“Đẹp lắm! Trên đời những vấn vương,”

Suy Tư Tin Mừng Trong tuần thứ 5 mùa Chay năm A 02/4/2017

 Tin Mừng: (Ga 11: 3-7,17.20-27.33b-45)

Hồi đó, hai cô cho người đến nói với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng.” Nghe vậy, Đức Giêsu bảo: “Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa: qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh.”

Đức Giêsu quý mến cô Mácta, cùng hai người em là cô Maria và anh Ladarô.

Tuy nhiên, sau khi được tin anh La-da-rô lâm bệnh, Người còn lưu lại thêm hai ngày tại nơi đang ở. Rồi sau đó, Người nói với các môn đệ: “Nào chúng ta cùng trở lại miền Giuđê! “

Khi đến nơi, Đức Giêsu thấy anh Ladarô đã chôn trong mồ được bốn ngày rồi.

Vừa được tin Đức Giêsu đến, cô Mácta liền ra đón Người. Còn cô Maria thì ngồi ở nhà. Cô Mácta nói với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết. Nhưng bây giờ con biết: Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy.” Đức Giêsu nói: “Em chị sẽ sống lại!” Cô Mácta thưa: “Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết.” Đức Giêsu liền phán: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không?” Cô Mácta đáp: “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian.”

Đức Giêsu thổn thức trong lòng và xao xuyến. Người hỏi:”Các người để xác anh ấy ở đâu?” Họ trả lời: “Thưa Thầy, mời Thầy đến mà xem.” Đức Giêsu liền khóc.36 Người Do-thái mới nói: “Kìa xem! Ông ta thương anh Ladarô biết mấy!” Có vài người trong nhóm họ nói: “Ông ta đã mở mắt cho người mù, lại không thể làm cho anh ấy khỏi chết ư?” Đức Giêsu lại thổn thức trong lòng. Người đi tới mộ. Ngôi mộ đó là một cái hang có phiến đá đậy lại. Đức Giêsu nói: “Đem phiến đá này đi.” Cô Mácta là chị người chết liền nói: “Thưa Thầy, nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày.” Đức Giêsu bảo: “Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?” Rồi người ta đem phiến đá đi. Đức Giê-su ngước mắt lên và nói: “Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con. Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con.” Nói xong, Người kêu lớn tiếng: “Anh Ladarô, hãy ra khỏi mồ!” Người chết liền ra, chân tay còn quấn vải, và mặt còn phủ khăn. Đức Giêsu bảo: “Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi.”

Trong số những người Do-thái đến thăm cô Maria và được chứng kiến việc Đức Giêsu làm, có nhiều kẻ đã tin vào Người.

&    &   &

Đẹp lắm! Trên đời những vấn vương,

Chao ôi! Thiên lí một con đường.”

(dẫn từ thơ Lưu Trọng Lư)

Mai Tá lược dịch.

Bởi vấn vương, nên đời người vẫn là con đường của thiên lý. Của, những vấn vương, thương tình bầu bạn rải khắp nhân gian, như trình thuật nay còn nói.

Trình thuật, nay thánh Gioan lại nói đến tình bạn, Chúa vấn vương nhiều tình thương. Lòng Chúa xót thương, vấn vương tình người bạn vừa mới còn đó nay khuất bóng đi vào chốn ngủ vùi, khiến Ngài phải ra tay chữa chạy. Nhưng thiên lý đời người vẫn phải đương đầu với nỗi chết, theo cung cách khác biệt. Khác biệt ở chỗ: người có kinh nghiệm về chết chóc lại đã đặt cuộc đời mình vào niềm tin vô bờ bến. Nhờ có tin, con người mới thấy được chân lý của sự sống đang đi dần vào chốn ngủ vùi rất miên viễn. Nhờ niềm tin, người người mới hiểu được nhiệm tích vượt qua là để sống lại. Sống, bằng một hành trình băng qua thế giới khác. Hành trình đó, là cởi bỏ những lớp vỏ bọc bên ngoài để rồi người người dám đón nhận nỗi chết đang trờ tới.

Không kể về yếu tố siêu nhiên, đạo giáo, người người sẽ nhận ra nỗi chết chính là con đường thiên lý rất tự nhiên buộc Lazarô khi xưa và nay là mọi người phải đi qua. Tựa như hạt cải có rơi xuống đất và chết mục, nó mới đạt được hành trình tiến triển để vươn thành cây cải cao lớn. Cứ sự thường, con người vẫn có khuynh hướng chối bỏ khiá cạnh bình thường/tự nhiên con đường thiên lý vốn dẫn tới nỗi chết dần mòn, ở con người.

Thiên Chúa ban cho mỗi người quà tặng quý giá là chính sự sống, để ta tôn trọng. Khi tặng ban, Ngài cũng kèm theo đó một hệ thống biến cải để hoàn thiện sự sống của mỗi người bằng việc chết dần mòn như một tiến trình tăng trưởng cần có, ở mọi loài. Quà Chúa ban, Ngài không chỉ ban tặng cho cá nhân riêng một ai để rồi mỗi người cứ khư khư giữ nó suốt đời mình. Quà Ngài ban, là ban tặng cả và trời đất vũ trụ, theo qui cách rất tự nhiên, thực tiễn. Quà Ngài ban, đã hiện tỏ cả vào lúc trước khi ta lọt lòng mẹ. Và, nơi quà tặng bình thường/tự nhiên ấy, luôn có qui luật của sự chết dần mòn ngõ hầu sẽ còn diễn tiến suốt đường thiên lý, của cuộc đời.

Là hữu thể sống, con người không mặc lấy cho mình qui trình khép kín, tự thấy mình đầy đủ, nhưng vẫn là qui trình mở để sống với hệ thống mở rộng khác còn lớn nhiều, là thiên nhiên. Chính vì thế mỗi cá nhân riêng lẻ tự thấy không thể tập trung mọi sự, kể cả sự sống, cho riêng mình. Tức, có sống là phải có chết. Ít ra, là chết dần mòn. Bởi, mỗi cá nhân là thành phần của cộng đồng vũ trụ, trong đó sự chết là chuyện bình thường, rất tự nhiên. Cá nhân con người không thể chối từ tính bình thường/tự nhiên của sự chết. Chí ít, là chết dần mòn.

Ở tuần thánh, tín hữu Đức Kitô thường suy tư cùng một kiểu như thế khi nghĩ về cái chết của Đức Giêsu. Đó là thói quen cho rằng: chắc vì sự cố nào đó xảy đến khiến Chúa mới bị bắt và bị bách hại cho đến chết, đến dần mòn. Có người còn nghĩ: Chúa chết là do bọn xấu tra tay làm chuyện tày trời để Ngài phải tức tưởi đi vào chốn ngủ vùi. Và, họ coi cái chết của Chúa là do lỗi tội của con người mà ra. Thực tình, ít ai hiểu được tính bình thường/tự nhiên của con đường “thiên lý” những chết dần Chúa chấp nhận. Ngài chấp nhận, để thực hiện ý Cha khi Cha muốn tạo dựng sự sống cho muôn loài.

Chúa chấp nhận liệt mình vào với những người bé nhỏ, rất dễ chết. Thực sự, Chúa chấp nhận đường thiên-lý-những-chết-dần chẳng vì bọn xấu dám ra tay trừ khử Ngài, cho bằng Ngài không muốn thay mặt loài người sửa đổi luật bình thường/tự nhiên mà Cha Ngài tạo ra. Ngài chết dần, là vì yêu thương con người. Ngài muốn trở thành giống hệt người phàm. Nhất quyết không rút lui khi thấy có khó khăn, bực bõ, chết chóc. Và, bằng vào việc chấp nhận đường-thiên-lý-rất-chết-dần như con người, Ngài mới tỏ cho mọi người thấy Ngài yêu thương họ biết chừng nào.

Ốm đau tật bệnh, cũng như thế. Bệnh là khủng hoảng cá nhân. Tật, là ngõ bí khó tránh thoát. Khi mắc phải tật/bệnh, ta không còn thấy mình là mình nữa, nhưng đã mất đi cái ‘mình’ ấy và cứ hy vọng sẽ đạt trở lại tính chất ‘riêng tây’ của cái “mình” ấy. Có thể đạt được hoặc không thì vẫn là chuyện bình thường, tự nhiên.

Người mắc phải tật/bệnh sẽ cảm thấy may mắn nếu có ai ở cạnh, không nói ra, những vẫn gửi cho mình thông điệp nào đó để nói rằng: sự việc xảy ra như thế là chuyện bình thường, dễ hiểu. Kinh nghiệm thương đau là cái gì có thật, ai cũng biết. Chẳng riêng gì chỉ mình thôi. Đến khi bạn bè hỏi han/thăm viếng mới vỡ lẽ ra rằng thông điệp của đường thiên-lý-rất-chết-dần được đón nhận rất thông suốt. Cũng chẳng có gì phải sợ. Chẳng sợ đau đớn, cô đơn cho đến chết.

Điều người bệnh cần, không phải ai cũng có thể tâm tình, dù riêng tư. Cũng chẳng do người chạy chữa đưa ra lý lẽ để “giải thích” về căn bệnh. Nhưng, chỉ cần người khẳng định: đó là tiến trình rất bình thường/tự nhiên của trời đất. Đã là người, ai ai cũng đều phải ngang qua con đường thiên-lý-chết-dần ấy.

Nhà thương, thường là nơi người người tìm đến giải pháp kỹ thuật y-tế cho mọi trường hợp tật bệnh. Nơi đó còn là cơ ngơi để giúp những người đang còn yếu hiểu được qui luật như thế. Nhuốm bệnh, là tình trạng không thể sống sót mà không có người giúp đỡ. Là, chết dần chết mòn suốt đoạn đường thiên lý, rất trớ trêu. Nhà thương, còn là nơi có người thương yêu chăm nom săn sóc cho người đau yếu thấy dễ chịu. Chăm nom săn sóc từ cái ăn thức uống, rất vệ sinh. Là nơi, để người đau yếu kềm chế cơn đau. Nơi, để người còn khoẻ chăm sóc liên tục, rất đặc biệt. Nơi, bảo đảm kỹ thuật nay an toàn.

Với tật bệnh, tuy vẫn cần giải pháp kỹ thuật để chữa chạy. Nhưng với con đường thiên-lý-rất-chết-dần, thì vô phương. Và, khi ấy quyết định có nên đưa người đau yếu vào nhà (để) thương hoặc viện (để) dưỡng lão hay không, lại là quyết định của người khoẻ, chứ không phải người đau yếu, tật bệnh. Người đau và yếu khi ấy đã mất đi khả năng kiểm-soát các quyết-định như thế. Và, bên dưới sự việc, thì chính thiên nhiên là kẻ trợ đắc tiến trình bình thường/tự nhiên, “thiên lý” ấy.

