

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)


httpv://www.youtube.com/watch?v=ESiQZaZ2nPY
Siêu sao Kobe Bryant, mạnh thường quân của nhiều người Việt Quận Cam chết thảm. ĐTGM bày tỏ nỗi buồn
Bryant là cha của bốn người con, và là người Công giáo. Nói anh là một người Công Giáo cũng chưa đủ. Thật vậy, anh được coi là một tấm gương sáng cho nhiều người Công Giáo. Vì thế, chỉ một giờ sau khi có tin anh chết thảm trong tai nạn trực thăng, Đức Tổng Giám Mục Jose Gomez của tổng giáo phận Los Angeles, và cũng là Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đã nhanh chóng bày tỏ nỗi buồn sâu xa của ngài.
CHÚA QUAN PHÒNG
Lm. Giuse Nguyễn Văn Khánh
Người ta hay kể câu chuyện sau đây để nói về sự quan phòng của Thiên Chúa:
Có hai người bộ hành lên đường đi đến một phương xa. Họ dùng một con lừa để chuyên chở hành lý, và mang theo một chú gà cồ làm bạn. Ban đêm đến họ đốt đuốc để soi đường.
Một trong hai người là một tín hữu rất đạo đức, luôn miệng nói: “Chúa là Ðấng tốt lành quan phòng mọi sự.” Người kia thì cứng lòng tin. Ông rất bực mình mỗi khi nghe người bạn đồng hành hơi một tí là cầu nguyện “phó thác cho Chúa lòng lành.” Trước khi mặt trời lặn, họ đến một ngôi làng nhỏ. Họ tìm một nơi để qua đêm. Họ gõ cửa khắp nơi, nhưng không có ai đón tiếp họ. Cuối cùng họ đành phải ra khỏi làng và tìm đến bìa rừng để qua đêm. Trong cảnh màn trời chiếu đất, người bạn không có lòng tin mới thốt lên: “Nào, Chúa tốt lành của anh ở đâu rồi?” Người kia bình tĩnh đáp lại: “Ðây là chỗ tốt nhất Chúa dành cho chúng ta ngủ qua đêm này.”
Ðêm đó, họ nằm ngủ dưới một gốc cây lớn nằm sát bìa rừng. Họ cột chú lừa vào một gốc cây gần đó. Họ chưa kịp đốt lên ngọn đuốc thì một tiếng động mạnh từ xa vang lại. Thì ra, chỉ trong chớp nhoáng, một chú sư tử đã đến cắn xé con lừa và mang đi. Vừa thương tiếc cho chú lừa, vừa lo sợ cho thân phận của mình, hai người bộ hành chỉ còn biết leo lên cây để tránh tai họa. Vừa tức giận, vừa mỉa mai, người bạn cứng lòng mới thốt lên: “Nào, Chúa quan phòng của anh còn tốt nữa không?” Người tín hữu ngoan đạo dõng dạc tuyên bố: “Nếu con sư tử không bắt gặp con lừa trước, thì chắc chắn nó đã bổ nhào trên chúng ta rồi. Tạ ơn Chúa là Ðấng tốt lành.”
Một vài phút sau, con gà cồ bỗng kêu la thất thanh. Hai người bộ hành mới trèo cao hơn. Họ nhận ra con gà cồ đang nằm trong nanh vuốt của một chú mèo rừng. Họa vô đơn chí! Chỉ vài phút sau đó, một cơn gió mạnh ùa đến, ngọn đuốc bỗng tắt ngụm đưa hai người vào trong cảnh tối tăm ghê rợn. Lần này, người tín hữu ngoan đạo chỉ biết giữ thinh lặng trước lời xiên xỏ của người bạn không tin Chúa của mình.
Sáng hôm sau, hai người mon men trở lại làng để mua thức ăn. Họ mới hay biết rằng đêm hôm đó một băng cướp đã đột nhập vào làng cướp của giết người. Nhìn cảnh tượng hoang tàn của ngôi làng, người có lòng tin mới giải thích cho người bạn như sau: “Anh đã chứng kiến từ đầu đến cuối. Giá như đêm hôm qua, chúng ta thuê được một chỗ trọ trong làng, thì có lẽ chúng ta cũng không thoát khỏi tay của bọn cướp. Nếu cơn gió lớn không làm tắt ngọn đuốc của chúng ta, thì hẳn bọn chúng đã nhìn thấy chúng ta. Bạn thấy chưa, trong tất cả mọi sự, Thiên Chúa luôn là Ðấng quan phòng tuyệt hảo.”
Thiên Chúa không muốn cho chúng ta gặp phải sự dữ. Trong Cựu ước sự kiện thiên thần Raphael phù hộ cho ông Tobia trên đường đi cưới vợ, hay là Thiên Chúa có thể biến sự dữ thành điều lành cho chúng ta như trường hợp ông Giuse bị bán sang Ai Cập, tất cả nói lên sự quan phòng của Thiên Chúa. Chúa Giêsu dùng hình ảnh con chim sẻ chẳng đáng mấy đồng, hay bông huệ ngoài đồng nay còn mai mất mà vẫn được Thiên Chúa chăm sóc, huống hồ là con người chúng ta…
Ngày đầu năm mới, người ta thường cầu chúc cho nhau mạnh khỏe, bằng an, hạnh phúc… Những gì người ta đã có thì không cần chúc nữa. Vậy thì khi cầu chúc cho người khác điều gì là cũng hàm chứa một chút lo lắng trong đó. Chúng ta lo ngại người thân có thể gặp rắc rối vì bệnh tật nên mới chúc “mạnh khỏe.” Vì chưa giàu đủ nên mới chúc “Phát tài”, sợ tai nạn hay chuyện này chuyện nọ xảy ra nên mới chúc “bình an.” Mỗi lời chúc đều hàm chứa một phần sự thiện mà chúng ta ao ước và đồng thời cũng hàm chứa một “nỗi lo.” Tuy nhiên lời Chúa hôm nay lại là tin vui cho chúng ta. Bởi vì Chúa Giêsu cho chúng ta biết chúng ta có một người Cha là Thiên Chúa rất quyền năng mà lại nhân lành luôn quan tâm đến mỗi người đến độ một sợi tóc trên đầu rụng xuống Chúa cũng tính cả rồi. Như vậy thì chẳng việc gì phải lo những chuyện không đâu, như là lo động đất, lo thiên thạch lao vào trái đất, lo tận thế…
Chớ lo lắng về ngày mai không có nghĩa là cứ nằm chờ sung rụng. Các nhà tu đức dạy rằng: Cầu nguyện mà không hành động là sự xúc phạm đến Thiên Chúa. Cũng như một người bị bệnh cầu xin Chúa chữa lành cho mình mà không thèm sử dụng những phương thế y học mà Thiên Chúa đã ban cho con người khám phá ra…
Tin vào Chúa quan phòng, chúng ta yên tâm mạnh dạn sắp xếp chương trình sống cho gia đình của mình trong đó ưu tiên cho việc kiếm tìm Nước Thiên Chúa. Ưu tiên cho việc cầu nguyện và các việc đạo đức thay vì dành hết tất cả thời gian cho công việc làm ăn mà thôi. Ưu tiên cho việc kiếm tìm Nước Thiên Chúa cũng có nghĩa là chúng ta phải dám hy sinh chấp nhận một phần thiệt thòi nào đó về vật chất, dành một phần kinh phí cho việc đạo thay vì sợ tốn tiền xăng rồi không dám đi lễ…
Để kết thúc, chúng ta tin tưởng nhắc lại lời Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI trong phần mở đầu sứ điệp Hòa Bình: “Năm mới luôn mang lại cho chúng ta niềm hy vọng về một thế giới tốt đẹp hơn. Trong ánh sáng này, tôi nguyện xin Thiên Chúa, là Cha của nhân loại, ban cho tất cả chúng ta sự hoà thuận và bình an để những khao khát của chúng ta về một đời sống hạnh phúc và thịnh vượng có thể được thành tựu.”
Lm. Giuse Nguyễn Văn Khánh
********************************************
Lạy Chúa, xin Chúa hướng dẫn chúng con trong năm mới này. Xin cho chúng con tìm thấy niềm vui thay vì thất vọng, tìm thấy bình an trong công việc bận rộn, tìm thấy hy vọng trong thất bại, tìm thấy giải pháp cho vấn đề của chúng con.
Xin cho chúng con trong năm mới này: khám phá ra ý nghĩa mới trong công việc, tìm được ý hướng cao quý trong mục tiêu và có hướng đi kiên định trong đời sống.
Xin cho chúng con: khởi đầu năm mới cùng với Chúa, biết dùng thời gian như món quà quý giá Chúa dành cho con, biết sử dụng mỗi ngày của năm mới này để nhiệt tình phục vụ anh chị em con. Amen!
27-1-2020

