IRS gửi 90 triệu khoản trợ cấp $1,400 trong chưa đầy 1 tuần

WASHINGTON, DC (NV) – Sở Thuế (IRS) gửi 90 triệu khoản trợ cấp $1,400 cho người dân Mỹ trong chưa đầy một tuần kể từ khi Tổng Thống Joe Biden ký dự luật COVID-19 mới nhất trị giá $1,900 tỷ, IRS và Bộ Tài Chính loan báo hôm Thứ Tư, 17 Tháng Ba.

“Đến hôm nay, tất cả những ai nhận được tiền trợ cấp trực tiếp trong đợt đầu tiên có thể sử dụng được số tiền này,” Bộ Tài Chính ra thông báo cho hay hôm Thứ Tư. “Đợt đầu tiên hầu hết được gửi trực tiếp vô trương mục ngân hàng mà một số người bắt đầu nhận được cuối tuần qua.”

Đến Thứ Tư, 17 Tháng Ba, IRS cũng gửi khoảng 150,000 tờ ngân phiếu trị giá tổng cộng $442 triệu. (Hình: AP Photo/Matt Rourke, File)

Đợt trợ cấp đầu tiên trị giá khoảng $242 tỷ, hơn một nửa trong số $450 tỷ dành riêng để trợ cấp trực tiếp cho người dân.

IRS bắt đầu gửi tiền hôm Thứ Sáu tuần trước, nhưng chọn ngày 17 Tháng Ba để người nhận dùng được số tiền này.

Đợt đầu tiên được gửi cho người nào có thông tin trương mục ngân hàng lưu ở IRS từ hồ sơ khai thuế năm 2019 hoặc 2020.

Phần lớn tiền trợ cấp trực tiếp sẽ được gửi theo cách đó, nhưng đến nay, IRS cũng gửi khoảng 150,000 tờ ngân phiếu trị giá tổng cộng $442 triệu.

Theo kế hoạch trợ cấp lần thứ ba này, người Mỹ hội đủ điều kiện sẽ nhận được đến $1,400. Khoảng 158.5 triệu gia đình dự trù được trợ cấp, Tòa Bạch Ốc cho hay. (Th.Long) [qd]

Để Thấy Mình Hạnh Phúc

Để Thấy Mình Hạnh Phúc

Dưới đây nhắc bạn nhớ lại những viên ngọc quý mà bạn đã có, chỉ cần lấy ra dùng là sẽ có hạnh phúc.

Sau đây là 7 điều quán chiếu hạnh phúc:

1/ Ta đang còn sống

2/ Ta có sức khỏe

3/ Ta có đủ sáu căn

4/ Ta có tự do

5/ Ta có tiện nghi vật chất

6/ Ta có tình thương

7/ Ta có sự hiểu biết

1/ Ta đang còn sống

Trên đời này quý nhất là sự sống.

Tất cả sinh vật từ côn trùng, sâu bọ, thú vật cho đến con người, loài nào cũng tham sống sợ chết.

Giả sử bây giờ phải lựa chọn giữa trúng số độc đắc mà chết và sạt nghiệp mà sống thì bạn sẽ lựa cái nào ?

Ở đời ai cũng lo đi tìm tiền của, nhưng thật ra tiền của chỉ để bảo đảm sự sống an toàn, tiện nghi.

Có nhiều người giàu sang sẵn sàng chi hết tiền của để cứu lấy mạng sống.

Như thế đủ thấy sự sống quý hơn tiền bạc, quý hơn gấp trăm ngàn, triệu ngàn lần.

Ngay cả một tỷ đô la cũng không mua nổi mạng sống khi bị bệnh ung thư hay sida (aids). Vậy mà sáng nay mở mắt thức dậy còn sống, bạn có thấy mình hạnh phúc không?

Mỗi khi cảm thấy khổ đau, chán nản hay tuyệt vọng thì hãy nhớ lại ta đang còn sống đây. Còn sống thì còn tất cả.

2/ Ta có sức khỏe

Sự sống quý nhất trên đời, sức khỏe quý nhất trong sự sống.

Có sức khỏe không có nghĩa là phải khỏe như lực sĩ thế vận hội mà chỉ cần không đau nhức, bệnh hoạn, không có bệnh trầm kha, nan y, v.v…

Ở đời mấy ai tránh khỏi bệnh tật, không bệnh này thì bệnh nọ.

Bệnh nặng như ung thư hay sida phải có thuốc giảm đau như morphine mới chịu nổi, nếu không thì đau đớn rên siết như bị hành hình ở địa ngục, bệnh nhẹ như cảm cúm, sổ mũi, nhức đầu cũng làm cho ta mệt mỏi, khó thở, đau nhức.

Mỗi khi khỏe mạnh, không bệnh hoạn thì ta hãy mừng rỡ ý thức đó là một hạnh phúc.

Có nhiều tiền mà bệnh hoạn liên miên, ăn không được, ngủ không yên, hết nằm nhà thương này đến nhà thương nọ, có tiền như vậy đâu có sướng !

Mỗi khi cảm thấy khổ đau, chán nản hay tuyệt vọng thì hãy nhớ lại ta đang còn sức khỏe đây.

Còn sức khỏe thì còn làm được tất cả.

3/ Ta có đủ sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý)

Có nguời đầy đủ sức khỏe nhưng lại bị mù, điếc, hoặc câm, què, tàn tật, v.v…

Những người này dù có tiền, có sức cũng đâu sung sướng gì !

Bạn có thể tưởng tượng nếu bây giờ bị mù thì bạn sẽ ra sao ?

Chỉ cần nhắm mắt lại trong năm, mười phút đi tới đi lui trong nhà mình xem.

Bạn có hiểu được nỗi khổ của người mù không ? Vậy mà bạn đang còn đôi mắt sáng thấy được trời xanh, mây trắng, tai nghe được chim hót, nhạc hay, mũi ngửi được mùi cơm thơm, miệng nói năng được với người thương, thân không què quặt, tâm không điên loạn.

Như vậy còn đòi hỏi gì hơn?

Chỉ cần mất đi một căn thôi đời bạn sẽ mất đi rất nhiều ý nghĩa.

Dù ở trong cảnh khổ nào đi nữa, nhớ lại mình còn nguyên vẹn sáu căn cũng đủ an ủi và xóa tan đi mọi niềm đau.

4/ Ta có tự do

Tự do ở đây là không bị tù đày chứ không có nghĩa chính trị hay tôn giáo.

Hiện tại bạn có đang ở tù không?

Có đang bị trói buộc, xiềng xích không ?

Có ai cấm bạn đi đứng nói năng, ăn uống không?

Có ai đánh đập theo dõi kiểm soát bạn không ?

Bạn có biết đời sống trong tù ra sao không? Dù đó là tù ở Pháp, ở Mỹ?

Có thể bạn nghĩ tù ở các xứ văn minh giàu có thì sướng hơn ở xứ nghèo chăng?

Ở Mỹ nhân viên cai tù không hành hạ tù nhân nhưng chính những người tù đánh đập, áp bức, hiếp dâm lẫn nhau rất dã man.

Ngay bây giờ nhìn lại, bạn có thấy mình được tự do đi đứng nói năng không ?

Nhớ ai thì lên xe rồ máy đi thăm, thèm ăn món gì thì ra chợ mua hoặc đi nhà hàng, v.v…

Có biết bao người đang bị tù đày khổ sở, trong đầu chỉ ao ước được tự do như bạn là họ sung sướng lắm.

Vậy mà đang sống tự do bạn có cảm thấy hạnh phúc không?

Nếu không thì bạn hãy ý thức và nhớ lại đi, đừng để khi mất tự do rồi mới mơ ước thì quá muộn.

5/ Ta có tiện nghi vật chất.

Tiện nghi vật chất không hẳn là nhà cao cửa rộng, xe hơi, ti vi, tủ lạnh, máy giặt, máy rửa chén, v.v…

Tiện nghi ở đây là những thứ căn bản mà phần đông chúng ta đều có, đó là cơm ăn, áo mặc, chỗ ở che mưa nắng, không phải đi ăn xin, ngủ đầu đường xó chợ.

Nhiều người ở Việt Nam vẫn tưởng rằng sống ở Pháp hay Mỹ chắc sướng lắm vì đầy đủ tiện nghi, họ đâu biết là ở đâu cũng có kẻ giàu người nghèo.

Ngay tại Paris, thủ đô ánh sáng, hàng ngày vẫn có nhiều người ăn xin vô gia cư, tiếng pháp gọi là SDF (sans domicile fixe), ngửa tay đi xin tiền trong xe điện ngầm (métro), tối đến họ chui vào những gầm cầu thang để ngủ.; như ở Mỹ cũng có Homeless vậy.

Nhìn lên chẳng bằng ai, nhưng nhìn xuống thì ta vẫn còn may mắn hơn nhiều người.

Hãy nhìn lại hoàn cảnh của mình, bạn có đói đến nỗi thiếu ăn không ?

Có nghèo đến nỗi không còn mảnh vải che thân ?

Nếu chưa đến nỗi như vậy thì bạn hãy xem mình đầy đủ.

Khi tâm biết đủ (tri túc) thì bao nhiêu cũng đủ, khi tâm tham muốn đòi hỏi thì bao nhiêu cũng không đủ.

Người biết đủ là người giàu có hạnh phúc vì không thấy thiếu thốn, người tham lam keo kiệt dù có nhiều tiền vẫn là người nghèo vì không bao giờ thấy đủ.

6/ Ta có tình thương

Nhiều người khổ sở vì cảm thấy cô đơn, không có ai thương mình hết.

Không ai thương mình bởi vì mình đâu có thương ai.

Khi trong lòng ta tràn đầy tình thương thì tự nhiên nó tỏa ra và mọi người sẽ tìm đến.

Giống như mùa xuân hoa nở thơm ngát thì tự động ong bướm bay tới xung quanh.

Ai cũng có một trái tim, tiếng Hán là tâm, bản chất của tâm (tim) là thương yêu.

Ta có dư tình thương cho chính mình và cho kẻ khác.

Chỉ cần nhớ lại mình có trái tim thương yêu và đem ra xử dụng.

Hiện tại bạn có ai là người thân thương không?

Có cha mẹ, anh em, vợ con, bạn bè không?

Có ai đang thương và lo lắng cho bạn không?

Có tình thương, biết thương và được thương là một hạnh phúc lớn nhất trên cõi đời này.

7/ Ta có sự hiểu biết

Hiểu biết ở đây là hiểu biết đạo lý chứ không phải kiến thức bằng cấp.

