Cứ 40 Giây Lại Có Một Người Tự Tử, Nhiều Hơn Số người Chết Do Chiến Tranh

Cứ 40 Giây Lại Có Một Người Tự Tử, Nhiều Hơn Số người Chết Do Chiến Tranh

Trên thế giới, cứ 40 giây lại có một người tự tử. Thực tế là, chúng ta có nhiều người chết vì tự tử hơn là do chiến tranh.

Đây là tin tức mới nhất từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) được thông báo hôm thứ Hai (ngày 9/9). Theo thống kê của WHO, treo cổ, đầu độc và dùng súng là những phương pháp phổ biến nhất mà nhiều người sử dụng để tự tử.  Thông cáo viết: “Tự tử là một vấn đề sức khỏe cộng đồng toàn cầu. Mọi lứa tuổi, mọi giới tính và các khu vực trên thế giới đều bị ảnh hưởng”.

Tự tử là nguyên nhân lớn thứ 2 gây tử vong ở giới trẻ trong độ tuổi từ 15 đến 29. Trên thế giới, mỗi năm có khoảng 800.000 người chết vì tự tử – nhiều hơn số nạn nhân chết vì sốt rét hay ung thư vú hoặc chiến tranh.

Cũng theo báo cáo, tại các quốc gia giàu có, số vụ tự tử của nữ giới gần gấp 3 lần nam giới. Trong khi tại các quốc gia có thu nhập thấp, tỷ lệ này gần ngang nhau.

Ảnh: Chabad

Nguyên nhân 

Khi nghiên cứu về các tác nhân có nguy cơ cao dẫn đến hành vi tự tử, các nhà tâm lý học đã nhận ra nhiều căn nguyên như sau.

Nhân tố quan trọng nhất và dẫn đến nguy cơ tự tử cao nhất là các chứng bệnh về tâm lý, những rối loạn tinh thần, chẳng hạn: tâm thần phân liệt, trầm cảm nặng, chứng rối loạn lưỡng cực (lúc thì vui đến phát cuồng, lúc thì buồn đến mức suy sụp tinh thần) hoặc sang chấn tâm lý mạnh.

Tiếp theo là những nguyên nhân do các chứng bệnh về sinh lý, như bị mắc phải các chứng bệnh nan y, bị khuyết tật hoặc bị mất khả năng vận động do tai nạn đột ngột gây ra… Não bộ bị thương tổn, hoạt động kém hiệu quả ở một vài chức năng nào đó cũng dễ dẫn đến việc tự tử. Những thương tổn sinh lý này gây ra thiểu năng trong quá trình nhận thức và ảnh hưởng đến các hoạt động sống, các quan hệ xã hội của người bệnh. Chúng tác động ngược trở lại tới xúc cảm, tình cảm, tâm trạng… của người bệnh, khiến nguy cơ tự tử của người bệnh tăng cao.

Và cuối cùng là những tác nhân thuộc về môi trường xã hội. Các nghiên cứu và thống kê cho thấy, có những trường hợp tự tử xảy ra do những tác nhân, sự kiện bên ngoài, chẳng hạn như bị người yêu chối bỏ, bị thầy cô giáo phạt, bị bạn bè trêu chọc, bị quấy rối, bị lạm dụng tình dục, bị cưỡng hiếp, bị cha mẹ trách mắng, bị mất cha hay mẹ, cha mẹ ly hôn, bị mất việc, bị sạt nghiệp, bị vỡ nợ, bị phản bội… Đôi khi, nhiều thanh thiếu niên tự tử vì một nguyên nhân rất lạ đời, như thần tượng của họ chết hoặc tự tử, dẫn đến việc họ quyết định chết theo.

Giải pháp 

Theo ông Tedros Adhanom Ghebreyesus, Tổng giám đốc của WHO nói: “Các vụ tự tử có thể ngăn cản được”.

Hiện có nhiều bằng chứng quốc tế cho thấy các quy định cấm sử dụng thuốc trừ sâu có mức độ nguy hiểm cao có thể giúp giảm tỷ lệ tự tử ở các quốc gia. Điển hình là Sri Lanka, quốc gia ban hành một loạt lệnh cấm dẫn đến giảm 70% số vụ tự tử và ước tính 93.000 người được cứu sống trong giai đoạn 1995-2015. Tại Hàn Quốc, nơi mà thuốc diệt cỏ được sử dụng nhiều nhất trong các vụ tự sát trong thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, lệnh cấm thuốc diệt cỏ vào năm 2011-2012 đã giúp giảm 50% số ca tử vong.

Tuy nhiên, trên đây mới chỉ là biện pháp cứng thay đổi từ bên ngoài. Đa phần các trường hợp tự tử đều do vấn đề tâm lý tiêu cực, tuyệt vọng của nạn nhân trong môi trường sống hiện đại. Vậy nên, để giải quyết vấn đề này cần đi từ gốc, chính là thay đổi lối tư duy, nhân sinh quan của mỗi người.

Vậy làm sao chúng ta có thể thay đổi?

Thực hành lối sống vừa đủ: Cuộc đời có quá nhiều thứ khiến ta truy cầu; khi cố gắng tranh đấu cả đời mà không được, người ta dễ tuyệt vọng và chán nản. Vậy nên, rèn luyện tư duy vừa đủ giúp người ta không ham muốn quá nhiều mà lại biết cách hưởng thụ cuộc sống hiện tại.

Ảnh: Uyplifestyle

Thực hành thiền định: Từ xa xưa, thiền định đã giúp con người có được sự cân bằng tâm lý và nhận thức đúng đắn, đủ tỉnh táo và nhanh nhạy để giải quyết những vướng mắc trong cuộc sống. Thiền định còn là một liệu pháp thư giãn rất hiệu quả, giúp giải tỏa căng thẳng, không để những cảm xúc tiêu cực tích tụ trong thân tâm gây ra những hệ lụy đáng tiếc.

Hành thiện tích đức và sống chân thành: Khi chúng ta chân thành và luôn đối xử tốt với người khác, cuộc đời sẽ trở nên an yên và đầy ý nghĩa. Cũng nhờ vậy, đau khổ tuyệt vọng tự khắc sẽ rời xa.

Hồng Tâm | ĐKN

Hong Kong không bước đi đơn độc…

Image may contain: 2 people

Võ Hồng Ly is with Võ Hồng Ly.

19.09.2019

Ngày hôm qua, chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ Nancy Pelosi đã tổ chức một cuộc họp báo với các thành viên Hạ viện theo Đảng Cộng hòa lẫn Đảng Dân chủ, cùng với Joshua Wong, Denise Ho và các nhà hoạt động dân chủ Hong Kong khác để ủng hộ “Đạo luật Nhân quyền và Dân chủ Hong Kong năm 2019.”

Bà Nancy Pelosi nói : “Nếu chúng ta không lên tiếng ủng hộ nhân quyền ở Trung Quốc chỉ vì lợi ích thương mại. Chúng ta mất hết thẩm quyền đạo đức để lên tiếng cho nhân quyền ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới,” bà nói. “Vì thế chúng tôi cảm ơn các nhà lãnh đạo dân chủ Hong Kong đã thách thức lương tri không chỉ của chính phủ Trung Quốc mà lương tri của cả thế giới.”

“Chúng tôi sát cánh như một,” anh Wong nói. “Chúng tôi sát cánh trong sự đoàn kết. Hong Kong không bước đi đơn độc. Chúng tôi sẽ tiếp tục cuộc chiến không cân sức này cho đến ngày chúng tôi hưởng tự do và dân chủ.”

(Ảnh: AP Photo/Pablo Martinez Monsivais)
____
Nguồn : https://www.facebook.com/144239423007/posts/10156610158968008?sfns=mo

Sự tiếp nối chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Sự tiếp nối chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Tác giả: PGS, TS VŨ THANH CA

Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo,

Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam

Đăng trên tạp chí Lý luận Chính trị.

Thứ hai, 21 Tháng 12 2015

Sự tiếp nối chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

(LLCT) – Từ năm 1945 đến năm 1976, do những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của Việt Nam, nên đã nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến việc quản lý và kế thừa chủ quyền của Nhà nước Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bài viết phân tích về lịch sử quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trong giai đoạn 1945-1976, góp phần sáng tỏ hơn một số luận điểm chứng minh quá trình thực thi chủ quyền liên tục, hòa bình, tuân theo những quy định của luật pháp quốc tế của Việt Nam đối với hai quần đảo này.

1. Những bằng chứng không thể tranh cãi về sự liên tục thực hiện chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (1945-1976)

Chính quyền Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đã quản lý một cách hòa bình và liên tục hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ít nhất là từ thế kỷ XVII tới nay. Đầu thế kỷ XIX, bằng những thủ tục hành chính thích hợp, nhà Nguyễn củng cố chủ quyền trên các quần đảo. Từ năm 1884, với quy chế bảo hộ Việt Nam, Pháp đã kế thừa nhà Nguyễn, tiếp tục hành xử chủ quyền đối với các quần đảo theo đúng luật pháp quốc tế cho tới năm 1945. Trung Quốc đã chính thức công nhận chủ quyền nêu trên của Pháp thông qua việc ký Hiệp ước Pháp – Thanh vào năm 1887 và Điều khoản bổ sung của Hiệp ước này vào năm 1895. Như vậy, sự liên tục của chủ quyền Việt Nam ít nhất từ đầu thế kỷ XVII cho tới đầu năm 1945 đã được xác định qua các tài liệu lịch sử hiện đang lưu trữ tại Việt Nam và trên thế giới.

Việt Nam liên tục thực hiện chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, được thể hiện qua các chứng cứ và sự kiện:

Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH). Ngày 6-1-1946, VNDCCH tiến hành bầu cử Quốc hội và thông qua Hiến pháp vào ngày 9-11-1946. Căn cứ vào Hiến pháp năm 1946, VNDCCH là một nước độc lập, toàn vẹn lãnh thổ và tuyên bố chủ quyền trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Ngày 6-3-1946, Chính phủ VNDCCH ký với Pháp bản Hiệp định Sơ bộ. Theo Hiệp định này, Chính phủ Pháp công nhận nước VNDCCH là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương, nằm trong khối Liên hiệp Pháp, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Đồng thời, Pháp sẽ rút hết quân khỏi Việt Nam trong thời hạn 5 năm. Sau đó, hai Chính phủ ký Tạm ước Việt – Pháp vào ngày 14-9-1946, với mục đích tạm thời cụ thể hóa Hiệp định Sơ bộ. Do Pháp không thực hiện những thỏa thuận trong Hiệp định Sơ bộ và Tạm ước Việt – Pháp, cố tình gây chiến tranh để tái xác lập chế độ thực dân trên lãnh thổ Việt Nam, chiến tranh giữa VNDCCH và Pháp cùng các lực lượng thân Pháp đã xảy ra vào cuối năm 1946 và kéo dài tới giữa năm 1954, khi Hiệp định Giơnevơ về hòa bình ở Đông Dương được ký kết.

Căn cứ vào Hiệp định Sơ bộ, vì VNDCCH nằm trong khối Liên hiệp Pháp, theo luật pháp quốc tế, trong thời gian từ đầu năm 1946 tới đầu năm 1949 Pháp đã thực thi quyền đại diện để bảo vệ chủ quyền của VNDCCH tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tháng 10-1946, lợi dụng thời điểm VNDCCH đang chuẩn bị toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp, dưới danh nghĩa giải giáp quân Nhật, Trung Hoa Dân quốc đã đưa quân tới chiếm đóng trái phép đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa. Tháng 12-1946, Trung Hoa Dân quốc lại chiếm đóng trái phép đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa. Trung Hoa Dân quốc đã chiếm đóng hai đảo Phú Lâm và Ba Bình cho tới năm 1950.