Dưới đây là một số vỏ đạn, đầu đạn còn sót lại lại tại hiện trường nhà cụ Kình và nhà chú Chức con trai cụ Kình, hình ảnh các loại đạn đồng do CSCĐ dùng các loại súng quân dụng bắn và bắn đạn hơi cay, đạn cao su…
Các ô cửa tại hiện trường ở tầng 1 đã bị bắn thủng. Cụ bà Dư Thị Thành và cụ Kình bị ngạt, trong phòng ngủ, cụ Thành phải cố gắng lần từng bước tìm cốc nước thấm ướt chiếc khẩu trang để đưa cho cụ Kình mới có thể thở được. Sau đó phòng bị bắn, phá cửa, cụ bà bị CSCĐ bẻ tay lôi ra ngoài, còn lại cụ Kình đang gần kiệt sức vì căn phòng đã ngập khói súng, khói đạn hơi cay, cụ Kình bị tra tấn, rồi bị sát hại tại phòng ngủ.

Vết máu còn sót lại một ít trên nền nhà qua ảnh mọi người đã thấy. Sau khi chôn cất cụ Kình thì gia đình phát hiện mùi tanh bốc lên, sau đó phát hiện ở góc nhà còn có một cái tải đựng quần áo của hai cụ, nhưng cả cái tải quần áo đó thấm đẫm máu đã đông cục, là do bộ phận CSCĐ lau dọn đã lấy quần áo có sẵn trong phòng để lau bớt máu của cụ Kình rồi nhét vào tải đó.

***
Đây là ô cửa sổ nhà ông Lê Đình Hợi, một người hàng xóm giáp ranh với nhà của chú Lê Đình Chức con trai cụ Kình. Hôm 9/1 CSCĐ đã phá cửa tầng một nhà ông Hợi, rồi trèo lên tầng 2, tiếp đó họ phá cửa sổ nhà ông Hợi để nhảy sang sân thượng nhà ông Chức.

Hiện có nhiều nghi vấn được đặt ra, rất có thể khi lực lượng CSCĐ phá cửa sổ nhà ông Lê Đình Hợi ra để nhảy sang nhà chú chức thì bị ngã xuống hố kỹ thuật (trong ảnh). Vì lúc đó hơi cay và khói mịt mù với lại do trời tối nên họ không nhìn thấy rõ cái hố, có thể họ cũng nghĩ đó là mặt phẳng. Cũng có thể những cái chết đó của 3 viên CSCĐ (nếu có thật) là do nguyên nhân khác.
Anh Lê Đình Uy vừa ló mặt ra khỏi cửa nhà chú Chức đã bị bắn vào tay và qua bức ảnh hiện trường dưới đây có thể thấy rằng không ai có thể có mặt ở sân thượng, hay có thể đứng cạnh cái hố ‘kỹ thuật’, chứ đừng nói là dưới làn mưa đạn mà có thể đứng đó cầm xăng đổ được xuống hố, bởi nếu có mặt cũng sẽ bị bắn hạ ngay.
Hiện chiếc ô cửa sổ nhà ông Hợi đã được xây kín lại. Clip bên trong ô cửa sổ này có rất nhiều vết đạn do CSCĐ bắn từ phía trước nhà chú Chức.

Lê Thanh Hải ‘chỉ đạo’ phá nát Thủ Thiêm như thế nào?
– Trong 15 năm vừa là chủ tịch vừa là bí thư Thành Ủy ở Sài Gòn, ông Lê Thanh Hải có hàng loạt chỉ đạo làm “biến dạng” Khu Đô Thị Mới Thủ Thiêm, quận 2.
Ông Lê Thanh Hải (70 tuổi), giữ chức chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân ở Sài Gòn từ năm 2001 đến năm 2006. Sau khi được bầu làm Ủy Viên Bộ Chính Trị, ông Hải được phân công giữ chức bí thư Thành Ủy Sài Gòn trong suốt 10 năm, từ 2006 đến 2015.
Theo báo VNExpress, thời kỳ ông Hải là lãnh đạo cao nhất của Ủy Ban Nhân Dân thành phố và Thành Ủy Sài Gòn, cũng là lúc dự án Khu Đô Thị Mới Thủ Thiêm, quận 2, bắt đầu được tiến hành. Ông Hải đã ký nhiều công văn liên quan việc quy hoạch, xây dựng khu đô thị được kỳ vọng “hiện đại nhất Đông Nam Á.”
Sau hàng chục năm, hôm 8 Tháng Giêng, 2020, Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương xác định ông Lê Thanh Hải và hàng loạt cán bộ chủ chốt của Ban Thường Vụ Thành Ủy Sài Gòn nhiệm kỳ 2010-2015, Ban Cán Sự đảng Ủy Ban Nhân Dân ở Sài Gòn nhiệm kỳ 2011-2016, “có sai phạm trong quá trình thực hiện dự án Khu Đô Thị Mới Thủ Thiêm.”
Trong Quyết định 367 năm 1996, thủ tướng CSVN phê duyệt quy hoạch xây dựng Khu Đô Thị Mới Thủ Thiêm quy mô 930 hécta, gồm: Khu Đô Thị Mới 770 hécta và Khu Tái Định Cư 160 hécta nằm giáp ranh, thuộc phường An Khánh, An Lợi Đông, Bình An, Bình Khánh và Thủ Thiêm, quận 2.
Tuy nhiên, theo kết luận của Thanh Tra Chính Phủ, trước khi quyết định của thủ tướng Võ Văn Kiệt ban hành, Sài Gòn đã giao 23.3 hécta đất ở phường Bình An cho năm doanh nghiệp đầu tư dự án kinh doanh nhà ở, khu vui chơi, giải trí, thương mại. So với quy hoạch được phê duyệt, diện tích Khu Đô Thị Mới Thủ Thiêm đã giảm 26.3 hécta (bao gồm ba hécta mặt nước).
Để bù vào phần hụt này, ngày 16 Tháng Chín, 1998, theo yêu cầu của Ủy Ban Nhân Dân ở Sài Gòn, kiến trúc sư trưởng thành phố phê duyệt quy hoạch 1/2000 có nội dung “bổ sung ranh quy hoạch khoảng 4.3 hécta đất phía Bắc thuộc một phần khu phố 1, phường Bình An.”