Người đau yếu đang rơi vào tiến trình rất “thiên-lý-chết-dần” tại nhà, hoặc ở nhà thương, là người đang thực hiện một sự việc bình thường/tự nhiên rất chết dần. Họ muốn được đối xử như sự việc bình thường. Và, họ vẫn muốn làm thành phần trái đất và không muốn để mất tiêu chuẩn hoặc bị đào thải khỏi chốn miền đầy yêu thương ấy. Họ không chối bỏ sự thật. Cũng chẳng muốn bạn bè quên đi sự việc là họ đang trên đường thiên-lý-rất-chết-dần. Và không muốn ai làm ầm ỹ. Nói tóm, họ là người bình thường muốn được bình tĩnh khi cái chết chợt đến, như chuyện bình thường/tự nhiên, trong đời.

Ta đang đi vào tuần thánh là tuần để suy tư về sự chết dần của Đức Chúa-làm-người. Phúc Âm trình bày việc Chúa đi vào cái chết là về lại cùng Cha. Ngài về lại, sau khi hoàn tất sứ vụ của Ngài ở nơi này. Nơi, con đường thiên-lý-có sự chết, trên trái đất. Và, ý tưởng của thánh Gioan hôm nay nói về tính bình thường/tự nhiên của sự chết Chúa chấp nhận. Điều đó áp dụng cho ta, cho người thân của ta nữa.

Tác giả Sarah Coakley có lần từng viết: “Đã có e ngại thời hiện đại lôi cuốn nhiều người hiểu rằng: chết dần mòn, sự tắt lịm của ‘lịch trình tiến hoá’ chính là điều tệ hại nhất xảy đến với mọi người, và mọi sự. Nếu là tôi, tôi sẽ biện luận rằng… cơn hấp hối sâu xa nhất của Đức Chúa là sự mất mát phí phạm thấy rõ trong tạo dựng của Thiên Chúa sẽ được đo lường bằng lời loan báo của Chúa Thánh Linh về một hy vọng sống lại.” (x. Harvard Divinity Bulletin, 2002)

Xem như thế, có chết “bất đắc kỳ tử” hoặc chết dần mòn, thì sự chết vẫn là để loan báo sự sống lại rất tự nhiên như qui luật bình thường của sự sống.

Với tư thế hướng về sự sống lại ngay khi chết, ta cũng nên về với lời thơ trên mà ngẫm nghĩ:

“Đẹp lắm! Trên đời những vấn vương,

Chao ơi! Thiên lí một con đường

Đi trong trời đất từ duyên ấy

Sớm tối không rời một chữ thương.”

(Lưu Trọng Lư – Đi Giữa Vườn Nhân)

Cũng một chữ “thương” ấy, giải quyết hết mọi chuyện rất bình thường. Chuyện sống, chuyện chết và sống lại của Đức Chúa và con người trong trời đất thân thương. Bình thường. Tự nhiên.

Lm Kevin O’Shea CSsR biên-soạn –

Mai Tá lược dịch.

Giòng đời trôi, bao tháng năm qua rồi,

httpv://www.youtube.com/watch?v=Qmcki0l6zSQ

Mong Chờ Giêsu

Chuyện Phiệ’m Đọc Trong Tuần thứ 5 mùa chay năm A 02/4/2017

“Giòng đời trôi, bao tháng năm qua rồi,”

Chuyện buồn chuyện vui, cho tôi mãi mong chờ.

Lòng chờ mong không biết đến bao giờ được gặp Giêsu.

Maranatha! Maranatha!

Lòng chờ mong không biết đến bao giờ

được gặp Giêsu.”

(Nhạc: Maranatha – Lời: Lm Vũ Khởi Phụng DCCT – Mong Chờ Giêsu)

 (Amos 4: 12 / Mt 8: 34)

 Trần Ngọc Mười Hai

Trên đây, là lời ca vãn có những yêu cầu kéo dài mãi đến vô cùng vô tận. Yêu cầu, là nỗi niềm mong mỏi “được gặp Giêsu”, đồng thời được gần cận mãi với tạo cho bạn bè/người thân, trong cuộc đời. Đó là trải-nghiệm có được khi nghe người anh em đồng môn đọc lời bạt do chính anh viết ở dĩa nhựa Chuyện Phiếm Đạo Đời số 8, trên “Sound Cloud”..

Và dưới đây, lại thêm một cảm-nhận chân-tình của người anh em khác cùng Dòng gửi đến bạn bè đồng song sau chuyến ra đi của thân mẫu, vừa xảy đến:

Quí anh chị rất mến thương,

Không có ngôn-từ nào có thể diễn tả đươc tấm lòng của gia đình trước nghĩa-cử thật yêu thương mà quí anh chị đã dành cho gia đình trong dịp tang lễ của mẹ vừa qua. Xin anh chị em nhận nơi đây lòng biết ơn thật sâu xa của bần đệ và gia quyến.

Lời cầu nguyện của anh chị em trong các Thánh lễ, nhất là những tâm tình chia sẻ trong giờ cầu nguyện tại nhà quàn đã nhắc cho bần đệ, các em và các cháu trong tang quyến được phép ngẩng đầu lên mà hãnh diện về mẹ. Và đây cũng là nguồn động-lực giúp gia đình từ từ vượt qua nỗi đau thương để đón nhận.

Xin anh chị em đã thương thì thương cho trót bằng cách là tiếp tục cầu nguyện với, cùng và cho linh hồn Anna.

Thân ái trong Chúa Cứu Thế.

(trích điện thư của Lm Mai Văn Thịnh, CSsR gửi anh em trong gia đình An-Phong qua anh Mai Tá lá thư đề ngày 04/3/2017)

“Vượt qua nỗi đau thương để đón-nhận..”, chính đó là ý-nghĩa và mục tiêu mà mọi người trong Đạo đều nhắm đến. Lời ca cảm-nhận hay câu vãn có yêu cầu, vẫn là những lời tụng ca đầy ý-nghĩa như còn thấy ở nhiều chỗ khác, có bài hát rất như sau:

“Giòng đời trôi theo nắng sớm mưa chiều.

Tìm gần tìm xa, nghe như vẫn tiêu điều.

Rồi ngày nao tôi sẽ yêu thương nhiều vì gặp Giêsu.

Maranatha! Maranatha!

Rồi ngày nao tôi sẽ yêu thương nhiều vì gặp Giêsu.

Cuộc trần ai đưa nát tan cho đời.

Người người biệt ly, bao sông núi chia lìa.

Rồi ngày nao từ bốn phương quay về gặp được Giêsu.

Maranatha! Maranatha!

Rồi ngày nao từ bốn phương quay về gặp được Giêsu.

Người ở đâu mang mác bốn phương trời.

ngàn trời mây, muôn hoa lá mong người.

Và hằng đêm tôi vẫn khêu ngọn đèn đợi chờ Giêsu.

Maranatha! Maranatha!

Và hằng đêm tôi vẫn khêu ngọn đèn đợi chờ Giêsu.”

(Nhạc: Maranatha – Lời: MONG CHỜ GIÊSU bđd)

“Rồi ngày nao tôi sẽ yêu thương nhiều vì gặp Giêsu”, đó còn là mục-tiêu mà mọi người “cần vượt qua để đón nhận”. Đón và nhận, sự-kiện “gặp Giêsu” nơi những người đang sống quanh mình vào mọi lúc. Không chỉ vào lúc cùng ta quây quần bên người thân thuộc vừa quá vãng mà thôi, nhưng còn là và phải là mọi lúc, trong đời người.

Và, “ngày nao tôi sẽ yêu thương nhiều vì được gặp Giêsu.” Ôi! Đây chính là ý-nghĩa của cuộc sống vào dạo trước và cả vào thời mai hậu, như lời khẳng định của thần-học-gia tên tuổi là Edward Schillebeeckx từng nói đến như sau:

“Bản thân con người phàm-trần bao giờ cũng mang tính-chất sử-học, đưa vào lịch-sử để làm nên lịch-sử. Vì thế nên, hành trình mà con người còn rong ruổi lại chính là hành-trình được thiết-lập với Thiên-Chúa. Bởi lẽ, con người là tạo-vật do Thiên-Chúa thiết-dựng. Nhưng, có thể đó cũng là hành-trình không có Chúa đi cùng hoặc vào thời-điểm con người cứ mải kình-chống Thiên-Chúa nữa.

 Con người là hữu-thể phàm-tục có chất sử luôn sống trong tương-quan với Thiên-Chúa vĩnh-cửu. Tương-quan đây, là hành-trình rong ruổi được thể-hiện giữa bản-thể con người với Thiên-Chúa vĩnh-cửu đã dấy lên vấn-đề cánh-chung-luận. Bởi lẽ, cuộc sống con người là sự sống phụ thuộc vào thứ gì có khởi-đầu và kết-đoạn hẳn-hoi.

 Vậy nên hỏi rằng: con người có thể tồn-tại mãi không? Ta thấy những gì được thêm vào đây? Có chăng sự sống sau khi chết? Có chăng thiên-đàng dành cho những người làm điều tốt lành? Có chăng luyện-ngục là nơi chốn dành cho những người luôn làm việc gian-ác?

 Vấn-đề này được lịch-sử đặt ra cho con người phàm-trần. Cánh-chung-luận là câu đáp trả của Đạo Chúa với những câu hỏi đại-loại như thế. Sự sống vĩnh-cửu không là thứ gì dính-liền với bản-chất của hữu-thể hạn hẹp và bất ngờ. Cả ở trường hợp bản-thể người có linh-hồn thiêng-liêng, ta cũng không thể nào bảo là: tính-chất thần-thiêng nơi linh-hồn con người lại là nền-tảng của sự sống sau khi chết…” (X. Lm Edward Schillebeeckx, I Am a Happy Theologian, SCM Press Ltd 1994, tr. 63)

 Rõ ràng là, thần-học-gia Schillebeeckx những muốn chứng-tỏ trong cuốn “Tôi là nhà thần-học phúc-hạnh” vốn dĩ bảo rằng: sự sống và nỗi chết của con người vẫn cứ là trạng-huống của hữu-thể hạn-hẹp, chứ không là khúc/đoạn của không gian và thời, bao giờ hết.

Bản thể “người” luôn ưu-tư/quan-ngại về những hạn-chế của không-gian và thời-gian, nên mới sáng-tạo ra các phạm-trù đầy ấm-ức bằng các cụm-từ như: thiên đàng, luyện-ngục, trần-gian hoặc chốn vĩnh-hằng.

Thế nhưng, thực sự thì các phạm-trù đó có ý-nghĩa gì đáng để ta lưu-tâm, bàn-thảo hay không? Đáp trả bằng những quan-niệm vững chãi, lại xin mời bạn và mời tôi, ta tiếp-tục đi vào giòng chảy đầy phân-tích của thần-học-gia tên tuổi ở trên, đã xác định bằng những ý-tưởng sau đây:

“Thiên-đàng và hoả-ngục là những sự, những việc có thể xảy đến với con người. Tôi thường biện-bạch rằng: ta luôn có tính-chất rất đối-xứng giữa ý-niệm về thiên-đàng và quan-niệm về hoả-ngục: cả hai đều không thể đặt chung vào cùng lãnh-vực được. Giả như nền-tảng của sự sống sót là tương-quan sống động như thế với Thiên-Chúa, tôi vẫn tự hỏi xem những gì xảy đến khi tương-quan với Thiên-Chúa không sống-động cách nào hết, nghĩa là: khi người nào đó làm chuyện gian ác cố ý đến cùng tột.

