Anh chị Thụ & Mai gởi
Không thể có phát triển nhờ độc tài
Không thể có phát triển nhờ độc tài
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, qua nhiều chương trình liền, ông thường nhắc tới một nhu cầu là dân quyền và nhân vị trong công cuộc phát triển kinh tế và chế độ độc tài sẽ không thể đem lại thịnh vượng cho người dân. Ý kiến ấy có vẻ như đi ngược với luận cứ của nhiều chuyên gia kinh tế hay thành tích chói lọi của Trung Quốc với một chế độ thiếu dân chủ. Vì vậy, kỳ này xin đề nghị ông giải thích tiếp về nghịch lý đó.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa rằng trong thế kỷ 20 đã có cuộc tranh luận về giá trị của hai mô hình kinh tế đối nghịch. Một là tập trung kế hoạch của các nước cộng sản hai là tự do phát triển theo quy luật thị trường của các nước dân chủ. Kết cuộc thì các chế độ cộng sản độc tài trôi vào khủng hoảng hoặc tan rã từ năm 1991 nên chẳng còn được nhà lý luận nào bênh vực nữa. Nhưng một số người từng đặt niềm tin vào chế độ cộng sản lại tìm ra một lý lẽ khác, từ cộng sản chạy qua xã hội chủ nghĩa. Rằng thế giới có các nước chuyên chế độc tài nhưng được lãnh đạo anh minh sáng suốt để quyết định về việc sung dụng hay phân phối tài nguyên quốc gia nên đạt thành quả phát triển cao.
Hiện tượng được viện dẫn là nhiều nước tân hưng Đông Á chưa có dân chủ thì đã phát triển mạnh. Lớn thì có trường hợp Trung Quốc, nhỏ thì là trường hợp Singapore, Hong Kong, ở giữa thì có Đài Loan, Nam Hàn. Vì nhiều chuyên gia kinh tế quốc tế của Tây phương cũng đồng tình với lập luận ấy cho nên chúng ta cần tìm hiểu sâu xa hơn về sự sai lầm của họ. Kỳ này, tôi xin được nói về chuyện đó, nhất là về trách nhiệm của giới chuyên gia và sẽ phải lần lượt đi từ đầu qua từng bước.
Có một quy luật thực tế ở đây là khi một nền kinh tế đạt mức tăng trưởng vượt bậc, hơn hẳn trung bình của các quốc gia khác, thì sau mươi năm là hụt hơi.
– Nguyễn-Xuân Nghĩa
Nguyên Lam: Nguyên Lam xin được mời ông trình bày sự thể này.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Trước hết, thế giới có nhiều nước nghèo, chậm phát triển hoặc chưa phát triển mà nói cho phũ phàng thì còn chậm tiến. Nhưng các định chế quốc tế vẫn lịch sự gọi đó là các nền kinh tế “đang lên”. Trong lãnh vực kinh tế, có loại chuyên gia quan tâm đến việc phát triển các nước nghèo, ta gọi họ là “chuyên gia phát triển”, chứ không vơ đũa cả nắm mà phê phán mọi chuyên gia. Chuyện thứ ba, với giới chuyên gia phát triển thì nếu một nền kinh tế đạt mức tăng trưởng 6% một năm, như Việt Nam hiện nay, thì đấy là bước đầu của phát triển vì nếu giữ được tốc độ ấy trong 12 năm liền là có thể nâng lợi tức gấp đôi.
Lấy tiêu chuẩn 6% như hòn đá thử vàng, giới chuyên gia phát triển mới đo lường công cuộc phát triển của các nước nghèo và suy ngược lên lý do, là các nước đã có chính sách kinh tế quốc gia thế nào để giữ được đà tăng trưởng trong lâu dài? Trường hợp của bốn nền kinh tế Singapore, Hong Kong, Đài Loan và Nam Hàn được họ coi là mẫu mực. Sau đó họ viện dẫn thêm trường hợp của Trung Quốc rồi của Việt Nam. Yếu tố cần chú ý ở đây là khái niệm “chính sách kinh tế quốc gia”, với hàm ý rằng đà tăng trưởng là do các chính quyền hay nhà nước hoạch định và thi hành từ trên xuống, nghĩa là nhà nước mới giữ vai trò trọng yếu.
Quy luật về kinh tế
Nguyên Lam: Thưa ông, khi cho rằng nhà nước mới giữ vai trò trọng yếu qua chính sách kinh tế quốc gia từ trên ban xuống thì phải chăng các chuyên gia về phát triển vẫn đánh giá sai hai yếu tố kia là thị trường và người dân?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa rằng đấy mới là vấn đề! Đầu tiên, cái tiêu chuẩn 6% ấy thật ra vô giá trị vì nhiều nước nghèo khác cũng từng có chục năm tăng trưởng như vậy, sau đó là suy sụp. Thí dụ như Togo vào quãng 1960, Paraguay vào quãng 1970 hay Oman quãng 1980, rồi Cộng hòa Dominican vào quãng 1990, nước Chad vào quãng 2000 hay Rwanda vào quãng 2010. Ngày nay chẳng còn ai nhắc đến sáu nước bại liệt đó nữa. Lý do ở đây là xứ nào cũng có thể được chục năm tăng trưởng mà không bền vững, và tăng trưởng chưa thể là phát triển.
Sai lầm thứ hai của các chuyên gia về phát triển là cho rằng yếu tố dẫn tới tăng trưởng lâu dài thuộc về chính sách vĩ mô do nhà nước đề ra. Thí dụ như bội chi ngân sách, chế độ kiểm soát giá cả và lãi suất hay mậu dịch, v.v… Lý do sai lầm là vì giới chuyên gia được mời làm tư vấn cho nhà nước về chính sách và tưởng rằng hoặc làm người ta tưởng là nhờ sự cố vấn của họ mà kinh tế đạt mức tăng trưởng trong lâu dài. Sự thật thì nhiều đà tăng trưởng ấy có thể khựng và đảo ngược như các trường hợp nói rên. Nguyên nhân tăng trưởng hay suy thoái có khi chẳng thuộc chính sách kinh tế nhà nước mà vì nhiều yếu tố có tính chất giai đoạn, như sự thăng trầm của giá nguyên nhiên vật liệu, của đầu tư hay viện trợ từ nước ngoài, hoặc thậm chí thiên tai lẫn cả cách đếm sai đà tăng trưởng. Vì thế, Singapore hay Hong Kong cũng có 10 năm ngoạn mục từ năm 2000 tới 2010 nhưng sau đó thì giảm.