Khu Đô Thị Mới Thủ Thiêm nhìn từ trên cao. (Hình: Quỳnh Trần/VNExpress)
Thị trường đất quận 2 bắt đầu “bát nháo.” Theo đề nghị của Ủy Ban Nhân Dân thành phố, ngày 22 Tháng Hai, 2002, ông Nguyễn Công Tạn, phó thủ tướng CSVN, có công văn cho thu hồi 930 hécta thuộc các phường An Khánh, Bình An, Bình Khánh, An Lợi Đông và Thủ Thiêm (lúc này đã đổi thành quận 2) để chuẩn bị cho việc xây dựng Khu Đô Thị Mới Thủ Thiêm. Công văn nêu rõ “việc triển khai phải phù hợp với Quyết định 367 thủ tướng phê duyệt.”
Ngày 6 Tháng Ba, 2002, ông Vũ Hùng Việt, phó chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân ở Sài Gòn ký công văn yêu cầu các sở, ngành “xác định địa điểm, diện tích và ranh giao đất của 930 hécta (bao gồm 770 hécta xây dựng Khu Đô Thị Mới và 160 hécta xây dựng Khu Tái Định Cư). Trong đó nêu “nếu thiếu đất cho phép điều chỉnh diện tích các dự án ở quận 2 để bảo đảm đủ diện tích theo phê duyệt của chính phủ.”
Nửa tháng sau, ông Lê Thanh Hải, yêu cầu điều chỉnh diện tích Khu Đô Thị Mới, giao kiến trúc sư trưởng thành phố, giám đốc Sở Địa Chính Nhà Đất cắm mốc đủ 770 hécta đất, theo giải pháp bổ sung hơn 40 hécta của Khu Tái Định Cư Bình Khánh; rà soát lại quỹ đất quận 2 trong phạm vi giao đủ 160 hécta tái định cư.
Sau đó, để có đủ đất bù vào Khu Tái Định Cư, ông Hải tiếp tục yêu cầu “rà soát lại quỹ đất ở quận 2, thu hồi đất của các dự án chậm triển khai, không nhất thiết tại một địa điểm. Thực tế, chỉ có khoảng 10-20 hécta giáp ranh Khu Đô Thị Mới.”
Do lệnh này của ông Hải, Khu Tái Định Cư Thủ Thiêm đã được chuyển ra xa và chia thành sáu địa điểm tại các phường Bình Khánh, An Phú, An Khánh, Thạnh Mỹ Lợi, Cát Lái. Trong đó, khoảng 50 hécta ở phường Cát Lái, giáp tỉnh Đồng Nai, cách Khu Đô Thị Mới đến 15 cây số.
Thanh Tra Chính Phủ cho rằng “các sai phạm của Sài Gòn đã phá vỡ quy hoạch Khu Đô Thị Mới Thủ Thiêm được thủ tướng phê duyệt, thể hiện sự buông lỏng quản lý, sử dụng đất. Đây là nguyên nhân khiến cuộc sống nhiều người dân bị ảnh hưởng, khiếu nại kéo dài, việc xây dựng Khu Đô Thị Mới Thủ Thiêm bị đình trệ.”
Theo Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương, ông Hải là người “chịu trách nhiệm chính về những vi phạm, khuyết điểm của Ban Thường Vụ Thành Ủy ở Sài Gòn.”
“Hành vi của ông Hải và những cựu lãnh đạo thành phố Sài Gòn được cho là gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm thiệt hại lớn tiền và tài sản của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế, xã hội và đời sống của một bộ phận nhân dân thành phố, gây bất bình trong xã hội.”
Sau kết luận của Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương, chính quyền thành phố cũng kiểm điểm các cá nhân liên quan “gửi báo cáo ra trung ương vì có nhân sự thuộc Bộ Chính Trị quản lý. Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương sẽ họp và báo cáo Bộ Chính Trị để có hay không hình thức kỷ luật, sau đó Ban Chấp Hành Trung Ương bỏ phiếu quyết định.”
Theo báo VNExpress, sau khi Bộ Chính Trị CSVN có quyết định chính thức, chính quyền thành phố sẽ giải quyết cụ thể về mặt đảng, chính quyền. Trong khi đó, Ủy Ban Nhân Dân thành phố đã tổ chức kiểm điểm cán bộ do Ủy Ban Nhân Dân quản lý sau kết luận của Thanh Tra Chính Phủ. (Tr.N)


Khi đế chế Liên Xô ở Đông Âu sụp đổ vào những tháng cuối năm 1989, tôi được cử đi đưa tin về các cuộc cách mạng đang đồng loạt diễn ra chỉ trong vòng có sáu tuần: Bức tường Berlin sụp đổ, cuộc cách mạng ôn hòa ở Tiệp Khắc (Czech), và một cuộc cách mạng bạo lực ở Romania.
Vào ngày 1/10/1989, không ai mơ rằng vào Giáng sinh, Bức tường Berlin sẽ sụp đổ, Tiệp Khắc sẽ được tự do, và lãnh đạo chuyên quyền Nicolae Ceausescu của Romania bị lật đổ.
Hầu hết mọi người vẫn cho rằng khối Xô Viết sẽ còn tồn tại lâu dài. Tuy nhiên, trên thực tế, đây chỉ là ‘ngôi nhà dựng lên từ những mảnh ghép’ (house of cards) – tức một sự tồn tại không bền vững, bấp bênh.
Năm 1953, bạo loạn ở Đông Đức đã bị đàn áp một cách nhẫn tâm.
Năm 1956, khi Hungary cố gắng ly khai, xe tăng Liên Xô đã đè bẹp cuộc cách mạng này.
Năm 1968, nhà lãnh đạo Tiệp Khắc Alexander Dubcek đã giới thiệu “Chủ nghĩa xã hội với khuôn mặt của con người” và Moscow lại gửi vào xe tăng đến.
Nhưng đến tháng 10/1989, mối đe dọa vũ lực đã biến mất. Khi những người biểu tình xuất hiện trên đường phố Đông Đức, nhà lãnh đạo cải cách của Liên Xô Mikhail Gorbachev cảnh báo chế độ ở Đông Berlin không được nổ súng.
Tuy nhiên, sự sụp đổ của khối Xô Viết đã xảy ra một cách rất tình cờ.

