VÌ SAO SỰ LỪA GẠT CÓ HỆ THỐNG VẪN CỨ MỌC NHƯ NẤM Ở VIỆT NAM?

Van Pham

 VÌ SAO SỰ LỪA GẠT CÓ HỆ THỐNG VẪN CỨ MỌC NHƯ NẤM Ở VIỆT NAM?

Đỗ Ngà

Thông thường sự sáng suốt và trung thực sẽ đi đôi với nhau, và ở thái cực bên kia thì sự ngu muội và gian trá cũng thường song hành với nhau. Xã hội nào đưa sự sáng suốt và tính trung thực thành tính phổ quát cho toàn dân xã hội đó là văn minh. Còn ngược lại, xã hội nào đưa sự ngu dốt và sự gian trá trở thành tính phổ quát thì đó là xã hội mông muội. Sự văn minh không đo bằng thước đó thu nhập đầu người mà nó đo bằng những giá trị như vừa đề cập. Tuy nhiên thực tế cho thấy, thường là quốc gia giàu có thì quốc gia đó là văn minh.

Để có sự sáng suốt thì phải có tri thức, ở đây không phải chỉ là tri thức về chuyên môn. Thứ tri thức về chuyên môn nó là giá trị tạo nên của cải vật chất cho xã hội và dùng để kiếm tiền cho bản thân, nó hoàn toàn không xây dựng nên cái văn minh cho bản thân và đóng góp cho cái văn minh của cả xã hội. Văn minh là nói về vấn đề khác, đó là giá trị tích lũy tạo nên nhân cách con người, trong đó sự sáng suốt là một trong những giá trị nền tảng. Để có sự sáng suốt, điều cốt lõi là con người phải biết chấp nhận khác biệt, biết chấp nhận sự khác biệt mới nhìn vấn đề ở nhiều góc độ khác nhau từ đó có niềm tin vào sự đúng đắn. Biết chấp nhận sự khác biệt là tự trong nhân cách đã hình thành tính bao dung, đấy là một giá trị nền tảng để tạo nên một xã hội nhân bản.

Để có sự trung thực thì con người phải biết tôn trọng sự thật. Nếu lỡ sai lầm thì phải dám thừa nhận. Như vậy nếu ai tập cho bản thân biết thừa nhận sai lầm thì tự trong con người đó cũng hình thành nên sự can đảm. Nếu cả xã hội biết tôn trọng sự thật mà có lòng can đảm thì ắt dân khí của quốc gia sẽ mạnh lên. Dân khí Việt Nam trăm năm vẫn chưa mạnh là dân tộc Việt Nam đang còn thiếu những giá trị như thế.

Sự ngu muội là là tin một cách thái quá vào những điều xằng bậy. Để con người tin vào những điều xằng bậy và cố chấp theo đuổi điều xằng bậy đó thì nền tảng là không biết chấp nhận sự khác biệt. Chỉ biết nghe những lời nói mùi tai rồi tự chấp nhận nó là chân lý (đối với bản thân), và với nền tảng không chịu lắng nghe nên con người ấy trượt theo niềm tin mù quáng một cách kiên định. Không biết tôn trọng chủ nghĩa đa nguyên thì con người không biết nhìn vấn đề ở nhiều góc độ, mà không biết nhìn ở nhiều góc độ thì họ không thể tìm ra sự thật. Nếu toàn xã hội mà theo một khuôn mẫu giáo dục như vậy thì xã hội ấy rất dễ bị dắt mũi bởi những trò lừa gạt, mà đặt biệt là lừa gạt có tính hệ thống thì có thể dắt mũi được toàn xã hội.

Nói đến sự lừa gạt thì sự lừa vĩ đại nhất đó chính là chủ nghĩa cộng sản. Nếu có lí trí thì con người sẽ nhìn ra ngay mục tiêu “làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu” của Karl Marx là chứa mâu thuẫn và từ đó phải biết nó là một ước mơ không tưởng. Tuy nhiên, một mục tiêu mâu thuẫn như thế nó lại nảy nở và trở thành niềm tin mãnh liệt trong những xã hội ngu muội. Đó là nền tảng để bộ máy lừa gạt khổng lồ của ĐCS vận hành trơn tru.

Trong bộ máy nhà nước CS nó chứa 2 thứ quan trọng, đó là bộ phận lừa gạt và bộ phận đe dọa. Bộ phận lừa gạt chính là ban tuyên giáo, bộ Thông tin và truyền thông và nền giáo dục nhồi sọ. Bộ phận đe dọa chính là công an và hệ thống tòa án, chính nó không xem trọng việc thực thi công lý mà xem trọng trách nhiệm bảo vệ đảng, nên thay vì nó bảo vệ dân thì nó lại là hệ thống đe dọa sự an nguy của dân. Có thể nói, nhà nước CS là bộ máy lừa gạt khổng lồ nhất mà nhân loại từng có. Nó chỉ sống được trên nền tảng một xã hội ngu muội để họ dễ dàng dắt mũi toàn dân.

Sự ngu muội của xã hội được ví như là vùng đất tốt, bộ máy lừa gạt của ĐCS được ví như là loại cây đặc thù cho loại đất đó. Với loại đất này, một khi bộ máy lừa gạt của ĐCS sống tốt thì những bộ máy lừa gạt khác cũng mọc lên và sống tốt vậy? Vì chúng cùng sử dụng một loại dinh dưỡng mà? Nếu nói cây lừa gạt CHXHCNVN là cây đại thụ trong vườn thì “Thần y Võ Hoàng Yên và đồng bọn” cũng cùng loại như vậy nhưng là cây con, vì họ cũng hành nghề lừa gạt mà? Nếu nói “Thần Y Võ Hoàng Yên và đồng bọn” sống tốt thì bọn buôn thần bán thánh kiểu “du lịch tâm linh” cũng sống tốt vậy? Vì họ cũng sống bằng trò lừa gạt lòng tin người dân chứ có khác gì nhau?! Đấy là thực tế. Như vậy nhổ “Hoàng Yên” này thì ắt sau này cũng có “Hoàng Yên” khác mọc lên, hay dẹp “Chùa Ba Vàng” thì “Chùa Tam Chúc” cũng mọc lên vậy?! Không bao giờ mảnh đất này hết những trò lừa gạt mang tính hệ thống như vậy, bởi đơn giản mảnh đất ngu muội vẫn còn đó. Cây đại thụ CHXHCNVN còn đó thì những cây cỏ dại như “Võ Hoàng Yên”, “Chùa Tam Chúc”, “Chùa Ban Vàng” sẽ mọc lên ăn hôi phần dinh dưỡng thừa của cây đại thụ này.

Như đã nói, sáng suốt và trung thực là một cặp song hành, nó thuộc về thế giới văn minh; sự ngu muội và gian trá nó cũng là một cặp song hành, nó thuộc về thế giới mông muội. Ở Việt Nam, với ngu muội là nền tảng thì không bao giờ dẹp được sự gian trá cả. Chuyện lừa đảo dựa trên sự ngu muội nó không bao giờ hết, trừ khi “chế độ lừa gạt vĩ đại CHXHCNVN” không còn./.

-Đỗ Ngà-

KÝ ỨC THÁNG TƯ ĐEN…

 

KÝ ỨC THÁNG TƯ ĐEN…

Trần Trung Đạo

Bên bờ biển Palawan

Có một em bé gái

Tuổi mới chừng lên sáu lên năm

Đang ngồi đếm từng viên sỏi nhỏ

Và nói chuyện một mình

Như nói với xa xăm

– Em đến từ Việt Nam

Câu trả lời thường xuyên và duy nhất

Hai tiếng rất đơn sơ mà nhiều người quên mất

Chỉ hai tiếng này thôi

Em nhớ kỹ trong lòng

Em chỉ ra ngoài Đông Hải mênh mông

Cho tất cả những câu hỏi khác

Mẹ em đâu?

