THƠ THÁI BÁ TÂN: NẾU KHÔNG CÓ CỘNG SẢN

Trần Bang

THƠ THÁI BÁ TÂN

NẾU KHÔNG CÓ CỘNG SẢN

Nếu không có cộng sản,
Chuyện gì sẽ xẩy ra?
Nếu không có cộng sản,
Chắc chắn Việt Nam ta

Như các thuộc địa khác,
Sẽ độc lập ngon lành.
Tự do và dân chủ
Mà không cần chiến tranh.

Tức là không chết chóc,
Không đói khổ, chia ly.
Không có Điện Biên Phủ
Và kháng chiến trường kỳ.

Không chiến tranh chống Mỹ,
Không chết nhiều triệu người.
Không chiến tranh biên giới,
Không “hận thù ngút trời”.

Nhưng quan trọng không kém –
Đất nước sẽ yên hòa,
Không suy đồi đạo đức,
Con không đấu mẹ cha.

Chùa chiền không bị phá.
Những người dân hiền lành
Sẽ không bị nhồi sọ
Thành khôn lỏi, lưu manh…

Nhìn nước khác thì biết.
Họ na ná như ta,
Nhờ không có cộng sản,
Mà bây giờ khác xa”

THÁI BÁ TÂN

Người Trung Quốc sở hữu đất sát sân bay quân sự Nước Mặn, Đà Nẵng

RFA.ORG
Trong cùng một ngày 19/9, Chính quyền Đà Nẵng đã hai lần trả lời khác nhau cho thắc mắc của cử tri về việc có hay không người Trung Quốc đứng tên quyền sử dụng đất ở khu vực dự án đô thị dọc sân bay Nước Mặn (quận Ngũ Hành S….

CÁI TÂM

CÁI TÂM

Thân xác không tim thì thân xác chết, làm người không có tâm, cuộc sống chỉ có hận thù, và là mối nguy hiểm cho mọi người.

Tâm của ai nói lên nhân cách người đó.  Chẳng hạn:

–       Sống gần người có tâm lệch lạc, bạn dễ bị sự hoang mang tấn công.

–       Sống gần người có tâm gian dối, bạn vô cùng đau khổ.

–       Sống gần người có tâm thủ đoạn, bạn dễ đối diện cùng nguy hiểm cho an ninh đời mình.

–       Sống gần người có tâm ganh ghét, bạn dễ trở thành đối tượng của sự đố kỵ.

–       Sống gần người có tâm tráo trở, cuộc sống của bạn mất bình an.

–       Sống gần người có tâm thù hận, bạn dễ bị oán ghét.

–       Sống gần người có tâm tham lam, bạn dễ bị tước đoạt nhiều thứ.

–       Sống gần người có tâm hay nghi ngờ, cuộc sống của bạn dễ bị chính sự nghi ngờ của họ làm cho khổ sở.

–       Sống gần người có tâm đố kỵ, bạn dễ trở thành người bị soi mói, dòm ngó.

–       Sống gần người có tâm ích kỷ, bạn nên chuẩn bị để đón nhận những mưu toan, tính toán bất lợi, miễn họ có lợi.

–       Sống gần người có tâm thâm thù, bạn đang đối diện với người đi sát cạnh sự độc ác.

–       Sống gần người mà tâm mang nặng mối tư thù, bạn nên chuẩn bị để đón nhận nhiều lời lẽ và hành vi hằn học…

Người đời vẫn gọi người chất chứa những loại tâm như trên là bất chính hay không có tâm.

Hãy nhớ, tâm là cốt cách của mỗi người, làm nên tư cách và tính cách của người ấy.  Vì thế, nếu là người có tâm bất chính hay không có tâm, thì dù có cố che cố đậy và che đậy khéo đến mức nào, thì sớm muộn gì, họ vẫn bị bại lộ.

Vì thế, giữ cho bản thân vừa sống thực tâm, vừa sống có tâm hay tâm công chính, ta cần:

–       Luôn luôn giáo dục lương tâm mình ngay chính.

–       Học đòi bắt chước gương lành, gương tốt.

–       Sống và hành động theo lối sống của các người lành, nhất là của các thánh nhân.

–       Giữ tâm hồn mình ngay thẳng, trung thực.

–       Dẹp bỏ kiểu suy nghĩ, kiểu lý luận a dua, đua đòi: người khác thế nào, tôi thế ấy.

–       Không phải lúc nào cũng chạy theo đám đông mà không phân định, không đưa ra những quyết đoán khôn ngoan, sáng suốt.

–       Không bao giờ xấu hổ khi làm điều lành.

–       Dứt khoát xấu hổ khi chỉ cần suy nghĩ đến điều xấu hay có ý làm điều xấu.

–       Luôn hướng thiện, nghĩ về điều thiện, dẫu đang bị vây bũa bởi môi trường xấu, gương mù, gương xấu.

–       Thường xuyên cầu nguyện, xin Chúa giải thoát mình khỏi bóng tối sự dữ, sự xấu.

–       Chăm chú lắng nghe, đọc, suy niệm, tập tành sống Lời Chúa, giáo huấn của Chúa.

–       Luôn luôn ý thức Chúa đang đồng hành với mình, Chúa hiện diện trong linh hồn mình, Chúa nhìn thấy mình, Chúa thấu biết mọi hành vi và suy nghĩ của mình.

–       Trung thành với mọi lề luật mà Hội Thánh dạy.

Vì thế, trên thực tế, ta cần:

–       Để tâm của mình sống động nơi cõi lòng để biết yêu thương và chân thành đón nhận yêu thương từ người khác.

–       Để tâm của mình sống động nơi đôi bàn tay để biết giúp đỡ người cần giúp đỡ.

–       Để tâm của mình sống động nơi đôi chân để đến những nơi, những người còn nhiều kém cỏi, bi đát, cơ nhỡ, thương đau.

–       Để tâm của mình sống động nơi suy nghĩ để luôn nhìn mọi người, mọi hoàn cảnh băng ánh nhìn tốt, khía cạnh đẹp.  Nếu cần đánh giá sẽ đánh giá cách độ lượng, vị tha.

–       Để tâm của mình sống động nơi môi miệng để biết im lặng khi cần, và nếu phải phát biểu sẽ là những lời không lên án, không thiên kiến, nhưng mang lại bình an, tình người, và cảm thông.

–       Để tâm của mình sống động nơi đôi tai để bỏ ra ngoài những lời dèm pha, soi mói người khác.  Chỉ nghe những lời giúp ta trưởng thành trong đời sống, trong tương quan với đồng loại, và những gì là chân lý, là lẽ phải.

Để có tâm, không phải ngày một, ngày hai mà có được.  Một người chưa từng có tâm, không phải tự dưng mà có nó.  Tất cả phải là một quá trình nỗ lực học tập và cố gắng từng ngày.

Sống ở trên đời mà không có tâm, dễ biến ta thành người tàn nhẫn, đáng sợ…  Sống mà lại biến mình thành nguyên nhân của nỗi khiếp sợ, của sự mất bình an, ta là kẻ bỏ đi, kẻ không đáng sống (dân gian hay chế diễu: “hết xài”, “hết thuốc chữa”…).

Ngược lại, ta biết rèn chữ tâm, nó sẽ là giá trị của đời ta và làm nên chỗ đứng, nhân phẩm của ta trong lòng những ai đã từng sống bên ta.

Nếu hương sắc là cái quý của mọi loài hoa, vì không hương, không sắc, hoa không thể là hoa.  Tâm của một người là cái đẹp vô giá của chính người đó.

Một lần nữa, hãy ngắm các loài hoa để nhận diện lại nét đẹp vô cùng của kẻ có tâm.

Vậy, ta hãy tự tạc hình tượng của mình khi sống giữa đời bằng SỐNG CÓ TÂM!…

Lm JB Nguyễn Minh Hùng

From: suyniemhangngay1 & Nguyen N Thu

 Phần 10: Thành quả của cuộc cách mạng “long trời lở đất”

Kỳ này là bài thứ 10 và cũng là bài cuối, tổng kết về cuộc cách mạng được gọi là long trời lở đất để đem lại ruộng đất cho người nông dân, đã được thực hiện trong suốt mấy năm trời trên toàn lãnh thổ Việt Nam dân chủ cộng hoà trứơc khi đảng Cộng sản nhận sai lầm và sửa sai.
Nguyễn An, phóng viên đài RFA
2006-05-21
Tòa án nhân dân trong giai đọan cải cách ruộng đất.