3 điều Thương Ghét

1) Ða số người thường suốt ngày sống trong sự thương ghét. Người nào vừa ý, hợp ý mình thì thương, kẻ nào trái ý mình thì ghét.

2) Khi bắt đầu biết đạo thì tập tánh bình đẳng, không thương người này ghét người kia.

3) Sau khi hiểu đạo thì chỉ còn tình thương. Thấy ai cũng là bà con thân thuộc của mình từ nhiều đời, và thấy ai cũng đáng thương hết.

Anh chị Thụ & Mai gởi

 LỜI NÓI THẬT CỦA MỘT BÁC SĨ.

 
May be an image of 1 person

 LỜI NÓI THẬT CỦA MỘT BÁC SĨ.

Nguyên tắc thứ nhất: Đừng tin những gì quảng cáo trên báo đài, truyền thông, và thế giới mạng về thuốc. Vì không độc thì không gọi là thuốc, người ta chỉ uống thuốc để tự tử, chứ không ai uống nước để tự tử bao giờ. Chính vì thế, mà ở các quốc gia tiên tiến, cấm quảng cáo thuốc trên phương tiện truyền thông dân dụng, chỉ được quảng cáo thuốc ở tạp chí và hội thảo chuyên ngành Y.

Nguyên tắc thứ hai: Khi đi khám bệnh bất kỳ ở đâu, người bệnh cần có 1 câu hỏi phải hỏi: “Bệnh của tôi do nguyên nhân gì?” Vì chỉ có thầy thuốc giỏi mới điều trị nguyên nhân bệnh, còn lại những thầy thuốc kém hiểu biết chỉ biết điều trị hậu quả – hay còn gọi là chữa triệu chứng – của bệnh.

Nguyên tắc thứ ba:Đừng bao giờ tin những gì mình tìm kiếm trên mạng internet rồi tự suy diễn, tự làm bác sĩ cho mình và gia đình mình. Vì như thế chỉ làm hại chính mình và gia đình mình. Hãy cứ nghĩ, nếu bản thân bạn đủ khả năng được các trường Y nhận vào học thì các bạn đã trở thành bác sĩ, chưa kể các bác sĩ đã được đào tạo chính quy một thời gian dài về bộ máy tinh vi nhất của quả đất – con người – bình thường và bất thường từ tế bào đến bao nhiêu rối loạn khác về cả thể chất lẫn tinh thần, nhưng chưa chắc họ đã giỏi, thì các bạn chỉ vài cú enter với google, không có kiến thức căn bản về y khoa, thì các bạn như người điếc không sợ súng và tự hại mình thôi.

Nguyên tác thứ tư: Đừng bao giờ tin những quảng cáo về các loại thức ăn, thức uống bổ, giúp chữa bệnh này hay bệnh khác – Ví dụ, sữa chống loãng xương, thực phẩm chứ năng, thức uống collagen, v.v… – chỉ là những trò kinh doanh kiểu đa cấp để kiếm lãi. Loãng xương là một trong những tiến trình của một quá trình lão hóa của bất kỳ động vật nào được diễn ra ở mức độ phân tử sinh học, tiến trình này cho tới nay, y học vẫn còn mò mẫm và bất lực.

Nguyên tác thứ năm: Ăn uống và làm việc là thuốc. Ăn uống và làm việc đúng thì không hoặc ít bệnh tật. Ăn uống và làm việc sai là tự đưa mình vào nơi khổ đau của bệnh tật, vì sức khỏe qúy hơn vàng.

Chúc mọi ngừơi dồi dào sức khỏe, hạnh phúc và phồn vinh !

Sưu tầm: tâm sự nghề Y

Thầy lang Võ Hoàng Yên trở thành ‘thần y’ ra sao?

Thầy lang Võ Hoàng Yên trở thành ‘thần y’ ra sao?

Diễm Thi, RFA
2021-03-16

Thầy lang Võ Hoàng Yên trở thành ‘thần y’ ra sao?

Ông Võ Hoàng Yên trong một lần chữa bệnh

 Photo: plo.vn

00:00/06:18

Sáng 15 tháng Ba năm 2021, ông Đỗ Thiết Khiêm, Chủ tịch UBND huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xác nhận với truyền thông trong nước rằng Công an tỉnh đang điều tra, xác minh hiệu quả chữa bệnh của Lương y Võ Hoàng Yên cho người dân địa phương hồi tháng Bảy năm 2020. Lúc đó, huyện Bình Sơn đã mời ông Yên về để chữa bệnh miễn phí cho khoảng 1.000 người nghèo bị khuyết tật vận động, câm, điếc bẩm sinh… không có điều kiện để chạy chữa.

Mười năm trước, báo Công an Nhân dân cho biết, vào chiều ngày 26 tháng Tám năm 2011, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước, ông Trương Tấn Thiệu đã tổ chức cuộc họp với lãnh đạo các sở, ngành để bàn giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho ông Võ Hoàng Yên điều trị bệnh cho nhân dân.

Tại cuộc họp này, UBND tỉnh Bình Phước hoan nghênh ông Võ Hoàng Yên chữa bệnh có trách nhiệm và có tâm với người bệnh và cộng đồng. Ông Thiệu đề nghị các ngành chức năng tham mưu đề xuất với UBND tỉnh, đặc biệt là Sở Y tế, Sở Khoa học và Công nghệ, Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật và Hội Đông y tỉnh cần nghiên cứu chủ trương, tìm ra những giải pháp cụ thể để ông Yên sớm có giấy phép hành nghề.

Tháng Năm năm 2012, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước Nguyễn Huy Phong trao tặng bằng khen cho lương y Võ Hoàng Yên nhờ những đóng góp của ông trong việc chữa bệnh cứu người cho nhân dân trong tỉnh. Đến tháng 12 cùng năm, ông Võ Hoàng Yên chính thức được công nhận là lương y và có giấy phép hành nghề.

Trong khi đó, mới hôm 10 tháng Ba năm 2021, báo Lao Động dẫn lời khẳng định của PGS-TS Nguyễn Thế Thịnh – Cục trưởng Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền thuộc Bộ Y tế rằng, “Chưa có bất kỳ một cơ sở khoa học nào về phương pháp của ông Võ Hoàng Yên có thể chữa được bệnh và bản thân ông Võ Hoàng Yên cũng chưa đăng ký ở bất kỳ đâu, chưa ai công nhận phương pháp của ông này có thể chữa được bệnh…”

Ông Thịnh cũng cho biết đang cho điều tra, đồng thời có công văn yêu cầu Sở Y tế Bình Thuận và một số Sở Y tế các tỉnh khác yêu cầu báo cáo Bộ Y tế về trường hợp này.

Tất cả những gì về ông Võ Hoàng Yên được người dân biết đến chủ yếu qua các kênh truyền thông Nhà nước. Vậy ai phải chịu trách nhiệm trong vụ việc liên quan ông Võ Hoàng Yên?

Nhà báo Minh Hải nêu ý kiến của ông:

“Vấn đề ở đây là PR không rõ ràng. Lẫn lộn giữa PR và quảng cáo. Nó nhập nhằng như thế cho nên bây giờ đổ bể ra thì chỉ vì tiền hết thôi. Tất cả là tiền hết chứ không phải lương tâm nhà báo đâu. Có tiền là mua được hết mà, có gì đâu.”

Ông Đỗ Cao Cường, từng là phóng viên báo Pháp Luật, nêu quan điểm của ông về trách nhiệm của truyền thông trong những vụ việc như ông Võ Hoàng Yên:

“Trách nhiệm của truyền thông trong vấn đề này là khi họ yêu ghét theo kiểu cảm tính, họ đưa tin mà không gặp trực tiếp những bệnh nhân cụ thể. Họ tạo ra lòng tin và người dân vô tình tin theo. Bây giờ khi ông Yên bị vợ chồng ông Dũng lò vôi tố cáo thì truyền thông lại tin vào bà ấy. Vấn đề ở đây chủ yếu là do truyền thông định hướng. Nó có chỉ đạo lèo lái dư luận để người dân quên đi những vụ khác, những sự kiện quan trọng khác như vụ Đồng Tâm chẳng hạn. Muốn lên làm trưởng đại diện tòa báo thì bắt buộc phải kiếm cái hợp đồng truyền thông về cho tòa soạn.”

Tháng Chín năm 2020, một số tờ báo chính thống tại Việt Nam đã bị xử phạt hành chính với cáo buộc đưa tin sai sự thật và thực hiện không đúng tôn chỉ, mục đích ghi trong giấy phép hoạt động.

Hình minh hoạ. Một người dân đọc báo Nhân Dân trên đường phố Hà Nội. AFP

Bộ Thông tin và Truyền thông nêu ra những sai phạm như báo điện tử Dân Việt đã đưa thông tin bị cho sai sự thật trong bài viết “Khởi tố, bắt tạm giam ông Tất Thành Cang, cựu phó bí thư TP.HCM”. Vi phạm này được xác định “do lỗi kỹ thuật trong quá trình chuyển đổi hệ thống quản lý tin bài đã xuất bản tin chờ”.

Báo điện tử Tổ Quốc bị nói vi phạm đưa thông tin sai sự thật trong bài viết về hội thảo khoa học “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người sáng lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”.

Báo VnExpress bị cho đưa thông tin sai sự thật trong bài viết về lễ kỷ niệm 90 năm Ngày truyền thống ngành tuyên giáo của Đảng và báo Thanh Niên bị xử phạt do đưa “thông tin sai sự thật trong loạt bài viết đăng tháng 5/2020 về một số dự án đầu tư xây dựng theo hình thức BT tại Hải Phòng”.

Theo Nhà báo Võ Văn Tạo, báo chí đưa thông tin sai có nhiều nguyên nhân. Ông nói:

“Nó có rất nhiều nguyên nhân. Truyền thông mà sai lầm có khi là do cẩu thả, có khi là những sai sót, sơ hở, thậm chí có những tai nạn nghề nghiệp khó tránh.

Bà Kim Ngân hồi còn làm Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã từng gởi giấy khen cho những người tìm mộ liệt sĩ bằng ngoại cảm, tâm linh… Sau này một phóng viên của VTV làm một chương trình bóc trần sự thật trong việc tìm mộ ra. Lúc ấy cả nước mới vỡ lẽ.”

Với trường hợp ông Võ Hoàng Yên, nhà báo Võ Văn Tạo cho rằng, phóng viên không phải là những người thông thạo trong mọi lĩnh vực nên với những hiện tượng có tính chất kỳ bí thì không nên đưa tin một cách liều mạng mà phải để cho hội đồng khoa học đánh giá rõ ràng trước khi đưa tin.