Từ cuối năm 1946, cùng với sử dụng vũ trang để tiêu diệt Chính phủ VNDCCH, Pháp đã chủ trương thành lập một chính phủ không cộng sản trên đất Việt Nam. Sau rất nhiều thủ tục trung gian, ngày 8-3-1949, Hiệp định Hạ Long được ký kết và Quốc gia Việt Nam (QGVN) thuộc Liên hiệp Pháp được thành lập (theo một số nguồn tư liệu, đến đầu năm 1950 đã có 35 quốc gia công nhận QGVN). Với việc thành lập quốc gia này, Pháp coi như đã chính thức trao quyền quản lý toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho QGVN. Do vậy, vào tháng 4-1949, Hoàng thân Nguyễn Phúc Bửu Lộc, Bộ trưởng Bộ Nội vụ QGVN tuyên bố khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 14-10-1950, dưới sự chủ trì của Tổng trấn Trung phần Phan Văn Giáo, việc quản lý các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được Chính phủ Pháp chính thức bàn giao cho QGVN.

Năm 1949, Pháp đã gửi đơn xin đăng ký ba trạm khí tượng do Pháp xây dựng tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Tổ chức Khí tượng Thế giới và đã được chấp nhận. Các trạm khí tượng này là Trạm Phú Lâm với số hiệu 48859; Trạm Hoàng Sa với số hiệu 48860; Trạm Ba Bình với số hiệu 48419.

Năm 1951, QGVN đã được mời tham dự Hội nghị San Francisco về chấm dứt chiến tranh tại châu Á – Thái Bình Dương và lập quan hệ với Nhật Bản thời hậu chiến. Hội nghị có 51 nước tham gia. Tại Hội nghị, Ngoại trưởng Liên Xô đã đề nghị trao hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc. Đề nghị này đã bị Hội nghị bác bỏ với 46 phiếu chống, 3 phiếu thuận.

Tại Hội nghị, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao của QGVN Trần Văn Hữu tuyên bố: “Việt Nam rất là hứng khởi ký nhận trước nhất cho công cuộc tạo dựng hòa bình này. Và cũng vì vậy cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”(1). Tuyên bố này của Thủ tướng Trần Văn Hữu không bị quốc gia nào phản đối hay bảo lưu.

Trong Hoà ước giữa Trung Quốc và Nhật Bản ngày 28-4-1952, Trung Quốc ghi nhận việc Nhật Bản từ bỏ mọi quyền đối với hai quần đảo như nội dung đã được ghi trong văn kiện Hội nghị San Francisco mà không hề yêu cầu Nhật Bản trả lại cho Trung Quốc hai quần đảo. Việc này là bằng chứng cho thấy Trung Quốc đã gián tiếp thừa nhận tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo tại Hội nghị San Francisco.

Như vậy, trong thời gian từ năm 1945 tới năm 1954, Việt Nam có hai chính phủ và hai chính phủ này đều có chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. VNDCCH là một thành viên thuộc khối Liên hiệp Pháp, được Pháp đại diện để thực thi chủ quyền; QGVN cũng là một thành viên thuộc khối Liên hiệp Pháp, được Pháp chuyển giao chủ quyền và đã khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo. Tuyên bố của QGVN tại Hội nghị San Francisco không có nước nào phản đối và bảo lưu đã là một bằng chứng rất rõ ràng chứng minh rằng Việt Nam đã khẳng định chủ quyền rõ ràng và minh bạch và đã tiếp nhận hai quần đảo này từ Nhật Bản.

Ngày 21-7-1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết. Theo Hiệp định, lãnh thổ nước Việt Nam bị tạm chia thành hai miền: miền Bắc do VNDCCH quản lý, miền Nam do Liên hiệp Pháp và các lực lượng thân Pháp, trong đó có QGVN quản lý. Ranh giới tạm thời giữa hai vùng là vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải). Theo Hiệp định, tổng tuyển cử thống nhất đất nước được tiến hành vào năm 1956.

Năm 1955, sau kết quả trưng cầu dân ý riêng rẽ, Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã phế truất Quốc trưởng Bảo Đại và lên làm Quốc trưởng của QGVN. Sau đó, QGVN tổ chức bầu cử Quốc hội và ban hành hiến pháp, đổi tên QGVN thành Việt Nam Cộng hòa (VNCH) do Ngô Đình Diệm làm Tổng thống.

Bằng cách ký Hiệp định Giơnevơ năm 1954, VNDCCH đã chính thức thừa nhận chỉ quản lý lãnh thổ Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở về Bắc và thực hiện thống nhất đất nước thông qua tổng tuyển cử ở hai miền Bắc và Nam. Tuy QGVN không ký Hiệp định Giơnevơ, nhưng thông qua việc ký kết Hiệp định, VNDCCH đã gián tiếp công nhận QGVN thay mặt Pháp quản lý lãnh thổ Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở về Nam, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Từ 1954 đến 1976, QGVN, sau đó là VNCH, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quản lý một cách hòa bình, liên tục và hiệu quả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo đúng quy định trong luật pháp quốc tế thông qua các sự kiện dưới đây(2):

Tháng 4-1956, Hải quân VNCH tiếp quản nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa từ Pháp.

Ngày 1-6-1956, Ngoại trưởng VNCH Vũ Văn Mẫu tuyên bố tái xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 22-8-1956, Hải quân VNCH đổ bộ quân tiếp quản một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa, dựng cờ và bia chủ quyền.

Ngày 22-10-1956, Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm đã ký Sắc lệnh số 143-NV về việc đổi tên các tỉnh thành miền Nam Việt Nam, quy định Trường Sa thuộc tỉnh Phước Tuy.

Ngày 21-2-1959, 82 lính Trung Quốc đóng giả ngư dân bí mật đổ bộ lên các đảo Hữu Nhật, Duy Mộng và Quang Hòa, đã bị lực lượng VNCH đóng trên các đảo bắt giữ. Ngoài ra, lực lượng VNCH còn bắt giữ 5 tàu đánh cá vũ trang của Trung Quốc. Số lính và tàu này sau đó được trao trả cho Trung Quốc.

Ngày 13-7-1961, Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm ban hành Sắc lệnh số 174-NV sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào xã Định Hải, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

Năm 1963, VNCH đã tiến hành dựng bia chủ quyền trên các đảo Trường Sa (19-5), An Bang (20-5), Thị Tứ – Loại Ta (22-5) và Song Tử Đông – Song Tử Tây (24-5).

Ngày 21-10-1969, Thủ tướng VNCH Trần Thiện Khiêm đã ký Nghị định số 709-BNV/HCĐP “Sáp nhập xã Định Hải thuộc quận Hòa Vang tỉnh Quảng Nam vào xã Hòa Long cùng quận”(3).

Ngày 13-7-1971, Bộ trưởng Ngoại giao VNCH Trần Văn Lắm đã khẳng định lại về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa tại Hội nghị ASPEC Manila.

Ngày 6-9-1973, VNCH ban hành Nghị định số 420-BNV/HCĐP/26 quy định các đảo của quần đảo Trường Sa thuộc xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.

Từ ngày 17-1 đến ngày 20-1-1974, lợi dụng thời điểm chính quyền VNCH rệu rã, suy sụp, Trung Quốc đã tấn công lực lượng hải quân của VNCH và chiếm đóng trái phép phần phía Tây của quần đảo Hoàng Sa. Ngày 20-1-1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra bản tuyên bố phản đối hành động của Trung Quốc. Ngày 14-2-1974, VNCH đã ra tuyên bố phản đối rất mạnh mẽ hành động chiếm đóng bằng vũ lực của Trung Quốc, khẳng định quần đảo Hoàng Sa là một phần lãnh thổ của Việt Nam; các lực lượng của VNCH sẽ tiếp tục cuộc đấu tranh và bằng mọi phương tiện giành lại phần lãnh thổ bị chiếm đóng tại quần đảo Hoàng Sa.

Trong tháng 2 và tháng 3-1974, VNCH liên tục tái khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên các diễn đàn quốc tế và theo các kênh ngoại giao. Đầu năm 1975, Bộ Ngoại giao VNCH công bố sách trắng về những chứng cớ lịch sử và pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và tái phản đối sự xâm chiếm bất hợp pháp của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa. Từ ngày 14 đến 28-4-1975, lực lượng hải quân của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã thay thế lực lượng hải quân của VNCH trên các đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn và Trường Sa. Ngày 30-4-1975, đất nước thống nhất, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được chuyển giao cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quản lý.

Ngày 2-7-1976, thông qua Tổng tuyển cử, hai quốc gia VNDCCH và Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã thống nhất thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ đó đến nay, với tư cách kế thừa quyền sở hữu các quần đảo từ các chính quyền trước, Nhà nước ta tiếp tục duy trì và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

2. Những luận cứ khoa học bác bỏ các luận cứ về chủ quyền của Trung Quốc trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Theo Công ước về kế thừa quốc gia đối với điều ước quốc tế năm 1978(4), có 3 trường hợp làm phát sinh kế thừa quốc gia: kế thừa khi thuộc địa trở thành quốc gia mới độc lập, kế thừa khi có sự sáp nhập hoặc tách rời quốc gia và kế thừa khi chuyển giao một bộ phận lãnh thổ từ quốc gia này sang quốc gia khác. Vì Việt Nam có những thay đổi về chính quyền cũng như tách rời, sáp nhập quốc gia trong giai đoạn 1945 – 1976, cần phải xem xét tới khái niệm quốc gia và xác định những quốc gia trên lãnh thổ Việt Nam trong giai đoạn này.

Theo Công ước Montevideo 1933(5) về quyền và nghĩa vụ của các quốc gia “một quốc gia là một chủ thể của luật quốc tế, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về: có dân cư ổn định, có lãnh thổ xác định, có chính phủ và có khả năng tham gia vào các quan hệ quốc tế” và “sự tồn tại về chính trị của các quốc gia độc lập với sự công nhận của các quốc gia khác”.

Trước năm 1954, trên lãnh thổ Việt Nam có hai chính quyền cùng tồn tại là VNDCCH và QGVN. Cả hai chính quyền này đều tự tuyên bố là chính phủ hợp pháp của Việt Nam và có chủ quyền đối với toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết (7-1954), hai chính quyền thực hiện việc quản lý hai miền Nam – Bắc đất nước Việt Nam. Trên thực tế, cả hai chính quyền đều là hai thực thể chính trị, thỏa mãn các điều kiện để được công nhận là quốc gia: có dân cư ổn định, có lãnh thổ xác định, có chính phủ và có khả năng tham gia vào các quan hệ quốc tế. Như vậy, có thể nói rằng trong khoảng từ năm 1954 đến năm 1975, trên lãnh thổ Việt Nam đã tồn tại hai quốc gia, VNDCCH và VNCH. Cả hai quốc gia này đều tuyên bố về toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và khẳng định mong muốn thống nhất Việt Nam nhưng hành xử của hai quốc gia này khác nhau. VNDCCH luôn tuyên bố nguyện vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nhưng luôn cho rằng việc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là quyền tự quyết của nhân dân hai miền Nam, Bắc và thống nhất đất nước phải được thực hiện thông qua hiệp thương tổng tuyển cử trên phạm vi cả nước.