Tòa án nhân dân trong giai đọan cải cách ruộng đất.

09102014-ccrd-10.mp3
Cuộc cải cách ruộng đất tại miền Bắc đã chấm dứt và cuộc sửa sai bắt đầu từ mùa thu năm 1956. Nói về thành quả của cuộc cách mạng đựơc coi là “long trời lở đất” này, nhà nghiên cứu Sử Trần Gia Phụng nhận định:

“Đứng về phương diện chuyên môn nông nghiệp, cuộc cải cách ruộng đất không thúc đẩy được nông nghiệp phát triển, không thăng tiến được đời sống nông dân mà còn làm tan nát

tan nát nền nông nghiệp cổ truyền ở ngoài Bắc và đưa mọi người vào cảnh nghèo đói. Tuy nhiên, đứng trên quan điểm của đảng CS thì họ đã thành công trong cải cách ruộng đất, đã đạt được những mục tiêu chính trị của họ.

Mục tiêu chính trị của họ, thứ nhất là xóa bỏ giới hào mục lãnh đạo hạ tầng cơ sở ở nông thôn và thay vào đó lớp lãnh đạo mới, là những đảng viên cộng sản.

Mục tiêu chính trị của họ nữa là chận đứng sự trà trộn của những điệp viên trong dân chúng. Họ xóa bỏ toàn bộ nền văn hóa cổ truyền nổi tiếng là bảo thủ từ bao nhiêu đời ở nông thôn và họ thay thế bằng chủ trương của CSVN theo chủ nghĩa Mác Xít.

Ngoài ra, liều lượng khủng bố của cộng sản đối với nông dân trong cuộc cải cách ruộng đất đợt 5 đủ để khuất phục nông dân, đủ để làm cho nông dân khiếp sợ, làm cho họ ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, sống luôn luôn trong sự sợ hãi tột cùng, và ghép họ vào trong khuôn phép cộng sản, ổn định một cách kiên cố hạ tầng cơ sở của xã hội nông thôn miền Bắc”.

Nhà văn Vũ Thư Hiên, trong cuộc phỏng vấn mới đây dành cho đài Á châu tự do đã đưa ra hình ảnh so sánh vùng quê ở miền Bắc trứơc và sau khi tiến hành cải cách ruộng đất như sau:

“Bây giờ thì cần phải nói như thế này, cái này là kinh nghiệm cá nhân. Vào đầu cuộc kháng chiến chống Pháp thì tôi tham gia một đoàn tuyên truyền xung phong. Chúng tôi đi đâu mà còn có cái ăn thì đó là những người giàu có, sau này thì bảo đó là những địa chủ.

Nhưng lúc đó thì chúng tôi chẳng hiểu họ là địa chủ hay họ là cái gì. Họ là những người hằng tâm, hằng sản nuôi bộ đội, cho cán bộ và cho chúng tôi nữa (đoàn tuyên truyền xung phong), đến là có cái ăn. Tất cả những người đó khi chúng tôi hỏi thăm thì đều bị đấu tố, bị vứt ra ngoài lề của xã hội mà họ gọi là mới.

Về sau này tìm hiểu thì tôi thấy có một cái tệ, tức là đấy không phải là một cuộc cải cách ruộng đất. Bởi vì nếu là một cuộc cải cách ruộng đất thì trước cải cách ruộng đất phải có điều tra tình hình ruộng đất.

Tôi nhớ, vào giai đoạn đó tôi không đọc được một bản điều tra nào về tình hình ruộng đất ở Việt Nam cả. Sự phân bổ ruộng đất, bao nhiêu phần trăm là địa chủ, bao nhiêu phần trăm là trung nông, phú nông, bần nông, chẳng hạn như thế. Họ không cần cải cách ruộng đất, tức là không muốn phân bố lại ruộng đất sao cho nó hợp lý. Mà căn bản, đó là một cuộc đấu tranh chính trị.

Ruộng đất đối với cải cách ruộng đất là một cái cớ để cào xới lại, đưa lại rất nhiều những quyền lợi, mà cũng không phải rõ ràng lắm, cho nông dân. Nông dân vùng lên đấu tranh làm cách mạng, người cày phải có ruộng.

Thế nhưng thật sự ra thì khi tiến hành tất cả những cái đó thì ruộng đất có một thời gian là có cắm cờ, rồi phân thửa ruộng này là của ông A, ông B rồi đóng cọc. Các bạn có xem những cái phim, chắc là bây giờ còn lại trong tư liệu, còn cả đấy. Nhưng cũng chỉ trong một thời gian rất ngắn thôi thì nó là tổ vần công, tổ đổi công xong thì họ lại cũng không có gì nữa.”

Lời kể của người trong cuộc

Ông Nguyễn Minh Cần, một người từng là phó chủ tịch Uỷ ban hành chính thành phố Hà nội và trực tiếp tham gia chiến dịch sửa sai cũng phân tích về những hậu quả của cụôc cải cách ruộng đất. Mời quý thính giả theo dõi cuộc trao đổi giữa BTV Nguyễn An và ông Nguyễn Minh Cần sau đây:

Nguyễn An: Thưa ông, bây giờ trở lại cuộc cải cách ruộng đất cách đây 50 năm. Theo ông thì cuộc cải cách ruộng đất đó để lại những hậu quả gì, những di hại gì?

Ông Nguyễn Minh Cần: Cái cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam để lại những hậu quả hết sức nghiêm trọng về rất nhiều mặt.

Nguyễn An: Xin Ông vui lòng phân tách từng điểm một?

Ông Nguyễn Minh Cần: Điểm thứ nhất: Đây là một cuộc tàn sát dân lành một cách vô tội vạ. Nếu nói theo từ ngữ hiện nay thì phải nói đây là một cuộc diệt chủng vì kỳ thị giai cấp. Bổng dưng lập ra lệnh cải cách ruộng đất, đưa những đoàn người về và tha hồ qui người ta lên là địa chủ.

Bạn nghĩ gì về cuộc cải cách ruộng đất tại Việt Nam và những hậu quả của chính sách này? Xin email về Vietweb@rfa.org

Trên 172.000 người là nạn nhân. Tôi cón phải nói đến số người mà người ta oan ức quá, bực bội quá, người ta tự tử. Số đó cũng không phải là ít. Theo tôi, hậu quả đó rất lớn, nó gây ra một tâm trạng sợ sệt, khủng khiếp của người dân.

Hậu quả thứ hai là phá hoại truyền thống hòa hiếu của nông thôn, là vì từ trước ải nói dù rằng có thể có bóc lột, có thể có gì đấy với nhau, nhưng người nông dân sống với nhau là lá lành đùm lá rách, rất hòa hiếu với nhau.

Cuộc cải cách ruộng đất về xúi người này bới móc tội lỗi của người kia, và có thể những tội hoàn toàn không có cũng bới ra. Và dựa vào những thù cũ rồi gây ra thù hận giữa các tầng lớp với nhau. Chính cái đó nó phá hoại truyền thống đoàn kết lâu đời của người Việt Nam mình ở nông thôn.

Nguyễn An: Thưa ông, có phải ông muốn nói rằng cuộc cải cách ruộng đất đặt trên cơ sở là gây sự căm thù để phát động quần chúng, và sau đó sự căm thù đó lớn rộng và nó tiếp tục còn lại sau khi cuộc cải cách ruộng đất đã chấm dứt không?

Ông Nguyễn Minh Cần: Đúng như vậy.

Nguyễn An: Thưa , điểm thứ ba là gì?

Ông Nguyễn Minh Cần: Hậu quả thứ ba là phá hoại đạo lý luân thường của dân tộc. Từ xưa đến nay cha đối với con, mẹ đối với con, vợ chồng đối với nhau, họ hàng cha chú đối với nhau đều có một luân thường đạo lý. Nhưng cải cách ruộng đất về xúi dục con tố cha, vợ tố chồng, nàng dâu tố mẹ chồng, bố chồng v.v… đấu đá lẫn nhau như vậy.

