Little Saigon phản ứng vụ nổ súng giết người gốc Á ở Atlanta

  

CÓ LẼ MÍT VÀNG ỦNG HỘ TRUMP KHÔNG BỊ KỲ THỊ PHẢI KHÔNG BÀ CON?!

Garden Grove thuộc Orange County là thủ phủ của Người Việt tại Mỹ có đến hàng triệu người, sao chỉ có được hơn chục người tham dự biểu tình? Số còn lại không bị kỳ thị chăng?

***

Little Saigon phản ứng vụ nổ súng giết người gốc Á ở Atlanta

Đằng-Giao/Người Việt

GARDEN GROVE, California (NV) – Nhiều dân cử và lãnh đạo tôn giáo vùng Little Saigon vừa tổ chức một buổi tập họp tại công viên Garden Grove Park chiều Thứ Tư, 17 Tháng Ba, để phản đối tình trạng ngày càng có nhiều sự kiện mang tính thù ghét người Mỹ gốc Á Châu và Thái Bình Dương (AAPI).

Đặc biệt, cuộc tập họp này xảy ra chỉ một ngày sau khi một thanh niên da trắng 21 tuổi, tên là Robert Aaron Long, cư dân tiểu bang Georgia, bắn chết tám người, trong đó có sáu phụ nữ gốc AAPI, tại ba tiệm đấm bóp ở thành phố Acworth, cách Atlanta khoảng 30 dặm về phía Tây Bắc.

Tất cả giới chức có mặt đều cực lực phản đối nạn kỳ thị người AAPI, đặc biệt là vụ thảm sát ở Atlanta. Họ đồng lòng phản đối chuyện phải sống trong lo âu, sợ hãi vì những hành động thù ghét.

Người tham dự mở đèn trong điện thoại di động và cùng nhau đưa lên, như những ngọn nến tưởng niệm nạn nhân ở Atlanta.

Bà Kim Bernice Nguyễn, nghị viên Địa Hạt 6, là phó thị trưởng của Garden Grove, và là một trong hai người tổ chức buổi tập hợp, nói: “Ở Little Saigon, chúng ta có thể đến những nơi có cộng đồng của chúng ta, nhưng ở nơi khác, phụ nữ gốc AAPI không có sự lựa chọn này.”

Luật Sư Thái Việt Phan, nghị viên Địa Hạt 1 của Santa Ana, nhận xét rằng tội ác thù ghét người AAPI sau khi có đại dịch là vì những câu nói của cựu Tổng Thống Donald Trump.

Bà nói: “Ông đã lập đi lập lại là COVID-19 là ‘cúm Tàu’ và là ‘Kung Flu,’ tạo ra sự kỳ thị chủng tộc trên toàn quốc.”

Bà Catt Phan, phó chủ tịch Hội Dân Chủ Orange County Trẻ và là đồng tổ chức buổi tập họp, chia sẻ: “Ngay khi nghe tin tám người bị bắn hôm qua, mẹ tôi nói, ‘Hay là mình nhuộm tóc vàng và đeo ‘contact len’ màu xanh để họ cho mình yên thân.”

Bà tiếp: “Tôi không thể tưởng tượng mình phải hóa trang để sống trên đất nước này.”

Ni Sư Thích Nữ Như Như, cố vấn hội Cao Niên Á Mỹ, nói: “Nạn kỳ thị giữa con người vẫn có từ ngàn xưa nhưng hôm nay, chúng ta không thể sợ hãi mà phải cùng nhau đứng lên.”

Bà kết: “Cầu xin hòa bình cho trái đất và nhân loại.”

Những người đến tham dự cũng đồng ý với các diễn giả.

Bà Lisa Hồng Trịnh, cư dân Westminster, nói: “Bây giờ là thế kỷ 21 chứ không phải thời 1960 mà nạn kỳ thị vẫn gây cái chết cho người thiểu số. Người ta không thể mọi rợ như vậy nữa.”

Bà nhấn mạnh: “Tôi không sợ, nhưng tôi rất bực bội.”

Buổi tập họp còn có sự tham dự của bà Diedre Thu-Hà Nguyễn, nghị viên Địa Hạt 3 của Garden Grove, bà Tammy Kim, phó thị trưởng Irvine, bà Linh Nguyễn, hiệu trưởng trường thẩm mỹ ABC, và Ni Sư Thích Nữ Khánh An ở thiền đường Bồ Đề Đạo Tràng.

Thông diệp của buổi nói chuyện là mọi người phải cùng đứng lên để có tiếng nói vững mạnh hơn.

Phản ứng của dân cử các cấp

Ông Steve Jones, thị trưởng Garden Grove, không có mặt được nhưng gởi lời bày tỏ qua một thông cáo báo chí: “Thật là thương tâm vì những cái chết vô nghĩa ở Atlanta. Là thị trưởng của Garden Grove, California, một cộng đồng đa dạng về văn hóa, ngôn ngữ và tín ngưỡng, tôi rất đau đớn vì hành động bạo lực khủng khiếp đã cướp đi sinh mạng của tám người, trong đó có ít nhất sáu phụ nữ gốc AAPI.”

Tuy Garden Grove chưa hề có những dấu hiệu không tốt giữa các sắc dân, ông vẫn cảm thấy cần cẩn trọng.

Ông tiếp: “Là một cộng đồng gồm nhiều người gốc Việt và gốc Hàn, chúng tôi đồng lòng lên án mọi hình thức phân biệt đối xử, hận thù, và bạo lực. Tôi đã yêu cầu Sở Cảnh Sát Garden Grove tăng cường tuần tra thêm, đặc biệt là nơi những người cao niên gốc AAPI sinh sống, mua sắm và sinh hoạt.”

“Với tư cách là chồng của một phụ nữ Mỹ gốc AAPI và là cha của hai đứa con trai gốc AAPI, tôi cùng với tất cả người Mỹ bày tỏ nỗi buồn sâu sắc nhất đối với những sinh mạng đã mất và chia sẻ quyết tâm của cộng đồng và cả nước để lên án những hành động thù hận đối với các người gốc Á,” ông chia sẻ.

Hôm Thứ Tư, 17 Tháng Ba, toàn thể năm thành viên Hội Đồng Thành Phố Westminster bỏ phiếu thông qua Nghị Quyết 5032 lên án tình trạng bài ngoại và tâm lý chống người gốc AAPI vì đại dịch COVID-19, thông cáo báo chí của thư ký thành phố gởi ra cho biết như vậy.

Nghị quyết cũng xác định thành phố quyết tâm ngăn chặn tội ác thù ghét nhắm vào người gốc AAPI.

Theo nghị quyết, “Hội Đồng Thành Phố Westminster cực lực lên án và tố cáo chủ nghĩa chống người AAPI dưới mọi hình thức, công nhận một môi trường hòa nhập chủng tộc là điều cần thiết cho sức khỏe và sự an toàn của tất cả cư dân thành phố, kêu gọi cơ quan thực thi pháp luật địa phương làm việc với các giới chức thực thi pháp luật của tiểu bang và liên bang để điều tra và ghi lại tất cả báo cáo đáng tin cậy của đe dọa và tội ác thù hận liên quan đến COVID-19.”

Cũng trong ngày Thứ Tư, Dân Biểu Liên Bang Michelle Steel (Cộng Hòa-Địa Hạt 48), đại diện California, đưa ra một tuyên bố cho biết: “Những gì xảy ra ở Atlanta đêm qua thật vô nghĩa và bi thảm, và tiếc là chỉ thêm vào một danh sách dài những tội ác bạo lực gần đây chống lại cộng đồng gốc AAPI. Điều này phải chấm dứt. Chúng ta phải làm mọi cách để chấm dứt thù hận và giúp đỡ những người quanh mình, đặc biệt là khi chúng ta cùng nhau đánh bại đại dịch COVID-19. Lời cầu nguyện của tôi dành cho các gia đình nạn nhân hôm nay và trong những ngày tới.”

Thượng Nghị Sĩ Tom Umberg (Dân Chủ-Địa Hạt 34) của California hôm Thứ Tư cũng đưa ra một tuyên bố lên án vụ bắn chết tám người ở ngoại ô Atlanta, Georgia, mà trong đó có sáu người gốc AAPI.

“Những vụ giết người mà chúng ta chứng kiến ở Georgia đêm qua là không thể chấp nhận được. Tôi luôn sát cánh, đoàn kết cùng các cộng đồng người Mỹ gốc AAPI của chúng ta, những người không sợ bạo lực cho dù họ là ai. Trong đại dịch này, tội ác thù ghét nhắm vào cộng đồng AAPI gia tăng theo cấp số nhân. Tất cả chúng ta phải làm nhiều hơn nữa để xác định, bắt giữ, và truy tố những kẻ xấu chịu trách nhiệm cho các tội ác thù ghét này. Tôi muốn tri ân các thành viên của cộng đồng, những người đã đóng vai trò tích cực để bảo đảm sự an toàn và hỗ trợ cho cư dân địa phương của chúng ta.”

Qua một email gởi đến nhật báo Người Việt, Dân Biểu Janet Nguyễn (Cộng Hòa-Địa Hạt 72) của California cũng cho biết: “Tấn công nhắm vào người AAPI tăng mạnh trong cộng đồng chúng ta, trong tiểu bang chúng ta, và khắp Hoa Kỳ. Chúng ta thấy hiện tượng này trên mạng, trong trường học, tại chợ, và tại các doanh nghiệp. Gần 3,000 vụ tấn công người AAPI được ghi nhận tại California trong năm 2020, từ sách nhiễu cho đến đụng chạm, cho đến tấn công bạo động, và trong một số trường hợp, gây ra tử vong.”

“Chúng ta phải có nhiệm vụ bảo vệ những cá nhân này không bị tội phạm thù ghét tấn công. Tôi ủng hộ việc chi ra $1.4 triệu cung cấp cho trang web Chấm Dứt Thù Ghét Người AAPI và nghiên cứu cũng như phân tích liên quan đến việc chấm dứt tội ác thù ghét. Chúng ta cần làm nhiều hơn nữa để trừng phạt những tội phạm này và bảo vệ những con người làm việc bình thường trong cộng đồng chúng ta…,” bà Janet cho biết tiếp.

Ông Sergio Contreras, ủy viên Đặc Khu Vệ Sinh Midway City Sanitary District, cũng gởi ra một tuyên bố như sau: “Tôi tự hào cùng tham gia với tất cả ai đứng lên chống lại thù ghét và bạo động. Trong thời kỳ đại dịch COVID-19, bạo động do thù ghét gia tăng rất nhiều, đặc biệt nhắm vào các cộng đồng người Châu Á-Thái Bình Dương. Tấn công bạo động chống lại bất kỳ ai – cho dù thuộc chủng tộc nào, nguồn gốc nào, tình trạng kinh tế xã hội ra sao, giới tính nào, tôn giáo nào hoặc chính kiến ra sao – phải chấm dứt. Chúng ta phải cùng nhau làm việc để bảo đảm cộng đồng, tiểu bang, và đất nước chúng ta không còn sự thù ghét và ngu dốt. Tôi cam kết ủng hộ hết mình đối với nạn nhân và những ai đang bị đau đớn vì tình trạng thù ghét.”

Tình trạng thù ghét người gốc AAPI ngày càng tăng

Theo nhật báo The Los Angeles Times hôm Thứ Ba, 16 Tháng Ba, kể từ khi đại dịch COVID-19 làm ngưng trệ mọi hoạt động vào Tháng Ba năm ngoái, hàng ngàn người AAPI phải đối mặt với nạn phân biệt chủng tộc qua các cuộc tấn công bằng lời nói và thể xác, hoặc bị người khác xa lánh.

Báo cáo của tổ chức Stop AAPI Hate cho thấy trong khoảng thời gian từ Tháng Ba, 2020 đến Tháng Hai, 2021 có tới 3,795 vụ tấn công có chủ ý phân biệt chủng tộc nhắm vào người AAPI.

Tuy nhiên, con số này có thể chỉ là một phần nhỏ của các cuộc tấn công đã xảy ra, vì có rất nhiều vụ không được báo cáo, vẫn theo LAT.

Khoảng 68% các cuộc tấn công chống người Châu Á được ghi nhận trong nghiên cứu là quấy rối bằng lời nói, 21% là hành vi xa lánh, và 11% là hành hung thể xác.

Khoảng 9% số vụ khác là vi phạm quyền công dân như phân biệt đối xử tại nơi làm việc hoặc bị từ chối phục vụ tại một doanh nghiệp. Gần 7% các cuộc tấn công là quấy rối trực tuyến.

Hầu hết các vụ này xảy ra tại các cơ sở kinh doanh hoặc trên đường phố công cộng

– Buổi nói chuyện gồm toàn phụ nữ gốc Á. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

– Nhiều phụ nữ cao niên cảm thấy bị đe dọa từ Tháng Ba, 2020 đến giờ. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

– Các ni sư cũng khuyên phải đoàn kết để có sức mạnh cộng đồng. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

– Nhóm phụ nữ giới chức đi vòng công viên. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

TOÀ ÁN PHÚ YÊN XỬ SƠ THẨM NỮ NHÀ BÁO VÌ “TỘI VIẾT BÁO BÔI NHỌ ĐÍT NỒI”

TOÀ ÁN PHÚ YÊN XỬ SƠ THẨM NỮ NHÀ BÁO VÌ “TỘI VIẾT BÁO BÔI NHỌ ĐÍT NỒI”

————

FB LS Nguyễn Khả Thành:

22-3-2021 XÉT XỬ NGUYÊN NHÀ BÁO TRẦN THỊ TUYẾT DIỆU

Trần Thị Tuyết Diệu sinh: 1988, trú thôn Xuân Thạnh 1, xã Hòa Tân Tây, H. Tây Hòa, tỉnh Phú Yên) Tốt nghiệp khoa báo chí và truyền thông Trường Đại học Khoa học xã hội nhân văn TPHCM, từ năm 2011 đến tháng 12 năm 2017 Trần Thị Tuyết Diệu là phóng viên Báo Phú Yên.

Em bị khởi tố ở khoản 1 điều 117 Bộ luật hình sự “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Tôi này thuộc nhóm tội Xâm phạm an ninh quốc gia, khoản 1 có mức hình phạt từ 05 năm đến 12 năm

Trần Thị Tuyết Diệu bị bắt ngày 22/8/2020 đã bị tạm giam gần 8 tháng. Văn phòng chúng tôi vừa nhận được Quyết định của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên sẽ xét xử theo thủ tục sơ thẩm vào sáng ngày 22/3/2021…

(Nguồn FB LS Nguyễn Khả Thành)

Những Con Cào Cào Xanh- TRUYỆN NGẮN…DƯƠNG THỊNH…

 No photo description available.

 

TRUYỆN NGẮN…DƯƠNG THỊNH…

Những đớn đau, tủi nhục, ê chề của kẻ thua cuộc mà kẻ thắng cuộc đã giáng những đòn thù một cách tồi bại & hèn hạ…. Kèm theo là sự xa lánh, hắt hủi của xã hội, đưa đến những cảnh đời nghiệt ngã… Bài đã được đăng trước đây. Tuy nhiên gần đến ngày quốc hận 30-4, xin được đăng lại như một nhắc nhở đến những con người “chóng quên” những gì mà mình đã nhận lãnh trước khi đào thoát khỏi địa ngục trần gian…. và nay “áo gấm về làng”…

***

Những Con Cào Cào Xanh

Đứng trong hàng rào kẽm gai của khu thăm nuôi. Bé Mai cố nhướng mắt để tìm người cha thân yêu của mình trong số những đoàn người gầy guộc, xanh xao, vàng vọt đang lếch thếch cất bước trên đường về trại tù. Với ánh nắng trưa hè gay gắt,mọi nguời đi thăm nuôi đều đứng trong mái hiên ngẩng cổ nhìn ra. Riêng bé Mai bất chấp những tia sáng nóng đang rọi trên đôi má ửng đỏ, những giọt mồ hồ đang rịn trên trán. Cô bé cố giơ cao những con cào cào xanh hướng về phía đoàn người đang lần lượt đi qua, hầu mong cha của mình sẽ mau chóng nhận ra.