Theo con số từ Bộ Thông tin và Truyền thông đưa ra vào cuối  năm 2020, Việt Nam có khoảng 840 cơ quan báo chí, gần 70 đài phát thanh truyền hình với đội ngũ nhà báo lên tới khoảng 40.000 người. Tất cả các cơ quan báo chí này đều phải chịu sự kiểm soát của nhà nước theo định hướng của Ban Tuyên giáo Trung ương. Trong quy hoạch báo chí đến năm 2025, chính phủ Việt Nam một lần nữa khẳng định báo chí là công cụ tuyên truyền, vũ khí tư tưởng quan trọng của đảng và nhà nước.

Biện pháp kiểm soát gắt gao nhằm mục tiêu nhằm khống chế, triệt tiêu những tiếng nói phản biện, đối lập; còn đối với những thông tin ‘vô thưởng, vô phạt’, cả những chuyện mê tín- dị đoan, ‘tình-tiền-tù- tội’ … lại thấy nhan nhản trên các báo chính thức được phát hành trong nước.

NHỮNG LUẬN ĐIỂM NGỤY BIỆN.

Hoai Linh Ngoc Duong

NHỮNG LUẬN ĐIỂM NGỤY BIỆN.

Với người dân các nước khác khi chính quyền dùng đến súng tức là đã tuyên chiến với nhân dân, là chuông báo tử cho chính quyền đó, là sự kết thúc một triều đại.

Nhưng với người dân Việt Nam khi chính quyền dùng đến súng thì đó là lý do để đổ thừa rằng người dân không thể chống lại.Kẻ nào ở nước ngoài nói rằng có thể chống lại với súng là nói dóc, có giỏi thì về Việt Nam làm đi.Không thể đối chọi với súng, nhà tù, bạo lực của công an là lý do khuất phục mà các dư luận viên đưa ra để hù ma nhát khỉ bất kỳ ai có tư duy dân chủ.

Tuy nhiên đó chỉ là luận điệu ngụy biện.

– Ngụy biện thứ nhất : Khi chế độ hiện tại chưa nắm chính quyền chúng cũng luôn tuyên truyền là “nợ máu trả bằng máu”,”nhà tù là trường học”, bạo lực không thể khuất phục được lòng yêu nước của người dân…Biết bao bài thơ áng văn đã ra đời để ca ngợi cái ý chí kiên cường bất khuất ấy. Nhưng kể từ khi chúng nắm chính quyền thì bọn tay sai của chúng trên mạng đã dẹp cái tinh thần kiên cường,bất khuất ấy đi đâu mất. Giờ hỏi 10 dân mạng về đấu tranh dân chủ thì có 9 kẻ lấy cái lý do cộng sản ác ra để biện minh. Tất cả vứt bỏ không thương tiếc hào khí Đông A, khí phách Trần Quốc Toản,tinh thần “không thành công cũng thành nhân” của Nguyễn Thái Học. Với họ dân dù đông cách mấy cũng không thể chống lại một chính quyền có súng. Đó là lý do một dân tộc phải cam chịu ,phải nô lệ.

– Ngụy biện thứ hai : Nếu chính quyền dùng bạo lực có thể trấn áp được người dân nhằm cầm quyền trọn đời thì cả thế giới này đều bị độc tài cai trị cả ,không có bất kỳ một nước nào có được dân chủ.Đơn giản là kẻ thống trị nào cũng ác, cũng tàn bạo để dân sợ cả. Hãy nhìn khắp từ Tây sang Đông,xuyên suốt lịch sử thắp đuốc tìm xem có bất kỳ một chế độ độc tài nào không ác. Bảo rằng chỉ có cộng sản mới ác là sai lầm. Ác, tàn bạo là thủ pháp để cai trị, để giữ chính quyền. Đa số dân ngụy biện thường chỉ lấy các chính quyền dân chủ ra so sánh với cộng sản để bào chữa cho cái hèn của mình. Chính quyền dân chủ do dân bầu tất nhiên không dám ác.Bởi họ ác sẽ bị dân truất phế bằng lá phiếu đưa đảng đối lập lên thay. Muốn so sánh cộng sản phải so sánh với chính quyền Assad ở Syria, với quân phiệt ở Myanmar, với Hiller….

– Ngụy biện thứ ba : Khi có người chỉ ra cái gốc “Dân nào chính quyền đó” một nguyên lý chung của nhân loại thì lại đổ thừa là kẻ đó không ở trong nước nên tha hồ muốn nói gì thì nói. Dân Hồng Kông, Myanmar có bao giờ bảo đồng bào họ ở nước ngoài “Hãy về đây mà làm đi” hay không? Bởi đơn giản một người ở bên trong ngôi nhà đang cháy phải tự tìm cách thoát ra chứ không thể bảo người bên ngoài vào chết chung. Còn anh bảo nhà chưa cháy không cần chữa thì anh đừng bao giờ đưa các vụ cướp đất,tử hình oan, cảnh sát cơ động bắn chết dân hay chính quyền bán đất ,bán nước cho ngoại bang…lên mạng Đó chính là biểu hiện của căn nhà đang cháy đấy. Và những người ở bên ngoài cũng chỉ cho bạn cách chữa cháy tận gốc mà thôi.

Kết luận : Mọi thảm họa của chế độ độc tài đều do người dân nuôi dưỡng và khuất phục quyền lực mà ra.Vấn đề chế độ độc tài đưa đến thảm họa diệt vong một dân tộc chỉ là vấn đề thời gian khi luật pháp không công bằng, giàu nghèo chênh lệch càng lúc càng xa, khi tham nhũng,cướp đất ,bán nước ,phá rừng hủy hoại môi sinh càng ngày càng trầm trọng. Những tiến bộ bên ngoài của chế độ độc tài về kinh tế chỉ là những phim trường được tô vẽ giả tạo khi GDP không tăng, khi các vùng nông thôn, vùng cao,vùng xa đầy rẫy nghèo đói,thất học. Và chỉ một tầng lớp quyền lực, dựa hơi quyền lực cùng một bè lũ showbiz thi nhau khoe của, khoe từ thiện để đánh bóng bản thân và đánh bóng chế độ.Kỳ thực tất cả mâu thuẫn nội tại trong lòng chế độ độc tài đang âm ỉ tích tụ và chờ ngày nổ tung theo quy luật cùng tất biến.

Nó chưa nổ ra trong thế hệ này vì thế hệ này quá hèn thì cũng nổ ra trong những thế hệ sau. Bởi không lẻ thế hệ nào cũng chỉ biết sống cúi đầu ?

https://www.luatkhoa.org/…/phan-khang-phi-bao-luc…/…

“Phản kháng phi bạo lực” có phải chỉ dành cho những kẻ đại ngu? | Luật Khoa tạp chí

LUATKHOA.ORG

“Phản kháng phi bạo lực” có phải chỉ dành cho những kẻ đại ngu? | Luật Khoa tạp chí

Những Điều Không Bao Giờ Xảy Ra. Bạn ĐỪNG mong!

GÓC SUY GẪM…

Những Điều Không Bao Giờ Xảy Ra. Bạn ĐỪNG mong !!!

  1. Ta đối xử với người không chân thật mà mong người đối xử chân thật với ta là điều không bao giờ xảy ra.
  2. Ta gian tham tài sản của người mà mong người giao tài sản cho ta cất giữ là điều không bao giờ xảy ra.
  3. Ta sống không đoan chánh, lễ độ với người mà mong người sống lễ độ và đoan chánh với ta là điều không bao giờ xảy ra.
  4. Ta đối xử với người bằng tâm ý trách móc, hận thù mà mong người đối xử với ta bằng tâm ý thân thiện, gần gũi là điều không bao giờ xảy ra.
  5. Ta không đối xử với người bằng tình thương mà mong người đem tình thương đối xử với ta là điều không bao giờ xảy ra.
  6. Ta đối xử với người bằng tâm cố chấp mà mong người đối xử với ta bằng tâm ý hỷ xả là điều không bao giờ xảy ra.
  7. Ta đối xử với người bằng tâm ý cao ngạo mà mong người kính trọng ta là điều không bao giờ xảy ra.
  8. Ta đem tâm kỳ thị để đối xử với người mà mong người không đối xử kỳ thị với ta là điều không bao giờ xảy ra.
  9. Ta sống với tâm tham đắm tài sản và quyền lực mà mong có giấc ngủ yên bình là điều không bao giờ xảy ra.
  10. Ta sống với tâm ý hại người và không đoan chánh mà trong lòng không sinh ra sợ hãi là điều không bao giờ xảy ra.
  11. Ta sống với tâm nhỏ bé mà mong mọi người đều quy phục ta là điều không bao giờ xảy ra.
  12. Ta sống chạy theo hình thức bên ngoài mà tâm ý không vọng động theo đúng, sai là điều không bao giờ xảy ra.
  13. Ta sống không biết lắng nghe và học hỏi mà mong cầu có tiến bộ là điều không bao giờ xảy ra.
  14. Sống chạy theo danh vọng mà không gặp nguy nan là điều không bao giờ xảy ra.
  15. Sống và làm việc với tâm phiền não mà mong có thảnh thơi và tự do là điều không bao giờ xảy ra.
  16. Sống và làm việc theo cá tính mà mong có tri kỷ là điều không bao giờ xảy ra.
  17. Người lãnh đạo sống thiếu độ lượng mà mong có những phụ tá giỏi là điều không bao giờ xảy ra.
  18. Người lãnh đạo thiếu khả năng quyết đoán công việc mà mong thuộc cấp có tài năng không lấn lướt là điều không bao giờ xảy ra.
  19. Muốn mọi người lúc nào và ở đâu cũng đều làm theo ý của mình là điều không bao giờ xảy ra.
  20. Người khác ăn mà mình no, người khác thở mà mình sống là điều không bao giờ xảy ra.

Ta luôn nghiền ngẫm những điều trên đây một cách thường trực và sâu sắc. Tự trí và minh sẽ khởi lên trong tâm ta; từ bi và hỷ xả sẽ khởi lên trong đời sống của ta, giúp ta lấy lại niềm tin và vượt ra khỏi mọi vô minh ảo tưởng và khổ đau ngay ở trong cuộc sống này.

ST.

May be an image of outdoors and text

VÌ SAO SỰ LỪA GẠT CÓ HỆ THỐNG VẪN CỨ MỌC NHƯ NẤM Ở VIỆT NAM?

Van Pham

 VÌ SAO SỰ LỪA GẠT CÓ HỆ THỐNG VẪN CỨ MỌC NHƯ NẤM Ở VIỆT NAM?