 Ta không thể biết được là có hay không những người làm điều gian-ác theo cung-cách nhất-định, bác-bỏ mọi ân-huệ Chúa tha thứ cho họ, nữa. Và, đây chỉ là giả-thuyết bảo rằng: nếu trên đời này lại có những người không có tương-quan thần-thánh với Thiên-Chúa, thì những người như thế sẽ không có nền-tảng về sự sống vĩnh-cửu.

 Và, hoả-ngục là kết-đoạn cho những ai làm điều gian ác theo cung-cách nhất-định, thì cái chết thể xác và kết đoạn cuộc đời nơi họ sẽ là điều tuyệt-đối. Thành thử, từ một quan-điểm cánh-chung-luận, ta nói được là chỉ có thiên-đàng mà thôi.” (X. Lm Edward Schillebeeckx, I Am a Happy Theologian, SCM Press Ltd 1994, tr. 64)

Nếu thế thì, các phạm-trù ở trên được sáng-chế là để đề-nghị ta và mọi người hãy cùng nhau nghe lại khẳng-định làm nền nơi ca-từ đã trích có những lời vang vọng mãi:

“Giòng đời trôi, bao tháng năm qua rồi,”

Chuyện buồn chuyện vui, cho tôi mãi mong chờ.

Lòng chờ mong không biết đến bao giờ được gặp Giêsu.

Maranatha! Maranatha!

Lòng chờ mong không biết đến bao giờ

được gặp Giêsu.”

(Maranatha – Vũ Khởi Phụng DCCT – bđd)

Nếu thế thì, trọng-tâm cuộc sống hay nỗi chết vẫn cứ là “đợi chờ để được gặp Giêsu”, một khẳng-định được tác-giả Marcus J. Borg lại cũng quả-quyết như sau:

“Tất cả mọi người chúng ta, trước đây đều đã gặp gỡ Đức Giêsu. Phần đông chúng ta gặp Ngài hồi còn thơ ấu. Điều này, hà tất là chuyện có thật, đối với những ai được nuôi dưỡng trong lòng Giáo-hội và nhất là những người lớn lên ở vùng trời có nền văn-hoá Tây phương. Ở đó, mọi người đều có cùng một ấn-tượng về Đức Giêsu, theo cách nào đó như ảnh-hình về Ngài tuy lu-mờ nhưng rất đặc-biệt.

 Với nhiều người, ảnh-hình về Đức Giêsu mà họ có từ thời ấu-thơ, vẫn hoàn-hình cả vào lúc trưởng-thành. Với người khác, ảnh-hình này được giữ gìn bằng những xác-tín đậm-sâu, đôi khi còn nối-kết cả với lòng sủng-mộ tư-riêng đầm ấm và nhiều lúc còn kết chặt vào với lập-trường đầy học-thuyết cứng ngắc, nữa.

 Một số người khác, cả ở bên trong lẫn bên ngoài Giáo-hội, thì ảnh-hình về Đức Giêsu thời ấu-thơ còn trở-thành vấn-đề, tạo nên nhiều bối rối/ phức-tạp và ngờ-vực, có khi lại dẫn đến tình-huống dửng-dưng đối với Giáo-hội hoặc chống-đối cái Giáo-hội của thời con trẻ mà họ từng sống.

 Quả là, đối với nhiều tín-hữu Đạo Chúa, đặc-biệt là các thành-viên Giáo-hội chính-cống, có lúc xảy ra thời-kỳ trong đó ảnh-hình Đức Giêsu thời son trẻ không còn mang ý-nghĩa gì to tát cả. Và, rất nhiều người trong số đó, không cảm thấy cần thay thế nó. Với họ, gặp gỡ Đức Giêsu thêm một lần nữa lại sẽ như chỉ mới gặp Ngài lần đầu tiên, tức là lúc họ cảm thấy tràn-ngập ảnh-hình mới mẻ về Ngài.

 Thật sự mà nói, ý-niệm nền-tảng sẵn có trong đầu nhiều người là sự nối kết mạnh mẽ giữa ảnh-hình Đức Giêsu và nét phác hoạ về đời sống tín-hữu Đạo Chúa thật rõ nét. Nối kết đây, là sự tương-giao giữa những điều mọi người người nghĩ về Đức Giêsu và những gì mọi người trong chúng ta suy-tư về cuộc sống phải có của người đi Đạo. Ảnh-hình ta có về Đức Giêsu vẫn luôn tạo ảnh-hưởng lên nhận-thức ta có về cuộc sống của người tín-hữu theo hai cách: một, là cung-cách tạo nên hình-dạng cuộc sống người tín-hữu Đạo Chúa; và cách kia, là quyết-tâm biến Đức Chúa trở-thành đạo-giáo đáng tin hoặc không đáng tin.

 Xem như thế, thì người đi Đạo lâu nay nhiều ít vẫn cứ tin Đức Giêsu mà mình được gặp tựa như ảnh-hình mình duy-trì từ thời niên-thiếu. Dù ảnh-hình ấy có do Giáo-hội nhồi nhét vào đầu óc son trẻ của mình hay không.” (X. Marcus J. Borg, Meeting Jesus Again for the First Time, HarperCollins1994, tr. 1-2)

 Lòng chờ mong không biết bao giờ được gặp Giêsulại là sự mong chờ được gặp Đức Giêsu của thời trưởng-thành. Ảnh-hình của một Đức Giêsu-thực vừa là người thực như ta, vừa là Đấng được toàn-thể Hội-thánh nâng-nhấc lên thành Ngôi Hai Thiên-Chúa.

Chờ mong một gặp gỡ như thế để làm gì? Phải chăng là để như lời hiền-nhân ngôn-sứ khi xưa trong Cựu Ước từng khuyên-bảo như sau:

“Hỡi Israel,

ngươi hãy chuẩn bị

đi gặp Thiên Chúa của ngươi.”

(Amos 4: 12)

Đó là người đời thời Cựu ước. Còn thời Tân Ước, sau khi chứng kiến Đức Giêsu làm việc lạ lùng, khi trừ tà, người trong làng lại cũng tụ-tập để gặp Ngài sau đó thì mời Ngài ra đi như Tin Mừng Mát-thêu còn nói rõ:

“Bấy giờ,

cả thành ra đón Đức Giêsu,

và khi gặp Ngài,

họ xin Ngài rời khỏi vùng đất của họ.”

(Mt 8: 34)

Thành ra, cũng là chờ mong/mong chờ “được gặp Giêsu”, nhưng mỗi thời và mỗi người lại có ý khác nhau. Chờ và mong “được gặp Giêsu” như bài hát trên lại mang một ý-nghĩa khác hẳn:

“Rồi ngày nao tôi sẽ yêu thương nhiều vì gặp Giêsu.

Cuộc trần ai đưa nát tan cho đời.

Người người biệt ly, bao sông núi chia lìa.

Rồi ngày nao từ bốn phương quay về gặp được Giêsu.

Maranatha! Maranatha!

Rồi ngày nao từ bốn phương quay về gặp được Giêsu.

Người ở đâu mang mác bốn phương trời.

ngàn trời mây, muôn hoa lá mong người.

Và hằng đêm tôi vẫn khêu ngọn đèn đợi chờ Giêsu.

Maranatha! Maranatha!

Và hằng đêm tôi vẫn khêu ngọn đèn đợi chờ Giêsu.”

(Nhạc: Maranatha/Lời: Lm Vũ Khởi Phụng DCCT – bđd)

Có mong/có chờ rồi mới thấy. Có chờ và có đợi rồi sẽ hay. Duy, có điều là: khi gặp Ngài rồi, thì bản thân người chờ đợi cũng như người xục xạo kiếm tìm sẽ ra sao? Có mãn nguyện không? Người mãn-nguyện rồi, lại sẽ có quyết-tâm như thế nào? Phải chăng như lời lẽ người anh em vừa viết trong bức thư tâm-tình đầy tri-ân, vang vọng mãi rằng: “Những tâm tình chia sẻ trong giờ cầu nguyện tại nhà quàn đã nhắc cho bần đệ, các em và các cháu trong tang quyến được phép ngẩng đầu lên mà hãnh diện về mẹ.” (X. tâm-thư trích-dẫn ở trên)

Với mẹ ruột, mà người con còn hãnh-diện đến độ “sẽ ngẩng đầu lên” như thế. Thì, với Đức Giêsu được nâng-nhắc thành Thiên-Chúa Ngôi Hai, chắc người người sẽ còn ngẩng cao đầu ghi dấu ấn đến mãn đời, nữa mới phải.

Dấu ấn ấy. Cảm-nghiệm đây, còn là và sẽ là những cảm và nghiệm của đời người vẫn có niềm vui bất tận của những người đã và đang trên đường kiếm tìm hoặc từng mong chờ nay được gặp. Tâm tình ấy, nay hoà-đồng vào với tình-tiết của câu truyện kể đầy cảm-tính như dưới đây:

“Một chuyến tàu ngoài khơi gặp bão và bị đắm. Có hai người giạt đến một hoang đảo. Cả hai đã nhiều lần làm thuyền nhưng không lần nào thành công. Cuối cùng, họ đồng ý với nhau là cùng ngồi cầu nguyện. Mỗi người sẽ ở một nửa hòn đảo xem lời cầu nguyện của ai sẽ linh nghiệm.

 Đầu tiên, người thứ nhất cầu nguyện có được thức ăn. Sáng hôm sau, người thứ nhất tìm thấy một cây có nhiều quả rất ngon nên anh ta không còn phải lo lắng đi tìm thức ăn nữa. Ở phần bên kia hòn đảo, đất vẫn khô cằn và người thứ hai không tìm được gì cả.

 Hết một tuần, người thứ nhất cầu nguyện cho có bầu bạn. Chỉ sau một ngày, ở bên đảo của người thứ nhất có một chiếc tàu khác bị đắm và một người phụ nữ giạt vào. Hai người chuyện trò cho bớt cô đơn, còn ở phần bên kia hòn đảo, người thứ hai vẫn không có gì khác.

 Liên tục những ngày sau đó, người thứ nhất cầu nguyện được căn nhà, quần áo ấm và nhiều thức ăn hơn. Phép mầu lại xảy ra. Những gì anh ta ước thường xuất hiện ngay vào buổi sáng ngày hôm sau. Tuy nhiên, vẫn không có gì khác xảy ra ở phần đảo của người đàn ông thứ hai.

 Cuối cùng, người thứ nhất và người phụ nữ – nay đã là vợ anh ta- cầu nguyện có một chiếc tàu. Sáng hôm sau, một chiếc tàu lớn xuất hiện trên bãi biển. Người thứ nhất dẫn vợ mình lên tàu và quyết định bỏ người thứ hai ở lại trên đảo. Anh ta nghĩ rằng người kia không đáng được nhận bất kỳ thứ gì anh ta có được từ những lời cầu nguyện riêng của anh ta.