Vào tối ngày 9/11/1989, phát ngôn viên của Đông Đức Günther Schabowski đã có buổi họp báo như thường lệ.
Bộ Chính trị cầm quyền hy vọng sẽ xoa dịu căng thẳng bằng cách cấp thị thực cho người dân đến Tây Đức nhưng sẽ phải qua một quy trình rất chậm chạp và quan liêu. Nhưng không một ai đã giải thích điều này cho Schabowski. Tồi tệ hơn, khi vội vã đến buổi họp báo, ông ta đã sắp xếp nhầm các tài liệu về kế hoạch.
Khi một người hỏi khi nào hệ thống chính trị mới sẽ bắt đầu. Schabowski bối rối, trả lời rằng: “Ngay lập tức.”
Truyền hình Tây Đức và tất cả mọi người ở Đông Đức theo dõi tivi hôm đó đã hiểu điều này có nghĩa rằng Bức tường Berlin sẽ được mở vào tối hôm đó. Những đám đông khổng lồ quây quanh dọc bức tường và những người lính biên phòng đã cho họ đi qua.
Bức tường – biểu tượng chính của sự đàn áp của khối Xô Viết – đã không còn chia rẽ nước Đức được nữa.

Và đêm hôm sau, chính tôi đã nhảy múa ngay bên trên bức tường đó – điều mà tôi chưa bao giờ nghĩ tới kể cả trong những giấc mơ điên cuồng nhất của tôi.

Ở nước láng giềng Tiệp Khắc, phe đối lập được lãnh đạo bởi các trí thức của phong trào Hiến chương 77.
Họ đã bị đàn áp một cách dã man, nhưng nhà lãnh đạo của họ, nhà văn và kịch tác gia Vaclav Havel, đã nhấn mạnh rằng họ vẫn nên hoạt động như một chính phủ, với các dự trù chi tiết về cải cách kinh tế và luật pháp, trong lúc chờ đợi.
Chỉ tám ngày sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, vào ngày 17/11, một loạt các cuộc biểu tình phản đối đã bắt đầu tại Quảng trường Wenceslas của Prague.
Khi tôi hạ cánh ở Prague vào ngày 19/11, tôi đi thẳng đến quảng trường. Tôi có thể thấy rằng hầu hết những người lớn tuổi, những người đã đau đớn trải qua Mùa Xuân Praha 1968, đang lê bước về nhà, trong khi những người trẻ tuổi, không hề có ký ức gì về năm 1968, vẫn đang xô đẩy và tích cực tham gia cuộc biểu tình.
Dần dần, trong những ngày tiếp theo, những người lớn tuổi cũng tham gia; và đến ngày 24/11, quảng trường đã đầy ắp người.

Tối hôm đó, Alexander Dubcek, nhà lãnh đạo năm 1968, vốn đã bị quản thúc tại gia kể từ sau sự kiện Mùa xuân Prague, đã đến tòa nhà Melantrich nhìn ra quảng trường.
Tôi đang đứng bên cạnh Vaclav Havel khi ông ta chào đón Dubcek và, dịu dàng như một đứa con trai với một người cha già, dẫn ông ra ban công nhìn về đám đông khổng lồ.
Đám đông ồ lên trong hân hoan.
Lúc đầu, giọng Dubcek có phần run rẩy, nhưng càng về sau càng mạnh mẽ hơn: “Trước đây, ánh sáng đã từng chiếu rọi nơi đây. Chúng ta phải hành động khi ánh sáng đó chiếu lại lần nữa.”
Bên dưới chúng tôi, mọi người đang bật khóc.
Tối hôm đó, tại trụ sở của phong trào Hiến chương 77 – Nhà hát Magic Lantern – tôi chứng kiến Dubcek và Havel và những người khác, ngồi trên sân khấu. Người phát ngôn của họ, Jan Urban, đã mở ngay một chai sâm banh và tuyên bố rằng, chế độ Cộng sản đã kết thúc.
Cuộc cách mạng đã kết thúc – và nó đã diễn ra hoàn toàn trong ôn hòa.

Có lẽ viên hạt cứng nhất để đập bể luôn là Romania, nhưng thực tế, thể chế cộng sản ở quốc gia này chỉ tồn tại được khoảng một tháng sau đó.
Nicolae Ceausescu, nhà lãnh đạo Cộng sản, ngày càng trở nên chuyên chế hơn, và lực lượng cảnh sát mật của ông ta, The Securitate, cũng rất hung bạo.
Đến giữa tháng 12, những người từ nhóm thiểu số nói tiếng Hungary bị áp bức của Romania đã biểu tình trên đường phố Timisoara.
Không ai dám nói với Ceausescu về mức độ nghiêm trọng của vụ bạo loạn ở Timisoara, bởi vậy, ông ta đã không cử lực lượng đến Bucharest để đàn áp vào ngày 21/12.
Cảnh sát mật The Securitate đi cùng xe buýt với các công nhân nhà máy khiến vụ biểu tình như có vẻ đông đảo hơn. Và với sự ẩn danh của đám đông, một số người bắt đầu la ó. Ceausescu dường như bị đơ ra, miệng há hốc: ông ta chưa bao giờ bị ai la ó.
Tất cả những người xem truyền hình hôm đó đã nhìn ra điểm yếu của ông ta.