Đỗ Ngà

Thông thường sự sáng suốt và trung thực sẽ đi đôi với nhau, và ở thái cực bên kia thì sự ngu muội và gian trá cũng thường song hành với nhau. Xã hội nào đưa sự sáng suốt và tính trung thực thành tính phổ quát cho toàn dân xã hội đó là văn minh. Còn ngược lại, xã hội nào đưa sự ngu dốt và sự gian trá trở thành tính phổ quát thì đó là xã hội mông muội. Sự văn minh không đo bằng thước đó thu nhập đầu người mà nó đo bằng những giá trị như vừa đề cập. Tuy nhiên thực tế cho thấy, thường là quốc gia giàu có thì quốc gia đó là văn minh.

Để có sự sáng suốt thì phải có tri thức, ở đây không phải chỉ là tri thức về chuyên môn. Thứ tri thức về chuyên môn nó là giá trị tạo nên của cải vật chất cho xã hội và dùng để kiếm tiền cho bản thân, nó hoàn toàn không xây dựng nên cái văn minh cho bản thân và đóng góp cho cái văn minh của cả xã hội. Văn minh là nói về vấn đề khác, đó là giá trị tích lũy tạo nên nhân cách con người, trong đó sự sáng suốt là một trong những giá trị nền tảng. Để có sự sáng suốt, điều cốt lõi là con người phải biết chấp nhận khác biệt, biết chấp nhận sự khác biệt mới nhìn vấn đề ở nhiều góc độ khác nhau từ đó có niềm tin vào sự đúng đắn. Biết chấp nhận sự khác biệt là tự trong nhân cách đã hình thành tính bao dung, đấy là một giá trị nền tảng để tạo nên một xã hội nhân bản.

Để có sự trung thực thì con người phải biết tôn trọng sự thật. Nếu lỡ sai lầm thì phải dám thừa nhận. Như vậy nếu ai tập cho bản thân biết thừa nhận sai lầm thì tự trong con người đó cũng hình thành nên sự can đảm. Nếu cả xã hội biết tôn trọng sự thật mà có lòng can đảm thì ắt dân khí của quốc gia sẽ mạnh lên. Dân khí Việt Nam trăm năm vẫn chưa mạnh là dân tộc Việt Nam đang còn thiếu những giá trị như thế.

Sự ngu muội là là tin một cách thái quá vào những điều xằng bậy. Để con người tin vào những điều xằng bậy và cố chấp theo đuổi điều xằng bậy đó thì nền tảng là không biết chấp nhận sự khác biệt. Chỉ biết nghe những lời nói mùi tai rồi tự chấp nhận nó là chân lý (đối với bản thân), và với nền tảng không chịu lắng nghe nên con người ấy trượt theo niềm tin mù quáng một cách kiên định. Không biết tôn trọng chủ nghĩa đa nguyên thì con người không biết nhìn vấn đề ở nhiều góc độ, mà không biết nhìn ở nhiều góc độ thì họ không thể tìm ra sự thật. Nếu toàn xã hội mà theo một khuôn mẫu giáo dục như vậy thì xã hội ấy rất dễ bị dắt mũi bởi những trò lừa gạt, mà đặt biệt là lừa gạt có tính hệ thống thì có thể dắt mũi được toàn xã hội.

Nói đến sự lừa gạt thì sự lừa vĩ đại nhất đó chính là chủ nghĩa cộng sản. Nếu có lí trí thì con người sẽ nhìn ra ngay mục tiêu “làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu” của Karl Marx là chứa mâu thuẫn và từ đó phải biết nó là một ước mơ không tưởng. Tuy nhiên, một mục tiêu mâu thuẫn như thế nó lại nảy nở và trở thành niềm tin mãnh liệt trong những xã hội ngu muội. Đó là nền tảng để bộ máy lừa gạt khổng lồ của ĐCS vận hành trơn tru.

Trong bộ máy nhà nước CS nó chứa 2 thứ quan trọng, đó là bộ phận lừa gạt và bộ phận đe dọa. Bộ phận lừa gạt chính là ban tuyên giáo, bộ Thông tin và truyền thông và nền giáo dục nhồi sọ. Bộ phận đe dọa chính là công an và hệ thống tòa án, chính nó không xem trọng việc thực thi công lý mà xem trọng trách nhiệm bảo vệ đảng, nên thay vì nó bảo vệ dân thì nó lại là hệ thống đe dọa sự an nguy của dân. Có thể nói, nhà nước CS là bộ máy lừa gạt khổng lồ nhất mà nhân loại từng có. Nó chỉ sống được trên nền tảng một xã hội ngu muội để họ dễ dàng dắt mũi toàn dân.

Sự ngu muội của xã hội được ví như là vùng đất tốt, bộ máy lừa gạt của ĐCS được ví như là loại cây đặc thù cho loại đất đó. Với loại đất này, một khi bộ máy lừa gạt của ĐCS sống tốt thì những bộ máy lừa gạt khác cũng mọc lên và sống tốt vậy? Vì chúng cùng sử dụng một loại dinh dưỡng mà? Nếu nói cây lừa gạt CHXHCNVN là cây đại thụ trong vườn thì “Thần y Võ Hoàng Yên và đồng bọn” cũng cùng loại như vậy nhưng là cây con, vì họ cũng hành nghề lừa gạt mà? Nếu nói “Thần Y Võ Hoàng Yên và đồng bọn” sống tốt thì bọn buôn thần bán thánh kiểu “du lịch tâm linh” cũng sống tốt vậy? Vì họ cũng sống bằng trò lừa gạt lòng tin người dân chứ có khác gì nhau?! Đấy là thực tế. Như vậy nhổ “Hoàng Yên” này thì ắt sau này cũng có “Hoàng Yên” khác mọc lên, hay dẹp “Chùa Ba Vàng” thì “Chùa Tam Chúc” cũng mọc lên vậy?! Không bao giờ mảnh đất này hết những trò lừa gạt mang tính hệ thống như vậy, bởi đơn giản mảnh đất ngu muội vẫn còn đó. Cây đại thụ CHXHCNVN còn đó thì những cây cỏ dại như “Võ Hoàng Yên”, “Chùa Tam Chúc”, “Chùa Ban Vàng” sẽ mọc lên ăn hôi phần dinh dưỡng thừa của cây đại thụ này.

Như đã nói, sáng suốt và trung thực là một cặp song hành, nó thuộc về thế giới văn minh; sự ngu muội và gian trá nó cũng là một cặp song hành, nó thuộc về thế giới mông muội. Ở Việt Nam, với ngu muội là nền tảng thì không bao giờ dẹp được sự gian trá cả. Chuyện lừa đảo dựa trên sự ngu muội nó không bao giờ hết, trừ khi “chế độ lừa gạt vĩ đại CHXHCNVN” không còn./.

-Đỗ Ngà-

KÝ ỨC THÁNG TƯ ĐEN…

 

KÝ ỨC THÁNG TƯ ĐEN…

Trần Trung Đạo

Bên bờ biển Palawan

Có một em bé gái

Tuổi mới chừng lên sáu lên năm

Đang ngồi đếm từng viên sỏi nhỏ

Và nói chuyện một mình

Như nói với xa xăm

– Em đến từ Việt Nam

Câu trả lời thường xuyên và duy nhất

Hai tiếng rất đơn sơ mà nhiều người quên mất

Chỉ hai tiếng này thôi

Em nhớ kỹ trong lòng

Em chỉ ra ngoài Đông Hải mênh mông

Cho tất cả những câu hỏi khác

Mẹ em đâu?

– Ngủ ngoài biển cả

Em của em đâu?

– Sóng cuốn đi rồi

Chị của em đâu?

– Nghe chị thét trên mui

Ba em đâu?

Em lắc đầu không nói

– Bé thức dậy thì chẳng còn ai nữa

Chiếc ghe nhỏ vớt vào đây mấy bữa

Trên ghe sót lại chỉ dăm người

Lạ lùng thay một em bé mồ côi

Đã sống sót sau sáu tuần trên biển

Họ kể lại em từ đâu không biết

Cha mẹ em đã chết đói trên tàu

Chị của em hải tặc bắt đi đâu

Sóng cuốn mất người em trai một tuổi

Kẻ sống sót trong sáu tuần trôi nổi

Đã cắt thịt mình lấy máu thắm môi em

Ôi những giọt máu Việt Nam

Linh diệu vô cùng

Nuôi sống em

Một người con gái Việt

Mai em lớn dù phương nào cách biệt

Nhớ đừng bao giờ đổi máu Việt Nam

Máu thương yêu đã chảy bốn ngàn năm

Và sẽ chảy cho muôn đời còn lại

– Viên kẹo tròn này để dành cho Mẹ

Viên kẹo vuông này để lại cho Ba

Viên kẹo nhỏ này để qua cho chị

Viên kẹo lớn này để lại cho em

Còn viên kẹo thật to này… là phần Bé đấy

Suốt tuần nay em vẫn ngồi

Một mình lẩm bẩm

Ngơ ngác nhìn ra phía biển xa xôi

Như thuở chờ Mẹ đi chợ về

– Thật trễ làm sao

Em tiếp tục thì thầm

Những câu nói vẩn vơ

Mẹ ngày xưa vẫn thường hay trách móc

Em cúi đầu nhưng không ai vuốt tóc

Biển ngậm ngùi mang thương nhớ ra đi

Mai này ai hỏi Bé yêu chi

Em sẽ nói là em yêu biển

Nơi cha chết không trống kèn đưa tiễn

Nơi tiếng chị rên

Nghe buốt cả thịt da

Nơi Mẹ chẳng về dù đêm tối đi qua

Nơi em trai ở lại

Với muôn trùng sóng vỗ

Bé thơ ơi cuộc đời em viên sỏi

Khóc một lần nước mắt chảy thiên thu

Trần Trung Đạo

HÌNH ẢNH CUỘC BIỂU TÌNH ĐẪM MÁU Ở TRUNG TÂM CÔNG NGHIỆP MYANMA.

HÌNH ẢNH CUỘC BIỂU TÌNH ĐẪM MÁU Ở TRUNG TÂM CÔNG NGHIỆP MYANMA.

Ít nhất 22 người thiệt mạng trong cuộc đụng độ với lực lượng an ninh ở Hlaing Tharya, trung tâm công nghiệp tại Yangon hôm 14/3.

Lực lượng an ninh đối phó với cuộc biểu tình ở thị trấn Hlaing Tharya, Yangon hôm 14/3. Xung đột dữ dội đã xảy ra giữa cảnh sát, binh lính và người biểu tình ở thị trấn nghèo khó, là trung tâm công nghiệp với nhiều nhà máy may mặc này.