 Khi chiếc tàu chuẩn bị rời bến, bỗng người thứ nhất nghe thấy có tiếng nói vang lên từ không trung: “Tại sao con lại bỏ bạn mình?” Người thứ nhất thản nhiên cao giọng: “Tất cả mọi thứ đều do tôi cầu nguyện mà có. Anh ta cầu nguyện nhưng chẳng được gì cả nên không xứng đáng để đi cùng với tôi.”

 “Con lầm rồi” – giọng nói vang lên  – “Từ đầu đến cuối, anh ta chỉ ước có một điều và Ta đã thực hiện cho anh ta điều ước ấy.” Người thứ nhất rất ngạc nhiên: “Anh ta đã ước gì?”

 “Anh ta đã ước rằng những lời cầu nguyện của con được biến thành sự thật!” (truyện do St sưu tầm)

 Tâm tình của người chờ mong, nay được gặp Đấng mà mình mong ước, lại sẽ hằn in nơi ca-từ nhè nhẹ được nghe thêm một lần nữa làm kết-đoạn cho bài luận-phiếm về một “chờ mong/mong chờ được gặp Giêsu” rất hôm nay. Câu hát nhẹ ấy, cứ từ từ đi vào lòng người nghe với những lời lẽ gọn gàng như sau:

“Rồi ngày nao từ bốn phương quay về gặp được Giêsu.

Người ở đâu mang mác bốn phương trời.

ngàn trời mây, muôn hoa lá mong người.

Và hằng đêm tôi vẫn khêu ngọn đèn đợi chờ Giêsu.

Maranatha! Maranatha!

Và hằng đêm tôi vẫn khêu ngọn đèn đợi chờ Giêsu.”

(Nhạc: Maranatha/Lời: Lm Vũ Khởi Phụng DCCT – bđd)

 Trần Ngọc Mười Hai

Với những tình-tự hằn in nơi tâm-khảm

Khi nghe bài

“Giòng đời trôi” với lời ca

Lã chã, êm ả, rất mong chờ

Được gặp Giêsu.

HỎI ĐÁP VỚI THIỀN SƯ Ottamasara Sayadaw

HỎI ĐÁP VỚI THIỀN SƯ Ottamasara Sayadaw

 Câu hỏi 18: Con đang rất đau khổ, bởi vì vợ chồng con bất hòa, mấy tháng trước mẹ con vừa mất thì đến nay bố con không muốn sống nữa, bố con kinh doanh tại nhà và có một khoản nợ ngân hàng khổng lồ, với tình hình làm ăn như thế này có thể con phải bán nhà để trả nợ. Cuộc sống đối với con hiện nay như địa ngục. Con phải làm sao?

 Thiền sư Ottamasara:
 

Rồi một ngày bạn sẽ mất tất cả mọi thứ: gia đình, nhà cửa, nghề nghiệp, vợ con, tài sản. Điều đó là Sự Thật không thể trốn thoát. Và điều đó chắc chắn sẽ xảy ra, không chỉ với bạn mà với tất cả mọi người. Điều này là hoàn toàn chắc chắn. Bạn cho rằng nỗi đau khổ của bạn xuất phát từ mọi người xung quanh, nhưng bản chất nỗi khổ ấy xuất phát từ việc bạn không có khả năng chấp nhận sự mất mát. Bạn càng có khả năng chấp nhận mất mát, càng có khả năng chấp nhận sự thật thì bạn sẽ càng bớt đau khổ. Đây cũng là sự thật nữa. Bạn không chấp nhận được mất mát là vì bạn nắm giữ, hiểu sai lầm rằng đó là nhà của bạn, cha mẹ, tài sản của bạn. Do có sự hiểu lầm đó nên bạn nắm giữ, điều khiển và không có khả năng chấp nhận sự thật là chúng sẽ mất. 

 

Thật sự rằng bạn đã mất chúng ngay từ khi bạn bắt đầu “có” chúng, vì hiểu là mình có chúng nên bạn mới mất chúng, còn hiểu được rằng chúng đến với bạn là do các điều kiện nhân duyên hội tụ thì khi không đủ điều kiện nữa nó sẽ ra đi, khi đó bạn sẽ chấp nhận được sự mất mát.

 

Khi kết hôn bạn cho rằng đó là vợ của mình và sở hữu được người vợ, nắm giữ được họ, khi có con bạn cũng cho rằng con của bạn và nắm giữ ý tưởng đó, cùng hiểu lầm ấy với tài sản, cha mẹ, nhà cửa, nghề nghiệp. Cho nên có thêm một vật gì, điều gì là bạn có thêm sự nắm giữ, và sự nắm giữ ấy trở thành thói quen của bạn. Bạn có thói quen nắm giữ chứ không có thói quen chấp nhận mất mát (chấp nhận sự thật). Từ trước tới nay bạn không mất mát nhiều nên khả năng chấp nhận mất mát rất yếu và sự nắm giữ rất mạnh mẽ, chúng được tích lũy cùng với nhau. Bạn cần xây dựng và ghi nhớ sự thật rằng mọi thứ có bản chất riêng, và bản chất tột cùng của chúng là chúng đang thay đổi và bạn sẽ phải mất chúng, hãy ghi nhớ và tạo cho mình khả năng chấp nhận điều đó. Khi bạn nghĩ rằng mình “có” bất cứ điều gì, hãy nhắc nhở và ghi nhớ sự thật đó, chúng không phải là của bạn và bạn không thể nắm giữ được chúng.

 

Hỏi tiếp: Con còn quá trẻ để mất tất cả những thứ đó, và mất cùng một lúc, nếu như mất từ từ và mất khi con đã già có khi con lại dễ chấp nhận hơn.

 Thiền sư Ottamasara:
 

Với người không có khả năng chấp nhận mất mát thì không có gì để mất là điều tốt nhất cho anh ta, giả sử nếu mất gia đình, mất nhà, mất nghề nghiệp thì bạn sẽ ra sao? Nếu có được bài học lớn từ điều đó, có thể đó là cơ hội cho bạn xuất gia và trở thành tu sĩ không tài sản như tôi đây, có sao đâu (cười). Đó là bạn nghĩ vậy thôi, còn sự thật chưa chắc bạn đã mất tất cả những thứ đó. Bạn còn trẻ, còn sức khỏe nên còn rất nhiều thời gian cho bạn học hỏi và rút kinh nghiệm, những gì đang xảy ra là cơ hội rất tốt cho bạn, là điều rất mừng cho bạn để có thể đối diện, xây dựng tính chấp nhận mất mát cho tương lai. Nếu bạn đã lớn tuổi và bệnh tật, bạn vẫn có thể mất những thứ kể trên nhưng khi đó sẽ còn khó khăn hơn, khó chấp nhận hơn nữa. Nếu bạn mất mát từng thứ một thì khả năng chấp nhận mất mát sẽ rất nhỏ, đây là cơ hội để bạn xây dựng khả năng chấp nhận đối với những mất mát lớn hơn. Đến một ngày, bạn và tôi và tất cả đều sẽ mất cùng một lúc, khi đó bạn có đủ mạnh mẽ để chấp nhận rồi. Điều đó là cần thiết. Bây giờ bạn còn trẻ và không phải người trẻ nào cũng có cơ hội tốt như bạn để học hỏi. 

 

Hỏi: Vậy những điều Ngài nói giúp ích gì cho con để giải quyết tình hình hiện nay?

 Thiền sư Ottamasara:
 

Bạn không thể điều khiển được tất cả mọi người, tất cả mọi hoàn cảnh, bạn không thể làm cho sự việc, con người, niềm vui tồn tại mãi mãi nhưng bạn có thể xây dựng được cho mình khả năng chấp nhận sự thay đổi ấy. Khi có được sự chấp nhận sự thật ấy, tâm lý bạn sẽ ổn định hơn, khi đó tự bạn sẽ biết cần làm gì để thay đổi con người, hoàn cảnh xung quanh. Khi bạn biết chấp nhận mất mát thì sẽ giúp cho gia đình, người thân cũng biết chấp nhận mất mát, và khi đó có tự do, sự hiểu biết trong tâm trí của mọi người thì gia đình bạn sẽ thay đổi.

 (Cảm ơn Sư Cô Hương Thiền đã thông dịch)

Cựu Tổng thống Nam Hàn Park Geun Hye bị bắt

Cựu Tổng thống Nam Hàn Park Geun Hye bị bắt

 
Bà Park Geun Hye, cựu tổng thống bị truất phế của Nam Hàn. (Hình: AP Photo/Ahn Young-joon. Pool).

SEOUL, Nam Hàn (NV) – Cựu Tổng Thống Park Geun Hye của Nam Hàn vừa bị bắt và đưa vào nhà tù hôm Thứ Sáu (ở Nam Hàn) liên quan đến chuyện bà bị tố cáo tham nhũng, chấm dứt bốn năm cầm quyền đầy hỗn loạn và người dân phải bầu một tổng thống mới.

Một đoàn xe màu đen, trong đó có một chiếc chở bà Park, chạy vào nhà tù gần Seoul, sau khi một tòa án chuẩn thuận việc bắt giữ bà.

 Nhiều người ủng hộ bà đứng bên ngoài nhà tù, vẫy cờ Nam Hàn và hô lớn “tổng thống” khi chiếc xe chở bà chạy vào bên trong.

Các công tố viên nói rằng họ có thể tạm giam bà tối đa là 20 ngày trước khi chính thức truy tố bà.

Quyết định của tòa án đánh dấu một sự thất bại đầy cay đắng cho bà Park, nữ tổng thống đầu tiên của Nam Hàn, được người dân bầu lên hồi năm 2012 nhờ chính sách bảo thủ và sự nhớ nhung đến người cha của bà, người từng lãnh đạo quốc gia này trong 18 năm, từ 1961 đến 1979, làm cho đất nước thịnh vượng mặc dù có nhiều vụ vi phạm nhân quyền.

Phía công tố yêu cầu tòa cho bắt bà Park vì bà bị tố cáo thông đồng với một người thân tín để đòi một số công ty ủng hộ tiền, và làm một số hành động sai trái.

Thực ra, phía công tố có thể không cần bắt bà Park. Tuy nhiên, họ nói rằng, họ muốn bắt bà vì những gì bà vi phạm là rất “nặng nề” và bởi vì các nghi can khác trong vụ này, bao gồm bà Choi Soo Sil, một phụ tá thân tín của bà Park, đã bị bắt.

Tòa án nói rằng họ chuẩn thuận việc bắt giữ bà vì lo rằng bà có thể xóa bỏ bằng chứng.

Một ngày trước đó, bà Park bị thẩm vấn tại văn phòng công tố trong gần chín giờ đồng hồ. Khi bà ra về, hàng trăm ủng hộ viên của bà, đa số là người cao niên, khóc, hô khẩu hiệu ủng hộ bà, và tìm cách ngăn chiếc xe chở bà. Cuối cùng, cảnh sát đẩy họ ra.

Trong những tuần tới, phía công tố chắc chắn sẽ chính thức truy tố bà với tội tống tiền, hối lộ, và lạm dụng quyền lực. Chỉ riêng tội hối lộ là có thể bị lãnh án chung thân ở Nam Hàn.