– Ngủ ngoài biển cả

Em của em đâu?

– Sóng cuốn đi rồi

Chị của em đâu?

– Nghe chị thét trên mui

Ba em đâu?

Em lắc đầu không nói

– Bé thức dậy thì chẳng còn ai nữa

Chiếc ghe nhỏ vớt vào đây mấy bữa

Trên ghe sót lại chỉ dăm người

Lạ lùng thay một em bé mồ côi

Đã sống sót sau sáu tuần trên biển

Họ kể lại em từ đâu không biết

Cha mẹ em đã chết đói trên tàu

Chị của em hải tặc bắt đi đâu

Sóng cuốn mất người em trai một tuổi

Kẻ sống sót trong sáu tuần trôi nổi

Đã cắt thịt mình lấy máu thắm môi em

Ôi những giọt máu Việt Nam

Linh diệu vô cùng

Nuôi sống em

Một người con gái Việt

Mai em lớn dù phương nào cách biệt

Nhớ đừng bao giờ đổi máu Việt Nam

Máu thương yêu đã chảy bốn ngàn năm

Và sẽ chảy cho muôn đời còn lại

– Viên kẹo tròn này để dành cho Mẹ

Viên kẹo vuông này để lại cho Ba

Viên kẹo nhỏ này để qua cho chị

Viên kẹo lớn này để lại cho em

Còn viên kẹo thật to này… là phần Bé đấy

Suốt tuần nay em vẫn ngồi

Một mình lẩm bẩm

Ngơ ngác nhìn ra phía biển xa xôi

Như thuở chờ Mẹ đi chợ về

– Thật trễ làm sao

Em tiếp tục thì thầm

Những câu nói vẩn vơ

Mẹ ngày xưa vẫn thường hay trách móc

Em cúi đầu nhưng không ai vuốt tóc

Biển ngậm ngùi mang thương nhớ ra đi

Mai này ai hỏi Bé yêu chi

Em sẽ nói là em yêu biển

Nơi cha chết không trống kèn đưa tiễn

Nơi tiếng chị rên

Nghe buốt cả thịt da

Nơi Mẹ chẳng về dù đêm tối đi qua

Nơi em trai ở lại

Với muôn trùng sóng vỗ

Bé thơ ơi cuộc đời em viên sỏi

Khóc một lần nước mắt chảy thiên thu

Trần Trung Đạo

HÌNH ẢNH CUỘC BIỂU TÌNH ĐẪM MÁU Ở TRUNG TÂM CÔNG NGHIỆP MYANMA.

HÌNH ẢNH CUỘC BIỂU TÌNH ĐẪM MÁU Ở TRUNG TÂM CÔNG NGHIỆP MYANMA.

Ít nhất 22 người thiệt mạng trong cuộc đụng độ với lực lượng an ninh ở Hlaing Tharya, trung tâm công nghiệp tại Yangon hôm 14/3.

Lực lượng an ninh đối phó với cuộc biểu tình ở thị trấn Hlaing Tharya, Yangon hôm 14/3. Xung đột dữ dội đã xảy ra giữa cảnh sát, binh lính và người biểu tình ở thị trấn nghèo khó, là trung tâm công nghiệp với nhiều nhà máy may mặc này.

Theo đài truyền hình Myawaddy do quân đội điều hành, lực lượng an ninh nổ súng sau khi 4 nhà máy may mặc và một nhà máy phân bón bốc cháy. Khoảng 2.000 người đã ngăn xe chữa cháy tiếp cận các nhà máy.

“Thật kinh khủng. Mọi người bị bắn ngay trước mắt tôi. Tôi sẽ không bao giờ quên được hình ảnh đó”, một phóng viên ảnh tại hiện trường cho biết.

Xem chú thích nơi từng tấm hình….

*******

+7

VIRUS CORONA sau một năm

Mời các bạn so sánh sự lây nhiễm VIRUS CORONA và số người chết sau MỘT NĂM

ngày 16 tháng 03 năm 2020 và

16 tháng 03 năm 2021 của thế giới và HOA KỲ

Lúc 4 giờ  chiều ngày 16 tháng 03 năm 2021

 Trên thế giới có: 121, 084,326 nhiễm bịnh Virus corona

                        chết: 2,677, 516 người

Riêng ở USA có: 30,172,933 người nhiễm bịnh

                        Chết:  548,777 người

https://www.worldometers.info/coronavirus/?fbclid=IwAR1jM_jCvde2y6ra5PY1Zs_3hutCzj1EQGizYObaUVcJHMZm5UQQjADei1M

5 tâm thái cần có để sống tự tại ở tuổi trung niên

5 tâm thái cần có để sống tự tại ở tuổi trung niên

Nhân sinh tưởng dài nhưng kỳ thực lại vô cùng ngắn ngủi, thời gian ở trong bất tri bất giác mà lặng lẽ trôi qua. Con người khi đến tuổi trung niên, có lẽ vinh nhục, được mất, thất bại hay thành công cũng đều đã từng nếm trải. Đến tuổi này người ta cần trang bị cho mình một số loại tâm thái làm hành trang bước vào tuổi xế chiều an nhiên, tự tại. 

  1. Trầm tĩnh là một loại cảnh giới

Người đến tuổi trung niên đã trải qua cuộc đời bể dâu, những vấp ngã hay thành tựu đều đã gặp, đối với nhiều sự tình họ đã sớm thấu hiểu. Khi người ta đã thông thấu sự đời thì nội tâm sẽ trở nên trầm tĩnh hơn.

Vì sao nhiều người càng đến tuổi trung niên lại càng thấy thanh tĩnh, thản nhiên xem nhẹ mọi thứ trong cuộc sống? Đó là bởi vì trải qua những năm tháng cuộc đời, người ta bắt đầu hiểu ra rằng đặt nặng được mất, xem nặng danh lợi chỉ khiến tâm linh mệt mỏi.

Để nội tâm trở nên trầm tĩnh thì không phải là việc dễ dàng. Một người hiểu rõ bản chất của sinh mệnh mới có thể trầm tĩnh trong tâm. Thành công khiến con người vui sướng tựa như sự mãnh liệt của hải triều. Nhưng hải triều lên rồi cũng tự nhiên xuống, tâm người nếu vui buồn theo hải triều thì sẽ mệt mỏi vô cùng. Cho nên, trầm tĩnh mới là cảnh giới tinh thần cao nhất trong cuộc đời.

  1. Chấp nhận, lạc quan đối mặt với cuộc sống

Cổ nhân giảng: “Tướng do tâm sinh”. Kỳ thực, tướng ở đây không chỉ là “tướng mạo” mà còn là hoàn cảnh xung quanh của một người. Nếu một người mà có ý nghĩ tiêu cực thì hoàn cảnh xung quanh của người ấy cũng trở nên không tốt, rất nhiều mâu thuẫn sẽ nối gót nhau mà đến. Trái lại, nếu một người mà luôn vui vẻ và tràn đầy ý nghĩ tích cực thì hoàn cảnh liền lập tức chuyển biến thành tốt.

Đời người, ai cũng đều phải trải qua sinh, lão, bệnh, tử, những gì đến thì phải đến, không tránh được những điều không may. Hãy biết chấp nhận cả những điều không may, lạc quan đối mặt với hết thảy những bất trắc trong cuộc đời. Hãy dùng tâm thái “thuận theo tự nhiên”, “được mất tùy duyên” để đối đãi, như vậy sẽ sống tuổi trung niên thoải mái hơn, trong lòng sẽ thấy nhẹ nhàng hơn.