Theo đài truyền hình Myawaddy do quân đội điều hành, lực lượng an ninh nổ súng sau khi 4 nhà máy may mặc và một nhà máy phân bón bốc cháy. Khoảng 2.000 người đã ngăn xe chữa cháy tiếp cận các nhà máy.

“Thật kinh khủng. Mọi người bị bắn ngay trước mắt tôi. Tôi sẽ không bao giờ quên được hình ảnh đó”, một phóng viên ảnh tại hiện trường cho biết.

Xem chú thích nơi từng tấm hình….

*******

+7

VIRUS CORONA sau một năm

Mời các bạn so sánh sự lây nhiễm VIRUS CORONA và số người chết sau MỘT NĂM

ngày 16 tháng 03 năm 2020 và

16 tháng 03 năm 2021 của thế giới và HOA KỲ

Lúc 4 giờ  chiều ngày 16 tháng 03 năm 2021

 Trên thế giới có: 121, 084,326 nhiễm bịnh Virus corona

                        chết: 2,677, 516 người

Riêng ở USA có: 30,172,933 người nhiễm bịnh

                        Chết:  548,777 người

https://www.worldometers.info/coronavirus/?fbclid=IwAR1jM_jCvde2y6ra5PY1Zs_3hutCzj1EQGizYObaUVcJHMZm5UQQjADei1M

5 tâm thái cần có để sống tự tại ở tuổi trung niên

5 tâm thái cần có để sống tự tại ở tuổi trung niên

Nhân sinh tưởng dài nhưng kỳ thực lại vô cùng ngắn ngủi, thời gian ở trong bất tri bất giác mà lặng lẽ trôi qua. Con người khi đến tuổi trung niên, có lẽ vinh nhục, được mất, thất bại hay thành công cũng đều đã từng nếm trải. Đến tuổi này người ta cần trang bị cho mình một số loại tâm thái làm hành trang bước vào tuổi xế chiều an nhiên, tự tại. 

  1. Trầm tĩnh là một loại cảnh giới

Người đến tuổi trung niên đã trải qua cuộc đời bể dâu, những vấp ngã hay thành tựu đều đã gặp, đối với nhiều sự tình họ đã sớm thấu hiểu. Khi người ta đã thông thấu sự đời thì nội tâm sẽ trở nên trầm tĩnh hơn.

Vì sao nhiều người càng đến tuổi trung niên lại càng thấy thanh tĩnh, thản nhiên xem nhẹ mọi thứ trong cuộc sống? Đó là bởi vì trải qua những năm tháng cuộc đời, người ta bắt đầu hiểu ra rằng đặt nặng được mất, xem nặng danh lợi chỉ khiến tâm linh mệt mỏi.

Để nội tâm trở nên trầm tĩnh thì không phải là việc dễ dàng. Một người hiểu rõ bản chất của sinh mệnh mới có thể trầm tĩnh trong tâm. Thành công khiến con người vui sướng tựa như sự mãnh liệt của hải triều. Nhưng hải triều lên rồi cũng tự nhiên xuống, tâm người nếu vui buồn theo hải triều thì sẽ mệt mỏi vô cùng. Cho nên, trầm tĩnh mới là cảnh giới tinh thần cao nhất trong cuộc đời.

  1. Chấp nhận, lạc quan đối mặt với cuộc sống

Cổ nhân giảng: “Tướng do tâm sinh”. Kỳ thực, tướng ở đây không chỉ là “tướng mạo” mà còn là hoàn cảnh xung quanh của một người. Nếu một người mà có ý nghĩ tiêu cực thì hoàn cảnh xung quanh của người ấy cũng trở nên không tốt, rất nhiều mâu thuẫn sẽ nối gót nhau mà đến. Trái lại, nếu một người mà luôn vui vẻ và tràn đầy ý nghĩ tích cực thì hoàn cảnh liền lập tức chuyển biến thành tốt.

Đời người, ai cũng đều phải trải qua sinh, lão, bệnh, tử, những gì đến thì phải đến, không tránh được những điều không may. Hãy biết chấp nhận cả những điều không may, lạc quan đối mặt với hết thảy những bất trắc trong cuộc đời. Hãy dùng tâm thái “thuận theo tự nhiên”, “được mất tùy duyên” để đối đãi, như vậy sẽ sống tuổi trung niên thoải mái hơn, trong lòng sẽ thấy nhẹ nhàng hơn.

  1. Mở rộng tấm lòng

Người có tấm lòng quảng đại mới có thể bao dung được thiên hạ, dung nạp được mọi sự tình vui buồn. Người có thể dùng lòng khoan dung mà lượng thứ cho khuyết điểm của người khác thì không chỉ khiến cho đức hạnh của bản thân mình nâng cao lên mà còn có thể cảm hóa, thiện hóa người khác.

Nhà Phật dạy rằng, con người có nợ thì phải hoàn trả. Trong dòng lịch sử dài này, trong vòng luân hồi chuyển kiếp này, rất có thể vì chúng ta đã từng làm tổn thương người khác cho nên giờ đây người khác mới làm tổn thương lại mình. Cho nên, một người tuổi trung niên có thể biết bao dung, tiếp nhận thì trong tâm sẽ an nhiên tự tại.

  1. Ghi nhớ “tiền tài là vật ngoại thân”

Có câu nói rất hay rằng, “tiền mà bạn tiêu đi mới là tiền của bạn, tiền để trong ngân hàng không phải tiền của bạn”, cho nên điều phải quý trọng nhất là bản thân mình, quý trọng tình thân,  không phải tài vật của cải.

Con người khi được sinh ra đều là trần trụi, vô cùng đơn giản, thứ gì cũng đều không có. Con người khi chết đi, lẻ loi trơ trọi, lặng lẽ vô cùng, thứ gì cũng nắm không được, mang không theo. Cho nên đừng để tâm của mình bị vây khốn bởi tài vật, đừng vì tiền tài danh vọng mà đánh mất đạo đức, lương tâm của bản thân. Một người chiếm giữ càng nhiều thì sẽ càng bị chiếm giữ nhiều. Khi một người sống mà quá coi trọng vật chất, phụ thuộc vào những yếu tố ngoại cảnh thì điều mang đến cho họ chỉ là những tổn thất về mặt tinh thần.

Trái lại, một người theo đuổi sự an bình trong tinh thần sẽ vứt bỏ những phức tạp trong lòng, không bị dính mắc vào những thứ ngoại vật. Người tuổi trung niên sống đơn giản, trong các mối quan hệ họ cũng không quá bị chi phối và như thế họ sống thoải mái, vui vẻ.

  1. Con cháu có phúc phận của con cháu

Từ Miễn là một vị quan thời nhà Lương, suốt đời ông đều có địa vị cao. Nhưng ông nghiêm khắc với bản thân, làm việc công chính mà cẩn thận, tiết kiệm không tham lam, không quan tâm đến tiền tài của cải, gia sản của bản thân. Ông thường đem phần lớn số bổng lộc của mình chia cho người thân, bạn bè và những người dân nghèo khổ. Bởi vậy trong nhà ông không có của cải gì đáng kể cả.

Trong số khách khứa và bạn hữu của ông có nhiều người khuyên ông nên tích góp một chút sản nghiệp để lại cho con cháu. Nhưng ông trả lời rằng: “Người ta để tiền của lại cho con cháu, còn tôi để tiếng thơm lại cho con cháu. Con cháu mà có đức có tài, chúng tự nhiên có thể sáng lập nên gia nghiệp. Còn nếu chúng không có tài đức, thì dẫu tôi có để lại tài sản cũng là vô dụng. Con cháu tự có phúc phận của con cháu”.

Các bậc làm cha làm mẹ thường mong muốn con cái có cuộc sống sung túc, ấm no, vì thể họ luôn muốn lấy những gì tốt đẹp nhất để lại cho con cái. Nhưng kỳ thực bất kể là cấp cho chúng bao nhiêu tiền của đi nữa thì cũng đều là những vật ngoài thân. Các bậc hiền đức xưa đều cho rằng, chỉ có dạy con trọng đức hướng thiện, mới là thực sự lo cho tương lai lâu dài của chúng. Chỉ có như vậy mới có thể giúp chúng thu được lợi ích chân chính, bất kỳ lúc nào cũng có thể bảo trì được đầu não thanh tỉnh sáng suốt, biết phân biệt rõ đúng sai, lựa chọn con đường nhân sinh đúng đắn mà có được tương lai tốt đẹp. Đó cũng chính là lưu lại phúc đức cho con cháu một cách thiết thực nhất.

An Hòa

From: TU-PHUNG

NHỮNG ĐIỀU MƠ ƯỚC…

Lương Văn Can

NHỮNG ĐIỀU MƠ ƯỚC…

– Phạm Tín An Ninh –

Có một dạo, đi đâu tôi cũng nghe thiên hạ hát bài Con Chim Đa Đa, “sao không lấy chồng gần mà đi lấy chồng xa…” rồi đến bài Chị Tôi, “thế là chị ơi rụng bông hoa gạo”. Đúng như người ta nói, Thơ và Nhạc có ngôn ngữ riêng của nó. Một người không có nhiều chữ nghĩa như tôi, nhiều khi say mê hát một bài hát mà sau đó suy nghĩ mãi vẫn không hiểu rõ ngọn ngành, ý nghĩa một vài câu. Trong bài Chị Tôi, tôi cũng rất ư là lờ mờ cái sự kiện… rụng bông hoa gạo…và trời cho làm thơ… này lắm. Dù vậy tôi vẫn thấy bản nhạc phổ từ một bài thơ chỉ vỏn vẹn mấy câu này, khá hay. Mà ngay đến cái sự hay này tôi cũng mơ hồ, không biết có đúng là tôi biết thưởng thức thơ nhạc không, hay là chỉ vì có sự đồng cảm mà tôi thấy lòng mình xúc động. Bởi vì mỗi lần nghe ai đó hát bản nhạc Chị Tôi, tôi lại da diết nhớ đến bà Cô Út của tôi.

Từ lúc chưa tròn hai tuổi, tôi lớn lên trong cái bất hạnh của một người chưa hề có “bông hồng cài áo”. Mẹ tôi mất quá sớm, đến nổi tôi không bao giờ hình dung được khuôn mặt hiền từ phúc hậu của bà như lời cha tôi kể lại. Nỗi bất hạnh đó lại càng lớn hơn, khi tôi không có một bà chị nào để được dịp nhìn dung nhan Chị mà mơ tưởng đến bóng hình của Mẹ. Ba tôi đang dạy học ở trường Pháp Việt thì bị Việt Minh đưa ra liên khu năm làm công tác “xóa nạn mù chữ”. Khi lớn lên một chút, bắt đầu nhận hiểu được đôi ba điều quanh mình, tôi chỉ biết là hai anh em tôi lớn lên ở nhà ông bà nội, và trong vòng tay yêu thương cùng giọng hát ru hời của bà Cô Út.

