Thiên thần phải bật khóc vì lòng đố kỵ của con người…

Thiên thần phải bật khóc vì lòng đố kỵ của con người…

Có một câu chuyện kể rằng, một ngày nọ có một thiên sứ đến nhà của một đôi vợ chồng ở một nông trang, thiên sứ nói với họ rằng: “Do các con sống hiền lành lương thiện, ta quyết định cho các con 3 điều ước, nhưng có một điều kiện là: Cho dù các con có ước điều gì đi chăng nữa, thì hàng xóm của các con cũng sẽ nhận được gấp đôi”.

thien-than

Người vợ nghe thấy thế vui quá bèn nói: “Hãy cho con một núi thóc, để năm nay chúng con sẽ không phải làm ruộng nữa!”. Sáng ngày hôm sau, quả nhiên trước nhà xuất hiện một ngọn núi bằng thóc, người chồng rất vui mừng, nhưng nghĩ một lát thấy kho thóc nhà mình sẽ không đủ để cất giữ, liền chuẩn bị vào thị trấn mua gỗ về dựng kho thóc lớn hơn.

Người chồng vừa đi đến nửa đường thì gặp người hàng xóm, hỏi ra thì biết rằng người hàng xóm cũng đi mua gỗ về để dựng kho chứa thóc. Người hàng xóm phấn khích nói: “Hôm nay trước cửa nhà tôi đột nhiên xuất hiện 2 ngọn núi bằng thóc, năm nay và cả năm sau tôi sẽ không phải làm ruộng nữa!”. Ông chồng nghe xong lập tức tâm ghen tị liền nổi lên, chỉ mong sao người hàng xóm biến đi cho khuất mắt.

Một tuần sau, thiên sứ lại đến, hai vợ chồng lại ước điều ước thứ 2, họ nói với thiên sứ rằng:“Chúng con không có con, chỉ ước sao có một đứa con xinh xắn đáng yêu”. Mười tháng sau, hai vợ chồng quả nhiên sinh hạ một em bé, đang chuẩn bị đi thông báo cho người thân và bạn bè tin tốt lành này, ai ngờ vẫn chưa kịp bước ra khỏi cửa, người hàng xóm đã mang trứng gà đỏ vào nhà, rất phấn khích nói: “Vợ tôi sinh rồi, quả thật không ngờ được vợ chồng tôi vẫn có thể có con, thậm chí còn sinh đôi nữa”.

Hai vợ chồng nghe thấy thế không vui cho lắm, nhìn trứng gà đỏ hàng xóm mang đến mà nuốt không trôi. Tối hôm đó thiên sứ lại đến, và bảo họ hãy ước điều ước thứ 3, ông chồng phẫn nộ nói: “Tôi yêu cầu chặt đi một cánh tay của tôi!”. Thiên sứ nghe thấy thế rất kinh ngạc, ông chồng lại nói: “Tôi muốn để cho tên hàng xóm dương dương tự đắc kia mất hết cả hai tay, cả đời sẽ không làm gì được nữa.”

Người chồng quỳ xuống đất, đợi cho cánh tay của mình rơi xuống, nhưng mãi không thấy phản ứng gì, liền ngẩng đầu lên, nhìn thấy thiên sứ nước mắt chảy dài, rồi nói: “Yêu cầu của ngươi ta không thể thực hiện nổi, tại vì ta yêu tất cả mọi người trên thế gian này. Ngươi thật là ngốc nghếch, sao ngươi lại muốn hại người khác, và khiến cho bản thân cũng bị đau khổ, đồng thời cũng khiến Thần cảm thấy thương tâm?”

Những người bạn yêu quý, trong hoàn cảnh công tác hay trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, có phải chúng ta cũng thường vô ý mà đố kỵ những người “hàng xóm” may mắn hơn chúng ta không?

Đố kỵ cũng như một con dao, bạn tưởng rằng bạn đã đâm nó lên thân của kẻ khác, kỳ thực bạn đã đâm nó vào chính trái tim mình.

Theo Secretchina

Cướp chém chết một phụ nữ rồi cướp xe giữa ban ngày

 Cướp chém chết một phụ nữ rồi cướp xe giữa ban ngày

Nguoi-viet.com

Hiện trường nơi xảy ra vụ giết người mẹ trẻ. (Hình: báo Thanh Niên)

THÁI BÌNH (NV) – Gần trưa, đang chở con nhỏ trên đường về quê ăn giỗ, một phụ nữ ở huyện Tiền Hải nghi bị kẻ cướp bất ngờ dùng dao chém nhiều nhát từ sau gáy khiến chết tại chỗ để cướp xe máy đắt tiền.

Truyền thông Việt Nam loan tin, chiều 30 tháng 10, công an tỉnh Thái Bình xác nhận, trên quốc lộ 39, xã Ðông Tân, huyện Ðông Hưng, đã xảy ra án mạng nghi giết người để cướp xe máy.

Theo báo Thanh Niên, khoảng 10 giờ 30 cùng ngày chị Nguyễn Thị Cúc (27 tuổi), trú huyện Tiền Hải, chở theo con trai là cháu Lê Anh Trung (8 tuổi) trên xe máy Honda SH mang tiền lên huyện Ðông Hưng cho chồng sửa xe hơi. Sau đó, chị Cúc tiếp tục cùng con đi về quê ở huyện Thái Thụy để ăn giỗ.

Khi đi đến xã Ðông Tân, bất ngờ chị Cúc bị hai thanh niên từ phía sau chạy xe máy đuổi theo chém liên tiếp vào tay và gáy. Do vết chém vào chỗ hiểm khá nặng nên chị Cúc đã chết tại chỗ. Riêng cháu Trung chỉ bị thương nhẹ và được đưa đi bệnh viện điều trị. Tại hiện trường, chiếc xe máy văng khỏi nơi nạn nhân gục chết khoảng 100 mét.

Ông Nguyễn Văn T., trú huyện Ðông Hưng, một trong những nhân chứng đầu tiên tại hiện trường cho biết: “Lúc đấy trời đang mưa, nghe thấy tiếng gọi, tôi liền chạy ra. Khi lại gần xe máy, tôi nghe có tiếng khóc trẻ con. Xa hơn là một phụ nữ với cánh tay và má bên phải bị chém xuống đến tận cổ và hình như đã chết nằm cạnh vệ đường, tay nắm rất chặt như tỏ vẻ căm phẫn. Còn kẻ thủ ác sau khi chém nạn nhân, có lẽ đã lấy xe SH và bỏ chạy nhưng đi được khoảng 100 mét thì bỏ xe lại tẩu thoát,” ông T. tỏ vẻ sợ hãi kể lại sự việc với phóng viên báo Thanh Niên.

Công an tỉnh Thái Bình tình nghi đây là vụ án giết người, cướp tài sản vì nhiều dấu hiệu cho thấy, kẻ thủ ác ra tay liều lĩnh, manh động. Nơi chị Cúc bị chém chết hai bên là cánh đồng vắng. Từ chỗ xảy ra vụ án đến nhà dân gần nhất cũng phải 300 mét, đoạn xa lên đến 600 mét. Sau khi gây án, kẻ giết người không kịp lấy xe vì có người đi tới. (Tr.N)

Lũ chồng lũ ở Quảng Bình, nhiều làng mạc lại ngập nặng

 Lũ chồng lũ ở Quảng Bình, nhiều làng mạc lại ngập nặng

Nguoi-viet.com

Nhiều làng mạc ở dọc sông Gianh đang bị nước lũ nhấn chìm. (Hình: báo Dân Trí)

QUẢNG BÌNH (NV) – Chưa hết bàng hoàng sau cơn lũ vừa trải qua, người dân phải ráo riết chạy lũ trước lo sợ nguy cơ lũ chồng lũ. Hiện nước lũ đã cuốn trôi cây cầu phao ở huyện Quảng Trạch, làm cả ngàn người dân bị cô lập.

Theo báo Tiền Phong, chiều 31 tháng 10, ông Trần Văn Tiến, chủ tịch xã Quảng Trường, huyện Quảng Trạch, cho biết, sáng cùng ngày nước lũ lên cao và chảy xiết đã làm cây cầu phao Thuận Hòa dài 200 mét, rộng 2 mét, được lắp ghép từ các thanh gỗ, tre, dây thép, thùng phuy nhựa, là con đường duy nhất của người dân trong thôn Thuận Hòa đến các nơi khác bị đứt dây trôi mất khiến hàng ngàn người dân bị cô lập.