  1. Mở rộng tấm lòng

Người có tấm lòng quảng đại mới có thể bao dung được thiên hạ, dung nạp được mọi sự tình vui buồn. Người có thể dùng lòng khoan dung mà lượng thứ cho khuyết điểm của người khác thì không chỉ khiến cho đức hạnh của bản thân mình nâng cao lên mà còn có thể cảm hóa, thiện hóa người khác.

Nhà Phật dạy rằng, con người có nợ thì phải hoàn trả. Trong dòng lịch sử dài này, trong vòng luân hồi chuyển kiếp này, rất có thể vì chúng ta đã từng làm tổn thương người khác cho nên giờ đây người khác mới làm tổn thương lại mình. Cho nên, một người tuổi trung niên có thể biết bao dung, tiếp nhận thì trong tâm sẽ an nhiên tự tại.

  1. Ghi nhớ “tiền tài là vật ngoại thân”

Có câu nói rất hay rằng, “tiền mà bạn tiêu đi mới là tiền của bạn, tiền để trong ngân hàng không phải tiền của bạn”, cho nên điều phải quý trọng nhất là bản thân mình, quý trọng tình thân,  không phải tài vật của cải.

Con người khi được sinh ra đều là trần trụi, vô cùng đơn giản, thứ gì cũng đều không có. Con người khi chết đi, lẻ loi trơ trọi, lặng lẽ vô cùng, thứ gì cũng nắm không được, mang không theo. Cho nên đừng để tâm của mình bị vây khốn bởi tài vật, đừng vì tiền tài danh vọng mà đánh mất đạo đức, lương tâm của bản thân. Một người chiếm giữ càng nhiều thì sẽ càng bị chiếm giữ nhiều. Khi một người sống mà quá coi trọng vật chất, phụ thuộc vào những yếu tố ngoại cảnh thì điều mang đến cho họ chỉ là những tổn thất về mặt tinh thần.

Trái lại, một người theo đuổi sự an bình trong tinh thần sẽ vứt bỏ những phức tạp trong lòng, không bị dính mắc vào những thứ ngoại vật. Người tuổi trung niên sống đơn giản, trong các mối quan hệ họ cũng không quá bị chi phối và như thế họ sống thoải mái, vui vẻ.

  1. Con cháu có phúc phận của con cháu

Từ Miễn là một vị quan thời nhà Lương, suốt đời ông đều có địa vị cao. Nhưng ông nghiêm khắc với bản thân, làm việc công chính mà cẩn thận, tiết kiệm không tham lam, không quan tâm đến tiền tài của cải, gia sản của bản thân. Ông thường đem phần lớn số bổng lộc của mình chia cho người thân, bạn bè và những người dân nghèo khổ. Bởi vậy trong nhà ông không có của cải gì đáng kể cả.

Trong số khách khứa và bạn hữu của ông có nhiều người khuyên ông nên tích góp một chút sản nghiệp để lại cho con cháu. Nhưng ông trả lời rằng: “Người ta để tiền của lại cho con cháu, còn tôi để tiếng thơm lại cho con cháu. Con cháu mà có đức có tài, chúng tự nhiên có thể sáng lập nên gia nghiệp. Còn nếu chúng không có tài đức, thì dẫu tôi có để lại tài sản cũng là vô dụng. Con cháu tự có phúc phận của con cháu”.

Các bậc làm cha làm mẹ thường mong muốn con cái có cuộc sống sung túc, ấm no, vì thể họ luôn muốn lấy những gì tốt đẹp nhất để lại cho con cái. Nhưng kỳ thực bất kể là cấp cho chúng bao nhiêu tiền của đi nữa thì cũng đều là những vật ngoài thân. Các bậc hiền đức xưa đều cho rằng, chỉ có dạy con trọng đức hướng thiện, mới là thực sự lo cho tương lai lâu dài của chúng. Chỉ có như vậy mới có thể giúp chúng thu được lợi ích chân chính, bất kỳ lúc nào cũng có thể bảo trì được đầu não thanh tỉnh sáng suốt, biết phân biệt rõ đúng sai, lựa chọn con đường nhân sinh đúng đắn mà có được tương lai tốt đẹp. Đó cũng chính là lưu lại phúc đức cho con cháu một cách thiết thực nhất.

An Hòa

From: TU-PHUNG

NHỮNG ĐIỀU MƠ ƯỚC…

Lương Văn Can

NHỮNG ĐIỀU MƠ ƯỚC…

– Phạm Tín An Ninh –

Có một dạo, đi đâu tôi cũng nghe thiên hạ hát bài Con Chim Đa Đa, “sao không lấy chồng gần mà đi lấy chồng xa…” rồi đến bài Chị Tôi, “thế là chị ơi rụng bông hoa gạo”. Đúng như người ta nói, Thơ và Nhạc có ngôn ngữ riêng của nó. Một người không có nhiều chữ nghĩa như tôi, nhiều khi say mê hát một bài hát mà sau đó suy nghĩ mãi vẫn không hiểu rõ ngọn ngành, ý nghĩa một vài câu. Trong bài Chị Tôi, tôi cũng rất ư là lờ mờ cái sự kiện… rụng bông hoa gạo…và trời cho làm thơ… này lắm. Dù vậy tôi vẫn thấy bản nhạc phổ từ một bài thơ chỉ vỏn vẹn mấy câu này, khá hay. Mà ngay đến cái sự hay này tôi cũng mơ hồ, không biết có đúng là tôi biết thưởng thức thơ nhạc không, hay là chỉ vì có sự đồng cảm mà tôi thấy lòng mình xúc động. Bởi vì mỗi lần nghe ai đó hát bản nhạc Chị Tôi, tôi lại da diết nhớ đến bà Cô Út của tôi.

Từ lúc chưa tròn hai tuổi, tôi lớn lên trong cái bất hạnh của một người chưa hề có “bông hồng cài áo”. Mẹ tôi mất quá sớm, đến nổi tôi không bao giờ hình dung được khuôn mặt hiền từ phúc hậu của bà như lời cha tôi kể lại. Nỗi bất hạnh đó lại càng lớn hơn, khi tôi không có một bà chị nào để được dịp nhìn dung nhan Chị mà mơ tưởng đến bóng hình của Mẹ. Ba tôi đang dạy học ở trường Pháp Việt thì bị Việt Minh đưa ra liên khu năm làm công tác “xóa nạn mù chữ”. Khi lớn lên một chút, bắt đầu nhận hiểu được đôi ba điều quanh mình, tôi chỉ biết là hai anh em tôi lớn lên ở nhà ông bà nội, và trong vòng tay yêu thương cùng giọng hát ru hời của bà Cô Út.

Cô út tôi lớn hơn tôi hơn một con giáp. Ở nhà quê nhưng bà có cái tên nghe rất lạ: Phạm Thị Mẫu Đơn. Cho mãi đến lúc đi học tôi mới biết được cái tên này, vì mọi người đều gọi cô là con Út hay cô Út. Sau này tôi hỏi ba tôi về cái tên trong giấy tờ của Cô, được ông giải thích: Sự thực thì tên trong acte de naissance (khai sanh hồi thời Pháp thuộc) của Cô út là Pham Thi Mau Dan (Phạm thị Mậu Dần), nhưng khi Cô tôi lớn lên và có chút nhan sắc, thì ông bà nội lại lo cho cái tuổi Dần cao số của Cô, nên khi có lệnh làm bản thế vì khai sanh tiếng Việt, ông bảo ba tôi xuống Huyện, nhờ ông anh họ làm chánh lục sự, sửa tên cô tôi thành Mẫu Đơn. Mang tên một loài hoa mà suốt cả một đời cô tôi không biết đó là loại hoa gì, chỉ nghe thiên hạ bảo loài hoa này đẹp lắm, thế thôi.