Ông Sinh đã nhận ra con gái , ông giơ cao lon gô vẫy vẫy. Bé Mai sung sướng reo lên :

“Má ơi. Con thấy ba rồi! Con thấy ba rồi !

Đoàn tù vẫn bình thản bước lên đồi. Ông Sinh vừa đi vừa ngoảnh cổ lại đằng sau nhìn con..Khi không còn thấy hình bóng cha nữa, bé Mai mới chịu chạy lại bên mẹ thút thít khóc. Thiếu phụ rút khăn tay lau mồ hôi trên trán con, vuốt mái tóc bé an ủi :

“Nín đi con, tí nữa mẹ con mình gặp cha rồi.”.

Thời gian thăm nuôi thật ngắn ngủi, chỉ mười năm phút. Ông Sinh chỉ kịp ôm con vào lòng, hôn lên má con. Hỏi han vợ năm ba câu, chẳng nói được gì nhiều, đã gần hết giờ. Mọi người trong phòng thăm nuôi chỉ biết nhìn nhau khóc và khóc. Đến gìơ. Tên cán-bộ oắt con quơ quơ khẩu súng AK. về phía mọi ngừời:

“ Đã hết giờ, yêu cầu mọi người đứng lên ra về.”.

Ông Sinh vôi vàng nắm chặt hai bàn tay vợ và ôm hôn con lần cuối, sách bị gói lương khô cùng mấy con cào cào theo chân mọi người ra cửa.

Ngồi trên chuyến xe lô trở về thành phố, hầu hết là những bà vợ đi thăm nuôi chồng, họ đều mệt mỏi trong cuộc hành trình dài. Phần vì đường xa, phần vì phải thức khuya dậy sớm để nấu thức ăn, giờ đây tất cả đều cố nhắm mắt thiu thiu ngủ dưỡng sức. Riêng bé Mai không tài nào ngủ được, dù rất muốn ngủ và mệt mỏi. Hình dáng của người cha luôn luôn lởn vởn trong trí óc bé, thân hình gầy gò, đen đủi cùa ông khác xa với hình dáng trắng trẻo, hồng hào, mập mạp trước kia rất nhiều. Bé là người được cha thương yêu nhất.

Đêm nào ông cũng ru bé ngủ, kể truyện cho bé nghe, trước khi rời khỏi phòng ông không quên hôn lên nút ruồi son trên cổ bé, mà ông thường gọi đùa là : Nốt ruồi mang đến nhiều sự may mắn.”

Ông có đôi bàn tay rất khéo léo và nghệ thuật. Chính ông đã dậy cho bé xếp hình những con thú, đồ vật bằng giấy nhất là thắt hình những con cào cào bằng lá dừa non thật là tuyệt, trông chúng đẹp, hùng dũng, oai phong biết bao! Bé rất thích và thường thắt để tặng bạn bè, vì thế chúng thường chọc và gọi bé lá con cào cào xanh.

Biệt hiệu này bé rất thích và thường hay kể lại với cha. Ông nói con cào cào xanh với đôi chân cứng cáp, nhẩy xa, biểu hiện cho sự tương lai vững chắc. Cha muốn con gái của cha sau này cũng giống như những con cào cào này.

Riêng ông Sinh, ông không thể không cầm được nước mắt khi nhìn giỏ quà của vợ con. Sau gần hai năm tù cải tạo, đây là lần đầu tiên ông được thăm nuôi. Giỏ qùa dù ít nhưng nó đã gói ghém biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, tình thương của gia đình, dù ít nhưng ông rất ấm lòng. Nhất là mấy con cào cào xanh, nhìn chúng ông cảm thấy vui vui và xao xuyến trong lòng. Cô bé không biết đã bỏ biết bao nhiêu công sức, tình thương yêu gói trọn vào đó để dành cho cha. Nghĩ tới đó tim ông như thắt lại.

Đây là lần đầu và cũng là lần cuối ông gặp mặt vợ con. Kể từ ngày thăm nuôi cho tới mấy năm sau này, ông không hề nhận được bất cứ tin tức gì về gia đình. Lòng ông như rối bời, tâm tính như mất trí, thân xác kiệt quệ. Mấy lần ông đã ngã qụy, tưởng không thể sống nổi, may nhờ bạn bè an ủi, giúp đỡ về vật chất cũng như tinh thần, ông đã qua khỏi.

Cuộc sống tù đầy cứ như thế: Chịu đựng, đau khổ, đói khát. Cho tới cuối năm 1981 ông được thả về. Ra khỏi tù , ông không còn nơi nương tựa. Theo chòm xóm cho biết : Vợ con ông đã vượt biên năm 1976. Gia đình bên vợ thì đã bán nhà dọn đi nơi khác, không biết biệt tích nơi đâu. Còn bên ông thì không có ai cả, vì ông vô Nam chỉ có một mình khi ông mới mười hai tuổi. Thế là hết ! không biết đâu mà mò.

Điều làm ông lo âu nhất, là vợ con ông có thật sự đi vượt biên không, hay là tin đồn nhảm?! Nếu đúng như vậy, liệu có thoát không? Hay là đã bị…..ông không dám nghĩ tiếp. Nếu thoát, tại sao không gửi thư về để cho ông biết tin Những câu hỏi tại sao ?….tại sao?…làm cho ông điên đầu. Hiện giờ ông mù tịt, và cũng không hiểu vì sao.?!

Ra khỏi nhà tù nhỏ, ông lại vô nhà tù lớn. Cũng lao động thân xác để kiếm miếng ăn, cũng phải học tập, trình diện hàng tháng. Người ông càng ngày càng tiều tụy, nhưng ông phải ráng sống để có ngày gặp lại mặt vợ con. May mắn nhờ một người bạn tù cùng chung một tổ trong trại tù, đưa ông về nhà cho tá túc qua ngày, cùng chỉ ông cách thức vá giầy, dép cũ. Cuộc sống của ông cũng tạm đủ.

Dạo này trời Sài-Gòn hay đổ những cơn mưa bất tử, làm ông Sinh dọn hàng ra, vô muốn bở hơi tai. Hai năm sau này công việc làm ăn của ông đâm khá ra. Giầy dép cũ mới, chôm chỉa gì ông cũng mua tuốt luốt, đem sửa chút ít, dánh bóng lại bán được gía cao. Một người khách đi đến gian hàng ông. Ngắm nghía lựa một đôi, sỏ vừa chân,, cầm lên hỏi :

“Bác , Đôi này bao nhiêu?”

Đang cúi lau giầy, ông vội vàng ngửng đầu lên định trả lời. Nhưng thấy người khách ông bỡ ngỡ, cảm thấy rất quen nên chưa kịp đáp. Người thanh niên thấy mặt ông cũng giật mình lùi lại, trơn mắt như gặp phải ma. Cậu ta định thần nhìn kỹ. Vội hỏi :

“Xin lỗi, xin lỗi. Bác có phải…..phải tên Sinh không?”.

Cũng vừa kịp lúc ông Sinh nhận ra người khách lạ, chẳng ai khác hơn chính là cậu em vợ của mình. Như bắt được vàng. Ông Sinh rối rít dọn hàng không bán nữa. Hai anh em kiếm một quán cà phê ngồi tâm sự.

Thì ra vợ con ông đi vượt biên thực sự, hiện định cư ở Mỹ. Vợ ông đã có chồng khác và đã có hai con, một trai, một gái. Cha mẹ vợ đã bán nhà ở thành phố, dọn về quê ở. Mấy năm nay ông bà vẫn đều đặn nhân được tiền bạc do con gái chu cấp hàng tháng, và hiện cậu em trai vẫn còn ở với cha mẹ. Không hiểu vì lý do gì, cố ý hay có uẩn khúc gì khác, ông bà lại báo với con gái là ông đã chết trong trại tù.

Ngay ngày hôm sau. Ông Sinh cùng cậu em vợ vội đáp xe đò về thăm gia đình vợ. Chuyến thăm này đã khiến ông Sinh nhận nhiều sự đắng cay tủi nhục. Sự ơ hờ, tiếp đón tẻ nhạt đã làm ông thất vọng. Ông không có địa chỉ cũng như không có tin tức gì về vợ con. Ông chỉ biết đạì khái là : Vợ ông không muốn cho ông biết nơi ở của nàng. Chuyện ông bị chết là do công an tới nhà báo tin.

Nhưng nhờ vào lòng tốt của cậu em vợ, cuối cùng ông cũng có được địa chỉ của vợ con trong tay. Nhưng làm được gì với địa chỉ này ? Đối với vợ, ông có lỗi với nàng chứ không phải nàng có lỗi với ông. Ở vậy chờ chồng nuôi con là việc tốt, nếu không thì đành phải chấp nhận, không thể oán trách. Nhưng với con, ông phải có bổn phận và trách nhiệm. Ông nhớ cô bé vô cùng không kể xiết.

Ông đã viết thơ nhiều lần, nhưng chẳng bao giờ được hồi âm. Lại mu tin, mù tịt. Đầu óc ông rối rắm tơ vò. Con ông ra sao rồi ?!

Sau đó chương trình HO được cứu xét, đưa các sĩ quan tù nhân cải-tạo qua Mỹ. Ông sung sướng bán tín, bán nghi. Nhưng sự thật đã đến. Giờ đây ông đã ngồi trên máy bay đến Mỹ theo diện HO.8. Việc đầu tiên của ông dự định là sau khi lo thủ tục giấy tờ xong, ông sẽ đi tìm vợ con.

Đứng trước cánh cổng sắt của căn nhà sang trọng, trong một thành phố thuộc tiểu bang Illonois. Ông Sinh lưỡng lự không dám bấm chuông, lòng ông hồi hộp, tim đập loạn xạ.. Ông đang tưởng tượng hình dáng vợ mình bây giờ thế nào? Con mình đã lớn khôn ra sao? Cô bé giờ đã hai mươi mốt tuổi rồi còn gì, không biết ông có còn nhận ra không?!

Rồi ông tự hỏi có nên vào hay không ? Gia đình người ta đang hạnh phúc, mình vào có đúng lúc không?! Đang lúc suy nghĩ miên man. Chợt ông thấy một thiếu phụ từ trong nhà đi ra, tay cầm bình tưới cây nhỏ, tưới vào những chậu hoa trước cửa. Ông không thể nhầm được, đó chính là vợ mình dù thời gian có thay đổi. Ông tính rướn người lên gọi nhưng kịp ngừng lại.Một người đàn ông tóc vàng từ bên hông nhà đi tới, đến sau lưng người thiếu phụ ôm choàng lấy nàng, hai người hôn nhau thắm thiết. Ông lặng người tê tái, quay gót bỏ đi.

Về quán trọ, ông viết vội vài chữ gửi cho vợ, hẹn nàng cho ông gặp mặt dù chỉ một vài phút. Ngồi trước mặt vợ, ông nhận thấy nàng rất đẹp, đẹp hơn trước nhiều, nhưng cũng không đấu được nhiều nếp nhăn trên trán khóe mắt, vành môi. Để phá tan bầu không khí ngỡ ngàng. Ông Sinh khen vợ:

– “Em. Trông em đẹp lắm !”.

– “Cám ơn anh. Anh qua đây từ bao giờ? Trông anh già và ốm yếu quá ! Anh có cần sự giúp đỡ gì không? Chồng em quen biết rất nhiều.”

Ông Sinh thấy nàng tự nhiên qúa, không có nét xúc cảm nào lộ trên khuôn mặt. Ông cũng bình thản.

– “Cám ơn em. Anh, chữ nghĩa tiếng Anh, tiếng u còn kém lắm, vả lại mới qua chưa cần gấp. Anh muốn gặp con, nó dạo này thế nào rồi ?”.

Không trả lời vội. Nàng đẩy ly cà phê sữa tới trước mặt ông:

– “Cà phê Starbuck này ở Mỹ có tiếng lắm. Em còn nhớ anh thích uống cà phê nên em kêu. Còn con hả, em cũng muốn mong gặp nó đây. Mấy năm nay nó chẳng hề ghé thăm mẹ. Lâu lâu gọi phôn lấy lệ”.

Ông Sinh nhỏm dậy:

– “Em đã làm gì nó? Bây giờ nó ở đâu? Cho anh xin số phôn và địa chỉ của nó!

– “Nào em biết. Nó không muốn cho em biết bất cứ điều gì.”

Ông Sinh như chết điếng :

– “Em nói thật đó chứ?!”.

– “Em không dối gạt anh. Dù chúng ta không còn là vợ chồng. Nhưng đối với con em rất mực thương yêu. Có anh đây em rất mừng, anh sẽ lo cho nó. Nó là đứa con rất có hiếu. Sự việc không hay xẩy ra, hoàn toàn do lỗi tại em. Anh đi tìm con dùm em. Cho anh biết thêm là hiện nay nó đang học nghành y-khoa, sắp ra trường. Anh cứ đi hỏi mấy trường đại học xem sao! Em đã dò hỏi khắp mọi nơi rồi, nhưng vẫn biệt vô âm tín. Anh mới qua chắc cần tiền bạc, em giúp.”.

Vừa nói, nàng vừa mở bóp lấy cuốn chi phiếu. Ông Sinh nghe vợ nói một hồi như lùng bùng lỗ tai. Không cần nghe thêm, ông xô ghế đứng dậy.

********

Nhờ những người quen biết chỉ dẫn. Ông Sinh đăng tin tìm người trên báo chí cả Mỹ lẫn Việt, cùng phôn tới tất cả các trường đại học xa gần, vẫn không có kết qủa. Ở nước Mỹ to lớn này gồm năm mươi tiểu bang, có biết bao nhiêu trường đại học mà kể, tìm người như tìm kim đáy biển, biết đâu mà mò. Rồi ông lại suy nghĩ vớ vẩn, nhỡ con bé tự tử. Nghĩ tới, nghĩ lui làm ông rối trí thêm. Cuối cùng ông đành buông xuôi cho số phận thời gian.

Để mưu sinh và cũng để tạo cơ hội tìm kiếm, ông ghi danh đi học khóa đào tạo y công, phụ giúp trong các bệnh viện, hầu hy vọng có một ngày nào đó gặp được con mình. Thời gian cứ thế trôi qua. Ông đã phục vụ rất nhiều bệnh viện trong tiểu bang California này mấy năm rối, cũng thăm hỏi nhiều rồi, sự hy vọng của ông càng ngày càng giảm, hầu như tuyệt vọng.

Niềm vui thú duy nhất của ông hiện thời là mấy con cào cào xanh, mà ông cất rất kỹ từ khi thăm nuôi tới giờ, dù chúng đã khô héo quắt queo. Mỗi khi nhớ con ông lại mang ra ngắm nghía, tâm hồn ông lúc đó hoàn toàn chìm đắm trên khuôn mặt cuả bé Mai.