Đêm đó cuộc cách mạng nổ ra. Sáng hôm sau, 22/12, Ceausescu và vợ leo lên một chiếc trực thăng khi đám đông đang đột nhập vào nơi làm việc của ông ta và đi về phía Bắc.
Nhưng phi công sau đó đã sớm hạ cánh, nói rằng trực thăng hết nhiên liệu.
Các vệ sĩ của Ceausescu rụng rời. Bà Elena, cứng rắn hơn chồng, rút súng ra và cướp một chiếc ô tô đi qua.
Cuối cùng, họ bị bắt.
Vào ngày Giáng sinh, đoàn làm phim của tôi và tôi đã quay phim trong căn hộ bỏ hoang của Ceausescu và người quản gia của ông ta đã đưa cho tôi cây bút của nhà độc tài như một vật kỷ niệm.
Đêm đó, khi tôi chuẩn bị lên sóng truyền hình, thì nhận được tin rằng hai vợ chồng Ceausescu đã bị xử bắn.
Tôi nhanh chóng viết lại bản thảo của mình rồi ngồi nghỉ. Và đó là lúc tôi nhận ra, mình đã viết cáo phó cho Ceausescu bằng chính cây bút của ông ta.
PHẠM ĐÌNH TRỌNG
Sáng mồng một tết năm trước, Kỉ Hợi, ông bạn già Lê Phú Khải phôn gọi tôi đến cuộc gặp với mấy ông bạn viết Lưu Trọng Văn, Hoàng Dũng ở Sài Gòn, Nguyễn Thọ từ Koln, Germany trở về. Chúng tôi ngồi cà phê vỉa hè thanh thản cảm nhận tiết tấu lãng đãng của mùa xuân đất nước, lắng nghe giai điệu dìu dặt của cuộc sống Sài Gòn trong ngày thư thả tết nhất. Năm nay, mồng ba tết Canh Tý tôi vẫn không muốn ra khỏi nhà.
Theo lịch ta, tháng chạp được gọi là tháng tết và tháng giêng là tháng xuân. Cuộc thảm sát kinh hoàng diễn ra ở làng quê hiền hòa Đồng Tâm thuộc địa lí kinh kì Hà Nội đúng ngày rằm tháng tết Canh Tý năm nay làm bàng hoàng lương tri con người, phủ một bóng đen tăm tối lên tết Canh Tý và đè nặng trĩu trong lòng tôi.
Năm ngàn dân lành ở Huế bị những người cộng sản xử bắn rồi bị vùi chung nấm mồ hồi tết Mậu Thân 1968 đã là man rợ. Nhưng mức độ man rợ của sự kiện Đồng Tâm tháng tết Canh Tý còn khủng khiếp hơn. Trong đêm, giữa thời yên hàn, ba ngàn cảnh sát vũ trang rải quân vây kín nhà những người dân đang làm ăn lương thiện, chưa hề bị truy tố hình sự, chưa bị tòa án tuyên có tội. Không có lệnh khám nhà, bắt người, không cần có bản án tử hình, không cần pháp trường, trong đêm phá cửa, xông vào tận giường ngủ, dí súng sát tim, sát não cụ già 84 tuổi, nã đạn. Ba mươi người dân tay không bị đánh đến thương tích nặng rồi bị bắt đi mất tích đã hơn hai tuần không biết sống chết ra sao. Giết và bắt người rồi vơ vét của cải tiền bạc trong nhà dân mang đi. Mang xác cụ già đã bị bắn vỡ tim, nát óc đi phanh thây, rạch bụng cụ ra rồi mới trả xác về cho con cháu. Trong lịch sử loài người viết bằng máu chưa có sự kiện nào man rợ đến như vậy.
Say máu, tết đến, hệ thống tuyên truyền nhà nước cộng sản lại giăng khắp hang cùng ngõ hẻm những băng rôn lênh láng màu máu với hàng chữ hợm lĩnh, lố bịch: Mừng đảng – Mừng xuân. Năm nay, nhà nước cộng sản mừng mùa xuân thứ 90 đảng của họ bằng máu Đồng Tâm. Ra đường nhìn những tấm băng rôn đỏ máu Đồng Tâm, làm sao chịu nổi,
Ngồi nhà, vào mạng hóng thêm tin mới Đồng Tâm liền gặp được một tâm trạng đồng điệu khi được đọc bài thơ của nhà thơ Bùi Chí Vinh với giọng thơ không có hồn thơ cổ điển như thơ Cao Bá Quát nhưng khí phách ngang tàng không kém nhà thơ họ Cao đã phất cờ khởi nghĩa chống lại triều đình nhà Nguyễn:
Đêm Giao Thừa không ngủ được
Ngoài Bắc mưa giông sấm sét ầm trời
Trong Nam những con tắc kè xa quê kêu não nuột
Thành phố vắng rừng mà như có ma trơi
Đáng lẽ giờ này cánh đồng Sênh đã mặc áo mới tinh khôi
Cụ Lê Đình Kình ngồi nhà chờ cháu con chúc phúc
Người lính già kể chuyện Nguyên Phong bẻ nạng chống trời
Và tiếp tục kể chuyện giữ làng giữ đất
Đáng lẽ giờ này ba ngàn tinh binh trút lớp cảnh phục màu đen như mực
Trở về làm nhân dân trong mái ấm gia đình
Sẽ không có chuyện bốn giờ sáng hành quyết một cụ già nằm trên giường rồi rạch bụng
Rồi tung đủ thứ dư luận hỏa mù quỷ khốc thần kinh
Đáng lẽ giờ này ở tận Vũ Hán u minh
Bầy virus corona còn nằm co ro trong ruột dơi và rắn
Những cái miệng dục vọng phàm ăn Bắc Kinh đã ký án tử hình
Mở cái hộp Pandora chứa đầy zumbi, xác sống
Chẳng lẽ trái đất bị hủy diệt bắt đầu từ Trung cộng
Chẳng lẽ Việt Nam bị xóa sổ mùa xuân từ cái chết cụ Kình ?
Đêm Giao Thừa không ngủ được
Sáng mùng một khai bút đầu năm như thể tụng kinh…
Hội Nhà Văn Việt Nam có cả ngàn hội viên nhưng có được mấy người đau nỗi đau Đồng Tâm, nỗi đau của giống nòi Việt Nam, của lịch sử Việt Nam thời cộng sản như nhà thơ người Nam, gốc Bắc Bùi Chí Vinh. Nhìn trước, nhìn sau dường như chẳng còn nhà văn, nhà thơ nào nữa biết đến nỗi đau Đồng Tâm.
Lại buồn thêm khi tôi phải thấy nhiều người được coi là trí thức, nghệ sĩ, là tầng lớp tinh hoa nhưng không hề biết sự thật nỗi đau Đồng Tâm. Họ xênh xang com lê, cà vạt. Họ xênh xang vợ đẹp, con giàu. Họ xênh xang phòng khách đầy hoa, rượu sang đầy tủ.
Tôi lặng người như vừa mất đi một người bạn sớm bộc lộ tài hoa từ tuổi học trò khi thấy ông bạn thời học phổ thông nay là nghệ sĩ có danh phận, là nhân vật thứ hai trong một hội nghệ thuật khoe tấm ảnh cười sung sướng bên con người nắm quyền lực cao nhất trong đảng và nhà nước cộng sản hiện nay, cũng là người duy nhất có đủ thẩm quyền cho phép thực hiện cuộc thảm sát Đồng Tâm, là người chịu trách nhiệm cao nhất vụ thảm sát Đồng Tâm đêm rằm tháng tết năm nay.
Quyền lực đã là hiện thân của cái ác. Tầng lớp tinh hoa không những thờ ơ với cái ác mà còn núp bóng quyền lực của cái ác thì cái ác còn ngạo nghễ ngự trị lâu dài


