tệ nhất ở Việt Nam. Công trình này khiến dân chúng Việt Nam lo ngại về mức độ an toàn, chất lượng và phẫn nộ vì nhà thầu Trung Quốc không thèm đếm xỉa đến những yêu cầu của Bộ Giao thông – Vận tải Việt Nam.

Ông Thăng  yêu cầu nhà thầu Trung Quốc phải tìm một người “có trình độ và lương tâm” để thay thế Tổng Chỉ huy công trường, đổi ngay công ty Trung Quốc đang giữ vai trò giám sát (Công ty Giám sát xây dựng thuộc Viện Nghiên cứu thiết kế công trình đường sắt Bắc Kinh). Cũng đến lúc đó, Bộ Giao thông – Vận tải Việt Nam mới đòi nhà thầu Trung Quốc phải sử dụng công ty giám sát do bộ này chỉ định và loại toàn bộ các nhà thầu phụ để trực tiếp ký hợp đồng với các tổng công ty xây dựng công trình giao thông của phía Việt Nam.

Ông Thăng khẳng định, nếu nhà thầu Trung Quốc không chấp nhận những yêu cầu đó thì ông sẽ đề nghị chính phủ Việt Nam loại họ để kiếm một nhà thầu khác. Cũng phải đến lúc đó, đại diện nhà thầu Trung Quốc mới nhượng bộ, mới xin lỗi hứa sẽ đáp ứng tất cả các yêu cầu của ông.

Tuy nhiên chuyện “cảnh cáo” nhà thầu Trung Quốc của ông Thăng bị cả báo giới lẫn cựu viên chức ngoại giao của Trung Quốc cho là kích động “bài Trung”.

Hồi đầu năm nay, Hoàn Cầu Thời báo dẫn lời ông Tề Kiến Quốc, từng là Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, khuyến cáo, lẽ ra, ông Thăng không nên làm như thế đối với nhà thầu Trung Quốc, không nên làm sự việc trở thành rùm beng vì tai nạn ở các công trường tại Việt Nam là… bình thường. (G.Đ.)

 

“Này là Máu Ta”

“Này là Máu Ta”

ĐTGM. Ngô Quang Kiệt.

Máu cần thiết cho sự sống. Thiếu máu nhiều bệnh nhân sẽ khó sống. Hiến máu đã cứu được nhiều người thoát chết. Hiến máu là tặng ban sự sống. Đó là hình ảnh cuộc hiến mình của Đức Kitô trên thập giá. Trong bữa tiệc ly, Đức Kitô cho biết Người sẽ đổ máu ra để cứu thế giới khi Người cầm chén rượu và nói: “Tất cả các con hãy cầm lấy mà uống. Này là chén Máu Thầy, Máu giao ước mới, sẽ đổ ra cho các con và mọi người được tha tội”. Máu để cứu sống, máu để thiết lập giao ước, máu để tha tội, tất cả những ý nghĩa này đã được tiên báo trong Cựu ước.

Máu để cứu sống được diễn tả bằng hình ảnh con Chiên Vượt Qua. Để cứu dân Do Thái ra khỏi ách nô lệ Ai Cập, Chúa truyền cho người Do Thái giết một con chiên còn trong sạch, lấy máu bôi lên cửa. Đêm hôm ấy, thiên thần Chúa đến trừng phạt người Ai Cập, nhà nào có máu chiên bôi trên cửa sẽ được cứu thoát. Để tưởng niệm việc được cứu sống và được giải thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập, từ đó, hằng năm vào đúng ngày ấy, người Do Thái vẫn giữ tập tục giết chiên mừng lễ. Lễ đó gọi là lễ Vượt Qua. Con chiên bị giết gọi là con chiên Vượt qua. Khi hiến mình đúng vào dịp lễ Vượt Qua, Đức Giêsu trở thành Chiên Vượt Qua mới. Máu Người đổ ra cứu linh hồn ta khỏi nô lệ tội lỗi và khỏi chết. Các thánh Giáo phụ cắt nghĩa rằng: Miệng ta là cửa linh hồn. Người rước Mình Máu Thánh Chúa vào miệng cũng như bôi máu chiên lên cửa nhà, sẽ được cứu sống và được giải thoát khỏi nô lệ tội lỗi.

Máu giao ước được diễn tả qua nghi lễ ông Môsê cử hành dưới chân núi Sinai. Bài đọc thứ nhất hôm nay thuật lại: “Ông Môsê sai các thanh niên trong dân Israel tiến dâng những lễ toàn thiêu, và ngả bò tơ làm lễ hiệp thông tế Chúa. Ông lấy một nửa phần máu, đổ vào những cái chậu, còn nửa kia thì rảy lên bàn thờ. Ông lấy cuốn sách giao ước đọc cho dân nghe. Họ thưa: Tất cả những gì Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và sẽ tuân theo. Bấy giờ, ông Môsê lấy máu rảy trên dân và nói: Đây là máu giao ước Chúa đã lập với anh em”. Đó là giao ước cũ hay là Cựu ước.

Tại Việt Nam cũng như tại các nước Á Đông có tục “uống máu ăn thề”. Khi muốn giao kết với nhau, mỗi người lấy một chút máu của mình hòa chung vào một chén rượu. Sau đó mọi người chia nhau cạn chén. Việc uống máu ăn thề nói lên sự đồng tâm nhất trí. Những người cùng uống chung chén rượu pha máu trở nên ruột thịt với nhau, cùng sống cùng chết với nhau. Đức Giêsu đổ máu ra để lập một giao ước mới giữa loài người với Thiên Chúa. Máu Đức Giêsu giao hòa con người với Thiên Chúa và con người với nhau. Máu giao ước đó làm cho con người trở thành con cái ruột thịt của Thiên Chúa và trở nên anh em ruột thịt với nhau. Đó là máu giao ước.

Máu để tha tội được dùng nhiều trong Cựu ước. Khi dâng lễ đền tội, người ta cũng xả thịt một con vật dâng cho Thiên Chúa. Thày cả lấy máu con vật vảy lên tội nhân để ban ơn tha tội. Khi ta rước Mình Máu Thánh Chúa, ta cũng được tha tội vì Máu Chúa không vảy lên thân xác, nhưng vảy vào linh hồn ta.

Những ý nghĩa mà máu súc vật trong Cựu ước tượng trưng nay được hoàn thành viên mãn trong Máu Đức Kitô.

Nhân loại đang rên xiết trong ách nô lệ đã được Người giải thoát. Nhân loại đang xa lìa Thiên Chúa và bất hòa với nhau đã được Người giao hòa thành một gia đình thương yêu thuận hòa, sống chết có nhau. Nhân loại đang sống trong tội lỗi được Máu Người tẩy sạch mọi vết nhơ.

Chúng ta được ân phúc dường ấy là nhờ Người đã tự hiến mạng sống vì ta. Dòng Máu Người đổ ra đến đâu đem lại sự sống đến đấy. Dòng Máu Người lan tới đâu thì ban ơn tha tội đến đấy.

Mừng lễ Mình Máu Thánh Chúa, ta hãy cảm tạ tình yêu vô biên của Người đã hiến mình, đổ máu để cứu chuộc ta.

Mừng lễ Mình Máu Thánh Chúa, ta hãy đáp lại tình yêu của Người bằng cách siêng năng đến lãnh nhận và siêng năng đến thờ lạy Đức Giêsu ngự trong phép Thánh Thể.

Mừng lễ Mình Máu Thánh Chúa, ta hãy noi gương Người, biết quên mình, hiến thân phục vụ đồng loại.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1)    Bạn có tham dự Thánh lễ và chịu lễ sốt sắng không?

2)    Mỗi khi chịu lễ, bạn có cảm nghiệm được Đức Giêsu ngự trong bạn không?

3)    Yêu mến Chúa trong phép Thánh Thể, bạn có muốn nên giống Người, biết hiến thân phục vụ đồng loại không?

4)    Trong Kinh Thánh, máu có những ý nghĩa nào?

Mai Vy Trần, học sinh gốc Việt tốt nghiệp trung học với GPA 4.94

Mai Vy Trần, học sinh gốc Việt tốt nghiệp trung học với GPA 4.94

Nhất Anh/Người Việt

VILLA PARK, California (NV) – 4.94! Vâng, 4.94, đó là số điểm GPA mà cô Mai Vy Trần đạt được khi tốt nghiệp trung học Villa Park ở Orange County mùa hè năm nay.

Chia sẻ với nhật báo Người Việt, ông Thịnh Trần, cha của Mai Vy, không giấu được sự vui mừng lộ rõ trên khuôn mặt.

“Tôi có đi làm cực đến mấy nhưng biết được con mình học giỏi, bao nhiêu mệt mỏi cũng biến mất. Hạnh phúc nhất của gia đình là khi được thấy con trưởng thành, biết tự lo cho bản thân và tương lai của mình,” ông tâm sự.

Mai Vy Trần và bản thành tích của mình (Hình: Mai Vy Trần cung cấp).

Mai Vy Trần sinh ra trong gia đình có ba anh chị em, cô là chị cả. Cha cô làm việc tại một hãng xưởng địa phương, công việc vất vả từ sáng đến đêm khuya. Mẹ em ở nhà chăm sóc ba chị em. Biết được vất vả của ba mẹ, và bản thân cũng là chị cả, từ nhỏ, Mai Vy đã tập cho mình thói quen tự giác học bài mà không cần ai nhắc nhở. Trong suốt những năm đi học, lúc nào cô cũng là học sinh xuất sắc của trường.

Trong tất cả các môn học, Mai Vy thích nhất là hoá học, và cho biết sẽ chọn ngành này khi lên đại học. Sau đại học, cô sẽ quyết định tiếp tục học lên bác sĩ, dược sĩ hay là chuyên viên bào chế thuốc.

“Em chọn hoá vì em rất thích học môn đó. Ngoài ra, sau này, em muốn mình có một công việc giúp đỡ cho nhân loại, cho mọi người xung quanh như việc tìm ra thuốc chữa bệnh,” Mai Vy cười nói.