**********

Jennifer Trần là một bác sĩ trẻ, đẹp, làm việc rất siêng năng, cần mẫn, hay giúp đỡ mọi người. Ai cần việc gì, khó khăn gì hay trong nhà cần chuyện gì, cần người thay thế, bác sĩ vui lòng giúp đở, dù đó là ngày nghỉ của mình. Bác sĩ đã có vị hôn phu cùng phục vụ trong cùng một bệnh viện. Hai người tính làm đám cưới lâu rồi, nhưng không hiểu vì sao cứ lần này rồi lại lần khác, không thể thực hiện được. Bạn bè thúc giục, khuyên nhủ, nàng chỉ cười..

Tuy là người vui tính thích bong đùa, nhưng bác sĩ Trần vẫn không dấu được nét buồn của mình. Nét buồn đó càng làm tăng thêm vẻ đẹp dịu hiền, mà ai cũng gọi đùa là “nữ hoàng sầu muộn” Dù còn trẻ, nàng vẫn không thích nơi hội hè đình đám, những chỗ đông người, mà chỉ muốn sống cho riêng mình, nhưng đối với bạn hữu nàng cũng quậy ra trò.

Hôm nay ông Sinh nghỉ không đi làm. Ông rảnh rỗi cùng người bạn gìa đi thăm cháu gái của ông ta bị bệnh nằm trong bệnh viện. Tiện thể ông mang mấy con cào mà ông mới thắt đêm qua, cho cháu gái làm qùa.

Ngày chủ nhật, bệnh viện sao có qúa nhiều ca mổ! Bác sĩ Trần đã thấm mệt, mồ hôi rịn đầy trán. Nàng lấy khăn mui xoa chấm chấm mồ hôi, bây giờ nàng mới thực sự được rảnh tay.

Bác sĩ Trần đi qua dẫy phòng khoa nhi để đến phòng ăn, vì từ sáng đén giờ nàng chưa có cái gì vào bụng. Những tiếng cười khanh khách của một bé gái nào đó vang lên từ phòng khoa nhi. Cảm thấy vui vui nàng ghé lại nhìn thử. Một bé gái, nằm quay mặt vào phía trong, hình như đang giỡn với vật gì đó, làm cho cô bé khoái chí cười nắc nẻ. Tính tò mò thúc đẩy, nàng rón rén lại gần, nhìn vào phía trong.. Bất gíác nàng run người lên , mắt mở trợn trừng. Cô bé đang cho hai con cào cào xanh đá nhau, hai con cào cào được thắt bằng lá dừa xanh , trông thật là đẹp. Nàng run run cầm lên mân mê. Hỏi :

– “Ở đâu bé có hai con cào cào này?”.

Như sợ bị la mắng, chơi đồ chơi trong phòng bệnh. Cô bé phân bua: “Không phải của con mua, mà của ông gìa lúc nẫy cho con”.

Bác sĩ Trần không kềm được xúc động , hỏi dồn:

-“Bao lâu rồi ? Ông đi đâu ?”.

Cô bé hốt hoảng :

– “Dạ…dạ, con cũng hổng biết. Đã lâu rồi!”.

Bác sĩ Trần hốt hoảng bước ra khỏi phòng, dáo dác nhìn quanh. Mặc kệ cho bụng đói, nàng chạy từ phòng nọ qua phòng kia, từ dẫy nọ qua dẫy kia để tìm kiếm. Trước sự lạ lùng đó, mọi nhân viên trong bệnh viện đều vây lại hỏi thăm, Nàng hỏi bâng quơ :

– “Có ai thấy ông gìa nào đó trong bệnh viện không?”.

Trước câu hỏi ngây ngô đó, mọi người đều không nín được cười, nhưng không ai dám cười trước vẻ nghiêm trọng của bác sĩ Trần.

Trong bệnh viện này, biết bao nhiêu ông gìa, bà cả đi thăm con cháu, người thân. Cảm thấy câu hỏi của mình qúa ngớ ngẩn, nàng cười gượng :

– “Thôi. Không có gì, cám ơn các bạn.”

Tuy nói vậy nhưng trong lòng nàng vẫn không yên, tự nghĩ: ”Chỉ có cha mình mới thắt kiểu đó, nhưng ông đã chết rồi mà! Chẳng lẽ vì quá nhớ cha mà đâm ra mê sảng ?.!”

Thôi đi ăn cơm!.

*******

Bác sĩ Trần, chính là bé Mai. Từ khi theo mẹ đi thăm nuôi cha, trở về nhà, không ngày nào bé không nghĩ đến cha của mình. Ngày vượt biển ra đi, bé nhất định không chịu, đợi ngày cha trở về đi cùng. Vì sự hăm dọa của ông bà ngoại cùng những lời khuyên giải của mẹ, bé đành chịu phép. Sang đến Mỹ bé nhất định phải học giỏi để có tiền gửi cho bà ngọại đi thăm nuôi cha đều đều. Bé sẽ nhẩy cao, sẽ cứng cáp như những con cào cào xanh mà cha đã từng nói.

Cuộc vượt biên êm xuôi. Sau hơn một năm ở trên đảo, bé cùng mẹ được định cư tại Hoa-Kỳ. Dòng đời đưa đẩy, mẹ lấy chồng khác, một anh chàng Mỹ giầu có. Cô bé có thêm hai đứa em gái.

Giờ đây, bé Mai đã mười chín tuổi, cái tuổi bước vô ngưỡng cửa đại học. Càng lớn nàng càng giống cha. Đã nhiều lần nàng biên thư và gửi tiền cho ngoại để hỏi thăm tin tức, cùng sức khỏe của cha trong trại tù, nhưng không ai trả lời. Có hỏi mẹ, chỉ được biết :

– “Cha con đã chuyển đi ra ngoài Bắc rồi. Bà ngoại đã già không thể đi được.”

Nói sao nàng tin vậy. Mỗi lần nhớ ông, nàng lại mang hình hai cha con ra ngắm. Tấm hình nàng đã mang theo khi đi vượt biên.

Sống chung đụng trong cùng một mái nhà. Điều làm cho nàng ghê tởm, xấu xa, bỉ ổi nhất là anh chàng Mỹ kia cứ nhởn nhơ mặc quần lót đi trong phòng khách. Có lần hắn đã dám xàm xở ôm nàng xờ xoạng khi không có mẹ ở nhà. Từ đó nàng đã bỏ nhà đi sang tiểu bang khác, chỉ biết học và làm việc tự lo cho bản thân, lâu lâu hỏi thăm mẹ qua điện thoại công cộng.

*******

Vào một ngày, khi điện thoại về thăm mẹ, được bà báo cho biết : Cha đã chết trong tù!. Mọi vật như xụp đổ. Nguồn hy vọng bám víu cuối cùng cũng không còn. Thế là hết!. Nàng đã khóc đến khô cả nước mắt, cuộc sống như tẻ nhạt, chán chường không còn tha thiết gì nữa! Nàng chỉ biết vùi đầu vào sách vở cho quên nỗi buồn, và phải chiến đấu, chiến đấu, cứng cáp như những con cào cào xanh mà cha nàng khi còn sống hằng mong mỏi. Cuối cùng nàng cũng lấy được mảnh bằng chuyên khoa giải phẩu.

Qua tin tức báo chí. Bác sĩ Trần được biết các sĩ quan tù cải tạo được chính phủ Mỹ cứu xét cho định cư tại Hoa kỳ theo chương tình HO. Không hiểu sao nàng hồi hộp lạ thường. Rồi quyết định bỏ miền đông tuyết phủ, trở về với nắng ấm Cali.

********

Hôm nay là ngày lễ Thanksgiving day, nàng muốn đi ra biển. Không phải để tắm hay hóng gió mà nàng muốn làm một công việc, công việc này nàng đã dự tính từ lâu nhưng vì qúa bận rộn nên không thể thực hiện được. Nhân ngày lễ tạ ơn nàng phải làm điều gì để nhớ ơn cha. Nàng sẽ thắt thật nhiều, thật nhiều con cào cào thả xuống biển, để chúng mang lời cầu nguyện của nàng đến người cha thân yêu. Nàng tin tưởng rằng ở nơi xa xăm vĩnh cửu nào đó cha nàng sẽ nhận được lời khấn nguyện này.

Nàng rủ bác sĩ Hải (vị hôn phu) cùng đi chơi biển. Chàng rất thích thú lẫn ngạc nhiên về lời yêu cầu này, khác với bản tính trầm lặng không thích nơi ồn ào của nàng từ trước đến giờ, bèn okay chấp nhận liền. Trong khi chờ đợi vị hôn phu đi mua thức ăn. Nàng dã kiếm đựợc khá nhiều lá dừa xanh, cẩn thận chau chuốt tước từng lá và bắt đầu thắt những con cào cào. Nàng để hết tâm trí vào công việc, chìm đắm trong niềm thương nhớ cha.

Ngoài kia. Sau khi đã mua thức ăn, trên đường trở về chỗ cũ nơi bãi biển, chàng thấy một đám con nít đang vây chung quanh một cụ già Việt-Nam, trên tay đứa nào cũng cầm một con cào cào, thấy hay hay chàng cũng xin một con. Vừa đi vừa ngắm con cào cào, chàng cảm thấy nó rất đẹp và còn có vẻ oai phong nữa. Chàng sẽ cho vị hôn thê, chắc nàng sẽ thích thú lắm! Về đến nơi. Thật, chàng không thể tin vào mắt mình, nàng cũng đang thắt…..con cào cào.

– “Em đang làm gì vậy.”

– “Thắt con cào cào.”

Chàng cầm con cào cào mới xin được, vẫy vẫy trước mặt nàng.

– “Anh cũng có một con.”

Nhìn con cào cào, mặt nàng tái mét, hỏi dồn:

– “Ở đâu anh có nó?”

Chàng chỉ về hướng đám trẻ:

– “Một cụ già Việt-nam cho anh.”

Chẳng nói chẳng rằng, nàng nắm tay chàng chạy như bay về hướng chỉ. Một ông già, tóc bạc qúa nửa. đeo cặp kiếng lão, Hai tay đang thoăn thoắt thắt những con cào cào. Dù thời gian, tuổi tác có thay đổi, nhưng với hình dáng kia, nét mặt kia đã in sâu vào tâm khảm, nàng không thể nhầm được, chính là cha nàng. Qúa xúc động, nàng ngất xỉu.

Sự việc xẩy ra qúa đột ngột, bác sĩ Hải hoảng hốt la cầu cứu. Ông Sinh (vâng, chính ông Sinh) ở vị trí gần nhất nghe tiếng hét vội vàng nhào tới. Ông vội thọc tay vào túi quần lấy lọ dầu xanh thoa lên hai thái dương cô gái, giựt tóc mai, giựt gân cổ. Bỗng người ông run lẩy bẩy, tim như muốn ngừng đập, khi ông thấy nốt ruồi son trên cổ cô gái, trên tay cô còn nắm chặt con cào cào. Như có linh tính, ông định thần nhìn kỹ khuôn mặt thiếu nữ. Ông gào lên trong tiếng nức nở, nghẹn ngào:

– “Trời ơi! Mai….Mai, con tôi.”

Cũng vừa lúc xe cứu thương tới nơi, đưa bệnh nhân lên xe. Ông Sinh, bác sĩ Hải cũng vội vàng leo lên theo. Cầm tay con gái, lòng ông Sinh bồi hồi xúc động, ông không ngờ gặp con trong hoàn cảnh này. Hai hàng nước mắt ngắn, dài chẩy trên hai gò má nhăn nheo. Nhưng ông cảm thấy sung sướng và ấm áp vô cùng.

********

Tin bác sỹ Trần thị Mai gặp lại được cha già sau hai mươi năm xa cách đã loan truyền khắp trong bệnh viện, một vụ trùng phùng đầy đau thương, thích thú, khiến ai cũng mủi lòng.

Hôm nay nhà bác sỹ Mai thật đông đảo khách tới thăm, bạn bè, thân hữu nghe tin mang hoa tới

chúc mừng

Trong mấy năm qua , bây giờ mọi người mới thấy được nét tươi vui, rạng rỡ thực sự trên khuôn mặt u sầu của vị bác sỹ mà họ mến yêu. Nhưng người sung sướng nhất vẫn là bác sỹ Hải.

5 ‘triết lý’ đơn giản giúp nhà nhà đều sống thọ

HY VỌNG THỰC HÀNH DỄ DÀNG NHƯ BÀI VIẾT. THỬ 1 LẦN ĐI NHA 🙏🌹

5 ‘triết lý’ đơn giản giúp nhà nhà đều sống thọ

Khiêm Từ

Ngày nay người ta đều cố gắng nghiên cứu xem nên ăn gì, uống gì bổ dưỡng để hạn chế bệnh tật, tăng cường tuổi thọ. Tuy nhiên nhà khoa học nổi tiếng này lại chia sẻ bí quyết khác hẳn: Một người có thể sống thọ hay không, không phải chỉ do ăn uống hay vận động mà còn bởi “cân bằng tâm lý”.

Elizabeth Helen Blackburn, sinh ngày 26 tháng 11 năm 1948 là nhà nghiên cứu sinh học người Mỹ gốc Australia của trường Đại học California tại San Francisco. Bà nghiên cứu đoạn telomere (những trình tự lặp lại của DNA ở các đầu mút của nhiễm sắc thể), một cấu trúc ở đuôi nhiễm sắc thể có nhiệm vụ bảo vệ nó. Blackburn cùng với Carol Greider đã khám phá ra telomerase, enzym cung cấp cho telomere. Vì những nghiên cứu này bà đã được trao giải Nobel sinh học và y khoa năm 2009 cùng với Carol Greider và Jack W. Szostak. Bà cũng hoạt động trong lĩnh vực đạo đức y khoa và từng là một hội viên trong hội đồng tổng thống về đạo đức sinh học.

Theo TS. Blackburn để có thể sống thọ chế độ ăn uống hợp lý chiếm 25%, các nhân tố khác chiếm 25%, và tác dụng của trạng thái cân bằng tâm lý chiếm tới 50%.

  1. “Hormones stress” sẽ gây hại cho cơ thể

Theo Hoàng đế nội kinh: Bách bệnh sinh vu khí dã. Nộ tắc khí thượng, hỉ tắc khí hoãn, bi tắc khí kết, kinh tắc khí loạn, lao tắc khí hao… Tạm dịch: Trăm bệnh sinh tại khí. Giận thì khí thăng, vui thì khí trở lại bình thường, buồn thì tạo kết, kinh sợ thì khí loạn, lo lắng thì khí bị hao tổn… Bởi vậy Đông y chữa bệnh trước tiên cần điều chỉnh “nhân tâm”.

Theo Đông y, trị bệnh cần chú trọng thân tâm

Y học hiện đại phát hiện rằng, có đến 65 – 90% các loại bệnh tật của chúng ta như ung thư, xơ cứng động mạch, huyết áp cao, loét dạ dày, kinh nguyệt không đều… đều liên quan tới áp lực tâm lý. Những loại bệnh này được gọi là chứng bệnh do tâm và thân. Con người lúc vui vẻ, cơ thể tiết ra hormone có ích là dopamine… Hormone có ích làm cho tinh thần thả lỏng, mang lại cảm giác hưng phấn, khi đó tâm và thân đều trong trạng thái thoải mái, các chức năng của cơ thể phối hợp nhịp nhàng, cân bằng, tăng cường sức khỏe.

  1. “Mục tiêu” có thể thúc đẩy sức sống của sinh mệnh

Theo kết quả nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học: Sống có lý tưởng, có mục tiêu sẽ tạo ra một loại cảm xúc mạnh mẽ có lợi đối với sức khỏe. Những truy cầu mong muốn trong cuộc sống hằng ngày sẽ quyết định tâm tính và theo đó sẽ quyết định tới tâm sinh lý của chúng ta.