Đồng Tâm, những điều chưa nói hết!
Huy Phương
Qua tin tức báo chí ngay trong nước, chúng ta cũng biết thời đại này là thời đại những kẻ có quyền lực sống mạnh, sống giàu nhờ đất và đám dân đen khốn khổ vì mất đất, suốt đời mang khăn gói đi khiếu oan vì đất hay chết vì giữ đất. Câu chuyện quanh quẩn theo từng bước: chính quyền cướp đất, đền bù rẻ mạt, đền một thì bán ra năm. Dân không chịu di dời thì dùng biện pháp “cưỡng chế,” cưỡng chế không được thì bố ráp, tấn công. Trong những cuộc tấn công bằng xe ủi đất, súng đạn này, phía nhân dân đứng về phần chịu thiệt, vì gậy gộc không chống lại được vũ khí và nhân lực hùng hổ, nên đã nhiều người vào nhà tù, thậm chí là bị kêu án tử hình, như nhà ngụ ngôn La Fontaine, Pháp đã nói: “Lý kẻ mạnh bao giờ cũng đúng! (La raison du plus fort est toujour la meilleur).
Dân Đồng Tâm đã khẳng định ý đồ của quyền lực là muốn chiếm đất Đồng Tâm vì nó đã được chính quyền huyện Mỹ Đức bán cho tập đoàn Viettel, nên bằng mọi giá chính quyền phải thâu tóm mảnh đất này, thời gian lấy đất chỉ là chóng hay chầy mà thôi.
Nhưng vì sao vào đêm ngày 9 Tháng Giêng, vào lúc 3 giờ sáng, lực lượng công an lại bao vây, tấn công vào nhà ông Lê Đình Kình, mà công an coi như là bộ chỉ huy đầu não của một cuộc bạo loạn sắp nổ ra. Không một công an nào trong lực lượng đột kích bị thương hay chết vì lựu đạn hay gươm giáo của dân làng, mà theo thông cáo chính thức, chỉ có ba sĩ quan, trong đó có một cấp tá, bị rơi xuống hầm ga, sâu 4 mét gần nhà ông Lê Đình Kình, trong khi gia đình ông Kình có hai người chết vì súng đạn của lực lượng chính phủ.
Theo nguyên tắc ba sĩ quan công an này chỉ được xem là chết vì tai nạn “trong khi thi hành” công vụ, thường là được cấp tiền tử tuất 12 tháng lương. Nhưng trong trường hợp này, những người chết về phía công an được “thần thánh hóa” thành những anh hùng, “chết vì dân, xã thân vì nước,” được phong liệt sĩ, truy thăng một cấp bậc, được ân thưởng Huân Chương Chiến Công Hạng I, và long trọng hơn nữa “quốc táng!” Lễ tang và truy điệu ba công an đã được tổ chức theo nghi thức trọng thể vào sáng 16 Tháng Giêng tại Nhà Tang Lễ Quốc Gia-Hà Nội, nơi đã quàng xác Võ Nguyên Giáp và Trần Đại Quang, với sự có mặt viếng tang của các giới cao cấp của đảng và chính phủ!
Trong quá khứ, quân đội bỏ mình trong trận chiến biên giới Việt-Trung, lính hải quân chết tức tưởi ở Gạc-Ma chưa hề được vinh dự truy tặng, tôn vinh lên bậc Thánh như ba vị công an “sa chân” ở Đồng Tâm. Năm nào lễ tưởng niệm 64 công binh hải quân Việt Nam hy sinh tại đảo Gạc Ma đều bị chính quyền quấy phá một cách hạ tiện, bằng cách cho người đến ca hát, múa nhảy xen lẫn trong buổi lễ.
Phải chăng trong giai đoạn này, kẻ thù phải nhắm bắn là quần chúng nên phải đề cao ngành công an, còn quân đội chống ngoại xâm cần được ngủ yên trên tấm giường nệm “hữu hảo!”
Nên nhớ theo định nghĩa công an nhân dân Việt Nam là một lực lượng vũ trang trọng yếu của Đảng Cộng Sản Việt Nam (sau đó mới đến nhà nước CXHCNVN), và công an nhân dân Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng Sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch Nước. Nói chung công an là công cụ bạo lực giúp giai cấp thống trị bảo vệ quyền lợi của mình từ bên trong, khác với quân đội là bảo vệ từ bên ngoài, nên danh nghĩa “chết vì dân, xã thân vì nước,” chỉ là lời tâng bốc dối trá. Tướng Công An Tô Lâm đã không ngần ngại tô son, trát phấn cho thuộc hạ, cho rằng, đây là “sự dũng cảm, không quản ngại hy sinh, quyết tâm bảo vệ kỷ cương, phép nước và sự bình yên, hạnh phúc của nhân dân của các liệt sỹ là tấm gương sáng về tinh thần ‘vì nước quên thân, vì dân phục vụ’ để tô thắm thêm truyền thống anh hùng vẻ vang của lực lượng Công an Nhân dân Việt Nam!”
Đó là phía những anh hùng “giữ nước,” còn về phía những anh hùng “giữ đất” thì sao?
Nếu những công an chết được xem như “vị quốc vong thân,” thì cụ Lê Đình Kình được xem như là một người phản quốc, sau khi bị bắn chết, ngày đám tang cử hành, người Đồng Tâm bị cô lập, không ai có thể đến để chia buồn với gia đình Cụ.
Điều này nhắc cho chúng ta nhớ lại trong ngày tang lễ của ông Lê Hiếu Đằng, công an đã gỡ những lời chúc tụng trên vòng hoa và khi ban tổ chức đặt những băng-rôn khác thay thế thì đã bị cướp giật thô bạo ngay tại chỗ, không khác gì những điều đã xẩy ra trong tang lễ của Tướng Trần Độ trước đây.
Hèn hạ hơn nữa là sau khi cụ Lê Đình Kình mất, một số nhà hoạt động xã hội dân sự đã loan báo rộng rãi sẽ tiếp nhận tiền phúng điếu, giúp đỡ gia đình ông Kình, cũng như các nhạn nhân Đồng Tâm hôm 9 Tháng Giêng, 2020, qua trương mục “5K.” của bà Nguyễn Thúy Hạnh ở Ngân Hàng Vietcombank. Số tiền này do những blogger, Facebooker đóng góp tính đến hôm 17 Tháng Giêng, 2020 là 528,453,669 đồng ($22,757). Trong ngày này, bà Nguyễn Thúy Hạnh đến ngân hàng rút số tiền này để chuyển cho gia đình nạn nhân, thì được thông báo tài khoản của bà đã bị chính phủ phong tỏa.
Chúng ta không biết phải dùng chữ nghĩa nào để mô tả chuyện phi pháp và bần tiện của cái tập thể côn đồ này.
Không phải từ kẻ thù mà từ ngay Dương Đức Hoàng Quân, một người công an đã thiệt mạng đêm 9 Tháng Giêng tại Đồng Tâm cũng đã viết trên Facebook của mình, những dòng cuối cùng như một điềm báo, và lòng hối hận: “Chiến tranh bảo vệ tổ quốc không đáng sợ. Nhưng đáng sợ là máu đổ chính vì người dân mình.” Sinh thời, Lê Đức Anh khi làm bộ trưởng Quốc Phòng đã trả lời phỏng vấn của báo chí: “Cưỡng chế đã sai mà dùng quân đội cưỡng chế lại càng sai hơn!”
Nguyễn Xuân Phúc cũng đã từng lưu ý cán bộ chức quyền: “Không được coi thường những đốm lửa nhỏ, nhiều đốm lửa nhỏ sẽ bùng lên thành đống lửa lớn…” Theo báo cáo của Ban Dân vận trung ương, năm 2019 có hơn 478,000 lượt công dân đến cơ quan hành chính nhà nước khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh (tăng 4.3% so với năm 2018.) Trong này có bao nhiêu phần trăm liên quan đến những vụ cướp đất!
Những đốm lửa nhỏ sẽ thành đống lửa lớn (như những vụ cháy rừng)!
Góp gió sẽ thành bão!
Cũng có ngày chính quyền CSVN sẽ biết sợ, đó là ngày “Bão nổi…!” (Huy Phương)