Có một điều chắc chắn là khi cô sinh ra Trời đã không “cho làm thơ”, vậy mà suốt cả một đời Cô vẫn bị “vấn vương với sợi tơ trời, tình riêng bỏ chợ tình người đa đoan”. Mà khổ thay, thằng cháu của Cô cũng dốt nát, chứ phải có tài năng một chút thì hôm nay nó cũng viết một bản nhạc hay chí ít cũng làm được mấy câu thơ để ca ngợi Cô. Vì so với người chị trong mấy bản nhạc Chị Tôi, bà Cô của tôi coi bộ còn thánh thiện và tội nghiệp hơn nhiều lắm.

Cô lo lắng chăm sóc hai anh em tôi không thua bất cứ một bà mẹ mẫu mực nào trên thế gian này. Lòng Cô lúc nào cũng” bao la như biển Thái Bình rạt rào”, lời của cô lúc nào cũng “tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào” mà ông nhạc sĩ Y Vân đã từng ngợi ca, vinh danh người mẹ. Cô cũng là cô giáo vỡ lòng, dạy tôi hai tiếng i tờ, những câu tục ngữ ca dao. Lớn lên một chút, tôi được Cô ngồi bên cạnh dạy đọc truyện Chàng Nhái Kiển Tiên, Thạch Sanh Lý Thông, Phạm Công Cúc Hoa cho bà Nội tôi nghe mỗi tối. Mùa hè, tôi mê đá dế, Cô dẫn tôi ra trước hồ sen tìm bắt những con dế mun mà mỗi trưa Cô không ngủ, ngồi rình để nghe nó gáy từ chỗ nào. Thấy bọn trẻ hàng xóm thả diều, Cô cũng mò mẫm cả một ngày làm cho tôi cái diều to nhất. Tôi mê nuôi chim, Cô đi khắp nơi tìm mua cho tôi hai con chim keo màu xanh mướt và năn nỉ ông chú tôi làm cho tôi cái lồng thật đẹp.

Những lần bị “ấm đầu”, tôi tha hồ nũng nịu, làm tình làm tội Cô tôi. Cô ngồi suốt bên cạnh, đắp lên trán tôi một cái khăn ướt, nấu cháo cá bỏ nhiều tiêu cho tôi ăn để “tháo mồ hôi”. Nghe nói Cô cũng ham học lắm, định xin ông bà nội cho học xong cái bằng primaire thì theo ông chú tôi đi dạy học mấy lớp nhỏ trường làng, Nhưng rồi mẹ tôi bất ngờ qua đời, bỏ lại hai anh em tôi. Cô đành phải nghỉ học ở nhà để chăm sóc hai thằng cháu dại, một đứa bốn tuổi và một đứa vừa mới lên hai. Năm tháng cô quanh quẩn trong nhà, làm công việc gia đình và lo lắng cho hai anh em tôi. Khi nào rảnh rỗi Cô nhờ ông chú của tôi chỉ cô học thêm mấy chữ tiếng Tây.

Cô chỉ có một người bạn thân, đó là bà cô họ của tôi. Hai người cùng tuổi và học chung một lớp. Khi Cô Út nghỉ học, thì bà cô họ này vẫn tiếp tục đi học mấy năm nữa, sau này làm y tá và lấy một ông chồng Tây, làm trong viện Pasteur của bác sĩ Yersin ở Nhatrang. Bà đi đó đi đây, lâu lâu trở về thăm quê vài bữa. Lần nào về cũng ghé lại thăm Cô Út tôi và trò chuyện cả đêm. Trông bà thật sang trọng. Cô Út thì trầm trồ những món nữ trang đắt tiền, nhất là sợi dây chuyền vàng có mặt ngọc thạch, thời ấy rất hiếm hoi. Còn tôi thì say mê chuyện đi đó đi đây mà bà cô họ thường kể cho cô cháu tôi nghe.

Dường như từ ngày bà cô họ đi theo chồng, Cô Út không còn ai tâm sự, nên Cô thường tâm tình với anh em tôi về chuyện tình duyên của mình. Có một ông thầy giáo dạy cùng trường với chú tôi, gốc Bình Định, khá bảnh trai, lớn hơn Cô hai tuổi, rất thương Cô và có nhờ người đến mai mối, nhưng Cô Út phần vì thương cảnh mồ côi của anh em tôi, một phần bị ám ảnh bởi những lời đồn đãi của thiên hạ: “tuổi Dần cao số, chỉ hạp với tuổi Dần”, nên Cô từ chối cuộc hôn nhân. Ông thầy giáo Bình Định buồn tình nên xin đổi đi xa, làm lòng Cô cũng xốn xang một dạo.

Năm tôi lên bảy, quê tôi có một trận lụt lớn, trận lụt tháng mười. Tôi nhớ loáng thoáng lời Cô tôi giải thích, vì “ông tha mà bà không tha, bà cho cây lụt hăm ba tháng mười”. Nước từ đâu không biết tràn qua, kéo theo nhiều nhà cửa cây cối và cả trâu bò. Nhà ông nội tôi rộng lắm, mấy cây cột lớn có chạm trổ nhiều hình cầm thú, có mái ngói âm dương và nằm trên một nền gạch khá cao, được bao bọc bởi đủ thứ cây ăn trái, vậy mà bây giờ chung quanh tôi chỉ thấy toàn nước và nước. Ông Nội ra lệnh cho Cô phải giữ kỹ anh em tôi trên bộ phản trong nhà. Hai ngày sau mưa gió đã tạnh, nhìn qua khe cửa, anh em tôi thấy nước ngập cả sân nhà (nhà ông bà nội tôi có cái sân vuông khá rộng bằng xi măng, có bờ thành thấp chung quanh), nên năn nỉ Cô Út ra bịt mấy cái lổ lù, không cho nước rút, và đứng trên thềm nhà canh chừng cho anh em tôi cởi truồng xuống sân bơi lội. Bất ngờ tôi phát hiện trong sân có mấy con cá, anh em tôi tha hồ hò hét rượt bắt cá. Ông Nội tôi nghe ồn ào, chạy ra nhìn thấy hai thằng cháu nội đang bì bõm trong cái sân ngập tràn nước lụt, ông không la chúng tôi mà rầy Cô Út tôi một trận, rồi cấm cung cô cháu tôi ở trên căn nhà thờ, lúc nào cũng đóng kín cửa, mà trước đây rất ít khi tôi dám tới đây, vì rất sợ mấy cái bàn thờ có treo những tấm hình và nhiều bài vị viết chữ nho, nhất là hai cỗ quan tài sơn đỏ, có hình con rồng con phượng hai bên. Cô tôi bảo đó là hai chiếc quan tài bằng gỗ quí để dành cho ông bà nội đến lúc qui tiên…

Thấy anh em tôi sợ, Cô Út trấn an bọn tôi bằng cách kể chuyện linh thiêng của những ông bà, tổ tiên đã khuất. Vong linh ông bà lúc nào cũng ở bên cạnh để phù hộ cho con cho cháu. Cô còn bảo nếu có ước mơ điều gì, thắp hương thành tâm khấn nguyện, ông bà sẽ ban cho những điều ước muốn đó.

Cô hỏi tôi, nếu bây giờ khấn nguyện xin ông bà, thì tôi sẽ mơ ước được điều gì. Nhớ tới chuyện đi đó đi đây mà tôi rất say mê mỗi lần bà cô họ có chồng Tây kể lại, tôi nhanh nhẩu:

– Con mơ ước mai mốt lớn lên con được đi đó đi đây như bà cô họ vậy.

Rồi tôi hỏi ngược lại Cô Út, Cô nhìn tôi cười:

– Còn Cô thì chỉ mơ ước được một sợi dây chuyền mặt cẩm thạch màu xanh như của cô ấy, và có khắc hai chữ MĐ chính giữa.