Theo ông Tiến, hiện tại do nước lũ dâng cao và chảy xiết nên việc khắc phục gặp rất nhiều khó khăn. Xã đang vận động người dân tìm những nơi cao sơ tán lên để đề phòng nước lũ.

Nước lũ cuốn trôi cây cầu phao. (Hình: Pháp luật Sài Gòn)

Nước lũ cuốn trôi cây cầu phao. (Hình: Pháp luật Sài Gòn)

Còn ông Cao Xuân Ngọc, chủ tịch xã Quảng Hải, thị xã Ba Ðồn cho biết, mưa lớn trong 2 ngày qua, nước sông Gianh lên trở lại, gây vỡ đoạn đê cuối làng, gần 1/2 nhà cửa của người dân lại chìm trong nước lũ. Hiện tại, xã đang huy động lực lượng để cứu đê nhưng không thành công vì nước chảy xiết.

Lãnh đạo các xã phía Nam thị xã Ba Ðồn như Văn Hóa, Châu Hóa, huyện Tuyên Hóa; Quảng Tân, Quảng Thủy, Quảng Minh, thị xã Ba Ðồn cho biết, nước lũ trên sông Gianh đang lên rất nhanh đã vượt đê vào làng, nhiều nhà dân đã bị ngập, tình hình rất nguy cấp vì vẫn đang mưa rất lớn.

Theo nhận định của người dân dọc sông Gianh, rất có thể sẽ xảy ra một trận lũ lớn tiếp theo, vì nước ở các hồ chứa đã đầy, trên đồng ruộng, ao hồ vẫn chưa rút hết từ trận lũ trước.

Tin cho biết, Trung Tâm Dự Báo Khí Tượng Thủy Văn Trung Ương cảnh báo, từ nay đến ngày 5 tháng 11, trên các sông từ Nghệ An đến Ninh Thuận sẽ xuất hiện lũ. Trong đợt lũ này, mực nước trên các sông ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi có khả năng lên mức báo động cao nhất, nguy cơ xảy ra lũ lớn, lũ quét trên các sông suối nhỏ, sạt lở đất ở vùng núi, ngập úng cục bộ tại vùng trũng, thấp các tỉnh trên là rất cao. (Tr.N)

Thủy điện Hố Hô lại tiếp tục coi “mạng người như cỏ rác”

From :  Lê hồng Song added 2 new photos.
Thủy điện Hố Hô lại tiếp tục coi “mạng người như cỏ rác”

(Xã hội) – Khi thông tin nhà máy thủy điện Hố Hô xả lũ “đúng quy trình” từ ngày 13/10/2016 đẩy 5.000 hộ dân huyện Hương Khê vào cảnh tận cùng đau thương và khốn khó vẫn chưa khiến dư luận hết phẫn nộ, thì mới đây trong cơn lũ tiếp theo, nhà máy này lại tiếp tục lén lút xả lũ “đúng quy trình” mà không xin phép ý kiến tỉnh Hà Tĩnh.

Là người trực tiếp đi kiểm tra nhà máy thủy điện Hố Hô, Bí thư Tỉnh uỷ Hà Tĩnh Lê Đình Sơn cho biết thuỷ điện này xả lũ khi chưa có sự chỉ đạo của tỉnh. Ông Sơn cho biết, từ hôm qua đến nay, tỉnh Hà Tĩnh chưa có chỉ đạo xả lũ, kể cả hồ Kẻ Gỗ. Thế mà sáng nay, khi kiểm tra tại công trình thuỷ điện Hố Hô thì đoàn kiểm tra rất bất ngờ vì công trình này tự ý xả nước từ tối qua.
Bí thư Hà Tĩnh ‘ngã ngửa’ khi thuỷ điện xả lũ.

Theo ông Sơn, qua kiểm tra ban đầu, thuỷ điện Hố Hô chấp hành không nghiêm túc. Kiểm tra sâu hơn, thuỷ điện Hố Hô chưa kiểm soát, điều tiết lưu lượng nước xả của hồ đồng thời không tính toán được việc xả lũ vùng hạ lưu ngập lụt như thế nào.
Thật ra thông tin thủy điện Hố Hô tiếp tục xả lũ khiến người dân phẫn nộ chứ không bất ngờ, bởi từ khi xây dựng đến nay, cái nhà máy không có chức năng điều tiết lũ này đã vẫy vùng ngang dọc, “coi trời bằng vung” mà nào ai có ý kiến!
Nhà máy Thủy điện Hố Hô có công suất 13MW (với 2 tổ máy) do Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Điện miền Bắc 1 làm chủ đầu tư, được xây dựng trước những tranh cãi về tính phản khoa học và trái với lòng dân từ năm 2005. Ngay sau đó, năm 2007, nhà máy thủy điện này chứng minh ngay “sai lầm của mình” khi không kiểm soát được lượng lũ, biến tỉnh Hương Khê thành biển nước, khiến người dân hoang mang cực độ vì chưa bao giờ họ phải đón nhận cơn lũ trái quy luật và lên nhanh bất thường đến thế!
Một dấu ấn đậm nét nữa được đập thủy điện này khắc ghi vào lòng người dân khi, ngày 4/10/2010, trong trận lũ được đánh giá là lớn nhất từ trước tới nay tại Hà Tĩnh, thì cửa tràn xả lũ bằng hệ thống thủy lực của nhà máy không hoạt động được. Nguyên nhân được xác định là do mất điện. Cửa tràn không mở được, cây cối, rác từ thượng nguồn đổ về nhanh đã khiến nước từ hồ băng qua cả thân đập, dội thẳng xuống nhà máy phát điện. Hố Hô như quả “bom nước” khiến chính quyền, người dân hạ lưu trải qua những giây phút hoảng sợ. Sự cố này cũng khiến cho tiếng khóc ai oán của người dân vùng lũ càng thêm thê lương, văng vẳng cả một vùng trời!

Và mới đây, với kinh nghiệm chống lũ và xả lũ từ khi xây dựng đến nay, nhà máy thủy điện này đã trực tiếp đẩy 5 000 hộ dân tại tỉnh Hương Khê vào cảnh màn trời chiếu đất. Cái đói, cái mặc tưởng chừng đã là quá khứ mà không ngờ lại trở nên hiện thực đối với khúc ruột miền Trung đến thế!
Ấy vậy mà, khi yêu cầu thanh tra và làm rõ trách nhiệm, một Tổng cục phó Năng lượng lại thủng thẳng trả lời “thủy điện Hố Hô xả lũ chấp nhận được”. Ừa thì chấp nhận được, nên tới cơn lũ lần này, họ chẳng cần cái gì gọi là báo cáo, gọi điện mà cứ thế thẳng tay xả “ bom nước” giáng xuống đầu dân! Lãnh đạo còn chấp nhận được, thì dân là cái xá chi!

Không cần phải nói chắc ai cũng hiểu, kể từ khi nhà máy này đi vào hoạt động chính quyền tỉnh Hà Tĩnh, nhân dân các huyện nằm ở hạ nguồn luôn ngồi trên đống lửa mỗi khi mưa lũ kéo về. Ấy vây mà, “người ta” vẫn bình chân như vại. Mà ngẫm cũng phải, “tính mạng” cái đập được bảo toàn rồi, thì ai sống chết mặc ai!
Miền Trung, mảnh đất truyền thống anh hùng đứng lên từ bao gian khó, suốt bốn mùa nắng rực đỏ rát mặt, muối mặn chát ngấm vào xương da, phải hứng chịu cảnh họa vô đơn chí khi đập thủy điện xả nước kèm theo mưa lũ chẳng xót thương trút xuống, cuốn cả làng, mang đi tất cả tài sản, khiến nước mắt người dân không còn để rơi. Nếu nhìn từ trên cao xuống, chỉ thấy những mạng người nhỏ nhoi ngồi đợi chờ phép màu từ đoàn cứu trợ tới giữa dòng nước trắng xóa thì mới thấy xót xa nhường nào. Đau cho khúc ruột miền Trung bao nhiêu lại giận những đã gây ra tai ương khiến cho người dân phải chịu cảnh màn trời chiếu đất bấy nhiêu!
Bao giờ người dân miền Trung hết khổ, khi đôi vai gầy nặng trĩu phải oằn mình gánh cả thiên tai và nhân tai? Câu hỏi đau đáu này xin gửi đến các cơ quan chức năng.
Khúc ruột miền Trung đang chảy máu.
Thương lắm nhưng vòng tay quá nhỏ bé.
Miền Trung ơi…! Bao giờ cho hết những đau thương

Lê hồng Song's photo.
Lê hồng Song's photo.

