TÔI MONG DÂN TỘC TÔI CÓ MỘT PHÉP MÀU…

8 SÀI GÒN

TÔI MONG DÂN TỘC TÔI CÓ MỘT PHÉP MÀU…

Nếu phân ly là định mệnh dân tộc??!!…

Tôi không nghĩ đã có dân tộc nào trên thế giới mở đầu trang sử của mình bằng một cuộc phân ly. Nhưng rủi thay, dân tộc ta đã có một trang sử khởi đầu như vậy. Đọc sử, chúng ta hãnh diện tự tôn về dòng giống con rồng cháu tiên. Điều đó, làm chúng ta quên bẵng đi ý nghĩa câu chuyện mẹ Âu Cơ đem 50 con lên núi, cha Lạc Long Quân đem 50 con xuống biển để bắt đầu một phân ly tiên khởi như định mệnh dân tộc.

Ngẫm xem, dân tộc này đã trải qua bao nhiêu cuộc phân ly kể từ ngày ấy? Ngày nay, lúc này, xứ sở thống nhất về lãnh thổ, nhưng cuộc phân ly từ lòng người vẫn cứ còn nguyên đó với nhiều sắc màu, vượt trội nhất với đỏ và vàng.

Cũng lạ, như một định mệnh trớ trêu, trong lá cờ đỏ lại có ánh vàng, trong lá cờ vàng lại có sắc đỏ, trong mình có ta, trong ta có mình, ta với mình đều là người Việt, mình với ta đều là đồng bào, ta với mình đều vỗ ngực yêu nước, nhưng mình với ta không đứng chung trong một sắc cờ! Và nếu cần phải chiến đấu với ngoại xâm, liệu ta với mình có đứng chung trong một chiến hào?

Tôi mơ hồ về câu trả lời, nhưng tôi sẽ chắc chắn hơn với câu trả lời “Có”, chỉ khi mà “ta” với “mình” đã có sự hòa hợp, hòa giải với nhau!

Vâng, sự hòa giải đấy là nan đề xứ sở, là giấc mơ 45 năm chưa trọn!

Đối diện với mỗi vấn đề, tôi vẫn thường hướng sự suy nghĩ của mình bắt đầu từ quá khứ để biết các bài học của lịch sử… Nhưng với vấn đề hòa giải, tôi muốn chúng ta bắt đầu câu chuyện từ nước Đức.

Không phải về một nước Đức phát xít của Hitler đã từng làm nhân loại kinh sợ, mà về một nước Đức thống nhất đã từng làm nhân loại phải ngã mũ kính phục từ sau sự kiện bức tường Berlin bị phá bỏ năm 1989. Chính là nước Đức mà khiến chúng ta, đã không thể đặt vô số câu hỏi tại sao khi đối chiếu với những vấn đề của đất nước mình.

Nước Đức, sau ngày thống nhất, chúng ta không rõ tại sao họ không đặt ra vấn đề buộc những người cộng tác với chính quyền Đông Đức cũ phải đi học tập cải tạo như đất nước ta? Nhưng chúng ta phải nhận thấy rằng, nhờ đó, nước Đức đã không mất đi nguồn nhân lực chất xám cực lớn và quý báu từ một nửa quốc gia còn lại, xã hội không bị xáo trộn và cũng không phải đau đáu về việc phải hòa giải với các cựu thù hàng mấy thế hệ, mà nay tất cả đang là những đồng nghiệp với nhau, cùng kề vai sát cánh phụng sự trong chính quyền nước Đức, vì quyền lợi dân tộc Đức.

Nước Đức, sau ngày thống nhất, chúng ta không hiểu tại sao người dân Đông Đức cũ đã không chọn con đường đào thoát, tỵ nạn ra nước ngoài như người dân đất nước ta! Và chúng ta cũng nhận thấy rằng, nhờ đó, hàng triệu người dân nước Đức đã không phải phiêu lưu đánh đố số phận của mình trên những chiếc ghe nhỏ giữa đại dương, với vô vàn bất trắc: bão tố, sóng biển, cá mập, hải tặc, tù đày và kể cả điều xấu nhất là cái chết trước khi đến được bến bờ mong muốn. Hơn cả thế, người dân Đức không phải đối diện với sự mất mát và nước Đức cũng không phải đối diện với sự ly tán hiện hữu dai dẳng trong lòng người dân nước mình.

Nước Đức, sau ngày thống nhất, chúng ta không rõ tại sao và như thế nào mà họ lại có thể chấp nhận một người vốn xuất thân từ một đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng sản Đức thuộc Đông Đức cũ, nhưng chỉ 15 năm sau khi thống nhất, thì người này đã có thể trở thành người phụ nữ đầu tiên và trẻ nhất đắc cử vào chức vụ Thủ tướng đầy quyền lực của nước Đức thống nhất? Bà Angela Merkel ! Bạn có nghĩ rằng, nếu người phụ nữ tài trí kiệt xuất này sống ở đất nước chúng ta, Bà có thể đã có một tương lai rất khác, khi mà đất nước chúng ta sau ngày thống nhất vẫn còn nguyên đó sự dè dặt trước những người có lý lịch không tương thích với chính quyền và trong quá khứ đã từng có chính kiến rất khác biệt với chính quyền.

Không chỉ câu chuyện từ nước Đức, mà những câu chuyện về sự hòa giải, hòa hợp từ Nam Phi, Miến Điện, thậm chí từ quốc gia Cao Miên láng giềng cũng đều là bài học hữu dụng.

Tại sao và tại sao? Trả lời được những thắc mắc đó, chúng ta có thể trả lời cho con cháu đời sau biết lý do tại sao ông cha của chúng hiện nay phải kêu gọi hòa giải mối bất hòa có từ những thập kỷ năm mươi và một lần nữa vào thập kỷ bảy mươi của thế kỷ trước, giữa những người Việt có chung giòng máu Lạc Hồng, sinh từ cùng một bọc trăm trứng của mẹ Âu Cơ?

Giữa thập kỷ năm mươi, năm 1954, không phải là một quốc gia bại trận như nước Đức. Trái lại, xứ sở chúng ta vừa mới bước ra khỏi cuộc chiến với tư cách là một quốc gia chiến thắng. Nhưng phần thưởng cho người chiến thắng không vinh quang như chúng ta thường nghĩ, thường thấy, mà cũng lại là sự phân ly như nước Đức bại trận!?

Giữa thập kỷ bảy mươi, năm 1975, sau cuộc chiến khốc liệt dai dẵng kéo dài hằng hai thập kỷ, trả giá bằng sinh mệnh của nhiều triệu đồng bào, cuối cùng xứ sở của chúng ta cũng có được thống nhất dưới bánh xích xe tăng nghiến trên đường phố Sài Gòn. Nhưng kể từ ngày ấy cho đến nay đã là 45 năm, xứ sở thống nhất, nhưng lòng người dân nước ta chưa bao giờ thống nhất! Vẫn vẹn nguyên sự phân ly như những ngày nội chiến tương tàn!

Sự phân ly lòng người đau đớn lắm, nó làm thân thể người mẹ Việt xanh xao yếu ớt, như vết thương mãi rỉ máu, chẳng bao giờ biết liền sẹo…

Ngẫm lại, quả là chúng ta đã từng có một Diên Hồng chói lọi trong lịch sử đoàn kết dân tộc vào thời Trần, nhưng suốt bốn ngàn năm lịch sử cho đến nay, hình như chúng ta cũng chỉ có mỗi trang sử lẻ loi ấy?! Thỉnh thoảng, tinh thần Diên Hồng ấy lại chớp lóe trong những thời khắc vận nước lâm vào cơn nguy khốn cùng cực, khi cơn nguy khốn đã qua, thì tinh thần Diên Hồng cũng chóng tan như làn sương sớm mai!

Chúng ta phải tự hỏi: Đã có thể chìa bàn tay hòa giải với các cựu thù ngoại nhân như Pháp, Nhật, Mỹ! Nhưng chìa bàn tay hòa giải với chính đồng bào mình sao lại khó quá?

Hòa giải, giấc mơ 45 năm chưa trọn. Có thể, sau 100 năm kể từ thời điểm 1975, khi những con người đã từng là đạo diễn, diễn viên và khán giả của câu chuyện phân ly lòng người khuất bóng, thì có thể con cháu của họ sẽ ngồi lại với nhau để viết nên trang sử mới của dân tộc, trang sử không còn bóng dáng của sự phân ly trong lòng người Việt! Trang sử không còn sự phân ly như định mệnh dân tộc của tiền nhân để lại.