Có một quy luật thực tế ở đây là khi một nền kinh tế đạt mức tăng trưởng vượt bậc, hơn hẳn trung bình của các quốc gia khác, thì sau mươi năm là hụt hơi. Đầu năm 1997, các chuyên gia quốc tế vừa ngợi ca phép lạ kinh tế Đông Á thì Tháng Bảy năm đó lại nổ ra vụ khủng hoảng kinh tế với hậu quả là Đông Á bị suy thoái trong bốn năm liền tới độ Nam Hàn còn phải xin Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế cấp cứu. Sai lầm căn bản nhất của giới chuyên gia là nhìn vào chuyện trừu tượng mà quên hẳn số phận của dân nghèo khi sẵn sàng cộng tác với các chế độ chuyên chính độc tài và lại còn nói rằng nhờ sức mạnh của nhà nước thì quốc gia mới dễ phát triển.
Nguyên Lam: Chúng ta bước qua một vấn đề khác, là thưa ông, liệu các chế độ độc tài có ưu thế cao hơn nền dân chủ hay không khi họ đề ra chính sách kinh tế cho toàn dân?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Đấy là huyền thoại nguy hại nhất. Huyền thoại là cái gì đó không thật mà cứ được loan truyền, và trong lĩnh vực kinh tế, các chuyên gia về phát triển ưa loan truyền lý luận tai hại đó. Tôi xin lấy một thí dụ tiêu biểu là công trình nghiên cứu hỗn hợp của Ngân hàng Thế giới và nhà cầm quyền Trung Quốc được công bố năm 2013 mà tiết mục chuyên đề của chúng ta cũng có nhắc tới. Đấy là Phúc trình có tên là “Trung Quốc năm 2030: Xây dựng một Xã hội Hiện đại, Hài hòa và Sáng tạo”.
Sự thật là trong khi Bắc Kinh đàn áp người dân, kiểm soát báo chí thì họ quyết định về các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới và kinh tế gia của họ làm công tác tuyên truyền này. Khi thấy Ngân hàng Thế giới tung ra báo cáo ấy thì người ta tin rằng định chế tài trợ phát triển này xác nhận tương lai sáng láng của Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của một chế độ sáng suốt có đầy ý chí.
Trong khi đó, người ta bỏ qua số phận của dân nghèo trong một quốc gia đầy ô nhiễm và tham nhũng. Đây là một hiện tượng lầm lạc đã có từ lâu và rất khó sửa. Nó đã có từ thời Đặng Tiểu Bình nay tiếp tục với Tập Cận Bình. Sự thật thì kinh tế có thể tăng trưởng nhờ sức dân mặc dù người dân lại là nạn nhân của chế độ độc tài, và ngược lại, chính sách kinh tế của nhà nước độc tài mới dễ gây ra khủng hoảng.
Khó sửa sai
Nguyên Lam: Nhưng thưa ông, vì sao người ta lại khó cải sửa sự lầm lạc như ông vừa nói?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thứ nhất là nhiều người cho rằng chế độ độc tài có khả năng tập trung cao hơn chế độ dân chủ để phát triển quốc gia dù khái niệm phát triển đó chỉ là tăng trưởng mà thôi. Sự thật ở đây là một thống kê u ám. Các lãnh tụ độc tài thường tàn phá quốc gia mà không có thuốc chữa, còn trường hợp tương đối tốt đẹp như lãnh tụ Phác Chính Hy tại Nam Hàn, Lý Quang Diệu của Singapore hay Augusto Pinochet của xứ Chile chỉ là ngoại lệ, là rất hãn hữu. Thứ hai, nhiều người công nhận rằng dù các lãnh tụ độc tài tệ hại nhất có thể tàn phá quốc gia hơn một lãnh tụ dân chủ bất tài nhất thì các lãnh tụ độc tài sáng suốt vẫn có nhiều thành tựu hơn các lãnh tụ dân chủ sáng suốt nhất. Sai lầm thứ hai này mới khó cải sửa vì nó khá mơ hồ.
Sự thật thì kinh tế có thể tăng trưởng nhờ sức dân mặc dù người dân lại là nạn nhân của chế độ độc tài, và ngược lại, chính sách kinh tế của nhà nước độc tài mới dễ gây ra khủng hoảng.
– Nguyễn-Xuân Nghĩa
Thí dụ điển hình gần gũi với Việt Nam là trường hợp Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh là người khởi xướng đổi mới, hay Thủ tướng Võ Văn Kiệt là người tiến hành sau đó, hoặc gần đây hơn nữa là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nhiều tai họa kinh tế phát sinh từ thời lãnh đạo của các nhân vật ấy mà chuyên gia quốc tế không biết, hoặc có biết một cách mù mờ thì tránh nói tới. Sự thật ở đây là ngoài vài trường hợp ngoại lệ, không phải là chế độ độc tài phát triển quốc gia nhanh hơn chế độ dân chủ. Ách độc tài thu hẹp khả năng cải sửa của thị trường và người dân cho nên dân nghèo mới là nạn nhân ở dưới đáy. Hãy hỏi bà con ở miền Trung ngày nay tại Vệt Nam thì biết thế nào là nạn nhân ở dưới đáy vì nhiều quyết định xa xưa của chế độ độc tài.
Trong khi đó, sự thật lịch sử từ bảy tám chục năm qua đều cho thấy là các chế độ dân chủ đã phát triển bền vững hơn. Quan trọng nhất, chế độ dân chủ có khả năng thẩm xét thực tài của giới chuyên gia trong khi chế độ độc tài lại dùng chuyên gia quốc tế làm bình phong cho các chính sách tai hại của họ. Việc Ngân hàng Thế giới hay Công ty tài trợ IFC vừa bị phê phán cho thấy là chính khả năng các chuyên gia quốc tế về phát triển đang bị thẩm xét lại.