Bộ trưởng Tuấn: báo chán do nhà báo kém tài, không phải do kiểm duyệt

Bộ trưởng Tuấn: báo chán do nhà báo kém tài, không phải do kiểm duyệt

VOA

Nhà báo Võ Văn Tạo nói, ở Việt Nam, những đề tài rất quan trọng, người dân rất quan tâm thì báo chí lại không được đụng tới.

Nhà báo Võ Văn Tạo nói, ở Việt Nam, những đề tài rất quan trọng, người dân rất quan tâm thì báo chí lại không được đụng tới.

Trong một cuộc phỏng vấn được nhiều báo Việt Nam đăng hôm 31/10, ông Trương Minh Tuấn, Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông, nói chính quyền “không ngăn cản tự do ngôn luận”, và các tác phẩm báo chí không thu hút bạn đọc là “do trình độ và tài nghệ của người làm báo”. Nhà báo kỳ cựu Võ Văn Tạo không đồng tình với phát biểu này của bộ trưởng.

Hồi cuối tháng 6, báo điện tử Infonet trực thuộc bộ của ông Tuấn đã đăng một bài viết về khó khăn trong nghề báo ở Việt Nam.

Bài viết trích ý kiến của Tổng Biên tập Infonet, ông Võ Đăng Thiên, cho rằng: “Một trong những khó khăn, thách thức lớn nhất hiện nay đối với người làm báo … là làm sao vừa thực hiện đúng chỉ đạo, pháp luật, định hướng của cơ quan chỉ đạo, … lại vừa thu hút được bạn đọc, hấp dẫn được bạn đọc. Vì nếu làm sai chỉ đạo sẽ bị xử lý, nhưng nếu không thuyết phục được bạn đọc thì không có nguồn thu. Đây thường xuyên là thách thức hàng ngày đối với chúng tôi”.

Đáp lại nhận xét kể trên của ông Thiên, trong bài phỏng vấn đăng hôm 31/10, Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông nói “đó là sự ngụy biện”. Ông Trương Minh Tuấn khẳng định rằng: “Không thuyết phục được bạn đọc là do trình độ và tài nghệ của người làm báo. Tài nghệ kém cỏi, làm ra những tác phẩm báo chí kém cỏi, không thu hút được người đọc rồi quay ra đổ lỗi cho định hướng của Đảng, thậm chí còn đổ lỗi cho việc tuân theo pháp luật. … đổ lỗi cho pháp luật quả là chuyện nực cười. Sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với báo chí không hề ngăn cản tự do ngôn luận, không hề ngăn cản thông tin đa chiều, càng không hề làm mất cá tính, phong cách và tài năng của những người làm báo”.

Trước đó, hôm 19/10, ông Võ Đăng Thiên và một phó tổng biên tập của Infonet bị đình chỉ chức vụ 15 ngày do dẫn lời Chủ tịch Quốc hội để rút tít một bài viết là “Tôi thất vọng khi đọc dự thảo luật Chính phủ trình”. Bộ trưởng Tuấn cho rằng “Tiêu đề này nói không đúng bản chất nội dung phát biểu của Chủ tịch Quốc hội, khiến cho dư luận hiểu sai về mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ”.

Cuộc phỏng vấn ông Tuấn diễn ra trong bối cảnh gần đây nhà chức trách Việt Nam đã “kỷ luật” một loạt lãnh đạo báo chí và cơ quan báo chí. Gần đây nhất là vụ đình bản báo Tầm Nhìn trong 3 tháng.

VN đình bản báo Tầm Nhìn trong 3 tháng

Từ Nha Trang, nhà báo có hàng chục năm kinh nghiệm Võ Văn Tạo phân tích với VOA về những điểm ông không đồng tình với phát biểu của Bộ trưởng Trương Minh Tuấn. Ông Tạo nói:

“Ở Việt Nam có những đề tài rất quan trọng, người dân rất quan tâm thì báo chí lại không được đụng tới. Cái đó là hàng tuần đều có sự giao ban báo chí hết. Do Ban Tuyên giáo Trung ương người ta giao ban. Họ sẽ nói nội dung cụ thể trong tuần tới, trong thời gian tới phải tập trung đưa về cái gì. Tức là tiết chế hoạt động báo chí một cách rất là khắt khe. Báo chí không có tự do. Có những đề tài công chúng rất thích lại bị cấm đoán thì làm sao mà hay. Báo chí không như văn chương. Cái hay của báo chí là vấn đề thời sự, phản ánh tính thời sự, cái nóng bỏng, cái kịp thời mà phần lớn xã hội, công chúng người ta quan tâm. Đấy mới là cái hay của báo chí. Thế thì ở Việt Nam bị dẹp cái đó. Thế thì khó lòng có được cái hay”.

Nhà báo Võ Văn Tạo cho biết thêm trong vài năm gần đây, nhà chức trách đã thay đổi “chiến thuật” chỉ đạo báo chí nhằm tránh “để lại dấu vết” về kiểm duyệt báo chí. Hai cơ quan quản lý báo chí hàng đầu của Việt Nam là Ban Tuyên giáo của Đảng Cộng sản và Bộ Thông tin và Truyền thông của chính phủ. Ông Tạo nói:

“Bộ Thông tin Truyền thông và Tuyên giáo là họ hay làm thế này: giao ban nói mồm, không kịp giao ban thì họ nhắn tin, họ gọi điện thoại. Hãn hữu lắm họ mới gửi văn bản. Họ sợ rằng trong đội ngũ báo chí vẫn có người có lương tâm, những người tử tế, họ sẽ truyền cái đó ra ngoài để đưa lên truyền thông lề dân. Nó lộ tẩy cái bộ mặt xấu xa của việc thò tay can thiệp vào báo chí một cách thô bạo”.

Trong khi đó, Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Trương Minh Tuấn nói trong cuộc phỏng vấn mới đây rằng tuy có một số quan chức ở các cơ quan lãnh đạo và quản lý báo chí đưa ra “những lời khuyên nên thông tin điều này, không nên thông tin điều kia”, song “đó chỉ là sự khuyến nghị, nhắc nhở”. Bộ trưởng Tuấn nói nếu báo chí “thấy sự khuyến nghị, nhắc nhở đó là cứng nhắc, không phù hợp với thực tế cuộc sống” thì lãnh đạo cơ quan báo chí “hoàn toàn có thể phản hồi, tranh biện để đi đến chân lý”.

Tuy nhiên, trên mạng xã hội và Facebook cá nhân, nhiều nhà báo cho rằng phản hồi, tranh biện với nhà chức trách chỉ mang lại thêm rắc rối cho họ.

Thế nào là thông tin nhạy cảm?

Thế nào là thông tin nhạy cảm?

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2016-10-28

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

File photo

Thế nào thông tin nhạy cảm?

 00:00/06:44

Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Bộ Thông Tin Truyền Thông Việt Nam hôm thứ Tư 26 tháng 10 khuyến cáo phóng viên và báo chí trong nước cẩn trọng khi đưa tin về nhân quyền mà bộ này cho là vấn đề ‘nhạy cảm’, thường bị những thế lực xấu lợi dụng để chống phá nhà nước Việt Nam.

Quan điểm của nhà cầm quyền Việt Nam về nhân quyền, mức độ nhạy cảm của vấn đề như thế nào?

Nhạy cảm ngay từ trong khái niệm

Tại buổi họp có tên là Hội Nghị Cung Cấp Thông Tin Về Công Tác Nhân Quyền, được tổ chức định kỳ hàng tháng, thứ trưởng Bộ Thông Tin Truyền Thông Việt Nam, ông Hoàng Vĩnh Bảo, đưa ra cảnh báo như vừa nêu với báo giới trong nước.