Như cô Tấm mong có ông Bụt, tôi mong dân tộc tôi có một phép mầu…

Tháng 04/2020
MANH DANG

BAO GIỜ NƯỚC MẮT CÓ THỂ “LAY LÒNG GỖ ĐÁ”

Huy Chiêu to K75 LƯƠNG VĂN CAN
Image may contain: 5 people, people standing
Image may contain: 2 people, outdoor
Image may contain: 2 people, people sitting, table, indoor and food
Image may contain: 2 people, people sitting, people eating, table, indoor and food
Image may contain: text
Truong Huy San is with Thach Nguyen and 3 others.

 

BAO GIỜ NƯỚC MẮT CÓ THỂ “LAY LÒNG GỖ ĐÁ”

Hai bức ảnh chụp cách nhau 13 năm, đều nói về ngày đoàn tụ của hai người tù, hai người cùng một mẹ Việt Nam, nhưng từng bị đặt ở hai bên chiến tuyến.

Bức ảnh thứ nhất, chụp ở ga Hòa Hưng năm 1988. Người đàn ông râu tóc bạc phơ trong ảnh, được xác định, là Đại tá VNCH Nguyễn Công Vĩnh. Ông từ trại cải tạo theo đường xe lửa trở về, được vợ và anh trai (chứ không phải là con trai – theo một người thân của gia đình cho biết), ra sân ga đón [không rõ ai là tác giả bức ảnh tuyệt vời này].

Bức ảnh thứ hai được nhà báo Lâm Hồng Long chụp ngày 4-5-1975, người đàn ông trong ảnh là Lê Văn Thức, tử tù Côn Đảo, khóc trên vai mẹ, bà Trần Thị Bính, quê ở xã Tam Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Ông Thức được cài vào Quân lực VNCH, tốt nghiệp Trường Sĩ quan Thủ Đức, được chính quyền Sài Gòn đưa đi học khóa “tình báo tác chiến” tại Malaysia. Về nước, với lon thiếu úy. Tháng 4-1968, Lê Văn Thức bị Tòa án binh vùng 4 chiến thuật tuyên tử hình vì tội “hoạt động nội tuyến cho Cộng sản”.

Đoàn tụ chắc chắn đều là mong ước của mọi gia đình. Nhưng họ khóc. Thật khó để nói, đó là những “giọt nước mắt vui” hay là những giọt nước mắt tức tưởi. Ngày 30-4-1975, gia đình thiếu úy Lê Văn Thức nằm trong số “triệu người vui”; gia đình đại tá Nguyễn Công Vĩnh nằm trong số “triệu người buồn”. Thật trớ trêu, cả hai sau đó đều không có ai được hưởng ân huệ của hòa bình cả. Đại tá Nguyễn Công Vĩnh bị đưa đi cải tạo suốt 13 năm. Chỉ cần nhìn những chiếc răng rụng của người vợ một thời xinh đẹp của ông, đủ thấy họ đã cơ cực thế nào kể từ khi “miền Nam giải phóng”.

Nhưng, nếu như giọt nước mắt ở ga Hòa Hưng năm 1988 của gia đình đại tá Nguyễn Công Vĩnh đã khép lại một bi kịch kéo dài hơn một thập niên. Thì, giọt nước mắt của mẹ con thiếu úy Lê Văn Thức lại mở ra những ngày buồn trước mắt. Bức ảnh mang lại cho nhà báo Lâm Hồng Long nhiều vinh quang nhưng không thể hóa giải tính khắc nghiệt của chiến tranh hằn lên nhân vật.

“Với lý lịch ‘thiếu úy ngụy’, kể từ ngày hòa bình trở về, Lê Văn Thức không được bố trí công tác mới. Mãi sau này, khi một cán bộ công tác ở UBND huyện Châu Thành, Bến Tre tình cờ đọc được những bài báo viết về nhân vật trong bức ảnh ‘Mẹ con ngày gặp lại’(1991), đã tìm đến nhà anh Thức phỏng vấn và viết bài ‘Viên thiếu úy mang bản án tử hình’ (đăng trên báo Đồng Khởi thứ Bảy). Nhiều người ở địa phương mới biết đến các hoạt động trong quá khứ của anh. Và các cơ quan chức năng mới nhiệt tình vào cuộc để rồi công nhận những đóng góp, hy sinh có thực của Lê Văn Thức”[Theo Hoàng Bình Minh, báo CAND].

Mấy hôm nay, chương trình thời sự của VTV vẫn như 45 năm qua, sắp tới 30-4 là xe tăng, pháo lớn lại nổ đinh tai nhức óc. Hơn 15 năm trước, Cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt, người mất vợ và 3 người con trong chiến tranh, đã phải đi một vòng các tỉnh miền Tây, gặp gỡ rất nhiều lãnh đạo, nhà báo địa phương, ông gần như khẩn thiết kêu gọi họ đừng kỷ niệm 30-4 theo cách làm cũ nữa; đừng tiếp tục nã xe tăng đại bác vào quá khứ.

Cuối năm ấy, 2004, ông trả lời tuần báo Quốc Tế, số Xuân: “Lịch sử đã đặt nhiều gia đình người dân miền Nam rơi vào hoàn cảnh có người thân vừa ở phía bên này, vừa ở phía bên kia, ngay cả họ hàng tôi cũng như vậy. Vì thế, một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại có hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là một vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm nó thêm rỉ máu”.

Hàng chục nghìn bản số báo Xuân đã in của tuần báo Quốc Tế, phải đình lại, bóc bài… Mãi tới 31-3-2005, quan điểm này của ông Võ Văn Kiệt về cuộc chiến trước 30-4-1975 mới được đưa ra công chúng.

Cũng năm ấy, trước 30-4-2005, Thành ủy TP HCM gửi cho ông Võ Văn Kiệt “Dự thảo diễn văn” Bí thư Thành ủy đọc tại Lễ kỷ niệm “30 năm ngày giải phóng miền Nam”. Ông vô cùng thất vọng vì bài diễn văn vẫn lặp lại những ngôn từ sáo mòn, công thức; vẫn xe tăng, vẫn đại bác… tiếp tục nã vào người anh em.

Đã 15 năm qua, tuy liều lượng có bớt đi nhưng cách tiếp cận của bộ máy tuyên truyền vẫn không thay đổi.

Khi nghĩ về ngày kết thúc chiến tranh, cả Trịnh Công Sơn và Văn Cao đều khá lạc quan. Trịnh Công Sơn tưởng rằng, những “giọt nước mắt vui” có thể “lay lòng gỗ đá”. Văn Cao cũng hy vọng, nước mắt “sưởi ấm đôi vai anh”. Và ông tưởng: “Từ đây người biết thương người/ Từ đây người biết yêu người…” Sự khác nhau giữa Văn Cao và Trịnh Công Sơn, có lẽ ở chỗ, với một tâm hồn đầy trắc ẩn như Văn Cao, cho dù thốt ra như vậy, nhưng các dự cảm buồn vẫn ám ảnh từng phách, nhịp trong “Mùa Xuân Đầu Tiên” của ông.

Bao giờ, quê hương tôi mới hết những giọt nước mắt tức tưởi; bao giờ mới thực sự có “những giọt nước mắt vui”; bao giờ lòng người Bên Thắng Cuộc mới thôi gỗ đá.

Chuyện cổng Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975

Chuyện cổng Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975

Trần Gia Phụng

30/04/2020

Tin tức báo chí của cộng sản Việt Nam (CSVN) đều viết rằng, khi tấn công dinh Độc Lập ở thủ đô Sài Gòn ngày 30-4-1975, chiến xa CS đã ủi sập cánh cổng dinh Độc Lập. Chẳng những thế, bộ Lịch sử Việt Nam do nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội Việt Nam (tức “bên thắng cuộc”) tại Hà Nội, phát hành tháng 8 năm 2017, cũng viết như thế.

Bộ thông sử nầy rất đồ sộ, gồm 15 tập, tổng cộng trên 9,000 trang, do 30 giáo sư, tiến sĩ Sử học CSVN biên soạn. Trong 15 tập nầy, tập thứ 13, do PGS-TS [phó giáo sư tiến sĩ] Nguyễn Văn Nhật chủ biên, chương VI, trang 535 viết nguyên văn như sau: “Thực hiện nhiệm vụ đánh chiếm dinh Độc Lập – dinh lũy cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, chiếc xe tăng mang số hiệu 390 thuộc Lữ đoàn xe tăng 203 dẫn đầu đội hình tiến công của Quân đoàn 2, húc đổ cánh cổng sắt của dinh Độc Lập …”

Bộ sách nầy được xem là bộ chính sử căn bản của chế độ CSVN, làm nền tảng cho các sách giáo khoa lịch sử của CSVN. Dưới chế độ CSVN thế kỷ 21, các giáo sư tiến sĩ với các loa phát thanh phường, khóm, làng xã nói cùng một nhịp điệu như nhau, đúng như ý kiến của nhà văn Pháp André Gide vào thập niên 30 thế kỷ trước, cách đây gần 90 năm.