Nguyễn An: Và gọi mày tao mi tớ hết?

Ông Nguyễn Minh Cần: Vâng. Như vậy, luân thường đạo lý tan hoang. Nguyễn An: Thưa ông, theo ông thì những cái mà phá hoại nền tảng luân lý đạo đức, rồi sự hòa hiếu ở trong nông thôn đó cách đây 50 năm thì được khai thác tối đa để hoàn thành cuộc cải cách ruộng đất… tinh thần như thế sau bao nhiêu lâu mới phục hồi được? Hay bây giờ nó vẫn còn là những vết thương rỉ máu?

Ông Nguyễn Minh Cần: Theo tôi, vì cho đến nay chưa có một sự sám hối rõ ràng. Chưa có một tuyên bố rằng chính sách hận thù giai cấp là một chính sách không đúng. Phải nói thật rằng bây giờ thì 50 năm đã qua thì người ta yên như vậy, nhưng lòng hận cũ không phải là đã hết.

Còn một điểm tôi cũng muốn nói nữa là hậu quả thứ tư: Nó phá hủy truyền thống tâm linh và văn hóa của dân tộc. Vì khi làm cải cách ruộng đất thì các ông đều có cái ý hướng là tiêu diệt các tôn giáo, chèn ép các tôn giáo, tước đoạt tài sản của các tôn giáo để làm cho các tôn giáo không tồn tại được một cách độc lập.

Công ty địa ốc Alibaba lừa đảo hàng ngàn người, thu hơn trăm triệu đô

Công ty địa ốc Alibaba lừa đảo hàng ngàn người, thu hơn trăm triệu đô

Công an bắt giữ ông Nguyễn Thái Luyện, chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Công Ty Cổ Phần Địa ốc Alibaba. (Hình: Pháp Luật TP.HCM)

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Cơ quan điều tra bước đầu xác định có 6,700 người là nạn nhân của Công Ty Cổ Phần Địa Ốc Alibaba, với số tiền giao dịch hơn $107 triệu Mỹ kim.

Chiều 20 Tháng Chín, 2019, nhiều xe cảnh sát cơ động, cảnh sát giao thông… trang bị vũ trang ập đến căn nhà cao tầng là chi nhánh Công Ty Cổ Phần Địa ốc Alibaba ở đường số 5, phường Linh Chiểu, quận Thủ Đức( thành phố Sài Gòn). Các cảnh sát trang bị súng bao vây, phong toả bên ngoài, nhiều lực lượng khác tiến vào trong thực hiện việc khám xét.

Động thái này được Phòng Cảnh Sát Điều Tra Tội Phạm Về Tham Nhũng- Kinh Tế -Buôn Lậu Công An Sài Gòn đưa ra trong tiến trình mở rộng điều tra vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại công ty Alibaba. Nhà chức trách bước đầu xác định có hơn 6,700 nạn nhân giao dịch tại 40 dự án “ma” của công ty này với số tiền lên đến hơn 2,500 tỷ đồng ($107.5 triệu). Trong đó, ông Nguyễn Thái Luyện (34 tuổi), chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Công Ty Cổ Phần Địa ốc Alibaba, được cho là có vai trò cầm đầu, chỉ đạo em trai là ông Nguyễn Thái Lĩnh (30 tuổi), tổng giám đốc công ty này dùng danh nghĩa cá nhân để nhận chuyển nhượng, thu gom lượng lớn đất nông nghiệp ở các tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai…

Phú Quốc lại ngập mênh mông, dân bỏ nhà di tản

Phú Quốc lại ngập mênh mông, dân bỏ nhà di tản

Cảnh ngập ở Phú Quốc sáng 19 Tháng Chín, 2019. (Hình: Thanh Niên)

KIÊN GIANG, Việt Nam (NV) – Mưa nhỏ kèm triều cường dâng cao làm ngập nhiều nơi ở đảo ngọc Phú Quốc, buộc dân phải bỏ nhà di tản. Thế nhưng, chính quyền địa phương khẳng định “chỉ ngập cục bộ, không nghiêm trọng.”

Báo Thanh Niên tường thuật, vào sáng 19 Tháng Chín, 2019, tại nhiều tổ dân phố thuộc khu phố 3 và 4, thị trấn Dương Đông (huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang) bị ngập nặng, có nơi ngập quá thắt lưng. Mọi người từ đầu hẻm vào sâu bên trong đều đang gấp rút vận chuyển đồ đạc để rời đi.

Ông Thạch Nhi (56 tuổi, tổ 12, khu phố 4, thị trấn Dương Đông) cho biết cứ sau trận mưa kéo dài chừng một tiếng đồng hồ thì nước lại ngập lênh láng như thế. Trước tình trạng ngập như hiện tại, ông chỉ còn biết bó gối nhìn đồ đạc trong nhà trôi bồng bềnh, chờ hết ngập thì đem ra chùi rửa để dùng lại.

Bà Thái Thị Thu Ba (60 tuổi, tổ 10, khu phố 4) cho biết thêm, do nước ngập vào gần nửa nhà nên phần lớn người dân tại đây đã bỏ đi hết vì chẳng còn chỗ để ngủ, mặc cho dòng nước cứ tràn vào nhà làm hư hỏng đồ đạc.

Còn anh Lê To Thành (27 tuổi, tổ 12, khu phố 4) đang kéo bộ bàn ghế salon đang trôi bồng bềnh trong sân nhà, cho biết tình trạng ngập xảy ra 5-6 năm nay chứ không phải mới đây. Cứ mưa chừng một tiếng đồng hồ là lại ngập lênh láng như vậy.

Anh Lê To Thành kéo bộ bàn ghế đang trôi trước dòng nước tràn mạnh vào nhà. (Hình: Thanh Niên)

Cũng theo anh Thành, suốt một tháng nay người dân nơi đây phải sống trong cảnh ngập lụt “nước lên tới gối.” Ngưng mưa vài ngày, nước rút xuống một chút thì lại mưa tiếp, tình trạng ngập lại tiếp tục xảy ra. Mỗi trận ngập, riêng nhà anh bị thiệt hại khá nhiều: giường, tủ, quần áo, mùng mền bị ướt hết, thậm chí tủ lạnh và xe máy cũng bị hư.

Trong khi đó, anh Phan Thành Được (40 tuổi, tổ 12, khu phố 4) cho biết suốt mấy ngày nay vợ chồng anh không có chỗ ngủ và cũng không dám ngủ vì hễ mưa là lại lo ngập, cũng chẳng làm ăn được gì vì vừa bước ra khỏi nhà là quần áo ướt hết.

Cùng chịu tình trạng tương tự là những gia đình ở các tổ dân phố 12, 13, 14 (khu phố 4, thị trấn Dương Đông). Rất nhiều căn nhà đã khóa cửa ngoài bỏ mặc nước bên trong nhà dâng cao hơn nền nhà khoảng chừng 10 cm. Bà Lý Thị Mùi (60 tuổi, tổ 13, khu phố 3) cho biết do nước ngập mấy ngày nay nên mọi người đã đi tìm nhà người thân ở nhờ, khi nào nước rút sẽ về dọn dẹp.

Bà Mùi cho biết thêm, hiện tại nhiều người già yếu trong xóm chỉ còn biết ngồi nhìn nước ngập vì chẳng dám đi đâu. Người dân chỉ mong chính quyền địa phương sớm có phương án nạo vét kênh rạch, dẹp bớt những nhà xây dựng lấn sông suối, khơi thông dòng chảy để tình trạng ngập liên tục này không còn xảy ra như hiện nay.

Nói với báo Zing cùng ngày, ông Mai Văn Huỳnh, bí thư kiêm chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân huyện Phú Quốc, cho biết không riêng gì ở thị trấn Dương Đông mà ở xã Cửa Cạn cũng bị tình trạng tương tự. Nguyên nhân ngập là do mưa lớn và triều cường dâng cao. “Tình trạng ngập xảy ra cục bộ ở một số cửa sông, không ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân,” ông Huỳnh biện minh.