Cô út tôi lớn hơn tôi hơn một con giáp. Ở nhà quê nhưng bà có cái tên nghe rất lạ: Phạm Thị Mẫu Đơn. Cho mãi đến lúc đi học tôi mới biết được cái tên này, vì mọi người đều gọi cô là con Út hay cô Út. Sau này tôi hỏi ba tôi về cái tên trong giấy tờ của Cô, được ông giải thích: Sự thực thì tên trong acte de naissance (khai sanh hồi thời Pháp thuộc) của Cô út là Pham Thi Mau Dan (Phạm thị Mậu Dần), nhưng khi Cô tôi lớn lên và có chút nhan sắc, thì ông bà nội lại lo cho cái tuổi Dần cao số của Cô, nên khi có lệnh làm bản thế vì khai sanh tiếng Việt, ông bảo ba tôi xuống Huyện, nhờ ông anh họ làm chánh lục sự, sửa tên cô tôi thành Mẫu Đơn. Mang tên một loài hoa mà suốt cả một đời cô tôi không biết đó là loại hoa gì, chỉ nghe thiên hạ bảo loài hoa này đẹp lắm, thế thôi.

Có một điều chắc chắn là khi cô sinh ra Trời đã không “cho làm thơ”, vậy mà suốt cả một đời Cô vẫn bị “vấn vương với sợi tơ trời, tình riêng bỏ chợ tình người đa đoan”. Mà khổ thay, thằng cháu của Cô cũng dốt nát, chứ phải có tài năng một chút thì hôm nay nó cũng viết một bản nhạc hay chí ít cũng làm được mấy câu thơ để ca ngợi Cô. Vì so với người chị trong mấy bản nhạc Chị Tôi, bà Cô của tôi coi bộ còn thánh thiện và tội nghiệp hơn nhiều lắm.

Cô lo lắng chăm sóc hai anh em tôi không thua bất cứ một bà mẹ mẫu mực nào trên thế gian này. Lòng Cô lúc nào cũng” bao la như biển Thái Bình rạt rào”, lời của cô lúc nào cũng “tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào” mà ông nhạc sĩ Y Vân đã từng ngợi ca, vinh danh người mẹ. Cô cũng là cô giáo vỡ lòng, dạy tôi hai tiếng i tờ, những câu tục ngữ ca dao. Lớn lên một chút, tôi được Cô ngồi bên cạnh dạy đọc truyện Chàng Nhái Kiển Tiên, Thạch Sanh Lý Thông, Phạm Công Cúc Hoa cho bà Nội tôi nghe mỗi tối. Mùa hè, tôi mê đá dế, Cô dẫn tôi ra trước hồ sen tìm bắt những con dế mun mà mỗi trưa Cô không ngủ, ngồi rình để nghe nó gáy từ chỗ nào. Thấy bọn trẻ hàng xóm thả diều, Cô cũng mò mẫm cả một ngày làm cho tôi cái diều to nhất. Tôi mê nuôi chim, Cô đi khắp nơi tìm mua cho tôi hai con chim keo màu xanh mướt và năn nỉ ông chú tôi làm cho tôi cái lồng thật đẹp.

Những lần bị “ấm đầu”, tôi tha hồ nũng nịu, làm tình làm tội Cô tôi. Cô ngồi suốt bên cạnh, đắp lên trán tôi một cái khăn ướt, nấu cháo cá bỏ nhiều tiêu cho tôi ăn để “tháo mồ hôi”. Nghe nói Cô cũng ham học lắm, định xin ông bà nội cho học xong cái bằng primaire thì theo ông chú tôi đi dạy học mấy lớp nhỏ trường làng, Nhưng rồi mẹ tôi bất ngờ qua đời, bỏ lại hai anh em tôi. Cô đành phải nghỉ học ở nhà để chăm sóc hai thằng cháu dại, một đứa bốn tuổi và một đứa vừa mới lên hai. Năm tháng cô quanh quẩn trong nhà, làm công việc gia đình và lo lắng cho hai anh em tôi. Khi nào rảnh rỗi Cô nhờ ông chú của tôi chỉ cô học thêm mấy chữ tiếng Tây.

Cô chỉ có một người bạn thân, đó là bà cô họ của tôi. Hai người cùng tuổi và học chung một lớp. Khi Cô Út nghỉ học, thì bà cô họ này vẫn tiếp tục đi học mấy năm nữa, sau này làm y tá và lấy một ông chồng Tây, làm trong viện Pasteur của bác sĩ Yersin ở Nhatrang. Bà đi đó đi đây, lâu lâu trở về thăm quê vài bữa. Lần nào về cũng ghé lại thăm Cô Út tôi và trò chuyện cả đêm. Trông bà thật sang trọng. Cô Út thì trầm trồ những món nữ trang đắt tiền, nhất là sợi dây chuyền vàng có mặt ngọc thạch, thời ấy rất hiếm hoi. Còn tôi thì say mê chuyện đi đó đi đây mà bà cô họ thường kể cho cô cháu tôi nghe.

Dường như từ ngày bà cô họ đi theo chồng, Cô Út không còn ai tâm sự, nên Cô thường tâm tình với anh em tôi về chuyện tình duyên của mình. Có một ông thầy giáo dạy cùng trường với chú tôi, gốc Bình Định, khá bảnh trai, lớn hơn Cô hai tuổi, rất thương Cô và có nhờ người đến mai mối, nhưng Cô Út phần vì thương cảnh mồ côi của anh em tôi, một phần bị ám ảnh bởi những lời đồn đãi của thiên hạ: “tuổi Dần cao số, chỉ hạp với tuổi Dần”, nên Cô từ chối cuộc hôn nhân. Ông thầy giáo Bình Định buồn tình nên xin đổi đi xa, làm lòng Cô cũng xốn xang một dạo.

Năm tôi lên bảy, quê tôi có một trận lụt lớn, trận lụt tháng mười. Tôi nhớ loáng thoáng lời Cô tôi giải thích, vì “ông tha mà bà không tha, bà cho cây lụt hăm ba tháng mười”. Nước từ đâu không biết tràn qua, kéo theo nhiều nhà cửa cây cối và cả trâu bò. Nhà ông nội tôi rộng lắm, mấy cây cột lớn có chạm trổ nhiều hình cầm thú, có mái ngói âm dương và nằm trên một nền gạch khá cao, được bao bọc bởi đủ thứ cây ăn trái, vậy mà bây giờ chung quanh tôi chỉ thấy toàn nước và nước. Ông Nội ra lệnh cho Cô phải giữ kỹ anh em tôi trên bộ phản trong nhà. Hai ngày sau mưa gió đã tạnh, nhìn qua khe cửa, anh em tôi thấy nước ngập cả sân nhà (nhà ông bà nội tôi có cái sân vuông khá rộng bằng xi măng, có bờ thành thấp chung quanh), nên năn nỉ Cô Út ra bịt mấy cái lổ lù, không cho nước rút, và đứng trên thềm nhà canh chừng cho anh em tôi cởi truồng xuống sân bơi lội. Bất ngờ tôi phát hiện trong sân có mấy con cá, anh em tôi tha hồ hò hét rượt bắt cá. Ông Nội tôi nghe ồn ào, chạy ra nhìn thấy hai thằng cháu nội đang bì bõm trong cái sân ngập tràn nước lụt, ông không la chúng tôi mà rầy Cô Út tôi một trận, rồi cấm cung cô cháu tôi ở trên căn nhà thờ, lúc nào cũng đóng kín cửa, mà trước đây rất ít khi tôi dám tới đây, vì rất sợ mấy cái bàn thờ có treo những tấm hình và nhiều bài vị viết chữ nho, nhất là hai cỗ quan tài sơn đỏ, có hình con rồng con phượng hai bên. Cô tôi bảo đó là hai chiếc quan tài bằng gỗ quí để dành cho ông bà nội đến lúc qui tiên…

Thấy anh em tôi sợ, Cô Út trấn an bọn tôi bằng cách kể chuyện linh thiêng của những ông bà, tổ tiên đã khuất. Vong linh ông bà lúc nào cũng ở bên cạnh để phù hộ cho con cho cháu. Cô còn bảo nếu có ước mơ điều gì, thắp hương thành tâm khấn nguyện, ông bà sẽ ban cho những điều ước muốn đó.

Cô hỏi tôi, nếu bây giờ khấn nguyện xin ông bà, thì tôi sẽ mơ ước được điều gì. Nhớ tới chuyện đi đó đi đây mà tôi rất say mê mỗi lần bà cô họ có chồng Tây kể lại, tôi nhanh nhẩu:

– Con mơ ước mai mốt lớn lên con được đi đó đi đây như bà cô họ vậy.

Rồi tôi hỏi ngược lại Cô Út, Cô nhìn tôi cười:

– Còn Cô thì chỉ mơ ước được một sợi dây chuyền mặt cẩm thạch màu xanh như của cô ấy, và có khắc hai chữ MĐ chính giữa.

Tôi tin lời Cô, kéo tay Cô đến trước bàn thờ thắp hương để hai cô cháu vái lạy xin Ông bà ứng nghiệm cho những điều mơ ước. Cô chìu tôi, hai cô cháu quì trước bàn thờ. Cô thì im lặng, còn tôi thì nói thật to lời ước của mình. Tôi sợ ông bà già quá, lảng tai, không nghe rõ lời cầu xin của mình.

Mấy năm sau, tôi đành phải rời quê, chia tay Cô Út vào Nha Trang đi học. Cô may cho tôi mấy bộ đồ mới, bao nhiêu tiền dành dụm được cô sắm cho tôi một chiếc xe đạp có ghi đông hình chữ U mà tôi rất thích. Những năm học ở Nha Trang, dù tuổi đã lớn, nhưng lúc nào tôi cũng thấy thiếu vắng vòng tay và những lời trìu mến của Cô tôi. Mỗi lần nghỉ hè về quê, tôi vẫn quanh quẩn ở bên Cô, như thuở mới lên ba, lên năm ngày trước. Lúc này Cô tôi đang làm nghề thợ may, nhưng chỉ làm việc tại nhà, để tiện việc săn sóc ông bà nội tôi, đã đến lúc tuổi già sức yếu. Cô tự tay may cho anh em tôi mấy bộ đồng phục học trò. Mùa hè trời nóng, tối nào cô cháu cũng mang chiếu ra trải bên cạnh hồ sen trước nhà. Trong gió nội hương đồng, cô cháu nằm tâm sự thâu đêm.