Để chuẩn bị cho bước tiếp theo khi lên đại học, Mai Vy đã nộp đơn cho năm trường đại học, bao gồm UCLA, UC Irvine, UC San Diego, UC Berkeley, và Cal State Long Beach. Tất cả các trường đều nhận em. Và sự lựa chọn cuối cùng của Mai Vy là UCLA.

“Em chọn UCLA vì hai lý do. Thứ nhất là vì ở đây có chương trình hóa học tốt. Thứ hai là nơi đây gần nhà, em muốn gần gia đình mình,” Mai Vy bày tỏ.

Bước vào năm cuối tại trường trung học, Mai Vy lấy bảy lớp, bao gồm năm lớp AP (là lớp học có thể được tính khi vào đại học), một lớp danh dự (honor) và một lớp nghệ thuật.

Mai Vy chia sẻ: “Em thường dành từ năm đến sáu tiếng mỗi ngày để làm bài tập ở nhà, học bài và chuẩn bị bài vở.”

Dù thời khóa biểu học bận rộn, Mai Vy vẫn dành thời gian tham gia các hoạt động của trường. Cô là người lưu trữ lịch sử của Câu Lạc Bộ Key Club của trường. Ngoài ra, cô cùng các bạn trong câu lạc bộ tham gia các hoạt động tình nguyện cho cộng đồng như nhặt rác ngoài biển hay tham gia tình nguyện cho các cuộc chạy marathon gây quỹ giúp đỡ những người gặp khó khăn.

Ngoài ra, Mai Vy cũng từng tham gia các hoạt động trong nhà thờ chánh tòa Chúa Kitô Vua (Christ Cathedral), Garden Grove, nơi cô tình nguyện dạy tiếng Việt cho các trẻ em khác và tham gia chương trình Lãnh Đạo Trẻ, và dạy giáo lý cho các em nhỏ.

Những bức tranh Mai Vy Trần vẽ trong thời gian rảnh rỗi (Hình: Nhất Anh/ Người Việt)

Khi có thời gian rảnh rỗi, Mai Vy thích nhất là vẽ, và vẽ trong hàng giờ. Cô vẽ những thứ xung quanh, về con người, về cảnh vật hiện diện trong đời sống.

Để có thể cân bằng việc tham gia các hoạt động ngoại khoá và việc học với điểm cao, Mai Vy tâm sự, cô luôn sắp xếp thời gian hợp lý, chia sẻ những thắc mắc bài vở với giáo viên và bạn bè.

“Em không bắt buộc mình phải học nhiều thật nhiều, lấy thật nhiều lớp rồi sau đó cảm thấy bị quá tải. Em học vừa đúng sức mình và luôn thật tập trung với bài giảng trong lớp,” cô chia sẻ.

“Em cũng muốn cảm ơn đến ba mẹ em, người đã hy sinh cho em và gia đình rất nhiều, và cho dù em chọn ngành gì, làm nghề gì, hay em làm gì, em biết rằng ba mẹ vẫn luôn đứng đằng sau và ủng hộ em hết mình,” Mai Vy gửi gắm lời tâm sự của mình đến với cha mẹ.

Từ một cô bé rụt rè không biết phải làm sao để giao tiếp bằng tiếng Anh khi mới bắt đầu đi học lớp 1 (cô qua Mỹ lúc 6 tuổi), giờ đây, Mai Vy đã tốt nghiệp trung học với điểm GPA cao tới 4.94 và một tương lai rộng mở phía trước.

HỒNG ÂN THÁNH THỂ

HỒNG ÂN THÁNH THỂ

(Suy niệm Lễ Mình Máu Chúa)

Tác giả: Lm. Inhaxio Trần Ngà

Vào khoảng năm 2007, có một số người cho rằng họ đã nhìn thấy bức tượng thánh Mác-ti-nô đặt phía tiền đình nhà thờ Giáo Xứ Hạnh Trí (tỉnh Ninh Thuận), thuộc Giáo Phận Nha Trang, đột nhiên rung chuyển cách lạ lùng (giáo dân gọi là hiện tượng thánh rung) thì lập tức có rất đông tín hữu từ nhiều nơi cách xa hàng trăm cây số tuôn về để đọc kinh cầu nguyện suốt ngày đêm. Cả khuôn viên nhà thờ rộng lớn hơn cả mẫu tây cũng không đủ chỗ cho các tín hữu từ nhiều nơi tuôn đến cầu nguyện.

Và hôm nay, nếu có nguồn tin cho hay: Đức Mẹ hiện ra tại một nơi nào đó thì cũng sẽ có rất nhiều tín hữu từ khắp nơi sẽ tuôn đến không có chỗ chen chân.

Thế nhưng, có một sự kiện rất lớn lao vĩ đại là việc Chúa Giê-su là Thiên Chúa Ngôi Hai thực sự đang hiện diện và hiến dâng thân mình làm lễ tế trên bàn thờ trong mỗi Thánh Lễ hằng ngày thì rất nhiều tín hữu tỏ ra thờ ơ, hờ hững chẳng chút bận tâm!

Tại sao thế?

Vì phần đông tín hữu lầm tưởng Thánh Lễ chỉ là một nghi thức được lặp đi lặp lại nhiều lần để tưởng nhớ việc Chúa Giê-su chịu chết và sống lại cách đây 2.000 năm, nên họ cho rằng chỉ cần tham dự vài ba lần trong những dịp lễ lớn là đủ.

Hy tế của Chúa Giê-su trên đồi Can-vê và Thánh Lễ hôm nay chỉ là một

Tuy nhiên, Thánh Lễ không chỉ là nghi thức tưởng niệm cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa Giê-su mà thôi. Thánh Lễ cũng là việc Chúa Giê-su tiếp tục hiến tế thân mình làm lễ tế hiến dâng cho Thiên Chúa Cha để cứu độ muôn người.

Giáo lý Hội Thánh Công giáo dạy rằng: Thánh Lễ hôm nay “hiện tại hoá hy tế Thập giá của Chúa Giê-su” cách đây 2.000 năm. Như thế có nghĩa là “Hy tế của Đức Ki-tô (trên đồi Can-vê năm xưa) và  Thánh Lễ hôm nay chỉ là một.” (GLHTCG số 1366, 1367)

Như vậy, chỉ có một Thánh Lễ do chính Chúa Giê-su cử hành:

– Bắt đầu vào lúc Chúa Giê-su lập Bí Tích Thánh Thể trong Bữa Tiệc Ly;

– Lên đến cao điểm vào chiều thứ sáu khi Chúa Giê-su hiến tế thân mình trên đồi Can-vê;

– Và tiếp tục trong các Thánh Lễ hằng ngày cho đến tận thế (GLHTCG 1323, 1367).

Vậy thì Thánh Lễ cực kỳ thiêng liêng, cao cả và đáng quý trọng vô cùng chứ không chỉ là một nghi lễ tưởng niệm mà thôi.

Vì thế,

Khi ta tham dự Thánh Lễ là đang hiệp thông vào hy tế thập giá của Chúa Giê-su như Mẹ Maria, như thánh Gioan tông đồ năm xưa, nối gót Chúa Giê-su trên đường thương khó, cùng chịu đau khổ với Ngài.

Khi ta tham dự Thánh Lễ là cùng vác thập giá với Chúa Giê-su như ông Si-môn Ky-rê-nê từng vác thập giá với Chúa Giê-su trên chặng đường thương khó, để thông hiệp vào cuộc thương khó của Chúa và góp phần với Chúa để đền tội cho các linh hồn.

Hồng ân Thánh Thể

Khi chúng ta đi hành hương ở nhiều nơi, kể cả những nơi rất xa xôi và tốn kém, cầu mong được lãnh nhận những ơn thiêng do Chúa và Đức Mẹ thông ban, thì chưa chắc chúng ta có nhận được những ơn mà chúng ta mong ước hay không.

Tuy nhiên, khi đến tham dự Thánh Lễ với tâm hồn thành kính, chắc chắn chúng ta sẽ nhận được những hồng ân rất cao quý do Thánh Lễ mang lại, đó là:

-Được thứ tha tội lỗi

Khi dâng mình làm lễ tế trên đồi Can-vê hôm xưa, cũng là khi dâng mình trong Thánh Lễ hôm nay, Chúa Giê-su hiến tế thân mình làm hy lễ đền tội cho muôn người để họ được ơn tha thứ và thoát khỏi án chết đời đời. (GLHTCG số 1365, 1366, 1367)

-Được hiệp thông nên một với Chúa Giê-su

Thiên Chúa như đại dương bao la, còn chúng ta như vũng nước nhỏ bên bờ đại dương.  Khi ta rước Chúa vào lòng, ngăn cách giữa ta với Chúa không còn nữa: Ta được tan hòa vào Chúa như ao nước nhỏ tan hòa vào đại dương và nên một với đại dương. Chính Chúa Giê-su đã khẳng định điều này: “Ai ăn thịt và uống máu Tôi, thì ở lại trong Tôi, và Tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6, 56).

-Được tiếp nhận sự sống của Thiên Chúa

Vì được hiệp thông hoàn toàn nên một với Chúa Giê-su như ao nước hoà chung với đại dương, như bàn tay nên một với thân mình, nên Sự Sống đời đời của Chúa Giê-su sẽ được thông truyền qua cho chúng ta, châu lưu trong huyết quản chúng ta. Nhờ đó, chúng ta mới được sống đời đời như lời Chúa Giê-su xác nhận: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời” (Ga 6,54).

Lạy Chúa Giê-su, Chúa phải trả giá rất đắt, trả giá bằng cả cuộc đời và sinh mạng của Chúa để ban tặng cho chúng con những ân huệ quá đỗi tuyệt vời qua từng Thánh Lễ. Lẽ nào chúng con cứ ngoảnh mặt quay lưng hay tỏ ra thờ ơ hững hờ với những hồng ân cao vời như thế!

Xin cho chúng con siêng năng tham dự Thánh Lễ hằng ngày để cùng hiến tế cuộc đời với Chúa, đồng thời cũng được tận hưởng muôn vàn ân phúc lớn lao.