Ông Hoàng Vĩnh Bảo còn lưu ý báo giới Việt Nam rằng những gì đang diễn ra trong nước, thí dụ kỳ họp Quốc Hội hay chuyện ô nhiễm môi trường chẳng hạn, là những thông tin dễ bị kẻ xấu lợi dụng.

Họ không muốn nhân dân hiểu rõ và thực thi nhân quyền. Trên các phương tiện thông tin đại chúng họ cũng không muốn báo chí nhắc nhiều đến vấn đề này.
-Vũ Quốc Ngữ

Ông Trịnh Hòa Bình, nguyên giám đốc Trung Tâm Dư Luận Xã Hội, nay là thành viên của Liên Hiệp Các Hội Khoa Học Kỹ Thuật Việt Nam, nhận định:

Đây là phát biểu chính thức của nhà nước do đảng cộng sản cầm quyền, thế thôi. Đúng như điều anh Bảo nói, nhân quyền ở Việt Nam, dưới góc nhìn của quốc tế và đến lượt Việt Nam nhìn lại, thì nó là vấn nhạy cảm mà có lẽ cũng chưa bao giờ vấn đề nhân quyền một cách phổ quát được đặt ra … tôi không muốn nói là gay gắt.

Nói gì thì nói Việt Nam cũng đạt được những bước tiến nhất định xét về mặt lý luận, xét về mặt quan điểm chung quanh vấn đề nhân quyền. Có điều là như thế này, nhân quyền Việt Nam còn bị qui chiếu bời văn hóa của Việt Nam nữa. Đương nhiên văn hóa này bao gồm cả chính trị, ở đây có những vấn đề như thế. Tôi nghĩ không nói được gì nhiều hơn bởi vì phát biểu chính thức của họ là như vậy, bản thân tôi không phải thước đo để đánh giá.

Đối với tầng lớp lãnh đạo Việt Nam hiện nay, nhân quyền là vấn đề nhạy cảm ngay từ trong khái niệm của nó. Đó là phát biểu của ông Vũ Quốc Ngữ, thành viên Mạng Lưới Các Tổ Chức Xã Hội Dân Sự Độ Lập:

Họ không muốn nhân dân hiểu rõ và thực thi nhân quyền. Trên các phương tiện thông tin đại chúng họ cũng không muốn báo chí nhắc nhiều đến vấn đề này.

Việt Nam nói họ có tiêu chuẩn nhân quyền riêng so với thế giới, họ không công nhận nhân quyền phổ quát, họ bảo rằng nhân quyền Việt Nam mang tính đặc thù xã hội chủ nghĩa, đại thể là như thế. Cho nên nhân quyền của người Việt Nam mình cũng khác với nhân quyền thế giới là nhân quyền phổ quát. Do đó việc đưa tin thế nào cũng phải theo đúng chỉ đạo của đảng và chính phủ, làm sao mà không ảnh hưởng đến sự lãnh đạo độc tôn của đảng và của chính phủ.

Cơ hội cho Việt Nam vi phạm quyền con người

Một phiên họp của Quốc hội Việt Nam trước đây, ảnh minh họa. AFP

Quốc hội Việt Nam đang nhóm họp với dự định thông qua một loạt các luật trong đó có luật về tôn giáo vốn là một trong những chủ đề liên quan đến nhân quyền. Các nhà lãnh đạo tôn giáo cùng các nhà hoạt động nhân quyền trong nước đã bày tỏ sự quan ngại rằng Luật Tôn Giáo, một khi được thông qua, sẽ là cơ hội cho Việt Nam vi phạm quyền con người nhiều hơn nữa.

Chính quyền thì lại cho rằng có những kẻ xấu, những thế lực thù địch đã nhân cơ hội này lôi kéo, tuyên truyền và kích động người dân chống phá nhà nước như nội dung phát biểu của thứ trưởng Bộ Thông Tin Truyền Thông Hoàng Vĩnh Bảo khi đưa ra cảnh báo là cần phải thận trọng khi viết về nhân quyền.

Phát biểu của thứ trưởng Bộ Thông Tin Truyền Thông như một lời đe dọa không hơn không kém, là ý kiến của cựu tù nhân lương tâm Nguyễn Bắc Truyển:

Lời đe dọa đó là chuyện hết sức bình thường ở Việt Nam. Đối với những ký giả mà tôi cho là thuộc nhà nước kiểm soát thì họ sẽ hết sức thận trong và chẳng bao giờ dám viết. Nhưng bên cạnh đó có những người viết báo mà không lệ thuộc vào chính quyền cộng sản Việt Nam thì họ chấp nhận trả giá khi nói lên sự thật.

Ở Việt Nam nhân quyền đang bị đe dọa, vì lên tiếng cho quyền tự do ngôn luận mà blogger Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh bị bắt. Rất nhiều người khác cũng rơi vào tình trạng bị khởi tố theo Điều 88 tuyên truyền chống phá nhà nước, bản thân tôi cũng đã bị tôi danh như vậy.

Vậy theo nhà nước thì những kẻ xấu nào, những thế lực thù địch nào đã lợi dụng vấn đề nhân quyền để xúi dục hành động chống phá. Ông Nguyễn Bắc Truyển trả lời:

Nhà nước, đảng cộng sản Việt Nam nhìn người dân với cặp mắt thù địch khi họ nói lên sự thật trong đời sống xã hội của họ.
-Nguyễn Bắc Truyển

Nhà nước, đảng cộng sản Việt Nam nhìn người dân với cặp mắt thù địch khi họ nói lên sự thật trong đời sống xã hội của họ. Tôi xin khẳng định không có ai lợi dụng tôi cả. Tôi làm vì lương tâm của tôi, vì trách nhiệm của một công dân.

Câu hỏi tương tự cũng được nêu ra với cựu tù nhân lương tâm Phạm Thanh Nghiên, thành viên Mạng Lưới Blogger Việt Nam:

Có lẽ tôi trả lời bằng hình thức hóm hỉnh một chút là tôi hoàn toàn bị lợi dụng, hoàn toàn bị kích động, hoàn toàn bị xúi dục bởi chính lương tâm và trách nhiệm của tôi chứ ngoài ra không có thế lực nào bên ngoài hết.

Đảng cộng sản Việt Nam vẫn coi nhân quyền là một điều cấm kỵ không chỉ riêng đối với các nhà báo lề đảng mà đối với mọi thành phần trong xã hội Việt Nam.

Phải chăng đó là lý do khiến Bộ Thông Tin Truyền Thông phải lên tiếng cảnh báo phóng viên cần thận trọng khi viết những tin những bài có liên quan đến nhân quyền?

Trong bối cảnh này tôi nghĩ chúng ta cần thừa nhận một điều là người dân càng ngày càng nhận thức được rõ hơn về giá trị con người mà cụ thể là vấn đề nhân quyền. Phát biểu này một lần nữa cho thấy trước sau như một nhà nước Việt Nam luôn nhất quán cho nhân quyền là điều tối kỵ, cấm kỵ, không được phép tồn tại.

Hiến định về quyền con người đang được hiểu khác nhau là tựa đề một bài do báo trong nước loan tải, đề cập đến báo cáo quốc hội về kết quả thực hiện nhiệm vụ triển khai thi hành Hiến Pháp giai đoạn 2014-2016, qua đó chính phủ nêu ra một số vướng mắc cần tháo gỡ mà thí dụ điển hình là qui định trong Khoản 2 Điều 14 về quyền con người.

Tin nói vì cách hiểu khác nhau nên khó đạt sự nhất trí cao trong quá trình xây dựng các văn bản qui phạm pháp luật về quyền con người, quyền công dân, vì thế ảnh hưởng đến tiến độ soạn thảo văn bản cũng như sự trình bày của chính phủ.

Ông Trần Ngọc Quang, trước kia là phóng viên báo đảng, nay là một nhà báo độc lập, góp ý:

Thực sự ngay nhà nước ngay quốc hội, kể cả những tổ chức lề phải cũng chưa đưa ra được cho xã hội Việt Nam một khái niệm thế nào là nhân quyền. Bản thân họ cũng còn chưa hiểu thì đừng có nói đến chuyện hướng dẫn dư luận. Anh là quan chức mà trước hết tư cách con người anh còn chưa rõ, quyền của anh anh còn không biết, làm sao mà anh có thể dẫn đắt dân chúng được.