Tôi tin lời Cô, kéo tay Cô đến trước bàn thờ thắp hương để hai cô cháu vái lạy xin Ông bà ứng nghiệm cho những điều mơ ước. Cô chìu tôi, hai cô cháu quì trước bàn thờ. Cô thì im lặng, còn tôi thì nói thật to lời ước của mình. Tôi sợ ông bà già quá, lảng tai, không nghe rõ lời cầu xin của mình.

Mấy năm sau, tôi đành phải rời quê, chia tay Cô Út vào Nha Trang đi học. Cô may cho tôi mấy bộ đồ mới, bao nhiêu tiền dành dụm được cô sắm cho tôi một chiếc xe đạp có ghi đông hình chữ U mà tôi rất thích. Những năm học ở Nha Trang, dù tuổi đã lớn, nhưng lúc nào tôi cũng thấy thiếu vắng vòng tay và những lời trìu mến của Cô tôi. Mỗi lần nghỉ hè về quê, tôi vẫn quanh quẩn ở bên Cô, như thuở mới lên ba, lên năm ngày trước. Lúc này Cô tôi đang làm nghề thợ may, nhưng chỉ làm việc tại nhà, để tiện việc săn sóc ông bà nội tôi, đã đến lúc tuổi già sức yếu. Cô tự tay may cho anh em tôi mấy bộ đồng phục học trò. Mùa hè trời nóng, tối nào cô cháu cũng mang chiếu ra trải bên cạnh hồ sen trước nhà. Trong gió nội hương đồng, cô cháu nằm tâm sự thâu đêm.

Khi biết tôi đi lính, Cô Út buồn ghê lắm. Hết ngăn cản rồi năn nỉ tôi. Cô bảo tôi không thương Cô, nên bỏ Cô mà đi lính, biết bao giờ Cô cháu mới được bên nhau như những ngày xưa, rồi Cô biết còn ai để mà tâm sự.

Nhớ tới trận lụt tháng mười năm nào, Cô dạy cho tôi thắp hương khấn nguyện ông bà, tôi thủ thỉ với Cô:

– Con đi lính là nhờ Ông Bà trên bàn thờ đã ứng nghiệm cho con điều ước, được đi đó đi đây, đúng như Cô bày cho con đó.

Cô vừa cười vừa lau nước mắt.

Khi vào quân trường, hai người đầu tiên tôi viết thơ là Ba tôi và Cô. Tôi kèm theo tặng Cô tấm ảnh mặc quân phục, tóc vừa cắt ngắn ba phân. Cô viết thư khen “chú lính sữa của cô trông oai phong ghê lắm”.

Mấy tuần sau khi tôi được gắn alpha, Cô theo Ba tôi vào tận quân trường thăm tôi, mang theo cho tôi cả chục xoài tượng và mấy cái bánh rán (bánh cam) mà lúc nhỏ tôi rất thèm ăn.

Ra trường, trước khi trình diện đơn vị, tôi dành trọn mười lăm ngày phép quanh quẩn bên Ba tôi và Cô. Lúc này ông bà nội tôi đã qua đời và cô vẫn ở vậy chăm sóc ngôi nhà từ đường và lo việc cúng kỵ ông bà. Đêm nào Cô cũng niệm hương khấn vái thì thầm trước bàn thờ ông bà nội và má tôi, rồi bảo tôi cùng lại chấp tay lạy. Tôi nghe Cô xin ông bà và Má tôi phù hộ tôi, tránh được lằn tên mũi đạn.

Hơn mười năm trong lính, toàn là đánh đấm. Rất nhiều lần thoát chết trong đường tơ kẻ tóc, tôi tin vào những lời thì thầm khấn vái hằng đêm của Cô.

Lần đầu tiên về phép từ một chiến trường khói lửa ở cao nguyên, tôi dành dụm mấy tháng lương, và mất hai ngày ở thành phố Ban Mê Thuột tìm mua cho Cô sợi dây chuyền vàng có mặt cẩm thạch hình trái tim, loại đắt nhất. Tôi ngồi chỉ cho họ kẻ hai chữ MĐ thật đẹp chính giữa.

Tôi về bất ngờ. Khi mới bước vào cổng nhà nội, tôi thấy Cô đang quét lá dưới gốc cây xoài. Con chó không nhận ra tôi sủa inh ỏi, Cô dừng tay nhìn. Mãi khi tôi đến gần Cô mới nhận ra. Cô nắm tay tôi mắng yêu:

– Tổ cha mày, vậy mà Cô cứ tưởng là ông thầy nào.

Tôi cười đùa:

– A, chắc là Cô Út tưởng con là ông thầy Bình Định ngày xưa chớ gì.

Buổi chiều, sau khi cơm nước xong, tôi dắt tay Cô tôi lên căn nhà thờ để cùng tôi thắp hương và lạy ông bà. Khi đứng lên, tôi bảo Cô nhắm mắt lại để thấy một điều kỳ diệu, rồi choàng vào cổ Cô sợi dây chuyền tôi vừa mua tặng. Lúc mở mắt ra, Cô mân mê cái mặt cẩm thạch rồi cảm động nắm tay tôi:

– Cái này mắc tiền lắm. Con đi lính lương ba cọc ba đồng, lấy tiền đâu mà mua tặng Cô.

Tôi cười:

– Đâu phải con mua, mà là ông bà cho Cô theo lời ước của Cô đó chứ. Cũng như ông bà đã cho con bây giờ được đi đó đi đây rồi đây nè. Lời cầu xin của Cô cháu mình linh thiêng quá phải không Cô?

Thời gian này ở quê nội tôi mất an ninh. Ban ngày tôi quanh quẩn bên cô. Đến chiều, Cô dắt tôi xuống nhà chú tôi ở bên huyện ngủ. Cô ở với tôi tới tối mịt mới về.

Ngày mãn phép, tôi trở lại đơn vị, Cô giặt ủi mấy bộ áo quần của tôi xếp vào túi xách, kèm theo một gói xôi đậu xanh, để ăn dọc đường. Ngồi trên xe đò, khi lấy gói xôi ra ăn, tôi thấy có một cái túi nhỏ may bằng vải, mở ra tôi mới biết, một xấp tiền mới tinh xếp ngay ngắn trong đó. Nhớ tới cô, nước mắt tôi cứ trào ra.

Tôi theo đơn vị lưu động nay đó mai đây, nên rất khó nhận thư từ hộp thơ KBC hậu cứ ở Ban Mê Thuột. Từ Quảng Đức, xuống Lâm Đồng rồi Phan Thiết. Mãi hơn nửa năm sau tôi mới nhận được cùng một lúc năm lá thư của Cô tôi gởi. Tôi mừng, khi Cô kể là có một ông thầy giáo gốc Huế, cùng tuổi dần với Cô, đã có một đời vợ, cùng làm nghề dạy học. Nhưng chỉ mới vài tháng sau đám cưới, người vợ trẻ bị chết cùng với mấy đứa học trò trong một trận pháo kích. Ông buồn quá, một phần không muốn mỗi ngày bị ám ảnh bóng hình của người vợ trẻ vừa mới chết oan, một phần không muốn nhìn thấy cái thành phố có những lăng tẩm uy nghi của một triều đại, nhưng đã để lại quá nhiều tranh chấp tôn giáo, phủ bóng mây mù chính trị lên từng ngôi trường, từng bục giảng. Bạn bè ông có mấy kẻ đã vào bưng. Ông xin chuyển vào dạy ở quê tôi vì có gia đình người bác ruột, ngày xưa làm xếp ga rồi lấy vợ ở lại đây luôn.

Tôi viết thơ cho Cô, lên mặt thuyết giảng tình yêu, nào chuyện “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ” nào là “cả hai người cùng một tuổi Dần, thì sau này tát biển đông cũng cạn“.