Về vấn đề nạo vét kênh rạch để chống ngập, ông Huỳnh cho biết “đang chỉ đạo các lực lượng khảo sát, chờ có báo cáo sẽ lên phương án.” (Tr.N)

Ba Tôi Và Trại Tù Vĩnh Phú

Ba Tôi Và Trại Tù Vĩnh Phú

Tác giả: Lê Xuân Mỹ

Bài số: 5718-20-31525-vb6062119

Tác giả qua Mỹ năm 1998 diện đoàn tụ ODP, là một kỹ sư từng làm việc tại Kia-Tencor San Jose, California. Lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ với bài viết về Mẹ trong mùa Mother’s Day 2019, ông cho biết có người cha sĩ quan tù cải tạo chết ở trại Vĩnh Phú, vùng biên giới Việt-Hoa. Bài viết mới kể về chuyện người mẹ và tác giả thăm nuôi đúng vào những giờ phút sau cùng của người cha trong trại tù cải tạo. Tựa đề đầy đủ của bài viết: “Ba Tôi, Những Giờ Phút Sau Cùng và người bạn tù trên đất My” được rút gọn theo nội dung.

Di ảnh Ông Lê Xuân Điềm, Thiếu Tá Cảnh Sát, Bộ tư lệnh Cảnh Sát Sài Gòn. Ông sinh năm 1924. “Học tập cải tạo” tại K2 trại cải tạo Tân Lập, Vĩnh Phú. Mất ngày 10/2/1979 tại trại K2.

***

Vượt qua bao nhiêu cửa ải khó khăn, thủ tục nhiêu khê cuối cùng chúng tôi mới cầm được tờ giấy ra thăm ba tại trại cải tạo Tân Lập, Vĩnh Phú.

Tháng 2 năm 1979, hai mẹ con ra Hà nội bằng xe lửa. Sau khi hoàn tất mọi chuẩn bị sau cùng, chúng tôi cùng người gánh hàng thuê lên tàu chợ tuyến Cao Bằng Lạng Sơn để về ga Ấm Thượng. Hành lý mang theo là hai bao tải đồ ăn gồm lương khô, thực phẩm, thuốc men, áo quần…bất kỳ cái gì cũng cần thiết cho người đang “học tập” cải tạo. Năm 1978, tôi đã thăm được ba lần đầu tiên, đã biết trước địa điểm, lại háo hức mong gặp ba, chuyến đi lần này diễn ra suông sẻ nhanh chóng hơn trước rất nhiều.

Xuống ga Ấm Thượng, vượt qua gần 30 km đường bộ, 2 lần gọi đò qua những dòng sông nước chảy xiết, cuối cùng chúng tôi cũng đến được nhà khách K2 Tân Lập Vĩnh Phú vào lúc nửa đêm. Chuyến đi vất vả nhưng mẹ chịu đựng gian khổ và khoẻ hơn tôi tưởng tượng rất nhiều. Nghĩ đến lúc gặp lại ba vào ngày mai, hai mẹ con suốt đêm thao thức không ngủ được. Nằm bó gối ở một góc phòng, trong tiếng ễnh ương rên rĩ, tôi nhìn ra bên ngoài từ khe hở của vách tre lá của nhà khách ở một vùng đất gần biên giới Việt Hoa xa xôi, và cảm nhận cái nỗi thê lương của những tháng ngày mà ba tôi, người sĩ quan tù cải tạo, đã và đang trải qua.

Tiếp chúng tôi là một tay công an khá lớn tuổi với khuôn mặt rất hình sự. Tôi đưa giấy tờ, trình bày lý do, và xin phép được gặp ba. Gã cầm giấy tờ đi vào bên trong. Độ khoảng 15 phút, gã đi ra vẫn với khuôn mặt khó đăm đăm. Gã nói: Rất tiếc không thể để hai người gặp tù nhân này được. Ông nhà đang bị kỷ luật vì vi phạm nội quy trại. Hai người có thể để thức ăn và đồ dùng lại chúng tôi sẽ chuyển cho ông. Mẹ tôi bắt đầu khóc lóc và năn nỉ. Gã một mực cương quyết lắc đầu. Mẹ tôi càng lúc càng khóc to hơn.

Càng bị từ chối, nỗi uất ức càng lớn, bà bắt đầu nằm lăn ra sàn đất. Vừa la vừa lết, vừa khóc vừa hét. Gã công an lúng túng không biết xử lý cách nào. Những người đến thăm nuôi và cả những cán bộ của các bàn bên cạnh đều hướng về phiá chúng tôi. Tình hình căng thẳng đến tai cấp chỉ huy trại. Một sĩ quan công an bước vào. Hai người thầm thì nhỏ to gì đó. Cuối cùng viên sĩ quan đến gặp chúng tôi, dịu dọng.

Thật ra chúng tôi rất muốn giúp bà nhưng quả thật hiện nay ông nhà đang bị kỹ luật bị giam ở ngoài trại cách đây rất xa. Thôi bà về đi. Tuần sau bà quay lại. Tôi sẽ cho bà gặp ưu tiên với thời gian gấp đôi bình thường. Còn bây giờ bà cứ để thức ăn và đồ dùng chúng tôi hứa sẽ đưa tận tay ông nhà, không thiếu một thứ gì.

Năn nỉ ỉ ôi cách mấy cùng không lay chuyển tên cán bộ quản giáo, tôi nghĩ chắc là hết cách. Chắc phải ở lại Hà Nội thêm một tuần. Nhìn khuôn mặt có vẽ hiền lành của viên sĩ quan công an, tôi nghĩ gã có vẻ thiệt tình. Tôi nói nhỏ với mẹ, mình vê thôi, ba bị kỷ luật. có xin cũng không được. Chịu khó về Hà Nội ngủ lây lất. Tuần sau lên lại hy vọng họ giữ lời hứa cho gặp được ba lâu hơn.

Trong khi quay lại bàn tiếp tân để làm thủ tục đưa thức ăn và đồ dùng cho ba, bỗng dưng tôi thấy một ánh mắt hơi khác lạ của một tù nhân làm nhiệm vụ đem nước chè xanh cho những người đến thăm nuôi. Để ấm nước xuống bàn, người này đi chầm chậm về phiá chòi vệ sinh sau khi ngoái lại nhìn tôi, đôi mắt nhấp nháy kỳ lạ. Tôi xin phép gã cán bộ công an đi vệ sinh.

Bước vội vào phía trong vừa kịp thấy dáng khòm khòm của người tù nhân bước ra. Tôi bước vào, nhìn quanh cái chòi tiêu, tiểu được xây tạm bợ bằng lá tranh với cánh cửa tre nửa kín nửa hở. Tôi ngồi xuống và nhìn quanh vách tre lá. Tôi có linh cảm hình như người tù nhân muốn cho tôi biết một điều gì đó. Tôi cố nhìn thật kỹ. Quả đúng như linh cảm, trên góc đòn tre phía trái của cầu tiêu, tôi thấy một mảnh giấy nhỏ, trên đó viết nguệch ngoạc một dòng chữ: “Ông Điềm bệnh nặng.”

Hoảng hốt tôi vội chạy ngược vào phòng tiếp tân. Dằn cơn xúc động tôi kéo mẹ ra góc phòng báo tin. Mẹ bình tĩnh và khôn ngoan hơn tôi tưởng rất nhiều. Bà quay trở lại bàn tiếp tân và nói: Xin cán bộ cho tôi ở lại đây đợi chồng tôi về chứ bây giờ vừa đi vừa về Hà Nội cũng mất hai ngày. Gã cán bộ nói láo trơn tru: Ông bị biệt giam ở nơi rất xa, phải tuần sau chúng tôi mới đưa ông nhà ra găp bà được.

Đến lúc này nỗi uất ức trong lòng mẹ tôi bùng nổ, bà khóc và la hét to hơn: “Mấy ông nói láo, tôi biết chồng tôi đau nặng, đồ sát nhân, sao không cho chúng tôi gặp. Các ông có còn là con người không?”