Một nhà khoa học người Anh đã tiến hành khảo sát những người trong độ tuổi 40 – 90 trong 7 năm. Kết quả phát hiện nhóm người sống không có mục tiêu rõ ràng thì tỷ lệ tử vong do bệnh tật, tự sát, xuất huyết não cao hơn gấp đôi so với nhóm người sống có mục tiêu rõ ràng. Không những vậy, sau khi về hưu không có mục tiêu sống sẽ khiến tinh thần và sức khỏe suy giảm mạnh. Tại sao lại như vậy? Nguyên nhân bởi nếu một người sống không có mục tiêu thì “chết” sẽ là mục tiêu duy nhất trong cuộc đời. Từ đó, cơ chế tự hủy trong tiềm thức sẽ lặng lẽ khởi động khiến sức khỏe bạn ngày càng sa sút. “Mục tiêu” ấy cũng nhất định phải thiết thực, bởi nếu không sẽ khởi tác dụng phụ. Học ca hát, nhảy múa, đánh cờ… đều có thể trở thành mục tiêu trong cuộc sống của bạn bởi chúng đều rất khả thi.

  1. “Giúp người làm vui” thực sự có tác dụng trị liệu

Các nhà nghiên cứu phát hiện, việc trợ giúp “vật chất” cho người khác có thể làm giảm tỉ lệ tử vong xuống 42%; ủng hộ tinh thần có thể giúp giảm tỉ lệ tử vong xuống còn 30%. Để tìm hiểu rõ nguyên nhân của vấn đề này, một nhà nghiên cứu y học người Mỹ đã thực hiện cuộc nghiên cứu với đối tượng nghiên cứu là 106 học sinh ở độ tuổi 20 tuổi chia làm 2 nhóm: Một nhóm tình nguyện làm việc thiện, một nhóm dự bị. Sau 10 tuần nhà nghiên cứu phát hiện các loại chứng bệnh viêm nhiễm, cholesterol và cân nặng của nhóm làm việc thiện đều thấp hơn nhóm dự bị.

Giúp đỡ người khác cũng có một tác dụng trị liệu nhất định

Tại sao giúp đỡ người khác lại có thể chữa bệnh? Thường xuyên giúp đỡ người khác sẽ giúp bạn cảm thấy tự hào và vui vẻ khó diễn đạt thành lời, theo đó làm giảm hormone gây căng thẳng, kích thích các “hormone có lợi”. Chuyên gia bệnh tâm thần và truyền nhiễm thậm chí còn nhận định: Dưỡng thành thói quen vui vẻ giúp người là cách tốt nhất để thoát khỏi u buồn và cũng có thể chữa lành mọi bệnh tật.

David Hamilton, tác giả cuốn sách “Why Kindness Is Good For You” (tạm dịch: Tại sao lòng tốt luôn mang đến hạnh phúc cho bạn) đã từng lý giải: Đôi khi chỉ một hành động nhân đạo bé nhỏ nhưng mang lại lợi ích to lớn cho cả người cho và người nhận. Lòng tốt không chỉ mang đến cho chúng ta nhiều niềm vui giúp ta thoát khỏi mọi bệnh tật mà còn giúp nhiều người xoa dịu nỗi đau.

  1. Gia đình hòa thuận bí quyết hàng đầu để sống thọ

Theo kết quả một cuộc khảo sát với 268 sinh viên nam của trường đại học Harvard: Điều thật sự quan trọng trong cuộc sống một người chính là có mối quan hệ giao thiệp với người khác. Thiếu các mối quan hệ xã hội sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe.

Kết quả của đề tài nghiên cứu của một chuyên gia tâm lý học người Mỹ có tựa đề “Quan hệ giữa tính cách và trái tim” được thực hiện trong 25 năm cho thấy: Người có lòng dạ hẹp hòi, coi trọng nặng nề về danh lợi, tâm chứa đầy hận thù thì tỷ lệ tử vong lên đến 14%; người có lòng dạ rộng rãi, vui vẻ giúp người, tính cách hiền hòa thì tỷ lệ tử vong chỉ có 2.5%.

Đưa ra lý giải về vấn đề này nhà tâm lý chia sẻ: Các mối quan hệ xã hội và gia đình không tốt sẽ làm người đó mang đầy phẫn nộ, oán hận, bất mãn trong tâm, từ đó sẽ khiến thần kinh giao cảm thường xuyên trong trạng thái kích thích. Từ đó adrenalin và hormones stress sẽ bài tiết ra nhiều hơn làm nảy sinh các loại bệnh tật. Gan liên quan mật thiết đến sự điều tiết lượng tuần hoàn máu. Nếu tâm trạng không tốt, tức giận uất ức, cũng có thể ảnh hưởng gan, gây ra tác hại cho chức năng gan.

  1. Biết cho đi yêu thương sẽ nhận lại yêu thương

Chính trị gia Quản Trọng thời Xuân Thu Chiến Quốc từng nói: “Thiện khí nghênh nhân, thân như huynh đệ; ác khí nghênh nhân, hại vu qua binh” (Tạm dịch: Dùng thiện ý đối đãi với người sẽ thân như anh em; đối xử ác ý với người khác sẽ có hại như việc binh đao).

Biết cho đi yêu thương sẽ nhận lại yêu thương

Yêu thương cho đi chính là nhận lại. Bởi thiện lương và lòng tốt cũng giống chiếc Bumerang (một loại vũ khí độc đáo có hình chữ V. Điều đặc biệt của loại công cụ này là, khi được phóng đi nếu không trúng đích nó sẽ quay trở lại chân người ném). Thiện lương của chúng ta cũng giống như vậy, nếu bạn trao đi yêu thương, dùng thiện ý đối đãi với người khác thì sẽ nhận lại sự yêu thương và phước báo. Những cạnh tranh khốc liệt của cuộc sống hiện đại làm áp lực tinh thần của chúng ta cũng theo đó mà gia tăng. Thường xuyên căng thẳng mệt mỏi sẽ sinh ra nhiều loại cảm xúc tiêu cực, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và tuổi thọ.

Qua chia sẻ của chuyên gia sinh học, chúng ta có thể thấy điều quyết định thọ mệnh dài hay ngắn của đời người không chỉ là chế độ ăn uống và vận động, mà còn là điều ẩn sâu trong tâm hồn của mỗi người. Đó chính là: Tôn trọng, giúp đỡ người khác, biết ơn, bao dung, hài hước, tâm thái hòa ái tích cực vui vẻ. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với quy luật dưỡng sinh của cổ nhân, đó là sống hiền hòa, thuận với đất trời, với tự nhiên.

Khiêm Từ biên tập

From: TU-PHUNG

Thánh Ca : Kính Mừng Thánh Giuse – Năm Thánh Giuse 2021

httpv://www.youtube.com/watch?v=nsWLUbIDr94

Thánh Ca : Kính Mừng Thánh Giuse – Năm Thánh Giuse 2021

  Kính Mừng Thánh Giuse

19 tháng 3 Lễ Mừng Kính Thánh Giuse (Năm Thánh Giuse 2021)

Xin mời nghe Ca Đoàn “Tiếng Gọi Lòng Thương Xót” trình bày.

                        Kính Mừng Thánh Giuse

Xin Chúc Mừng Thánh Bổn Mạng đến quý cha & quý anh có tên thánh Giuse cùng quý vị Gia Trưởng.

Kính,

Phạm Trung

Ngôi Đền Kính “THÁNH CẢ GIUSE” giữa lòng Sài Gòn

Ngôi Đền Kính “THÁNH CẢ GIUSE” giữa lòng Sài Gòn

Tính cách của thánh Giuse đơn sơ, mộc mạc; các thánh sử cũng không ghi chép nhiều về ngài trong Tân Ước. Các địa điểm dành riêng để kính ngài cũng không nhiều. Nhưng ít ai biết ngay giữa trung tâm Sài Gòn nhộn nhịp, có một ngôi đền kính thánh nhân mà ngày ngày tín hữu từ khắp muôn nơi tìm đến dâng lời nguyện cầu.

Không gian yên bình

Tọa lạc tại số 69 đường Trường Chinh, phường 12, quận Tân Bình, gần ngã tư Bảy Hiền, Ðền Công Chính Thánh Giuse nằm khuất sau những dãy nhà bề thế bao quanh. Qua cánh cổng Tam quan, đập vào mắt mọi người là một ngôi đền được xây theo kiểu phương đình với những đường nét kiến trúc Việt truyền thống. Ngoài đền chính, trong khuôn viên còn có một quần thể kiến trúc được phối trí hài hòa. Từ cổng vào nếu nhìn sang bên phải là tượng đài Mẹ Vô Nhiễm, còn bên trái lần lượt là bức phù điêu các thánh tử đạo Việt Nam, tượng đài thánh Giuse với câu nhắn nhủ nằm phía dưới: “Hãy đến cùng Giuse”, và tượng đài chân phước Anrê hiển tu (Chân phước Anrê Bessette, 1845 – 1937) được đặt gần bậc thềm dẫn lên ngôi đền như người canh giữ. Cũng chính việc nằm lặng lẽ giữa khu dân cư, trong một khuôn viên không rộng, cảm nhận của những ai lần đầu đặt chân đến là vẻ ấm cúng, yên bình, như một khoảng lặng giữa sự sôi động của thành phố.

Ðền Công Chính Thánh Giuse do cha Giuse Maria Phạm Châu Diên (1914 – 2007) xây năm 1992, trùng tu lại vào năm 2006. Cha Giuse Maria Phạm Châu Diên đã qua đời, an nghỉ bên trong khuôn viên đền thánh, dưới chân tượng Chúa Thương Xót. Ngày đầu mới hình thành, nơi đây khá vắng vẻ vì vốn là nhà hưu dưỡng của các linh mục gốc Bùi Chu. Nhưng theo thời gian, bà con truyền tai nhau nên số người tìm đến kính viếng thánh Cả ngày một đông. Hiện nay, Ðền Công Chính trở thành nơi thu hút hàng chục ngàn tín hữu mỗi năm, trở thành nét độc đáo riêng biệt trong đời sống đạo của người giáo dân Sài Thành.

Đài kính Thánh Giuse trong khuôn viên Đền thánh – ảnh: Đình Quý

Ðể phục vụ lượng người đông đảo hằng năm cũng như chương trình mục vụ xuyên suốt tại đền, một ấn tượng không thể bỏ qua chính là những anh chị em tình nguyện viên. Ðền thánh không phải như các giáo xứ hay giáo họ nên không có giáo dân hiện hữu, tín hữu phụ giúp là từ những xứ cận kề hay nơi khác đến, nhưng tất cả đều với tinh thần nhiệt huyết và hăng say, chọn việc phục vụ làm niềm vui cho bản thân. “Hiện giúp tại đây cũng mười mấy người, trong đó túc trực thường xuyên có 5 anh em. Tuy nhiên cứ đến Chúa nhật hay dịp lễ trọng thì không cần nhắc mọi người cũng tự động tới đông đủ. Ðông người xúm tay lại giúp mọi công việc lẹ làng hơn”, ông Giuse Nguyễn Ðức Bảo, giáo dân xứ Hà Ðông, hạt Xóm Mới nói.

Nơi Lắng Đọng Tâm Hồn

Mỗi ngày tại đền đều có thánh lễ, cha Giuse Trịnh Văn Thậm Giám đốc Ðền Công Chính cho biết, thánh lễ diễn ra lúc 8 giờ sáng, Chúa nhật có thêm một lễ lúc 4 giờ chiều. Mỗi lễ như vậy có khoảng 200 tín hữu tham dự. Riêng trong ngày thứ Tư, ngày dành riêng để kính Thánh Giuse thì Ðền thánh đón tiếp lượt người đông hơn, và ngày này cũng có thêm một lễ chiều lúc 4g45. Ngoài ra, theo ghi nhận của chúng tôi, rải rác trong ngày từ sáng đền chiều tối luôn có khá đông người tìm đến cầu nguyện.

ĐềnCôngChính ThánhGiuse vớinhữngđường nétkiếntrúc Việt truyền thống –
ảnh: Đình Quý

Ðến với Ðền thánh, các tín hữu đều mang tâm tình mến yêu, lời tạ ơn, cùng cả những khấn xin, nguyện cầu. Bà Trịnh Bích Thùy, giáo dân xứ Tân Phú vẫn thường hay ghé qua để xin sự hòa thuận trong gia đình như tấm gương Thánh Gia xưa. Cũng vì yêu mến thánh nhân nên hai người con trai bà đều chọn tên thánh Giuse và luôn phó thác trong tay thánh bổn mạng. “Tối nào trong giờ kinh chung, chúng tôi đều đọc kinh Ông Thánh Giuse để dâng lên ngài những tâm tình”, bà Thùy cho biết thêm. Với người trẻ thì khi đến với thánh Cả, họ mang theo những suy nghĩ rất thật, như trong câu chuyện với chúng tôi, chị Bùi Thị Hoa (xứ Chí Hòa) bộc bạch, bản thân vẫn luôn nguyện cầu để sau này lập gia đình có được một người chồng gương mẫu, biết sẻ chia và xây dựng tổ ấm như gương ngài.

Tìm về đây, ngoài giáo dân trong Tổng Giáo phận còn có không ít bà con từ những vùng miền khác. Ngày ghé viếng, chúng tôi gặp đoàn hành hương đến từ giáo phận Phát Diệm. Trong thời gian lưu trú nhà người quen để hôm sau đến hành hương tại Tắc Sậy – nơi có mộ cha Trương Bửu Diệp – khi nghe biết về Ðền Công Chính, cả đoàn đã tìm tới. “Ðây cũng là lần đầu tôi đến một nơi tôn kính thánh Giuse, cảm giác thú vị và thật thiêng liêng”, bà Thu – thành viên của đoàn chia sẻ. Riêng những tín hữu mang tên thánh Giuse thì họ đến khấn xin để cố gắng noi theo gương sống của thánh bổn mạng để sống lương thiện, cần cù trong lao động và cả sự kính thờ Thiên Chúa.

Như vậy mới thấy, dù không có nhiều đền đài, điểm hành hương tôn kính, nhưng trong đời sống đạo của người Kitô hữu, cha nuôi Ðức Giêsu luôn có một vị trí trang trọng, gần gũi với mọi gia đình Công giáo. Và Ðền Công Chính là nơi góp phần lan tỏa lòng mến mộ thánh Giuse đến gần hơn với nhiều người.

ÐÌNH QUÝ

From: KittyThiênKim & KimBằng Nguyen

THÁNH GIUSE NGƯỜI ĐI TRONG ĐÊM ĐEN

THÁNH GIUSE NGƯỜI ĐI TRONG ĐÊM ĐEN 

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Trong các bức tranh vẽ thánh Giuse, tôi thích nhất bức tranh vẽ thánh Giuse đưa Đức Mẹ và Chúa Giêsu trốn sang Ai cập.  Bầu trời đen thẫm.  Một vài tia chớp loé lên ở cuối chân trời vừa soi đường cho Thánh gia, vừa báo hiệu cơn giông bão sắp tới.  Đức Maria bồng Chúa Giêsu ngồi trên lưng lừa.  Thánh Giuse dắt lừa.  Cả người cả lừa như lẩn vào màn đêm.  Bức tranh không chỉ đẹp ở nét vẽ gợi cảm, mà còn đẹp về ý nghĩa.  Ngắm bức tranh, tôi thấy hiện lên cả cuộc đời thánh Giuse: một đời bước đi trong đêm tối.