Khi biết tôi đi lính, Cô Út buồn ghê lắm. Hết ngăn cản rồi năn nỉ tôi. Cô bảo tôi không thương Cô, nên bỏ Cô mà đi lính, biết bao giờ Cô cháu mới được bên nhau như những ngày xưa, rồi Cô biết còn ai để mà tâm sự.

Nhớ tới trận lụt tháng mười năm nào, Cô dạy cho tôi thắp hương khấn nguyện ông bà, tôi thủ thỉ với Cô:

– Con đi lính là nhờ Ông Bà trên bàn thờ đã ứng nghiệm cho con điều ước, được đi đó đi đây, đúng như Cô bày cho con đó.

Cô vừa cười vừa lau nước mắt.

Khi vào quân trường, hai người đầu tiên tôi viết thơ là Ba tôi và Cô. Tôi kèm theo tặng Cô tấm ảnh mặc quân phục, tóc vừa cắt ngắn ba phân. Cô viết thư khen “chú lính sữa của cô trông oai phong ghê lắm”.

Mấy tuần sau khi tôi được gắn alpha, Cô theo Ba tôi vào tận quân trường thăm tôi, mang theo cho tôi cả chục xoài tượng và mấy cái bánh rán (bánh cam) mà lúc nhỏ tôi rất thèm ăn.

Ra trường, trước khi trình diện đơn vị, tôi dành trọn mười lăm ngày phép quanh quẩn bên Ba tôi và Cô. Lúc này ông bà nội tôi đã qua đời và cô vẫn ở vậy chăm sóc ngôi nhà từ đường và lo việc cúng kỵ ông bà. Đêm nào Cô cũng niệm hương khấn vái thì thầm trước bàn thờ ông bà nội và má tôi, rồi bảo tôi cùng lại chấp tay lạy. Tôi nghe Cô xin ông bà và Má tôi phù hộ tôi, tránh được lằn tên mũi đạn.

Hơn mười năm trong lính, toàn là đánh đấm. Rất nhiều lần thoát chết trong đường tơ kẻ tóc, tôi tin vào những lời thì thầm khấn vái hằng đêm của Cô.

Lần đầu tiên về phép từ một chiến trường khói lửa ở cao nguyên, tôi dành dụm mấy tháng lương, và mất hai ngày ở thành phố Ban Mê Thuột tìm mua cho Cô sợi dây chuyền vàng có mặt cẩm thạch hình trái tim, loại đắt nhất. Tôi ngồi chỉ cho họ kẻ hai chữ MĐ thật đẹp chính giữa.

Tôi về bất ngờ. Khi mới bước vào cổng nhà nội, tôi thấy Cô đang quét lá dưới gốc cây xoài. Con chó không nhận ra tôi sủa inh ỏi, Cô dừng tay nhìn. Mãi khi tôi đến gần Cô mới nhận ra. Cô nắm tay tôi mắng yêu:

– Tổ cha mày, vậy mà Cô cứ tưởng là ông thầy nào.

Tôi cười đùa:

– A, chắc là Cô Út tưởng con là ông thầy Bình Định ngày xưa chớ gì.

Buổi chiều, sau khi cơm nước xong, tôi dắt tay Cô tôi lên căn nhà thờ để cùng tôi thắp hương và lạy ông bà. Khi đứng lên, tôi bảo Cô nhắm mắt lại để thấy một điều kỳ diệu, rồi choàng vào cổ Cô sợi dây chuyền tôi vừa mua tặng. Lúc mở mắt ra, Cô mân mê cái mặt cẩm thạch rồi cảm động nắm tay tôi:

– Cái này mắc tiền lắm. Con đi lính lương ba cọc ba đồng, lấy tiền đâu mà mua tặng Cô.

Tôi cười:

– Đâu phải con mua, mà là ông bà cho Cô theo lời ước của Cô đó chứ. Cũng như ông bà đã cho con bây giờ được đi đó đi đây rồi đây nè. Lời cầu xin của Cô cháu mình linh thiêng quá phải không Cô?

Thời gian này ở quê nội tôi mất an ninh. Ban ngày tôi quanh quẩn bên cô. Đến chiều, Cô dắt tôi xuống nhà chú tôi ở bên huyện ngủ. Cô ở với tôi tới tối mịt mới về.

Ngày mãn phép, tôi trở lại đơn vị, Cô giặt ủi mấy bộ áo quần của tôi xếp vào túi xách, kèm theo một gói xôi đậu xanh, để ăn dọc đường. Ngồi trên xe đò, khi lấy gói xôi ra ăn, tôi thấy có một cái túi nhỏ may bằng vải, mở ra tôi mới biết, một xấp tiền mới tinh xếp ngay ngắn trong đó. Nhớ tới cô, nước mắt tôi cứ trào ra.

Tôi theo đơn vị lưu động nay đó mai đây, nên rất khó nhận thư từ hộp thơ KBC hậu cứ ở Ban Mê Thuột. Từ Quảng Đức, xuống Lâm Đồng rồi Phan Thiết. Mãi hơn nửa năm sau tôi mới nhận được cùng một lúc năm lá thư của Cô tôi gởi. Tôi mừng, khi Cô kể là có một ông thầy giáo gốc Huế, cùng tuổi dần với Cô, đã có một đời vợ, cùng làm nghề dạy học. Nhưng chỉ mới vài tháng sau đám cưới, người vợ trẻ bị chết cùng với mấy đứa học trò trong một trận pháo kích. Ông buồn quá, một phần không muốn mỗi ngày bị ám ảnh bóng hình của người vợ trẻ vừa mới chết oan, một phần không muốn nhìn thấy cái thành phố có những lăng tẩm uy nghi của một triều đại, nhưng đã để lại quá nhiều tranh chấp tôn giáo, phủ bóng mây mù chính trị lên từng ngôi trường, từng bục giảng. Bạn bè ông có mấy kẻ đã vào bưng. Ông xin chuyển vào dạy ở quê tôi vì có gia đình người bác ruột, ngày xưa làm xếp ga rồi lấy vợ ở lại đây luôn.

Tôi viết thơ cho Cô, lên mặt thuyết giảng tình yêu, nào chuyện “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ” nào là “cả hai người cùng một tuổi Dần, thì sau này tát biển đông cũng cạn“.

Mấy tháng sau tôi nhận thư hồi âm của Cô, có kèm theo lá thư ngắn của ông Thầy Huế mà nội dung là một bài thơ ngợi ca người lính.

Tôi để dành tiền lương hằng tháng, chờ ngày về ăn đám cưới. Tôi đến một tiệm bán hàng thêu ở thành phố Phan Thiết đặt thêu một bức tranh có hình hai con cọp âu yếm nhau trong một rừng đầy hoa sim tím dưới ánh trăng để làm quà cưới cho Cô. Sau trận Mậu Thân, đơn vị tôi tiếp tục mỗi ngày sống trong lửa đạn. Tôi không nhận được lá thư nào của Cô tôi. Tôi nghĩ chắc là Cô đã làm đám cưới, nhưng không biết có theo chồng về thăm Huế hay không. Tôi lo cho Cô, khi biết cả thành phố Huế đang đắm chìm trong vành tang trắng.

Mấy tháng sau, tình hình trở lại yên tĩnh, được mười ngày phép, tôi khăn gói về thăm quê. Cô tôi vẫn sống âm thầm một mình trong nhà ông nội, Đám cưới không thành, không phải ông thầy Huế phụ tình, như một vài người bà con trong họ đã cảnh giác Cô từ lúc mới quen ông:” đừng có quá tin mấy chàng trai xứ Huế“. Oan ức và tội nghiệp cho ông. Ông về Huế ăn Tết và xin cha mẹ được cưới Cô tôi, nhưng rồi không ngờ phải cùng chịu chung số phận với mấy ngàn người bất hạnh. Ông mất tích trong đêm mùng hai Tết. Mãi đến ba tháng sau, người nhà mới tìm được xác của Ông trong một hố chôn người tập thể.

Cuối cùng thì… Cô tôi “vẫn chưa lấy chồng!”. Trên bàn thờ, tấm ảnh nhỏ của ông Thầy Huế được đặt ở một góc khiêm nhường.

Năm 1975, miền Nam bất ngờ thua trận, tôi bị tù đày từ Nam ra Bắc, đến tận Lào Cai, Yên Bái. Ba tôi và ông chú bị bắt vào trại cải tạo trong Nam. Vợ con tôi cùng gánh chịu bao đắng cay hệ lụy, bơ vơ nheo nhóc. Lá chưa rụng mà phải về cội, vợ con tôi lại dắt díu nhau về ở với Cô tôi trong ngôi nhà xưa của ông bà nội, bây giờ trở nên trống vắng, nên chắc buồn và tĩnh mịch hơn xưa. Vợ tôi phải bươn chải làm ăn, nuôi bầy con bữa đói bữa no. Cô tôi bán đủ thứ trong nhà, và cuối cùng bán luôn cả sợi dây chuyền mặt cẩm thạch mà cô đã từng nâng niu như bảo vật, để lo cho mấy đứa con của tôi, và cùng vợ tôi dành dụm gởi cho tôi một ký lô đường và mấy lọ tép mỡ sau khi biết tôi vừa trải qua một cơn kiết lỵ, chỉ còn da bọc lấy xương. Tội nghiệp, tôi chỉ được phép nhận 200 gram đường và một lọ tép mỡ, số còn lại bị sung vào nhà bếp hậu cần, vì số quà gởi “ngoài qui định, không nằm trong chính sách”.

Tháng 6 năm 1976, ba tôi chết trong trại cải tạo Đá Bàn. Nhưng mãi đến hai năm sau tôi mới nhận được tin buồn. Tôi khóc đến không còn nước mắt.

Khi tính chuyện vượt biển, tôi tâm sự xin Cô cùng đi với chúng tôi. “Dù trôi nổi ở đâu, có cô bên cạnh là con mãn nguyện rồi”, Nhưng cô bảo Cô đã già, không muốn rời bỏ quê hương, hơn nữa còn phải trông coi ngôi nhà từ đường và mồ mả ông bà, không để cho hương tàn khói lạnh. Và còn phải phụ giúp ông chú tôi đang ốm đau, lo cho hai đứa con của chú ấy nữa.