Mấy tháng sau tôi nhận thư hồi âm của Cô, có kèm theo lá thư ngắn của ông Thầy Huế mà nội dung là một bài thơ ngợi ca người lính.

Tôi để dành tiền lương hằng tháng, chờ ngày về ăn đám cưới. Tôi đến một tiệm bán hàng thêu ở thành phố Phan Thiết đặt thêu một bức tranh có hình hai con cọp âu yếm nhau trong một rừng đầy hoa sim tím dưới ánh trăng để làm quà cưới cho Cô. Sau trận Mậu Thân, đơn vị tôi tiếp tục mỗi ngày sống trong lửa đạn. Tôi không nhận được lá thư nào của Cô tôi. Tôi nghĩ chắc là Cô đã làm đám cưới, nhưng không biết có theo chồng về thăm Huế hay không. Tôi lo cho Cô, khi biết cả thành phố Huế đang đắm chìm trong vành tang trắng.

Mấy tháng sau, tình hình trở lại yên tĩnh, được mười ngày phép, tôi khăn gói về thăm quê. Cô tôi vẫn sống âm thầm một mình trong nhà ông nội, Đám cưới không thành, không phải ông thầy Huế phụ tình, như một vài người bà con trong họ đã cảnh giác Cô từ lúc mới quen ông:” đừng có quá tin mấy chàng trai xứ Huế“. Oan ức và tội nghiệp cho ông. Ông về Huế ăn Tết và xin cha mẹ được cưới Cô tôi, nhưng rồi không ngờ phải cùng chịu chung số phận với mấy ngàn người bất hạnh. Ông mất tích trong đêm mùng hai Tết. Mãi đến ba tháng sau, người nhà mới tìm được xác của Ông trong một hố chôn người tập thể.

Cuối cùng thì… Cô tôi “vẫn chưa lấy chồng!”. Trên bàn thờ, tấm ảnh nhỏ của ông Thầy Huế được đặt ở một góc khiêm nhường.

Năm 1975, miền Nam bất ngờ thua trận, tôi bị tù đày từ Nam ra Bắc, đến tận Lào Cai, Yên Bái. Ba tôi và ông chú bị bắt vào trại cải tạo trong Nam. Vợ con tôi cùng gánh chịu bao đắng cay hệ lụy, bơ vơ nheo nhóc. Lá chưa rụng mà phải về cội, vợ con tôi lại dắt díu nhau về ở với Cô tôi trong ngôi nhà xưa của ông bà nội, bây giờ trở nên trống vắng, nên chắc buồn và tĩnh mịch hơn xưa. Vợ tôi phải bươn chải làm ăn, nuôi bầy con bữa đói bữa no. Cô tôi bán đủ thứ trong nhà, và cuối cùng bán luôn cả sợi dây chuyền mặt cẩm thạch mà cô đã từng nâng niu như bảo vật, để lo cho mấy đứa con của tôi, và cùng vợ tôi dành dụm gởi cho tôi một ký lô đường và mấy lọ tép mỡ sau khi biết tôi vừa trải qua một cơn kiết lỵ, chỉ còn da bọc lấy xương. Tội nghiệp, tôi chỉ được phép nhận 200 gram đường và một lọ tép mỡ, số còn lại bị sung vào nhà bếp hậu cần, vì số quà gởi “ngoài qui định, không nằm trong chính sách”.

Tháng 6 năm 1976, ba tôi chết trong trại cải tạo Đá Bàn. Nhưng mãi đến hai năm sau tôi mới nhận được tin buồn. Tôi khóc đến không còn nước mắt.

Khi tính chuyện vượt biển, tôi tâm sự xin Cô cùng đi với chúng tôi. “Dù trôi nổi ở đâu, có cô bên cạnh là con mãn nguyện rồi”, Nhưng cô bảo Cô đã già, không muốn rời bỏ quê hương, hơn nữa còn phải trông coi ngôi nhà từ đường và mồ mả ông bà, không để cho hương tàn khói lạnh. Và còn phải phụ giúp ông chú tôi đang ốm đau, lo cho hai đứa con của chú ấy nữa.

Mấy ngày sau, tôi thấy Cô xuống tóc, và ăn chay trường. Đêm nào cũng quì trước bàn thờ. Tôi biết là Cô đang cầu nguyện cho tôi đi đến bến bờ. Hôm tiễn biệt, Cô nắm chặt tay tôi: “xin ông bà và cha mẹ con phù hộ cho vợ chồng con và mấy đứa nhỏ” rồi im lặng nhìn tôi với hai hàng nước mắt.

Thuyền ra đến hải phận quốc tế thì gặp bão. Mưa gió suốt mấy ngày, không còn trăng sao để mà định hướng. Tất cả đàn bà con nít xuống dưới khoang thuyền. Chỉ có bọn đàn ông chúng tôi ở lại phía trên chống chọi với phong ba. Trong những lúc nguy khốn nhất, tôi lại nghĩ đến Cô, nhớ những lời cầu nguyện của Cô mà lấy lại niềm tin và can đảm. Cuối cùng, một chiếc tàu chở dầu của Vương quốc Nauy đã cứu vớt chúng tôi trước khi cơn bão chính ập tới. Từ trên tàu, vị thuyền trưởng giúp chuyển hộ mỗi người ba cái điện tín cho thân nhân. Người đầu tiên tôi báo tin mừng là Cô.

Sau khi định cư, tôi thường xuyên gởi thư thăm Cô và kèm theo tiền để giúp Cô cùng gia đình ông chú, và xây lại mồ mả ông bà. Cô mừng ghê lắm. Lá thư nào Cô cũng viết thật dài, khuyến khích tôi cố gắng làm lại cuộc đời và dạy dỗ cho con cái phải biết sống theo đạo lý và đừng bao giờ quên quê hương, nguồn cội của mình.

Cô ở xa tôi cả nghìn trùng mà lúc nào tôi cũng tưởng Cô vẫn đang đâu đó bên mình. Mỗi lần gặp khó khăn, phiền muộn trên xứ người, cứ nghĩ đến Cô là lòng tôi phấn chấn. Bây giờ Cô đã già và chắc cũng yếu đi nhiều lắm. Vậy mà chỉ với hình bóng thôi, Cô đã cho tôi biết bao nghị lực.

Hai năm sau, tôi lại nhận được tin buồn. Ông Chú của tôi, sau bao năm chống chọi với bệnh tật mang về từ trại cải tạo, vừa mới lìa đời, giao hai đứa con gái lại cho Cô tôi nuôi nấng. Tội nghiệp cho Cô, đúng là “Trời không nín gió cho ngày Cô sinh”, tuổi già rồi mà phải còn cưu mang con cháu. Lá thư báo tin buồn này là lá thư cuối cùng Cô tự tay nắn nót viết cho tôi.

Những lá thư sau đó, mấy đứa con gái ông chú tôi viết. Tôi lo lắng hỏi Cô, Cô chỉ bảo đôi mắt của cô bây giờ hơi kém, nhưng dặn dò tôi không phải gởi thuốc thang gì, vì ở trong nước Cô mua cũng được. Cô khẩn khoản muốn tôi đưa mấy đứa con về cho Cô gặp lại một lần.

Hơn mười năm sau, khi nghe nhà nước có chút đổi thay, gọi những người vượt biển có tội phản bội tổ quốc ngày xưa là khúc ruột ngàn dặm, tôi dắt theo ba đứa con lớn về thăm quê hương. Đúng hơn là về tìm ngôi mộ cha tôi chôn trong núi bên trại cải tạo Đá Bàn và thăm bà Cô suốt cả một đời bảo bọc chúng tôi. Nhớ lại kỷ niệm xưa, tôi nhờ cô con gái lớn ở bên Cali, đến khu Phước Lộc Thọ tìm đặt mua cho tôi một sợi dây chuyền vàng, có mặt màu xanh cẩm thạch, khắc hai chữ MĐ chính giữa. Tôi nghĩ có lẽ đây sẽ là món quà có ý nghĩa, đền bù lại sợi dây chuyền tôi tặng Cô lúc trước, và để cho Cô được trẻ lại những ngày xưa.