Linh Mục Inhaxiô Trần Ngà

TÂM SỰ VỚI NGƯỜI Y SĨ

TÂM SỰ VỚI NGƯỜI Y SĨ

Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức

Trích ” Đặc san Giáo Sĩ Việt Nam” số 250

Trong lịch sử nền y học Việt Nam từ xưa cho tới nay, có rất nhiều vị lương y đã làm rạng rỡ danh dự nghề nghiệp với các khả năng, kiến thức và lòng yêu nghề của mình.

Đã có biết bao nhiêu y sĩ tận tụy cứu chữa làm nhẹ cơn đau đớn bệnh hoạn của bà con dù với phương tiện thiếu thốn, hoàn cảnh hiểm nghèo. Họ phục vụ với cả một tấm lòng nhân ái, trân trọng tình cảm giữa con người với con người. Cho nên đã có câu ví trong dân gian là người lương y tốt bụng như người mẹ hiền. Con cái còn tấm bé, không tự lực tự tồn được, cho nên đều trông cậy ở mẹ cha, nhất là phụ thuộc vào thiên chức nuôi con của người mẹ.

Người bệnh cũng vậy. Trong cơn đau bệnh, họ hoàn toàn bất lực, vì không hiểu gì về bệnh, vì bối rối lo sợ, sợ chết. Với họ, người y sĩ như cái phao cứu mạng. Họ giao phó tính mạng của mình cho người y sĩ. Y sĩ tận tâm, hiểu nỗi đau của người bệnh thì mang toàn sức toàn tài cứu chữa, cơn đau của họ mau thuyên giảm. Gặp phải người y sĩ xấu, thì họ chịu đựng đau đớn lâu hơn, trầm trọng hơn, đôi khi còn bị khai thác, lạm dụng.

Cho nên, mỗi khi “có bệnh thì vái tứ phương”, tìm thầy chữa trị, nhiều khi chúng tôi nhận được rất nhiều từ tâm của y giới thì cũng không ít trường hợp, chúng tôi cảm thấy buồn buồn đối với các vị tự coi là “lương y” mà rất ít lương tâm.

Và cũng vì lẽ đó, nên có những tâm sự, những ước vọng như sau, gửi người y sĩ.

1- Trước hết là khi khám chữa, xin hãy nhìn con người chúng tôi một cách toàn diện chứ không chỉ để ý tới triệu chứng, dấu hiệu rồi đau đâu chữa đó. Vì một dấu hiệu, triệu chứng sẽ hành hạ cả con người chúng tôi mà không khoanh vòng, tập trung vào một góc. Cổ nhân có câu nói “nhìn cả rừng chứ không chỉ nhìn một cây”, để ước lượng chuyện gì đã và đang xảy ra, hậu quả sẽ như thế nào nếu không có phương pháp đối phó hữu hiệu.

2- Xin quý vị hãy dành cho sự kể lể bệnh tình của chúng tôi một sự chú tâm. Khi đau ốm, bệnh hoạn thì lời nói của chúng tôi nó cũng không mạch lạc, rõ ràng, đôi khi lại cà kê dê ngỗng, nói năng lung tung, lạc đề. Chúng tôi biết là đối với quý vị, “thì giờ là vàng bạc”, bệnh nhân chờ phòng ngoài quá đông, bảo hiểm giới hạn, cho nên mỗi bệnh nhân chúng tôi mà được quý vị dành cho từ 5 tới 10 phút là cùng. Với khoảng thời gian này, vừa để nghe y sử vừa để khám rồi ghi ghi chép chép, biên toa thì cũng quá ngắn ngủi đấy. Cho nên xin hãy kiên nhẫn lắng nghe. Chúng tôi nhớ rằng “VĂN” là một trong bốn chiêu thức căn bản mà các nhà y học vẫn áp dụng khi khám bệnh. Đó là “Vọng, Văn, Vấn, Thiết”. Nhìn sắc diện người bệnh, nghe và ước lượng âm thanh khi bệnh nhân nói bệnh tình, hỏi chi tiết về bệnh và bắt mạch”. Những lời kể này nhiều khi cũng giúp quý vị dễ dàng chẩn đoán bệnh.

3- Chúng tôi rất “I tờ” ít hiểu biết về bệnh tật, y lý, nên xin hãy vui lòng giải thích cho chúng tôi một cách nhẹ nhàng cởi mở, với các ngôn từ bình dân, dễ hiểu.

4- Nhấn mạnh cho chúng tôi những điểm quan hệ của bệnh trạng để chúng tôi nhớ và dễ bề chăm lo, thuốc thang. Thiết nghĩ sự chữa trị của quý vị sẽ công hiệu hơn, nếu chúng tôi cũng biết đau ra sao, diễn tiến bệnh thế nào. Để biết so sánh kết quả điều trị rồi “báo cáo” với quý vị chứ.

5- Chúng tôi cần sự hướng dẫn chi tiết một chút về cách dùng thuốc cũng như về ẩm thực ăn uống trong thời gian đau ốm. Vì chúng tôi được biết thuốc và thức ăn cũng có tương khắc, chẳng chịu cùng nhau chung đường chung lối, tiếp tay nhau giúp đỡ người bệnh.

6. Xin hãy mang tất cả tài năng, kiến thức, kỹ thuật cao để chữa trị cho chúng tôi. Chúng tôi cũng biết là y khoa học ngày nay rất tiến bộ, “rừng y” thì mênh mông, quý vị “thông kim bác cổ”, nhưng chúng tôi chỉ xin được hưởng kiến thức thực tế áp dụng thích hợp trong trường hợp riêng của chúng tôi để rút ngắn thời gian hành xác do bệnh. Và hãy chỉ thực hiện những thử nghiệm cần thiết cho việc chẩn đoán, theo dõi điều trị chứ không làm quá nhiều để thỏa mãn tò mò, thêm lợi nhuận hoặc để tránh vi phạm luật lệ hành nghề, đôi co kiện tụng

7- Nhân vô thập toàn, kinh nghiệm chuyên môn mỗi y sĩ nhiều ít khác nhau, nếu thấy cần tham khảo ý kiến của các đồng nghiệp về bệnh tình của chúng tôi, xin hãy làm ngay chứ không chần chừ, trì hoãn, nuôi giữ bệnh. Vì các bậc thầy ngành y đều nói, chẩn đoán sớm, điều trị ngay, bệnh mau lành. Vả lại, “Cứu bệnh như cứu hỏa” ấy mà.

8- Có bệnh là có âu lo, sợ sệt và ai mà chẳng sợ đau ốm, chết chóc. Xin hãy làm giảm thiểu tâm trạng bất an của chúng tôi với thái độ tự tin mà không kiêu căng, nhẹ nhàng mà không hời hợt. Xin hãy “Thấy người đau, giống mình đau, phương nào cứu đặng, mau mau trị lành”(1), mà thông cảm với hoàn cảnh chúng tôi. Vì người y sĩ là nơi để bệnh nhân gửi gắm tính mệnh.

9- Nghề y là nghề cao quý, có những quy luật y đức. Xin hãy hiểu rõ và áp dụng các quy luật nghề nghiệp, cần phải làm gì, không được làm gì để “cứu nhân độ thế” và cũng để tích tụ “âm đức” cho con cháu. Cổ nhân có nói “Ba đời làm nghề y, về sau có người làm khanh tướng”, chẳng là điều nên theo hay sao!

10- Dân gian cũng như y giới đều nói “nụ cười bằng 10 thang thuốc bổ”. Xin hãy dành cho chúng tôi mấy thang thuốc bổ tinh thần này mỗi khi khám chữa tư vấn, để làm dịu niềm đau đang tàn phá cơ thể chúng tôi.

11- Xin hãy bớt lạnh lùng gắt gỏng, vô cảm trước sự ngớ ngẩn đòi hỏi cầu thiện của chúng tôi, vì chúng tôi chỉ quá ám ảnh về bệnh tình, mong sao chóng khỏi, cho nên đôi khi có những cử chỉ hành động vụng dại, thất thố.

12- Có người nói sự khác biệt giữa y sĩ với bệnh nhân là họ có công học tập để có bằng cấp y khoa, có kiến thức y học, trong khi chúng tôi cũng có những kiến thức chuyên môn khác mà họ không có. Cho nên xin hãy nhẹ nhàng, khiêm nhượng với nhau. Có ý kiến cho rằng, lòng sốt sắng, nhiệt tình, tài năng, kiến thức cao, kỹ thuật tốt là những đức tính không thể để phí phạm qua sự bất cẩn của người y sĩ cũng như qua sự coi thường của người khác, để tránh thiệt hại cho cả đôi bên. Vả lại, “Lời nói chẳng mất tiền mua”, mà chúng tôi lại còn thanh toán y phí đầy đủ sau khi khám trị bệnh.

13- Bệnh nhân có người giầu, kẻ nghèo, có người cao sang “lãnh đạo” thì cũng có người làm việc tùy tiện chân tay. Xin hãy đối xử bình đẳng, đừng “Chỗ giàu trân trọng, chỗ nghèo đảo điên” (2) để rồi “ nhất bên trọng, nhất bên khinh” và “Đủ tiền đủ vị, thiếu tiền hốt vơ” (3).

Và còn nhiều tâm sự khác nữa, nhưng “giấy ngắn, tình dài”, xin tạm biệt ở con số 13.

Nhiều người cho số 13 là xui xẻo, là không tốt. Tâm sự chẳng ai thèm đọc thèm nghe mà có khi còn mang họa vào thân. Thôi thì có họa cũng đành gánh chịu, nhưng tự trấn an là ít ra cũng thổ lộ được đôi điều mà nhiều “đồng bệnh tương lân” muốn nói ra. Và cũng có ý mong rẳng người y sĩ chẳng nên “đổi nhân thuật thành chước lừa dối, thay lòng nhân đức ra lòng bán buôn, khiến người sống trách móc, người chết oán hờn” (4).