Trong toàn bộ thời gian tồn tại, cả VNDCCH và VNCH được nhiều nước công nhận, nhưng không có quốc gia nào công nhận đồng thời cả hai quốc gia này. Tuy nhiên, trong lịch sử tồn tại của mình, hai quốc gia VNDCCH và VNCH đã từng được một số quốc gia đề nghị công nhận đồng thời. Ví dụ, tháng 1-1957, Liên Xô đề nghị Liên Hợp quốc công nhận cả hai nước VNDCCH và VNCH làm thành viên. Tuy nhiên, VNDCCH phản đối đề nghị của Liên Xô(6). Ngoài ra, Liên Xô đã hai lần phản đối VNCH gia nhập Liên Hợp quốc vào các năm 1957 và 1958(7). Tháng 8-1975, VNDCCH và Cộng hòa miền Nam Việt Nam đều nộp đơn xin gia nhập Liên Hợp quốc và được 123 nước thuộc Đại hội đồng Liên Hợp quốc bỏ phiếu thuận, không nước nào bỏ phiếu chống, nhưng bị Mỹ phủ quyết. Trung Quốc phản đối Mỹ và tuyên bố rằng hành động của Mỹ là “sự vi phạm toàn diện các quy định rõ rệt của Hiến chương Liên Hợp quốc và các nghị quyết liên quan của Đại hội đồng”. Như vậy, các hành động của Trung Quốc trong giai đoạn 1954 – 1976 đã chứng tỏ rằng Trung Quốc thừa nhận rằng trong giai đoạn này trên lãnh thổ Việt Nam tồn tại hai nhà nước riêng biệt(8).

Như vậy, xét theo luật pháp và thực tiễn quốc tế, mặc dù Hiệp định Giơnevơ chỉ quy định tạm thời chia cắt Việt Nam thành hai miền trong thời gian 2 năm, nhưng thực tế trên lãnh thổ Việt Nam đã tồn tại hai quốc gia, có thể được xem là độc lập, đó là VNDCCH và VNCH. Hai quốc gia này đã thực thi chủ quyền trên các vùng khác nhau của lãnh thổ Việt Nam. VNDCCH thực thi chủ quyền đối với lãnh thổ đất liền và các đảo nằm ở phía Bắc vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải), trong khi VNCH thực thi chủ quyền đối với lãnh thổ đất liền và các đảo, quần đảo nằm ở phía Nam vĩ tuyến 17. Như vậy, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của VNCH.

Hiệp định Giơnevơ quy định Tổng tuyển cử thống nhất đất nước sẽ được thực hiện vào năm 1956, nhưng Chính quyền VNCH đã không tuân thủ Hiệp định. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được chính thức thành lập ngày 20-12-1960 tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành (nay là Tân Biên), tỉnh Tây Ninh. Lực lượng vũ trang của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Từ ngày 6 đến ngày 8-6-1969, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là nòng cốt, cùng với Liên minh các Lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam do Luật sư Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch, lập ra Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Từ tháng 6-1969 tới năm 1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã được hơn 50 nước công nhận và lập quan hệ ngoại giao. Ngay sau khi thành lập, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng là một bên cùng với VNDCCH và VNCH, Mỹ tham gia vào quá trình đàm phán và ký kết Hiệp định Pari về lập lại hòa bình ở Việt Nam năm 1973.

Ngày 30-4-1975, sau khi tiếp nhận sự đầu hàng của Chính phủ VNCH, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố: “Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam hiện nay thực hiện chủ quyền trên toàn vẹn lãnh thổ của mình trên toàn bộ miền Nam Việt Nam, là người đại diện chân chính và hợp pháp duy nhất của nhân dân miền Nam Việt Nam, có đầy đủ quyền hành giải quyết những vấn đề quốc tế của miền Nam Việt Nam”(9).

Thông qua tuyên bố này và việc tiếp nhận sự đầu hàng của Chính phủ VNCH, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã khẳng định Cộng hòa miền Nam Việt Nam chính thức thực hiện quyền kế thừa quốc gia đối với VNCH, đặc biệt là kế thừa chủ quyền của VNCH đối với lãnh thổ miền Nam Việt Nam, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trên thực tế, sau năm 1975, Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã kế thừa lãnh thổ, các cơ quan đại diện ở nước ngoài, tư cách thành viên tại các tổ chức quốc tế. Tất cả những kế thừa này của Cộng hòa miền Nam Việt Nam đều được thực hiện theo đúng tập quán quốc tế và Công ước về kế thừa quốc gia đối với Điều ước quốc tế năm 1978.

Sau Tổng tuyển cử thống nhất đất nước năm 1976, Cộng hòa XHCN Việt Nam đã kế thừa một cách hợp pháp toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo đúng Công ước về kế thừa quốc gia đối với Điều ước quốc tế năm 1978.

Những lập luận trên đây cho thấy rõ ràng rằng, mặc dù không phải Hiệp định Giơnevơ năm 1954 đã tạo ra hai quốc gia trên lãnh thổ Việt Nam như nhận xét của tác giả Giebel(10), nhưng sự tồn tại của hai quốc gia trên lãnh thổ Việt Nam trong giai đoạn 1954 – 1976 là một thực tế lịch sử. Vì hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc phần lãnh thổ do VNCH quản lý, các hoạt động của VNDCCH trong giai đoạn này không ảnh hưởng tới chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Thực tế này cũng giúp giải quyết những băn khoăn của một số nhà nghiên cứu(11) về sự liên tục của chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo.

Từ những bằng chứng lịch sử và pháp lý, có thể rút ra một số kết luận:

Một là, trong khoảng từ năm 1945 tới năm 1954 đã có sự tồn tại của hai thực thể chính trị với tư cách nhà nước trên lãnh thổ Việt Nam. Trong khoảng thời gian từ năm 1954 tới khi thống nhất đất nước vào năm 1976, các thực thể chính trị này đã quản lý hai phần riêng biệt của lãnh thổ Việt Nam và có thể được coi là hai quốc gia độc lập, có chủ quyền đối với phần lãnh thổ quản lý.

Hai là, vì VNDCCH không phải là quốc gia có chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn 1945 – 1976, các hoạt động của VNDCCH trong giai đoạn này không ảnh hưởng tới sự liên tục của chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo này.

Ba là, việc kế thừa quốc gia đối với chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn 1945 – 1976 được thực hiện theo đúng luật pháp và tập quán quốc tế.

Bốn là, việc Trung Quốc chiếm đóng trái phép phần phía Đông quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956, dùng vũ lực chiếm đóng trái phép phần phía Tây Hoàng Sa vào năm 1974 và một số thực thể trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam vào các năm 1988 và 1995 là trái với luật pháp quốc tế và không mang lại danh nghĩa chủ quyền cho Trung Quốc. Vì vậy, những tuyên bố của Trung Quốc về bằng chứng Việt Nam công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong hồ sơ mà Trung Quốc trình lên Liên Hợp quốc ngày 9-6-2014 (12) là không có giá trị.

PGS, TS VŨ THANH CA
Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo,
Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam

Nguồn: Tạp chí Lý luận Chính trị
http://lyluanchinhtri.vn/…/1216-su-tiep-noi-chu-quyen-viet-…

_______________

Chú thích:

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 2-2015

(1) Xem http://vi.wikipedia.org/wiki.

(2) Xem Gendreau M. C.: Chủ quyền trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; Nguyễn Nhã: Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP Hồ Chí Minh, 2003.

(3)Tài liệu lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ quốc gia II, thành phố Hồ Chí Minh.

(4) Xem: http:// legal.un.org/ilc/texts/instruments/English/ conventions/3-2-1978.pdf.

(5) Xem: Công ước Montevideo 1933 về quyền và nghĩa vụ của các quốc gia. Bản dịch Tiếng Việt.

(6), (7) Xem: Thái Văn Cầu: Công hàm 1958 và hai Nhà nước Việt Namhttp:// www.bbc.co.uk/vietnamese/ forum/2013/05/130508_cong_ham_hai_nuoc.shtml, năm 2014.

(8) Xem: Thái Văn Cầu: “Hai Nhà nước Việt Nam và Chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa”, năm 2014.

(9) Xem: Hà Nội Mới, Số 2246, 2-5-1975.

(10) https://www.danluan.org/…/hiep-dinh-geneve-1954-va-hai-quoc… comment-123865, 2014.

(11) Xem: Dương Danh Huy: Đôi gót chân Achilles của chủ quyền. BBC, 2014.

(12) Xem: Letter dated 9 June 2014 from the Chargé d’affaires a.i. of the Permanent Mission of China to the United Nations addressed to the Secretary-General http:// www.un.org/ga/search/view_doc.

NỤ HÔN NỒNG NÀN TÌNH THƯƠNG XÓT

NỤ HÔN NỒNG NÀN TÌNH THƯƠNG XÓT

ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống

Hôm qua có dịp ra phố ghé ngang một sạp báo, tôi tình cờ nghe từ quán cà phê đối diện vẳng ra một giọng hát trong trẻo: “Cao cao bên cửa sổ có hai người hôn nhau.”  Bài hát đã nghe dăm lần bảy lượt qua các phương tiện truyền thông, có chăng chỉ là một cảm nhận về mùa xuân hạnh phúc, thế mà chiều nay bỗng thấy nôn nao khác lạ.  Đó không phải là thứ nôn nao của kẻ độc thân bất chợt thấy mùa xuân bên cửa sổ, rồi tự nhiên tủi về phận mình như Michel Quoist đã ghi trong cuốn sách của ông; cũng chẳng phải thứ nôn nao của những kẻ trên đường phố đang hối hả về nhà dịp nghỉ cuối tuần.  Thứ nôn nao rất lạ mà cũng rất đỗi thân quen.

Đang còn vẩn vơ với cái nôn nao ấy thì cô chủ sạp đã trao cho tôi tờ báo và vui miệng cô hát theo: “Thành phố ơi hãy im lặng cho hai người hôn nhau.”

Tới lúc này, tôi mới vỡ lẽ.  Thì ra mình nôn nao là vì cái nụ hôn.  Không phải của “anh lính về thăm phố với cô gái vào ca ba” như bài hát kể, mà là cái nụ hôn của một người cha dành cho đứa con hoang đàng trở về của bài Phúc Âm.  Giai điệu ấy, nụ hôn ấy quyện lấy nhau và tự nhiêm ngấm vào người tôi trở thành một thứ nôn nao, để hôm nay, xin được trang trải với cộng đoàn như suy nghĩ về trang Tin Mừng.  Đó là nụ hôn của lòng thương xót.

  1. Nụ hôn ấy vượt trên lý lẽ của sự công bình.

Nếu để ý, người ta thấy nếp nghĩ của những người con trong dụ ngôn Tin Mừng là nếp nghĩ vượt trên lẽ công bình.  Làm sao người con thứ dám xin cha mình chia gia tài mà anh gọi là “thuộc về anh” trong khi cha mình sờ sờ còn sống?  Làm sao người con cả lại vùng vằng làm mày làm mặt với cha khi cả đời hầu hạ mà chẳng có lương?  Sẽ là hỗn nếu dựa trên cái tình, nhưng cũng có thể quan niệm được nếu dựa vào cái lý.  Chính nhân danh sự công bình đương nhiên nào đó mà tư cách của hai người con trong dụ ngôn đã được hình thành.

Nhất là việc người con thứ trở về.  Sau những ngày phung phá đến bước đường cùng, đến độ khánh kiệt gia tài, cạn kiệt sức khỏe, anh vẫn còn đủ tỉnh táo để hạch toán nẻo lối tìm về.  Bởi vì dựa trên công bình, anh đã đốt cháy quyền làm con nên không thể được gọi là con nữa.  Bởi vì dựa trên công bình, anh đã tự ý bỏ nhà ra đi ôm theo sản nghiệp nên muốn tìm về phải được cha chấp nhận.  Bởi vì dựa trên công bình, anh chỉ dám coi mình như “người cần việc” tìm đến “việc cần người.”  Nếu anh có gặp cảnh then cài khóa ổ xua đuổi chối từ có lẽ anh cũng phải công bình mà chấp nhận.