Mấy ngày sau, tôi thấy Cô xuống tóc, và ăn chay trường. Đêm nào cũng quì trước bàn thờ. Tôi biết là Cô đang cầu nguyện cho tôi đi đến bến bờ. Hôm tiễn biệt, Cô nắm chặt tay tôi: “xin ông bà và cha mẹ con phù hộ cho vợ chồng con và mấy đứa nhỏ” rồi im lặng nhìn tôi với hai hàng nước mắt.

Thuyền ra đến hải phận quốc tế thì gặp bão. Mưa gió suốt mấy ngày, không còn trăng sao để mà định hướng. Tất cả đàn bà con nít xuống dưới khoang thuyền. Chỉ có bọn đàn ông chúng tôi ở lại phía trên chống chọi với phong ba. Trong những lúc nguy khốn nhất, tôi lại nghĩ đến Cô, nhớ những lời cầu nguyện của Cô mà lấy lại niềm tin và can đảm. Cuối cùng, một chiếc tàu chở dầu của Vương quốc Nauy đã cứu vớt chúng tôi trước khi cơn bão chính ập tới. Từ trên tàu, vị thuyền trưởng giúp chuyển hộ mỗi người ba cái điện tín cho thân nhân. Người đầu tiên tôi báo tin mừng là Cô.

Sau khi định cư, tôi thường xuyên gởi thư thăm Cô và kèm theo tiền để giúp Cô cùng gia đình ông chú, và xây lại mồ mả ông bà. Cô mừng ghê lắm. Lá thư nào Cô cũng viết thật dài, khuyến khích tôi cố gắng làm lại cuộc đời và dạy dỗ cho con cái phải biết sống theo đạo lý và đừng bao giờ quên quê hương, nguồn cội của mình.

Cô ở xa tôi cả nghìn trùng mà lúc nào tôi cũng tưởng Cô vẫn đang đâu đó bên mình. Mỗi lần gặp khó khăn, phiền muộn trên xứ người, cứ nghĩ đến Cô là lòng tôi phấn chấn. Bây giờ Cô đã già và chắc cũng yếu đi nhiều lắm. Vậy mà chỉ với hình bóng thôi, Cô đã cho tôi biết bao nghị lực.

Hai năm sau, tôi lại nhận được tin buồn. Ông Chú của tôi, sau bao năm chống chọi với bệnh tật mang về từ trại cải tạo, vừa mới lìa đời, giao hai đứa con gái lại cho Cô tôi nuôi nấng. Tội nghiệp cho Cô, đúng là “Trời không nín gió cho ngày Cô sinh”, tuổi già rồi mà phải còn cưu mang con cháu. Lá thư báo tin buồn này là lá thư cuối cùng Cô tự tay nắn nót viết cho tôi.

Những lá thư sau đó, mấy đứa con gái ông chú tôi viết. Tôi lo lắng hỏi Cô, Cô chỉ bảo đôi mắt của cô bây giờ hơi kém, nhưng dặn dò tôi không phải gởi thuốc thang gì, vì ở trong nước Cô mua cũng được. Cô khẩn khoản muốn tôi đưa mấy đứa con về cho Cô gặp lại một lần.

Hơn mười năm sau, khi nghe nhà nước có chút đổi thay, gọi những người vượt biển có tội phản bội tổ quốc ngày xưa là khúc ruột ngàn dặm, tôi dắt theo ba đứa con lớn về thăm quê hương. Đúng hơn là về tìm ngôi mộ cha tôi chôn trong núi bên trại cải tạo Đá Bàn và thăm bà Cô suốt cả một đời bảo bọc chúng tôi. Nhớ lại kỷ niệm xưa, tôi nhờ cô con gái lớn ở bên Cali, đến khu Phước Lộc Thọ tìm đặt mua cho tôi một sợi dây chuyền vàng, có mặt màu xanh cẩm thạch, khắc hai chữ MĐ chính giữa. Tôi nghĩ có lẽ đây sẽ là món quà có ý nghĩa, đền bù lại sợi dây chuyền tôi tặng Cô lúc trước, và để cho Cô được trẻ lại những ngày xưa.

Tôi không báo trước ngày về, vì muốn làm cho Cô bất ngờ và không phải khăn gói vào tận Sài gòn để đón cha con tôi, như lời cô hứa.

Quê nội tôi, cái làng Phú Hội một thời trù phú như cái tên gọi, bây giờ sao mà cằn cỗi, điêu tàn. Khi bước vào cổng nhà nội, tôi xa lạ đến thẩn thờ. Ngôi nhà ngày xưa rộng lớn, hồi còn nhỏ tôi đi còn sợ lạc, sao bây giờ nhỏ nhoi, tiêu điều và hiu quạnh quá. Tôi đứng giữa cái sân gạch mà ngày nào trời lụt, anh em tôi tha hồ bơi lội như trong một dòng sông, bây giờ chỉ còn lại cái nền loang lổ, phủ đầy những lá của cây xoài già héo úa, một thời xum xuê làm “bóng mát thiên đường” để Cô cháu tôi ngồi đọc truyện cho bà nội tôi nghe trong những buổi trưa hè. Cái hồ sen tỏa hương thơm ngát ngày xưa, bây giờ là một cái ao cạn đầy cỏ dại. Chỉ còn lại tiếng dế than rên rỉ. Không nghe con chó sủa. Nó là con vật trung thành, không giống như một số người sau tháng tư năm nào, phản suy phù thịnh. Có lẽ nó cũng buồn mà chết rồi sau cuộc đổi đời của chủ. Tôi và ba đứa con lạc lõng trong ngôi nhà mà tất cả đã từng một thời lớn lên ở đó, với biết bao là kỷ niệm buồn vui. Trong nhà không có một ai, ngoài bóng dáng của chính mình ngày trước. Bước ra cửa sau, tôi đứng lặng người khi thấy Cô Út ngồi quay lưng, vãi thức ăn cho một bầy gà. Mái tóc Cô bạc trắng. Cha con tôi đến đứng phía sau lưng, mà Cô không biết.

Mấy đứa con tôi cười khúc khích, Cô quay lại. Tôi ôm chầm lấy cô, nghẹn ngào không nói nên lời. Tôi ngạc nhiên khi nghe cô hỏi: đứa nào đây? Chẳng lẽ mới mười năm mà cô không còn nhận ra tôi. Buông cô ra, tôi suýt hét lên, khi biết là đôi mắt của Cô đã mù. Tôi chỉ thốt lên được mấy tiếng “Cô ơi, thằng Ninh đây Cô”, rồi khóc nức nở.

Sau một khắc yên lặng, tôi nghe Cô cười, rồi đưa hai tay sờ lên đầu lên mặt tôi, rồi đến mấy đứa con tôi.

Tôi dìu Cô vào nhà. Nhưng cô bảo là cô đi được. Cô nói là cả một đời cô ở đây, mọi ngõ ngách và đồ đạc trong nhà như in trong trí. Tôi hỏi mấy đứa con ông chú đâu mà để cô ở một mình. Cô cho biết là nhờ dành dụm số tiền tôi gởi về, đứa lớn đã ra nghề thợ may, vừa lấy chồng, mở tiệm ở dưới huyện. Còn đứa nhỏ, Cô cho đi học làm y tá, vẫn còn ở với Cô.

Thấy chúng tôi về, mấy người hàng xóm sang thăm. Ai cũng nhắc lại cái thời anh em tôi còn bé và ca ngợi Cô tôi hết lời. Không biết ai nhắn tin, hai cô em, con ông chú tôi cũng về ngay, có cả thằng em rể. Sau này tôi mới biết nó chính là cháu họ của ông thầy giáo Huế, người tình của Cô Út ngày xưa.

Có sẵn chiếc taxi thuê bao, tôi mời Cô và mấy đứa em xuống phố ăn cơm, nhưng Cô không cho, bảo hai đứa em con ông chú làm thịt mấy con gà để mấy cô cháu vừa ăn vừa nói chuyện cho vui.

Cả một tuần sau, tôi bận rộn lo việc cải táng phần mộ của ba tôi từ Đá Bàn về chôn trong nghĩa trang gia tộc, bên cạnh ngôi mộ của má tôi và ông bà nội. Cô Út theo ra đến tận nghĩa trang, đưa tay sờ ngôi mộ mới xây của ba tôi, rồi khóc sụt sùi.

Hai tuần sau, tôi quanh quẩn bên cạnh cô tôi, kể lại hầu hết những kỷ niệm ngày xưa, và cuộc sống ở xứ người. Cô bảo có lần nằm chiêm bao, cô thấy ông thầy Huế về thăm Cô, nhưng người ông bê bết máu, Cô lấy khăn lau mãi mà máu vẫn cứ ứa ra.

Đêm nào trước khi đi ngủ, Cô cũng bảo cha con tôi thắp hương và lạy trước bàn thờ. Tôi lại nhớ tới những điều cô cháu tôi ước mơ thuở trước.

E dè mãi, đến đêm cuối cùng, khi đứng trước bàn thờ, tôi lấy sợi dây chuyền vàng có mặt cẩm thạch ra, đeo vào cổ cho Cô. Tôi ôm chặt Cô thì thầm: “xin cho con trả lại Cô cái điều mà ngày xưa cô mơ ước”. Ba đứa con tôi vỗ tay phụ họa: “đẹp lắm! bà Nội ơi, đẹp lắm!”

Cô tôi không mân mê cái mặt cẩm thạch như lần trước, cách đây hơn bốn mươi năm, khi tôi tặng Cô, mà chỉ đứng lặng im, bất động. Tôi biết, trong đôi mắt mù lòa kia, dù không còn thấy cái mặt cẩm thạch màu xanh có khắc hai mẫu tự tên mình, nhưng Cô tôi đang nhìn thấy cả một quá khứ xa xăm, bao la và sâu thẳm như chính tấm lòng Cô.

Cuối cùng thì tôi cũng phải chia tay Cô, bỏ lại đằng sau dấu tích của cả một phần đời, mà tất cả vui buồn bây giờ đều đã trở thành kỷ niệm, nằm sâu chôn chặt tận đáy lòng. Tôi nghĩ, có lẽ đây là lần cuối cùng tôi gặp Cô.

Dắt ba đứa con bước ra khỏi cổng nhà ông Nội, tôi không dám quay đầu nhìn lại. Một câu hỏi chợt lóe lên trong đầu: Rồi mai này, tôi lại tiếp tục lưu lạc tha phương. Cũng như sợi dây chuyền mặt cẩm thạch tôi vừa mới tặng cho Cô tôi, liệu cái việc đi đó đi đây trên xứ lạ quê người của tôi, có còn là những điều mà Cô cháu tôi đã từng một thời mơ ước?

– Phạm Tín An Ninh –

(Những câu chuyện thú vị)