Người dân đặt vòng hoa và nến tưởng niệm các nạn nhân của nạn đói Holodomor năm 1932-1933 tại Kiev, ngày 23/11/2019. Genya SAVILOV / AFP
Thụy My
Từ năm 1932 đến 1933, một nạn đói khủng khiếp đã diễn ra tại Liên bang Xô viết. Gần 5 triệu người đã bị chết đói, trong đó có đến 4 triệu tại Ukraina. Được gọi là « holodomor » (diệt chủng bằng nạn đói), thảm trạng này không phải do thiên tai hay mất mùa, là mà hậu quả của chính sách cưỡng bức tập thể hóa ở nông thôn do đảng Cộng Sản đưa ra, buộc nông dân phải từ bỏ mảnh đất thân yêu của họ để vào nông trang hợp tác.
Tại Ukraina, một loạt các chỉ thị trấn áp đã gây ra « nạn đói trong nạn đói, một thảm họa dành riêng cho người Ukraina ». Đó là danh sách đen các làng và nông trang cần phải trừng phạt vì không đạt chỉ tiêu về ngũ cốc, tịch thu tất cả những thứ gì có thể ăn được, kiểm soát biên giới không cho những người nông dân đói khổ ra khỏi làng…
Song song đó, là một chiến dịch đàn áp trí thức Ukraina : giáo sư, nhà văn, nghệ sĩ, linh mục bị vu khống, đày ải, tàn sát, nhằm hủy hoại từ gốc rễ mọi ý định dân tộc vừa chớm nở – bị coi là thách thức cho sự « đoàn kết » của Liên bang Xô viết, được Stalin tưởng tượng ra.
« Diệt chủng bằng nạn đói » hoàn toàn bị che giấu trong thời Liên Xô cũ : về mặt chính thức, thì không hề có nạn đói. Các tài liệu lưu trữ bị hủy một cách có phương pháp, gây khó khăn cho mọi nghiên cứu về chủ đề này, ngoài những nhân chứng còn sống sót. Sau khi Liên Xô sụp đổ, người dân bắt đầu lên tiếng và các bằng chứng xuất hiện.
Nhà sử học kiêm nhà báo Anne Applebaum, đoạt giải thưởng Pulitzer năm 2004 với tác phẩm « Gu-lắc, một câu chuyện » lần này ra mắt cuốn sách gây chấn động « Nạn đói đỏ ». Tác phẩm kể lại một chương tang tóc trong quá khứ của Ukraina, nay đã trở thành một quốc gia độc lập nhưng luôn phải chiến đấu với nước láng giềng to lớn là Nga để bảo vệ chủ quyền. Tác giả đã trả lời phỏng vấn báo Libération số ra ngày 26/12/2019.
Điều gì đã thúc đẩy bà viết về chủ đề này ?
Cuốn sách là sự tiếp nối những cuốn trước, theo một cách nào đó. Tôi đã viết hai cuốn khác về chủ nghĩa Stalin, và nay có thể coi như một bộ ba cuốn. Từ lâu tôi đã muốn tìm hiểu về nạn đói này : tại sao nó xảy ra, tại sao Nhà nước lại để xảy ra, và vì sao người dân lại chấp nhận. Trong thập niên 80, nhà sử học tên tuổi Robert Conquest đã viết một tác phẩm nổi tiếng là « Mùa mưa đẫm máu ». Ngày nay khi chúng ta có thể tham khảo văn khố, thì thời kỳ này phải được mô tả cụ thể hơn, từ đầu cho đến cuối. Tôi muốn viết về lịch sử Liên Xô là vì vậy : chúng ta có thể tham khảo các tài liệu lưu trữ mới, các hồi ký, một điều không thể có được cách đây mười năm.
Phải chăng nạn đói không phải là không tránh được, nhưng Stalin vẫn để cho diễn ra ?
Còn hơn thế nữa ! Cuốn sách của tôi chứng minh rằng vào năm 1932, sự hỗn loạn, nạn đói ngự trị khắp nơi tại Liên bang Xô viết, và Stalin biết rằng Ukraina bị ảnh hưởng nặng nhất. Ông ta đã có một loạt quyết định vào mùa thu 1932, nhằm làm trầm trọng thêm nạn đói ở Ukraina. Quota ngũ cốc phải nộp được tăng lên, kèm theo các đạo luật làm giảm đi khả năng sử dụng ngôn ngữ Ukraina. Nói cách khác, đây là sự tấn công vào bản sắc Ukraina. Có những vụ bắt bớ hàng loạt trí thức. Stalin muốn thông qua sự hỗn loạn từ nạn đói để tiêu diệt ý hướng xác lập chủ quyền Ukraina.
Một trong những khó khăn đối với việc xác lập trách nhiệm của Stalin, là không có tờ giấy nào mang chữ ký của ông ta, ra lệnh gây ra nạn đói…
Hẳn là như vậy, nhưng chúng tôi có những lá thư do Stalin viết vào mùa hè1932 cho Kaganovitch, một trong những tay sai của ông ta, trong đó Stalin tỏ ra giận dữ. Vào lúc tập thể hóa, khi Ukraina bắt đầu chịu đựng nạn đói, đã xảy ra các vụ nổi dậy và phản kháng, thậm chí nổi dậy vũ trang chống lại đảng, để chống chủ trương tịch thu ngũ cốc. Một số đảng viên cộng sản Ukraina bắt đầu đánh hơi thấy, họ từ chối tịch thu thực phẩm của nông dân, khiến Stalin nổi trận lôi đình. Ông ta viết trong thư, đây là lúc phải đàn áp.
Vài tuần sau, có các chỉ thị mật nhắm vào Ukraina. Nạn đói gia tăng, và đến mùa xuân 1933, tỉ lệ tử vong lên rất cao. Cần nhắc lại rằng đó không phải do hạn hán, mà trước hết là lúa mì rồi rau quả, khoai tây và gia súc lần lượt bị tịch biên. Tháng 12 rồi tháng Giêng, tháng Hai, các đội dân quân đi càn khắp Ukraina và tịch thu thực phẩm, tuy biết rằng người dân đang chết đói. Có rất nhiều bản báo cáo, kể cả của công an, về các vụ ăn thịt người. Như vậy có rất nhiều bằng chứng là Stalin đã biết.
Bà dành phần kết cho nạn « diệt chủng » khi nói về nạn đói này …