Thánh Giuse đã đi trong đêm tối đức tin.  Ngài đã sống chung với Đức Maria và Đức Giêsu, những con người của huyền nhiệm.  Một người bình thường đã là một thế giới huyền bí.  Một con người của huyền nhiệm lại càng sâu xa bí ẩn hơn bội phần.  Đi bên những huyền nhiệm cũng như đi trong đêm tối.

Thánh Giuse không hiểu gì hết.  Không hiểu mà vẫn phải đón nhận.  Không hiểu mà vẫn phải tin, phải yêu.  Không hiểu mà vẫn phải đồng hành cho đến mãn đời.  Thánh Giuse giống như người lính canh được cấp trên trao cho một chiếc hộp đóng kín.  Người lính canh chỉ có nhiệm vụ canh giữ mà không được phép mở ra.  Trong hộp có gì?  Có thể là một kho tàng quý giá.  Nhưng cũng có thể là chiếc hộp rỗng không.  Không biết.  Nhưng vẫn phải canh giữ.

Thánh Giuse đã đi trong đêm tối im lặng.  Ngài đi trong sự im lặng của Đức Maria, người bạn yêu quý.  Trước những mầu nhiệm cao cả, Đức Maria đã lặng thinh không nói.  Ngài đi trong sự im lặng của Chúa Giêsu.  Thiên Chúa làm người vẫn là một mầu nhiệm ẩn dấu và Chúa Giêsu không hề hé lộ thân phận.  Ngài đi trong sự im lặng của Thiên Chúa.  Thiên Chúa không bao giờ trực tiếp nói với Ngài.  Chỉ có vài lần.  Mà chỉ là những tiếng vọng mơ hồ, giữa đêm khuya, trong giấc ngủ.  Vẫn là ngôn ngữ của im lặng.  Im lặng đáng sợ.  Nhất là khi phải đối đầu với nguy hiểm, với nghi ngờ, với những vấn đề hệ trọng của đời sống.  Im lặng khó hiểu khi những gì thân thiết nhất trong đời lại trở nên bí ẩn, cách xa.  Im lặng nguy hiểm.  Nó có thể đốn ngã thân cổ thụ, làm chao đảo những niềm tin vững mạnh nhất.  Ngài đi trong im lặng của chính mình.  Trong cả bốn Phúc Âm, không thấy ghi lại lời nói nào của thánh Giuse.  Ngài bước đi trong âm thầm lặng lẽ.

Thánh Giuse đã đi trong đêm tối lãng quên.  Ngài bị lãng quên trong làng quê nhỏ bé, trong thân phận nghèo hèn của bác thợ mộc.  Người ta không bao giờ nhắc đến Ngài.  Nếu có nhắc đến, cũng chỉ để chê bai, dè bỉu, để hạ thấp thân phận của Chúa Giêsu : “Giêsu con của bác Giuse thợ mộc tầm thường ấy mà.  Có làm gì nên chuyện.”  Ngài bị lãng quên vì luôn luôn ở phía sau, luôn luôn chìm trong bóng tối.

Phúc Âm kể về Đức Maria.  Sách Tông Đồ Công Vụ kể về Đức Maria.  Nhưng từ khi Chúa Giêsu khôn lớn không ai nói gì về Thánh Giuse nữa.  Ngài chìm vào đêm tối quên lãng.  Ngài luôn luôn đóng vai phụ, như hình ảnh dắt lừa đi trong đêm tối.

Thánh Giuse đã đi trong đêm tối thử thách.  Thân phận nghèo hèn.  Sống trong im lặng và lãng quên, nhưng những thử thách Ngài phải đương đầu lại rất cam go.  Rất hiền lành, nhưng phải đương đầu với Hêrôđê hung hãn.  Mình giữ mình chưa xong, lại phải che chở cho một hài nhi sơ sinh và một sản phụ yếu ớt.  Nhưng những thử thách, khốn khó về thể lý dù cam go thế nào cũng còn chịu được.  Những thử thách đức tin mới thật là khủng khiếp.  Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa ư?  Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa ư?  Thật khó mà chấp nhận được.  Sao Con Thiên Chúa quyền uy dường ấy lại bé nhỏ yếu ớt thế này?  Sao Vua Trời vinh hiển lại phải trốn chạy một ông vua trần thế.  Các thử thách làm cho đêm tối càng đen hơn, càng dầy hơn, càng sâu hơn.

Tuy đêm có đen, tuy chân có mỏi, tuy lòng có xao xuyến nhưng Thánh Giuse vẫn bước đi.  Tuy thử thách có nặng nề, Thánh Giuse vẫn chiến đấu.  Cha Teilhard de Chardin nói: người chiến đấu giống như người bơi lội ngoài biển ban đêm.  “Ban đêm, người bơi lội vùng vẫy trong làn nước biển có chất lân tinh, làm ánh sáng loé lên chung quanh mình.”

Thánh Giuse đã chiến đấu.  Những chiến đấu mạnh mẽ cũng làm loé lên chung quanh Ngài những làn ánh sáng soi bước chân Ngài đi.

Đi trong đêm tối đức tin, Ngài có ngọn lửa đức mến soi đường.  Đêm đen lắm, nhưng Ngài cứ yêu mến Chúa, cứ gắn bó với Chúa, và cứ bước đi với Chúa.

Trong đêm tối im lặng, Ngài đốt lên trong tâm hồn ngọn đèn thao thức, lắng nghe, đón chờ.  Niềm thao thức khiến tâm hồn Ngài nhạy bén như một phím đàn mỏng.  Lời Chúa chỉ thoáng nhẹ như làn gió thoảng, phím đàn đã rung lên.  Ý Chúa chỉ mờ ảo trong giấc mơ, Ngài đã đọc được và mau mắn thi hành.

Trong đêm tối lãng quên, Ngài có đèn khiêm nhường dẫn lối.  Khiêm nhường chìm vào quên lãng.  Khiêm nhường phục vụ, khiêm nhường sâu thẳm.  Ngài có cùng tâm tình như Thánh Gioan Tẩy Giả: “Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi.”

Trong đêm tối thử thách, Ngài thắp lên ngọn đèn tin yêu phó thác. Tin vững vàng vào Lời Chúa.  Hoàn toàn phó thác cho Chúa.  Để Chúa dẫn đường qua đêm đen mù mịt.

Lạy Thánh Giuse, con cũng đang đi trong đêm đen.  Xin hãy thắp lên trong con những ngọn đèn của Thánh Cả, soi đường cho con đi đến nơi bình an.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

From: Langthangchieutim

Khủng hoảng Myanmar và câu chuyện về can thiệp nhân đạo

Khủng hoảng Myanmar và câu chuyện về can thiệp nhân đạo

Những gì đang xảy ra tại Myanmar là một tình huống kinh điển cho việc can thiệp nhân đạo.

 17/03/2021

By  VINCENTE NGUYEN

Ảnh: Bangkok Post. Đồ họa: Luật Khoa.

Thiệt hại nhân mạng, việc quân đội xem thường tính mạng của người dân và tính chính danh của một chính quyền đảo chính, tất cả trộn lẫn tại Myanmar khiến cho người viết không thể không nghĩ đến một khái niệm pháp lý khét tiếng trong công pháp quốc tế: can thiệp nhân đạo (humanitarian intervention).

Can thiệp nhân đạo là một chủ đề nghiên cứu lớn. Giới học giả, luật sư quốc tế, các viện nghiên cứu cũng như các quốc gia trên thế giới đã tiêu tốn bốn thập niên để hình thành, xây dựng, thảo luận và đến nay vẫn còn tiếp tục tranh cãi về nó.

Bài viết này sẽ không thể cho bạn đọc một câu trả lời trắng đen rõ ràng về cơ sở pháp lý của can thiệp nhân đạo, hay trình bày đầy đủ lý lẽ để áp dụng hay không áp dụng chúng. Bài viết cũng không nhằm cổ vũ hay khuyến khích việc áp dụng can thiệp nhân đạo tại Myanmar.

Tuy nhiên, trên phương diện khoa học pháp lý của công pháp quốc tế, những gì đang xảy ra tại Myanmar có thể xem là một tình huống sách giáo khoa (textbook case), tức đã đầy đủ các tiêu chuẩn để áp dụng “humanitarian intervention”. Dưới đây là một số thuật ngữ pháp lý tiếng Anh trong ngữ cảnh nghiên cứu liên quan đến khái niệm này để bạn đọc tham khảo.

Can thiệp nhân đạo là gì?

Can thiệp nhân đạo là bài toán giữa chủ quyền quốc gia (sovereignty) hay quyền quốc gia (state rights) với quyền lợi và sự phát triển của nhân loại (humanity) hay quyền con người nói chung (human rights). Như vậy, dựa trên danh nghĩa “humanity”, một quốc gia (state), một liên minh quốc gia (coalition of state) hoặc tổ chức quốc tế (international organisation) sẽ chủ động can thiệp vào công việc nội bộ (internal affair) của một quốc gia nhất định.

Liên Hiệp Quốc (United Nations – UN) là tổ chức quốc tế được kỳ vọng sẽ thực hiện các hoạt động can thiệp nhân đạo khi cần thiết. Ảnh: UN Photo.

Vậy cơ sở để các quốc gia này tiến hành “humanitarian intervention” được diễn giải cụ thể ra sao? Chúng ta có thể chia các cơ sở ra làm hai nhóm điều kiện.

Đầu tiên là điều kiện khách quan, tức có những vi phạm nhân quyền nghiêm trọng, gây ảnh hưởng cơ bản đến đời sống và quyền lợi của chính công dân quốc gia đó. Điều kiện này thường được diễn tả với các thuật ngữ như “gross violation of human rights”, “serious breach of human rights” hay “systematic violations of human rights”.

Không quá khó để chứng minh những vi phạm nói trên đang xảy ra. Các hành vi như giết hại hoặc đàn áp một cách có tổ chức nhắm đến người biểu tình (systematic murdering or persecution), cưỡng bức trục xuất (forced expulsion), thanh lọc sắc tộc (ethnic cleansing) hay nghiêm trọng nhất, diệt chủng (genocide) đều là những hành vi để lại hậu quả nghiêm trọng, có thể được cộng đồng quốc tế quan sát, thu thập được bằng chứng rõ ràng.

Kể từ khi quân đội đảo chính vào ngày 1/2, có ít nhất 149 người dân Myanmar đã bị giết. Ảnh: Stringer/ EPA-EFE/ Shutterstock.

Điều kiện thứ hai quan trọng không kém điều kiện đầu tiên nhưng lại khó chứng minh hơn, đó là mục tiêu và ý thức của chính phủ đương nhiệm đại diện quốc gia đó (incumbent government).

Có hai trường hợp có thể xảy ra.

Hoặc là họ không có khả năng bảo vệ người dân của đất nước mình (incapable to protect its own people). Hoàn cảnh này có thể xảy ra khi chính quyền trung ương không còn quản lý hiệu quả một phần hoặc toàn bộ lãnh thổ quốc gia (ineffective government), và vì vậy, trật tự dân sự (civil order) của quốc gia không còn. Trong bối cảnh này, các nhóm quân sự (military group) hoặc các lãnh chúa quân sự (warlord) thường là nhóm thực hiện các hành vi vi phạm nhân quyền nghiêm trọng mà chúng ta nhắc đến ở trên.

Trường hợp thứ hai là bản thân chính phủ đương nhiệm chủ động đàn áp (deliberately and actively persecuting its people). Chủ động ở đây bao hàm cả các hành vi hoàn toàn gián tiếp như xúi giục (instigating), tạo điều kiện (facilitating) và phớt lờ (ignoring) các hành vi vi phạm nhân quyền của các nhóm dưới quyền của mình.

Can thiệp nhân đạo cần dựa trên nền tảng pháp lý nào?

Cách hiểu về “humanitarian intervention” phổ biến nhất là liên quan đến các hành vi quân sự (military action). Một số học giả đề nghị bao hàm cả trừng phạt kinh tế lên chính phủ (economic sanction) trong nhóm can thiệp nhân đạo, tuy nhiên cách tiếp cận này vẫn chưa quá phổ biến. Trở lại với “military action”, chúng ta lại có thể dùng các thuật ngữ khác nhau để mô tả chúng.

Cách hiểu về can thiệp nhân đạo phổ biến nhất là liên quan đến các hành vi quân sự (military action). Trong ảnh là lực lượng gìn giữ hòa bình (peacekeeping forces) của Liên Hiệp Quốc. Ảnh: UN Photo.

Trước tiên là các hành vi quân sự đơn phương và không được ủy quyền (unilateral and unauthorised) . Các hành vi quân sự đơn phương, hiểu đơn giản, do một hoặc một nhóm các quốc gia thực hiện mà không có sự đồng thuận chung của cộng đồng quốc tế. Còn khi dùng thuật ngữ không được ủy quyền (unauthorised), chúng ta lại muốn nhấn mạnh một hành vi quân sự không được Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc (Security Council) trực tiếp cho phép, thông qua nghị quyết của mình. Với cách hiểu này, “unilateral” và “unauthorised” sẽ thường đi cùng nhau.

Trái ngược với nhóm hành vi ở trên là các hoạt động quân sự được sự cho phép của Hội đồng Bảo an. Trong bối cảnh này, thuật ngữ “peacekeeping”, hay gìn giữ hòa bình, phổ biến hơn cả.

Quan sát bên ngoài thì có vẻ rất rõ ràng là nhóm hành vi quân sự “unilateral” và “unauthorised” là vi phạm pháp luật quốc tế, không được hoan nghênh, còn “peacekeeping” mới là chuẩn mực của “humanitarian intervention”.

Vấn đề là, khi cần thì Liên Hiệp Quốc lẫn Hội đồng Bảo an lại hay… lảng tránh.

Ví dụ như cuộc diệt chủng ở Rwanda năm 1994. Đó là trường hợp cộng đồng quốc tế nhìn thấy trước, Hội đồng Bảo an đã được cảnh báo trước về khả năng diệt chủng người Tutsi của chính quyền Hutu, tuy nhiên cuối cùng vẫn không có hành động ngăn chặn nào được đưa ra. Nó cho thấy các yếu tố chính trị và tính quan liêu của Liên Hiệp Quốc là một vấn đề lớn, làm giảm hiệu quả hoạt động của tổ chức này.

Việc Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc không thể đưa ra một nghị quyết đàng hoàng về tình trạng tại Myanmar (với Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam và Nga ngáng đường) cho thấy rõ sự bất lực này.

Trong khi đó, những “military intervention” không được ủy quyền lại có hiệu quả hơn hẳn. Can thiệp quân sự của NATO vào nạn thanh lọc sắc tộc và diệt chủng tại Yugoslavia (Nam Tư cũ), nội chiến Serbia hay kể cả tại Kosovo đều ngăn chặn các vi phạm nhân quyền nghiêm trọng và có hệ thống, chí ít là khiến chúng không tồi tệ hơn.

Có phải chỉ các nước lớn mới can thiệp nhân đạo?

Trong bốn thập niên tranh cãi, tính từ đầu những năm 1970, “humanitarian intervention” có một lịch sử khá dày dặn dù luôn vấp phải các phản đối về lý thuyết lẫn thực tiễn. Cũng cần lưu ý rằng không phải chỉ có những có ông lớn trong quan hệ quốc tế mới vận dụng khái niệm này.

Ấn Độ từng sử dụng can thiệp nhân đạo để hỗ trợ người dân Bangladesh trong cuộc chiến giành độc lập trước Pakistan (Bangladesh Liberation War). Tanzania từng can thiệp nhân đạo vào Uganda và từ đó lật đổ lãnh đạo độc tài Idi Amin. Việt Nam cũng đã từng viện dẫn “humanitarian intervention” để can thiệp vào nội bộ Campuchia, đánh đổ lực lượng Khmer Đỏ vào năm 1978, và chiếm đóng quốc gia này tròm trèm mười năm (military occupation).