Vả lại, đây là chúng tôi thầm kín tâm sự như vậy mà thôi, chứ thành văn bộc lộ ra ngoài là do người ký tên dưới đây “chủ xướng”, xin cứ y ta mà “trăm dâu đổ đầu tằm”, trách móc.

Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức

www.bsnguyenyduc.com

Làm sao, giết được người trong mộng,

“Làm sao, giết được người trong mộng”,
Để trả thù duyên kiếp, phũ phàng.”

(Phạm Duy – Giết Người Trong Mộng)

(Lc 12: 51-53)

Trần Ngọc Mười Hai

Ối giào! Giời ạ! Giết gì mà giết lắm thế? Giết được cả người trong mộng nữa sao? Mà sao lại chỉ giết người bội thề, u mê, quên tình nghĩa phu thê, như thế? Giết nhiều, rủi lỡ tay giết cả người “trong mộng đã đi về”, hoặc “đã hiện về” như “loài bướm đong đưa”, dễ sợ chưa?

Thật ra thì, có chém giết như thế, kể cũng tệ. Bởi, nếu suốt ngày hát hò rồi kêu lên “Giết người đi!”, “Giết người đi!” tức là: cứ giết và giết, để “trả thù duyên kiếp phũ phàng” thì, ôi thôi lại thi-ca với âm nhạc!

Hết nhiều nhất, là khi có bé em vừa hát câu trên xong, lại thêm ca-từ lê thê như để bảo: “Đêm qua em mơ gặp… chú/bác” gì đó, say mơ đến độ thấy cả  râu/tóc bạc phơ của chú/của bác, nên không còn muốn “giết người trong mộng” nữa, thế có chết không!

Thôi thì, bạn và tôi, ta có hát đi hát lại đến chán chê mê mỏi cũng chỉ có mỗi câu những giết là giết, mà thôi. Có mơ đi mơ lại toàn người này người nọ rồi gọi là chú/bác cuối cùng cũng lại than vãn, hát thêm rằng:

“Nhưng người ơi! Nhưng người ơi!
Sao người trong mộng vẫn hiện về?
Nhưng người ơi! Nhưng người ơi!
Sao người trong mộng vẫn say mê?
Ơi người ơi! Ơi người ơi!
Sao tình trong mộng vẫn ê chề?
Ơi người ơi! Ơi người ơi !
Sao mình trong mộng vẫn ngu si?
Ơi người ơi! Ơi người ơi!
Thôi đành thôi, thôi đành thôi
Giết người trong mộng mơ…”

(Phạm Duy – bđd)

Vâng! Vấn đề lâu nay đặt ra với người đời, chỉ có thế. Giết người trong mộng hay giữ người trong mộng, vẫn cứ là thơ/văn cho hợp vận, chứ làm gì có ai đòi giết nhiều quá sức vậy chứ? Vâng. Phiếm luận chuyện Đạo/đời, đôi lúc cũng để giết, nhưng không phải “người trong mộng”, mà là thời gian, ấy chết là ngôn-từ với ngôn-ngữ, rất vô-tích-sự.

Nhưng “thời gian”, sao gọi được là vô-tích-sự? Dù, bàn dân thiên hạ cứ mừng đi mừng lại các kỷ-niệm những giết và giết đầy chết chóc cả vào hôm nay, như báo/đài vẫn tường-thuật.

Báo đài nhà Đạo hôm nay, chỉ muốn tường-thuật chuyện chết chóc tuy không giết người trong mộng, bên trong hay bên ngoài nhà Đạo. Nhưng, những chuyện thần học, tu-đức lẫn tin tức, cũng không thoát. Ví-dụ ư? Thì, đây: vừa qua có báo/đài nọ đã cả gan loan tin tức…mình bảo rằng Đức Giáo Tông Công-giáo nói ta cũng có thể chấp-nhận giải-pháp “dĩ độc trị độc”, để tránh chiến-tranh, bạo-lực (?) vv…

Người loan tin trích-dẫn chuyện này ở đâu không biết, chỉ biết là: ở Úc người ta đã trích câu nói về chiến tranh, giết chóc hoặc bạo loạn, từ đấng bậc vị-vọng chốn chóp bu Giáo hội Công giáo như sau:

“Tôi kêu gọi mọi bên, mọi phía đang dính dự hãy chấm-dứt vòng quay xoắn ốc đầy ghét ghen/bạo-lực để có can-đảm mà đưa ra quyết-định hoà-giải hầu đi đến hoà-bình. Xây-dựng hoà-bình thật rất khó, nhưng sống mà không có hoà-bình lại chỉ là sống trong dằn-vặt, khổ đau mà thôi.” (Đức Giáo Hoàng đã có kêu gọi khi một số đồng bào bị tấn-kích tại hội-đường Do-thái ở Giêrusalem tháng 11/2014, The Australian Catholics Hè 2015 tr. 4)

Nói về chiến tranh, lại phải nói cả về hoà bình nữa mới được. Nói về hoà bình, lại cũng nên nói đến những chuyện kể mang tính vui tươi, bổ ích, tích cực dễ nghe và dễ sống với đời hơn, thế mới phải. Bần đạo đây, có anh bạn đang sống ở đảo quốc phương xa vẫn nhất quyết không nghe và không đọc báo/đài truyền-thanh/truyền-hình suốt ngày nói toàn chuyện giết người hoặc chết chóc, mà thôi. Đổi lại, anh kể cho bần đạo câu chuyện bên dưới tạo niềm vui hưng-phấn mà sống:

“Truyện rằng:

Hôm ấy, có người mù nọ thèm món Vịt quay bèn quyết định đến tiệm mì, kêu:

-Cho ngộ một con dzịt quay Pắc Kinh à!

Anh bồi bưng vịt ra, và người mù sờ con vịt hít một hơi rồi nói:

-Ồ! Cái lầy là con dzịt quay Thượng Hải, đó nị.

Anh bồi bèn mang vào bếp yêu cầu làm con vịt khác. Nhưng mang con nào ra, cũng bị cho là không phải, lúc thì khách bảo: cái lày là dzịt Quảng Đông, cái kia Hải Nàm. Đến con thứ tư, ông mới bảo đây đúng chánh-hiệu là nó đó. Nhà bếp nghe vậy rất ư khâm phục. Chợt có người từ trong bếp ra, bèn hỏi khách:

-Thưa khách xộp! Sao ông lại có thế biết đích xác vịt nào là vịt Bắc Kinh vậy?

-Đơn giản thôi. Ngộ chỉ cần rờ cái phao-câu của nó rồi ngộ hít một hơi là biết ngay hà!

Anh phụ bếp quá xúc động bèn mếu máo nói:

-Thưa ông! Tôi đây mồ côi cha mẹ từ hồi chiến tranh/loạn lạc, không biết mình sinh ra từ phương nào, Bắc Kinh hay Thượng Hải, có thể nào ông đoán giùm tôi được không?

-Ồ, cái lày thì ngộ không có làm lược à!. Sờ phao-câu con dzịt thì lược, chứ lụng chạm cái con người nị thì ngộ không có dám, à. Lỡ pậy, lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia, thì sao?”

Truyện kể đây, cốt chỉ để minh-hoạ một chuyện, rằng: ở đời, nhiều người chẳng sợ gì chuyện “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Cũng chẳng ngần ngại mọi thứ, nên cứ hay lẫn lộn người với vật, hoặc người này với người khác, rồi làm chuyện xằng bậy, gây chiến.

Chiến hay hoà, có thể không do người đời làm chuyện xằng bậy, nhưng cứ hay lầm lẫn những điều mà người mình gọi nôm na, là “cầm nhầm”. Đạo Chúa, cũng có trường hợp không nghiêm-trọng, nhưng cũng là ngộ-nhận được đấng bậc ở Melbourne, Úc Châu trình bày như sau:

“Mặc dầu, lâu nay “Kinh Hoà Bình” được gán ép cho thánh Phanxicô thành Assisi là tác-giả, nhưng thật ra kinh này được viết cách đây không lâu lắm chỉ vào đầu thế kỷ thứ 20 mà thôi.

Cụ thể hơn, thì “Kinh Hoà Bình”, lần đầu được phổ biến trên tập-san tu-đức gọn nhỏ viết bằng tiếng Pháp vào năm 1912, như lời cầu dùng trong thánh-lễ, suốt thời gian đó. Kịp đến năm 1915, có nhóm người Công-giáo Pháp thấy kinh này quá hay bèn kính gửi lên Đức Giáo Hoàng lúc ấy là Đức Bênêđíchtô XV những muốn chấm-dứt cuộc đại-chiến thế-giới từng tàn-phát cả châu Âu. Và, Đức Giáo Hoàng truyền cho in bản kinh này trên các báo của toà thánh ở Rôma. Và rồi, sau đó nhật-báo Pháp La Croix cũng xin được phép phổ-biến rộng hơn như kinh nguyện-cầu bình-an hầu chiến-tranh mau chấm-dứt.

Ở Hoa Kỳ cũng vào thời đó, có nhiều người thấy kinh này hay và thích hợp nên đã gán cho thánh Phanxicô thành Assisi làm tác-giả, và rồi phân-phát rộng-rãi trên bìa cứng suốt Đệ Nhị Thế Chiến và những năm sau, nguyện cầu cho hoà-bình ở khắp nơi.

Bản kinh được dịch tiếng Anh thành nhiều văn-bản khác nhau cũng vì một mục-đích. Bản-văn được biết nhiều và ưa-chuộng nhất ở xứ này lại được tác-giả là Johann Sebastian von Tempelhoff, một tu-sĩ Dòng Phanxicô ở Nam Phi đã phổ nhạc thành ca-vịnh phổ-biến khắp chốn. Chính Mẹ Têrêxa thành Calcutta cũng có công đưa bản kinh này vào các lời nguyện-cầu buổi sáng cho các chị em Dòng Truyền Giáo Bác Ái, do Mẹ thành-lập. Mẹ còn khiến cho cộng-đoàn đọc kinh này ở Oslo vào buổi Mẹ nhận giải Nobel Hoà Bình, năm 1979.