Nguyên Lam: Vì thời lượng có hạn cho một đề tài lý thú, Nguyên Lam xin yêu cầu ông đưa ra một kết luận, dù đó có thể chỉ là một kết luận tạm cho một vấn đề quá sâu xa phức tạp.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Khi một chế độ độc tài cho người dân có thêm quyền tự do về kinh tế thì đấy chỉ là một cách dung hợp với yêu cầu của thị trường mà lại được giới chuyên gia phát triển đánh giá là đổi mới hay cải cách. Trong khi đó, chế độ độc tài lại không cho người dân có thêm quyền tự do về chính trị, là trường hợp phổ biến của nhiều nước nghèo, kể cả Trung Quốc hay Việt Nam, thì giới chuyên gia tránh nhắc tới, hoặc còn biện hộ rằng nhờ đó mà có ổn định. Ta rất nên thận trọng với loại chuyên gia ấy khi họ ăn cây nào phải rào cây nấy.
Sự thật quan trọng nhất là công cuộc phát triển nước nghèo phải đi từ dưới lên, từ dân nghèo. Quyền tự do, nhân phẩm hay nhân vị của họ phải là điểm khởi đầu và chính sách phát triển phải ưu tiên nhắm vào họ. Cái chân lý hay “sợi chỉ đỏ xuyên suốt” theo ngôn từ cộng sản, phải xuất phát từ một điều đã được các nước Tây phương xiển dương từ hơn hai thế kỷ trước, rằng “con người ta sinh ra là phải có quyền tự do và được bình đẳng”. Lớp người nghèo khổ nhất không có cơ hội bình đẳng và thiếu tự do chọn lựa.
Chính sách phát triển phải khởi đi từ thành phần bần cùng đó, chứ không từ các giai tầng trên và nhất là không từ lãnh đạo ở chóp bu đã lấy tài nguyên quốc gia nuôi các chuyên gia có nhiệm vụ bảo vệ chính nghĩa đáng ngờ của chế độ. Bản thân tôi thường đọc phúc trình của các chuyên gia này với sự nghi ngờ đó!
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin cảm tạ ông về cuộc phỏng vấn kỳ này.
Kiến nghị về Formosa ‘có hơn 70.000 chữ ký’
Kiến nghị về Formosa ‘có hơn 70.000 chữ ký’
-
29 tháng 3 2017
- BBC

Một thỉnh nguyện thư về việc giải quyết thảm họa Formosa hiện thu thập được hơn 70.000 chữ ký tính đến hôm 29/3 và đặt mục tiêu có 100.000 chữ ký để gửi đến Tổng thống Đài Loan cũng như các tổ chức quốc tế.
Thỉnh nguyện thư do Ủy ban trợ giúp Nạn nhân môi trường biển thuộc giáo phận Vinh đề xuất lấy chữ ký của ngư dân bị thiệt hại được thực hiện từ cuối năm 2016 và gần đây mở rộng lấy chữ ký online tại đây.
“Chúng tôi, những người ký tên dưới đây, là nạn nhân trực tiếp và gián tiếp của thảm họa môi sinh do công ty Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh – một chi nhánh của tập đoàn Formosa Đài Loan – gây ra tại bốn tỉnh miền Trung Việt Nam,” những người khởi xướng kiến nghị viết.
Báo trong nước im lặng vụ Formosa
“Thảm họa cá chết cướp mất nghề nghiệp của hàng trăm ngàn lao động trong các ngành đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thủy sản, dịch vụ hậu cần nghề cá.”
“Các nghề nghiệp liên quan như du lịch, khách sạn, nhà hàng… cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nhiều gia đình lâm vào cảnh túng quẫn do thất nghiệp, nhiều người phải bỏ quê hương xứ sở đi mưu sinh ở những nơi xa. Nhiều trẻ em có nguy cơ rơi vào cảnh thất học do gia đình mất nguồn thu nhập.”
“Chúng tôi rất cần sự hậu thuẫn của các cơ quan quốc tế, cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường lên tiếng bênh vực và có những hoạt động thiết thực để trợ giúp chúng tôi trong thảm họa này…”
‘Có lợi cho nạn nhân’
Hôm 29/3, BBC liên hệ với đức cha Paulus Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Giáo phận Vinh nhưng không nhận được phản hồi.
Cùng ngày, trả lời BBC, Linh mục Anton Đặng Hữu Nam, Giáo xứ Phú Yên, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, nói: “Điểm khác biệt của thỉnh nguyện thư này so với những bản thỉnh nguyện thư trước đây là đã một năm trôi qua nhưng những vấn đề của thảm họa cá chết vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng.”
“Về khoản đền bù cho nạn nhân, tôi được biết chính quyền chỉ mới chi 150 trong số 500 triệu đôla mà họ công bố ban đầu.”
“Bên cạnh đó, việc chính quyền tiếp tục để cho nhà máy Formosa tồn tại, bao che những hiện tượng nước biển một số khu vực tại miền Trung gần đây và không có kế hoạch cải tạo biển là những điều công luận muốn làm rõ.”
Linh mục cũng nói thêm: “Trong việc quảng bá cho thỉnh nguyện thư này, các linh mục không phải là người toàn năng, không thể làm hết được.”
“Điều quan trọng hơn là hoạt động này có lợi cho nạn nhân của Formosa, nên ai có lòng thì giúp đỡ.”
Trong một diễn biến khác, báo Nghệ An hôm 20/3 tường thuật: “Tình hình an ninh trật tự vẫn còn có những vụ việc phức tạp như: một số chức sắc, cực đoan trên địa bàn tiếp tục chỉ đạo, thông báo kêu gọi việc hiệp thông với những người dân bị đàn áp trên đường đi nộp đơn khởi kiện công ty Formosa Hà Tĩnh với nhiều nội dung thông tin sai sự thật, vu cáo chính quyền và các lực lượng chức năng đàn áp nhân dân gây mất trật tự an ninh trên địa bàn”.