Lẽ công bình khó khăn là như thế nhưng nụ hôn của người cha đã hóa giải tất cả.  Nó vượt qua giới hạn của lẽ công bình để rạng rỡ là một nụ hôn của lòng thương xót.  Người cha tha thứ hết.  Không khóa trái đời sống người con thứ vào quá khứ tội lỗi, không niêm phong nhịp đời của anh vào bước đường phóng đãng, nhưng phục hồi quyền làm con như thuở ban đầu.  Người ta không biết ở đâu lẽ công bình dừng lại và ở đâu lòng thương xót khởi đầu, nhưng chỉ biết rằng, bằng nụ hôn ấy sự tha thứ đã vượt lên chiếm lĩnh tiếng nói của lẽ công bình để trở nên nụ hôn của lòng thương xót.

  1. Nụ hôn ấy vượt trên khuôn khổ của nền giáo dục.

Vẫn biết rằng khuôn khổ của tình yêu là một tình yêu không theo một khuôn khổ nào, nhất là tình ấy lại là tình cha, lại là lòng mẹ, cùng lắm chỉ dám ví von như núi cao biển rộng, tựa lai láng của dòng sông và mênh mông của đồng lúa.  Nhưng trong trọng trách giáo dục, người ta cũng phải mặc nhiên chấp nhận một thứ khuôn khổ nào đó.  Chả thế mà ca dao Việt Nam bảo: “Yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi.”  Yêu con không phải là nuông chiều theo ý của con, nhưng là biết cách cho con roi vọt giáo hóa, và ghét con đâu phải chỉ là hằn học mắng la mà nhiều khi lại là những ngọt ngào ghẻ lạnh của một tình thương vắng bóng.

Một trong những châm ngôn nổi tiếng trong bổn phận giáo dục con cái là câu: “Nếu hôm nay không muốn con khóc vì được dạy dỗ, thì coi chừng sẽ phải khóc vì con hư đốn mai ngày.”  Như trường hợp nóng hổi thời sự tại phiên tòa, khi người cha nghe con mình, một thành viên trong băng cướp “quý tử”, bị kết án chung thân đã nhỏ lệ thốt lên: “Tôi đã thiếu trách nhiệm làm cha.”  Cũng là tình phụ tử, nhưng quá muộn màng.

Tình phụ tử cũng cần theo một khuôn khổ nào đó.  Nhưng tình phụ tử trong dụ ngôn đã vượt lên tất cả.  Không có một lời trách móc, không có một lời răn đe, cũng chẳng có hình phạt để mà nhớ đời.  Chỉ có nụ hôn như một minh chứng: Với bản lĩnh của lòng thương xót, người ta vẫn có thể đi xa hơn để yêu con đích thực bằng cách cho ngọt cho ngào.

  1. Nụ hôn ấy không dừng lại nơi cá nhân mà còn lây lan đến cả cộng đoàn.

Đây chính là đỉnh cao của trang Tin Mừng.  Nó mở ra một nhãn giới mới lạ.  Nơi nụ hôn ấy là rạng rỡ lên hình ảnh của một Người Cha: chung cho người con cả và người con thứ, chung cho dân Do Thái và Dân Ngoại, chung cho cả người đã biết Chúa hay chưa biết Chúa.  Nếu “cha chung không ai khóc” theo lẽ thường tình, thì ở đây lại khác, Cha chung này không cần đến tiếng khóc của ai, nhưng lại sẵn sàng cúi xuống với bất cứ tiếng khóc sám hối nào để ban tặng nụ hôn ntha thứ nồng nàn xót thương.  Người Cha chung ấy yêu thương hết mọi người và chẳng bao giờ bỏ quên những trường hợp tội lỗi đáng thưong và bởi đáng thương nên Ngài cũng thương cho đáng với tấm lòng không vơi cạn của mình.

Qua nụ hôn đầu ngõ, Người Cha ấy biến nỗi buồn sám hối trở thành niềm vui tha thứ.  Ngài ban ơn rộng rãi cho những kẻ tìm về với Ngài, rồi nhanh chóng gửi họ về lại gia đình cộng đoàn xã hội trong một nhịp sống mới nồng nàn tình xót thương, để những kẻ được ơn tha thứ hiểu rằng, từ nụ hôn ấy, họ phải minh chứng bằng cả cuộc đời biết phát triển ơn tha thứ, và cũng biết dìu đưa những kẻ còn sa chìm về với lẽ xót thương.  Đó là niềm vui của lòng thương xót, không dừng lại nhưng triển nở sinh sôi, không khép kín cá nhân nhưng mở ra cho hết mọi người.

Tóm lại, ba lý do: vượt trên lẽ công bình, vượt trên nền giáo dục và vượt trên đời sống cá nhân khiến nụ hôn cha – con là nụ hôn của lòng thương xót.  Dẫu có kinh nghiệm về nụ hôn như phần lớn cộng đoàn hay chưa có kinh nghiệm ấy như một số bạn nhỏ, thiết tưởng nụ hôn xót thương của Tin Mừng cũng đọng lại trong ta một thứ nôn nao lạ lạ quen quen.

Khi thấy quen quen, là khi ta đồng hóa mình với người con phung phá tìm về và được tha thứ, trong lời kinh, trong Thánh Lễ, nơi tòa Giải Tội.  Tất cả đều là những nụ hôn thương xót.  Khi thấy là lạ, là khi ta chợt nhận ra vẫn còn lẩn khuất đâu đó trong ta một anh con cả vùng vằng: Chúa đã đối xử với ta bằng tình thương xót còn ta chỉ đối xử với Chúa theo sự công bình, ta không đi hoang lang thang xa đạo, nhưng cách sống của ta biết đâu còn tệ hơn cả chối Chúa công khai.

Và khi thấy chen lẫn quen quen lạ lạ ấy chính là khởi đầu cho một quyết định: bởi tôi đã nhận được ơn tha thứ của Chúa, tới phiên tôi phải sống ơn tha thứ bằng cách bỏ qua lỗi lầm cho anh em; tôi đã nhận lòng xót thương của Chúa, tôi phải phát triển lòng thương xót ấy qua cách sống tốt lành của mình.  Hãy quên đi những phần đời không đáng nhớ khi anh em có lỗi với mình, và hãy nhớ lấy những phần đời không thể quên khi mình đã được Thiên Chúa tha thứ xót thương.

Làm được như thế cũng là lúc ta có thể hát lên: “Thành phố ơi, hãy im lặng cho mọi người hôn nhau.”

ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống

 From: Langthangchieutim

NỮ KHOA HỌC GIA GỐC VIỆT

                                  NỮ KHOA HỌC GIA GỐC VIỆT

         được xếp hạng trong nhóm những KHG có ảnh hưởng nhất thế giới

Tuổi thơ theo mẹ đi khắp nơi để kiếm sống, sang Mỹ thì bị bạn bè chê cười vì không biết tiếng Anh, nhưng Nguyễn Thục Quyên đã vượt qua tất cả và trở thành một trong những nhà khoa học ảnh hưởng nhất thế giới. 

Giáo sư Nguyễn Thục Quyên sinh ra ở Ban Mê Thuật (Đắk Lắk) trong một gia đình thượng lưu gồm 5 anh chị em. Sau năm 1975, cha đi cải tạo, mẹ chị – một cô giáo dạy toán cấp 2, dẫn dắt đàn con đến các vùng kinh tế mới như Phước Lâm, Long Điền, Đất Đỏ, Phước Tỉnh và Vũng Tàu để sinh nhai. 

Lúc 5-6 tuổi, cô bé Quyên phải phụ giúp mẹ dọn dẹp nhà cửa, kiếm củi nấu cơm, đào khoai, câu cá, gánh nước… Cuộc sống cơm áo, gạo tiền cứ đeo bám cho đến năm 1986 khi gia đình mở tiệm phở ở Bến Đá – Vũng Tàu, Quyên mới được đi học ở trường Trung học Trần Nguyên Hãn.

Giáo sư Nguyễn Thục Quyên. 
Ảnh do nhân vật cung cấp.

                                 Nhọc nhằn nơi xứ người

Tháng 7/1991, chị cùng bố mẹ và 5 anh chị đến Mỹ định cư. Hai năm đầu, các anh chị em của chị Quyên cứ đòi về Việt Nam vì không biết tiếng Anh và phong tục tập quán Mỹ. Nhưng chị thấy ổn vì được làm điều mình thích mà không sợ người khác dị nghị. 

“Khi còn ở Việt Nam, gia đình đã vất vả rồi, nên khi sang Mỹ tôi phải cố gắng hơn rất nhiều để có được cuộc sống tốt hơn”, chị Quyên chia sẻ. Để tự khẳng định bản thân nơi đất khách quê người, chị đã quyết tâm học tiếng Anh thật nhanh bằng cách ghi tên ở ba trường trung học tại ba thành phố. Ở Mỹ, tiếng Anh được học miễn phí.

Vất vả với bao tủi nhục khi bị nhiều người coi thường càng khiến chị có thêm động lực vươn lên. 

“Có giáo viên chế nhạo tôi trước cả lớp vì khả năng nói tiếng Anh kém. Một ông người Mỹ còn nói thẳng với tôi hãy về nước của cô đi”, chị nhớ lại và cho biết ở Mỹ vẫn còn một số người phân biệt kỳ thị như vậy.

“Thậm chí có đồng nghiệp lúc ở trường không bao giờ nói chuyện với tôi mặc dù tôi đã cố gắng để nói chuyện với anh ta vài lần”, nữ giáo sư nói.

Tháng 9/1993, người cô họ cho chị ở cùng nhà, nhưng chị phải dọn dẹp, nấu nướng, đi chợ và chạy việc vặt cho cô. Thời gian này, chị xin học ở Đại học Santa Monica nhưng không được nhận vì tiếng Anh kém. Chị đã năn nỉ nhà trường cho học thử một kỳ và hứa nếu không học được sẽ trở về trường trung học để học thêm tiếng Anh. Ban ngày đi học, ban đêm chị tìm lớp học thêm ở trung tâm dạy tiếng Anh miễn phí. Với sự nỗ lực không ngừng nghỉ, cuối cùng chị cũng được nhận vào học. 

Thấy bố mẹ vất vả làm trong nhà hàng và ở hãng may, chị không cho phép bản thân thất bại mà cố gắng gấp đôi, gấp ba so với những bạn cùng trang lứa. Để có tiền học, chị xin làm thêm trong thư viện trường từ 17h đến 22h mỗi ngày, nhưng vẫn không đủ nên phải vay thêm tiền của Chính phủ.

Tháng 9/1995, chị xin chuyển lên Đại học Califonia, Los Angeles và làm thêm trong phòng thí nghiệm với công việc rửa dụng cụ. Chị xin làm nghiên cứu nhưng không có phòng thí nghiệm nào nhận. Sau khi tốt nghiệp bằng đại học Hóa năm 1997, chị nộp đơn học cao học. Chỉ trong một năm chị đã có bằng thạc sĩ ngành Lý – Hóa và quyết định học tiếp tiến sĩ. Thật bất ngờ, cuối năm của chương trình này chị là một 7 nghiên cứu sinh xuất sắc của Đại học Califonia, Los Angeles được trao học bổng.

Tháng 6/2001, chị nhận bằng tiến sĩ và ra trường trước cả những sinh viên chị từng rửa dụng cụ thí nghiệm cho họ trước đây. Ra trường chị đạt giải thưởng xuất sắc ngành Lý – Hóa. Tháng 9/2001, được giải thưởng của liên bang đi tu nghiệp ở phòng thí nghiệm quốc gia nhưng chị từ chối và đến làm ở Đại học Columbia, New York.