Theo lời mời của nhà cầm quyền Liên Xô, Gide đến Moscow (Moscou), thủ đô của Liên Xô, tham dự tang lễ của nhà văn Maxime Gorki. Khi trở về Pháp, ông viết tác phẩm Retour de l’URSS, ấn hành năm 1936 ở Paris. Trong sách nầy, ông đã viết rằng, ở nước Nga CS, chỉ cần nghe một người Nga nói gì thì đủ biết 200 triệu dân Nga nói gì. Ngày nay ở Việt Nam không lẽ cũng có thể nói chỉ cần nghe loa phóng thanh phường xã thôn xóm CS nói gì, thì cũng có thể đoán biết các giáo sư tiến sĩ CS nói gì?

Trở lại nguồn tin về cánh cổng dinh Độc Lập Sài Gòn ngày 30-4-1975 do CSVN đưa ra, báo chí thế giới cũng đều viết theo như thế. Tuy nhiên, trên lý luận, xin chú ý, mới chỉ trên lý luận cho vui mà thôi, có hai câu hỏi cần được đặt ra là:

1) Lúc đó, cựu đại tướng Dương Văn Minh đang có mặt trong dinh Độc Lập mà theo lời ông là để chờ đợi quân CS đến. Chờ “khách” thì phải mở cổng dinh để đón mời “khách” vào. Nếu đóng cổng dinh, thì “khách” làm sao mà vào được?

2) Những tấm hình hay những đoạn phim về cảnh chiến xa CS ủi sập cổng dinh Độc Lập để vào bên trong dinh, đều được chụp từ bên trong chụp ra. Có hai điểm cần chú ý: Thứ nhứt, cổng dinh phải đóng thì xe tăng mới ủi sập để đi vào. Thứ hai, nếu cổng đóng lại, tức cổng dinh chưa mở, thì người chụp hình hay người quay phim cảnh nầy, làm sao mà vào bên trong dinh Độc Lập trước xe tăng để chụp hình hay quay phim? Hay những người nầy trổ tài chui cổng hoặc trèo tường để vào hành nghề? Đó mới chỉ là nói lý cho vui thôi, thưa độc giả.

Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).

Lúc đó, vào năm 1975, giáo sư Thành còn trẻ, nhà ở vùng cầu Sài Gòn, ngồi trên yên sau xe vespa của phụ thân, tò mò chạy theo sau đoàn quân của CS, để theo dõi cho biết chuyện gì sẽ xảy ra khi quân CS vào thành phố… Ông Thành đã chứng kiến tận mắt đầy đủ sự việc tại cổng dinh Độc Lập hôm đó.

Theo lời giáo sư Thành kể lại, sáng 30-4-1975, cổng dinh Độc Lập đã mở sẵn. Xe thiết giáp CS khi đến dinh Đôc Lập, chạy thẳng vào trong dinh, không có gì trở ngại. Vào bên trong rồi, có thể do lệnh trên, tài xế lại lái xe thiết giáp chạy trở ra ngoài. Khi đó, lính CS đóng cổng dinh, quàng dây xích sắt, nhưng không khóa. Xe thiết giáp quay đầu trở lại, chạy đến tông sập cánh cổng dinh Độc Lập, rồi chạy vào bên trong, để cho các nhiếp ảnh viên chụp hình và quay phim.

Giáo sư Đỗ Văn Thành kể lại câu chuyện trên cho người viết tại nhà bác sĩ Phạm Hữu Trác, phụ trách tạp chí Truyền Thông ở Montreal ngày 28-4-2007, nhân dịp ông Thành cùng gia đình từ Oslo (Na Uy) qua Montreal (Canada) tham dự Lễ ra mắt sách Kỷ niệm và suy ngẫm, bản dịch từ sách Souvenirs et Pensées của thân mẫu ông là bác sĩ Nguyễn Thị Đảnh tại TRUNG TÂM SAIM (Service d’ Adaptation et d’Integration de Montréal) do Khối Y giới Cao niên và Cơ sở Truyền Thông Montreal tổ chức. Ngoài lời trình bày trên đây của giáo sư Đỗ Văn Thành, ba tài liệu sau đây cũng trình bày câu chuyện gần như thế:

1) Bài báo “Sài Gòn trong cơn hấp hối 30-04-1975” của Nhan Hữu Mai, cận vệ của cựu thủ tướng Vũ Văn Mẫu, đăng trên http://sucmanhcongdong.info và được luân lưu trên các e-mail group. Trong bài báo nầy, ông Nhan Hữu Mai viết: “Khoảng 12 giờ trưa ngày 30 tháng 4, xe tăng cộng sản tiến vào dinh Độc Lập mà không gặp một sức kháng cự nào vì cổng chính đã được mở rộng từ trước”.

2) Thứ hai là bài “Dinh Độc Lập, ngày tháng đợi chờ” của Ý Yên, đăng trên DCVOnline.net ngày 10-04-2012, theo đó: “Lúc 11:15 ngày 30-4-1975, toán xe tăng Bắc Việt tới cổng dinh theo đường Thống Nhứt, trương cờ Mặt Trận GPMN. Một người lính trên xe ra lệnh cho lính gác khóa cánh cổng lại; anh lính chần chờ, quay vô hỏi lệnh viên sĩ quan trực, bị người bộ đội trên xe bắn chết tại chỗ. Một bộ đội khác nhảy xuống, khép cánh cổng, lấy khóa xích vòng chặt lại để chiếc T-54 rồ máy húc nghiêng cánh cổng màu xanh, dây xích bung ra. Đại liên trên xe và lính tùng thiết đồng loạt tác xạ dữ dội, làm như có sức chống trả từ trong dinh. Xe tăng tràn vô đến giữa sân cỏ, mấy người lính Bắc Việt nhảy xuống...”

3) Thứ ba, theo tác giả Huy Đức, trong sách Bên thắng cuộc, tập I: Giải phóng, Saigon: Osinbook 2012, chương I: Ba mươi tháng Tư, mục: Sài Gòn trong vòng vây, tr. 32 thì sáng 30-4-1975, cựu tướng Nguyễn Hữu Hạnh đến nhà số 3 đường Trần Quý Cáp [dinh Hoa Lan] tìm tổng thống Dương Văn Minh nhưng không có; tướng Hạnh liền đến dinh Độc Lập, “vào thẳng dinh bằng cổng chính, cổng dinh mở, không có lính gác.” Lúc ông Hạnh đến, cổng dinh Độc Lập mở, không lính gác thì ngay sau đó, quân CS đến, đâu có ai đóng hay gác cổng? Chú ý: đây là tài liệu do một nhà báo CS trong nước viết. Hiện người nầy còn sống và hành nghề trong nước.

Như thế, qua hai câu hỏi đặt ra từ đầu, qua câu chuyện kể của tiến sĩ Đỗ Văn Thành, và qua các bài báo trên đây, nhứt là qua tài liệu của một nhà báo CS, thì rõ ràng vào ngày 30-4-1975, cổng dinh Độc Lập đã mở sẵn, còn việc chiến xa CS ủi sập cổng dinh Độc Lập chỉ là một màn kịch do CS dàn dựng để tuyên truyền, bắt trẻ em học tập trong các sách giáo khoa lịch sử CS. Tài tình quá! Giống như xi-nê-ma Hồ Ly Vọng!

Đây không phải là lần đầu CS đóng kịch. Năm 1954 cũng vậy. Các sách lịch sử CS đều đăng hình cờ đỏ của CS được bộ đội CS cắm trên hầm chỉ huy của thiếu tướng Pháp De Castries khi tấn công Điện Biên Phủ. Trận nầy kết thúc ngày 7-5-1954, kết thúc luôn cuộc chiến 1946-1954. Sau đó là hội nghị Genève, đưa đến hiệp định đình chiến và chia hai đất nước ở vĩ tuyến 17.

Tuy nhiên điện báo Tuần Việt Nam ở trong nước, ngày 07-05-2009 đã đăng bài phỏng vấn thiếu tướng Lê Mã Lương, giám đốc Viện Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (CS), theo đó thiếu tướng Lương đã phủ nhận điều nầy.

Thiếu tướng Lê Mã Lương cho biết, tại Điện Biên Phủ, chỉ có một lá cờ duy nhứt được cắm trên đồi mà CS gọi là đồi Him Lam (tức đồi cứ điểm Béatrice), còn lá cờ cắm trên nóc hầm của thiếu tướng De Castries lần đầu tiên xuất hiện trong bộ phim Việt Nam trên đường thắng lợi của nhà quay phim Liên Xô là Roman Karmen, tức cảnh lá cờ CS trên hầm chỉ huy của thiếu tướng De Castries chỉ là cảnh xi-nê-ma mà thôi, không có thật.

Thiếu tướng Lê Mã Lương cho biết: “Sau khi Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam ghi nhận chính xác điều đó, chúng tôi đã cất lá cờ tung bay trên nóc hầm Đờ Cát trước đây có trưng bày ở bảo tàng”.