Việt Nam đưa quân vào Campuchia năm 1978 với lý do can thiệp nhân đạo. Ảnh: southeastasiaglobe.com.

Như kỳ vọng, tất cả những cuộc can thiệp này đều được xem là vi phạm pháp luật quốc tế. Tuy nhiên, chúng có cần thiết hay không, như trong trường hợp Việt Nam can thiệp vào chế độ diệt chủng Campuchia, thì lại là câu chuyện hoàn toàn khác.

Thập niên 1990 thường được gọi là thập niên của can thiệp nhân đạo (decade of humanitarian intervention), một phần vì Liên Xô sụp đổ và trật tự thế giới có phần nghiêng về các lý tưởng cấp tiến của phương Tây. Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ cùng các quốc gia đồng minh châu Âu đều có thiện chí và sẵn sàng vận dụng can thiệp quân sự khi tình hình nhân đạo tại một lãnh thổ xấu đi.

Hoa Kỳ từng được Hội đồng Bảo an chấp thuận để can thiệp vào Somalia vào năm 1992 để bảo vệ các nguồn cung ứng viện trợ nhân đạo (humanitarian aid) của Liên Hiệp Quốc tại khu vực. Vương quốc Anh từng thay mặt Liên Hiệp Quốc lập vùng cấm bay (no-fly zone) cũng như gìn giữ hòa bình tại Sierra Leone vào năm 2000 để bảo vệ thường dân khỏi hành vi vi phạm nhân quyền của lực lượng nổi loạn (rebel forces).

Vì sao kép Thành Được lưu diễn rồi bỏ trốn?

Vì sao kép Thành Được lưu diễn rồi bỏ trốn?

Bởi  AdminTD

 Mai Bá Kiếm

18-3-2021

Năm 1984, Thành Được lưu diễn ở Đức rồi trốn ở lại. Lúc đó, báo chí lên án Thành Được “phản bội tổ quốc”, được cách mạng lưu dung, nhưng không phục vụ đất nước.

Thật là oan, là “ông hoàng cải lương” nên Thành Được đã thấy trước sân khấu cải lương sẽ rã gánh, vì cả nước là một sân khấu lớn, với gần trăm triệu diễn viên trong đủ vai từ lãnh đạo đến quần chúng.

Đại hội, hiệp thương, thi đua, phong trào, nghị trường, phiên tòa… đều là sân khấu đa cấp diễn các tuồng được viết sẵn.

Chưa kể, chính khách, đại biểu quốc hội, nhà văn, nhà thơ, nhà báo đều thành diễn viên, tạo thành NETWORK CẢI LƯƠNG thì làm sao Thành Được chịu nổi?

Ông sống ở Đức bằng nghề nhà hàng, rồi qua Mỹ sang lại một nhà hàng làm chủ! Thành Được bỏ nghề do biết nhìn xa.

“SÂN KHẤU TOÀN CẦU HÓA VÕ HOÀNG YÊN”

Thời trước, đoàn hát phải thuê rạp, hợp đồng với soạn giả, nuôi đạo diễn và 12 đào kép chính – phụ. Một tuồng phân thành 2 màn, 4 cảnh. Cốt truyện xoay quanh 12 nhân vật, tập diễn thuần thục mới ra mắt tuồng mới. Vậy mà, bọn ký giả kịch trường còn chê lên, trách xuống, vì đoàn hát không có tiền thuê viết bài.

Thời nay, “sân khấu toàn cầu hóa” Võ Hoàng Yên có diễn viên là chính nó, trong vai thần y, diễn duy nhất vở “Chữa bệnh câm điếc bại liệt” trong suốt 12 năm, được vô số khán giả hâm mộ.

Võ Hoàng Yên thuê vô số diễn viên thời vụ, ngoài đào kép chánh là: cha mẹ ruột, cha mẹ vợ, anh em ruột, anh em vợ, vợ và em rễ đóng vai “thân nhân mang bệnh nhân” đến thầy chữa, rồi họ khóc gào lên “ôi chồng, vợ, con tôi hết bệnh rồi”. Vô số màn như vậy được quay clip phát Youtube.

Câm là hậu quả của điếc bẩm sinh, vì nó không nghe được tiếng người thân để phát âm đúng, nhưng miệng nó vẫn phát ra âm thanh (mù bẩm sinh nhờ nghe mà nói được). Khi Yên bấm lưỡi kéo ra, đứa trẻ đau quá ú ớ “ma…ma”. Thay vì diễn nghĩa đứa trẻ chửi “má thầy”, thì thân nhân thầy Yên kêu lên trong clip “trời ơi con tôi kêu “má” được rồi” và quỳ lạy thầy Yên.

Nếu Paul Joseph Goebbels – Bộ trưởng Bộ Giác ngộ quần chúng và Tuyên truyền của Đức Quốc xã còn sống chắc sẽ bái thầy Yên làm sư tổ, bởi vì Yên không có lính phát xít đe dọa cho dân sợ, chỉ dùng đám đông hoan hô mà mọi người tin như sấm.

Public Relations Network của Võ Hoàng Yên đã toàn cầu hóa. Ngày 15/10/2014, Yên sang California chữa bệnh tại chùa Từ Tâm tại Morgan Hill. Mấy chục Việt kiều ôm hoa cúi người dâng lên thầy Yên tại phi trường, còn bệnh nhân đến chùa Từ Tâm hôm trước để xếp hàng.

Tưởng Việt kiều tiếp xúc với nền y học nhất thế giới thì không tin trò “lang băm”. Ai dè, các nhà báo Vịt như Đoàn Trọng hay Đài SBTN hoặc thị trưởng Tạ Đức Trí – chủ bút nguyệt san Viet Salon – chuyên đề nails cũng đua nhau phỏng vấn “thần y”.

Yên bay sang Canada, cũng hàng chục Việt kiều ra đón dâng hoa tại phi trường. Rồi, Yên đi Úc, Nga, Đan Mạch cũng được đón tiếp hoành tráng và bơm xịt lên mây.

Ở trong nước, như tôi viết trong tút trước, lãnh đạo tỉnh, sở Y tế và phòng Y tế ở: Bình Phước, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Bình Thuận đều là diễn viên trong vai “cầu chứng cho nhãn hiệu Võ Hoàng Yên”.

Chưa hết, ký giả kịch trường ngoại và nội đều 100% ca tụng vở Thần Y thành hội chứng đám đông. Làm sao cải lương truyền thống của ông hoàng Thành Được không rã gánh?

LIÊN DOANH VỚI “SÂN KHẤU DŨNG LÒ VÔI”

Dù bà Nguyễn Phương Hằng và ông Dũng lò vôi cho rằng xuất phát từ thành tâm và thiện ý mà ông bà mới bị thần y lừa 220 tỷ đồng. Nhưng nghe ông bà giải thích trong các clip khi đối chất với ông Yên và khi họp báo, tôi thấy ông Dũng – bà Hằng đã hợp tác với ông Yên có tính toán và chọn lọc.

Viết đến đây, tôi liên tưởng đến sư cô THÍCH NỮ LIÊN THANH, hồi bé bị lạc trong chiến tranh, được nhà chùa nuôi ăn học, tốt nghiệp Đại học Y dược sau đó học lên tiến sĩ, cử nhân Sử học Phật giáo và trung cấp Phật học. “Tiến sĩ bác sĩ sư cô” đã bỏ Khoa tim mạch BV Chợ Rẫy về mở Phòng khám Đa khoa từ thiện Long Bửu tại chùa Long Bửu.

BS Thích Nữ Liên Thanh mặc áo nâu sòng bên trong, blouse trắng bên ngoài, y đức và đạo hạnh sáng ngời.

Chùa Long Bửu gần Khu du lịch Đại Nam, nhưng ông Dũng không hợp tác với BS chính hiệu chân tu mà chọn “thần y” dỏm núp bóng chùa.

Ông Dũng, bà Hằng hợp tác ông Yên dù không MƯU LỢI thì cũng CẦU DANH!

Tra Google, THÍCH NỮ LIÊN THANH cho ra 138.000 kết quả, còn VÕ HOÀNG YÊN cho 49.500.000 kết quả. Bác sĩ ni cô không có Global Public Relations Network (Mạng PR toàn cầu) như “thần y”.

Ông Dũng – Bà Hằng cho quý tử của họ làm con nuôi Yên để sau này nối nghiệp Thần y và có thể thành Đạo y! Hai bên không còn là đối tác dân sự mà là quan hệ gia đình. Khi bà Hằng dọa thưa công an, “thần y” đến mộ ba bà Hằng quỳ lạy và tự quay clip gửi cho bà Hằng. Thằng Yên diễn cỡ đó, Thành Được không bỏ nghề sao được?

Đối chất với Yên, bà Hằng khẳng định Yên phải trả 220 tỷ đông đã lừa, dù Yên trả bà cũng không rút đơn tố cáo.

Hôm họp báo, bà Hằng tuyên bố sẽ không nhận lại hơn 200 tỷ đồng đã chuyển cho Yên, để Yên lấy số tiền đó trả lại các bệnh nhân bị Yên lừa.

Đây là hợp đồng (miệng) có điều kiện: nên Yên không nợ bà Hằng nữa, nhưng Yên phải làm đúng điều kiện “trả cho bệnh nhân”. Bà Hằng nhường vai “bị hại” cho bệnh nhân, nên Yên không thể mắc tội lừa.

Thấy tuồng hát ở Sân khấu Đại Nam tới hồi cao trào, từ Hà Nội Trần Đăng Khoa bay vào, nhảy lên sân khấu đóng “vai nịnh đầm”. Thần đồng thơ thành “thờ đồng thân” Nguyễn Phương Hằng.

Trần Đăng Khoa vô vọng cổ: “Xin công nương đừng phủi tay với hai trăm tỷ, mà hãy nghe Khoa đây cạn tỏ đôi… nhời!”.

Soạn giả Viễn Châu mất rồi, xin nhờ Thành Được phổ vọng cổ phát biểu sau đây của Trần Đăng Khoa để ca đỡ ghiền:

“Hơn 200 tỷ không phải là khoản tiền nhỏ, tôi rất e ngại rằng sự hảo tâm của anh chị sẽ bị lợi dụng, ‘từ chỗ hà ra chỗ hổng’. Cho nên tôi thiết tha mong anh Dũng chị Hằng hãy đi đến cùng vụ việc, giám sát kỹ để cho số tiền hơn 200 tỷ đến được với các nạn nhân mà đã bị ông Yên lừa”.

Xin lỗi chịu đ*o nổi tuồng đời bom tấn với đào kép đông như quân Nguyên!

P/S: Hồi trước có hai tuồng cải lương: “Áo cưới trước cổng chùa” của soạn giả Kiên Giang và “Máu nhuộm sân chùa” của soạn giả Yên Lang, bây giờ nên đặt tên tuồng này là gì?

Lời Tỏ Tình

Lời Tỏ Tình

Phạm Thanh Châu

Tác giả sinh quán tại Hội An, Quảng Nam, tốt nghiệp Đốc Sự Học Viện Quốc Gia Hành Chánh Việt Nam Cộng Hoà, hiện là cư dân Virginia. Nhà văn Phạm Thành Châu đã cộng tác với các báo Văn, Thế Kỷ 21 và có ba tập truyện ngắn đã xuất bản. Nhân vật trong truyện của anh thật tuyệt vời! Họ chung tình quá sức. Nhà văn, nhà biên khảo Võ Phiến khi đọc truyện của Phạm Thành Châu đã nhận xét như trên. Sau đây là một truyện ngắn mới của ông.

***

Sau khi chiếm được nam Việt Nam, năm 1975, Cộng Sản miền Bắc lùa số lớn công chức, quân nhân, đảng viên các đảng phái quốc gia, các nhà tu hành của các tôn giáo miền Nam, ra Bắc “khổ sai biệt xứ”. Liên Xô có Xi-bê-ri thì Việt Nam có vùng núi non Tây Bắc khắc nghiệt, tuy không lạnh bằng Xi-bê-ri nhưng cũng đủ cho tù chết dần. Chết vì lạnh, vì đói, vì lao động kiệt sức và vì bịnh mà không có thuốc chữa.

Thông thường, tù phải tự đốn cây, cắt tranh làm lán cho mình ở, phải phá rừng, làm rẫy trồng trọt khoai củ nuôi thân. Nhà nước Cộng Sản không phải tốn phí nuôi tù cải tạo. Ban ngày tù vào rừng lao động, chiều về, vào lán, cán bộ coi tù khóa cửa lại, sáng hôm sau, mở cửa cho tù đi lao động tiếp.

Mấy năm đầu, tù chết quá nhiều nên chính quyền Cộng Sản Việt Nam cho thân nhân tù được gửi thuốc, áo quần (giới hạn) bằng đường bưu điện, về sau được thăm nuôi, nghĩa là được gặp mặt tù và tiếp tế lương thực, mùng mền, thuốc men…giúp tù chịu đựng, tiếp tục khai phá núi rừng và chết chậm hơn.

Trong chuyện nầy, tôi không kể về những sinh hoạt trong nhà tù mà kể về một anh bạn tù nằm cạnh tôi.

Anh Hùng, (nằm cạnh tôi) là người ít nói nhưng thường quan tâm đến người khác. Buổi tối, vào lán, thấy ai có vẻ trầm tư, suy nghĩ, là anh sà đến, nói huyên thiên những chuyện trên trời dưới đất, chuyện nào cũng khiến người nghe bật cười. Thế là người bạn đó bớt buồn. Khi quay về, anh bảo tôi

– Khá rồi! Lo buồn làm mình suy sụp nhanh nhất. Nhanh hơn cả bịnh hoạn. Chỉ cần mất ngủ vài ba đêm là không đủ sức gượng dậy.

Ai cũng biết điều đó, nhưng rất khó vượt qua, nhất là những người không được thăm nuôi, thậm chí không nhận được thư của thân nhân gửi vào. Họ được gọi là “con bà xơ” (nữ tu), ý nói là con hoang trong trại mồ côi do các bà xơ (soeurs) nuôi dưỡng. Các tù nhân con bà xơ nầy, mỗi khi thấy người nào ra thăm thân nhân, đem đồ tiếp tế vào là họ tránh chỗ khác, tìm những người cùng hoàn cảnh (không có thăm nuôi) mà chuyện trò, ăn mấy củ khoai, củ sắn với nhau. Được tặng thức ăn (thăm nuôi) họ có thể nhận một lần, lần sau thì từ chối.

– Xin cám ơn anh, tôi nhận thì không có gì tặng lại. Anh thông cảm cho tôi. Xin giữ lấy.

Trong tù, chỉ nghĩ đến miếng thịt, cây kẹo cũng đủ chảy nước miếng, vì cơ thể quá cần, nhưng nhận chút thực phẩm của bạn cho, lấy gì trả lại?

Tôi với anh Hùng, may mắn, được vợ thăm nuôi, dù cả năm chỉ được một lần và chỉ được một xách nhỏ. Một gói đường tán đen, gói cá khô, ít đậu và gạo, ít thuốc men, chỉ vậy thôi, vì tiền xe cộ đi hàng nghìn cây số (từ miền Nam ra núi rừng tây bắc), ăn uống dọc đường…hết cả! Chúng tôi nghèo quá, nhưng vợ chồng gặp mặt nhau là may rồi. Tôi mừng, nhưng anh Hùng lại mừng hơn. Lần thăm nuôi nào anh cũng bảo.

– Đây là lần chót!