Ba năm sau chị bắt đầu làm việc ở Đại học California, Santa Barbara và mất hơn hai năm xây dựng hai phòng thí nghiệm riêng. Sau 11 năm, chị đã có 7 phòng thí nghiệm riêng cho nhóm nghiên cứu. Chị còn xin hơn 10 triệu USD cho những dự án nghiên cứu, được mời tới hơn 200 địa điểm trên thế giới để thuyết trình cũng như nhận nhiều giải thưởng lớn cho công trình nghiên cứu.

“Bạn bè tôi ở Việt Nam vẫn thường bảo hồi ở quê học dốt thế mà sao qua Mỹ học giỏi ghê thế. Tôi trả lời rằng ngày xưa làm gì có thời gian để học vì còn phải phụ giúp gia đình”, vị giáo sư nói.                                                                                   

Pin năng lượng mặt trời làm từ chất nhựa dẫn điện Nghiên cứu 
trong phòng thí nghiệm của giáo sư Nguyễn Thục Quyên. 

Ảnh do nhân vật cung cấp.

                 Những vất vả của phụ nữ khi làm khoa học

Giáo sư Quyên tâm sự, có được ngày hôm nay là nhờ sự dìu dắt của mẹ và người cậu ruột khi hướng cho chị đi theo con đường tốt nhất có thể. Trong khi bố cho rằng, con gái thì nên lấy chồng, không cần học, thì mẹ ngược lại. Chị còn nhớ ngày học xong lớp 12, chị đã xác định sẽ ở nhà và tính chuyện lấy chồng, nhưng mẹ vẫn đưa chị lên Sàigòn để thi đại học. 

“Mẹ đưa tôi lên Sàigòn ở nhà bà ngoại để thi đại học, nhưng tôi không muốn. Lớn lên và học ở trường làng tôi thấy ở tuổi 18 người ta đã lấy chồng và có con rồi”, chị nói.

Người cậu đã gọi chị đến nói chuyện hơn hai giờ, với mục đích khuyên chị đi thi và cố gắng vào đại học. 

“Tại sao có cơ hội như vậy mà cháu lại từ chối. Học đại học sau này cháu sẽ có công ăn việc làm ổn định, có sự nghiệp, nếu lấy được người tốt thì không sao…”, chị kể lại lời ông cậu. 

Lớn lên, người chị hâm mộ đó là bà Marie Curie, bởi thời đó khoa học gia là nữ rất ít. Bà chính là tấm gương vượt khó để chị tiếp tục cố gắng cho nghiên cứu khoa học.

Hơn 11 năm làm việc ở Đại học California, Santa Barbara, chị làm khoảng thời gian 15 tiếng mỗi ngày. Bên cạnh việc giảng dạy, chị còn làm nhiều công việc khác như biên tập báo khoa học, tổ chức hội nghị khoa học quốc tế, xin tiền dự án nghiên cứu trả lương, học phí, và bảo hiểm y tế cho sinh viên (mỗi nghiên cứu sinh tốn khoảng 100.000 đôla mỗi năm), hướng dẫn sinh viên làm nghiên cứu, giúp sinh viên viết bài đăng báo, làm trong ban xét lên lương và lên chức cho tất cả giáo sư trong trường, ban tuyển dụng giáo sư… 

Chị chia sẻ, làm khoa học đã khó nhưng phụ nữ trong lĩnh vực này càng vất vả hơn, bởi ngoài sự nghiệp, họ còn phải lo cho gia đình. Ngay bản thân chị, dù đã cố gắng rất nhiều nhưng đôi khi vẫn không nhận được sự tôn trọng của đồng nghiệp nam giới. 

“Cũng may tôi có người chồng tâm lý và thông cảm, anh dạy hóa hữu cơ cùng trường, luôn hỗ trợ nên tôi có thêm động lực để giảng dạy và nghiên cứu”, nữ giáo sư nói.

“Phần đông mọi người nghĩ con gái thì nên lo cho chồng con, dọn dẹp nhà cửa và không nên có sự nghiệp riêng. Tôi muốn cho những người phụ nữ khác biết là họ có thể làm cả hai. Tôi muốn làm những điều hữu ích cho xã hội”, chị nói.

Chị vẫn còn nhớ như in thời điểm bắt đầu vào học trong trường. Lúc đó chị xin vào phòng thí nghiệm nhưng không được vì nhiều người nghĩ chị không thể làm được điều gì và khuyên rằng “nghiên cứu không dễ dàng và không phải ai cũng làm được. Bạn nên tập trung để học tiếng Anh đi”. Mãi sau này, có vị giáo sư thấy chị có những câu hỏi hay trong lớp nên khuyến khích theo đường nghiên cứu. Biết được tin này chị rất vui vì từ bé đã thích tìm tòi những điều mới.

Đầu năm 2004, chị đi phỏng vấn ngành hóa ở một số trường đại học. Chị cũng rất sợ vì những trường này ngành hóa rất ít hoặc không có nữ giáo sư. 

“Con đường đi đến thành công ở Mỹ không phải dễ dàng vì quốc gia này thường thu hút nhà khoa học hàng đầu trên thế giới nhưng bản chất người Việt Nam thông minh và chăm chỉ”, vị giáo sư nói và cho rằng có công mai sắt có ngày nên kim. 

                                   Thích về Việt Nam

“Tôi nhớ Việt Nam lắm. Nếu có thời gian là tôi về ngay, bởi hiện nay anh em họ hàng, nhất là ông cậu – người đặt viên gạch đầu tiên trong cuộc đời khoa học của tôi vẫn ở quê hương”, nữ giáo sư tâm sự.

Lần đầu tiên chị và mẹ về Việt Nam là năm 1999 để thăm bà ngoại trong 3 tuần. 9 lần về nước ngoài dự hội nghị khoa học, chị dành thời gian để thăm gia đình.

Chị cho biết, thời gian 21 năm sống ở Việt Nam, chị nhớ món ăn thuần túy Việt Nam và các bài hát Việt, nên lần nào về nước chị cũng nhờ cậu mợ dẫn đi xem ca nhạc. 

“Tôi thích nhạc dân ca như bài Quê hương, Ai đưa con sáo sang sông”, chị nói. 

Khi hỏi ý định về Việt Nam sinh sống, chị nói : “Có lẽ khi nào về hưu tôi mới về nước, vì quê hương vẫn chưa có đủ cơ sở vật chất điều kiện tốt để tôi có thể nghiên cứu”, chị nói và cho biết 7 phòng thí nghiệm riêng của chị trị giá khoảng 4 triệu đôla.

Bên cạnh giải thưởng là một trong những nhà khoa học ảnh hưởng nhất thế giới ngành khoa học vật liệu, chị còn nhận nhiều giải thưởng khác như:

– Giải thưởng Nghiên cứu khoa học Alexander von Humboldt-Foundation của Đức năm 2015; 
– Giải thưởng Nghiên cứu khoa học của Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ 2010, 
– Giải thưởng Nghiên cứu khoa học của Alfred P. Sloan Foundation 2009; 
– Giải thưởng Nghiên cứu khoa học của Camille Dreyfus Foundation 2008; 
– Giải thưởng Nghiên cứu khoa học Harold J. Plous Memorial Award and Lectureship 2007.

Phạm Hương

Từ : Minh Hoang & An Truong

Đà Nẵng: Cử tri bức xúc việc người Trung Quốc đứng tên đất ven biển

Trí thức Việt Nam
Cử tri cho rằng người Trung Quốc đứng tên đất ven biển tại Đà Nẵng là một thực trạng rất đáng lo ngại.

“Người Trung Quốc rót tiền mua đất là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng sốt đất, khiến nhiều người dân làm việc cả đời cũng không mua được một lô đất. Một tỷ đồng không mua được, họ sẽ bỏ ra 2 tỷ, 3 tỷ để mua đất thông qua người Việt mình” – cử tri Hồng nói.

CUỘC SỐNG

Đội trưởng cứu hỏa New York trong vụ khủng bố 9/11 trở thành linh mục. Câu chuyện khiến nhiều người Mỹ rơi lệ.

Lúc 8 giờ 46 phút ngày 11 tháng Chín, 2001, chiếc Boeing 767 gồm 11 thành viên phi hành đoàn, và 81 hành khách trong đó có 5 tên không tặc, khởi hành từ Sân bay Quốc tế Logan ở Boston, để đến Sân bay Quốc tế Los Angeles đã đâm vào mặt phía bắc của Tòa Tháp Đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới, giữa các tầng 93 và 99.

Cha Mychal Judge, tuyên úy của lính cứu hỏa thành phố New York chạy ngay đến hiện trường. Ông Rudolph Giuliani, thị trưởng thành phố New York, kể lại rằng ông đã xin cha Mychal cầu nguyện cho thành phố và các nạn nhân khi thấy ngài không ngại hiểm nguy chạy đi chạy lại cử hành các nghi thức sau cùng cho những người đang hấp hối và cầu nguyện cho các thi thể nằm trên đường phố. Trong khi đó, một cảnh tượng kinh hoàng vẫn tiếp tục diễn ra. Nhiều người ở trên các tầng lầu cao không còn đường thoát thân lao ra từ các cửa sổ.

Trong khi cảnh tượng kinh hoàng vẫn đang tiếp diễn, lúc 9 giờ 03 phút, một chiếc Boeing 767 khác của hãng hàng không United Airlines, chở 9 thành viên phi hành đoàn và 56 hành khách, trong đó có 5 tên không tặc, khởi hành từ Sân bay Quốc tế Logan ở Boston, để bay đến Sân bay Quốc tế Los Angeles, lại đâm vào mặt phía nam của Tháp phía Nam của Trung tâm Thương mại Thế giới, giữa các tầng 77 và 85.

Lúc 9:59 sáng, tòa tháp này sụp đổ. Các mảnh vỡ đã bay qua tháp phía Bắc, giết chết nhiều người trong đó có cha Mychal Judge đang xức dầu cho những người hấp hối.

Chứng kiến cái chết của cha Mychal Judge và các đồng đội mình, đội trưởng lính cứu hỏa của sở cứu hỏa thành phố New York, Tom Collucci đã suy nghĩ rất nhiều và cuối cùng quyết định trở thành một linh mục Công Giáo.

Xin kính mời quý vị và anh chị em nghe chính cha Tom Collucci giải thích về bước ngoặt này trong đời mình, qua lời dịch của Như Ý.

Cha Tom Collucci kể lại như sau:

“Vào ngày 11 tháng Chín, 2001, mặt trời chiếu sáng rực rỡ trên bầu trời trong xanh của thành phố New York. Tôi cảm thấy nhẹ nhàng sau một ca trực tại sở cứu hỏa và đang trên đường trở về nhà nghỉ ngơi, thì tôi được nghe về các cuộc tấn công khủng khiếp. Cảnh sát và lính cứu hỏa được gọi đến hiện trường.

Tôi quay xe ngược trở lại thành phố và trình diện ở sở cứu hỏa. Chúng tôi lấy các thiết bị và hối hả lao xuống xa lộ West Side để đến hiện trường.”

Lúc ấy Tom Collucci là một đội trưởng lính cứu hỏa của sở cứu hỏa thành phố New York.

Cha Tom Collucci kể tiếp:

“Chúng tôi chạy đến Tháp phía Nam và bắt đầu đào bới trong đống đổ nát tìm kiếm bất cứ thi thể và cố gắng cứu sống các nạn nhân hết sức có thể. Khi chúng tôi còn đang ở hiện trường, tòa tháp thứ hai sụp đổ.”

Tom Collucci bàng hoàng chứng kiến tận mắt các đồng đội của mình hy sinh như thế nào cùng với vị tuyên úy của họ là cha Mychal Judge.