Những chuyện tầm thường và rõ ràng như thế mà CS còn thay trắng đổi đen, theo chủ trương của đảng CS, huống gì là những sự kiện lịch sử trọng đại. Sử học CSVN chỉ để phục vụ chủ nghĩa CS, phục vụ đảng CS và phục vụ nhà nước CS. Vì vậy, ngày nay, trong nước thầy không muốn dạy sử, học trò không muốn học sử.

Thế đó! “Học sử ngày nay đã chán rồi”. Không ai lạ gì lịch sử viết theo lệnh của đảng CSVN!

Dược sĩ gốc Việt kể chuyện mang Cờ Vàng xuống Nam Cực

 

NGUOI-VIET.COM
Nữ dược sĩ trẻ vừa tốt nghiệp đại học chưa lâu khi đó, luôn mang trong lòng nỗi bồi hồi khó tả mỗi khi nhìn thấy lá Cờ Vàng…

Nữ dược sĩ Việt 70 tuổi, bỏ ra $35 ngàn chạy ‘marathon,’ mang Cờ Vàng đến Nam Cực

Ngọc Lan/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Bị “bứng” khỏi Sài Gòn ngay thời khắc quê hương “đổi chủ,” nữ dược sĩ trẻ vừa tốt nghiệp đại học chưa lâu khi đó, luôn mang trong lòng nỗi bồi hồi khó tả mỗi khi nhìn thấy lá Cờ Vàng, nhất là những năm đầu sau khi tới Mỹ.

Để rồi ở tuổi 70, với hơn nửa đời người sống nơi đất khách, người dược sĩ về hưu đó đã thực hiện được ước mơ của đời mình: Mang lá cờ VNCH đến tận Antarcica, miền cực Nam trái đất, qua một cuộc chạy “marathon,” như một cách biểu hiện tình yêu đối với quốc gia – dù rằng VNCH không còn tồn tại trên bản đồ thế giới từ 45 năm qua.

Nữ dược sĩ đó là Phạm Ngọc Quế, hiện sống ở Houston, Texas. 

Rời quê hương trong ngỡ ngàng, hoang mang

“Gia đình tôi không ai đi lính, nhà chỉ có mấy chị em gái, nên thật sự không ai biết phải làm gì trong thời điểm lộn xộn đó. Tôi nhớ sáng ngày 30 Tháng Tư, 1975, tôi vẫn mở cửa nhà thuốc tây ở Khánh Hội để bán. Khi thấy mọi người cứ tràn vào mua nước suối, mì gói, sữa Guigoz, tôi hỏi sao phải mua nhiều những thứ này, thì họ nói ‘Chị không biết gì à? Ngoài kia có tàu Trường Xuân chở mọi người đi Mỹ.’ Thế là tôi bỏ tiệm chạy,” bà Quế nhớ lại thời khắc lịch sử cách nay 45 năm.

Bà hạy về gọi người nhà. Một cuộc tranh luận diễn ra trong gia đình khi cha bà nhất định không chịu đi.

Bà kể: “Bố tôi nói không muốn đi, vì ông đã di cư từ Bắc vô Nam, đã bỏ hết của cải rồi, giờ bắt ông bỏ nữa ông không đành lòng. Rồi mọi người khóc lóc đủ thứ hết. Sau cùng, mẹ tôi chiều theo các con, nhưng nói trước nếu ra bến tàu không leo lên được thì sẽ quay về.”

Dược Sĩ Phạm Ngọc Quế chạy “marathon” tại Perth, Úc. (Hình nhân vật cung cấp)

Tại Khánh Hội, nơi chiếc tàu Trường Xuân đang neo, đông nghịt người. Xe hơi, xe máy bị người ta vứt lại la liệt. Mạnh ai nấy tranh nhau leo lên tàu nhưng không phải ai cũng lên được. Đó là những hình ảnh đập vào mắt cô dược sĩ trẻ Phạm Ngọc Quế trong những giờ phút cuối cùng ở Việt Nam, theo lời kể.

Theo lời bà, do may mắn gặp được ông chú họ ngay bến tàu, ông có được thuyền nhỏ giúp đưa luôn mẹ và các chị em bà ra tàu lớn, đi tìm vùng đất tự do mới, khi mà “tôi ra đi chỉ có đúng bộ quần áo trên người thôi.”

Rạng sáng ngày 1 Tháng Năm, 1975, chiếc tàu Trường Xuân do tỉ phú Trần Đình Trường làm chủ, rời Sài Gòn, mang theo trên đó khoảng 4,000 người bỏ lại quê hương.

Tàu Trường Xuân sau đó được một chiếc tàu buôn của Đan Mạch cứu, tiếp tế thức ăn, nước uống. Sau đó, tất cả được đưa đến Hồng Kông, như lời bà Quế nói: “Chúng tôi là nhóm tị nạn đầu tiên đến đây.”

Chưa đầy một năm ở Hồng Kong, gia đình bà được phái đoàn Mỹ đến phỏng vấn, và được đưa sang tiểu bang Louisiana, qua sự bảo lãnh của người dì ruột đã sang Mỹ trước đó. 

Học tiếp để làm dược sĩ tại Mỹ

“Lúc mới sang Mỹ, tôi đi  làm thông dịch viên vì cũng biết chút tiếng Anh, đồng thời nộp đơn vào một số trường đại học nhưng trường nào cũng bắt học lại từ đầu chứ không chấp nhận tín chỉ (credit) nào hết, trong khi tôi đã là dược sĩ,” bà Quế nhớ lại.

Sau đó, theo lời chỉ dẫn của bạn bè, bà Quế nộp đơn vào đại học University of Texas ở Austin.

Dược Sĩ Phạm Ngọc Quế cầm lá Cờ Vàng cùng người bạn Lưu Phát Tấn ở Amsterdam, Hòa Lan. (Hình nhân vật cung cấp)

“Có lẽ do mình gặp được ông trưởng khoa và mấy ông thầy thương người Việt Nam nên họ gọi tôi qua Texas phỏng vấn. Lúc đó mới chân ướt chân ráo tới, cũng chẳng biết phỏng vấn là làm cái gì. Khi qua, ông trưởng khoa kêu vào văn phòng nói chuyện và cho biết tôi đã xong một cái phỏng vấn. Ông chỉ qua gặp mấy thầy khác hỏi vài câu nữa là xong thủ tục cho cuộc phỏng vấn thứ hai, để được nhận vào trường dược học tiếp năm thứ ba,” bà kể.

Vẫn bằng giọng nói nhỏ nhẹ của người “Hà Nội 54,” bà Quế tiếp tục kể lại câu chuyện những ngày đầu đi học tại Mỹ với nhiều kỷ niệm khó quên.

“Lúc đó tiếng Anh mình bập bẹ đủ sống thôi, nhưng để vào học năm thứ ba đại học dược thì mình lạng quạng lắm. Tôi nhớ khi đó vô lớp tôi không ghi ghép được bài giảng, tôi ngồi khóc. Một cô sinh viên lớn tuổi trong lớp thấy tội nghiệp nên mỗi lần cổ ghi chép xong thì cô cho mình ghi chép lại để học. Năm đó tôi ‘pass’ với sáu con ‘C,’” bà kể cùng tiếng cười chứa đầy niềm hạnh phúc.

Bà tiếp: “Qua được mùa học đó thì những mùa sau tôi đỡ hơn. Tôi cũng được ‘Dean’s List’ (danh sách khen thưởng trưởng khoa) mà lúc đầu tôi còn không biết là gì nữa.”

Bà Quế học ở Austin, sau đó đi thực tập ở Galveston, và “làm việc tại đó khoảng sáu năm thì chuyển lên Houston làm tổng cộng là 25 năm thì tôi về hưu, khi mới 59 tuổi. Tôi về hưu sớm vì lúc đó đã đủ điểm rồi, sau đó tôi đi làm bán thời gian ở một vài nhà thương cho đến năm 2015 thì tôi về hưu hoàn toàn.” 

Bắt đầu tập chạy bộ ở tuổi về hưu

“Tôi về hưu lúc 66 tuổi, khi đó cũng buồn, thì có cô bạn rủ tập chạy bộ cho khỏe người,” bà cho biết.

Bà tham gia nhóm những người lớn tuổi chạy có huấn luyện viên hướng dẫn.

Tại mức đến ở Singapore, Dược Sĩ Phạm Ngọc Quế vui mừng với tấm huy chương. (Hình nhân vật cung cấp)

“Tôi thuộc nhóm già nên vừa đi vừa chạy chứ không phải chạy không. Lúc đầu tôi trong nhóm chạy 2 phút đi 1 phút, rồi chạy 3 phút đi 1 phút, chạy 5 phút đi 1 phút. Cứ vừa chạy vừa đi như vậy. Ngày đầu tiên chỉ chạy 2 dặm, xong dần dần tăng lên. Họ huấn luyện cho mình chạy ‘half marathon’ tức 13.1 dặm rồi ‘full marathon.’ Chạy cũng vừa phải thôi, vừa chạy vừa nói chuyện được,” bà nói về cách tập chạy.