Cháy dữ dội trong khu công nghiệp ở Đồng Nai, cột khói cao hàng chục mét
Cháy dữ dội trong khu công nghiệp ở Đồng Nai, cột khói cao hàng chục mét
Vinh danh blogger Mẹ Nấm – Nguyễn Ngọc Như Quỳnh
From facebook: Thuan Chau An Le added 2 new photos.
Đệ nhất phu nhân Hoa Kỳ Melania Trump và Thứ trưởng Ngoại Giao Thomas A. Shannon vinh danh blogger Mẹ Nấm – Nguyễn Ngọc Như Quỳnh cùng 12 phụ nữ khác trên khắp thế giới đã được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chọn là những người được Giải thưởng Những Người Phụ Nữ Quốc Tế Dũng Cảm.
The 2017 awardees are:
Sharmin Akter, Activist Against Early/ Forced Marriage, Bangladesh
Malebogo Molefhe, Human Rights Activist, Botswana
Natalia Ponce de Leon, President, Natalia Ponce de Leon Foundation, Colombia
Rebecca Kabugho, Political and Social Activist, Democratic Republic of Congo
Jannat Al Ghezi, Deputy Director of The Organization of Women’s Freedom in Iraq, Iraq
Major Aichatou Ousmane Issaka, Deputy Director of Social Work at the Military Hospital of Niamey, Niger
Veronica Simogun, Director and Founder, Family for Change Association, Papua New Guinea
Cindy Arlette Contreras Bautista, Lawyer and Founder of Not One Woman Less, Peru
Sandya Eknelygoda, Human Rights Activist, Sri Lanka
Sister Carolin Tahhan Fachakh, Member, Daughters of Mary Help of Christians (F.M.A.), Syria
Saadet Ozkan, Educator and Gender Activist, Turkey
Nguyen Ngoc Nhu Quynh, Blogger and Environmental Activist, Vietnam
Fadia Najib Thabet, Human Rights Activist, Yemen
https://vn.usembassy.gov/20170328-first-lady-melania-trump…/


Nước cả một vùng hồ rộng 10ha bất ngờ chuyển sang màu hồng,
From facebook: Hoa Kim Ngo and 2 others shared Ngoc Duc Nguyen‘s post.




Bà Rịa – Vũng Tàu ngày 27/3/2017, nước cả một vùng hồ rộng 10ha bất ngờ chuyển sang màu hồng, có nơi chuyển sang màu tím và bốc mùi hôi thối. Dòng nước hồng tím này tràn ra một khúc sông, nơi có nhiều dân cư sinh sống.
Biển, sông, hồ nước ta ngày càng bị ô nhiễm. Nơi thì biến thành đen, đỏ. Nơi thì màu tím, màu vàng. Màu xanh của hy vọng, của tương lai đang bị đe dọa trầm trọng. Càng gần đến ngày 6/4, những câu hỏi về một đất nước trong sạch và một chính quyền minh bạch càng trở nên nhức nhói!
Formosa lại xả chất độc ra biển.
Formosa lại xả chất độc ra biển.
Căm giận thằng nào nói tảo nở hoa và ruốt đẻ trứng.
Sao lũ mọi không giở trò ăn cá tắm biển nữa đi, xem lừa được ai?

Triều Tiên: Lịch sử giết người dưới thời cai trị độc tài của gia đình họ Kim
“Nền chính trị hà khắc còn đáng sợ hơn cả hổ dữ”, lịch sử thế giới hiện đại đã để lại vô số câu chuyện minh chứng cho chân lý này, bài viết dưới đây là bức tranh toàn cảnh về lịch sử giết người tại Bắc Triều Tiên dưới thời cai trị độc tài của gia đình họ Kim.

Tại Bắc Triều Tiên chỉ có một kênh truyền hình và đài phát thanh, mọi người chỉ được nghe thông tin tuyên truyền của Nhà nước. Dưới thống trị độc tài của nhà họ Kim, người dân Bắc Triều Tiên bị hạn chế các quyền tự do: tư tưởng, ngôn luận, thông tin, xuất bản, lập hội.
Bắc Triều Tiên hiện nay nằm dưới quyền lực độc tài của Kim Jong-un, từ những tư liệu của nhà đấu tranh chính trị sống lưu vong cũng như của Tổ chức Nhân quyền Quốc tế cho thấy, tại Bắc Triều Tiên dường như thông tin nào cũng bị xem là bí mật quốc gia.
1. Thanh trừng nhau tranh quyền đoạt lợi
Trong tổng số 21 quan chức cao nhất của Chính phủ Bắc Triều Tiên khóa thứ nhất thì đã có 17 người bị ám sát, hành quyết hoặc giam cầm. Từ ngày 3/8/1953, đảng Lao động Bắc Triều Tiên bắt đầu khai đao đối với các quan chức cấp cao trong Đảng, có 14 cán bộ cấp cao bị quy tội làm gián điệp, bị bắt giam, tra tấn, cuối cùng là hành quyết. Trong đó có Bí thư Ủy ban Trung ương, Bộ trưởng Nội vụ, trợ lý Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Văn hóa. Bộ trưởng Ngoại vụ Pak Hon-yong bị xử tội tử hình ngày 15/12/1955, ba ngày sau bị hành hình. Tướng Mu-chong, từng nhậm chức trong Bát Lộ quân Trung Quốc, Tư lệnh Pháo binh Bắc Triều Tiên, tư lệnh liên quân Trung Quốc – Bắc Triều Tiên, bị giết chết năm 1956. Hầu như những quan chức có gắn bó chặt chẽ với Liên Xô hoặc Trung Quốc và ủng hộ cải cách của Khrushchev đều bị sàng lọc. HoKai bị quy tội làm gián điệp cho Liên Xô, Kim Du-bong bị hành hình vì quy tội làm gián điệp cho Trung Quốc; sau đó là nhiều đợt thanh trừng vào các năm 1960, 1967, 1969. Năm 1972, Phó Thủ tướng kiêm Ủy viên Bộ Chính trị Pak Kum-chul bị bắt giam; năm 1977 bắt giam cựu Ủy viên Bộ Chính trị Li Yong-hi. Trong các năm 1978, 1980, 1997, Bí thư Trung ương Đảng So Hwan-hi và và 17 quan chức cấp cao khác bị hành quyết.