“Chiếc xe cứu hỏa Ladder 3 của chi khu cứu hỏa phía Đông Manhattan bị những khối đá khổng lồ đổ xuống. Tôi đã từng đi trên chiếc xe cứu hỏa ấy một vài lần khi tôi còn phục vụ ở bên Manhattan. Tôi biết rõ từng người lính cứu hỏa bị giết trong ngày đó.”

“Chúa ở đâu trong ngày đó?

Tôi cho rằng hình ảnh ấn tượng nhất tôi có thể nghĩ đến là cách nhiều người phản ứng trước cảnh tượng này. Có các lính cứu hỏa, cảnh sát, các nhân viên cấp cứu, bác sĩ, y tá và đông đảo người chạy đến cứu giúp tại hiện trường. Tất cả họ đều lao vào cứu giúp. Mọi người nói ‘Chúa Kitô ở đâu trong cái ngày này?’ Những người chạy đến cứu giúp tại hiện trường này chính là nhiệm thể của Chúa Kitô! Chúa Kitô hiện diện nơi tất cả những người này, tất cả những người chạy đến trong ngày đó. Chúa ở cùng chúng ta trong đau khổ và nỗi buồn sầu của chúng ta. Tôi nghĩ chính là Chúa, là Thánh Thần của Người đã giúp nâng đỡ chúng ta vượt qua thảm kịch, đào bới trong đống đổ nát cả hàng 9 tháng, tham dự các nghi lễ an táng, chia sẻ những đau khổ và nỗi buồn biến cố này gây ra. Do đó, tôi xác tín rằng Thiên Chúa chắc chắn ở cùng chúng ta trong ngày đó.”

Vì thế, đội trưởng lính cứu hỏa của sở cứu hỏa thành phố New York, Tom Collucci, quyết định trở thành một linh mục Công Giáo.

Cha Tom Collucci giải thích về quyết định của ngài như sau:

“Tôi đã chứng kiến sự tồi tệ nhất của nhân loại trong ngày đó. Nhưng tôi cũng được chứng kiến điều tốt đẹp nhất của nhân loại trong ngày này. Tôi cho rằng điều này linh hứng cho tôi trở thành một linh mục vì tôi thấy nơi thảm kịch này rằng chúng ta dự phần trong một điều gì đó lớn hơn cái thế giới nhỏ bé của chúng ta. Tất cả chúng ta đều liên hệ với nhau trong một gia đình nhân loại rộng lớn. Có điều gì đó lớn hơn, có một mục đích khác trong cuộc đời này. Vì thế, tôi nghĩ rằng tôi muốn làm điều gì đó nhằm giúp đỡ cho nhiều người, một số đông người. Tôi luôn nghĩ đến việc trở thành một linh mục nhưng cần một điều củng cố quyết định của tôi hơn nữa để trở thành một linh mục. Tôi đã được thụ phong hai năm trước đây và thật là một cuộc sống tuyệt vời. Tôi tạ ơn Chúa vì tất cả ơn lành mà người đã ban cho tôi khi từ người lính cứu hỏa cứu giúp người chuyển sang một linh mục cứu giúp các linh hồn. Trong công việc của một người lính cứu hỏa cũng như sứ vụ của một linh mục, chúng ta giúp những người đang cần. Ở sở cứu hỏa, người ta gọi chúng tôi cả ngày lẫn đêm, chúng tôi chẳng bao giờ hỏi họ là ai. Chúng tôi chỉ đơn giản là chạy đến, đáp ứng và giúp họ. Điều đó cũng như vậy đối với một linh mục.”

Image may contain: 1 person, smiling

ĐỪNG ĐỔ HẾT LỖI CHO GIỚI TRẺ!

Lê Vi
ĐỪNG ĐỔ HẾT LỖI CHO GIỚI TRẺ!

– Mạnh Kim

Phản ứng dư luận trên mạng xã hội trước sự kiện biểu tình Hong Kong là sự so sánh một cách máy móc giữa giới trẻ Hong Kong với giới trẻ trong nước. Thật ra gần như không có bất kỳ điểm nào khả dĩ đối chiếu, theo từng “hạng mục” – từ giáo dục, nếp sống đến môi trường chính trị… – để có thể so sánh. Ngay cả giới trẻ khu vực cũng khác biệt từ nền tảng căn bản khiến khó có thể so với giới trẻ Hong Kong, huống hồ thanh thiếu niên Việt Nam.

“Quý vị có nghe cháu nói không?” – Greta Thunberg hỏi 150 nghị sĩ và cố vấn trong Hạ viện Anh. Cô gái nhỏ gõ vào micro. Cô lại hỏi. “Các cô chú có nghe những gì cháu vừa nói không? Tiếng Anh của cháu nghe ổn chứ ạ?”… Thunberg là một hiện tượng. Cô học trò 16 tuổi người Thụy Điển này đang là nhà hoạt động xã hội nổi tiếng toàn cầu. Tháng 12-2018, cô nói chuyện tại Hội nghị biến đổi khí hậu LHQ ở Ba Lan; tháng 1-2019, cô thuyết trình trước nhiều tỷ phú tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos (Thụy Sĩ). Tiếp đó, Thunberg bay sang London trong một tour diễn thuyết và gặp Đức Giáo hoàng. Chiến dịch đánh động nhận thức về tác hại của tình trạng biến đổi khí hậu, từ sự “xách động” của cô gái 16 tuổi, đã mang lại một hiệu ứng hưởng ứng dữ dội: ngày 15-3-2019, 1,6 triệu người tại 133 quốc gia – hầu hết sinh viên, học sinh – đã rủ nhau xuống đường để cùng lên tiếng.

Ngày 17-9-2019, nhà hoạt động Hoàng Chi Phong cùng các bạn mình dự một phiên điều trần trong Quốc hội Mỹ và sau đó tiếp xúc loạt nhân vật hàng đầu chính giới Hoa Kỳ. Hình ảnh Hoàng Chi Phong xuất hiện đầy mạng xã hội, với những “chú thích” quen thuộc: “Coi giới trẻ Hong Kong kìa; thật xấu hổ và nhục nhã cho giới trẻ Việt Nam!”. Tuy nhiên, điều gì đã “tạo ra” những Greta Thunberg hoặc Hoàng Chi Phong trong khi Việt Nam chỉ có những thanh niên xuống đường “đi bão” mừng chiến thắng bóng đá? Cần đặt ngược lại một câu hỏi quen thuộc: nếu Greta Thunberg hoặc Hoàng Chi Phong sinh ở Việt Nam thì liệu họ có thể trở thành những nhà hoạt động đang góp phần thay đổi thế giới và định hình nên một thế hệ mới của thế kỷ 21?

Vấn đề cần quan tâm thật ra không phải là hình ảnh cá nhân của Greta Thunberg hoặc Hoàng Chi Phong mà là môi trường nào đã tạo ra những nhân vật tài không đợi tuổi, mà ảnh hưởng của họ không chỉ đánh động nhận thức ở “người lớn” đối với những vấn đề lớn lao mà thế giới đang đối mặt. Từ chính họ, họ cũng đang gián tiếp đưa ra một thách thức mà “người lớn” ít thấy: “người lớn” cần làm gì để có thể tạo ra một xã hội có nhiều hơn những phiên bản Greta Thunberg và Hoàng Chi Phong khác.

Hoàng Chi Phong bắt đầu trở thành “thủ lĩnh” từ năm 14 tuổi, khi thành lập tổ chức “Học dân tư triều” (Scholarism – lấy cái sự học đích thực làm tôn chỉ), nhằm phản đối chủ trương “cộng sản hóa” hệ thống giáo dục Hong Kong. Chỉ một câu trong chủ trương mới, nói về Đảng Cộng sản Trung Quốc – “Tấn bộ, vô tư dữ đoàn kế đích chấp chánh tập đoàn” (nhóm lãnh đạo thống nhất trên tinh thần tiến bộ và vô tư) – đã đủ để khiến Hoàng Chi Phong bất bình và bỏ hết tất cả thú vui tuổi thiếu niên để ra đường kêu gọi xã hội thức tỉnh trước nguy cơ không chỉ giáo dục mà cả hệ thống chính trị Hong Kong bị “đỏ hóa”.

Trong khi đó, cái gọi là “tấn bộ, vô tư dữ đoàn kế đích chấp chánh tập đoàn” ở Việt Nam đã không chỉ ăn sâu bám rễ trong chủ trương giáo dục mà nó còn biến giới trẻ trở thành những sản phẩm chính trị được đúc khuôn “sản xuất” hàng loạt. Giới trẻ Việt Nam không biết họ đã bị tước mất những gì. Từ lớp một đến khi tốt nghiệp đại học, thanh thiếu niên Việt Nam không bao giờ được bàn về chính trị, tự do ngôn luận và bầu cử dân chủ. Trong khi trong trường học Hong Kong, thầy cô giáo khuyến khích học sinh thảo luận chủ đề Hoàng Chi Phong, về biểu tình dân chủ, về quyền biểu đạt, thì “chính trị” trong nhà trường Việt Nam là chính là thứ mà người Hong Kong đang phản kháng quyết liệt: “yêu nước” đồng nghĩa với trung thành tuyệt đối với đảng cầm quyền.

Các “sinh hoạt chính trị” đối với thanh thiếu niên Việt Nam là sinh hoạt đoàn thể dưới sự dẫn dắt của tổ chức Đoàn và Đội, trong đó, ngoài những hoạt động vui chơi tập thể vô thưởng vô phạt thì là các cuộc thi “học tập theo gương Bác”. “Trách nhiệm” đối với đất nước của thanh niên trong đất nước cộng sản Việt Nam không phải là xây dựng nên nhận thức dưới ánh sáng dân chủ mà “phải được hiểu” là “ra sức gìn giữ cho bằng được những thành quả cách mạng vĩ đại, mỗi thanh niên Việt Nam phải sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh cao cả của thế hệ cha anh, xứng đáng với sự tin yêu và kỳ vọng của Đảng, Bác Hồ và của cả dân tộc Việt Nam” (trích phát biểu của Nguyễn Đào Phương Thúy, sinh viên năm IV, ĐH Luật TP.HCM, dịp 30-4-2015).

Nhận thức gì và như thế nào luôn là kết quả của những “thực phẩm” được cung cấp để nuôi nó. Giới trẻ Việt Nam đang là nạn nhân. Không thể đổ hết lỗi lên đầu họ. Nhận thức của họ sẽ khác đi một khi họ được “nuôi” bằng những “thực phẩm” khác, mang hàm lượng và giá trị của một xã hội có tự do và dân chủ đích thực. Hành động của họ sẽ khác một khi họ được sống trong môi trường có nhiều không gian tư duy và hành động hơn. “Bây giờ tôi đang nói cho cả thế giới nghe!” – Hoàng Chi Phong nói, trong một trả lời phỏng vấn báo chí. Chừng nào giới trẻ trong nước có một đại diện được ra nước ngoài nói cho “cả thế giới nghe” về ước vọng dân chủ cho quê hương mà không bị nhà cầm quyền ngăn cản?

Thế hệ trẻ Việt Nam không phải không có người tài. Đã có những doanh nhân trẻ, nhà nghiên cứu trẻ, vận động viên trẻ và cả “nhà chính trị” trẻ. Tuy nhiên, với chính trị, “chính trị gia” trẻ chỉ có thể thành công nếu thuộc thành phần con ông cháu cha, còn không, có một chỗ khác dành cho họ: nhà tù. Trong một mô hình cai trị (hệt như Trung Quốc) được thiết kế bằng sự đe dọa và trấn áp tinh thần, cả xã hội đều bị tác động, không chỉ riêng giới trẻ.