Thế nên, mỗi khi được gọi tên ra gặp thân nhân thì anh ngạc nhiên.

– Ai thăm tôi? Bà cụ thì quá yếu, không đi nổi!

Tôi cười bảo.

– Không phải vợ thì ai vào đây?

Theo vợ tôi kể, trong một lá thư gửi cho tôi, chỉ một lần vợ tôi cùng đi thăm nuôi với vợ anh Hùng mà hai người thành bạn thân. Cả hai đều ở trong một con hẻm vùng Đa Kao lại có chồng là bạn nằm cạnh nhau trong tù, cùng hoàn cảnh nên hai người đàn bà thương nhau, thường giúp đỡ nhau trong việc buôn bán mưu sinh.

Vì thấy anh vui hơi quá đáng mỗi khi được thăm nuôi nên tôi tò mò, cố tìm hiểu vì sao? Đúng ra, trong tù không nên biết chuyện gia đình người khác, nếu người đó không tự ý kể ra. Tôi không nhớ mình đã gợi ý cách nào khiến cho anh Hùng kể chuyện vợ con của anh.

Sau đây là câu chuyện theo lời Anh kể.

. . .

– Tôi là con trai độc nhất của bà cụ tôi. Đúng hơn, tôi là độc đinh của cả giòng họ nhà tôi. Nếu mẹ tôi không sinh ra tôi thì coi như họ Hoàng Đắc của tôi tuyệt tự. Mẹ tôi săn sóc, chăm lo cho tôi, vì tình thương mà cũng vì trách nhiệm bên nhà chồng giao phó, là phải có người thừa tự, lo nhang khói, cúng giỗ để vong linh ông bà, tổ tiên khỏi bơ vơ, thành ma đói, ma khát, vất vưỡng trong cõi u minh. Thế nên, khi tôi vừa xong tú tài là mẹ tôi lo tìm vợ cho tôi, vì bà sợ tôi vào quân đội, không biết chết lúc nào, sẽ không kịp có con trai để nối dõi tông đường. Tôi thì không để ý đến chuyện đó.

Ngay trong thời đi học, bạn bè yêu cô nầy, cô kia, tôi chỉ biết bài vở và các môn thể thao như đá banh, học võ…

Đến khi thi xong tú tài một, tôi tình nguyện đi sĩ quan Thủ Đức. Mẹ tôi, thời trẻ là đảng viên một đảng phái Quốc Gia, thông hiểu tình hình đất nước, bà cụ bảo tôi “Khi tổ quốc lâm nguy, làm con dân phải có bổn phận cùng với mọi người bảo vệ đất nước, bảo vệ đồng bào. Những tên trốn lính, sống chui, sống nhủi chỉ thêm nhục. Nhưng con phải lấy vợ, sinh con trai để sau nầy lo nhang khói cho ông bà, tổ tiên”. Mẹ tôi hỏi tôi có để ý cô nào chưa?

Tôi thưa rằng “Mẹ xem cô nào vừa ý mẹ thì cưới cho con chứ con không có người yêu”. Mẹ tôi đến nhà các bà bạn, ngắm nghía cô nầy, dọ hỏi cô kia, cuối cùng bà chọn được một cô. Mẹ tôi nhờ người mai mối, gia đình cô ta đồng ý ngay. Để tôi được gặp cô gái, mẹ tôi mua một ít trái cây, sai tôi đem đến biếu gia đình cô ta. Hình như cô gái không biết có sự xếp đặt giữa hai gia đình nên cô ta tiếp tôi rất hồn nhiên, vô tư như với bạn bè. Tôi thấy cô cũng xinh, hiền lành, vui vẻ nên về thưa với mẹ tôi rằng “Mẹ thấy vừa ý thì con xin vâng lời”. Quả thật, cô gái hoàn toàn không biết gì về việc cô sẽ là vợ tôi. Trước ngày tôi vào quân trường, hai gia đình muốn tổ chức lễ hỏi, cưới luôn một lần. Lúc đó, cô gái mới được thông báo. Cô ta phản đối quyết liệt. Hóa ra cô đã có người yêu.

Sau nầy tôi mới biết, người cô yêu là một nhà thơ. Anh chàng có dị tật ở chân nên anh ta khỏi phải đi lính. Nhờ thế anh ta yên tâm vui chơi và ăn bám gia đình. Hết làm thơ đăng báo tán tỉnh cô nầy, cô kia thì la cà các quán cà phê, quán nhậu. Con gái mới lớn, cô nào cũng mơ mộng. Anh chàng thi sĩ nầy làm thơ ca tụng, tỏ tình với cô vợ tương lai của tôi thì chẳng khác gì bỏ bùa cô ta. Cô ta yêu mê mệt chàng thi sĩ, quyết cùng chàng “Một túp lều tranh hai quả tim vàng”. Bất ngờ cô bị ép phải lấy tôi làm chồng. Cô tuyên bố thẳng thừng với cha mẹ rằng cô ta sẽ trốn đi với chàng thi sĩ, nếu không trốn được mà bị ép duyên, cô ta sẽ uống thuốc rầy tự tử. Gia đình cô ta hình như có xích mích gì đó với gia đình “nhà thơ” nên không muốn làm sui gia với họ.

Thế nên bà mẹ mới bảo với con gái rằng “Mầy muốn trốn theo trai thì cứ trốn đi, nhưng không được theo thằng chó chết của nhà đó. Nếu mầy theo nó, thì nhớ ba ngày sau quay về dự đám ma tao. Còn mầy muốn tự tử thì tao mua cho mầy chai thuốc rầy, nhưng uống nửa chai thôi, để một nửa cho tao. Nuôi mầy khôn lớn để mầy làm nhục cha mẹ…” Lời tuyên bố đó khiến cô gái không còn lựa chọn nào khác. Thế nên, trước ngày cưới, cô ta hẹn tôi ra một quán nước.

Sáng đó, chúng tôi gặp nhau. Tôi ngồi đối diện. Quán vắng người nên cô ta chẳng cần giữ lời, tấn công tôi ngay “Tôi và anh không hề quen biết nhau, không thù oán nhau, tại sao anh cố tình phá vỡ tình yêu của chúng tôi? Anh có biết, vợ chồng không có tình yêu mà sống với nhau là sống trong địa ngục không?”

Tôi trả lời “Đây là chuyện hai gia đình với nhau. Cô không bằng lòng lấy tôi thì cứ nói thẳng với ba mẹ cô hoặc nói với mẹ tôi. Tôi không có ý kiến. Tôi không cần vợ, nhưng mẹ tôi cần có cháu nội trai để nối dõi tông đường. Tôi sẽ vào quân đội.

Chiến tranh rất ác liệt. Đời lính chiến, hành quân liên miên, cưới cô về, được bao nhiêu lần chúng ta gặp nhau? Để có con, còn khó hơn. Và có thể một ngày, một tuần, một tháng sau đó, tôi tử trận. Cô sẽ thành quả phụ. Nhanh lắm. Tôi nói sự thật để cô đủ lý do từ chối việc cầu hôn của tôi” Cô yên lặng lắng nghe. Tôi cũng suy nghĩ, lựa lời một lúc mới nói tiếp “Nếu bị ép duyên, và nếu không còn con đường nào khác để làm vui lòng cha mẹ cô, cô nên lấy tôi. Vì sau khi ra trường sĩ quan, tôi sẽ chọn binh chủng tác chiến, tôi sẽ leo lên bàn thờ nhanh lắm. Khi tôi chết rồi, gia đình cô không còn quyền cấm cô về sống với người cô yêu. Mà dù tôi chưa tử trận, khó khăn của tôi vẫn là phải có con trai cho mẹ tôi an tâm. Tôi đề nghị thế nầy. Sau khi là vợ tôi, dĩ nhiên là tôi đi hành quân, đâu có về nhà thường xuyên được…

Cô cứ hẹn hò với người yêu, miễn sao đừng cho thiên hạ biết, khi nào có bầu, cô ra đơn vị tìm tôi rồi quay về nhà. Mục đích để hợp thức hóa đứa bé trong bụng cô. Tôi sẽ không ghen tương gì mà mẹ tôi lại mừng vì đã làm tròn bổn phận đối với gia tộc tôi…” Chưa nghe hết câu, cô chồm qua bàn, thẳng tay tát tôi một tát tai, nảy đom đóm mắt “Tôi cấm anh không được nhục mạ tôi theo lối nói vô học đó. Anh xem tôi là hạng người gì?..” Rồi cô ôm mặt, gục xuống bàn khóc nức nở. Cô khóc to, như rống lên rồi lấy khăn bịt miệng mình lại để tự kềm chế. Tôi kinh hoàng, vội qua ngồi cạnh cô, lắp bắp “Tôi xin lỗi! Tôi xin lỗi! Cô tha thứ cho tôi” Tôi định choàng tay qua vai cô để vỗ về thì cô xô mạnh tôi ra, khiến tôi suýt ngã ngữa. Cô cứ cúi đầu thút thít mãi.

Tôi chán nản, nghĩ rằng, tốt nhất về thưa với mẹ tôi rút lui vụ cưới hỏi nầy để khỏi rắc rối, có khi gây oán thù với cô ta và cả người tình của cô nữa.

Tôi đứng lên, đến quày trả tiền. Cô chủ quán hỏi tôi “Có chuyện gì vậy?” Tôi lắc đầu, quay lại bàn nước, ngồi cạnh cô để tránh tia mắt cô đang nhìn đăm đăm phía trước như người xuất hồn. Tôi nói “Tôi đã hiểu cô, đã biết mối tình của cô. Xin cô yên tâm. Tôi sẽ báo cho mẹ tôi hủy bỏ vụ nầy. Cô được tự do”. Tôi định đứng lên thì cô ra dấu tôi ngồi xuống. Cô nói mà không nhìn tôi “Anh chẳng có lỗi gì trong chuyện nầy. Gia đình tôi nhất quyết gả tôi cho người khác. Ai cũng được, ngoại trừ người tôi yêu” Rồi cô quay nhìn tôi, mắt long lên, môi mím lại “Tôi đồng ý lấy anh.

Nhưng tôi cho anh biết. Anh chiếm đoạt được trinh tiết của tôi, chiếm đoạt được thân xác tôi nhưng không thể chiếm đoạt được trái tim tôi. Đừng hi vọng tôi sẽ thương yêu anh. Tôi không thù anh, nhưng tôi không thể yêu thương ai ngoài người tôi yêu. Tôi cũng cho anh biết trước rằng, về làm vợ anh, dù đến mãn đời, tôi thề sẽ không bao giờ nói tiếng yêu thương với anh, không bao giờ hôn anh. Mong anh cũng làm như thế” Tôi giận sôi gan, nhưng cố bình tĩnh “Tôi sẽ giữ lời. Tôi thề sẽ không nói thương yêu với cô, không hôn cô, vì tôi biết chúng ta chẳng hề yêu thương nhau. Tôi cũng yêu cầu cô nhớ lời thề đó. Sau nầy, nếu tôi tử trận, xin cô đừng giả vờ khóc, vì tôi biết đó là ngày vui của cô, ngày cô được giải thoát để về với người cô yêu. Không cưới cô thì mẹ tôi cũng tìm một cô khác cho tôi. Từ hôm nay cho đến tuần sau, cô có thể báo cho mẹ tôi biết quyết định của cô. Mà dù đã là vợ tôi, cô vẫn tự do. Cô có thể gặp người yêu của cô bất cứ lúc nào, chỉ mong cô cố gắng cho mẹ tôi một đứa cháu trai. Xin cô giúp tôi”

Kể đến đấy anh Hùng hỏi tôi “Nếu vào trường hợp tôi, anh sẽ nghĩ sao? Chúng tôi có ba mặt con với nhau, nhưng không bao giờ tôi nghĩ rằng cô ta còn lưu lại trong gia đình tôi cho đến ngày tôi vô tù như hôm nay” Anh quay ra sau, lục trong xách nhỏ, lấy ra mấy tấm hình, trao cho tôi “Anh nhìn xem, mấy đứa nhỏ nầy giống ai?” Tôi nhìn và nói ngay “Giống anh chứ giống ai? Con anh phải không? Hai thằng nhỏ nầy là anh em sinh đôi?”

Anh trầm tư “Để tôi dài dòng một chút. Trước khi vào quân trường, tôi cưới vợ. Khi còn đang thụ huấn trong Thủ Đức, được tin vợ sinh, tôi về phép, vào nhà bảo sanh. Vợ tôi sinh con gái. Tôi ôm đứa bé vào lòng. Lúc đó, tôi không thắc mắc, ai là tác giả của sinh vật bé bỏng đó, nhưng không hiểu sao, tôi thương nó quá. Tôi ngắm nghía nó, hôn nó, thì thầm với nó mà quên cả chung quanh. Lúc đặt con xuống bên cạnh vợ, cô ta nắm lấy bàn tay tôi, nhìn tôi, nước mắt ứa ra. Cô ta khóc. Tôi hiểu ý nên nói “Xin lỗi! Nhưng tôi thương nó. Lần sau, cố giúp tôi một thằng con trai…”

Tôi ngắt lời anh “Bộ hai người xưng tôi chứ không anh em gì cả sao?” “Cô thì xưng em với tôi, còn tôi, khi chán nản hoặc chỉ có hai người, tôi xưng “tôi” và nói trống không. Khi có người thứ ba thì tôi “anh, em” như vợ chồng bình thường… Sau đó, cô sinh đôi, hai thằng con trai. Khi tôi đi tù thì hai thằng con được gần hai tuổi.

– Hai anh chị thề thốt với nhau rằng sẽ không hôn, không nói tiếng yêu thương với nhau, rồi có giữ lời không?

– Tôi có vợ mà tâm lý không giống những ông khác. Tôi chỉ làm bổn phận. Tôi đâu cần tình yêu mới làm chuyện vợ chồng được. Khi cô ta vừa sinh hai thằng con trai, tôi dự định, hễ hai đứa nhỏ cứng cáp thì tôi sẽ nói với cô rằng muốn li dị thì tôi ký tên ngay để cô được tự do, nhưng tôi chưa kịp nói thì đi tù. Thế nên, mỗi khi tôi được gọi ra thăm nuôi, anh thường nghe tôi tự hỏi “Ai thăm nuôi mình?” vì tôi cứ đinh ninh là cô ta đã bỏ tôi để về với người tình, để khỏi nuôi mấy đứa nhỏ, khỏi nuôi mẹ tôi, khỏi thăm nuôi tôi.

– Anh có thể nói thật tình cảm của anh đối với vợ anh cho tôi nghe được không? Anh có thương vợ không?

Anh trầm ngâm.

– Chỉ sau nầy, khi tôi vào tù, cô ta không bỏ chúng tôi, lại phải vất vả, bương chải để nuôi sống bao nhiêu người trong gia đình tôi, tôi mới nghĩ rằng cô là vợ tôi. Nếu chúng tôi có yêu nhau trước đó thì sự hi sinh của cô ta còn có chút ý nghĩa. Đằng nầy…Không ai có thể bắt cô phải cưu mang chúng tôi. Đó là sự bất công. Trước kia, tôi không màng đến ý nghĩ, tình cảm của vợ tôi. Chúng tôi ít nói chuyện với nhau. Đúng ra là không có dịp. Tôi hành quân liên miên, vài ba tháng về phép một lần. Hai mươi bốn giờ phép mà gần tối mới về đến nhà, sáng sớm lại phải ra đơn vị. Vả lại, tôi thương các con tôi lắm. Vừa bước vô nhà, chào mẹ tôi xong là tôi quấn quít với con, hôn hít đứa nầy, bồng ẵm đứa kia, đưa chúng ra đường mua quà, kẹo bánh.