Bắt đầu tập chạy từ Tháng Tám, 2015, và chỉ hai tháng sau, bà ghi danh tham gia cuộc chạy 10 dặm đầu tiên.

“Sau cuộc thi đó là tôi mê liền cô ơi, dù lúc đó mình cũng chạy lọng cọng lọng cọng vậy. Nhưng cảm giác lúc mình chạy đến đích và được người ta đeo vô cổ cho cái huy chương nó khoái gì đâu,” bà lại cười vang nụ cười hạnh phúc.

Từ cuộc chạy đầu tiên, tiếp đến năm sau đó cứ trung bình hơn một tháng bà Quế lại ghi danh chạy mỗi khi có những nơi tổ chức chạy trong tiểu bang Texas.

Cho đến Tháng Tư, 2018, bà cùng một người bạn Philippines, cũng có sinh nhật trong thàng, ghi danh tham dự cuộc chạy “half marathon” ở Marid, Tây Ban Nha.

“Đó là lần chạy ở ngoại quốc đầu tiên của tôi,” bà nói.

Đến sinh nhật năm 2019, cũng Tháng Tư, bà Quế lại tham gia chạy “full marathon” 26.2 dặm (khoảng 42 cây số) ở Paris, Pháp.

Tháng Bảy, 2019, bà Quế lại ghi danh tham gia cuộc đi bộ bốn ngày “International Four Days Marches Nijmegen” ở Nijmegen, Hòa Lan, có hàng chục ngàn người tham dự.

“Cuộc đi bộ này diễn ra trong bốn ngày liên tiếp, mỗi ngày đi 30 cây số, tức khoảng 18 dặm. Tôi ghi danh tham gia thử vì nghĩ nếu tôi có đủ sức đi được thì tôi sẽ ghi danh tham gia hành trình 8 ngày có tên ‘Triple 8 Quest’ đến Nam Cực,” bà Quế cho biết.

Dược Sĩ Phạm Ngọc Quế (thứ ba từ trái) cùng bạn đồng hành ở Ai Cập. (Hình nhân vật cung cấp)

Hành trình mang Cờ Vàng đến Nam Cực

Sau khi ở Hòa Lan về, bà Quế cảm thấy có đủ tự tin để ghi danh tham gia chương trình “Triple 8 Quest” do công ty Marathon Adventures, nơi chuyên tổ chức các cuộc chạy “marathon” khắp thế giới, tổ chức vào Tháng Giêng, 2020.

Những người tham dự “Triple 8 Quest 2020” sẽ chạy tám cái “marathon” hoặc tám cái một nửa “marathon,” hoặc tám cái “ultra marathon,” mỗi cái 50 cây số, liên tục diễn ra tại tám lục địa trong tám ngày liên tiếp.

Lịch trình ngày thứ nhất, 21 Tháng Giêng, ở Auckland, New Zealand. Ngày thứ hai ở Perth, Úc. Ngày thứ ba ở Singapore. Ngày thứ tư ở Cairo, Ai Cập. Ngày thứ năm ở Amsterdam, Hòa Lan. Ngày thứ sáu ở Garden City, New York. Ngày thứ bảy ở Punta Arenas, Chile. Ngày thứ tám, 28 Tháng Giêng, ở King George Island, Nam Cực.

Bà nói: “Cảm thấy đây là cơ hội để Cờ Vàng được tung bay ở Nam Cực, tôi ghi danh tham dự. Tôi chọn chạy tám ‘half marathon,’ mỗi ngày 13.1 dặm, trong tám ngày.”

“Khi biết tôi tham gia hành trình này, ai cũng ngăn cản hết, ai cũng nói tôi ‘điên,’ vừa là do số tiền bỏ ra đến cả $35,000, vừa là vì nghe những nơi đến sợ nguy hiểm. Thực ra vấn đề tiền thì ít thôi vì tôi sống một mình, chồng tôi mất từ năm 1989, tiền bạc không chật vật, nhưng các con tôi hơi lo lắng về vấn đề sức khỏe khi nhìn thấy lộ trình tôi đi. Tôi thì muốn đi, dù thực sự trong lòng cũng hơi lo lo, sợ không chạy được hay ốm dọc đường thì cũng khổ,” bà Quế chia sẻ.

Để chuẩn bị cho hành trình này, ngoài chuyện mỗi ngày tập chạy nơi công viên gần nhà, bà Quế còn phải tập ăn thêm thịt, ăn nhiều hơn bình thường, vì như bà nói: “Trước đây tôi ít ăn thịt, mà cũng ăn ít lắm, vì lúc nào cũng sợ mập mặc áo dài không đẹp, riết thành thói quen. Nhưng để chuẩn bị tham gia hành trình này, sợ không ăn thì không đủ sức, nên tôi cố tập ăn nhiều hơn.”

Bà kể: “Hành trang tôi chuẩn bị phải sẵn sàng cho đủ bốn mùa vì khí hậu mỗi nơi mỗi khác. Chỉ riêng đồ dùng cho Nam Cực, gồm giầy chạy và quần áo ấm để chạy, cũng như để ngủ qua đêm trong lều tạm, đã chiếm nguyên một vali hành lý.”

Dược Sĩ Phạm Ngọc Quế và lá cờ VNCH tại Chile. (Hình nhân vật cung cấp)

Bà cho biết: “New Zealand, Úc, Singapore là đang mùa Hè, trời rất nóng và hầm, rất khó chịu, vừa chạy vừa thở hồng hộc, mồ hôi chảy nhễ nhại, ướt đẫm. Nhưng ngày 24 Tháng Giêng đến Ai Cập thì khí hậu hơi lạnh, trên lộ trình chạy rất nhiều bụi, và có nhiều chó hoang chạy lung tung, may mà không ai bị chó cắn.”

“Châu Âu và Bắc Mỹ vào Tháng Giêng rất lạnh, nhiệt độ sấp sỉ 25-35 độ F. Punta Arenas, Chile, thì rất lạnh, gió mạnh, và thổi ngược chiều nên chạy cũng khá vất vả,” bà nói.

Nói về sinh hoạt trong hành trình tám ngày liên tục đó, bà cho biết: ““Sáng dậy lúc 4-5 giờ sáng, thay đồ, ăn điểm tâm xong là xe van chở tới địa điểm. Chạy. Xong về khách sạn, ăn trưa, xe van đưa ra phi trường, làm thủ tục lên máy bay, gởi hành lý, lên máy bay, tìm đúng chỗ ngồi, ăn, ngủ hoặc chỉ nằm duỗi hai chân cho đỡ mỏi. Vì bay xuyên lục địa nên chuyến bay nào cũng ít nhất 10 tiếng, dài nhất 20 tiếng. Đó là lý do tôi phải mua vé hạng nhất hay hạng thương gia, mặc dù rất đắt tiền, nhưng lại rất cần thiết để có được giường nằm thoải mái. Tới nơi xuống máy bay, lấy hành lý, về tới khách sạn cũng đã 9-10 giờ tối. Tắm rửa, soạn sẵn đồ nghề cho sáng hôm sau, chợp mắt 2-3 tiếng lại thức dậy lúc 4-5 giờ sáng, và lặp lại như thế.”

Tuy nhiên, theo bà Quế: “Cuộc chạy ở Nam Cực là cam go nhất, khó chạy nhất trong cuộc hành trình ‘Triple 8 Quest,’ và cũng vất vả hơn tất cả các cuộc chạy ‘marathon’ cũng như ‘half Marathon’ mà tôi từng chạy. Nhưng có gian nan như thế mới cảm nhận được sự hiên ngang của lá cờ quốc gia khi phần phật tung bay trong gió lạnh của miền Nam Cực.”

“Lộ trình chạy toàn đá trộn sỏi. Đá to bằng trái bưởi, trái quít, tròn và ướt nên rất trơn, vô ý giẫm lên sẽ ngã. Cũng có loại hình tam giác, nhọn và sắc, nếu mang loại giầy không thích hợp sẽ bị đâm vào chân. Khó hơn nữa là đồi cao. Tôi được huấn luyện chạy lên đồi và chạy xuống những dốc ở Houston, tưởng chỉ có vài ba cái đồi, nhưng không ngờ suốt 13.1 dặm chỉ toàn đồi và dốc. Leo lên cũng khổ, đi xuống phải rất thận trọng nếu không sẽ ngã hoặc bị đá nhọn đâm chân. Dù đang là mùa Hè ở Nam Cực, thời tiết vẫn lạnh dưới 0 độ C và gió tàn bạo. Quá mệt mỏi và đuối sức, tôi đã mấy lần muốn bỏ cuộc, nhưng nhờ bạn đồng hành khích lệ, động viên tinh thần, nên cuối cùng tôi cố gắng về được tới đích,” bà Quế nói một cách hãnh diện.