Thế hệ trẻ Việt Nam thật ra không hoàn toàn thờ ơ đề tài chính trị. Mạng xã hội đang dần tạo ra nhận thức khác với “đường lối và chủ trương” mà đảng cầm quyền muốn. Thay vì “nguyền rủa” giới trẻ và chỉ trích sự “vô ý thức và vô trách nhiệm” của họ, “người lớn” có lẽ nên nhận lãnh một phần trách nhiệm. Giới trẻ là nạn nhân của chế độ nhưng để chế độ nhấn chìm và làm đen kịt nhận thức giới trẻ thì đó là lỗi của “người lớn”. Có bao giờ “người lớn” chúng ta, ngồi trên bàn ăn gia đình, nói chuyện với con cái rằng chúng đang bị chế độ tước đi mất những quyền gì, hay là chỉ hỏi chúng những câu quen thuộc “hôm nay đi học được bao nhiêu điểm”? Có bao giờ “người lớn” mang đề tài Hoàng Chi Phong ra nói với con mình, hoặc kể cho nó biết có một cô bé Greta Thunberg 16 tuổi đang làm chấn động thế giới?

Trong chiếc hộp với diện tích được cái “tấn bộ, vô tư tập đoàn” cho phép, giới trẻ chỉ có thể tư duy trong khuôn khổ cái hộp và hành động quanh quẩn trong cái hộp. Nhà trường, mô hình thu nhỏ của một phần chế độ cai trị, đang tước đi sự sáng tạo và cảm hứng tuổi trẻ, đang làm “phi chính trị” hóa trong nhận thức từ thế hệ trẻ này đến thế hệ tiếp theo. Điều đó, cho đến thời điểm này, là chưa thể thay đổi. Tuy nhiên, tạo ra những chiếc hộp khác để giúp giới trẻ có được không gian tư duy độc lập rộng hơn là điều có thể làm được. Điều đó cần bắt đầu từ chính “người lớn”, trong từng gia đình, và cần ngay bây giờ.

– Greta Thunberg (Getty Images)
– Nhóm vận động Hong Kong gặp Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ Nancy Pelosi một ngày sau phiên điều trần Quốc hội 17-9-2019 (ảnh từ trang twitter của bà Pelosi)

…..

Vấn đề này đã có viết một lần, xin mời xem lại:
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=10158218630604796&set=a.10151549756699796&type=3&theater

Image may contain: 6 people
Image may contain: 8 people, people standing and suit

CHẦM CHẬM CHẾT

CHẦM CHẬM CHẾT

Ở Mỹ có ông bác sĩ nổi tiếng thế giới về chữa trị nhiễm độc. Ngày kia có một ông bị nhiễm độc đến gặp bác sĩ để khám bệnh. Sau khi khám xét kỹ lưỡng, bác sĩ bảo:
“Chất độc đã thấm vào tới xương. Cần phải mổ banh thịt ra rồi nạo rửa xương mới khỏi được!”
Bệnh nhân rụt rè:
“Mổ vậy có đau lắm không bác sĩ?”
“Dĩ nhiên khi mổ thì gây mê rồi nên bệnh nhân không biết gì, nhưng khi tỉnh dậy cũng sẽ thấy đau. Đó là việc không thể tránh được!”
Bệnh nhân lại hỏi:
“Không có cách gì chữa lành mà không phải mổ sao bác sĩ?”
Ông bác sĩ nhìn bệnh nhân hồi lâu rồi đáp:
“Bệnh của ông nặng lắm rồi, cần phải chữa gấp. Để lâu nữa thì vô phương. Ông có thể uống thuốc để cầm cự, nhưng không sống được bao lâu.”
Bệnh nhân lưỡng lự rồi xin bác sĩ cho toa để mua thuốc uống chứ không chịu mổ. Trước khi bệnh nhân ra về, ông bác sĩ hỏi:
“Ông có phải là người Việt Nam không?”
Bệnh nhân đáp:
“Đúng. Sao bác sĩ hỏi thế?”
Ông bác sĩ cười cười:
“Tôi cũng đoán thế. Người Việt Nam chọn chết từ từ hơn chịu đau một lần để trị cho hết bệnh!”
Fb Ngo Du Trung

Image may contain: one or more people

NHƯ PHIM ‘NGÀY TẬN THẾ’

Minh Tiến 

Trên thế giới không nước nào làm được…

Image may contain: 3 people, people standing, shoes and outdoor
Image may contain: one or more people, shoes and outdoor
Image may contain: one or more people, sky, plant, shoes, cloud, tree, outdoor, nature and water
Image may contain: one or more people, people standing, sky, tree, child, bridge, outdoor and nature
Image may contain: outdoor
+2
Lê Huỳnh Long Ân

NHƯ PHIM ‘NGÀY TẬN THẾ’

Tuyến đường tránh Hồ Chí Minh đoạn chạy qua địa bàn huyện Chư Sê, chỉ dài 10,8 km được đầu tư đến 250 tỷ, vừa hoàn thành chưa kịp bàn giao đã nứt toác, sụt lún tan tành như vùng chiến địa vừa bị B-52 rải thảm chỉ sau một trận mưa rào.

Được biết đây là tác phẩm của Công ty cổ phần 471 Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

https://nld.com.vn/…/duong-tranh-250-ti-dong-vua-hoan-thanh…

TỘI PHẠM NGƯỜI TQ – MỘT ĐẠI HOẠ CHO VN, HẬU QUẢ CỦA HIỆP ƯỚC DẪN ĐỘ VN-TQ 2015?

Trần Bang is with TranBang Jos and 7 others.

TỘI PHẠM NGƯỜI TQ – MỘT ĐẠI HOẠ CHO VN, HẬU QUẢ CỦA HIỆP ƯỚC DẪN ĐỘ VN-TQ 2015?

Hơn một tháng qua, tội phạm người TQ, đã lộng hành, liên tục, giật cấp; báo hiệu một đại hoạ cho đất nước!

*Xin lược chứng:
– Ngày 1/8/ 2019, bắt giữ và trao trả 395 người TQ, tổ chức đánh bạc, tại Hải phòng, số tiền lên tới 10.000 tỉ đồng.

– Ngày 6/8 phá vụ án nhóm người TQ, sản xuất ma tuý, tại Đắc Hà, Kon Tum, bắt giữ, trao trả 22 người, thu giữ 13 tấn hoá chất.

– Ngay 11/8, ba người TQ, giết tài xế taxi ở Bắc Giang, vứt xác xuống sông Đà, bị CA Sơn La bắt giữ, trao trả cho TQ.

– Ngày 27/8, bắt giữ, trao trả 28 người TQ, điều hành sàn chứng khoán giả, tại Móng Cái, Quảng Ninh.

– Ngày 11/9, bắt giữ 6 người TQ và 2 kho hoá chất để sản xuất ma tuý, tại Quy Nhơn, Bình Định.

– Ngày 14/9, bắt 5 người TQ, trả tiền để giao cấu với trẻ em Việt (tuổi vị thành niên), quay clip sex, tại Sơn Trà, Đà Nẵng, đưa lên mạng TQ.

– Ngày 16/9, CA.TP. Vinh, Nghệ An, bắt giữ, 3 người TQ, làm giả 333 thẻ ATM và đã rút tiền hàng trăm triệu đồng.

– Ngày 17/9, CA, Q2, TPHCM, triệt phá đường dây cho vay nặng lãi, của 6 đối tượng người TQ.

– Ngày 17/9, CA Q. Ngũ Hoành Sơn, Đà Nẵng bắt giữ và trao trả 34 người TQ, thuê nguyên KS, tổ chức thao túng chứng khoán qua mạng…

Trước đó, đã vô vàn đối tượng người TQ, phạm tội, mọi lúc, mọi nơi; mọi chiêu thức, thủ đoạn.

Ví như: sử dụng Công nghệ cao, giả danh Cảnh sát, để lừa đảo. Buôn bán ma tuý, buôn bán người, bán vàng giả, hàng giả, trộm cắp xe máy, trộm tiền. Vv…

Càng ngày, chúng càng lộng hành, rộng khắp, tinh vi, hiểm độc…

Thế nhưng, rất nghịch lý, trớ trêu: phía VN chỉ phạt hành chính tượng trưng, rồi tha bỗng về nước. Bởi, cái gọi là Luật dẫn độ, đã ký với TQ ngày 7/4/2015 và Quốc hội nước này, đã phê duyệt ngày 26/8/2019 (theo luật, người TQ, phạm tội ở VN, được trao trả cho phía TQ, tự xử lý).

Tội phạm người TQ, đang tàn phá đất nước là có thật. Việt Nam tha bỗng tội phạm người TQ là có thật. Chủ quyền đất nước, bị xâm hại là có thật. Luật dẫn độ, phía TQ, thông qua Quốc hội, phía VN, không thông qua Quốc hội, là có thật.

Tất cả đều là sự thật- một sự thật cay đắng!
—-

*Bài viết của TS. Nguyễn Quang Cương

*Ghi chú: Nhân dân, lãnh thổ Hồng Kông, đã vùng lên đấu tranh, cũng vì dự luật dẫn độ, tương tự. ( FB Bảo Nhi Lê)

Image may contain: 1 person, smiling, text

Rửa tiền và sửa thống kê

Rửa tiền và sửa thống kê

Nguyễn Xuân Nghĩa
2019-09-18
Ảnh bìa của Global Finacial Integrity

Ảnh bìa của Global Finacial Integrity

 Ảnh chụp qua màn hình

Theo Tổ chức Liêm chính Toàn cầu, Việt Nam nhận được dòng tiền phi pháp lớn nhất trên thế giới vào năm 2015, với con số bất ngờ là 22 tỷ 456 triệu đô la Mỹ. Năm 2015 cũng là khi Thủ tướng Hà Nội có quyết định rà soát lại số thống kê khiến đầu Tháng Chín, Tổng cục Thống kê đã nâng Tổng sản lượng GDP thêm hơn 25%. Vấn đề không chỉ có vậy vì theo báo cáo của các tổ chức quốc tế, Việt Nam đứng dưới mức trung bình toàn cầu về tự do kinh tế và tự do cá nhân nhưng có hạng mục cao về tham nhũng. Diễn đàn kinh tế sẽ tìm hiểu mấy chuyện này….

Tổ chức Liêm chính Toàn cầu

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu cùng Nguyên Lam xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, Hoa Kỳ có một tổ chức bất vụ lợi tên là Global Financial Integrity mà ta có thể dịch là “Tổ chức Liêm chính Toàn cầu”, từ năm 2008 đã khảo sát dòng tiền ra vào các nước đang phát triển để phát giác nghiệp vụ chuyển tiền phi pháp. Sau khi khảo sát tình hình của 148 nước đang phát triển trong giai đoạn 10 năm, từ 2006 tới 2015, họ ngạc nhiên về trường hợp Việt Nam, là nước đứng đầu thế giới về dòng tiền phi pháp vào năm 2015 với ngạch số là gần 22 tỷ rưỡi, tính bằng đô la. Ông nghĩ sao về chuyện này?

https://secureservercdn.net/45.40.149.159/34n.8bd.myftpupload.com/wp-content/uploads/2019/01/GFI-2019-IFF-Update-Report-1.29.18.pdf?time=1568380020

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Tôi xin phép nhìn rộng ra ngoài trước khi nói chuyện đó. Quốc tế có nhiều tổ chức vẫn khảo sát tình hình kinh tế xã hội của các nước, như mức độ tự do kinh tế, dân chủ chính trị và sự thanh liêm của các nước, v.v…. Sở dĩ như vậy vì người ta thấy ra mối quan hệ giữa mức sống của người dân với các quyền tự do kinh tế, dân chủ chính trị hay sự liêm chính, ít bị tham nhũng của bộ máy nhà nước. Tôi lấy thí dụ là Viện Cato, Sáng viện The Heritage Foundation và tờ Wall Street Journal tại Hoa Kỳ hay Transparency International tại Đức mà ta có thể dịch là Tổ chức Minh bạch Quốc tế.