Đến lúc này thì mẹ tôi không còn biết sợ là gì nữa, Tất cả những oán hận chất chứa trong lòng bao lâu này được dịp thoát ra, không ai có thể ngăn được. Cả phòng khách của K2 bắt đầu nhốn nháo, ồn ào. Nhiều người bu quanh mẹ tôi lúc này đang nằm lăn lộn dưới sàn đất cứng ngắt. Gã cán bộ chạy vào trong và đi ra cùng với viên sĩ quan lúc nãy. Gã dịu giọng nói với chúng tôi: Xin bà bình tỉnh Mời bà và anh vào trong, chúng tôi sẽ giải quyết. Nói xong gã ra lệnh cho hai tay công an dìu mẹ tôi vào căn phòng phiá trong. Có lẽ không muốn những người thăm nuôi khác biết chuyện.

Căn phòng sạch sẽ hơn phòng bên ngoài nhiều. Viên sĩ quan công an nói: Bây giờ tôi xin nói thật về tình trạng của ông nhà. Thật ra ông đang bệnh và chúng tôi đang tích cực chữa chạy cho ông. Nay bà đã biết, tôi sẽ thu xếp cho bà vào gặp ông. Ông nhà đang nằm ở bệnh xá, tôi sẽ cho người dẫn ông bà đi. Xin ông bà đợi một lát. Nói xong gã bước ra, nói nhỏ gì đó với công an trực.

Gã công an bước đi thật nhanh. Khoảng 40 hay 50 phút gì đó gã trở về, bước đi gấp gáp, hấp tấp. Lại thì thầm to nhỏ với viên chỉ huy. Tôi linh cảm có chuyện không hay. Lần này viên sĩ quan trầm giọng: Thưa bà, chúng tôi vừa mới nhận được tin, mặc dù chúng tôi đã tận tình chữa trị, nhưng vì sức yếu, ông nhà vừa mất cách đây 5 phút. Chúng tôi xin chia buồn với bà. Chúng tôi sẽ đưa bà đi gặp ông lần cuối cùng.

Nghe tin dữ, mẹ tôi như điên cuồng. Bà nằm lăn ra đất. Vừa khóc vừa la. Không từ nào mà bà không đem ra. Không nhân vật nào bà không réo tên chửi. Vừa chửi vừa khóc, khóc đến khan cả giọng. Mồ hôi quyện với đất đỏ dính đầy áo quần, mặt mũi. Hết khóc rồi bắt đầu cười ngây dại. Tôi ôm mẹ không nói được nên lời. Nỗi đau quá lớn làm thần kinh tôi như tê liệt. Ôm mẹ với trái tim nhói đau như kim châm và mẹ ngất đi.

Khoảng 15 phút sau, chúng tôi được dẫn di gặp ba. Nơi ba nằm là một căn nhà nhỏ đơn sơ gọi là bệnh xá nằm sâu trong K2 cách nhà khách khoảng 30 phút đi bộ. Ba nằm trên một giường tre, thân hình gầy guộc, khuôn mặt ốm nhom như bộ xương khô. Hàm râu lổm chổm có lẽ được cắt ngắn một cách vội vàng không dài thòn như lần đầu tôi gặp.

Hình như đã hết nước mắt, mẹ không khóc yên lặng ngồi bệt xuống đất vói tay ôm lấy ba. Tôi ngồi xuống phiá bên kia. Hai mẹ con ôm choàng lấy ba. Vẫn còn hơi ấm của một cơ thể vừa mới qua đời. Mẹ vuốt mắt ba. Mắt trừng trừng nhìn ba. Hình như tôi thấy trong mắt mẹ màu đỏ của máu. Sẽ không bao giờ tôi quên được cái hình ảnh của ba và mẹ tôi trong bệnh xá trại K2 Tân Lập hôm đó. Mẹ không khóc nhưng lại ngất thêm một lần nữa khi tôi định kéo mẹ đứng lên.

Sau này qua một người bạn tù của ba, lúc mẹ con tôi đến thăm trại, đang hấp hối nhưng ba tôi biết. Lúc đó ba đã rất yếu. Ba nói ba sẽ cố gắng sống để găp mẹ một lần và ba cố gắng húp được vài muỗng cháo trắng. Những muổng cháo trắng cuối cùng trước khi ra đi mãi mãi. Giá mà tay cán bộ có một chút tình người thì có lẽ mẹ cũng được gặp ba một lần sau chót. Chỉ cần một lần mà thôi, của một cuộc tình ba mươi mấy năm. Tôi biết ba đã không đành lòng ra đi. Đành lòng sao được hả ba, khi vượt hàng ngàn cây số từ nam ra bắc, chỉ còn cách một bước chân thôi mà mẹ không thể nói với ba những lời yêu thương sau chót, để được nghe một lời trăn trối sau cùng. Tức tưởi và uất hận lắm ba. Mà thôi ba ơi. Cứ yên lòng ra đi rồi có ngày mẹ, ba và chúng con sẽ lại gặp nhau một nơi nào đó, trên thiên đàng. Chúng ta sẽ lại có những ngày tháng hạnh phúc bên nhau như thuở nào.

Để xoa dịu mẹ con chúng tôi, lần đầu tiên K2 có tổ chức một đám ma tù nhân tương đối đàng hoàng. Từ trước, đã có rất nhiều tù nhân chết ở đây. Toàn bộ được bó vào các manh chiếu mây tre rách rưới và được chon vùi sơ sài trong các mảnh đất trống bên trong trại. Ba có lẽ là người đầu tiên đưọc ưu tiên có hòm làm bằng gỗ ván thông dù rất mỏng dính. Chôn theo với ba là mấy bộ đồ rách bươm. Cũng có 4 người tù khiêng quan tài. Phía trước và phía sau có 4 công an đi cùng. Cũng có ly hương là cái chén ăn cơm cũ kỹ. Tôi cầm bài vị là một bức ảnh căn cước nhỏ xíu của ba còn sót lại trong trại. Mẹ đi sau quan tài. Đoàn đưa tang gồm 10 người lặng lẽ đi về phía một đồi trọc xa xa, phiá ngoài hàng rào trại K2. Trên đường đi, tôi để ý thấy có những gò đất với rất nhiều ngôi mộ vô danh.

Nơi chôn ba là một ngọn đồi, chỉ có một cây đa thật to. Những người tù đào vội một lớp đất không sâu lắm, hòm được đặt xuống và lấp lại. Thế là xong. Ba tôi, một sĩ quan cảnh sát miền nam thua cuộc, cuối đời nằm ở đây, một vùng đất gần tận cùng biên giới Việt Hoa. Một mình, cô đơn, lạnh lẽo. Mẹ không còn nước mắt để khóc. Suốt buổi lễ cứ nhìn trừng trừng. Một khuôn mặt tưởng như vô hồn, nhưng tràn đầy oán hận. Một nỗi hận đến vô cùng. Tôi cắn chặt môi đến tươm máu. Thôi ba ơi, hãy yên nghỉ tạm nơi đây, con sẽ quay trở lại một ngày không xa.

Trước khi trở về, tôi cẩn thận ghi dấu vị trí ngôi mộ với một chữ thập ghép bằng hai nhánh tre và khắc tên ba trên gốc cây to trước mộ.

Hai năm sau, thương ba nằm một mình hiu quạnh, mẹ con tôi trở ra lại trại Tân Lập cùng với một người đảo mộ thuê từ Hà Nội. Không xin được giấy phép bốc mộ, nửa đêm chúng tôi đã lén lút đào chui và trải qua những giờ phút gian truân, nguy hiểm. Cuối cùng chúng tôi cũng đem ba về nằm bên cạnh ôn mệ trong mảnh đất phía sau nhà, dưới chân núi Ngự Bình Huế.

Từ khi đem được ba về nằm ấm cúng bên cạnh những người thân yêu, cuộc sống của gia đình tôi từng bước thay đổi và trở nên tốt đẹp hơn. Có quá nhiều cái tình cờ, may mắn mà dù không muốn tin, tôi cũng phải tin có sự che chở của ba, có sự sắp đặt của ơn trên. Và nhờ đó gia đình mẹ và 9 anh em chúng tôi vượt qua được những ngày tháng khó khăn, tủi nhục, đen tối để đến cuối năm 1998 toàn bộ gia đình đoàn tụ trên miền đất thật xa quê nhà nhưng tự do này.