2. Nền tư pháp khủng bố
Trong Hình pháp Bắc Triều Tiên có đến 47 Điều liên quan đến xử tội tử hình, chỉ đứng sau Trung Quốc. Với Hình pháp Trung Quốc có khoảng từ 77 – 81 Điều liên quan đến tử hình. Theo tính toán của chuyên gia luật Kang Koo-chin: Thời gian từ 1958 – 1960, ít nhất 9000 Đảng viên bị xử tử sau khi bị khai trừ Đảng. Trong lịch sử tồn tại, chính quyền Bắc Triều Tiên đã tổ chức 9 đợt sàng lọc, theo đó đã hành quyết ít nhất 90.000 Đảng viên.

Liên quan đến vấn đề hành quyết, giai cấp xuất thân là yếu tố quan trọng. Hầu hết quan tòa và luật sư đều làm việc theo lệnh của đảng Lao động Bắc Triều Tiên, tuân thủ nghiêm theo chỉ dẫn của Chủ nghĩa Mác. Lisa Nok là một cán bộ phụ trách vật tư, bị xử 13 năm tù. Cô làm chứng: nhà tù nơi cô bị giam có tổng cộng 6000 phạm nhân, trong đó có 2000 nữ giới, hàng ngày họ bị ép làm nô lệ lao động từ 5:30 đến 12 giờ đêm, những phạm nhân nữ nào có thai sẽ bị ép phải phá thai, nếu lỡ sinh ra sẽ bị ép ngạt thở hoặc cắt cổ họng cho chết.
Tại Bắc Triều Tiên, phạm nhân sẽ làm liên lụy đến cha mẹ và con cái họ. Chế độ dã man này được thực thi từ 1953. Kang Chul-hwan (9 tuổi) bị bắt giam cùng cha, anh trai và ông nội.
Thời gian đầu chính quyền độc tài Bắc Triều Tiên còn cho công khai người bị hành hình, nhưng bắt đầu từ 1984 việc hành hình được thi hành bí mật. Hầu như hiếm có nữ phạm nhân nào bị hành hình trong yên bình, trước đó họ đều phải chịu các hình phạt nhục nhã và dã man. Nhân chứng An Myung-chul nói: Tôi đã chứng kiến họ bị cắt vú, dùng cây lau nhà chọc vào âm đạo. Việc khen thưởng (cho vào Đảng hoặc đi học Đại học) người canh giữ nếu lập công bằng cách bắt được phạm nhân bỏ chạy, đã khiến nhiều kẻ cố tình ép phạm nhân trèo tường bỏ chạy để bắn chết nhằm lĩnh thưởng.
Nhiều người bị bắt bớ một cách bí mật mà không qua trình tự pháp luật. Khi có ai đó bỗng dưng mất tích, người thân và hàng xóm thường lảng tránh bàn luận vì sợ mình liên lụy.
Bắc Triều Tiên còn xây một nhà tù khổng lồ ở Siberia để giam khoảng 220.000 tù nhân, kể từ 1968, mỗi năm hành hình khoảng 36.500 người, trong vòng 46 năm (tính đến 1995) đã hành hình tổng cộng khoảng 1,5 triệu người.
3. Kiểm soát chặt chẽ tư tưởng và đời sống nhân dân
Số đảng viên đảng Lao động Bắc Triều Tiên chiếm 14% dân số cả nước. Ngày 3/1/1996, Đài phát thanh Bắc Triều Tiên tuyên truyền: “Dưới lãnh đạo của đồng chí Kim Jong Il vĩ đại, toàn xã hội đoàn kết thành một thực thể chính trị kiên cố, thống nhất trong mọi hành động”. Các khẩu hiệu khi đó là: “Tư tưởng, phát ngôn và hành vi giống nhau như Kim Il Sung và Kim Jong Il”; “Cùng đoàn kết theo mười nguyên tắc của Đảng”; “Chúng ta phải củng cố uy quyền tuyệt đối của lãnh đạo chúng ta”.

Mọi người dân Bắc Triều Tiên phải tham gia hội nghị phê và tự phê, học tập lý luận hàng tuần. Mỗi người ít nhất phải tự nhận phạm một sai lầm chính trị, phê hàng xóm hoặc đồng nghiệp ít nhất hai sai lầm chính trị.
Cán bộ Bắc Triều Tiên được hưởng đặc quyền vật chất, nhưng cũng phải chịu quản chế nghiêm khắc. Họ phải sống trong một khu vực riêng, bị giám sát các cuộc điện thoại. Truyền hình và đài phát thanh chỉ nghe được thông tin do Nhà nước cung cấp. Các chuyến du lịch phải được chính quyền địa phương hoặc cơ quan công tác phê chuẩn. Mọi gia đình sống tại thủ đô Bình Nhưỡng đều nằm dưới quản lý chặt chẽ của Nhà nước.
Nền chính trị khủng bố luôn gây ảnh hưởng tồi tệ đến tâm hồn con người. Chính phủ Bắc Triều Tiên tuyên truyền ngoài chủ nghĩa Mác-Lênin thì gia đình họ Kim là đại diện cho ý chí của Trời, của Đất, mục đích nhằm chứng minh quyền lực hợp pháp của nhà họ Kim.
Mức độ trung thành với chính quyền được căn cứ theo giai cấp xuất thân và nơi xuất thân, từ 1950 họ phân chia thành 51 loại, dựa vào đó quyết định về mặt xã hội, chính trị, vật chất và tương lai mỗi người. Nhưng sau 1980 chỉ còn lại ba loại chính. Người khuyết tật không được sống tại Bình Nhưỡng, người thành phần gia đình tốt không được kết hôn với người thuộc thành phần gia đình xấu. Người lùn bị bắt giam vào trại tập trung, không những bị cách ly với thế giới bên ngoài mà còn không được sinh đẻ. Kim Jong Il cho biết: “Phải loại bỏ gien người lùn”.