Bà Park và bà Choi bác bỏ tất cả tố cáo. Bà nói rằng bà chỉ để cho bà Choi hiệu đính vài bài diễn văn và nhờ giúp “quảng bá” một số vấn đề. Bà Choi cũng khai như vậy.

Hai phụ nữ này, đều khoảng 60 tuổi, là bạn trong 40 năm. Bà Park có lần mô tả bà Choi là người đã giúp bà trong thời kỳ bà gặp “khó khăn,” ngụ ý nói đến chuyện cha mẹ bà Park bị ám sát trong thập niên 1970.

Cha của bà Park, cố Tổng Thống Park Chung Hee (Phác Chánh Hy) bị giám đốc tình báo của ông bắn chết năm 1979, năm năm sau khi vợ của ông bị chết trong một vụ ám sát hụt ông. Kể từ đó, bà Park Geun Hye đóng vai trò đệ nhất phu nhân trong Blue House (Dinh Tổng Thống).

Vụ bắt bà Park hôm Thứ Sáu chấm dứt vai trò của bà và Nam Hàn sẽ bầu tổng thống mới vào Tháng Năm, theo luật định.

Hồi đầu Tháng Ba, Tòa Bảo Hiến Nam Hàn đồng thuận truất phế bà Park, ba tháng sau khi Quốc Hội bỏ phiếu loại bà ra khỏi chức vụ.

Bà Park Geun Hye thắng cử tổng thống trong cuộc bầu cử ngày 12 Tháng Mười Hai, 2012. (Đ.D.)

Vì sao đa nguyên là lựa chọn chính trị tối ưu của nhân loại cho đến lúc này?

Vì sao đa nguyên là lựa chọn chính trị tối ưu của nhân loại cho đến lúc này?

FB Nguyễn Đình Bổn

31-3-2017

Hãng tin AFP đưa tin, sau phán quyết của tòa án trung tâm quận Seoul ngày 30-3, cựu tổng thống Hàn Quốc bị phế truất đã bị bắt giam như một nghi phạm liên quan tới một loạt bê bối cáo buộc tham nhũng, tiết lộ bí mật quốc gia, lạm dụng quyền lực.

Bà Park Geun-hye từng được nhận xét như một phụ nữ tài năng, liêm chính, có khả năng lãnh đạo, và người Hàn Quốc khi bầu cho bà hẳn là đã nhìn và tin vào các tính cách đó, vậy nhưng vì sao bà đã rơi vào bi kịch như hiện nay?

Phải chăng quyền lực tột đỉnh đã làm tha hóa người phụ nữ một thời được người Hàn Quốc tự hào, kính trọng?

Bản chất con người là tham, sân, si, thiện ác trộn lẫn. Vì vậy khi nắm trong tay quyền lực, nhất là quyền lực chính trị, họ sẽ bộc lộ tham vọng của mình. Cái mầm mống bất thiện sẽ trồi lên, lấn át lý tưởng phục vụ quốc gia, và vậy là bi kịch xảy ra.

Trong lịch sử nhân loại, chế độ phong kiến minh họa rõ nhất điều này, với rất nhiều anh hùng dân tộc nhanh chóng trở thành hôn quân khi trở thành hoàng đế.

Vì vậy, để khống chế nó, nền dân chủ ra đời và đa nguyên là lựa chọn chính trị tối ưu của nhân loại cho đến lúc này, bởi chỉ có đa nguyên mới ngăn chặn được độc tài. Một khi lạm quyền xảy ra, dù là tổng thống, các đảng đối lập sẽ nhanh chóng chứng minh sự phạm tội, và tòa án độc lập sẽ xét xử. Cựu tổng thống Hàn Quốc là một ví dụ. Từ đỉnh cao quyền lực, hiện nay Park Geun-hye phải sống trong tù với bữa ăn 1,30 USD và phải tự rửa bát sau khi ăn như bất cứ một phạm nhân nào khác.

Hàn Quốc trở thành một quốc gia hùng mạnh hàng đầu thế giới dù vẫn đang trong “tình trạng chiến tranh” với Bắc Triều tiên là do họ đã chọn lựa thể chế tối ưu cho mình.

Không có một biện luận nào khác về sự phi dân chủ của một thể chế độc tài, nơi mà tài sản cán bộ cấp tỉnh cũng là một “bí mật quốc gia” và tất nhiên, với sự tự tung tự tác nay, tài nguyên dù phong phú bao nhiêu cũng bị xâu xé cho đến cạn kiệt, và lạc hậu, đói nghèo cũng chính từ thể chế này mà ra.

TT Trump ký luật S.305, chỉ định ngày 29/3 là Ngày Cựu chiến binh Việt Nam

TT Trump ký luật S.305, chỉ định ngày 29/3 là Ngày Cựu chiến binh Việt Nam

 

Cựu chiến binh Hoa Kỳ Jack Frey, bang Pennsylvania viếng Bức tường Chiến tranh Việt Nam ở thủ đô Washington.

Cựu chiến binh Hoa Kỳ Jack Frey, bang Pennsylvania viếng Bức tường Chiến tranh Việt Nam ở thủ đô Washington.

 

Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã ký dự luật S. 305 thành luật hôm thứ Ba 28/3, khuyến khích việc treo quốc kỳ Mỹ vào ngày 29/3 hàng năm để tôn vinh Ngày Cựu chiến binh Việt Nam.

Theo tin từ Tòa Bạch Ốc, Tổng thống Trump viết trên Tweeter:

“Tối nay tôi rất tự hào đã ký dự luật S. 305, khuyến khích trưng bày quốc kỳ Hoa Kỳ vào Ngày Cựu chiến binh Việt Nam hàng năm, ngày 29/3”.

Phó Tổng thống Mike Pence hôm thứ Tư cũng lên Tweeter ca ngợi Tổng thống ký thành luật dự luật tôn vinh các cựu chiến binh Mỹ từng chiến đấu Việt Nam.

Thứ Tư vừa rồi đánh dấu một mốc điểm quan trọng trong lịch sử Hoa Kỳ. Cách đây đúng 44 năm vào ngày 29/3/1973, các binh sĩ Mỹ cuối cùng rút khỏi Việt Nam. Chương trình tin tức của đài FOX trích lời Tổng thống Nixon thời bấy giờ tuyên bố rằng: “ngày mà chúng ta mong đợi và cầu nguyện cuối cùng đã đến.”

Đài truyền hình FOX nhắc lại rằng nhiều cựu chiến binh đã bị đối xử tồi tệ sau khi hồi hương về nước vì nhiều người chống đối chiến tranh Việt Nam, và đổ lỗi cho các quân nhân về tình hình bi thảm ở Việt Nam.

44 năm sau, các cựu chiến binh giờ đã được thừa nhận và chính thức vinh danh nhờ nỗ lực của Thượng nghị sĩ Joe Donnelly, đại diện bang Indiana.

Ông Donnelly và Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ bang Pennsylvania Pat Toomey là đồng tác giả của Dự luật S. 305, công nhận các cựu chiến binh Mỹ chiến đấu tại Việt Nam.

Thông báo do Thượng nghị sĩ Donnelly công bố sau khi dự luật do ông tiến cử trở thành luật, có đoạn viết:

“Vào cuối cuộc chiến, rất nhiều cựu chiến binh của chúng ta trở về từ chiến trường Việt Nam đã không được giang tay chào đón, những cống hiến của họ không được công nhận. Dự luật lưỡng đảng này sẽ giúp đất nước chúng ta vinh danh thế hệ cựu chiến binh đã dạy chúng ta thế nào là lòng yêu nước và phụng sự tổ quốc. Họ xứng đáng được tôn vinh về cống hiến và hy sinh của họ. Tôi vui mừng được làm việc với Thượng nghị sĩ Toomey để cổ vũ cho Ngày cựu chiến binh Việt Nam.”

Dự luật này được Thượng viện phê duyệt với sự ủng hộ của lưỡng đảng hôm 8/2, và được Hạ viện thông qua hôm 21/3. Tổng thống Trump ký dự luật ấy thành luật, có hiệu lực từ đêm 28/3.

Trong số 2.7 triệu binh sĩ Mỹ từng phục vụ tại Việt Nam, hơn 58.000 binh sĩ đã hy sinh và hơn 304.000 người bị thương, theo Military Times.

Người dân Hà Tĩnh biểu tình sang ngày thứ ba

Người dân Hà Tĩnh biểu tình sang ngày thứ ba

2017-03-30
 
 

Người dân Hà Tĩnh biểu tình phản đối chính quyền địa phương bồi thường không thỏa đáng vụ Formosa.

Người dân Hà Tĩnh biểu tình phản đối chính quyền địa phương bồi thường không thỏa đáng vụ Formosa.

Hình fb tentromlanh
 
 
Dân chúng xã Thạch Bằng, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục biểu tình sang đến ngày thứ ba phản đối chính quyền địa phương không công tâm trong việc kê khai bồi thường thiệt hại do thảm họa môi trường Formosa gây nên.

Tin mà chúng tôi ghi nhận được là đến 6 giờ chiều ngày 30 tháng 3 nhiều người dân vẫn còn biểu tình trước trụ sở Ủy ban Nhân dân xã Thạch Bằng, cũng như trên đường gần đó đòi hỏi được gặp các cấp chính quyền để giải quyết những thắc mắc liên quan của người dân.

Một người tham gia biểu tình cho Đài Á Châu Tự do biết:

“Vào ngày 7 tháng 9 năm ngoái, họ đưa cho dân tờ kê khai và tất cả đều kê khai. Nhưng sau khi xét duyệt chỉ cho 1/3 thôi. Hồ sơ nộp tại Ủy ban Nhân dân xã khoảng 2500, nhưng chỉ xét duyệt chừng ¼ nên dân không đồng tình. Cách xét duyệt là ai quen thì duyệt còn không thì thôi.”

Người dân cho biết ngày đầu tiên xã cử đại diện ra gặp đoàn biểu tình, nhưng sang ngày hôm sau dân quân và công an được điều động đến bao vây, không cho người dân dùng điện thoại quay cảnh biểu tình. Đến ngày 30 tháng 3 Ủy ban Nhân dân xã Thạch Bằng đóng cửa không tiếp người dân.

Ngoài công tác kê khai không thỏa đáng như dân chúng tố cáo, hiện nay số hải sản, đặc biệt là sứa, mà những nhà được chính quyền yêu cầu thu mua khi xảy ra thảm họa môi trường xảy ra, nay hư thối, bốc mùi và những nơi này phải chịu đựng.

“Huyện, tỉnh Hà Tĩnh và các bộ ngành ở trung ương không giải quyết được cho số sứa đã quá hạn và hiện nay bốc mùi mà chúng tôi làm biết bao nhiêu đơn từ ra đến bộ, ngành trung ương nhưng không được giải quyết. Nay số đó phân hủy mà không biết đổ đâu và hằng ngày chúng tôi phải gánh chịu.”