Là những người cuối cùng trong đại gia đình qua Mỹ theo diện đoàn tụ, vợ chồng chúng tôi cùng 3 con nhỏ về sống tại thành phố nhỏ Tulsa thuộc tiểu bang Oklahoma. Vào cuối năm 1998, khi chúng tôi mới đến cư ngụ, Tulsa là một thành phố hiền hoà nhưng cũng thật buồn và trầm lắng. Người Việt không nhiều, nhưng may mắn cũng có một vài chợ Việt Nam, một vài quán ăn người Việt, không ngon lắm nhưng cũng làm vơi đi nỗi nhớ nhà của những đứa con mới vừa lưu lạc.

Lúc vừa mới đến, thấy gia đình 5 người chưa có công việc làm, mấy người bạn đề nghị chúng tôi đi xin housing và chế độ trợ giúp cho người low income. Vào thời đó ở cái thành phố đất rộng người ít này, việc xin trợ cấp của chính phủ tương đối dể dàng. Ai cũng khuyên vì với tuổi đời gần 50, một vợ và 3 con còn nhỏ, tội gì phải đi làm cho vất vả, ở nhà của chính phủ, con cái có nhà nước lo, sáng kéo nhau ra quán cafe, chiều tập trung tại một nơi nào đó cùng với bạn bè, xem đánh cờ và ngồi tám chuyện ngày xưa. Vừa nhàn, vừa có tiền tội gì phải vất vả mưu sinh. Đâu phải ai cũng có điều kiện để xin được trợ cấp như gia đình tôi đâu.

Nhưng đó không phải là con đường của tôi sẽ đi. Đứa con của một sĩ quan tù cải tạo chết ở biên giới Việt Hoa ngày nào sẽ không thể sống như thế. Thế là, sau thời gian đầu chuẩn bị cho những việc cần thiết, lấy bằng lái xe, ở tạm nhà người em gái, chúng tôi bắt đầu cho một cuộc sống mới trên một miền đất xa lạ này.

Vợ tôi xin vào làm phụ bếp trong một nhà hàng Việt Nam. Tôi và đứa con đầu nhờ có bằng TOEFL nên đăng ký đi học đại học trở lại. Ngoài giờ học, cháu đi làm thêm công việc phục vụ nhà hàng, tôi nhờ có chút tay nghề sửa máy tính và tivi, xin vào làm technician cho hãng bán máy móc điện tử COMPUSA. Hai con nhỏ đi học ở trường gần nhà.

Tiền lương không cao lắm, nhưng với vật giá không đắt đỏ và con người hiền hoà của một thành phố nơi nhà thờ nhiều hơn nhà dân này, chúng tôi đã có những bước khởi đầu hội nhập không quá đỗi khó khăn. Và quan trọng là tôi được đoàn tụ với mẹ, các em, và cùng với gia đình riêng, chúng tôi đã sống không giàu có, nhưng lương thiện, đầy đủ và tự do.

Có quá nhiều điều để kể về những ngày tháng trên một miền đất không phải là nơi tôi sinh ra này, hy vọng sẽ có trong một bài viết khác, ở đây tôi chỉ muốn nói đến những mối nhân duyên mà ông trời đã sắp đặt liên quan đến câu chuyện của ba tôi, người sĩ quan tù cải tạo chết tại trại K2 Tân Lập Vĩnh Phú tháng Hai năm 1979.

Cuộc sống ở Tulsa phải nói là rất dể chịu và an bình. Với sự tằn tiện và chịu thương chịu khó, chúng tôi cũng mua trả góp được một căn nhà nhỏ, tạm đủ cho một gia đình 5 người, những ngày tháng an bình và hạnh phúc.

Nhưng rồi năm 2000, sau khi lấy lại bằng đại học, tôi xin được việc làm tại KLA-TENCOR ở San Jose, Ca. Nghe tôi định di chuyển về San Jose, bạn bè, người thân ai cũng bàn ra. Thứ nhất tôi đang sống an nhàn, mọi việc ồn định, lên San Jose, tuy lương cao hơn, nhưng nhà cửa, cuộc sống đắt đỏ, lạ lẫm, chắc chắn sẽ khó khăn vất vả hơn nhiều. Làm lại từ đầu, có trụ nổi không hay lại khăn gói trở về như một số người ở bên này.

Nhưng, với tôi, quan trọng không phải là đồng lương cao thấp, đường đi dễ dàng hay vất vả, bằng phẳng hay gập ghềnh, mà là một công việc phù hợp với cái kiến thức và cái khả năng được đào tạo của mình, trong một ngành nghề mình yêu thích. Thế là gia đình nhỏ, 5 người chúng tôi một lần nữa khăn gói đi về một thành phố xa lạ hơn, một nơi được xem như đắt đỏ vào bậc nhất nước Mỹ để kiếm sống.

Cho đến bây giờ trải qua gần 20 năm, với biết bao thăng trầm, thời gian, với tôi,  thời gian ở San Jose vẫn là một quãng đời đáng sống. Có nhiều điều để nhớ lại, nhưng trong phạm vi bài viết, tôi muốn nhắc đến, chính là cái duyên, cái tình cờ sắp đặt của thượng đế, của định mệnh khi chính tại miền đất này, tôi đã gặp lại hình bóng của người cha thương yêu.

Đầu năm 2001, khi tôi đang làm tại KLA-TENCOR, lúc đó nhà cửa rất là hot. Tôi tìm mãi mới thuê được căn nhà 4 phòng ngủ. Giá thuê không hề rẻ, 1800USD một tháng. Trả tiền nhà rất vất vả khó khan, mất toi ½ số tiền lương hàng tháng. Chúng tôi quyết định tìm người cho share lại bớt một phòng. Đúng lúc có một technician mới vào làm trong dây chuyền của tôi mới được tuyển vào làm việc, cần nơi ở. Thế là thoả thuận về ở chung. Vừa tiện đi làm chung xe, vừa sẽ chia tổn phí, tiện lợi đôi bề.

Ở một thời gian, làm chung với nhau cả năm, trong một dịp tình cờ khi nhờ ông bạn share phòng cắt tóc giùm, qua cuộc nói chuyện, phát hiện ra ông bạn cùng nhà mấy lâu nay củng là một sĩ quan từng đi “học tập cải tạo”.

– Anh đi tù ở đâu?

– Tân Lập, Vĩnh Phú

– K mấy?

– K2. Biết ông Điềm không?

– Biết quá đi chứ.

Thế đó. Quá bất ngờ hơn, khi người share phòng bấy lâu lại chính là người đã đưa cho tôi mảnh giấy báo tin ba tôi đau nặng tại phòng thăm nuôi K2 trại cải tạo Tân Lập ngày nào.

Không thể nói hết sự kỳ diệu của định mệnh, khi sau 22 năm ngày mất, một sĩ quan tù binh cải tạo gặp lại người con của một bạn tù trên một đất nước quá xa vùng đất biên giới xa xôi. Không diệu kỳ sao được, khi trong hàng triệu người Việt lưu lạc, có mặt trên hàng chục quốc gia, sống trên hơn 50 tiểu bang của Hoa Kỳ, tôi gặp lại đúng một người duy nhất đã đút cho ba tôi những muỗng cháo trắng cuối cùng trước lúc lâm chung. Người đã sống với ba trong những tháng ngày bi thảm đó. Một trong 4 người bạn tù khiêng cha tôi về miền đất lạnh

Từ xưng anh, từ đó tôi gọi là chú, chú L. Hai chú cháu có những đêm thức trắng để kể chuyện về ba tôi.

Chú là người báo cho ba tôi biết hai mẹ con chúng tôi đang đợi chờ mỏi mòn tại phòng thăm nuôi. Duy nhất, chú là người bên ba để chứng kiến những giọt nước mắt cuối cùng tức tưởi của một người đang hấp hối. Chú là người duy nhất nhìn thấy cặp mắt mong đợi mỏi mòn của ba. Dù chỉ gần nhau trong gang tấc, trước khi ra đi vẫn không thể nhìn nhau một lời sau cuối.