Năm 1959, hàng trăm phụ nữ Nhật Bản theo chồng về Bắc Triều Tiên, cuối cùng không ai được phép trở về Nhật Bản. Nhiều phụ nữ Nhật bị nhốt vào trại tập trung, bị hại chết. Chính quyền Bắc Triều Tiên dùng những người phụ nữ Nhật Bản này làm con tin để đàm phán với Chính phủ Nhật trong vấn đề xin viện trợ lương thực.
4. Hậu quả tai hại của nền chính trị độc tài
Bắc Triều Tiên rơi vào nạn đói từ năm 1994, năm 1996 chỉ sản xuất được 3,7 triệu tấn lương thực, giảm 3 triệu tấn so với 10 năm trước. Tổ chức WorldVision dự tính khoảng 2 triệu người bị hại chết; Hội Chữ thập đỏ Đức ước tính có 10 nghìn trẻ em chết đói mỗi tháng, nhưng quân đội Bắc Triều Tiên thì được chu cấp đầy đủ lương thực.
Chính quyền độc tài họ Kim đã thống trị Bắc Triều Tiên gần 50 năm, trải qua 9 đợt sàng lọc trong Đảng và giết chết khoảng 100.000 đảng viên, khoảng 1,5 triệu người chết trong trại tập trung; khoảng 1,3 triệu người chết vì nội chiến; số người chết đói vào khoảng 500.000 – 2.000.000 người, ngoài ra còn khoảng 400.000 quân tình nguyện Trung Quốc bỏ mạng tại Bắc Triều Tiên và 450.000 người khác bị thương tật.
Nguyễn Đoàn (T/H)
Vì Sao Người Việt Lại Bỏ Xứ Ra Đi? – Ku Búa
Vì Sao Người Việt Lại Bỏ Xứ Ra Đi? – Ku Búa
Mới tuần rồi tôi ra sân bay tiễn một người quen bay đến một xứ khác. Tôi không hề đơn độc. Ở sân bay lúc đó có vô số người cũng làm điều tương tự. Họ tiễn người thân và bạn bè của họ ra đi không hẹn ngày về. Đó không phải là lần đầu và chắc chắn là sẽ không phải là lần cuối. Mặc dù cuộc chiến đã chấm dứt hơn 41 năm rồi nhưng làn sóng xuất ngoại vẫn không thay đổi. Cuộc di cư thầm lặng hiện tại không phải bằng những chiếc thuyền mà bằng những chuyến bay. Tuy đã giảm rất nhiều, giờ chỉ là một phần chút xíu so với trước đây, nhưng xu hướng này vẫn tồn tại.
Đọc báo hay lướt Facebook thì bạn có thể thấy hàng loạt các quảng cáo du học định cư, đầu tư lấy thẻ xanh hay tìm việc làm ở Nhật. Tôi không thể nào không buồn và chạnh lòng. Nhưng vì sao người Việt Nam lại ra đi? Họ không chỉ là những người nghèo bán nhà đi lao động ở Đài Loan hay những cô gái nghèo lấy chồng Hàn Quốc. Số người ngày càng trở nên khá giả và thuộc thành phần ưu tú của xã hội chúng ta. Họ là những doanh nhân, nghệ sĩ, nhà đầu tư, trí thức, giảng viên hoặc nhân viên cao cấp.
Vì sao họ lại ra đi? Có nhiều nguyên nhân, có nhiều lý do. Ở đây tôi không thể nào nói hết. Tôi chỉ có thể nói sơ sơ.
1. Họ ra đi vì họ không cảm thấy an toàn.
2. Họ ra đi vì họ chán cái không khí đầy ô nhiễm ở nơi này.
3. Họ ra đi vì họ cảm thấy mình không được tôn trọng khi đến cơ quan nhà nước làm thủ tục.
4.Họ ra đi vì đóng thuế nhiều nhưng nhận lại quá ít, hoặc chẳng nhận lại gì.
5.Họ ra đi vì họ không muốn con cái họ bị thầy cô dìm và ép.
6. Họ ra đi vì chính phủ liên tục ban hành những bộ luật vô lý.
7.Họ ra đi vì họ phát ngán với việc doanh nghiệp của họ bị thanh tra không lý do.
8. Họ ra đi vì họ lo sợ đồ ăn của họ có an toàn hay không, nó có hóa chất hay sạch hay không.
9. Họ ra đi vì để tìm cái hộ chiếu mà cho phép họ đi nhiều nước mà không cần phải bỏ tiền xin visa.
10. Họ ra đi vì ghét cảnh phải đút lót các y tá bác sĩ khi đi vào bệnh viện.
11. Họ ra đi vì họ không tìm thấy trách nhiệm trong một xã hội vô trách nhiệm.
12. Họ ra đi vì khi họ muốn sống một cuộc sống trung thực và không gian dối.
13. Họ ra đi vì họ muốn làm người lương thiện, vì nơi này làm người lương thiện vô cùng khó.
14. Họ ra đi vì họ muốn được hưởng lương cao, hay nói chính xác hơn là đúng giá trị với sức lao động của họ chứ không phải dựa vào mối quan hệ của họ.