Tôi không báo trước ngày về, vì muốn làm cho Cô bất ngờ và không phải khăn gói vào tận Sài gòn để đón cha con tôi, như lời cô hứa.

Quê nội tôi, cái làng Phú Hội một thời trù phú như cái tên gọi, bây giờ sao mà cằn cỗi, điêu tàn. Khi bước vào cổng nhà nội, tôi xa lạ đến thẩn thờ. Ngôi nhà ngày xưa rộng lớn, hồi còn nhỏ tôi đi còn sợ lạc, sao bây giờ nhỏ nhoi, tiêu điều và hiu quạnh quá. Tôi đứng giữa cái sân gạch mà ngày nào trời lụt, anh em tôi tha hồ bơi lội như trong một dòng sông, bây giờ chỉ còn lại cái nền loang lổ, phủ đầy những lá của cây xoài già héo úa, một thời xum xuê làm “bóng mát thiên đường” để Cô cháu tôi ngồi đọc truyện cho bà nội tôi nghe trong những buổi trưa hè. Cái hồ sen tỏa hương thơm ngát ngày xưa, bây giờ là một cái ao cạn đầy cỏ dại. Chỉ còn lại tiếng dế than rên rỉ. Không nghe con chó sủa. Nó là con vật trung thành, không giống như một số người sau tháng tư năm nào, phản suy phù thịnh. Có lẽ nó cũng buồn mà chết rồi sau cuộc đổi đời của chủ. Tôi và ba đứa con lạc lõng trong ngôi nhà mà tất cả đã từng một thời lớn lên ở đó, với biết bao là kỷ niệm buồn vui. Trong nhà không có một ai, ngoài bóng dáng của chính mình ngày trước. Bước ra cửa sau, tôi đứng lặng người khi thấy Cô Út ngồi quay lưng, vãi thức ăn cho một bầy gà. Mái tóc Cô bạc trắng. Cha con tôi đến đứng phía sau lưng, mà Cô không biết.

Mấy đứa con tôi cười khúc khích, Cô quay lại. Tôi ôm chầm lấy cô, nghẹn ngào không nói nên lời. Tôi ngạc nhiên khi nghe cô hỏi: đứa nào đây? Chẳng lẽ mới mười năm mà cô không còn nhận ra tôi. Buông cô ra, tôi suýt hét lên, khi biết là đôi mắt của Cô đã mù. Tôi chỉ thốt lên được mấy tiếng “Cô ơi, thằng Ninh đây Cô”, rồi khóc nức nở.

Sau một khắc yên lặng, tôi nghe Cô cười, rồi đưa hai tay sờ lên đầu lên mặt tôi, rồi đến mấy đứa con tôi.

Tôi dìu Cô vào nhà. Nhưng cô bảo là cô đi được. Cô nói là cả một đời cô ở đây, mọi ngõ ngách và đồ đạc trong nhà như in trong trí. Tôi hỏi mấy đứa con ông chú đâu mà để cô ở một mình. Cô cho biết là nhờ dành dụm số tiền tôi gởi về, đứa lớn đã ra nghề thợ may, vừa lấy chồng, mở tiệm ở dưới huyện. Còn đứa nhỏ, Cô cho đi học làm y tá, vẫn còn ở với Cô.

Thấy chúng tôi về, mấy người hàng xóm sang thăm. Ai cũng nhắc lại cái thời anh em tôi còn bé và ca ngợi Cô tôi hết lời. Không biết ai nhắn tin, hai cô em, con ông chú tôi cũng về ngay, có cả thằng em rể. Sau này tôi mới biết nó chính là cháu họ của ông thầy giáo Huế, người tình của Cô Út ngày xưa.

Có sẵn chiếc taxi thuê bao, tôi mời Cô và mấy đứa em xuống phố ăn cơm, nhưng Cô không cho, bảo hai đứa em con ông chú làm thịt mấy con gà để mấy cô cháu vừa ăn vừa nói chuyện cho vui.

Cả một tuần sau, tôi bận rộn lo việc cải táng phần mộ của ba tôi từ Đá Bàn về chôn trong nghĩa trang gia tộc, bên cạnh ngôi mộ của má tôi và ông bà nội. Cô Út theo ra đến tận nghĩa trang, đưa tay sờ ngôi mộ mới xây của ba tôi, rồi khóc sụt sùi.

Hai tuần sau, tôi quanh quẩn bên cạnh cô tôi, kể lại hầu hết những kỷ niệm ngày xưa, và cuộc sống ở xứ người. Cô bảo có lần nằm chiêm bao, cô thấy ông thầy Huế về thăm Cô, nhưng người ông bê bết máu, Cô lấy khăn lau mãi mà máu vẫn cứ ứa ra.

Đêm nào trước khi đi ngủ, Cô cũng bảo cha con tôi thắp hương và lạy trước bàn thờ. Tôi lại nhớ tới những điều cô cháu tôi ước mơ thuở trước.

E dè mãi, đến đêm cuối cùng, khi đứng trước bàn thờ, tôi lấy sợi dây chuyền vàng có mặt cẩm thạch ra, đeo vào cổ cho Cô. Tôi ôm chặt Cô thì thầm: “xin cho con trả lại Cô cái điều mà ngày xưa cô mơ ước”. Ba đứa con tôi vỗ tay phụ họa: “đẹp lắm! bà Nội ơi, đẹp lắm!”

Cô tôi không mân mê cái mặt cẩm thạch như lần trước, cách đây hơn bốn mươi năm, khi tôi tặng Cô, mà chỉ đứng lặng im, bất động. Tôi biết, trong đôi mắt mù lòa kia, dù không còn thấy cái mặt cẩm thạch màu xanh có khắc hai mẫu tự tên mình, nhưng Cô tôi đang nhìn thấy cả một quá khứ xa xăm, bao la và sâu thẳm như chính tấm lòng Cô.

Cuối cùng thì tôi cũng phải chia tay Cô, bỏ lại đằng sau dấu tích của cả một phần đời, mà tất cả vui buồn bây giờ đều đã trở thành kỷ niệm, nằm sâu chôn chặt tận đáy lòng. Tôi nghĩ, có lẽ đây là lần cuối cùng tôi gặp Cô.

Dắt ba đứa con bước ra khỏi cổng nhà ông Nội, tôi không dám quay đầu nhìn lại. Một câu hỏi chợt lóe lên trong đầu: Rồi mai này, tôi lại tiếp tục lưu lạc tha phương. Cũng như sợi dây chuyền mặt cẩm thạch tôi vừa mới tặng cho Cô tôi, liệu cái việc đi đó đi đây trên xứ lạ quê người của tôi, có còn là những điều mà Cô cháu tôi đã từng một thời mơ ước?

– Phạm Tín An Ninh –

(Những câu chuyện thú vị)

KHẲNG ĐỊNH CỦA MỌI KHẲNG ĐỊNH

KHẲNG ĐỊNH CỦA MỌI KHẲNG ĐỊNH

“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một,

để ai tin vào Con của Người thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời” (Ga 3, 16).

Kính thưa Anh Chị em,

Có thể nói, phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay nổi bật với khẳng định của Chúa Giêsu, “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời”. Đây là một ‘khẳng định của mọi khẳng định’; vì lẽ, “Ga 3, 16” là Tin Mừng rút gọn như muốn hét lên, như muốn thổ lộ những lời dỗ dành ngon ngọt hầu rót vào tim con người một sứ điệp duy nhất: Thiên Chúa quá yêu thương nó.