Cám ơn chú L. Người bạn tù của ba tôi, ân nhân không bao giờ quên được của tôi. Sau khi nghỉ hưu, chú về ở với con gái nghe đâu ở tiểu bang Minnesota xa xôi. Chưa một lần chúng tôi gặp lại nhau. Nhưng dù ở bất cứ nơi đâu, cháu cũng cầu mong chú và những người thân yêu thật nhiều may mắn và bình an.

Và tôi tin rằng ở một nơi nào đó thật xa xôi, ba vẫn luôn dõi theo và che chở cho gia đình chú cũng như cho mẹ con chúng tôi. Nếu có một kiếp sau, con vẫn sẽ là con của ba, người tù cải tạo chết ở miền đất biên giới Việt Trung, ngày 10 tháng 2 năm 1979.

Lê Xuân Mỹ

“chém gió”, một nhu cầu có thật.

Hoang Ngoc Dieu
“chém gió”, một nhu cầu có thật.

Từ “chém gió” là một từ hiện đại, xuất hiện trên Internet khoảng cuối thập niên thứ nhất của thế kỷ 21, có nghĩa là “sự khoác lác, nhăng cuội mà không có thật”.

Thật sự, tính khoác lác của người Việt đã có từ rất lâu. Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, trong những mẩu chuyện Trạng Quỳnh, trong các giai thoại đời xưa, ..v.v… Khoác lác là nhu cầu nói lên khát vọng được một cái gì đó và cho đến ngày nay, tinh thần “chém gió” đi đến chỗ lẫn lộn giữa sự thật và tưởng tượng.

Trong nhiều năm “chơi” trên các forum rồi chuyển sang Yahoo 360 và sau này là mạng xã hội Facebook, cá nhân mình chứng kiến rất nhiều cuộc “chém gió”, đặc biệt đi từ các bạn trẻ yêu chế độ. Họ mong ước và tưởng tượng ra những thứ “đẳng cấp” và lâu dần, họ tin chắc rằng đó là sự thật để trấn an rằng chế độ này tốt đẹp. Mức tin tưởng mạnh mẽ đến độ, họ bảo vệ những gì họ tin một cách cuồng nhiệt và quyết liệt, đến độ sẵn sàng lăng mạ những ai nhẹ nhàng nhắc nhở họ về sự thật.

“Chém gió” là nhu cầu có thật và “chém gió” càng lúc càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người Việt ngày nay.

——————–

Có lần cách đây không lâu, có một bạn yêu chế độ “chém gió” rằng: “Việt Nam sắp sửa làm chủ IoT (Internet of Things) và tương lai công nghệ của Việt Nam vô cùng xán lạn”.

Mình hỏi bạn ấy “bạn hiểu thế nào là IoT” và bạn ấy cho biết rằng “IoT là đường cáp quang, là 3G, là 4G, là 5G và VN sẽ làm chủ hết tất cả các công nghệ ấy”. Bạn ấy nói một cách rất hào hứng và say sưa và rất nhiều bạn khác tán thưởng, trầm trồ, khen ngợi ..v..v…

Mình ôn tồn giải thích: “IoT là những áp dụng tiện ích ngoài đời thật bằng cách sử dụng Internet để có thể điều khiển, kiểm soát và phát triển một cách hữu hiệu và nhanh chóng. Ví dụ, hệ thống tín hiệu đèn xanh đèn đỏ, các hệ thống báo hiệu trên xa lộ và đường phố, các cổng tín hiệu tàu lửa, các hệ thống camera quan sát, các hệ thống theo dõi thời tiết và cảnh báo và ngay cả các hệ thống giao thông công cộng được tự động hoá…v.v.. IoT không phải là cáp quang, 4G hay 5G, những thứ đó chỉ là phương tiện để tạo ra IoT mà thôi. Mình hỏi thêm, ở Việt Nam có bao nhiêu cây đèn xanh đèn đỏ đã được điện toán hoá? Có bao nhiêu hệ thống tín hiệu cho giao thông có dính dáng tới đường dẫn Internet?….”

Các bạn ấy không thể trả lời câu hỏi của mình mà đổ xô vào tấn công mình một cách quyết liệt bằng những nhóm từ soạn sẵn như “bu càng, ba que, phản động, chống phá, lưu vong…v.v..” mặc dù những điều mình giải thích không dính dáng gì đến những nhóm từ ấy. Mình lặng lẽ rút lui.

Ít lâu sau, có bạn tag mình vô một chủ đề khác của bạn ấy và thật ngạc nhiên, trong chủ đề ấy, bạn ấy lôi những điều mình đã giải thích về IoT trước đây ra để tiếp tục khai triển và…. “chém gió” thêm bằng những thứ không có thật. Mình chỉ bấm mặt cười và chỉ đưa ra một câu: “Internet bây giờ cái gì cũng có, chỉ thiếu sự kiên nhẫn để tìm hiểu và trau dồi cho chính mình mà thôi”. Thế là bạn bấy block mình.

——————-

Ngẫm nghĩ ít lâu mình nhận ra rằng mình đã va chạm và làm tổn thương vào nhu cầu “chém gió”. Đây là cái phao để họ bám víu và hy vọng, cũng giống như trẻ em thích nghe chuyện cổ tích và sống trong thế giới thần tiên. Chỉ có điều, các bạn ấy ngày nay không phải là những trẻ em và các bạn ấy có đủ trí khôn để nhận ra đâu là sự thật và đâu là sự tưởng tượng.

Người trưởng thành và mạnh mẽ là người làm mọi thứ để đạt được ước mơ của mình, chỉ có trẻ em mới tạm thời sống trong “cõi thần tiên” và “chém gió” quả thật là nhu cầu có thật không phân biệt già và trẻ.

#_docthoaihnd

No photo description available.

KHINH LUẬT TRẮNG TRỢN, BÁN NƯỚC NGHĨA ĐEN

Trần Bang
Bài viết của nhà báo Mai Quốc Ấn

KHINH LUẬT TRẮNG TRỢN
BÁN NƯỚC NGHĨA ĐEN

Giám đốc Sở TNMT TP.Đà Nẵng khẳng định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người Trung Quốc với 21 lô đất dọc sân bay Nước Mặn (Đà Nẵng) hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.

Trước khi phân tích, xin nhắc một chút, sân bay Nước Mặn là sân bay quân sự quan trọng không chỉ của Đà Nẵng mà đối với cả hệ thống phòng thủ miền Trung. Nên nhớ là cả Pháp lẫn Mỹ khi vào Việt Nam đều tấn công từ Đà Nẵng.

“Qua rà soát của Sở TNMT, dọc các khu đô thị ven biển thuộc khu vực Sân bay Nước Mặn (quận Ngũ Hành Sơn) có 246 lô đất. Trong số này hiện có 21 trường hợp người quốc Trung Quốc đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước đây, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng những lô đất này là cho người Việt Nam. Tuy nhiên, trong quá trình hợp tác làm ăn, người Trung Quốc đã góp vốn, mua cổ phần của người Việt nên họ được đứng tên”, ông Tô Văn Hùng- Giám đốc Sở Tài nguyên môi trường Đà Nẵng phát ngôn.

Đây là câu trả lời dành cho các cử tri lo lắng vì chính quyền cấp sổ đỏ đất cho người Trung Quốc. Cử tri TP.Đà Nẵng đề nghị chính quyền thành phố phải xử lý nghiêm, không thể chỉ phát hiện, tạm giữ rồi trao trả cho phía Trung Quốc. “Họ vi phạm pháp luật, mình tốn tiền lo chi phí cho họ về nước, đi bằng xe du lịch sang trọng, chúng tôi thấy rất bức xúc”, cử tri Ngô Minh Hồng (thôn Quan Nam, xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng) bày tỏ quan điểm.

Ông Giám đốc Sở Tài nguyên môi trường Tô Văn Hùng vì sao hoạt động trong hệ thống mà lại “quên” phát ngôn của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên môi trường Trần Hồng Hà? Ông Hà từng nói người nước ngoài không có quyền mua đất trên đất nước ta, nên nếu đại biểu biết có việc người nước ngoài mua đất dọc bờ biển thì thông tin cho ông. Phát ngôn này chính thức tại phiên chất vấn đầu tháng 6/2018 của Quốc hội.