Thật sự, cũng chẳng ai biết rõ tại sao Kinh này lại được gán cho thánh Phanxicô hết. Thế nhưng, tính giản-dị của lời kinh cùng với lòng nhiệt thành nóng-bỏng và sự độ lượng nơi ý-tưởng cũng như điều được nhấn mạnh vào các yếu-tố cuộc sống đã làm dội vang tinh-thần khó-nghèo bình-dị của thánh Phanxicô, rất trọn vẹn.

Lời kinh đây, mời gọi mọi người chúng ta hãy xa lánh động-thái tiêu-cực trong cuộc sống, vốn dĩ gây ảnh-hưởng lân mối quan-hệ giữa con người và Thiên-Chúa và với nhau, như các đặc-thù gây hại, tương-tự như: tính nóng giận, hờn ghen, nghi-kỵ và sự tăm-tối. Kinh này còn khuyến-khích ta ra đi mà thực-hiện hoà-bình cùng thứ tha, tin tưởng và hy vọng, mãi muôn đời.” (X. Lm Andrew Hamilton sj, Channelling God’s peace, The Australian Catholics Hè 2015, tr. 9)

Nói như người đấng bậc nhà Đạo, là nói thế. Tức, chỉ nói đến yêu thương, an bình và giùm giúp. Còn, như nghệ sĩ lại cứ hát mãi ca-từ những giết và giết, nay hồi tâm thay vào đó bằng những câu ca rằng:

“Làm sao giữ được người trong mộng?
Để được tình yêu, dẫu bẽ bàng.
Giết người trong mộng?
Hay giữ người trong mộng?
Giết người trong mộng?
Hay giữ người mộng mơ?”

(Phạm Duy – bđd)

Có nói nhiều và hát không thiếu những lời dữ tợn/hiền dịu cũng chỉ để diễn-tả tình-trạng thực-tế của cuộc đời đầy nhiễu nhương. Đời nhiễu nhương, nhưng không có nghĩa tệ-bạc như một số người thường hiểu lầm khi nghe Đấng Thánh Nhân Hiền những bảo rằng:

“Anh em tưởng là Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao?

Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ.

Vì từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau,

ba chống lại hai, hai chống lại ba.

Họ sẽ chia rẽ nhau: cha chống lại con trai, con trai chống lại cha; mẹ chống lại con gái,

con gái chống lại mẹ; mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng.”

(Lc 12: 51-53)

Xem như thế, thì đời người là một chuỗi ngày gồm toàn những hiểu lầm, ngộ nhận làm sai. Thế nên, lại có đấng bậc thày dạy khác, nay muốn minh-xác để bạn và tôi, ta hiểu rõ ý-nghĩa thần-học của Kinh thánh rất như sau:

“Mỗi khi các nhà chú-giải trích-dẫn đoạn này, thường bảo rằng: gia-đình rồi sẽ chia rẽ nhau tựa hồ tình-trạng của một số người tin vào Đức Giêsu, còn những người khác lại khước-từ không tin vào Ngài, chút nào.

Theo tôi, vấn-đề ở đây không liên-quan đến niềm tin của ai hết, mà là quyền uy/sức mạnh của gia-đình thôi. Cũng nên để ý đến điều được nói ở dụ-ngôn về sự phân-cách giữa các thế-hệ. Đức Giêsu vẽ lên hình ảnh tiêu-biểu, về gia-đình Địa Trung Hải có 5 thành-viên, là: cha mẹ, con gái còn son sẻ, con trai đã có gia đình và vợ anh, tất cả đều chung sống dưới một mái nhà. Đức Giêsu nói: Ngài sẽ chia-cách những người như thế khiến họ sống riêng rẽ. Việc Ngài chỉ-trích, là sự sắp xếp sức mạnh/quyền-uy của gia-đình có bậc mẹ cha đầy uy-lực trên con trai, con gái và dâu con họ.

Thật ra thì, truyện này cũng giúp ta hiểu được những câu truyện kể và lời nói Đức Giêsu từng dạy-dỗ về cuộc sống gia-đình. Gia-đình, là xã-hội thu nhỏ. Là khung-cảnh trong đó ta học được khuôn-mẫu tình thương, ghen ghét, việc giùm-giúp và cả cách xách-nhiễu nhau nữa. Không phải gia-đình nào cũng đều có cảnh sống ấm-cúng và dung-dưỡng nhau theo kiểu Norman Rockwell. Bởi, đời sống gia-đình dính-dự vào quyền-bính, nên cũng dính đến chuyện lạm-dụng quyền-lực nữa. Và, đó là quan-điểm/lập-trường mà Đức Giêsu muốn đả-phá.

Nhóm/hội lý-tưởng của Ngài, trái hẳn sắp xếp xã-hội thông-thường của nhân loại. Nhóm/hội Ngài thiết-lập rất cởi-mở và ai cũng có thể tiếp-cận nhau dưới trướng của Ngài. Ở Vương Quốc Nước Trời, không có chuyện lạm-dụng quyền-lực. Tất cả, được đón chào vui vẻ. Mọi người đều ngang bằng nhau và giống nhau theo ý-định và mục-đích do Chúa muốn.

Xã-hội dân-chủ vào thế-kỷ đương-đại, ta cũng không bị rút khỏi khuôn-mẫu thế-giới quyền-uy của Đức Giêsu. Ta từng biết thế nào là lạm-dụng quyền-uy thế-lực trong đời sống gia-đình. Thành-ngữ “bạo-lực trong gia-đình” ta từng nghe đi nghe lại nhiều lần hơn các thế-hệ trước. Nay, ta biết rằng lạm-dụng lớn thường ẩn nấp bên dưới mặt ngoài thấy êm ả.

Thành thử, dù có ở vào thế-kỷ thứ nhất hoặc 20, 21 này, việc Đức Giêsu chỉ-trích vẫn có đôi điều để nói, là: không có cơ-cấu gia-đình nào trở thành tuyệt-đối hết. Mọi cấu-trúc hiện-tỏ cho con người là để dung-dưỡng nhau, mà sống thôi. Đời sống gia-đình, giống như cuộc sống nhân-loại, đều nằm trong phạm-vi dưới Vương Quốc Nước Trời, do Chúa phản-biện. Đời sống gia-đình, giống các hình-thức khác nơi sự liên-đới với con người. Nó hiện-hữu vì mục-đích công-bằng và tình-thương, thôi.” (x. Cựu linh-mục John Dominic Crossan & mục-sư Richard Watts, Who is Jesus,Westminster John Knox Press 1996 tr.47)

Nói cho cùng và hiểu cho thấu các sự việc của con người trong đời, cũng nên nói và hiểu qua thơ-văn nhè nhẹ có truyện kể ở đời, để cho vui. Truyện kể hôm nay có giòng chảy những bảo rằng:

“Có hai con chim gáy rất thân với nhau. Hết tha thẩn xuống đồng lượm từng hạt lúa, chúng lại bay lên ngọn tre râm ran tiếng gù. Cứ tha hồ mà dồn dập, mà khoan thai có khi nhẹ nhàng như lời tình tự. Bỗng chẳng may một anh bị con người bẫy được đem về nuôi. Anh kia liền đi tìm bạn mới.

Mặc dù được chăm sóc chu đáo, nhưng bị giam hãm trong lồng phần thì nhớ da diết cánh đồng quê, phần thì nhớ bạn, chim cất lên những tiếng ai oán não nùng. Nghe tiếng than của bạn, anh chim gáy ở ngoài cũng tìm đến thăm. Thấy bạn mình được ở trong chiếc lồng son, có thức ăn nước uống đầy đủ, anh ta ganh tị bảo:

– Tưởng khổ cực lắm, hoá ra phúc đức ông cha bảy đời để lại mới có được kẻ nâng niu chiều chuộng còn than vãn nỗi gì.

Anh chim trong lồng nghẹn ngào không thốt nên lời.

Thấy thế anh chim ở ngoài nảy ra ý định: Mình muốn vào đó, nhưng có cả hai thì thức ăn sẽ ít đi, chi bằng tìm kế cho nó bay ra để ta vào tha hồ mà chén. Nghĩ vậy anh ta liền dùng lời ngon ngọt dụ dỗ:

– Muốn thoát thân thì nhịn ăn, giả vờ chết. Chủ sẽ bắt ra xem thử, lúc ấy nhanh chân mà tẩu thoát.

Quả thật bằng cách đó anh chim nọ được vùng vẫy nơi trời cao và say sưa cất giọng trầm bổng. Còn anh chim ở ngoài lại cứ quanh quẩn bên chiếc lồng, tất nhiên được vào trong dễ dàng.

Được no nê nhưng anh ta mới nhận ra sự cô độc, tù túng. Từ đó, chim càng lười biếng không cất nổi tiếng gáy. Người chủ thấy thế cũng chẳng còn săm soi, chăm sóc như ngày xưa nữa. Nhiều hôm phải nhịn đói, nước mắt lưng tròng, thân hình tiều tụy trông mà tội nghiệp, anh ta liền dở chiêu cũ nhưng có ai mà dại nữa. Lúc này, anh chim gáy nọ mới nhận ra rằng sống mà chỉ vì miếng ăn thì đó chỉ là kiếp sống thừa”.(truyện do St gửi)

À thì ra, mọi chuyện xảy ra trên đời không vừa ý, cũng chỉ do hiểu sai , hiểu lầm hoặc hiểu không tới nơi tới chốn căn-nguyên/cội rễ của nó.

Ở nhà Đạo cũng thế, có những chuyện và những việc cần điều-nghiên/học hỏi cho kỹ, mới tránh khỏi những sai sót, ngộ nhận cũng tương tự. Và, Đức Giáo Tông Phanxicô có lần cũng minh-định những chuyện như thế, trong sống Đạo rất thực-thụ:

“Ngày nay, sứ điệp của Giáo Hội cũng là sứ điệp của hành trình thẳng thắn, con đường can đảm theo tinh thần Kitô. Như Kinh Thánh đã nói: hai môn đệ đơn sơ, ít học, đã có can đảm. Lời để dịch từ can đảm, chính là thẳng thắn, nói tự do, không sợ nói sự thật.”