15. Họ ra đi vì luật pháp không hề bảo vệ họ, nó chỉ bảo vệ những ai có tiền.
16. Họ ra đi vì họ muốn tìm sự công bằng.
17. Họ ra đi vì muốn cầm cái lá phiếu bầu để coi nó ra sao.
18. Họ ra đi vì khi họ lên tiếng nói nên những sự thật về đất nước, họ lại bị quy là phản động.
19. Họ ra đi vì họ đã mất niềm tin vào đất nước, con người và chính phủ Việt Nam.
20. Họ ra đi vì họ chẳng biết làm gì hơn trừ việc dùng đôi chân của họ để cất lên tiếng nói.
Việt Nam từ lâu đã không còn là một điểm đến, một nơi đáng sống. Nó chỉ là một trạm dừng chân. Nhà đầu tư đến đây để kiếm tiền, doanh nhân đến đây để nhận lương cao hơn, khách du lịch đến đây để ở khách sạn 5 sao giá rẻ và các cô cậu thanh niên đến đây để khám phá sự thú vị mà đất nước họ không có. Nhưng bao nhiêu người sẽ ở lại và coi nơi đây là nhà? Cũng có rất nhiều, nhưng so với số người ra đi thì là bao nhiêu? Quá ít. Việt Nam không là nơi đến, nó không thể là nơi đến được vì chính những người dân sinh sống ở đây cũng chẳng coi nó là nhà.
Ku Búa @ Café Ku Búa
BÚA ĐẢNG ĐẬP ĐẦU ĐẢNG
From facebook: Hoang Le Thanh and Thành Luu shared Huynh Ngoc Chenh‘s post.

BÚA ĐẢNG ĐẬP ĐẦU ĐẢNG
Tối nay vào face thấy hình ảnh cà phê starbuck bị đập phần lấn chiếm vỉa hè tràn ngập cùng với những lời bình cay nghiệt chửi mắng Đoàn Ngọc Hải là hung bạo, là ngu xuẩn, là hồng vệ binh…rất quen thuộc kể từ khi anh ta vác búa nện tan tành mọi thứ nhô ra vỉa hè trái phép.
Tui chẳng thấy anh ta sai trái gì cả. Những kẻ làm sai cần chửi mắng là những vị lãnh đạo “tôn kính” bất khả xâm phạm từ 75 đến nay, là những kẻ đã đẻ ra anh ta đồng thời đẻ ra cái kiểu quản lý đô thị một cách ngu xuẩn thò ra thụt vào, nâng lên hạ xuống bát nháo như cây mọc trong rừng…
Đó là các ông Nguyễn Văn Linh, Vö Văn Kiệt, Võ Trần Chí, Trương Tấn Sang, Nguyên Minh Triêt, Lê Thanh Hải…những ông từng cai quản thành Hồ để ngày nay nó sinh ra cái quái thai vỉa hè và cái thế hệ vác búa kiểu Đoàn Ngọc Hải.
Những nhát búa đập vào vỉa hè chính là những nhát búa đập vào mặt của những kẻ đã đẻ ra cái quái thai đó.
Hoan hô Đoàn Ngọc Hải. Búa đảng đã đập đúng vào đầu đảng
Cuộc đời có 10 thứ dù con người có muốn cũng đành bất lực
Cuộc đời có 10 thứ dù con người có muốn cũng đành bất lực
Nếu bạn đang cảm thấy phiền não, cảm thấy mất niềm tin vào cuộc sống này, thì hy vọng rằng sau khi bạn biết được 10 điều “bất lực” trong đời người này, bạn sẽ thấu hiểu được nhiều hơn, buông bỏ nhiều hơn, đạt được nhiều hơn.
Trong dòng chảy cuộc đời, thời gian cuốn trôi đi bao thị phi, phiền muộn, bao niềm vui nỗi buồn, cũng như cả tuổi thanh xuân. (Tranh sưu tầm từ Internet)
- Người rời xa bạnCon người đến với nhau vì duyên, ra đi cũng là duyên, không cần quá níu kéo, bởi có níu kéo cũng không giữ được.
Người rời xa bạn, đó là họ đã đánh mất bạn, không phải bạn đã đánh mất họ. Cũng có thể, rời xa là để gặp lại nhau tại một nơi nào đó tốt đẹp hơn.
2. Thời gian trôi qua
Trong dòng chảy cuộc đời, thời gian cuốn trôi đi bao thị phi, phiền muộn, bao niềm vui nỗi buồn, cũng như cả tuổi thanh xuân. Thời gian một khi trôi qua là không thể nào trở lại, vậy nên, việc gì cần làm thì nên cố gắng nỗ lực, đời này, ít nhất là không hổ thẹn với chính mình.
3. Thất bại
Thất bại tựa như một bức tường đổ sụp, nó đè lên thân bạn, khiến bạn không cách nào vùng vẫy, không thở được, khiến bạn mất đi niềm tin. Tuy nhiên, nếu bạn lặng lẽ chấp nhận nó, thì bạn sẽ không cách nào đứng dậy được nữa. Nếu bạn cố gắng đứng lên, bạn sẽ thấy mọi thứ không quá tồi tệ như mình vẫn nghĩ.
4. Không thể lựa chọn xuất thân
Có người sinh ra đã là vua, có người sinh ra là quý tộc, nhưng rất nhiều người sinh ra đã là thường dân. Trên thế giới này, chúng ta có thể thay đổi được mọi thứ, nhưng không thể lựa chọn cho mình được nơi sinh ra, lựa chọn bậc sinh thành.
Từ trong sâu thẳm mỗi người đều có một nỗi cô đơn không sao hiểu được. (Ảnh sưu tầm từ Internet)
- Sự cô đơn không ai hiểu thấuCon người, bất kể là đang vui vẻ hay ưu sầu, cao sang hay hèn mọn, đều có thể bắt gặp cảm giác cô đơn không sao hiểu thấu, nó quanh quẩn trong tâm hồn mỗi người, tựa như đang tìm kiếm ý nghĩa chân thực của đời người.
6. Tình yêu vô vọng
Một loại độc dược rất ngọt ngào gọi là “ưa thích”, cái thích này không có giới hạn, đủ dạng đủ loại, nhưng rốt cuộc ưa thích vẫn là ưa thích, nó không phải là “yêu”.
7. Lãng quên
Nhiều người trong chúng ta cho rằng cả đời sẽ không bao giờ quên đi sự tình, ngay cả những chuyện chúng ta cho rằng không thể quên, rốt cuộc vẫn sẽ bị lãng quên. Cuộc sống vì có kỷ niệm, nên mới có những phút giây hoài niệm. Hãy cứ để mọi chuyện thuận theo tự nhiên, vui với hiện tại là điều nên làm nhất.