Hành trình chạy “marathon” của Dược Sĩ Phạm Ngọc Quế để mang lá Cờ Vàng xuống Nam Cực. (Hình nhân vật cung cấp)

Khi được hỏi, “Điều bà cảm thấy xứng đáng nhất trong chuyến đi đó là gì?” bà Quế nói ngay: “Là được đem lá cờ Việt Nam Cộng Hòa đến cắm ở Nam Cực, nơi tận cùng của trái đất. Mục đích chính là như vậy.”

Bà cười nói thêm: “Số tiền $35,000 là tôi dành dụm để mua một chiếc xe mới, giờ bỏ ra xài rồi thì thôi đi tiếp xe cũ vậy. Nhưng mà xứng đáng lắm.”

Nói về mục tiêu kế tiếp của mình, người dược sĩ về hưu cho biết: “Tôi đã ghi tên tham gia nhóm ’50 States,’ tức là chạy hết 50 tiểu bang trong nước Mỹ. Sau chuyến ‘Triple 8 Quest’ trở về ngày 30 Tháng Giêng thì một tuần sau đó tôi đã chạy ở Louisiana, rồi hai tuần sau nữa lại chạy ở Tennessee.”

“Như vậy, tính đến giờ tôi đã chạy ở Texas, Florida, New York, Louisiana, và Tennessee, mới có năm tiểu bang thôi, còn đến 45 tiểu bang nữa mới hết nước Mỹ. Tôi dự tính một tháng chạy khoảng hai nơi, nhưng tình hình dịch bệnh này nó cột giò rồi,” bà nói.

Vẫn bằng giọng nói thanh tao và tiếng cười khiến người nghe luôn cảm thấy vui lây, bà Quế nói thêm: “Giờ tôi đã 70 tuổi rồi, cũng phải tính đến ngày tôi sẽ ra đi. Kế hoạch chạy qua 50 tiểu bang hãy còn dài, cũng có thể tôi không sống đủ để hoàn thành hành trình này. Nhưng đó là mục tiêu của tôi.” (đ.d.)

“Con nhìn ra, nào giải phóng gì đâu”

“Con nhìn ra, nào giải phóng gì đâu”

Thảo Ngọc

30-4-2020

Lại nói về ngày 30 tháng Tư, mà nhiều người vẫn gọi là Tháng Tư Đen, được mệnh danh là ngày Giải phóng miền Nam.

Bản chất của ngày 30/4 chỉ là ngày chấm dứt cuộc nội chiến “huynh đệ tương tàn”, “nồi da xảo thịt” mà thôi. Nghĩa là anh em trong một nhà bắn giết lẫn nhau. Vì trước đó Mỹ đã rút hết quân ra khỏi Việt Nam, hòa bình được ký kết theo Hiệp định Paris năm 1973. Vậy thì có gì đáng tự hào để khoe khoang rùm beng hết năm này đến năm khác về cuộc anh em tàn sát lẫn nhau ấy?

Nhìn về hoàn cảnh lịch sử của cuộc chiến tại Việt Nam từ sau Hiệp định Paris năm 1973. Mỹ đã hoàn toàn cắt đứt mọi nguồn viện trợ cho VNCH, họ đã phải đơn thương độc mã chiến đấu với cả phe XHCN viện trợ và hậu thuẫn cho miền Bắc, thì không thua mới lạ.

Còn miền Bắc thì sao? Từ các loại vũ khí tối tân nhất của Liên Xô và Trung Quốc liên tục rót vào như máy bay, xe tăng, súng to súng nhỏ và đạn dược các loại, cho đến quân trang quân dụng và nhu yếu phẩm, đều được phe XHCN viện trợ và trang bị tận răng.

Bên cạnh đó có hàng ngàn cố vấn quân sự của Liên Xô về điều khiển tên lửa và lái máy bay sang Việt Nam hỗ trợ, cùng với hàng chục ngàn binh lính Trung Quốc đến bảo vệ những khu vực trọng yếu và làm đường sá, để cho miền Bắc dồn hết quân lực vào đánh nhau với miền Nam.

Có thể nói Việt Nam lúc đó đã trở thành bãi chiến trường để thử vũ khí cho các cường quốc, trong đó lấy sinh mạng người Việt làm vật hy sinh. Quá đau đớn.

Nhìn vào lịch sử của các cuộc nội chiến, như cuộc nội chiến Nam-Bắc nước Mỹ 1861–1865, sau khi các bang miền Bắc chiến thắng, hai bên bắt tay giải hòa, và “bên thắng cuộc” sau đó không hề tổ chức mừng chiến thắng rầm rộ như Việt Nam mấy chục năm nay.

Cộng sản Trung Quốc sau khi chiến thắng Quôc Dân đảng của Tưởng Giới Thạch năm 1949, buộc quân Tưởng phải chạy ra trú ngụ tại Đài Loan. Nhưng sau đó hàng năm phía Trung Quốc cũng không tổ chức mừng chiến thắng.

Trước đây Nhà Nguyễn cũng không kỷ niệm ngày chiến thắng quân Tây Sơn, mặc dù họ cũng thống nhất đất nước, thu giang sơn về một mối.

Hàng năm “Bên thắng cuộc” càng tổ chức mừng chiến thắng để khoe khoang thành tích chém giết đồng bào mình bao nhiêu thì càng khoét sâu nỗi đau của hàng triệu người bấy nhiêu. Điều đó càng đi ngược lai chủ trương hòa hợp và hòa giải dân tộc mà đảng và nhà nước vẫn tuyên truyền và rêu rao lâu nay.

Trong khi hàng chục vạn sinh mạng binh lính đôi bên còn phơi xác đâu đó trên các bãi chiến trường xưa mà chưa được hồi hương với gia đình và thân nhân. Trong khi hàng triệu người dân bị tàn phế và mang trong mình những vết thương do hậu quả chiến tranh không thể lấy gì bù đắp được. Vậy thì chiến thắng và vinh quang nỗi gì?

Trong khi nhân dân miền Nam đang sống hạnh phúc, tự do thanh bình, từ thành thị đến nông thôn đang hưởng không khí hòa bình và xây dựng đất nước, thì bỗng dưng chiến tranh ập đến với tên gọi là “giải phóng”. Nhà cửa bị đốt cháy, làng mạc bị trở thành bãi chiến trường, cầu cống đường sá bị phá sập, cảnh đầu rơi máu chảy lại diễn ra. Thì đó là giải phóng cái gì?

Có một bài thơ gửi mẹ, được cho là của một người lính miền Bắc tử trận tại chiến trường miền Nam, được phía đối phương nhặt được, có những câu như sau:

Và tác giả bài thơ kết thúc với nỗi niềm day dứt khôn nguôi:

“Đêm hôm ấy mắt con tràn lệ
Ác mộng về con trằn trọc thâu canh”.

Ông Biden đối mặt với các cáo buộc tấn công tình dục

Ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ của đảng Dân chủ Joe Biden đang phải đối mặt với cáo buộc của cựu trợ lý rằng ông đã tấn công tình dục bà gần 30 năm trước, điều mà ban vận động bầu cử của ông Biden bác bỏ, theo Reuters.

Bà Tara Reade, người từng làm trợ lý cho văn phòng Thượng viện Hoa Kỳ của ông Biden từ tháng 12/1992 đến tháng 8/1993, cáo buộc rằng ông đã ép sát bà vào tường vào năm 1993 và thò tay vào áo và váy của bà.

Ban vận động bầu cử của ông Biden nói rằng vụ việc đó chưa từng xảy ra. Bản thân ông Biden, từng là phó tổng thống, chưa lên tiếng về cáo buộc này, và cũng chưa bị truy hỏi về vấn đề này trong các cuộc phỏng vấn gần đây với truyền thông quốc gia và địa phương.

Hôm 27/4, trang Business Insider loan tin có thêm hai phụ nữ làm chứng một phần cho lời cáo buộc của bà Reade.

Trang này dẫn lời bà Lynda LaCasse, một người hàng xóm trước đây của bà Reade, nói rằng bà Reade đã kể lại với bà rằng, vào năm 1995 hoặc 1996, bà ấy đã bị ông Biden tấn công: “Tôi nhớ là bà ấy nói rằng đấy là người cấp trên và bà ấy rất thần tượng ông ta. Và ông ta đã ghì sát bà vào tường. Ông ta đưa tay lên váy và ông ta đặt ngón tay vào trong đó. Bà cảm thấy như mình bị quấy rối, nhưng bà thực sự không biết phải làm gì lúc đó…”

Trang Business Insider cũng dẫn lời bà Lorraine Sanchez, một đồng nghiệp cũ của bà Reade, cho biết bà Reade đã kể cho lại cho bà nghe vào những năm giữa thập niên 90 rằng một ông sếp ở Washington đã quấy rối bà nhưng không nhớ bà có nêu tên ông ấy là Biden hay không.