Đức Thánh Cha cũng giải thích:

Chính sự can đảm loan báo như thế, là điều phân biệt chúng ta với những kẻ chiêu dụ tín đồ. Chúng ta không quảng cáo để thu thập thêm những người gia nhập hội tinh thần của chúng ta. Điều mà Kitô hữu làm, chính là loan báo một cách can đảm, loan báo Chúa Giêsu Kitô nhờ Thánh Linh. Chính Thánh Linh ban sức mạnh cho những người đơn sơ, ít học, như Phêrô và Gioan, sức mạnh can đảm loan báo Chúa Kitô cho đến chứng tá cuối cùng, là cuộc tử đạo.” (Tin Vatican 13.4.2015, G. Trần Đức Anh OP dịch)

Tóm lại, có nói và hát về chiến-tranh, giết chóc hoặc mơ mộng nhiều như truyền-thông báo đài gì đi nữa, cũng chỉ nên hát và nói những câu cuối để còn quyết tâm thực-hiện chuyện để đời, là đem hy-vọng và bình an đến với mọi người.

Quyết thế rồi, ta không còn ngại-ngần gì mà không hát những câu ca thời-thượng một dạo như sau:

“Làm sao giữ được người trong mộng?

Để được tình yêu, dẫu bẽ bàng.”

(Phạm Duy – bđd)

Giữ được người trong mộng” hay trong cuộc đời rất thực tế, cũng chỉ để “được tình yêu, dẫu bẽ bàng”. Chính đó là thông-điệp của nghệ-sĩ già từng gửi đến người đời, bấy lâu nay.

Trần Ngọc Mười Hai

Không có gì để đời, nhưng vẫn muốn hợp

với người nghệ-sĩ nói lên được điều đó

với mọi người.

Hôm nay có phải mùa Thu,

“Hôm nay có phải mùa Thu,

Mấy năm xưa đã phiêu du trở về.”

(dẫn từ thơ Đinh Hùng)

Nơi nhà thơ hôm nay, chính là mùa Thu. Mùa, của những phiêu du trở về, từ mấy năm xưa. Với nhà Đạo, nay mùa thường niên phụng vụ. Mùa, của những suy tư, nguyện cầu có Lời Chúa dẫn dắt.

Suy tư nguyện cầu, với trình thuật thánh Mác-cô ghi, có dụ ngôn Chúa kể để người người đi dần vào chốn tâm tư đầm ấm, vẫn lắng đọng. Nguyện cầu suy tư, về người gieo giống nơi đất ruộng ở tình huống tinh mơ mù tối như các nhà chú giải thấy có khoảng cách còn bỏ ngỏ ở dụ ngôn.

Về trình thuật, các nhà chú giải đều suy nghĩ theo cách khác biệt. Crossan gọi dụ ngôn đây là “tình huống không phù hợp, thiếu dứt khoát”. Trong khi đó, bình luận gia Dermode lại thấy câu cuối của trình thuật “chẳng có gì rõ rệt”. Stephen Moore lấy làm thích thú cũng hơi lạ về câu “có hạt rơi xuống vực thẳm không sinh lợi”. Nói chung thì, dụ ngôn thánh Mác-cô ghi, chỉ nói cách gián tiếp, không rõ rệt về lập trường của Chúa. Dụ ngôn hôm nay, không đưa ra điều gì độc đáo, rõ rệt, mà chỉ đảo ngược suy tư, tưởng đoán của người nghe, thôi.

Dụ ngôn đây, là truyện kể không khúc chiết cũng không mạch lạc, có khi còn tinh ranh nghịch ngợm, tức: không hứa hẹn điều gì và cũng chẳng chuyển tải lập trường nào vững vàng chắc nịch hết. Dụ ngôn, chỉ độc đáo ở văn phong thể loại qua đó thánh Mác-cô muốn chứng tỏ, rằng: Chúa đã trỗi dậy từ chốn mông lung, mù tối. Ngài đã biến đổi tình trạng tăm tối của người đời để mặc khải một sự thật, là: các suy tư của ta đều giới hạn.

Có điều lạ, là: khi Chúa bị cáo giác là đầu óc Ngài không lành sạch và chừng như Ngài cũng bị quỷ ám, thì Ngài đáp trả bằng truyện kể dụ ngôn. Cũng thế, khi ta giáp mặt với cách biệt mở ngỏ ở dụ ngôn, và giả như ta có khả năng giải quyết mọi cách biệt như thế trong cuộc sống không ý nghĩa, thì ta đâu phải là người không lành sạch. Và, khi ta vượt qua cảnh đời nô lệ rất không minh bạch để đến với rõ ràng, đúng đắn, thì ta không còn bị quỷ tha ma bắt, nhưng lại có quyền uy tuyệt đối bằng những lời tuyên bố trọn hảo. Và từ đó, ta có thể thư giãn ngồi cười và kể những câu truyện mỉa mai, châm biếm mà Tom Wright vẫn bảo mọi người đi Đạo chúng ta đều mắc phải hội chứng thiếu tính châm biếm, mỉa mai, khôi hài.

Người tỉnh táo hơn, sẽ đọc ra được dấu vết tư tưởng của ngôn sứ Isaya ở dụ ngôn truyện kể do thánh Máccô ghi. Sách Ysaya đoạn 55, câu 10-11 viết: lời của Chúa giống như làn nước ban hạt giống cho người gieo và như bánh trái cho người được ăn. Nhưng, các đoạn này không ‘điều giải’ được sắc thái khác thường/dị biệt ở dụ ngôn. Ngoài ra, các cụm-từ chính dù không rút từ Kinh Sách của người Do thái, nhưng lại đầy đủ ý nghĩa tóm gọn trong câu chính “Người Con Dấu Yêu” gieo vãi/nảy nở ở nhiều chỗ trong Tin Mừng thánh nhân ghi. Chừng như thánh Máccô muốn người đọc quay về với cảnh trí có thanh tẩy để bắt đầu truyện kể về Tin vui ngài công bố.

Thần Khí đến với Chúa khiến Ngài trở nên Con Một của Chúa Cha. Và, động thái này gây ảnh hưởng lên tính “Người” của Ngài, khiến tính chất ấy yếu dần đi để Ngài trở thành “con người” đích thực để rồi biến đổi tính mỏng dòn của con người thành động thái mở ra với Chúa. Người đọc dụ ngôn, có thể diễn rộng tư tưởng ấy. Cũng có thể, diễn rộng cung cách giảng giải tiêu biểu của Chúa. Chính vì thế, Chúa đã nói lên những điều chưa hoàn tất để thêm vào. Và, đó là nét đặc thù của dụ ngôn, hôm nay.

Chính trong phần kể truyện thánh Máccô sử dụng, các dụ ngôn được tháp nhập vào trong đó. Chừng như đó chính là đặc trưng của chính dụ ngôn. Nên, khi thánh Máccô viết Đức Giêsu là Con Thiên Chúa là ngài viết qua tư cách làm con của loài người không tự bảo vệ chính mình trước uy lực dẫn Ngài đi đến hệ quả là, nỗi chết. Có thể tất cả sự việc được nghiên cứu và suy nghĩ thật cặn kẽ để biến thành dụ ngôn, rất ý nghĩa.

Quanh dụ ngôn người gieo giống ở Tin Mừng Máccô đoạn 4 câu 14-20, có hai đoạn văn qua đó tác giả sử dụng phương pháp diễn giải, đặc biệt ở đoạn 4 câu 10-13 và câu 20-25, tác giả tập trung nhấn mạnh đến sự kiện mù tối/hiểm hóc, qua cung cách sử dụng ngôn ngữ của dụ ngôn. Hiểm hóc/mù tối ban ra để chỉ một ít người được chọn là người có tai để nghe, chứ không được mặc khải, cả với mình.

Khi nói về hạt giống tăng trưởng, thánh Máccô nhấn mạnh chữ “hạt giống lớn lên”, ngài muốn nói: ngay cả những người gieo giống cũng không biết hạt ấy tăng trưởng cách nào. Cũng vậy, có nhiều điều người nghe vào thời ấy không thể hiểu, tựa như sự chết và sự sống mới. Điều đó, khởi sự từ chức năng “Con Thiên Chúa” tiếp theo sau là phần tự sự nói theo nghĩa chữ, tức sự thành tựu đem con người đến nơi nào chẳng ai biết được. Và, ở dụ ngôn, điều này thách thức con người đạt đến thành tựu bằng chính ngôn ngữ của mình. Theo chân Chúa, người người đi vào chốn mù tối vượt quá mọi dẫn giải. Chính vì thế, con người nên sẵn sàng với tình huống ấy, tức: cuối cùng ra, dụ ngôn chỉ là ngôi mộ, luôn trống vắng.

Có điều khiến ta thấy rõ, là: thánh Máccô đưa mọi người vào với thứ gì đó hơn cả dụ ngôn. Dù, thánh nhân dạy ta suy tư theo cung cách của dụ ngôn. Tựa hồ phụng vụ Hội thánh cũng dẫn ta về với suy tư giống như thế, về cộng đoàn do Chúa thiết lập. Suy tư, là bởi: ở đây nữa, luôn có sự mù mịt tối nghĩa. Bởi, tất cả đều tiến triển theo cung cách của dụ ngôn, thôi.

Con dân Đạo Chúa là tập thể khá bất thường. Có người gọi họ là gia đình không dựa trên quan hệ họ hàng. Người khác lại bảo: họ là nhóm người đã được biến đổi bên trong Do thái dựa trên ý tưởng về “đầy tớ Chúa” như ngôn sứ Ysaya từng nói. Ý tưởng này, không đối chọi với ý niệm về “người ngoại cuộc” sống ngoài nhóm hội của các thánh.