8. Quá khứ đã qua
Một giây vừa trôi qua đã trở thành quá khứ. Cuộc sống này, rất nhiều thứ sẽ mất đi, dù muốn hay không cũng nên chấp nhận. Điều duy nhất có thể đọng lại, đó là những ký ức không bị lãng quên.
9. Người khác cười nhạo
Miệng là của người khác, tai là của bản thân mình, nói hay không đó là việc của họ, còn nghe hay không lại là chuyện riêng của mình, chúng ta phải học cách mỉm cười khi đối mặt với tất cả điều này.
10. Không tránh khỏi cái chết
Cuộc sống là một quá trình, và cái chết là điều không thể tránh khỏi. Nếu như đã không tránh khỏi, vậy cứ thản nhiên đối mặt, xem nhẹ nó, chuyện gì đến sẽ đến, như vậy những phút giây tồn tại trên đời này mới có ý nghĩa, mới có thể an nhiên tự tại. Anh chị Thụ & Mai gởi
Để đón nhận sự sống đời đời
Để đón nhận sự sống đời đời
Linh mục Inhaxiô Trần Ngà
(Suy niệm Tin mừng Gioan (Ga 11,3-7.17.20-27.33-45) trích đọc vào Chúa Nhật 5 mùa Chay năm A)
Trong muôn vàn nỗi sợ, thì sợ chết đứng hàng đầu. Thiết tưởng trên đời không có gì làm người ta khiếp sợ cho bằng sự chết. Tin khủng khiếp nhất là tin bị mắc bệnh ung thư, bị án tử hình…
Và không gì đáng quý trọng, đáng khao khát trên đời cho bằng được vui sống, sống trong hạnh phúc và vĩnh cửu.
Sự giòn mỏng của kiếp người
Tuy nhiên, sự sống đời này lại rất mỏng giòn, mong manh, tạm bợ. Các em nhỏ ngày xưa có trò chơi thổi bong bóng thật hay. Các em hòa một ít xà phòng trong ly nước, rồi dùng một cọng rơm nhúng vào đó và bắt đầu thổi. Thế là rất nhiều quả bóng lớn nhỏ khác nhau xuất ra từ đầu cọng rơm, bay nhởn nhơ trong không gian, long lanh hấp dẫn, óng ánh muôn màu. Nhưng rồi, chỉ vài giây sau, bong bóng nầy nối tiếp bong bóng kia, bụp, bụp bụp…! Tan biến hết! Tất cả trở về hư không!
Đời sống con người cũng thế. Chúng ta xuất hiện trên đời như những chiếc bong bóng xuất ra từ đầu cọng rơm, chúng ta nhởn nhơ trong cuộc đời, cuộc đời chúng ta cũng lóng lanh sắc màu như những quả bóng xà phòng kia và số phận chúng ta cũng như những quả bóng bé bỏng đó, kẻ trước người sau nối tiếp nhau từ giã cuộc đời.
Đứng trước thân phận giòn mỏng, phù du của kiếp người, một nhà thơ Nguyễn Công Trứ than rằng: “Ôi, nhân sinh là thế, như bóng đèn, như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao…”
Nhờ đâu có cuộc sống lâu bền?
Ai trong chúng ta cũng khát khao được sống, nhưng là muốn có được một đời sống lâu dài chứ không phải là đời sống giòn mỏng, tạm bợ; muốn có được một đời sống hoan lạc chứ không chỉ là một cuộc sống đầy gian truân khổ ải ở trần gian.
Nhưng làm sao để có được đời sống tuyệt vời như mong ước?
Qua Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su bày tỏ cho chúng ta một bí mật tuyệt vời, một bí quyết giúp chúng ta chiếm hữu cho mình sự sống lâu bền bất tận, một đời sống hoan lạc trên thiên quốc. Bí mật đó, bí quyết đó đã được Chúa Giê-su bày tỏ từ hai ngàn năm qua, khi Chúa nói với Mác-ta là chị của La-da-rô, khi anh này đã được mai táng bốn ngày:
“Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta thì dù có chết cũng sẽ được sống. Và bất cứ ai sống mà tin vào Ta sẽ không chết bao giờ.”
Để minh chứng cho lời mình nói, Đức Giê-su đã làm cho La-da-rô sống lại, dù ông nầy đã an giấc trong mộ.
Qua sự kiện nầy, Chúa Giê-su muốn tỏ cho chúng ta biết Ngài là nguồn ban sự sống.
Như mặt trời là nguồn sáng cho địa cầu thế nào thì Chúa Giê-su là nguồn ban sự sống đời đời cho nhân loại như thế. Ngài đã ban lại sự sống cho người đã chết chôn trong mồ và chính Ngài sau khi chết đã tự mình sống lại.
Làm sao để đón nhận sự sống đời đời từ Chúa Giê-su?
Muốn đạt tới sự sống đời đời, thì chúng ta cần phải tin vào Đức Giê-su Ki-tô, như lời Ngài phán: “Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Ta thì dù có chết cũng sẽ được sống. Ai sống mà tin Ta sẽ không chết bao giờ.”
Nhưng tin là gì? Tin ở đây không phải là tin suông. Vì “đức tin không có việc làm là đức tin chết”. Tin vào Đức Giê-su là gắn bó đời mình với Đức Giê-su, kết hợp với Ngài và sống như Ngài đã sống, là yêu thương phục vụ mọi người như Ngài đã nêu gương…
Lạy Chúa Giê-su là nguồn ban sự sống,
Bóng đèn muốn được toả sáng thì phải được nối kết với nguồn điện;
Cành nho muốn được trổ sinh hoa trái phải được tháp nhập vào thân nho;
Bàn tay muốn sống còn và hoạt động thì phải nối liền với thân thể.
Xin cho chúng con luôn kết hợp với Chúa cách mật thiết, như bóng đèn với nguồn điện, như cành nho với thân nho, như bàn tay với thân thể… để được đón nhận sự sống đời đời do Chúa truyền ban.
Linh mục Inhaxiô Trần Ngà
Anh chị Thụ & Mai gởi