Lãnh đạo Hà Nội đừng nên mặc cảm và nói phét với dân về chủ nghĩa Mác-Lênin vớ vẩn mà kiểm lại 12 tiêu chuẩn củaThe Heritage Foundation  để tiến hành cải cách thì khỏi tụt hậu so với các nước láng giềng.
-Nguyễn Xuân Nghĩa

– Ở đây, tôi nghiệm thấy ba chuyện. Thứ nhất, các tổ chức ấy xuất hiện từ khá lâu tại các nước công nghiệp hóa, nhưng lại nhắm vào mục đích thăng tiến về kinh tế và pháp chế cho người dân tại các nước đang phát triển nên họ áp dụng và cải tiến kỹ thuật thăm dò để phản ảnh thực tế cho chính xác với nội dung cảnh báo.

– Thứ hai, các nước độc tài thì chẳng thể nào có được loại tổ chức thiện chí như vậy và rất phản cảm với các công trình khảo sát ấy. Thứ ba, sau khi đổi mới kinh tế và giao tiếp với bên ngoài, Việt Nam cũng đã được khảo sát, nhưng vẫn ở mức quá thấp về tự do kinh tế, tự do chính trị mà lại quá cao về tham nhũng, như ở hạng 117 trong 180 nước được Tổ chức Minh bạch Quốc tế khảo sát năm 2018.

Nguyên Lam: Theo như ông nghĩ, vì sao các nước giàu lại lập ra những tổ chức như vậy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Trước khi trở thành giàu có, các quốc gia đó cũng là loại chậm tiến, lạc hậu, nghèo đói và gặp nạn bất công xã hội, thậm chí cách mạng và tàn sát. Nhưng sau nhiều thế kỷ canh tân, họ dần dần tìm ra chìa khóa của phát triển để thành quốc gia tiên tiến. Rồi họ nghĩ rộng ra ngoài và chia sẻ kinh nghiệm với các nước nghèo khả dĩ thế giới hợp tác với nhau trong điều kiện tôi xin gọi là “tối hảo” là tốt đẹp cho mọi người. Các nước đi sau đã tiến khá nhanh về kinh tế nhờ kinh nghiệm của các quốc gia tiên tiến. Nhưng đấy mới chỉ là lượng, chưa có phẩm, nếu thiếu cơ chế luật lệ nhằm phát huy quyền tự do kinh tế, chính trị, sự công bằng trong một xã hội không bị tham nhũng hay ô nhiễm môi sinh đục khoét. Cũng theo chiều hướng này, Liên Hiệp Quốc đã lập ra “Chỉ số Phát triển Nhân loại” hay Phát triển Con người là Human Development Index để bao gồm các yếu tố ngoài lợi tức, như tỷ lệ biết chữ hay tuổi thọ, v.v…

– Trong các nước đã phát triển, loại tổ chức vô vụ lợi như chúng ta vừa nói được lập ra và hoạt động nhờ đóng góp tài chính tự nguyện của người khác nên có thể tuyển mộ chuyên viên có khả năng thực hiện các công trình nghiên cứu và khảo sát. Các tổ chức ấy không kiếm lời nhờ hoạt động thiện nguyện. Cái lời nếu có là về uy tín nhờ giá trị chuyên môn của việc nghiên cứu và về lý tưởng tự do, công bằng mà họ ấp ủ và muốn chia sẻ cho người khác.

Vì sao Việt Nam vẫn nghèo?

Nguyên Lam: Theo như Nguyên Lam hiểu thì mức thành công về kinh tế của các nước tùy thuộc vào quyền tự do chọn lựa và giao dịch của người dân trong một khuôn khổ công khai, minh bạch và bình đẳng. Phải chăng đấy là ý nghĩa của tiêu chuẩn “tự do kinh tế” và thưa ông, Việt Nam đứng hạng quá thấp về tiêu chuẩn này nên vẫn là một nước nghèo?

Nguyên TBT đảng CSVN, Nguyễn Phú Trọng (phải) sống ttrong cảnh xa hoa khi đã về hưu.
Nguyên TBT đảng CSVN, Nguyễn Phú Trọng (phải) sống ttrong cảnh xa hoa khi đã về hưu. File Photo

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Chỉ số này do The Heritage Foundation lập ra từ 25 năm qua gồm 12 tiêu chuẩn như quyền tư hữu, khả năng của hệ thống tư pháp, sự liêm khiết của bộ máy công quyền, gánh nặng thuế khóa và quyền tự do lao động, v.v… Từng nước có thay đổi theo thời gian và Việt Nam đã khá hơn so với 20 năm trước. Nhưng theo không gian thì Việt Nam dưới mức trung bình toàn cầu, thậm chí còn dưới Trung Quốc và điều ấy cũng phần nào giải thích vì sao dân Việt vẫn còn nghèo nếu so sánh với các nước nghèo đã trở thành tiên tiến như Nam Hàn hay Đài Loan.

– Tôi nghĩ lãnh đạo Hà Nội đừng nên mặc cảm và nói phét với dân về chủ nghĩa Mác-Lênin vớ vẩn mà kiểm lại 12 tiêu chuẩn này để tiến hành cải cách thì khỏi tụt hậu so với các nước láng giềng.

Nguyên Lam: Trở lại báo cáo của tổ chức Liêm chính Tài chính Toàn cầu, theo đó Việt Nam đã có dòng tài chính phi pháp lên tới hơn 22 tỷ đô la khi sản lượng kinh tế vào thời đó mới chỉ ở khoảng hơn 200 tỳ, ông có những nhận xét gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Tai hại vô cùng vì cho thấy bộ máy hành chính công quyền bất lực và có quá nhiều viên chức bất lương nên mới để xảy ra chuyện đó.

– Kẻ gian trục lợi bất chính có nhiều lý do, kể cả rửa tiền và nhất là rửa tiền của Trung Quốc chảy vào Việt Nam. Nhưng hiện tượng ấy đã có từ lâu, nay sẽ gia tăng vì trận thương chiến giữa Hoa Kỳ với Trung Quốc. Ngoài ra, kẻ gian còn có thể chuyển tiền từ Việt Nam ra ngoài rồi sau khi rửa sạch thì đầu tư ngược vào trong nước để nhà nước có những thống kê khoe khoang.

– Hậu quả chung là những con số không đáng tin về Tổng sản lượng GDP, là nạn bất công xã hội vì nhà nước bị thất thâu về thuế nên mắc nợ, thiếu ngân sách  cho các mục chi xã hội như giáo dục và y tế, hoặc các dự án xây dựng hạ tầng trong khi các đại gia tỷ phú ở trong và ngoài đảng mặc sức phe phẩy tung hoành. Giữa các chỉ số tồi tệ về kinh tế và xã hội Việt Nam, việc Tổ chức Liêm chính Tài chính Toàn cầu GFI công bố kết quả khảo sát vào đầu năm nay phải làm Hoa Kỳ chú ý và nên làm các viên chức của Hà Nội tỉnh giấc mộng du về chủ nghĩa Mác-Lênin.

Thống kê Việt Nam: một chút lạc quan!

Nguyên Lam: Trong nhiều chương trình trước đây, ông đã nói về hiện tượng thiếu khả tín, không đáng tin, của thống kê Trung Quốc. Theo như ông nghĩ, liệu rằng Việt Nam có thoát khỏi tình trạng đó hay không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Lần đầu tiên tôi hơi lạc quan một chút về Việt Nam!

– Thống kê của Trung Quốc không đáng tin vì bị bảy bệnh ung thư. Thứ nhất, quốc tế thiếu am hiểu địa dư hình thể xứ này nên không thấy họ có ba nền kinh tế khác biệt trên một lãnh thổ rộng lớn bằng lãnh thổ Hoa Kỳ, chứ không chỉ có vùng duyên hải là nơi các doanh nghiệp quốc tế đầu tư để kiếm tiền. Quốc tế không nhìn ra thực tế nghèo nàn lạc hậu của một khu vực bát ngát bên trong.

So với nước láng giềng hung hiểm tại phương Bắc thì bệnh thống kê sai lạc của Việt Nam vẫn chưa đến nỗi nào và còn có thể sửa được, nếu lãnh đạo Hà Nội muốn sửa. Việc cần sửa đầu tiên là nên học cách nói thật, cho chính mình biết được tật bệnh ở đâu!
-Nguyễn Xuân Nghĩa

– Thứ hai, quốc tế đánh giá sai mâu thuẫn rất lớn và thật ra rất cổ điển giữa trung ương và địa phương tại Trung Quốc nên không thấy rằng vì lý do chính trị cải cách là điều khó. Quốc tế cho rằng chế độ độc đảng toàn trị có ưu điểm là muốn làm gì cũng được là điều ông Tập Cận Bình đang thấy là sai vì có nhiều điều mốn làm mà chưa được!

–  Bệnh ung thư thứ ba, nhiều doanh nghiệp đầu tư che giấu sự thất bại của họ mà cố quảng cáo về triển vọng Trung Quốc với các thân chủ ủy thác tiền đầu tư vào xứ này. Loại gian ý như vậy không phải là hiếm nếu chúng ta nhớ lại vụ khủng hoảng tài chánh sau khi thị trường gia cư Hoa Kỳ bị bể bóng cách nay 12 năm.

– Thứ tư, nhiều trung tâm nghiên cứu hay think tanks không dám nói thẳng về sự thật vì sợ phản ứng của lãnh đạo Bắc Kinh khiến họ khó ra vào Trung Quốc để trở thành “chuyên gia về Trung Quốc” về nhà lỏe bịp người khác.

– Thứ năm, trong số này, không thiếu gì người thực tin vào lý luận tuyên truyền của Bắc Kinh, vì vậy, số liệu giả tạo của Trung Quốc cứ được họ loan truyền mà khỏi kiểm chứng. Và truyền thông nông cạn lại tin vào “sự khách quan” của họ.

– Thứ sáu, khá chuyên môn, giới học giả Hoa Kỳ và Âu Châu thiếu kiến thức về kinh doanh và kế toán nên chẳng thấy nạn sản xuất dư thừa không là tăng sản lượng mà chỉ là chất lên tồn kho ế ẩm được tài trợ bằng một núi nợ. Họ không tin Trung Quốc mắc nợ nhiều như vậy khi vẫn sản xuất từng núi hàng vô dụng, có các trung tâm thương mại vắng khách, nhiều khu vực gia cư sụt giá từ mấy năm nay.

– Bệnh ung thư sau cùng là nhiều trí thức thiên tả Tây phương luôn luôn tin vào vai trò của nhà nước. Họ tưởng là vì nhà nước Bắc Kinh có toàn quyền nên có khả năng quản trị cao hơn nhà nước Tây phương. Những vụ khủng hoảng tài chánh tại Âu Châu hay tranh luận chính trị tại Hoa Kỳ ngày nay càng củng cố lập luận sai lầm ấy của giới trí thức khuynh tả. Đa số truyền thông cũng thiên tả nên có sự đánh giá thiên lệch mà không biết!

– So với nước láng giềng hung hiểm tại phương Bắc thì bệnh thống kê sai lạc của Việt Nam vẫn chưa đến nỗi nào và còn có thể sửa được, nếu lãnh đạo Hà Nội muốn sửa. Việc cần sửa đầu tiên là nên học cách nói thật, cho chính mình biết được tật bệnh ở đâu!

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin cảm tạ kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa về bài phân tích của tuần này.