Trang NY Times và Washington Post cũng từng dẫn lời một người bạn khác nói rằng bà Reade đã có kể lại về vụ tấn công như cáo buộc vào thời điểm đó, theo Fox News hôm 30/4.

Ban biên tập tờ Washington Post hôm 29/4 kêu gọi ông Biden, 77 tuổi, hãy lên tiếng về những cáo buộc này và công bố các giấy tờ có liên quan, khi ông còn là thượng nghị sĩ của bang Delaware.

(Nếu không vào được VOA, xin hãy dùng đường link voaviet2019.com hoặc vn3000.info để vượt tường lửa)

 
VOATIENGVIET.COM

Ông Biden đối mặt với các cáo buộc tấn công tình dục

Ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ của đảng Dân chủ Joe Biden đang phải đối mặt với cáo buộc của cựu trợ lý rằng ông đã tấn công tình dục bà gần 30 năm trước, điều mà ban vận động bầu cử của ông Biden bác bỏ.

Sự kiện 30/4/1975 – 45 năm nhìn lại

https://www.facebook.com/RFAVietnam/videos/537097463674528/?t=64

Sự kiện 30/4/1975 – 45 năm nhìn lại

Video ngắn gồm các hình ảnh đồ họa và thước phim tư liệu điểm lại các diễn tiến chính dẫn đến ngày 30-4-1975.

Nhà nghiên cứu Lê Xuân Khoa từ Nam California giải thích cách gọi tên khác nhau cho ngày 30/4/1975.

 

https://www.facebook.com/BBCnewsVietnamese/videos/160099358761982/?t=13

BBC News Tiếng Việt

 

Nhà nghiên cứu Lê Xuân Khoa từ Nam California giải thích cách gọi tên khác nhau cho ngày 30/4/1975.

“Gọi là ‘Ngày Chiến thắng’ hay ‘Quốc hận’ là tùy theo đứng về phía thắng trận hay thua trận. Về phía thắng trận, càng ngày về sau chữ chiến thắng nó mất dần ý nghĩa đi. Còn đối với người Việt ở hải ngoại, ngoài chữ ‘Quốc hận’ thì phải có thêm một chữ ‘Ngày tìm tự do’ bởi vì đáng lẽ thống nhất lòng người mà người ta lại bỏ ra đi thì như vậy có sự chia rẽ nặng nề vấn đề dân tộc,” ông Lê Xuân Khoa, cựu giáo sư Đại học John Hopkins, nói.

“Lẽ dĩ nhiên không thể nào hận thù mãi mãi được. Đến một lúc nào đó thế hệ này không xong thì đến thế hệ sau. Sự hòa giải là mục tiêu tất yếu của dân tộc. Một dân tộc không thể nào mạnh, không thể nào phát triển được nếu dân tộc đó chia rẽ và căm thù lẫn nhau,” GS Khoa nói với BBC News Tiếng Việt trong cuộc phỏng vấn với BBC vào tháng tư 2015.

Truyền thông HK: Nhiều người bệnh ở tàu cộng bị cách ly để cho “chết tự nhiên” rồi đem đi chôn trong rừng

https://www.facebook.com/thuc.tran.14811/videos/3193101964087119/?t=17

Đại Dương

14 April at 09:26 ·
Truyền thông HK: Nhiều người bệnh ở tàu cộng bị cách ly để cho “chết tự nhiên” rồi đem đi chôn trong rừng

Gần đây, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) nói rằng tình hình dịch bệnh trong nước đã có xu hướng giảm, thậm chí nhiều ngày không có thêm ca nhiễm mới nào. Tuy nhiên, có tờ báo của Hồng Kông đưa tin vào ngày 23/3 cho biết, rất nhiều địa phương đã cách ly những người nghi bị nhiễm bệnh để “chết tự nhiên”, sau đó mang đi chôn cất trong rừng sâu.

VÁN BÀI LẬT NGỬA

Liên Trà

 VÁN BÀI LẬT NGỬA

(Các ông chỉ có một ĐƯỜNG BINH …)

Sau hai vòng đàm phán không chính thức với mục đích nếu không đạt được Hiệp ước Liên minh Quân sự với Hoa Kỳ thì ít ra cũng được phép mua vũ khí từ Mỹ, Đại diện CSVN đành về nước tay không với gói quà 18 triệu đô viện trợ cho Cảnh sát Biển.
Hôm trước khi ra sân bay về nước, Đại diện CSVN có ngõ lời mời người đối tác phía Mỹ một buổi cơm tối thân mật tại một nhà hàng Tàu trong vùng Virginia. Nhà hàng này nổi tiếng với món Vịt Bắc Kinh và có rất nhiều Tổng thống Mỹ ghé qua ăn và chụp hình lưu niệm. Vừa bước vô cửa người đại điện Mỹ nói chào một cách dí dỏm:
– Ông cũng khéo chọn lựa chứ? Mỹ gặp Việt trong nhà hàng Trung Quốc?
Đại diện CSVN cười và giải thích:
– Nhà hàng này có chủ là người Đài Loan. Cứ xem như kẻ thù của kẻ thù là bạn.
Đại diện Mỹ buột miệng ra một câu tiếng Việt:
– Thế ra là nhà hàng của “Thế lực THÙ (của) ĐỊCH” à?
Đại diện CSVN phá lên cười:
– Gớm. Ông cũng rành tiếng Việt đấy chứ?