Chính vì những lẽ đó, nhà báo độc lập Trần Ngọc Quang kết luận, lãnh đạo Việt Nam đã có những khái niệm rất mơ hồ, trong lúc báo mạng thì đầy đẫy những định nghĩa cũng như những tin bài xác thực về nhân quyền, về dân chủ, về tự do mà nhà nước không thể hay không có khả năng che lấp.

Nếu Đảng tự nhốt quyền lực trong “lồng pháp luật”

Nếu Đảng tự nhốt quyền lực trong “lồng pháp luật”

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2016-10-31

 

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, ảnh minh họa chụp hôm 5/10/2016 tại Hà Nội.

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, ảnh minh họa chụp hôm 5/10/2016 tại Hà Nội.

 AFP

Nếu Đảng tự nhốt quyền lực trong “lồng pháp luật”

 02:27/06:40

Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Tham nhũng ngày càng nghiêm trọng, đe dọa sự phát triển kinh tế và sự tồn vong của chế độ. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói với cử tri Hà Nội hôm 7/10/2016 là cần có cơ chế kiểm soát quyền lực và phải nhốt quyền lực trong “lồng luật pháp”.

Cần chống tham nhũng từ gốc

Trả lời phỏng vấn của Nam Nguyên thực hiện qua điện thoại vào tối 28/10/2016, TS Nguyễn Thanh Giang một nhà hoạt động ở Hà Nội mô tả điều ông gọi là “hai buồng trứng cơ bản” đẻ ra tham nhũng, thứ nhất đất đai là tài sản toàn dân, thứ hai kinh tế quốc doanh làm chủ đạo… Vẫn theo TS Nguyễn Thanh Giang, ở Việt Nam tài nguyên, đất đai về hình thức là của toàn dân, nhưng các thế lực, những người có quyền có chức đã lạm dụng quyền sử dụng…  tình trạng này sản sinh ra lợi ích nhóm và chiếm đoạt đất đai của nhân dân để làm giàu. Hiện nay giai cấp tư bản Đỏ kếch xù hơn tư bản ngày xưa đã từng bị Đảng Cộng sản Việt Nam tiêu diệt. TS Nguyễn Thanh Giang nhấn mạnh:

Tôi cho là chống tham nhũng bằng cách chống những người tham nhũng thì không đời nào chống được, mà phải chống cái nguyên nhân sản sinh ra những người tham nhũng.
-TS Nguyễn Thanh Giang

 

“Tôi cho là chống tham nhũng bằng cách chống những người tham nhũng thì không đời nào chống được, mà phải chống cái nguyên nhân sản sinh ra những người tham nhũng.”

Ở các nước dân chủ áp dụng chế độ tam quyền phân lập, Hành pháp – Lập pháp – Tư pháp có vị thế độc lập và giám sát lẫn nhau cho nên quyền lực được giám sát có hiệu quả. Trong khi đó ở Việt Nam, trước trào lưu mong muốn cải cách chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ngay từ năm 2012 đã tái khẳng định Việt Nam không theo thể chế tam quyền phân lập.

Điều 4 Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Tuy rằng, có thêm một ít dòng được cho là mới mẻ, đó là “Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.” Ông Nguyễn Phú Trọng cũng như các giới chức cao cấp của Đảng và Nhà nước luôn có chung một cách lập luận, quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Nhốt quyền lực sẽ trói tay Đảng

Được biết, ngày 7/10 khi tiếp xúc cử tri Hà Nội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói phải có cơ chế kiểm soát quyền lực và nhốt quyền lực vào lồng pháp luật. TS Nguyễn Thanh Giang từ Hà Nội nhận định:

“ Mãi cho tới gần đây ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng mới nói được một câu tương đối hay như vậy. Nhưng nếu nhốt quyền lực vào cái lồng luật pháp thì Đảng bị trói tay, không còn Đảng.  Ông ấy nói điều ấy phi thực tế, ở Việt Nam chính ông Nguyễn Phú Trọng luôn kêu gọi tất cả mọi thứ đều phải dồn cho Đảng, quân đội, công an tất cả phục vụ Đảng và chính ông ấy nói Hiến pháp chỉ là thể chế hóa Cương lĩnh Đảng, tức là ông ấy đặt Đảng trên cả dân tộc, trên cả pháp luật thì đời nào mà ông ấy chống được tham nhũng.”

Trong cùng một ý nghĩa về việc tại sao Đảng Cộng sản Việt Nam hơn 20 năm đề ra rất nhiều Nghị quyết để phòng chống tham nhũng, mà không đạt hiệu quả. Ông Nguyễn Trung Dân, cựu Phó Tổng Biên tập phụ trách báo Du Lịch, người từng bị cách chức năm 2009 sau khi duyệt đăng bài viết “Tản mạn đảo xa”, đề cao tinh thần yêu nước trước mối đe dọa từ phương Bắc, từ Saigon nhận định:

“Bao giờ mà pháp luật không được thượng tôn, luật pháp làm ra không bình đẳng vẫn có sự phân biệt giữa người này người khác, phân biệt nhân thân giữa người này người kia… tóm lại một câu, khi nào Đảng vẫn đứng trên pháp luật, Đảng chỉ huy pháp luật thì chắc chắn không thể có được sự gọi là minh bạch và rõ ràng để mà xử lý tham nhũng hết.”

Trên một phương diện khác, chế độ độc đảng ở Việt Nam được cho là một chính quyền mạnh và ổn định. Đây là những điều kiện tối cần thiết để giúp một quốc gia thành đạt về mặt kinh tế. Nhiều nhà nghiên cứu chính trị đã ghi nhận sự kiện Đài Loan, Nam Hàn từng có nhiều thập niên gần như độc đảng, chế độ chính trị khắc nghiệt nhưng các nước đó đã phát triển kinh tế vững mạnh và bước tiếp theo mới thực hiện cải cách chính trị dân chủ.

Nếu nhốt quyền lực vào cái lồng luật pháp thì Đảng bị trói tay, không còn Đảng.
-TS Nguyễn Thanh Giang

 

TS Nguyễn Thanh Giang nhận định về việc tại sao Việt Nam tiếng gọi là chính quyền mạnh và ổn định, nhưng lại ách tắc kinh tế tụt hậu so với láng giềng trong khu vực. Ông nói:

“ Sự ổn định ở Việt Nam là một thứ ổn định khiên cưỡng, ổn định áp chế bằng độc quyền, độc tài, độc đoán, áp chế bằng súng đạn và nhà tù, áp chế bằng sự đàn áp dã man dưới mọi hình thức của công an và chính quyền. Sự ổn định đó giống như nồi áp suất đang bị bít rất chặt bởi luật pháp chỉ phục vụ Đảng Cộng sản Việt Nam. Cho nên sự ổn định đến một lúc nào đó sẽ nổ bung ra. Thực tế đó được nhìn thấy như ở các nước xã hội chủ nghĩa, kể cả bậc thầy xã hội chủ nghĩa của Cộng sản Việt Nam là Cộng sản Liên Xô trước đây.”

Cuộc chiến đấu phòng chống tham nhũng không ngừng nghỉ ở Việt Nam được xem như  thất bại. Lên tiếng trong Hội nghị lấy ý kiến đánh giá 10 năm chống tham nhũng ở Việt Nam tổ chức hôm 27/10 ở Hà Nội, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình nhìn nhận tình trạng tham nhũng trên cả nước là thách thức nghiêm trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước và trên hết là đe dọa sự tồn vong của chế độ.

Theo TS Nguyễn Thanh Giang tham nhũng quyền lực là tình trạng phổ biến ở Việt Nam. Tham nhũng quyền lực lại có vai trò nguy hiểm nhất từ đó biến hóa muôn hình vạn trạng các loại tham nhũng khác. Nếu lời hứa hẹn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “nhốt quyền lực trong lồng pháp luật” không phải là một lời nói suông, hay theo cách mô tả của TS Nguyễn Thanh Giang là nói cho sướng miệng, thì đây có thể là một sự may mắn cho tiến trình cải cách ở Việt Nam.

Nỗ lực cả một đời, rốt cuộc là vì điều gì?