Mà nào chỉ có đứng tên mua đất. Người Trung Quốc sang Việt Nam sản xuất ma tuý tính bằng tấn, tổ chức đánh bạc xuyên biên giới, dụ dỗ trẻ em đóng phim sex, nghênh ngang sử dụng đồng nhân dân tệ để mua hàng hay sử dụng dịch vụ tại nước ta,… Trường hợp phát hiện được thì “mời các vị về nước” vì Việt Nam đã ký hiệp định dẫn độ với Trung Quốc. Nghĩa là dầu họ có gây án gì thì Việt Nam cũng phải trao trả họ về cho Trung Quốc?

Ở đâu ra thứ pháp luật lạ lùng hay thứ hiệp định dẫn độ đầy bất lợi ấy? Và ai ký?

Nếu việc thực hiện các hoạt động phá hoại đất nước Việt Nam do tình báo Trung Quốc thực hiện thì với pháp luật hiện hữu, với hiệp định dẫn độ kỳ lạ ấy khác nào “Đất nước tôi đây, nhân dân tôi đây. Mời các ông tự nhiên phá hoại! Lỡ lộ thì về nước chơi, để nhóm khác lại qua… phá tiếp.”???

Cấp giám đốc Sở Tài nguyên môi trường Đà Nẵng là cấp tỉnh uỷ viên mà còn vô trách nhiệm với việc phòng thủ sân bay, an ninh quốc phòng như trường hợp 21 lô đất sân bay quân sự Nước Mặn; thì những vụ việc bậy bạ khác sẽ còn những cán bộ vô trách nhiệm khác. Vụ việc càng lớn thì cấp cán bộ vô trách nhiệm sẽ càng lớn?

Ngày xưa để mất một thước núi, một tấc sông ắt phải tội tru di. Nay nói cấp đất cho người Trung Quốc khi chúng vừa tuyên bố bãi Tư Chính của Việt Nam thuộc lãnh hãi Trung Quốc, thì đáng tội gì?

Là công dân, không ai có thể chấp nhận những cán bộ bán nước nghĩa đen, khinh luật trắng trợn như vậy được! Tôi đề nghị khởi tố ông Tô Văn Hùng theo pháp luật hiện hành!!!

P/s: Ông Bộ trưởng Tài nguyên môi trường Trần Hồng Hà chí ít cũng nên xử lý thuộc cấp trái luật, trái chủ trương lãnh đạo như ông đi chứ! Ông Bí thư Đà Nẵng Trương Quang Nghĩa ngồi cạnh nghe đồng chí của ông là Giám đốc Sở Tài nguyên môi trường Tô Văn Hùng trả lời như vậy mà chẳng ý kiến gì là sao?

Đất nước này giờ của ai?
(Copy FB Lê Thiệu)
———————————
*Hình có viết nội dung tội phản quốc chỉ đúng phần đầu, phần cuối cùng “chế độ XHCN, nhà nước xhcn “ phải bỏ ra, vì cụm từ đó là phản quốc, vì nó theo CSTQ (Mác Mao), nó là a tòng theo giặc xâm lược.

Image may contain: text

THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LÀ AI ?

Luu Quang Thu
THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LÀ AI ?

Hàng chục năm qua, đảng CSVN cứ ra rả tuyên truyền: “Bọn thế lực thù địch luôn luôn chống phá đảng, nhà nước VN”. Bla bla…

Họ rêu rao như thế ở khắp nơi: Trong hội nghị, trong diễn đàn, trong các cuộc họp báo, trong giáo dục, trên truyền thông… Nhưng có một điều, họ không đưa ra dẫn chứng cụ thể thế lực thù địch đó là ai, tổ chức đó tên gì, hoạt động ở đâu, người cầm đầu tên gì, họ chống phá đảng – nhà nước với mục đích gì, kinh phí hoạt động của tổ chức chính trị này ở đâu mà có v.v…

Đảng khẳng định thế lực thù địch luôn luôn chống phá trong hàng chục năm qua. Vậy, nhà nước, nhân dân ta đã bị thiệt hại những gì do sự chống phá của họ ? Thiệt hại bao nhiêu tài nguyên, khoáng sản ? Tổn hại bao nhiêu nhân mạng ? Thất thoát bao nhiêu ngàn tỷ ? Dân bị cướp hết bao nhiêu đất ? Lãnh hải bị mất bao nhiêu cây số vuông ? Đó, đảng phải đưa ra những thiệt hại cụ thể do bọn thế lực thù địch chống phá thì dân mới tin. Còn không, đây chỉ là luận điệu vu vạ, chỉ lừa được những kẻ ngu học và bọn dư luận viên dốt nát mà thôi.

Là người dân, tôi chưa thấy bọn thế lực thù địch nào chống phá, mà chỉ thấy các lãnh đạo cấp cao của đảng CHỐNG lại sự phát triển của đất nước và PHÁ hoại sự hưng thịnh đất nước thì nhiều vô kể. Xin dẫn chứng vài trường hợp sau đây:

– Ủy ban Nhân dân TP HCM âm mưu sửa bản đồ quy hoạch khu đô thị Thủ Thiêm. Ăn cướp của dân Thủ Thiêm hàng trăm ngàn m2 đất, đẩy hàng ngàn hộ dân ra đường sống cảnh màn trời chiếu đất suốt mấy chục năm trời. Đây có phải là cán bộ, ủy viên trung ương đảng, ủy viên bộ chính trị phá hoại sự ổn định của đất nước không ?

– UBND TP Đà Nẵng bè phái móc ngoặc với Vũ Nhôm chiếm dụng hàng ngàn m2 đất đô thị, gây thất thoát cho ngân sách nhà nước hơn 20 ngàn tỷ đồng. Đây có phải những đảng viên cấp cao của đảng chống lại sự phát triển của đất nước không ?

– Lãnh đạo cấp cao bộ Thông Tin Truyền Thông móc ngoặc với Phạm Nhật Vũ ăn chia trong vụ AGV gây thất thoát cho ngân sách đến 7.000 tỷ đồng. Đây cũng là hành động chống lại sự phát triển của đất nước, đúng không ?

– Lãnh đạo cấp cao bộ công an tổ chức đánh bạc trên mạng. Điều này gây ảnh hưởng nặng nề đến đời sống của hàng triệu gia đình có người tham gia đánh bạc trong đường dây của lãnh đạo công an. Đây là 1 hành vi phá hoại sự hưng thịnh của đất nước, gián tiếp gây ra nạn trộm cắp, cướp của giết người trên phạm vi cả nước.

– Chính quyền tỉnh Hà Tĩnh tự ý cho FORMOSA thuê đất đến 70 năm, tiếp tay cho nó xả độc hủy hoại môi trường. Chính quyền tỉnh Bình Định độc quyền ký bán cảng biển Quy Nhơn với giá rẻ mạt. Chính quyền Tp. Hà Nội làm ngơ để bọn cơ hội phá rừng phòng hộ Sóc Sơn xây hàng trăm nhà nghỉ dưỡng, hàng chục biệt thự, hàng nghìn hồ bơi. Chính quyền Đồng Nai cho bọn lợi ích lấp sông phân lô bán nền. Chính quyền Bình Thuận cho phép đổ hàng nghìn tấn chất thải xuống biển với xảo ngữ “nhận chìm vật chất”…

Ôi thôi, thôi ! Nói về sự phá hoại đất nước và ăn cắp của công chống lại sự phát triển của đất nước thì nhìn đâu cũng thấy, địa phương nào cũng có, bộ ngành nào cũng có. Nhưng ngặt nỗi, tất cả sự chống phá này đều do đảng viên cộng sản gây ra, chứ chẳng có bọn thế lực thù địch nào trong đó cả.

Là người dân, tôi nhận thấy như vậy là đúng hay sai ? Nếu, đảng không nêu đích danh bọn thế lực thù địch là ai, bọn họ chống phá cụ thể những gì, mà cứ nói chung chung, mơ hồ như thế. Thì buộc lòng nhân dân chúng tôi phải nghĩ, bọn thế lực thù địch chính là các quan chức Nhà nước. Vì, ngoài bọn quan chức ra, chẳng có ai đủ khả năng chống phá đất nước này.

–Ngô Trường An.

Image may contain: 6 people, including Hồi Vi Đức, people standing and suit