Thảm họa môi trường do nhà máy thép Formosa xả hóa chất độc hại ra biển từ tháng tư năm ngoái khiến hải sinh vật biển chết, gây tác động không chỉ đến ngư dân mà như phát biểu của người dân vừa rồi còn đối với dân chúng sống tại các vùng dọc ven biển của những tỉnh miền Trung Việt Nam.

Thực phẩm bẩn chạm ngưỡng báo động đỏ

Thực phẩm bẩn chạm ngưỡng báo động đỏ

2017-03-30
Một quầy bán thịt heo ở chợ nhỏ thành phố Lào Cai ngày 2 tháng 11 năm 2014.

Một quầy bán thịt heo ở chợ nhỏ thành phố Lào Cai ngày 2 tháng 11 năm 2014.

AFP photo
Tình trạng vi phạm về quy định an toàn thực phẩm khá phổ biến, an toàn thực phẩm có lúc, có nơi đã đến giới hạn báo động – giới hạn đỏ. Đó là thông tin được các thành viên đoàn giám sát của Quốc hội Việt Nam đưa ra trong Báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2011-2016.

Bản báo cáo cũng nêu rõ số cơ sở vi phạm các quy định về an toàn thực phẩm trong 5 năm qua là hơn 670 ngàn , chiếm 20,5% số cơ sở tiến hành kiểm tra. Báo cáo nhận định đây là con số vi phạm rất cao song vẫn chưa phản ánh hết tất cả các vi phạm về an toàn thực phẩm trong thực tế.

Bộ Y tế cũng ra báo cáo cho biết đến nay đã có hơn 100 ngàn cơ sở ký cam kết sản xuất, kinh doanh thực phẩm an toàn trong lĩnh vực Bộ này quản lý. Tuy nhiên, số hộ nông dân sản xuất nhỏ lẻ lên đến 8,6 triệu, và số hộ kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ lại lên đến 500.000.

Kết quả giám sát cũng cho thấy hiện chưa kiểm soát được an toàn thực phẩm trong toàn bộ chuỗi cung cấp thực phẩm, đặc biệt là thực phẩm sản xuất từ khu vực kinh doanh nhỏ, lẻ, thủ công. Ngoài ra, biện pháp và công cụ quản lý còn hạn chế; việc truy xuất nguồn gốc thực phẩm thu hồi, xử lý thực phẩm không bảo đảm an toàn hầu như chưa được thực hiện.

Đoàn giám sát được thành lập theo Nghị quyết số 19 của Quốc hội và đã làm việc với 21/63 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương đại diện cả 3 miền Bắc, Trung, Nam với số lượng 210 cơ sở khảo sát thuộc 8 loại hình sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

QUÂN ĂN CƯỚP

QUÂN ĂN CƯỚP

  Đặng Chí Hùng

quanancuop (1)

Mấy tháng nay, mẹ của Lan bệnh ngày càng nặng, không thể đi làm nữa. Cho nên, ngoài giờ đi học, Lan phải làm đủ việc để nuôi mẹ. Từ mò cua, bắt ốc, đi mót cá con ở các bến thuyền của ngư dân…Lan gầy và ốm yếu. Nước da đậm màu của nắng và nước biển, trông bạn ấy nhỏ thó và tội nghiệp. Mẹ Lan là một người đàn bà còn trẻ và bất hạnh. Bà không có chồng. Trong một lần đi lao động ở thành phố, bà nhặt được Lan từ một thùng rác trong đêm. Đêm đó, bà bỏ thành phố mang Lan về sống ở làng chài này. Hai năm trước bà bị tai nạn, ảnh hưởng về thần kinh, khiến bà nhiều lúc như trẻ con, có khi như điên dại. Cám cảnh trước đứa con nhỏ phải quần quật nuôi sống mình, nhiều lần bà đã muốn quyên sinh. Những lúc tỉnh táo sau một quãng dài giữa những cơn bạo bệnh bà thường nói với Lan:

– Con …hãy để mẹ được ra đi. Mẹ biết con sẽ buồn khi không có mẹ. Nhưng rồi thời gian sẽ đưa con lớn lên, và nỗi buồn sẽ vơi theo. Còn thế này….mẹ đau lắm. Mà nỗi đau này chẳng bao giờ vơi được. Mẹ không muốn con mẹ khổ….

Bà thường nói với con như thế. Lúc đầu Lan khóc, nhưng dần dần Lan đã không còn nước mắt. Cô bé ôm mẹ vào lòng, với một tình yêu vô bờ bến. Chỉ cần nhìn thấy con, được con động viên, bà ấy lại quên đi ý định tự tử.

***

Một buổi sáng, Lan vừa về đến nhà thì có tiếng người lạ vọng từ căn nhà rách nát của mình ra:

– Bà nên xem bán lại căn nhà này cho Xã để xã lấy đất làm đường mới. Bà không có con đẻ, con bé Lan là con rơi bà nhặt về. Và nó lại là con gái, sau này đi lấy chồng thì bà cần gì mảnh đất này. Thôi chịu khó nghe lời đảng và nhà nước ký vào biên bản này đi !

Lan nghe rõ đó là giọng đàn ông ồm ồm như con vịt đực nhà bà Năm hàng xóm. Nó ghé mắt qua vách nhà có những lỗ thủng do bao năm nay nó chỉ là cái nhà tranh thiếu bàn tay đàn ông tu sửa. Con bé chợt nhận ra là ông chủ tịch xã là tác giả của câu nói vừa phát ra mà nó nghe lạnh cả xương sống.

Nó không lạnh sao được khi mẹ con nó chỉ có ngôi nhà này làm chỗ chui ra, chui vào nhưng mà giờ đây nguy cơ nó không còn là chỗ che mưa nắng của mẹ con Lan nữa.

Tiếng của mẹ Lan đều đều trong hơi thở mệt nhọc:

– Mẹ con tôi không có ý chống đối ai cả, nhưng ông chủ tịch ơi, cái giá nhà nước đưa ra quá rẻ, tại sao chỉ có cách 200 m mà đất vườn của nhà ông bí thư được đền bù 5 triệu đồng/m2 còn ngôi nhà ở của mẹ con tôi lại chỉ có 1 triệu đồng/ m2. Mẹ con tôi lấy gì mà mua đất làm nhà mới ? Mẹ con tôi sẽ sống ra sao ? Làm sao tôi nỡ nào ký vào để con bé Lan phải ra đường. Tôi thì như ông biết chết sống chẳng cam, nhưng ngặt nỗi còn con bé Lan…

Nói chưa dứt câu, người đàn bà với khuôn mặt khắc khổ vì bệnh tật và nghèo khó dừng lại ở đó và đưa đôi mắt thâm quầng ra xa một cách thiểu não.

Không để cho bà tiếp tục câu nói, ông chủ tịch xã tiếp ngay:

– Tôi đã nói với bà nhiều lần rồi ! Cái này là chủ trương và chính sách của đảng và nhà nước. Người như ông bí thư là cán bộ của đảng, họ phải gánh trọng trách với dân với nước nên có ưu tiên một chút cũng là hợp tình hợp lý thôi! Nếu bà cứ khăng khăng thì chúng tôi phải cưỡng chế đó. Đây là lần cuối cùng tôi nói chuyện tử tế với bà, ngày mai là hạn cuối cùng xe ủi sẽ đến đây cưỡng chế…

Đôi tai Lan ù đi vì câu nói đó của ông chủ tịch, nó lao đầu xuống căn bếp lợp bằng lá dừa dại không đủ che mưa khi trời nổi gió trên ngọn tre đầu xóm. Nó thấy trời như đang sụp xuống dưới chân nó. Hàng loạt câu hỏi đang vần vũ xung quanh đầu nó như những đám mây đen những ngày bão biển nổi lên mà lúc đó nó nép mình vào bàn tay gầy guộc nhưng luôn nồng hơi ấm của mẹ. Lan đã biết nó là một đứa con rơi được mẹ nó nhặt về từ năm ngoái khi lũ bạn học đã vô tình cho nó biết. Và cũng từ ngày đó, nó càng yêu bà hơn vì nó đủ nhận thức để nhận ra rằng bà yêu nó hơn cả một bà mẹ thương con ruột của mình.

***

Sáng nay, trời hãy còn lờ mờ sáng khi ánh mặt trời mới lấp ló trên đầu ngọn dừa ngoài bãi thì mẹ con Lan đã thức dậy vì những tiếng ồn ào ngoài đầu đường. Tiếng bà con lẫn tiếng động cơ máy xúc đã phá tan không khí tĩnh lặng thường nhật của vùng quê yên ả miền biển nghèo khó này. Lan đứng bên cạnh mẹ như hai thân cây dừa dại trước cơn song dữ của lốc biển mùa hè. Nó nắm chặt tay mẹ, mắt nhìn về phía mấy chục người công an tay dùi cui đang đứng bên máy xúc thái độ thật hung dữ. Nó chợt nói với bà:

– Mẹ ! Sao họ lại đến đây ủi nhà mình? Mẹ không đồng ý ký giấy bán nhà cơ mà? Chẳng nhẽ họ nói và làm thật à ?

Mẹ của Lan vốn hiền lành, bà chưa bao giờ có một tiếng nặng lời với Lan, cũng chưa bao giờ nói một lời chê trách với hàng xóm. Nhưng hôm nay, bà đã nói một câu mà Lan có lẽ bất ngờ nhất:

– Con à, mẹ con mình phải ra đường rồi ! Mình chẳng làm gì được đâu con. Chúng là quân ăn cướp đó …!

Nói xong câu đó, bà kéo tay Lan lẳng lặng vào nhà thu dọn vài bộ đồ rách rưới và mấy thứ lặt vặt rồi bước ra khỏi nhà. Hai mẹ con Lan lầm lũi đi ra trước ánh mắt tỉnh bơ của một đám công an. Đâu đây vài lời xì xầm bàn tán của bà con lối xóm thông cảm với mẹ con bà. Chợt một tiếng còi nổi lên:

– Tuýt, tuýt, tuýt …Đề nghị Bà con trật tự và tránh lối cho xe ủi làm nhiệm vụ ! Lái xe ủi đâu ? Vào ủi sập ngay ngôi nhà này cho tôi.

Lan chợt ngước mắt quay lại, nó thấy tiếng còi được phát ra từ cái miệng phúng phính mỡ của ông trưởng công an xã, đứng cạnh ông ta là cái dáng bệ vệ của 2 ông bí thư và chủ tịch xã. Mắt nó nhòe đi vì ngôi nhà đã nuôi dưỡng tuổi thơ nó, đã che chở cho người mẹ kính yêu của nó sắp trở thành miếng mồi ngon cho chiếc xe ủi có cánh tay dài tựa như con ngáo ộp đang chực chờ nuốt con mồi ngon miệng.

Đâu đó có vài tiếng thở than của bà con lối xóm: Quân ăn cướp !.

Đặng Chí Hùng.

BIEN CHET

ĐỪNG CẦM TÙ CHÍNH BẠN

Nhiều người đã đặt câu hỏi cho tôi “Vì sao anh là con cháu cộng sản, anh lớn lên trong môi trường XHCN mà anh lại chống cộng sản và chống Hồ Chí Minh ?”.Tôi đã trả lời rất nhiều lần và lần này thì tôi muốn tóm gọn lại một kinh nghiệm sống của bản thân đến với bạn bè xa gần.