Nỗ lực cả một đời, rốt cuộc là vì điều gì?

no-luc-ca-mot-doi-rot-cuoc-la-vi-dieu-gi-1

 

 

Câu hỏi rất hay, nhưng thực sự để hiểu được nó lại không phải là chuyện dễ dàng. Rất nhiều người khi sa cơ lỡ vận, tới phút cuối đời mới chợt hiểu ra mình sống vì điều gì. Câu hỏi cho vấn đề này, có lẽ rất nhiều người trong chúng ta đang truy tìm đáp án.

  1. Vợ (chồng) có phải là của bạn không? Không phải!

Vợ chồng dù ăn cùng mâm, ở cùng nhà, tối ngủ chung giường, có thể đồng cam cộng khổ, vui buồn có nhau. Nhưng sau cùng cũng có lúc chia tay, có thể đồng sinh nhưng không thể đồng tử, trăm năm sống đến bạc đầu có nhau, tất cả cũng chỉ là mơ ước.

  1. Con cái có phải là của bạn không? Không phải!

Bố mẹ và con cái tuy là có quan hệ huyết thống, nhưng đó cũng chỉ là mối quan hệ mang tính “đoàn thể”. Hiếu đạo, hy vọng, chăm sóc lẫn nhau v.v… những điều ấy tạo nên một gia đình vui vẻ. Nhưng sau cùng, khi bạn bước sang thế giới bên kia, con cái cũng chỉ có thể tiễn bạn đi chứ không có khả năng đưa bạn trở lại.

  1. Tiền tài có phải là của bạn không? Không phải!

Bạn ra sức, nỗ lực kiếm tiền, sau rồi lại nghĩ cách tiêu đi. Cho dù tài khoản ngân hàng của bạn có bao nhiêu tiền, đó cũng chỉ là vật ngoài thân, sinh không đem đến tử không đem đi.

  1. Nhà cửa, xe cộ có phải là của bạn không? Không phải!

Tuy bạn không ngừng nỗ lực để có được những thứ đó, nhưng khi bạn ra đi… tất cả trở về con số không.

Vậy rốt cuộc điều gì mới là của bạn?

  1. Thân thể

Chỉ có thân thể mới trước sau không rời xa bạn, nó đồng hành cùng bạn từ lúc bắt đầu cho tới lúc bạn vĩnh biệt thế gian; chỉ có thân thể mới có thể bảo hộ cho bạn, làm tất cả vì bạn, mãi đến khi sức cùng lực tận.

Nếu thân thể của bạn càng khỏe mạnh, nó giúp bạn đi càng xa, khám phá càng nhiều chân trời mới.

Nếu như thân thể không còn, sinh mệnh của bạn cũng sẽ hết, vì vậy, bạn cần phải trân trọng nó. Đây là thứ duy nhất thuộc về bạn, là báu vật vô giá. Vậy hãy yêu thương nó, bảo vệ nó, thỏa mãn nhu cầu của nó bằng cách rèn luyện, nghỉ ngơi, dinh dưỡng, phòng bệnh, chữa bệnh, tâm lý… dù một chút cũng không được lơ là.

  1. Sức khỏe

Thân thể khỏe mạnh thì cuộc sống của bạn mới có chất lượng, sinh mệnh mới được kéo dài.

Không có một cơ thể khỏe mạnh, đồng nghĩa với không có gì cả.

Cho nên chúng ta sống được một ngày, cũng là một ngày phúc phận, cần phải trân quý chính mình.

  1. Tinh thần

Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh đổi sức khỏe để lấy vật ngoài thân.

Bi ai lớn nhất của đời người là dùng hạnh phúc để đổi lấy phiền não.

Lãng phí lớn nhất của đời người là dùng thời gian để giải quyết những phiền phức do chính mình tạo ra.

Và tất cả những điều này đều xuất phát từ ý nghĩ và tinh thần của bạn. Bởi vậy, trên thế gian không có gì quý hơn một sức khỏe dồi dào và một tinh thần mạnh mẽ. Bảo vệ chúng cũng chính là bảo vệ chính mình, hãy trân quý những gì bạn đang có.

Thời kỳ mới, con người có tiêu chuẩn mới.

  1. Người thông minh: Sống vui sống khỏe, sống trẻ sống cởi mở, sống yêu đời.
  2. Người ngốc nghếch: Sống gấp, sống giận, sống buồn tẻ, sống lo âu.
  3. Người lạc quan: Yêu thể dục, yêu thể thao, yêu vận động.
  4. Người vui vẻ: Hay cười, hay nói, hay hát ca.

Chúng ta không có thân thể, sức khỏe, tinh thần… mọi thứ sẽ là không.

theo Vietdaikynguyen

Anh chị Thụ & Mai gởi

“Năm năm vàng son 1955-60” của Việt Nam Cộng Hòa

“Năm năm vàng son 1955-60” của Việt Nam Cộng Hòa

Nguyễn Tiến Hưng Cựu Tổng trưởng VNCH, gửi cho BBC từ Virginia, Hoa Kỳ

  • 30 tháng 10 2016

BBC

Saigon

SAIGON

Từ cao nguyên Tây Tạng, con sông Cửu Long cuồn cuộn chảy như thác lũ xuống phía nam qua tỉnh Vân Nam, tới Lào, Thái Lan, Kampuchia, rồi Việt Nam trước khi ra Biển Đông.

May cho Miền Nam là có hồ lớn Tonle Sap ở Campuchia hút đi một phần lớn lượng nước từ thượng nguồn cho nên từ đây dòng sông lại uốn khúc hiền hòa chảy vào Miền Nam.

Tới gần biên giới thì con sông chia ra làm 8 nhánh. Nhưng con số 9 được coi là may mắn cho nên phải tìm ra cho được một nhánh nữa, tuy là rất nhỏ (dài khoảng 10 dậm) để cộng lại thành ra 9 nhánh, gọi là Cửu Long Giang.

Dòng sông Chín Con Rồng uốn mình tưới nước cho vùng đồng bằng Nam Bộ mầu mỡ, phì nhiêu trở thành vựa lúa của cả nước. Người nông dân nơi đây chỉ cần trồng mỗi năm một vụ là cũng đủ ăn, lại còn dư thừa để tiếp tế ra Miền Bắc và xuất cảng.

Khởi đầu gian khó

Nhưng trong mười năm chiến tranh loạn lạc, trên một phần ba đất trồng trọt đã bị bỏ hoang, nhường chỗ cho những bụi rậm và cỏ dại lan tràn.

Một phần lớn hệ thống kênh rạch cũng bị khô cạn hay sình lầy. Hệ thống bơm nước, thoát nước cũng bị hư hại. Bởi vậy, sản xuất thóc gạo của Miền Nam trong mười năm trước 1955 đã bị giảm đi đáng kể.

Ngoài ra, các phương tiện giao thông như đường bộ, đường sắt, cầu cống và các cơ sở công kỹ nghệ như đường trắng, rượu bia, sợi bông cũng đều bị hư hại.

Cho nên vào năm 1955, khi “Một Quốc Gia Vừa Ra Đời” như báo chí Mỹ tuyên dương thì quốc gia ấy đã phải đối diện với bao nhiêu khó khăn khôn lường.

Saigon

GETTY IMAGES

Ngân sách của Pháp để lại thì thật eo hẹp, kỹ sư, chuyên viên trong mọi lãnh vực đều hết sức hiếm hoi vì Pháp đã rút đi hầu hết, để lại một lỗ hổng lớn cho cả nểnkinh tế lẫn hành chánh, giáo dục, y tế.

May mắn là trong năm năm đầu, từ mùa Thu 1955 tới mùa Thu 1960, Miền Nam có được năm năm vàng son, vừa có hòa bình lại được đồng minh Hoa kỳ hết lòng yểm trợ vật chất và kỹ thuật cho nên đã thu lượm được nhiều kết quả có thể nói là vượt bực.

Hồi tưởng lại thời gian ấy, nhiều độc giả chắc còn nhớ lại cái cảnh thanh bình khi các em học sinh mặc áo chemise trắng, quần xanh, các nữ sinh với những chiếc áo dài trắng tha thướt ngày ngày cắp sách đến trường.

Cha mẹ, anh em thì lo công việc làm ăn. Giầu có thì chưa thấy nhưng hầu hết đã đủ ăn đủ mặc, xã hội trật tự, kỷ cương. Tuy dù có nhiều bất mãn khó tránh về chính trị, tôn giáo và xã hội, nhưng tương đối thì ta phải công nhận rằng đây là thời gian hào quang nhất của Cộng Hòa Việt Nam.