Lần nào về phép tôi cũng ôm con mà cứ nghĩ rằng, đây là lần cuối mình được gần các con. Ra trận, đạn như vãi trấu, bạn bè, đồng đội tôi ngã xuống ngay bên cạnh. Trước sau gì cũng đến lượt mình. Còn vợ tôi, tôi cảm tưởng như giữa hai đứa có một bức tường vô hình ngăn cách, và cô ta, sinh con xong, bồng nó, đưa qua bức tường vô hình đó, trao cho tôi. Chúng là con tôi. Vì ám ảnh đó mà mọi sự săn sóc, lo lắng của cô dành cho tôi, tôi tưởng như của một cô bạn gái cùng lớp giúp bạn trong một buổi đi chơi chung ngoài trời, vậy thôi. Mỗi khi tôi về phép, thấy tôi bước vào nhà là cô vội lo nước nôi, khăn tắm, áo quần để sẵn đó rồi chạy ra chợ mua thức ăn, chạy về, chui vào bếp, nấu nướng, dọn lên. Ăn xong, lại dọn rửa, rồi giặt giũ áo quần cho tôi, phơi phóng, sắp xếp, chuẩn bị mọi thứ trong xách để sáng sớm là tôi chỉ việc đeo lên vai, về đơn vị.

Cô xoay tròn như chong chóng. Tôi thì tắm con, đút cơm cho chúng, rồi chơi đùa, kể chuyện cho chúng nghe, ru chúng ngủ, không màng đến vợ, không nhìn đến mẹ. Người ngoài nhìn vô, đó là một gia đình bình thường. Mẹ tôi thì vui lắm, cứ khen con dâu ngoan hiền. Bà cụ không biết dĩ vãng của cô, cũng không thấy những đợt sóng ngầm đang kiên trì, thì thầm gọi cô thoát ly.

Bây giờ, ở tù kiểu nầy thì chỉ có chết hoặc mục xương trong tù vì chẳng ai biết ngày về. Cái chết đối với thằng lính chiến như tôi thì sá gì, nhưng tôi thương các con quá, chỉ mong được về để lo cho chúng và săn sóc vợ tôi để đền đáp bao khổ nhọc mà cô ta đã phải chịu đựng.

Từ khi nghe anh Hùng kể chuyện gia đình, tôi cũng đâm ra hồi hộp mỗi khi nghe tên anh ta được gọi ra thăm nuôi. Tôi tưởng tượng mẹ anh Hùng hoặc bà cụ nhờ một người nào đó gặp anh và báo tin rằng vợ anh đã bỏ đi lấy chồng rồi. Nhưng lần nào cũng là chị ta. Lần đầu được giới thiệu là vợ anh Hùng, tôi thấy chị ta, tuy đen và ốm, xác xơ vì sinh kế nhưng còn phảng phất những nét thanh tú và quí phái. Chị ta, thời trẻ, ắt đã làm bao trái tim bọn con trai xao xuyến.

Mỗi lần ra thăm nuôi, anh Hùng, tôi và vài người tù ngồi một bên chiếc bàn dài, đối diện (bên kia bàn) là thân nhân của tù. Đầu bàn có một công an ngồi theo dõi, lắng nghe tù và thân nhân chuyện trò. Tù chỉ có mười lăm phút gặp người thân nên ai cũng cố nói thật nhiều, hỏi thật nhiều những điều cần thiết. Tôi cũng gấp rút chuyện trò với vợ nhưng cũng để ý xem vợ chồng anh Hùng có gì khác thường không? Hình như anh Hùng không nhìn vợ mà hơi cúi xuống vẻ đắn đo, suy nghĩ. Trái lại chị vợ ngồi nhìn chồng đăm đăm như thôi miên anh ta.

Thông thường, trong lúc gặp gỡ, người vợ để bàn tay bên hông của giỏ quà thăm nuôi, phía khuất tia nhìn của công an, người chồng biết ý sẽ để bàn tay mình lên bàn tay vợ, bóp nhẹ. Bao nhiêu năm xa cách, chỉ cần chạm nhẹ hai bàn tay với nhau cũng đủ cho vợ chồng ngây ngất, rung động cả thể xác và tâm hồn. Giây phút đó quí giá hơn bao nhiêu lần ôm ấp nhau mà vợ chồng đã trải qua. Vợ anh Hùng cũng để tay bên giỏ thăm nuôi. Anh Hùng chỉ đụng rất nhẹ vào tay vợ, như vô tình rồi rút tay về. Chị ta vẫn để yên bàn tay và chờ đợi. Anh Hùng lại đụng nhẹ tay vợ lần nữa, rồi lại rút về. Cả hai yên lặng. Rồi hình như anh nói nho nhỏ gì đó với vợ.

Thời gian thăm gặp qua rất nhanh. Lúc chia tay, anh Hùng xách gói quà thăm nuôi đi thẳng mà không ngoái nhìn người thân như các tù nhân khác.

Chúng tôi ở tù trên mười năm nhưng chỉ ở chung lán trại hơn ba năm, sau đó bị phân tán đi các trại tù khác. Dù vậy, tình bạn giữa chúng tôi đã như ruột thịt. Bảy năm sau, chúng tôi mới gặp lại nhau ở trại tù Z 30, Xuân Lộc. Sau đó, chúng tôi cùng ra tù một lần, vào năm 1986.

Chúng tôi, hai thằng tù trung niên mà trông đã hom hem. Tóc đã có sợi bạc, chân tay như những khúc xương khô. Vợ tôi và vợ anh Hùng, sau mười năm vất vả, cũng đã là hai chị nạ dòng đen thui, đầu tóc, áo quần tả tơi vì suốt ngày lê lết đầu đường xó chợ. Hai người mua đi bán lại từng đôi giày cũ, áo quần cũ, răng vàng bạc vụn, đồng hồ hư, radio hư…Nghĩa là ai bán gì cũng mua, ai mua gì cũng có.

Thời bấy giờ, tù về xã hội chỉ làm được các nghề chân tay như đạp xích lô, bán vé số, vá xe đạp…Tôi và anh Hùng, mỗi người một chiếc bàn con, mỗi cạnh hai gang tay, đặt bên lề đường, ngồi bán vé số, kiếm tiền phụ với vợ mua gạo. Lúc đó vợ tôi và vợ anh Hùng mới lấy lại chút bình tĩnh, không còn lo thất sắc mỗi ngày vì lũ con đói.

Đầu thập niên 1990, có chương trình tù cải tạo được đi Mỹ. Gia đình tôi và gia đình anh Hùng đến cùng tiểu bang Virginia nhưng khác thành phố, cách nhau hơn hai giờ lái xe. Bước chân đến xứ người với hai bàn tay trắng, chúng tôi phải làm gấp đôi người khác, vì lao động chân tay, lương hướng chẳng bao nhiêu.

Sáng sớm đã ra khỏi nhà, khuya mới về. Chúng tôi chỉ gọi điện thoại trò chuyện, hỏi han nhau mà thôi. Tôi không còn để ý đến chuyện xưa của vợ chồng anh Hùng, cũng không bao giờ kể cho vợ tôi nghe. Đàn bà bép xép, một chuyện kỳ lạ như thế thì không bà nào để yên trong bụng được.

Hơn bảy năm ở xứ Mỹ, vài đứa con của gia đình tôi và gia đình anh Hùng đã tốt nghiệp đại học, có việc làm, phụ với cha mẹ lo cho các em nên chúng tôi đã bớt giờ làm việc, có dịp thăm viếng nhau. Bao nhiêu năm mới gặp lại, thấy anh Hùng khỏe mạnh, hồng hào hơn trước, chị vợ cũng mập tròn, mặt mũi tươi rói, gặp lại vợ tôi như gặp cố nhân, hai người tíu tít hỏi han, chuyện trò vui vẻ. Nơi xứ người bơ vơ nên chúng tôi coi nhau như anh em một nhà.

Đột nhiên, một buổi tối, khoảng mười giờ, điện thoại reo, vợ tôi bắt máy rồi la lên.

– Sao? Chị nói sao? Anh Hùng bị gì mà đưa vô bịnh viện cấp cứu? Chị nói chuyện với ông xã em. Em run quá!

Vợ tôi đưa điện thoại cho tôi.

– A lô! Anh Hùng bị gì vậy chị?

Bên kia đầu giây, giọng vợ anh Hùng hốt hoảng.

– Không hiểu sao. Ăn tối xong ảnh ngồi xem TV. Thình lình, ảnh kêu “Đau đầu quá!” rồi gục xuống bất tỉnh. Em gọi xe cứu thương đến đưa vô bịnh viện. Hiện em đang ở phòng cấp cứu. Ảnh chưa tỉnh. Em rối trí quá! Không biết mình phải làm gì đây?

– Chị báo cho sắp nhỏ biết chưa?

– Dạ rồi. Nhưng đứa gần nhất cũng phải năm giờ lái xe, đứa ở xa, sáng mai mới đi máy bay về.

– Ảnh không sao đâu. Chị bình tỉnh. Đưa vô bịnh viện là yên tâm.Tụi tôi sẽ đến ngay bây giờ. Lên xe, chúng tôi sẽ nói chuyện sau. Nhớ là phải bình tỉnh. Hai giờ nữa chúng tôi sẽ đến bịnh viện.

Ban đêm, xa lộ 95 không đến nỗi kẹt xe. Từ Richmond hướng về thành phố Falls Church, phía bắc tiểu bang, gần hai giờ, chúng tôi đã có mặt tại bịnh viện. Bịnh viện về đêm thật yên tĩnh. Theo sự hướng dẫn của nhân viên trực, chúng tôi đi rất nhẹ dọc hành lang để tìm phòng hồi sức.

Anh Hùng nằm trên giường với đủ thứ dây nhợ, ống trợ thở nối với dàn máy sát tường. Một cái máy điện tâm đồ với lằn sóng xanh chạy đều đều, yếu ớt. Chị Hùng quì bên cạnh, nắm tay chồng, thì thầm.

– Anh cố gắng nghe em nói. Em chỉ nói một câu thôi. Em không nói được cho anh nghe thì em đau khổ suốt đời, ân hận suốt đời. Anh có thương em không? Thương em thì nghe em nói. Nghe anh! Tội nghiệp em mà anh…

Chúng tôi đứng bên cạnh mà chị vẫn không hay biết. Vợ tôi cúi xuống vỗ nhẹ vai chị, chị quay lại, đứng lên, ôm vợ tôi, nước mắt trào ra.

– Ảnh không nghe em nói! Ảnh không biết gì nữa. Sao em ngu quá? Không nói khi ảnh còn khỏe mạnh. Mà thình lình, ảnh bị như vầy…

Chị nói lảm nhảm như người mất trí. Vợ tôi không hiểu gì cả nhưng vẫn vỗ về, nhỏ nhẹ.

– Ảnh không sao đâu. Em biết, nhiều người bị như vậy, sẽ tỉnh lại. Chị đừng lo. Bác sĩ nói sao?

– Bác sĩ nói ảnh bị xuất huyết não, đang chuẩn bị, sẽ mổ ngay. Em sợ, người ta mổ rồi ảnh đi luôn. Em mà không nói được cho ảnh nghe, chắc em chết theo để linh hồn em được gặp ảnh, nói mấy lời…

Vợ tôi lại nhìn tôi, không hiểu chuyện gì quan trọng, khẩn cấp đến độ phải nói ra cho người sắp chết nghe. Đáng ra, chính người bịnh mới cần trăn trối trước khi từ giả cõi đời. Vợ tôi, biết rằng chuyện gia đình người ta, không nên tò mò, chỉ trấn an.

– Sáng mai, mổ xong là ảnh tỉnh dậy, sẽ nghe chị nói. Chị yên tâm. Bình tỉnh mà chuẩn bị tinh thần, cầu xin Trời Phật phù hộ ảnh tai qua nạn khỏi.

Nhưng chị ta như không nghe, cứ lảm nhảm.

– Bao yêu thương, săn sóc ảnh giành cho em, em hiểu, em đón nhận, nhưng sao em ngu quá, không nói cho ảnh biết em yêu thương ảnh…

Vợ tôi ngớ ra, tưởng chị điên thật rồi. Vợ chồng yêu thương nhau, đâu cần phải nói ra mới hiểu? Chỉ mình tôi biết điều đó. Tôi nói với chị ta.

– Xin chị bình tỉnh. Tôi sẽ cố giúp chị xem sao. Tôi với anh Hùng thân thiết còn hơn ruột thịt. Hi vọng, tôi nói ảnh sẽ nghe.

Nhìn điện tâm đồ, thấy những gợn sóng rất yếu ớt, tôi biết, có mổ cũng rất ít hi vọng, nhưng tôi tin, sự sống trong anh ta vẫn còn. Tôi ra dấu cho chị Hùng đến bên cạnh rồi cúi sát tai anh, nói chậm rãi.

– Tôi là Nguyễn văn Chánh, bạn anh đây. Chúng ta ở tù chung, khi còn ở bên Việt Nam, anh còn nhớ không? Anh cố gắng nghe tôi nói, một điều rất quan trọng, sẽ giúp anh yên tâm… Nếu anh nghe được, anh chấp nhận, xin anh chuyển động mi mắt hoặc con ngươi của mắt anh. Vợ anh đang đứng bên anh đây. Vợ anh nói rằng, chị chỉ yêu thương một người duy nhất trong đời là anh mà thôi. Anh có nghe không, có chấp nhận không?

Mọi người im lặng, chăm chú nhìn đôi mắt đang nhắm nghiền của anh Hùng. Đột nhiên, đôi mi của anh Hùng chuyển động như muốn mở ra rồi nhắm lại. Tuy rất nhẹ nhưng mọi người đều thấy rõ. Chị Hùng ôm chồng khóc òa lên. Tin rằng anh Hùng có nghe tiếng khóc của vợ nên một lúc sau tôi mới ra dấu cho chị yên lặng, rồi nói vào tai anh Hùng.

– Bây giờ, vợ anh, chị Hùng sẽ nói cho anh nghe. Chị yêu thương anh từ lúc nào. Anh cố gắng nghe vợ anh nói.

Tôi bước lùi cho chị Hùng quì xuống, cúi sát tai chồng và nói, từng tiếng một.

– Anh Hùng. Anh là chồng em. Em yêu thương chỉ một mình anh. Em yêu thương anh suốt đời. Em yêu thương anh từ ngày đầu, từ đêm đầu, từ giây phút đầu em trở thành vợ anh… Em lạy anh. Đừng giận em nghe anh! Xin anh thương em. Em là vợ anh. Tội nghiệp em. Nghe anh!

Nói đến đó thì nghẹn lời, chị đứng lên lùi lại, hai tay để lên ngực, như sợ chồng điều gì nhưng mắt vẫn không rời đôi mắt chồng. Mọi người nín thở chờ đợi. Rồi đôi con ngươi dưới hai mi mắt nhắm nghiền của anh Hùng chuyển động nhẹ, hướng về phía chị Hùng và dừng lại. Tôi nói với chị.

– Anh Hùng đã hiểu chị, đã chấp nhận lời yêu thương của chị.

Bỗng chị Hùng lảo đảo, níu tay vợ tôi rồi ngã quị xuống, bất tỉnh. Vợ tôi đỡ lấy chị, ngồi bệt xuống sàn, ôm chị vào lòng. Tôi bảo vợ.

-Không sao đâu. Bị xúc động mạnh. Để anh đi gọi y tá…

Thật ra, là chị ấy đã trăn trối với chồng.

Phạm Thành Châu