– Tôi học tiếng Việt ở Mỹ, học tiếng lóng tiếng láy ở Sài Gòn khi còn làm tùy viên văn hóa bên đó trước năm 1975. Sau này vẫn theo dõi thời sự và trao đổi trên Facebook. Chúng ta có thể thảo luận bằng tiếng Việt để khỏi mất thì giờ. Ông muốn gặp tôi lần cuối chắc là có câu hỏi gì cho tôi?
Đại diện CSVN vào thẳng vấn đề:
– Hai vòng đàm phán qua ông đã kết luận chúng tôi không thể có Liên minh Quân sự với Mỹ vì Trung Quốc sẽ cản trở. Chúng tôi không có đủ ngân sách để mua vũ khí tự túc. Xem ra giải pháp quân sự lúc này với Trung Quốc không khả thi. Thế thì giải pháp pháp lý, ông nghĩ có khả thi hay không? Ý tôi muốn nói rằng đưa Trung Quốc ra Tòa án Quốc tế để kiện như Philipines đang làm thì có khả thi không?
– Cơ hội rất ít, thưa ông. Và các ông nên cân nhắc cẩn thận về các bằng chứng trình trước tòa. Vì nếu tòa phán quyết các ông THUA thì con đường tương lại còn gian nan hơn nữa. Phán quyết mới nhất của tòa cấp quốc tế xem ra là bản án tử hình cho các ông tại Biển Đông. Khi ấy các ông bị đẩy ra bên lề mọi tranh chấp sau này của các nước trong vùng đối với Biển Đông.
– Nhưng nếu chúng tôi liên kết kiện với Phi hay các nước khác?
– Tôi cũng nhận thấy các ông đang có hướng này. Khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ghé thăm Phi hôm qua. Nhưng khả năng Phi liên kết với ông trong vụ kiện rất thấp vì khi Phi kiện các ông không ủng hộ. Bây giờ các ông tham gia với BẰNG CHỨNG BẤT LỢI hơn thì dĩ nhiên Phi khó chấp nhận.
– Chúng tôi có đầy đủ các bằng chứng THUẬN LỢI từ thời Thực dân Pháp đến Việt Nam Cộng Hòa rằng Việt Nam có đã xác định chủ quyền trên hai quần đảo này liên tục cả trăm năm cơ mà. Sao ông lại nói BẤT LỢI?
– Các ông đang trưng dẫn bằng chứng của những chế độ đã qua mà không hề có bằng chứng xác nhận chủ quyền cấp quốc tế từ chế độ của các ông. Xem ra khó thuyết phục tòa án. Các ông có thể trưng dẫn hình ảnh thời thơ ấu trong một căn nhà, những câu chuyện tuổi thơ ở đó, trong khi người ta trình ra GIẤY BÁN NHÀ của bố các ông, thì dĩ nhiên tòa án không thể cho các ông vào nhà được.
– Ý ông muốn nói đến Công Hàm Phạm văn Đồng năm 1958?
– Đúng. Các ông biết Công Hàm này đã lâu nhưng có nhiều bằng chứng cho thấy các ông cố NÉ TRÁNH nó. Trong khi ngược lại gần đây Trung Quốc lại trưng công hàm này ra trước quốc tế. Xem ra họ có nắm đàng cán về vụ này!
Đại diện CSVN cười sặc sụa:
– Công hàm đó KHÔNG CÓ HIỆU LỰC ông ơi. Phạm văn Đồng dù có nói thẳng là “giao Trường Sa và Hoàng Sa cho Trung Quốc” thì cũng không có hiệu lực. Đó chỉ là ĐÒN NGOẠI GIAO … KHÔN NGOAN của chúng tôi để nhận viện trợ từ Trung Quốc mà đánh Mỹ. Năm 1958 chúng tôi không có chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa.
Chờ cho người đại diện CSVN cười xong, uống một ngụm nước, thì đại diện Mỹ mới từ tốn lên tiếng:
– Đối với luật pháp Tây Phương chúng tôi thì chúng tôi phân biệt rất rõ sự tách biệt giữa “khế ươc buôn bán” và “chủ quyền”.
– Ý ông nói là các ông có thể bán những gì các không có cơ à. Thật là HOANG ĐƯỜNG và TRẺ CON.
– Chuyện có thật ông à. Khế ước buôn bán là giao kết giữa hai hay nhiều bên về chuyển nhượng một cái gì đó nó có thể trong hiện tại hay trong tương lai để đổi lấy giá trị tiền bạc hay vật chất có thể giao hôm nay hay giao vào một thời điểm trong tương lai. Như vậy vào năm 1958 các ông hứa bán một cái gì đó các ông không có ngay lúc đó, và lời hứa sẽ giao hàng ngay khi các ông có. Vấn đề là phía Trung Quốc tin như vậy và ủng hộ các ông biến điều đó thành hiện thực. Đổi lại họ cung cấp viện trợ cho các ông gần cả tỉ đô la về vật chất và con người để tiến hành chiến tranh chống chúng tôi.
Năm 1958 các ông không có CHỦ QUYỀN nhưng các ông đã làm KHẾ ƯƠC, thì khi các ông có chủ quyền các ông phải thực hiện khế ước buôn bán đó.
– Thế các ông có trường hợp buôn bán kiểu đó trong thực tế không?
– Có chứ ông. Trong sở hữu chứng khoán, thị trường thế giới có cái gọi là “future options”. Ông không dám mua chứng khoán đó vì ông sợ thua lổ, ông có thể trả tiền với LỜI HỨA sẽ mua và công ty đó phải giao “chủ quyền” chứng khoán đó cho ông trước thời điểm nào đó, dù nó lên hay xuống thấp hơn giá trị ông trả. Rồi ông cần tiền ông vẫn có thể bán LỜI HỨA đó cho người khác và cứ thế cho đến khi thời điểm hứa đó đến thì người cuối cùng phải … THỰC HIỆN. Cái đó là buôn bán thứ ông không có chủ quyền …
Đại diện CSVN nghiêm mặt lại biện hộ:
– Nhưng ông không đọc thấy trong ngôn từ Thủ Tướng Phạm văn Đồng rất KHÔN NGOAN không hề đề cập để chuyện “giao chủ quyền” như cái ví dụ mà ông nêu. Ông ta chỉ nói …
“có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển”
Đại diện Mỹ cười rồi nói:
– Các ông đã có lịch sử CÔNG NHẬN công hàm này. Đó là vào năm 1974 khi Trung Quốc tấn công Hoàng Sa thuộc chủ quyền VNCH. Các ông đã “tôn trọng hải phận của Trung Quốc trong mọi quan hệ trên mặt biển” nên các ông hoàn toàn để mặc cho Trung Quốc hành động chiếm chủ quyền … TƯƠNG LAI của các ông. Thế thì sao các ông có thể biện minh trước tòa rằng một văn bản không hiệu lực lại được tôn trọng?
– Chúng tôi cũng như các ông thôi. Hạm đội 7 các ông nằm đó đâu có động tĩnh gì!
– Hoa Kỳ bị ràng buộc bỡi Thông cáo chung Thượng Hải với Trung Quốc và Hiệp định Paris, phải rút quân và trả lại quyền tự quyết cho VNCH.
Đại diện Mỹ ngừng một lát rồi nói tiếp:
– Tôi xem công hàm Phạm văn Đồng nhiều lần và phải công nhận vào thời điểm năm 1958, ông Đồng hay ai đó soạn cho ông Đồng ký công hàm này là “khôn liền” ngay lúc đó mà không có … “khôn lâu”.
– Ý ông là?
– Ngôn từ trong công hàm này vào năm 1958 rất là KHÔN NGOAN. Vì các ông BÁN VỊT TRỜI mà thu được gần cả tỉ đô la viện trợ của Trung Quốc cho một món hàng tương lai không biết có chiếm được hay không. Ví như một người muốn đi cướp nhà người khác không có súng, không có tiền, đi hứa với thằng cướp khác “khi nào tao cướp được nhà đó thì tao tôn trọng quyền của mày được trồng rau ở sân sau”. Khi cướp được thì phải thực hiện lời hứa đó.
Đại diện CSVN mỉa mai:
– Nếu “khôn lâu” như ông trong trường hợp đã lỡ ký LỜI HỨA đó thì ông phải làm sao?
– Nếu tôi là các ông mà tôi bắt buộc phải viết công hàm đó để có viện trợ thì tôi vẫn viết như thế …
– Huề tiền!
– Tôi vẫn nhận gần cả tỉ đô la để đánh Hoa Kỳ và kéo nó đến bàn Hội Nghị Paris năm 1973 để nó phải rút quân …
Đại diện CSVN phá liên cười:
– Ông khôi hài quá, thế mà lại “dạy ngoại luộc trứng”
Đại diện Mỹ vẫn từ tốn nói tiếp:
– CSVN ký công hàm Phạm văn Đồng là khôn liền ngay năm 1958 nhưng ai đó quyết định xé hiệp định Paris chiếm Miền Nam năm 1975 là ĐẠI NGU để Trung Quốc nó …. (xin lỗi tôi hay có tật nói láy)
Chiếm Miền Nam là biến công hàm đó thành hiện thực và đối diện gần 1 tỉ đô la nợ Trung Quốc, là từ bỏ 4 đến 6 tỉ đô la bồi thường chiến tranh của Hoa Kỳ … Việt Nam bỏ cơ hội thành một nước Đức và nước Nhật sau thế chiến thứ hai.
Đại diện CSVN hết kiên nhẫn ngắt lời:
– Ông có khiếu kể chuyện cổ tích. Xin phép trở lại trọng tâm. Thế thì có giải pháp nào cho chúng tôi trong bế tắc này không?
Đại diện Mỹ nhìn quanh rồi pha trò:
– Có tình báo Hoa Nam Cục ở đây không?
Rồi ông nói tiếp:
– Theo tôi thì các ông phải tuân thủ công hàm Phạm văn Đồng vì 1974 các ông đã tuân thủ thì hôm nay phải tuân thủ để yên cho Trung Quốc đặt giàn khoan.
– Không còn cách nào hết sao?
– Chỉ còn cách mà tôi đã nói với các ông hôm đầu tiên.
– Cách gì ông nhắc lại đi.
– Một cách vô cùng giản dị, không cần viện trợ của Hoa Kỳ, chẳng cần ủng hộ của thế giới, mà lại đoàn kết, hòa hợp hòa giải với mọi thành phần người Việt trong và ngoài nước và quan trọng là vô hiệu hóa công hàm Phạm văn Đồng.
– Làm cách nào?
– Ngay ngày mai …
Đổi lại tên nước thành Việt Nam Cộng Hòa.
Lấy lại tên Sài Gòn và dời thủ đô về đó
Lấy CỜ VÀNG làm quốc kỳ

Có như thế thì trước diễn đàn thế giới. VNCH chỉ VẮNG MẶT … 39 năm chứ KHÔNG CHẾT. Công hàm Phạm văn Đồng chỉ là tờ “giấy lộn” vì tên cướp có vô nhà nhưng chủ nhà về lại và đã đuổi cổ nó ra … Trời Việt lại … HỪNG ĐÔNG.
Đại diện CSVN vuốt mồ hôi lạnh trên trán:
– Chỉ đơn giản thế thôi sao?
Vịt Bắc Kinh trên bàn đã NGUỘI LẠNH, lớp mỡ trắng đã bắt đầu đóng viền quanh dĩa vì không ai còn đoái hoài đến nó.
Đại diện Mỹ vỗ vai đại diện CSVN nói một câu tiếng Anh:
– All road lead to Rome (Đường nào cũng về La Mã)
Hãy trả cho Ceasar những gì của Ceasar.
Các ông chỉ có một ĐƯỜNG BINH … cầm bài chi lâu cho nó … ƯỚT.

Nguồn
FB Doanh Châu