Định cư gần một triệu người di cư từ Miền Bắc

Công việc đầu tiên và khẩn cấp nhất là phải định cư tới gần một triệu người, tương đương bằng 7% dân số Miền Bắc di cư vào Nam.

Đoàn người này hoàn toàn ‘tay trắng’ – chúng tôi gọi là đoàn người ‘bốn không’: không nhà cửa, đất đai, tiền bạc, ngành nghề chuyên môn ngoài nghề nông.

Làm sao tìm được nơi ăn, chỗ ở, tạo dựng lại được công ăn việc làm, đào giếng nước, xây nhà thương, bệnh xá, trường học cho con em để đáp ứng nhu cầu? Ngoài việc hành chính, lại còn tìm đâu ra bác sĩ, y tá, thầy dạy cho con em?

Saigon

GETTY IMAGES

Sau này khi nói về thành công của Tổng thống Diệm về việc này, TT Kennedy viết cho ông nhân ngày Quốc Khánh 26/10/1961:

“Thưa Tổng thống,

Thành tích mà Ngài đã đạt được để đem lại niềm hy vọng mới, nơi cư trú và sự an ninh cho gần một triệu người lánh nạn cộng sản từ Miền Bắc đã nổi bật như một trong những nỗ lực đáng được tán dương nhất, và được điều hành tốt đẹp nhất trong thời hiện đại.”

Tái thiết và phát triển nông nghiệp

Ưu tiên của công việc tái thiết và phát triển phải là nông nghiệp vì đại đa số nhân dân làm nghề nông. Đồng bằng Cửu Long là vựa lúa của cả nước, nhưng sản xuất đã giảm đi đáng kể trong mười năm ly loạn.

Thời tiền chiến sản xuất lên tới 4,2 triệu tấn (1939). Tới 1954 chỉ còn 2,5 triệu tấn. Cũng năm 1939 xuất cảng gạo là gần 2 triệu tấn, năm 1954 chỉ còn 520.000 tấn.

Tại vùng đồng bằng, trong tổng số là 7 triệu hecta đất trồng trọt có tới 2,5 triệu hecta (trên một phần ba) bị bỏ hoang. Lúa gạo là mạch máu của người dân cho nên công việc đầu tiên là phải đưa diện tích này vào canh tác.

Đây là một cố gắng vượt mức vì không những nó đòi hỏi phải tốn phí nhiều tiền bạc, công sức, để sửa chữa lại hệ thống thủy lợi, vét nạo kênh rạch, lại còn làm sao xây dựng được quyền sở hữu đất đai và phương tiện sản xuất cho người nông dân.

Saigon

GETTY IMAGES

Cải cách điền địa: Khó khăn và giải pháp thành công

Người khôn của khó. Lo lắng chính của người dân là làm sao có được một mảnh đất để sinh sống. Nếu như mảnh đất ấy lại nằm gần sông nước thì là vàng.

‘Đất Nước tôi’: đất và nước. Chỉ có Việt Nam ta là dùng hai chữ đất và nước để chỉ quê hương, tổ quốc mình vì tấc đất là tấc vàng.

Các biện pháp cải cách ruộng đất bắt đầu vào năm 1955 với lệnh giới hạn địa tô (tiền thuê đất) và những biện pháp giúp cho tá điền (người nông dân thuê đất) có được sự yên tâm về quyền sử dụng đất.

Cải cách điền địa là công việc rất khó khăn của các chính phủ Á Châu, nhưng ở Miền Nam là khó khăn nhất.

Làm sao mà lấy ruộng của người này chuyển cho người khác, nhất là khi đất canh tác lại tập trung vào một số rất nhỏ đại điền chủ? Họ là những người nắm thực quyền tại địa phương và gián tiếp, tại đô thị. Ở đồng bằng sông Cửu Long, sự tập trung quyền sở hữu đất vào một số điền chủ là cao nhất ở vùng Đông Nam Á: chỉ có 2,5% điền chủ mà đã sở hữu tới một nửa diện tích canh tác, trung bình mỗi điền chủ có hơn 50 mẫu đất.

Trước tình huống ấy, TT Diệm đã phải đối mặt với một khủng hoảng xã hội rất có thể xẩy ra nếu như phát động mạnh chương trình cải cách điền địa. Nhưng TT Diệm vẫn đặt vấn đề này là ưu tiên số một của chính sách kinh tế, bắt đầu ngay từ 1955 bằng việc cải tổ quy chế tá điền.

Để hỗ trợ cho nông dân được yên tâm khi đi làm thuê, điền chủ phải ký hợp đồng với tá điền về điều kiện thuê đất: tiền thuê đất, thời hạn thuê, triển hạn khế ước, giảm tô trong trường hợp mất mùa.

Kết quả về nông nghiệp trong 5 năm rất khả quan: sản xuất cây lương thực tăng 32%, vượt qua tất cả mức sản xuất thời tiền chiến. Năm 1959, sản xuất gạo lên 5,3 triệu tấn, cao nhất trong lịch sử kinh tế Miền Nam cho tới thời điểm đó. Về xuất cảng: với tổng số là 340.000 tấn, năm 1960 cũng đánh dấu mức xuất cảng cao nhất.

Phát triển công kỹ nghệ và quy chế ‘Quốc tịch Việt’

Dưới thời Pháp thuộc, kỹ nghệ và tài nguyên hầu như không được phát triển vì người Pháp chia ra hai vùng rõ rệt: Miền Bắc tập trung vào kỹ nghệ và khai thác hầm mỏ, Miền Nam thì căn bản là tập trung vào nông nghiệp, chỉ có một số sản phẩm tiêu thụ như nhà máy bia, diêm quẹt, thuốc lá, độc quyền thuốc phiện.

Bởi vậy từ 1955, Miền Nam bị cắt đứt tiếp liệu về than và khoáng sản. Chuyên viên kỹ thuật, kỹ sư lại thật ít ỏi vì Pháp đã rút đi hầu hết.

Từng bước, chính phủ bắt đầu khai thác tài nguyên với ba dự án chính: mỏ than Nông Sơn, thủy điện Đa Nhim, và phốt phát tại Hoàng Sa – Trường Sa. Lúc ấy thì chưa biết là có dự trữ dầu lửa lớn ở những quần đảo này.

Lý do sâu xa [của quy định Quốc tịch Việt] là vì khi ấy cơ sở kỹ nghệ ở Miền Nam căn bản là thuộc quyền sở hữu của người Pháp; TT Diệm quyết tâm đẩy Pháp ra khỏi Miền Nam, và ông tiên liệu trước, mở đường để người Tầu nhập quốc tịch Việt Nam, với mục đích là để họ sẽ có thể mua lại những cơ sở kỹ nghệ của người Pháp

Một chuyện ít người biết là việc đổi quốc tịch.

Nhiều người lên án hành động của TT Diệm là độc tài khi ông đưa ra quy định vào hè 1955 căn bản là nhắm vào các thương gia người Tầu (đa số sinh sống ở Chợ Lớn): nếu muốn làm ăn ở Việt Nam thì phải đổi ra quốc tịch Việt Nam.

Chúng tôi nghiên cứu thì mới hiểu lý do sâu xa là vì thời gian ấy, cơ sở kỹ nghệ ở Miền Nam căn bản là thuộc quyền sở hữu của người Pháp, cho nên khi TT Diệm quyết tâm đẩy Pháp ra khỏi Miền Nam thì ông tiên liệu trước và mở đường để người Tầu nhập quốc tịch Việt Nam với mục đích là để cho họ (vì có nhiều vốn liếng) sẽ có thể mua lại những cơ sở kỹ nghệ của người Pháp.

Một kích thích nổi bật khác về kinh tế là chính sách cởi mở, ưu đãi đối với các nhà đầu tư ngoại quốc: bảo đảm về chiến tranh, cam kết không tịch thu hay quốc hữu hóa tài sản của người ngoại quốc, ưu đãi về thuế má và cho phép chuyển tiền lời ra ngoại quốc.