Từ này là của Raphael Lemkin, một luật sư Ba Lan gốc Do Thái, nay sống tại Ukraina. Theo định nghĩa ban đầu, đây không chỉ là sự tàn sát hàng loạt mà còn là mưu toan tiêu diệt một nền văn hóa khác, vốn đã từng xảy ra nhiều lần trong lịch sử thế giới và đặc biệt tại khu vực này của châu Âu. Một sự chiếm đóng không chỉ đơn thuần chính trị mà đi kèm việc phá hủy các nhà thờ, cấm sử dụng ngôn ngữ…đó là hiện tượng mà Lemkin muốn định nghĩa.
Sau Đệ nhị Thế chiến, từ « diệt chủng » đã được quốc tế luật hóa, có hẳn một chương của Liên Hiệp Quốc. Rốt cuộc ý nghĩa được chấp nhận là điều tương tự như diệt chủng người Do Thái, tức là một quốc gia muốn sát hại toàn bộ cư dân của một quốc gia khác. Nạn đói ở Ukraina như vậy không nằm trong ý nghĩa này, nhưng là diệt chủng theo nghĩa nguyên thủy – mưu toan giết người vì nguồn gốc của họ, gây thiệt hại về văn hóa và hủy hoại chủ quyền Ukraina.
Tôi đưa chủ đề diệt chủng vào phần kết vì không muốn cuốn sách bị coi là tranh luận về diệt chủng – vốn mang tính pháp luật và đạo đức – trong khi tôi viết sách về lịch sử. Việc này làm nhiều người Ukraina thất vọng vì họ muốn holodomor phải được nhìn nhận là diệt chủng.
Có sự lặp lại trong quan hệ giữa Matxcơva và Kiev trong thập niên 30 và ngày nay ?
Cần chú ý, Putin không phải là Stalin, chúng ta đang trong một kỷ nguyên hoàn toàn khác. Nhưng lịch sử nạn đói cho thấy tư duy của Matxcơva về Ukraina. Điều làm Stalin lo sợ là khả năng nổ ra một phong trào quốc gia Ukraina, tách rời Ukraina ra khỏi Liên Xô, thách thức lý tưởng bôn-sê-vich. Stalin lo ngại chủ nghĩa dân tộc tự do phương Tây và ý hướng dân chủ, sợ Ukraina quan hệ chặt chẽ hơn với phương Tây.
Putin ngày nay cũng nghi ngại Ukraina với cùng một lý do. Tất nhiên Ukraina không phải là mối đe dọa quân sự cho Nga, nhưng là vấn đề lớn về ý thức hệ. Khi những người biểu tình ở Kiev vẫy cờ châu Âu, kêu gọi chấm dứt tham nhũng và tổng thống phải bỏ trốn, đó chính là kịch bản mà Putin sợ hãi. Trong thập niên 30 cũng như bây giờ, phong trào quốc gia Ukraina luôn là thách thức đối với Kremlin. Trong quá khứ là chế độ toàn trị bôn-sê-vich, còn giờ đây là chế độ độc tài tham nhũng của Putin.
Ngược lại, nạn đói đã thay đổi cái nhìn của Ukraina về Nga như thế nào ?
Chính phủ Ukraina luôn rất thận trọng, nói về một tội ác do Nhà nước xô viết gây ra chứ không phải Nga. Đây không phải là xung đột quốc gia giữa Nga với Ukraina. Nhưng trong suốt thế kỷ 20, nạn đói là bí mật tại Liên Xô và chỉ được cộng đồng Ukraina lén lút đề cập đến. Đó là điều đã diễn ra khi người Ukraina không có chủ quyền và Nhà nước của chính mình : họ bị thảm sát.
Bà hy vọng cuốn sách của mình sẽ có tác động gì ngoài giới học thuật ?
Tôi viết cho một công chúng rộng hơn. Tôi muốn người đọc biết được lịch sử Ukraina, nhất là từ khi nước này trở thành vấn đề địa chính trị hết sức quan trọng. Nói thẳng ra là nếu bị Nga nuốt chửng, thì Nga sẽ trở thành một siêu cường châu Âu ; nhưng không có Ukraina, Nga không thể là đế quốc. Như vậy Ukraina độc lập, có chủ quyền và làm chủ định mệnh của mình chứ không phải chư hầu, là điều cốt lõi cho an ninh châu Âu, cho tất cả chúng ta.
Lịch sử ít được biết đến này ảnh hưởng đến dư luận phương Tây về cuộc xung đột hiện nay giữa hai nước ?
Chắc chắn rồi. Người ta không biết về lịch sử Ukraina, không coi là một Nhà nước thực sự – điều này có thể hiểu được vì cho đến 1991 Ukraina mới có chủ quyền. Một trong những mục tiêu của tác phẩm là giới thiệu đất nước này, lý do của cuộc xung đột với Nga, những nguyên nhân sâu xa hơn trong lịch sử đương đại.
Liệu bà sẽ tiếp tục nghiên cứu về thời kỳ xô viết ?
Tôi sẽ không viết thêm cuốn sách nào nữa về Stalin, « Nạn đói đỏ » quá đau lòng khi viết ra. Trận đói này là một trong những thảm họa tàn bạo nhất, câu chuyện của những nông dân mù chữ và các em bé chết vì đói. Những trí thức bị nhốt trong trại cải tạo thì còn có thể hiểu được, đằng này tai họa lại giáng xuống những con người nhỏ nhoi tội nghiệp không thể tự vệ…
Một số đoạn trong cuốn sách khó viết ra hơn là « Gu-lắc » – dù « Gu-lắc » nói về một chủ đề phức tạp hơn. Nhưng khi tôi kết thúc bằng màu sắc hết sức bi quan, và đưa cho một nhà sử học Ukraina trẻ đã giúp đỡ tôi xem qua, thì cô ấy nói : « Bà không thể kết như vậy được. Lịch sử của chúng tôi không dừng lại vào năm 1934. Stalin tìm cách tiêu diệt Ukraina nhưng thất bại. Ukraina đã sống sót và ngày nay là một quốc gia có chủ quyền, đó là hồi kết có hậu ». Cô ấy có lý, và tác phẩm của tôi đã kết thúc như thế. Chúng ta có thể vui mừng với sự độc lập của Ukraina ngày nay.