Lý do tôi đến với VNCH, đến với Cờ Vàng đó là do nhạc vàng và chịu khó tìm hiểu sách vở, hồi ký, lịch sử. Tôi thù ghét cộng sản bởi luôn tự đặt câu hỏi cho mình để đi tìm lời giải về sự thật của cộng sản, Việt Nam, Hồ Chí Minh. Cộng thêm một chút máu liều thì tôi đã trở thành một tên “phản động” như quí vị đã thấy.

Nhưng sự thật ẩn sau những nguyên nhân đó là một nguyên nhân chính yếu: Tôi không muốn cầm tù chính bản thân tôi !

Tôi không tự cầm tù mình trong sự bao bọc của gia đình. Tôi không tự cầm tù ý chỉ chỉ cần sống sao cho sung sướng bản thân mình là đủ.

Tôi không tự cầm tù mình với tư tưởng: Đất nước này có đảng, có nhà nước, có kẻ khác lo. Mình thì mặc kệ họ.

Tôi không tự cầm tù mình với tư tưởng ăn chơi để ngủ quên trên đau khổ của dân tộc Việt Nam.

Tôi cũng không tự cầm tù mình với tư tưởng đấu tranh để được gì và sẽ mất gì.

Tôi không tự cầm tù mình với tư tưởng an phận, tôi muốn mình khám phá những chân trời xa, những điều còn chưa biết như cách cha ông chúng ta đã mở nước và dựng nước…

Tôi không tự cầm tù mình rằng phải sợ hãi trước bạo quyền và sợ hãi trước giặc Tàu hung bạo. Tôi phải chiến đấu dù có cô đơn, khổ sở và phải chết đi chăng nữa.

Tôi không tự cầm tù mình với tư tưởng phải nhìn thấy rồi mới làm, tôi tin rằng muốn có một con đường mòn thì ít ra chúng ta cũng phải biết dẫm lên cỏ dại mà bước đi hàng ngày.

Những điều đó, tôi muốn chia sẻ với các bạn gần xa từ kinh nghiệm bản thân mình. Tôi muốn chúng ta tự xóa bỏ sợ hãi, tự giải phóng trái tim mình để vươn lên chiến đấu cho sự tồn vong của dân tộc.

Đừng tự trói trái tim và khối óc, tư tưởng của mình trong những vũng bùn sáo rỗng…

Đừng cầm tù chính bạn !

Đặng Chí Hùng

Đinh Việt Nữ gởi

LƯỠI HÁI HAY CHÌA KHÓA VÀNG?

LƯỠI HÁI HAY CHÌA KHÓA VÀNG?

 

Thánh Charles Borrômê sống ở Italia trên 400 năm trước đây (1538-1584).  Khi còn trẻ, Borrômê đầy những tước vị, danh vọng.  Nhưng một lúc Borrômê đã nhận ra ngày nào đó, Ngài sẽ phải bỏ tất cả.  Ngài muốn ghi khắc điều đó, nên nhờ một họa sĩ nổi tiếng vẽ bức bích họa trong tư thất để diễn tả cái chết.  Bức họa hoàn thành: họa sĩ trình bày thần chết theo lối cổ điển: một bộ xương người nắm chặt lưỡi hái trong tay.

 

Borrômê ngạc nhiên: “Tại sao họa sĩ hình dung cái chết bằng chiếc lưỡi hái?”

 Họa sĩ đáp: “Vì thần chết cắt hái mọi cuộc sống.  Cái chết hủy hoại mọi cuộc đời.”

 “Đồng ý”, Borrômê nói, “nhưng thần chết cũng mở cửa Nước Trời nữa chứ.  Cái chết là cửa ngõ vào đời sống tốt đẹp hơn.  Vì thế, tôi đề nghị họa sĩ xóa chiếc lưỡi hái đi và đặt vào tay thần chết chiếc chìa khóa vàng.”

 Phải, Chúa Kitô đã chết và đã sống lại. Thập giá là chìa khóa Nước Trời. Thần chết đã buông lưỡi hái và cầm lấy chiếc chìa khóa vàng. Cửa Trời đã mở ra cho con người vào Nhà Cha.

 Anh chị em thân mến,

Chúa Giêsu đã tuyên bố: “Tôi là sự sống lại và là sự sống”.  Lời tuyên bố của Chúa Giêsu trước khi làm cho Lagiarô sống lại là một trong những lời “lạ tai” nhất đối với người thời đại cũng như bao người ngoài Thiên Chúa giáo và những người không tin ngày nay.  Nhưng đối với chúng ta, lời tuyên bố đó chính là nền tảng và hy vọng của cuộc đời.

Chúa Giêsu tuyên bố: “Tôi là sự sống.  Ai đang sống mà tin tôi sẽ không bao giờ chết.”  Chúa không nói đùa.  Chúa không thể đùa với sự chết, vì nó hoàn toàn trái nghịch với Ngài.  Là sự sống và đến để đem lại sự sống, Chúa không thể muốn sự chết cho con người.  Phép lạ cho ông Lagiarô sống lại làm chứng rằng Ngài có quyền ban sự sống.  Không phải sự sống như đám đông bao quanh Ngài thầm nghĩ – sống một thời gian rồi chết – cũng không phải sống lại ngày tận thế mà thôi, như Matta tin tưởng, mà là sống ngay bây giờ và sống đời đời, như Ngài đã nói: “Ai nghe lời Tôi và tin vào Đấng đã sai Tôi thì được sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng được từ cõi chết mà qua cõi sống” (Ga 5,24).

VERITAS

Vậy là có một sự sống khác.  Có một sự sống thật.  Sự sống ấy đã bắt đầu từ bí tích Rửa Tội và tiếp tục mãi đến đời đời.  Sự sống thật này không mất đi khi con người chết, nhưng chỉ mất đi bởi tội lỗi (Ga 8,21).  Tội lỗi mới là cái chết thật.  Và ngược lại, cái mà chúng ta coi là sống chưa hẳn là sống.

Chỉ khi nào sống bằng chính sự sống của Chúa thông ban cho, lúc đó mới là sống thật và bảo đảm sống đời đời ngang qua cái mà chúng ta gọi là chết.

Thánh Phaolô, trong bài đọc 2 hôm nay (Rm 8,8-11) đã nói đến tình trạng những người “sống mà như chết” và “chết mà vẫn sống” đó: “Ai sống theo xác thịt, tội lỗi, thì dù có sống cũng như chết; ngược lại, ai sống theo Thánh Thần thì dù có chết cũng vẫn sống; hơn nữa, một ngày kia, Đấng đã cho Đức Kitô phục sinh cũng sẽ cho thân xác của những kẻ sống theo Thánh Thần được sống lại”.

Một người nhắm mắt xuôi tay từ giã cõi đời này được coi là chết.  Nhưng nhiều người đang sống vẫn tự coi mình đã chết.  Vì sống mà không có hy vọng, sống không tình thương, sống mà bị đời bạc đãi, phản bội, sống không ra con người, và nhất là sống trong tội ác.  Sống như vậy, con người không cần đợi đến chết mới là chết.  Chúng ta khóc thương người chết, nhưng biết đâu người sống lại chẳng đáng khóc thương hơn?

Bất cứ ai đã thoát khỏi tội lỗi và sống trong ân sủng thì đang sống trong sự sống đời đời rồi.  Sự chết thể xác không làm gián đoạn được sự sống thân thiết với Thiên Chúa trong Nước Trời.  Sự sống lại ngày tận thế, sự sống vinh quang đời sau đã bắt đầu ở hiện tại như cây trái đã bắt đầu trong hạt giống.

Từ Lời Chúa hôm nay, chúng ta mới có được một cái nhìn lạc quan hơn về thân phận con người chúng ta.  Là tội nhân, là loài người phải chết, nhưng chúng ta đã được Con Thiên Chúa xuống thế làm người mạc khải tình yêu thương của Thiên Chúa cho chúng ta và Ngài đã thực hiện công việc cứu chuộc của Thiên Chúa giữa chúng ta và cho chúng ta.  Cuối cùng, bằng chính cái chết và cuộc Phục Sinh của Ngài, Ngài đã giải thoát chúng ta khỏi chết đời đời và cho chúng ta được tham dự vào sự sống bất diệt của Thiên Chúa.

Như thế, đối với chúng ta, những người đã tin nhận Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Thế và đang cố gắng sống Lời Chúa dạy, thì sống hay chết, không thành vấn đề, mà chỉ có một thực tại duy nhất là sống, sống trong Chúa, sống cho Chúa, sống thuộc về Chúa.  Cái chết chẳng qua chỉ là bước vượt qua từ đời sống trần gian đến đời sống vinh quang vĩnh hằng với Chúa Cha trên trời.  Chính vì có sự liên tục giữa hai cuộc sống mà đời sống trần gian này mới có ý nghĩa và mới quan trọng, đòi hỏi mỗi người chúng ta phải sống làm sao cho cuộc sống trần gian này là khởi điểm, là bảo đảm, là dấu chứng cho cuộc sống mai sau.

Trước khi bước vào Tuần Thánh là đỉnh cao của mầu nhiệm Khổ Nạn Phục Sinh, Giáo Hội đọc bài Tin Mừng hôm này nhằm kêu gọi chúng ta tin vào Đấng là sự sống lại và là sự sống.  Niềm tin ấy thắp sáng lên trong chúng ta một hy vọng mà trần gian này dù đen tối đến đâu cũng không thể nào dập tắt được.  Đức tin không chuẩn chước cho chúng ta khỏi những tang chế đau thương, những chia ly mất mát hay sự sợ hãi khi đối diện với cái chết.  Nhưng đức tin là chấp nhận hiểu và sống các biến cố hiện tại dưới ánh sáng của sự sống siêu việt mà Đức Giêsu Kitô, Đấng là nguồn cội sự sống đã loan báo.

“Tôi là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Tôi sẽ không chết bao giờ.”  “Matta, con có tin điều đó không?”  Chúa Giêsu hỏi.

“Vâng, thưa Thầy, con tin.”  Matta nói lên niềm tin của chị cũng là niềm xác tín của chúng ta: “Con tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian.”

Chớ gì khi tuyên xưng: “Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau”, trong kinh Tin Kính chúng ta sắp đọc, niềm tin ấy không chỉ được phát biểu cách máy móc ngoài môi miệng, nhưng sẽ trở nên sức mạnh giúp chúng ta đứng vững trước mọi đau khổ thử thách, ngay cả cái chết.  Đồng thời niềm tin ấy thúc đẩy chúng ta đến với anh em, để góp phần mang lại sự sống dồi dào cho anh em.

R. Veritas.

Trích trong “Niềm Vui Chia Sẻ”

Langthangchieutim gởi

Người Hùng thầm lặng – Nguyễn Đình Ngọc – 4 năm tù giam.

From facebook:  Hoang Le Thanh shared his post.
 Người Hùng thầm lặng – Nguyễn Đình Ngọc – 4 năm tù giam.