Hạ tầng cơ sở

Tái thiết mạng lưới giao thông đã bị hư hại trong thời chiến và xây dựng thêm nữa là đòi hỏi tiên quyết cho việc phát triển kinh tế và xã hội.

Tới năm 1960, hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy và các tuyến hàng không đã được cải thiện canh tân và mở rộng đáng kể. Hệ thống vận chuyển hiện đại bao gồm đường sắt, một mạng lưới các đường quốc lộ, liên tỉnh lộ, hương lộ, đường thủy và đường hàng không.

Đường bộ: trong khoảng 9.000 dặm đường, có hơn 2.000 dặm là bê tông nhựa; 3.000 dặm đường có cán đá, và khoảng 4.000 dặm là đường hương lộ.

Đường sắt: năm 1955 giao thông đường sắt cũng được sửa chữa và canh tân. Tới 1959 toàn hệ thống bao gồm 870 dặm, gồm một tuyến đường chính chạy từ Sàigòn đến Đông Hà, nối kết toàn bộ các tỉnh dọc miền duyên hải (nhiều khúc bị cắt đứt trong 12 năm chiến tranh).

Một chi nhánh đường sắt (có móc để leo đồi) đi từ Phan Rang lên Đà Lạt, và một chặng nối với mỏ than Nông Sơn. Một khúc ngắn về phía đông bắc, đi từ Sàigòn tới Lộc Ninh.

Hàng không: hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam – Air Vietnam – được thành lập lúc đầu để bay trong nước. Ngoài phi trường Tân Sơn Nhất, các phi trường được sửa chữa lại và xây dựng thêm gồm Huế, Đà Nẵng, Nha trang, Qui Nhơn, Biên Hòa, Đà Lạt, Ban mê Thuột, Pleiku, Hải Ninh, Cần Thơ, Phú quốc.

Từ nội địa, Air Vietnam bắt đầu bay tới Phnom Penh, Siem Reap, Bangkok, Vientianne và Savannakhet. Đường quốc tế phần lớn được đảm nhiệm bởi các hãng Air France, Pan American, World Airways, British Airways, Royal Dutch, Cathay Pacific và Thai Airways.

Ngân hàng và tiền tệ

Thiết lập được một ngân hàng trung ương và một hệ thống ngân hàng thương mại để thay thế cho Banque de L’Indochine và các ngân hàng thương mại Pháp ở Sài Gòn là một thành quả lớn của thời đệ Nhất Cộng Hòa.

Ngay từ tháng 1/1955, Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam được thành lập để phát hành đồng tiền Việt Nam và thực hiện các nghiệp vụ của một ngân hàng trung ương tân tiến.

Giáo dục và đào tạo

Saigon

GETTY IMAGES

Xét đến cùng, con người vẫn là yếu tố quan trọng nhất trong việc phát triển kinh tế lâu dài. Trong thời kỳ 1955-1960, Miền Nam đã phát triển giáo dục rất nhanh.

Tiểu học: 1960, đã có tới 4.266 trường tiểu học công và 325 trường tiểu học tư thục. Tổng số học trò lên tới gần 1.200.000.

Trung học: các trường trung học công lập tăng từ 29 lên 101 trường. Nguyên trường Gia Long: số học sinh đã tăng từ 1.200 lên tới 5.000.

Đại học: trước năm 1954, Miền Nam không có đại học. Muốn học cử nhân phải ra Hà Nội. Năm 1955, chính thức thành lập đại học Sài Gòn, rồi tới Đại học Huế, Đà Lạt. Tới năm 1962 tổng số sinh viên lên tới 12.000.

Xem như vậy, thành quả của “Năm Năm Vàng Son 1955-1960” là thời gian quý hóa nhất của lịch sử Cộng Hòa Việt Nam.

Ngày Quốc Khánh 26/10/1960 Tổng thống Eisenhower viết cho TT Diệm:

“Kính thưa Tổng Thống,

Trong năm năm ngắn ngủi kể từ khi thành lập nước Cộng hòa, nhân dân Miền Nam đã phát triển đất nước của mình trong hầu hết các lĩnh vực. Tôi đặc biệt ấn tượng bởi một thí dụ. Tôi được thông báo rằng năm ngoái hơn 1.200.000 trẻ em Việt Nam đã có thể đi học trường tiểu học, như vậy là nhiều hơn gấp ba lần so với năm năm trước đó. Điều này chắc chắn là một yếu tố hết sức thuận lợi cho tương lai của Việt Nam. Đồng thời khả năng của Việt Nam để tự bảo vệ chống lại cộng sản đã lớn mạnh một cách không thể đo lường được kể từ khi họ tranh đấu hữu hiệu để trở thành một nước Cộng Hòa độc lập.”

Hòa bình là một điều kiện tiên quyết cho xây dựng và phát triển.

Nhân dân Miền Nam đã có được năm năm vàng son để làm ăn, sinh sống trong hoàn cảnh tương đối là thanh bình. Tuy còn nghèo nhưng mỗi ngày lại thêm một bước tiến.

Saigon

FORUM TRUNG TAM ASIA

Bao nhiêu độc giả cao niên còn nhớ lại những kỷ niệm êm đềm về thời gian ấy. Thí dụ bạn có thể đi bất cứ nơi nào một cách tự do từ Cà Mau ra tới tận Đông Hà. Mờ sáng lên xe buýt ra Vũng Tầu tắm biển hay buổi chiều đến ga xe lửa gần chợ Bến Thành mua vé đi Đà Lạt.

Chỉ trong chốc lát, con tầu bắt đầu phun khói, còi tầu rít lên trước khi khởi hành. Khi mặt trời hé rạng thì tầu chạy ngang bờ biển cát trắng Phan Rang, rẽ trái rồi ỳ ạch leo tuyến đường sắt có móc để trèo dốc lên Đà Lạt. Cái thú vui khi rời ga Đà Lạt (đẹp nhất Đông Nam Á) để mau tới “Café Tùng” hay “Phở Bằng” thưởng thức một ly cà phê sữa nóng thì khó có thể diễn tả được.

Với sự thông minh, cần cù của người dân Việt thì chỉ cần có hòa bình là tiến bộ trông thấy. Người dân lam lũ vất vả nhưng luôn vui với cuộc sống. Người nông phu không quản ngại thức khuya, dậy sớm để cầy sâu cuốc bẫm, chờ đợi cho tới ngày lúa vàng.

Tâm tư ấy luôn được phản ảnh trong thơ văn, âm nhạc Miền Nam trong thời gian này. Và khi thanh bình, con người lại đối xử với nhau cho hài hòa thì mọi việc – dù là tát cạn cả Biển Đông – cũng đều có thể ước mơ.

Tuy các kết quả phát triển kinh tế xã hội thời đó thật là nhỏ nhoi theo tiêu chuẩn ngày nay, nhưng là rất đáng kể so với các nước láng giềng lúc ấy như ngay cả Nam Hàn dưới thời Tổng thống Lý Thừa Vãn.

Miền Nam thực sự đã đặt được những viên gạch đầu tiên trong các năm 1955-1960 cho mô hình phát triển sau này của Nam Hàn dưới thời Tổng thống Phác Chính Hy. Xây dựng và phát triển trong hòa bình đã đưa Miền Nam tới chỗ vươn lên – kinh tế học gọi là điểm cất cánh (take-offĐ để trở thành một cường quốc tại Đông Nam Á.

Buổi bình minh của Nền Cộng Hòa (“The First Day”) thật là huy hoàng rực rỡ. Nhiều quan sát viên ngoại quốc cho rằng đây chính là “một cuộc cách mạng đã bị mất đi” (the lost revolution) của Miền Nam Việt Nam.

Bài viết của Giáo sư Tiến sỹ Nguyễn Tiến Hưng, trích dẫn từ cuốn sách ‘Khi Đồng Minh Nhảy Vào’ mới xuất bản tại Hoa Kỳ. Sinh năm 1935 ở Thanh Hóa, tác giả từng giữ chức Tổng trưởng Kế hoạch của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa kiêm cố vấn của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trước 1975 ở Sài Gòn. Hiện ông định cư tại Hoa Kỳ. Ông là tác giả cuốnKhi Đồng minh Tháo chạy vàlà đồng tác giả cuốn The Palace Files- Hồ sơ Dinh Độc Lập, viết cùng Jerrold L. Schecter bằng tiếng Anh.