Với Ysaya, đây chỉ là chuyện nhỏ về người đầy tớ tái tạo bộ tộc của Do thái mà không cần trở thành ánh sáng muôn dân nước. Chúc lành của Thiên Chúa là sự lành thánh ban cho dân Do thái, nhưng điều đó cũng có nghĩa là: ơn lành được ban cho toàn thế giới qua dân Do thái. Cũng đúng cả hai và ngược lại. Đó chính là sự mù tối, thiếu nghĩa. Đó, cũng là dụ ngôn, cũng rất thật.

Có người hỏi: vậy thì, với Đức Giêsu, gia đình là gì? Khi sống đời trưởng thành, Chúa có gia đình không? Phải chăng ta muốn đây là việc thăng tiến các gia đình; và bằng vào việc này, ta lại thăng tiến cả lịch sử đứng sau con người? Phải chăng đó cũng là cách Chúa muốn ta gắn bó với nhau nhưng không dứt khoát, cũng chẳng rõ ràng? Cung cách ấy, có thể thực hiện được không? Có tốt đẹp lắm không? Vẫn nên tư duy một lần nữa về sự khác biệt giữa ta và người sống chung quanh mình?

Thật ra, suy tư về sự khác biệt giữa những người sống với nhau và cạnh nhau, có nghĩa là ta phải sống đích thực mà thi hành ý định của Đấng Khác với mình. Đấng ấy đang hiện diện ở chốn thiên cung? Cũng thế, có nên suy tư về tính cách “chính trị” của động thái ủng hộ hoặc chống đối không? Có nên phân tách kỹ ý nghĩa của tả phái với hữu khuynh không? Phải chăng các tương phản như thế vẫn được thăng hoa theo cung cách rất rộng? Phải chăng có yếu tố nào lúc đầu khá rõ rệt để ta có thể định nghĩa được chính mình nếu ý định rất đoan quyết của Đấng Khác với ta, đang ở chốn thiên cung, vẫn chỉ là một và chỉ có tính quyết định, không? Nếu thế thì, đó là tính chất rất dụ ngôn!

Cuối cùng thì, quan điểm chính ở đây, là: sự khác biệt giữa tính hiệp thông và cộng đồng. Hội thánh Chúa đáng ra phải mang ý nghĩa của thể thức khá lạ kỳ về cộng đồng xã hội luôn tuôn chảy từ thể thức kỳ lạ của hiệp thông tâm linh, huyền nhiệm. Bởi, hầu hết các vết thương lòng ở thánh hội, đều đến từ sự diễn giải quá đáng về chiều kích bí nhiệm hoặc mang tính rất xã hội, thôi.

Cuối cùng thì, công cuộc dựng xây thánh hội sẽ mang ý nghĩa chữa lành vết thương ấy. Giả như Đức Chúa sử dụng dụ ngôn xây dựng hội thánh tựa như khi Ngài đặt tên cho ông Simôn thánh Phêrô rất đá tảng ở Tin Mừng thánh Mátthêu, thì Hội thánh sẽ luôn có đó để được xây dựng thêm một lần nữa. Và, cũng được chữa lành thêm một lần nữa. Và khi ấy, Chúa lại sẽ khuyên nhủ thánh Simôn Phêrô hãy cứ tiếp tục mà dựng xây/chữa lành cho hội thánh của Ngài, mãi như thế.

Cuối cùng ra, tất cả dụ ngôn về người gieo giống là dụ ngôn về một dựng xây cộng đồng thánh hội cũng rất mới, trên đá tảng mang nhiều chấm hỏi, cả dấu chấm.

Trong cảm nghiệm ý nghĩa của dựng xây, cũng nên ngâm tiếp lời thơ còn bỏ đó vẫn chưa xong:

“Hôm nay có phải là Thu?

Mấy năm xưa đã phiêu du trở về.

Cảm vì em bước chân đi,

Nước nghiêng mặt ngọc lưu ly phớt buồn.”

(Đinh Hùng – Bài Hát Mùa Thu)

Chắc chắn, bài hát của nhà thơ sẽ không như ca lời của dụ ngôn Chúa dạy. Bởi, mùa Thu có phiêu du vẫn là mùa của những dẫn dụ ta nên về với Chúa mà dựng xây thánh hội vẫn cứ “lưu ly phớt buồn”.

Lm Kevin O’Shea CSsR

Mai Tá lược dịch

Sự đổi sắc trong báo chí Việt nam trước tình hình mới ở biển Đông

Sự đổi sắc trong báo chí Việt nam trước tình hình mới ở biển Đông

Bùi Thanh Hiếu (Blogger Người Buôn Gió)

Khoảng mấy chục ngày trước báo chí Việt Nam còn có nhiều bài viết ca ngợi quan hệ Việt Trung tốt đẹp, hữu nghị. Điển hình mới nhất cho giọng điệu này là ở chuyến đi của phái đoàn cao cấp Việt Nam tới Bắc Kinh do tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cầm đầu cùng với 4 uỷ viên bộ chính trị nữa đang đảm trách vị trí trọng yếu là giữ chức vụ chủ chốt bảo vệ chế độ.

Những vị trí chủ chốt đó là công an, quân đội, tuyên giáo.

Chế độ cộng sản Việt Nam được tồn tại bởi chính ba trụ cột này. Công việc của tuyên giáo là nhồi nhét vào đầu người dân những điều dối trá, xuyên tạc có lợi cho chế độ tồn tại. Việc nhồi nhét này được ban tuyên giáo thực hiện bằng những chỉ đạo, mênh lệnh xuống cho báo chí, truyền hình và các cơ sở tuyên giáo các cấp địa phương, các bộ ngành.

Công an hỗ trợ đắc lực bằng cách tìm tòi phát hiện và bắt bớ những người phản biện lại những luận điệu của ban tuyên giáo, quy kết họ là chống phá chế độ, xuyên tạc chủ trương đường lối của nhà nước.

Quân đội đứng đằng sau công an, sẵn sàng can thiệp và hỗ trợ cho công an trong những cuộc trấn áp biểu tình có quy mô lớn như các vụ từng xảy ra ở Văn Giang, Con Cuông, Tam Toà hay Mường Nhé, Tây Nguyên. Đồng thời quân đội cũng hỗ trợ cho tuyên giáo trong việc tuyên truyền những điều sai lạc , thiếu khách quan về tình hình thế giới và xã hội Việt Nam.

Không khó khăn gì để nhận thấy rằng những trụ cột này đều chung điểm giống nhau là tuyên truyền dối trá và bạo lực trấn áp. Bởi vì thế, những bài báo hay phóng sự truyền hình của Việt Nam trong bối cảnh quan hệ Việt Trung, tình hình biển Đông, quan hệ Việt Mỹ đều mang âm sắc của sự lừa dối và mùi bạo lực của sự đe doạ.

Các bài báo đều có mẫu số chung như mở đầu ca ngợi quan hệ Việt Trung, thành quả này nọ rồi tiếp đến phê phán những ai chỉ trích mối quan hệ này, kết là quy chụp tội những người phê phán mối quan hệ này là muốn gây bất ổn định chính trị, gây mâu thuẫn quan hệ ngoại giao láng giềng hữu nghi…sau cùng là đe doạ bắt bớ.

Điển hình cho mẫu người phê phán quan hệ Việt Trung phải chịu tù đày là bloger Điếu Cày tức Nguyễn Văn Hải khi có hành động tích cực kêu gọi phản đối Việt Nam quan hệ với Trung Quốc qua việc biểu tình.

Tương tự như thế, trong quan hệ Việt Mỹ, các bài báo của Việt Nam mở đầu khơi lại cuộc chiến năm 1975. kể lể những hình ảnh chết chóc, vẽ ra những âm mưu thâm độc của Mỹ muốn phá hoại đời sống nhân dân Việt Nam… rồi kết cũng như mọi khi là đe doạ ai kêu gọi Việt Nam phải thân Mỹ là kêu gọi việc làm bán nước, tay sai cho Mỹ. Cần phải xử lý nghiêm tức bắt bớ bỏ tù.

Điển hình cho mẫu người kêu gọi Việt Nam phải liên minh với Mỹ rút cục bị kết án tù là tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ.

Nhưng cho đến những ngày gần đây, việc Trung Quốc gia tăng xây dựng căn cứ quân sự, bồi đắp nhân tạo đảo để làm căn cứ xác nhận chủ quyền. Báo chí Việt Nam bắt buộc phải chuyển hướng và có những luận điệu phản đối gay gắt. Sở dĩ nhắc đến từ “bắt buộc” vì ban tuyên giáo Việt Nam không bao giờ muốn lộ ra chuyện Trung Quốc xây đắp đảo, nhằm che đậy cho tuyên truyền lừa đảo bấy lâu nay bị phơi bày cho dân chúng rằng quan hệ Việt Trung là đang tốt đẹp, hữu nghị, hai bên cùng có lợi.

Nhưng người Mỹ đã đưa phóng viên CNN lên phi cơ quân sự, bay đến vùng Trung Quốc có hành vi phi pháp công ước quốc tế, để ghi hình lại những hành động xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc cho cả thế giới chứng kiến. Việt Nam dẫu có muốn che đậy cũng không thể bàn tay che đậy cả thế giới. Họ đành phải nương theo và chấp nhận để báo chí Việt Nam lên tiếng trong trường hợp này.

Trong cái gọi là “bắt buộc” phải lên tiếng ấy của báo chí Việt Nam, nhiều tờ báo, nhiều tác giả đã có những bài báo phản ánh quan điểm chính xác, chân thực về thời cuộc, về tình hình chủ quyền biển đảo, quan hệ ngoại giao Việt Nam với các cường quốc.

Đi đầu là những tờ báo như Giáo dục, Thanh niên, Vnexpress, Vietnamnet, Một thế giới….