Sau một năm ra tòa với bản án …

Image may contain: 1 person, smiling, closeup and indoor
Image may contain: 4 people
Image may contain: one or more people
Image may contain: 2 people

Hoang Le Thanh added 4 new photos.

Nguyễn Đình Ngọc – Người hùng thầm lặng.

Chiều nay 30/3/2016, Báo Lao Động đưa một tít lớn:
Phạt 4 năm tù tác giả Ngọc Già với 22 bài viết chống Nhà nước.

Tham gia đấu tranh bằng ngòi bút trong suốt nhiều năm, nhưng thân thế của blogger Nguyễn Ngọc Già vẫn là điều bí ẩn đối với bạn đọc trong và ngoài nước. Ông là một trong những blogger viết rất đều đặn, với những loạt bài phân tích thời sự chính trị đầy công phu với độ chính xác cao.

Bị bắt giam ngày 27/12/2014, sau hơn 1 năm 3 tháng hoàn toàn không có tung tích, đây là lần đầu tiên hình ảnh của blogger Nguyễn Ngọc Già được xuất hiện trước dư luận.

Blogger Nguyễn Ngọc Già tên thật là Nguyễn Đình Ngọc, sinh ngày 13/2/1966 tại Quảng Nam, là con trai út trong gia đình có 10 người con.

Năm 1996, sau khi hoàn tất chương trình cao học kinh tế tại đại học tổng hợp TP.HCM, ông vào làm việc tại đài truyền hình TP.HCM và giữ chức phó trưởng phòng kế hoạch dự án.

Do bất đồng quan điểm với chế độ CS, năm 2008, ông từ bỏ công việc tại đài truyền hình TP.HCM sau 12 năm công tác.

Ông chuyển sang kinh doanh nhà đất tại Sài Gòn.

Năm 2009, ông bí mật sử dụng bút danh Nguyễn Ngọc Già để phổ biến những bài viết tố cáo tham nhũng – bất công xã hội, đấu tranh cho các tù nhân lương tâm, cổ võ tự do, dân chủ, nhân quyền…

Năm 2013, ông bắt đầu tham gia cộng tác thường xuyên với Dân Làm Báo. Các bài viết của ông đã thu hút sự quan tâm rất lớn, với hàng trăm lời bình luận của độc giả khắp nơi.

Do mức độ ảnh hưởng quá lớn, năm 2014, email liên lạc ẩn danh của blogger này đã nhiều lần bị tấn công, khiến ông liên tục phải thay đổi email.

Ngày 27/12/2014, ông bị CA tiến hành khám xét và bắt khẩn cấp tại nhà riêng, địa chỉ 2EP1-11 (G11-4) Skygarden 1, Khu phố 6, Phường Tân Phong, Quận 7, Sài Gòn.

Trong thời gian giam giữ, người con trai út của ông là Nguyễn Đình Vĩnh Khang đã qua đời do tai nạn khi mới 19 tuổi (Ảnh 4).

Ngày 30/3/2016, trong phiên sơ thẩm kéo dài 2 tiếng đồng hồ, tòa án đã kết án 4 năm tù giam và 3 năm quản chế đối với ông.

Những blogger bị bắt cùng đợt như Hồng Lê Thọ, Nguyễn Quang Lập (Bọ Lập) đã lần lượt được trả tự do và nhận quyết định “đình chỉ điều tra”.

Blogger Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh vừa bị kết án 5 năm tù giam và người đồng sự Nguyễn Minh Thúy nhận bản án 3 năm tù giam. Cả hai đã bị giam giữ từ tháng Năm 2014.

Việt Nam đang là thành viên của Hội đồng Nhân quyền LHQ, nhưng lại vi phạm luật pháp quốc tế bằng những bản án nặng nề. Rõ ràng, Việt Nam vẫn còn thắt chặt tự do ngôn luận và tự do báo chí và không muốn các Bloggers chỉ trích chính phủ.

#NguyenNgocGia, #NguyenDinhNgoc

Ảnh: Ánh mắt cướng nghị của blogger Nguyễn Ngọc Già trước toà án chế độ cộng sản (Lao Động Online).

Lái xe lên làm Chủ tịch Hội đồng khoa học và trách nhiệm Thứ trưởng Toàn?

Lái xe lên làm Chủ tịch Hội đồng khoa học và trách nhiệm Thứ trưởng Toàn?

GDVN

Minh Anh

29-3-2017

Từ lái xe, sau đó đi học thêm tại chức rồi được cất nhắc lên phó, trưởng phòng, giờ đã là Viện phó, Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Quy hoạch miền Nam.

Như Báo điện tử Giáo dục Việt Nam đã phản ánh, ông Đặng Đức Trí, nguyên Giám đốc Cung Triển lãm Kiến trúc, quy hoạch xây dựng Quốc gia “tố” nhiều nội dung liên quan đến ông Nguyễn Đình Toàn, Thứ trưởng Bộ Xây dựng.

Trong đó có vấn đề cất nhắc, bổ nhiệm ông Nguyễn Anh Tuấn từ “lái xe” của Viện, học tại chức rồi lên phó phòng, trưởng phòng… và giờ đang là Phó Viện trưởng Viện Quy hoạch miền Nam, kiêm Chủ tịch Hội đồng Khoa học để đánh giá các đồ án chuyên ngành về quy hoạch.

Trong đơn thư, ông Đặng Đức Trí phản ánh: “Thứ trưởng Toàn “ưu ái” không bình thường đối với ông Nguyễn Anh Tuấn, nay là Phó Viện trưởng Viện Quy hoạch xây dựng Miền Nam”.

“Nhiều người công tác từ thời Viện Kiến trúc, Quy hoạch đô thị nông thôn đến nay đều biết ông Tuấn xuất phát là công nhân của một trung tâm trực thuộc Viện (hồ sơ lưu tại Viện), đã bỏ việc ra ngoài làm, sau một thời gian xin quay lại làm lái xe cho Viện.

Không có bằng cấp chứng chỉ về quy hoạch, kiến trúc, xây dựng, nên ông Tuấn được tạo điều kiện vừa lái xe, vừa “học thêm” bằng kinh tế tại chức để được lên Trưởng phòng Kế hoạch thị trường chỉ trong một thời gian rất ngắn;

Ông Trí cũng cho rằng “Viện Kiến trúc, Quy hoạch đô thị nông thôn hoạt động mỗi năm một xuống dốc – giảm doanh thu, nợ lương, nợ bảo hiểm, … và đặc biệt từ năm 2014 là khủng hoảng nhất khi Viện này tách ra làm 3 Viện.

Mặc dù ông Tuấn chẳng có thành tích nổi trội, nhưng chia tách lại là thời cơ Thứ trưởng Nguyễn Đình Toàn tiếp tục lấy ảnh hưởng của mình để cất nhắc, bổ nhiệm ông Nguyễn Anh Tuấn lên Phó viện trưởng Viện Quy hoạch mới nhưng vấp phải sự phản đối của cán bộ công nhân viên chức của Viện.

Bẵng một thời gian vắng mặt ở Viện Quy hoạch tại Hà Nội, thì bất ngờ ông Tuấn được điều chuyển vào Nam lên chức Phó Viện trưởng Viện Quy hoạch xây dựng Miền Nam.

Ông Tuấn không có chuyên môn, không được học hành bài bản (là lái xe), các văn bằng chứng chỉ chỉ là tại chức, hoặc không được chấp nhận, phải thu lại (tại chức kinh tế, văn bằng thạc sĩ không đạt phải thu lại), thế nhưng dưới sự quản lý của Thứ trưởng Toàn ông Tuấn vẫn ngồi ghế Chủ tịch Hội đồng Khoa học để đánh giá các đồ án chuyên ngành về quy hoạch.

Việc ông Tuấn được làm Phó Viện trưởng kiêm Chủ tịch Hội đồng khoa học là vi phạm nghiêm trọng khoản 2 điều 32 nghị định 08/2014/NĐ-CP ngày 27/01/2014 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật khoa học và công nghệ.

Thứ trưởng Toàn phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật vì để người không đủ trình độ thẩm định các đồ án quy hoạch, chắc chắn sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng cho đất nước”.

Trao đổi trực tiếp với phóng viên Báo điện tử Giáo dục Việt Nam ngày 27/3/2017, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Đình Toàn xác nhận ông Nguyễn Anh Tuấn trước đây là lái xe cho Viện là có thật (thời ông Toàn làm Viện trưởng), còn việc giờ là Chủ tịch Hội đồng khoa học hay không thì ông Toàn không biết.

Ông Toàn thanh minh: “Ông Tuấn được bổ nhiệm làm Viện phó là do Bộ trưởng khi ấy ký quyết định bổ nhiệm, chứ không phải tôi và không phải thông qua ban cán sự.

Còn việc ông này có làm Chủ tịch Hội đồng Khoa học thì tôi không hề biết, đấy là trong nội bộ của Viện, người ta phân công cho nhau”.

Trả lời trên Báo Thanh Niên, ông Ngô Trung Hải, Viện trưởng Viện Quy hoạch đô thị nông thôn Quốc gia xác nhận, ông Nguyễn Anh Tuấn từng làm nhân viên cũ của mình. Ông Hải nói việc bổ nhiệm ông Nguyễn Anh Tuấn kinh qua các vị trí là bình thường.

Liên quan việc ông Tuấn từng bị dừng bổ nhiệm Phó Viện trưởng Viện Quy hoạch đô thị nông thôn Quốc gia, ngày 28/3/2017, ông Trương Trọng Nhàn, nguyên Giám đốc Trung tâm khảo sát xây dựng, cho biết trước khi ông Tuấn được bổ nhiệm làm Viện phó ở phía bắc thì đã có đơn thư phản ánh tố cáo quá trình học hành, bằng cấp của ông này có vấn đề nên Bộ Xây dựng khi đó đã dừng quyết định bổ nhiệm.

Tuy nhiên, sau khi Viện Kiến trúc, Quy hoạch đô thị nông thôn Quốc gia được chia tách thành 3 viện, thì lại bổ nhiệm ông Nguyễn Anh Tuấn vào miền Nam làm Phó Viện trưởng là sai nguyên tắc.

Nếu đã không đủ trình độ chuyên môn và trước đó không bổ nhiệm làm lãnh đạo được thì cũng không thể tùy tiện bổ nhiệm ở một đơn vị khác”, ông Nhàn cho biết.

Theo ông Nhàn, trách nhiệm này thuộc về Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Đình Toàn, đã cố tình nâng đỡ, ưu ái ông Nguyễn Anh Tuấn, bất chấp các tiêu chuẩn chuyên môn.

Cũng trả lời trên báo chí xung quanh đơn thư tố cáo về công tác tổ chức cán bộ của Bộ, ông Nguyễn Việt Hùng, Chánh văn phòng – người phát ngôn của Bộ Xây dựng nói sẽ đề nghị Vụ Tổ chức cán bộ trích xuất hồ sơ trường hợp ông Nguyễn Anh Tuấn và công khai với dư luận.

Báo điện tử Giáo dục Việt Nam tiếp tục thông tin vụ việc.