Đặc biệt tờ báo giaoduc.net.vn đã có những bài rất thẳng thắn phơi bày dã tâm của Trung Quốc khi thôn tính chủ quyền Việt Nam, vạch ra luận điệu khích bác gây mâu thuẫn quan hệ Việt Mỹ. Trong bài báo số ra ngày 3/6/2015 của tác giả Hồng Thuỳ đăng trên báo giaoduc có nhan đề:

Thời báo Hoàn Cầu cay cú bình luận xuyên tạc quan hệ Việt Mỹ, Việt Trung

http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Thoi-bao-Hoan-Cau-cay-cu-binh-luan-xuyen-tac-quan-he-VietMy-VietTrung-post158866.gd

Tác giả đã viết thẳng vào bản chất vấn đề lịch sử cũng như đương đại.

“Lý do được Thời báo Hoàn Cầu đưa ra là: “Việt Nam và Mỹ đánh nhau mười mấy năm, cả hai phía đều tổn thất nghiêm trọng. Mỹ thương vong mấy trăm ngàn quân, Việt Nam cũng mất đi 3 triệu sinh mạng. Những trận oanh tạc của máy bay ném bom B-52 trở thành ký ức không bao giờ quên của người Việt Nam. Ngày nay, Việt Nam là một quốc gia chủ nghĩa xã hội, Mỹ bỗng nhiên xuất hiện vừa tặng vũ khí, vừa chống lưng, xã hội Việt Nam không thể không đặt câu hỏi, Hoa Kỳ không ngây thơ như thế!”

Sau khi trích dẫn những lời khích động chia rẽ quan hệ Việt Mỹ của tờ Hoàn Cầu, tác giả đã thẳng thắn đáp trả rất mạnh mẽ đúng lý, đúng tình như sau:

“Đúng là Hoa Kỳ không ngây thơ, và người Việt Nam cũng không ngây thơ. Người Việt Nam không quên quá khứ, nhưng quá khứ ấy không chỉ có 2 cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, mà còn cả ngàn năm Bắc thuộc, gần nhất cũng là những cuộc chiến như năm 1979 Trung Quốc xua quân xâm lược tàn sát hàng ngàn đồng bào mình và xâm lược, thôn tính Hoàng Sa năm 1974, 6 bãi đá Trường Sa năm 1988 – PV”.

Bài báo rất sòng phẳng và khách quan. Một bài báo như vậy trước đây rất hiếm khi được xuất hiện trên truyền thông Việt Nam.

Cũng trên tờ báo này, một bài báo khác có số ra cùng ngày, của một tác giả khác có tên là Nguyễn Hường, đã có một bài viết phơi bày động cơ của Trung Quốc khi cố tình gây hấn căng thằng trên biển Đông. Bài viết có nhan đề:

Trung Quốc leo thang ở biển Đông để tránh bất mãn trong nước

http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Trung-Quoc-leo-thang-o-Bien-Dong-de-tranh-bat-man-trong-nuoc-post158868.gd

Bài viết có đoạn như sau:

“Chính phủ và truyền thông Trung Quốc gần đây cũng tích cực hơn trong việc tuyên truyền về các tuyên bố chủ quyền sai trái của mình. Thậm chí, tờ Thời báo Hoàn cầu còn tuyên bố rằng bất kỳ nỗ lực nào của Mỹ nhằm ngăn cản âm mưu bá chủ của Bắc Kinh ở Biển Đông chắc chắn sẽ kết thúc trong chiến tranh.

Theo nhận định của Business Insider, những tuyên bố “sặc mùi” dân tộc chủ nghĩa trên của Bắc Kinh rõ ràng là phản ứng để đánh lạc hướng chú ý về việc nền kinh tế đang tăng trưởng chậm lại của Trung Quốc”.

Dã tâm của Trung Quốc không những được báo chí Việt Nam phơi bày bằng những bài viết mà còn được chuyển tải bằng hình ảnh, clip. Tờ báo Thanh Niên đã đưa lên youtube một clip cho thấy tàu cảnh sát Trung Quốc đã đâm thẳng vào tàu cứu nạn của Việt Nam đang trên đường chở ngư dân bị bệnh nặng về bờ cấp cứu:

https://www.youtube.com/watch?v=nB32QqqGXw0&feature=youtu.be

httpv://www.youtube.com/watch?v=nB32QqqGXw0&feature=youtu.be

Trước những bài báo, clip mà các tờ báo, nhà báo trên đưa ra trước công luận. Có thể thấy rằng chuyện lừa bịp, bưng bít và xuyên tạc thông tin của ban tuyên giáo Trung ương bây giờ khó có thể dễ dàng như trước. Bởi nếu không có báo chí Việt Nam phơi bay thì báo chí quốc tế cũng phơi bày. Bởi ngay trong chính những tờ báo, đội ngũ nhà báo mà ban tuyên giáo tư tưởng Việt Nam quản lý cũng có nhiều những con người có lương tri, có can đảm, có tình yêu với đất nước. Những đức tính ấy luôn cuồn cuộn mạnh mẽ như mạch nước ngầm, chỉ cần có cơ hội là phun trào cho nhân dân thấy sự thật về quan hệ Việt Trung hữu nghị như thế nào.

Đây đó vẫn lạc lõng những luận điệu của dư luận viên thuộc ban tuyên giáo Việt Nam về quan hệ hữu nghị Việt Trung, cảnh giác âm mưu của Mỹ. Trên tờ báo quân đội nhân dân vẫn liên tiếp đưa ra những vụ việc trên thế giới để ám chỉ chính phủ Mỹ đầy những âm mưu đen tối.

Nhưng dù có thế thật như chúng nói. Thì Mỹ âm mưu ở tận đâu chỗ Đông Âu, Trung Đông xa vời nào đó, còn Trung Quốc thì âm mưu ngay trên đất chúng ta, trên biển chúng ta và đang sát hại người dân chúng ta. Đó mới là điều chúng ta cần nói bây giờ.

Xin cám ơn những người đã cất tiếng nói sớm trong sự cô đơn như Nguyễn Văn Hải, Cù Huy Hà Vũ cùng nhiều người khác. Cũng như cám ơn các bạn phóng viên của các tờ báo giaoduc, thanh nien, vnexpress, vietnamnet ngày hôm nay đã cất tiếng nói thẳng thắn phơi bày dã tâm của Trung Quốc với chủ quyền biển đảo Việt Nam và âm mưu muốn cô lập Việt Nam khỏi quan hệ quốc tế. Tuy rằng không được sớm, nhưng nhân dân biết lỗi không thuộc về các bạn.

B.T.H.

Nguồn: https://www.facebook.com/notes/thanh-hieu-bui/sự-đổi-sắc-trong-báo-ch%C3%AD-việt-nam-trước-tình-hình-mới-ở-biển-đông/1006918762666678

TOA THUỐC THẦN KỲ CHO THỂ XÁC VÀ TÂM HỒN

TOA THUỐC THẦN KỲ CHO THỂ XÁC VÀ TÂM HỒN

I. Sức khỏe

Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) định nghĩa: “Sức khỏe là một tình trạng thoải mái hoàn toàn về thể chất và hoàn cảnh, chứ không phải là một tình trạng không có bệnh tật hay tàn tật”..

II. Bí quyết trường thọ

1. Chấp nhận với những gì mình đang có

2. Thích nghi với hoàn cảnh của mình đang sống

3. Điều chỉnh tâm hồn để đạt được điều mong muốn

III. Phòng ngừa bệnh tật

1. Không vui quá hại tim

2. Không buồn quá hại phổi

3. Không tức quá hại gan

4. Không sợ quá hại thần kinh

5. Không suy nghĩ quá hại tỳ

6. Xua tan hoài niệm cay đắng bằng bao dung tha thứ.

7. Tránh tranh luận hơn thua.

IV. Thức ăn & uống trong ngày:

Một củ hành: chống ung thư

Một quả cà chua: chống tăng huyết áp

Một lát gừng: chống viêm nhiễm

Một củ khoai tây: chống sơ vữa động mạch

Một trái chuối: phấn chấn thần kinh, chống táo bón, giảm béo.

Một quả trứng hay ít thịt nạc: chống suy dinh dưỡng

Uống 1 đến 2 lít nước mỗi ngày: giải độc cơ thể

V. Triết lý hiện đại:

1. Một Trung Tâm là sức khỏe

2. Hai Tí: Một tí thoải mái – Một tí nhiệt tình

3. Ba Quên: Quên tuổi tác. Quên bệnh tật. Quên hận thù

4. Bốn Có: Có nhà ở. Có bạn đời. Có bạn tri âm. Có lòng vị tha.

5. Năm Phải: Phải vận động, phải biết cười; phải lịch sự hòa nhã; phải biết nói chuyện, phải coi mình là người bình thường.

VI. Bảo Sinh Thái Ất Chân Nhân:

1. Ít nói năng để dưỡng Nội Khí

2. Kiêng sắc dục để dưỡng Tinh Khí

3. Bớt ăn hăng mạnh để dưỡng Huyết Khí

4. Đừng nhổ nước bọt để dưỡng Tạng Khí

5. Chớ giận hờn để dưỡng Can Khí

6. Chớ ăn quá độ để dưỡng Vị Khí

7. Ít lo lắng để dưỡng Tâm Khí

8. Tránh tà tâm để dưỡng Thần Khí.

VII. Hãy Dành Thì Giờ – Mẹ Thêrêsa Calcutta :

Hãy dành thì giờ để suy nghĩ:  Đó là nguồn sáng tạo.

Hãy dành thì giờ để cầu nguyện:  Đó là sức mạnh toàn năng.

Hãy dành thì giờ cất tiếng cười:  Đó là tiếng nhạc của tâm hồn.

Hãy dành thì giờ chơi đùa:  Đó là bí mật trẻ mãi không già.

Hãy dành thì giờ để yêu và được yêu: Đó là điều Thiên Chúa ban.

Hãy dành thì giờ để cho đi: Đó là phúc đức sẽ tồn tại mãi.

Hãy dành thì giờ đọc sách: Đó là nguồn mạch minh triết.

Hãy dành thì giờ để thân thiện: Đó là đường dẫn tới hạnh phúc.

Hãy dành thì giờ để làm việc: Đó là giá của thành công.

Hãy dành thì giờ để sống bác ái:  Đó là chìa khóa cửa thiên đàng.

Anh chị Thụ Mai gởi