Có đến bốn chân lý căn bản mà chúng ta có thể rút ra với sự soi sáng của Lời Chúa hôm nay.Trước hết, “Thiên Chúa đã yêu thế gian”. Thiên Chúa yêu con người; chúng ta biết điều này nhưng sẽ không bao giờ hiểu hết chiều kích sâu thẳm trong tình yêu của Người. Người là Cha yêu thương chúng ta bằng một tình yêu lớn lao và trọn vẹn, một tình yêu trổi vượt hơn bất cứ tình yêu nào mà chúng ta có thể trải nghiệm trong đời. Tình yêu của Người thật hoàn hảo; đó là tình yêu của một Thiên Chúa từ bi, khoan dung và nhẫn nại. Sách Sử Biên Niên hôm nay viết: “Trong những ngày ấy, tất cả những đầu mục tư tế và dân chúng đều bất trung”; nhưng “Chúa là Thiên Chúa tổ phụ họ, đã luôn luôn đêm ngày sai sứ giả đến với họ, vì Người thương xót dân và đền thờ của Người”.

Thứ hai, “Đã ban Con Một”. Tình yêu Chúa Cha thể hiện qua việc tặng trao Con Một là Chúa Giêsu Kitô cho thế gian. Con Một có nghĩa là tất cả đối với Cha; quà tặng Giêsu được ban, nghĩa là Chúa Cha ban cho chúng ta tất cả; qua đó, Thiên Chúa ban sự sống thần linh cho chúng ta. Thư Êphêsô hôm nay nói, “Thiên Chúa là Đấng giàu lòng từ bi, vì lòng yêu thương cao cả, Người đã yêu thương chúng ta, đến nỗi khi tội lỗi làm cho chúng ta chết, thì Người làm cho sống lại trong Đức Kitô”.

Thứ ba, “Để ai tin vào Con của Người”. Phản ứng thích hợp duy nhất chúng ta có thể thực hiện đối với quà tặng Giêsu chính là tin. Tin vào quyền năng biến đổi của việc đón nhận Giêsu vào đời sống mình; tin rằng, quà tặng Giêsu mang đến vô vàn ân phúc; Thánh Phaolô nói, “Trong Ngài, chúng ta lãnh nhận từ ơn này đến ơn khác”; nhất là ân sủng của Thánh Thần vốn biến đổi để chúng ta nên thánh mỗi ngày. Đón nhận Con Thiên Chúa đi vào cuộc đời mình, chúng ta tin tưởng vào sứ mệnh của Ngài, lắng nghe Lời Ngài, sống Lời Ngài và nên giống Ngài.

Thứ tư, “Không phải hư mất, nhưng được sống đời đời”. Kết quả của việc đón nhận Chúa Giêsu và dâng mạng sống mình cho Ngài là chúng ta trở nên một tạo vật mới; sống sự sống mới trong Ngài; không còn chết trong tội lỗi nhưng sống đời sống vĩnh cửu không chỉ mai ngày nhưng ngay hôm nay. Như thế, để được rỗi, không cách nào khác ngoài việc tin nhận Chúa Con. Chúng ta nhận biết, tin yêu, chấp nhận và đón nhận sự thật này như một ‘khẳng định của mọi khẳng định’.

Lần đầu tiên, Tin Mừng du nhập vào Nhật nhờ một phần Thánh Kinh trôi dạt vào bờ, được một bậc vị vọng vớt lên, ông tò mò đọc; sau đó, ông được tặng một cuốn Thánh Kinh và được các nhà truyền giáo hướng dẫn; Tin Mừng đã đến Nhật như thế! Khi hoàng hậu Hàn Quốc mất đi đứa con nhỏ của mình, một nữ tỳ đã nói với bà về thiên đàng, nơi đứa trẻ đã đi, và Đấng Cứu Độ sẽ đưa bà đến đó; Tin Mừng đến Hàn Quốc bởi một nô tỳ! Sự thành công của việc truyền giáo ở Telugu, Ấn Độ, phụ thuộc một phần vào John Cloud, một kỹ sư xây kênh đào trong thời kỳ đói kém, tạo việc làm cho hàng ngàn người lao động mà ông đã rao giảng hàng ngày với vỏn vẹn một câu “Ga 3, 16”, “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời”. Kết quả là 10.000 người đã được rửa tội trong một năm!

Anh Chị em,

Những ngày Mùa Chay, chúng ta đọc lại và thưởng thức từng lời, từng chữ khẳng định này, “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi hư mất, nhưng được sống đời đời”. Đây là toàn bộ lẽ thật về một Thiên Chúa yêu thương ngàn đời, Đấng không bỏ lỡ một cơ hội nào mà không yêu, không cứu, không xót thương. Một điều Người mong chờ chúng ta, là nhìn lên Thánh Giá, nơi Con của Người bị treo lên, mà tin rằng Người hằng yêu thương, mãi mãi yêu thương, một ‘khẳng định của mọi khẳng định’ không bao giờ phai nhoà.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin gia tăng tình yêu và niềm tin của con vào Chúa, hầu con không hư mất nhưng được sống đời đời, vì đó là một ‘khẳng định của mọi khẳng định’ Chúa hứa”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: minhanhhue06 & NguyenNThu

image.png

Sửa Đổi Thuốc Chủng Ngừa Để Đối Phó Với Biến Thể Của Vi rút

Sửa Đổi Thuốc Chủng Ngừa Để Đối Phó Với Biến Thể Của Vi rút

Thuốc chủng ngừa khi được bào chế chỉ dùng thử trong phòng thí nghiệm. Nhưng khi đem chích vào vai người được chủng ngừa thì đây lại là một chuyện khác. Đó chính là hiệu quả cụ thể của thuốc chủng trong thế giới giới thực sự ở ngoài đời. Do đó, hai kết quả đôi khi khác nhau. Từ khi thuốc chủng ngừa COVID-19 được chấp thuận vào cuối năm 2020, có tới 250 triệu người trên khắp thế giới được chích ngừa, và các viên chức y tế công cộng bắt đầu quan sát xem thuốc chủng có làm tốt việc chống lại bệnh dịch hay không sau khi họ làm xét nghiệm tối hậu (ultimate test) về hiệu quả của thuốc chủng. Tin tức tìm được sẽ có tầm quan trọng đặc biệt bởi vì con vi rút SAR-CoV-2 đang bắt đầu có biến dạng ở một số nước, như nước Anh và Nam Phi khiến cho các viên chức y tế công cộng, và các nhà lãnh đạo quốc gia lo ngại không hiểu các loại thuốc chủng ngừa hiện nay có đủ sức chống lại những biến thể của con vi rút hay không.

Cho đến nay, nhiều công trình nghiên cứu cho thấy quả thực thuốc chủng ngừa đã làm tròn nhiệm vụ của nó. Hai cuộc nghiên cứu khá lớn gần đây ở Do Thái và Tô cách Lan chứng minh điều này. Ở Do Thái người ta dùng thuốc chủng ngừa của hãng Pfizer-BioN Tech, còn ở Tô Cách Lan dùng cả hai loại Pfizer-BioNTech và Astra Zeneca. Các nhà khoa học nhận thấy những người được chủng ngừa sẽ không còn bị rủi ro bị bệnh nặng do COVID-19 gây ra khiến  phải điều trị trong bệnh viện. Mũi thuốc chủng ngừa quả thực đã làm tròn nhiệm vụ của nó, tức là làm giảm hẳn rủi ro bị bệnh nặng. Tại Do Thái, nghiên cứu cho thấy ngay sau mũi thuốc chích ngừa đầu tiên cũng có thể bảo vệ cho người được chủng ngừa, và đó là yếu tố rất quan trọng trong việc ngăn ngừa sự lây lan của bệnh dịch.

Ngoài ra, còn có nhiều tin mừng khác: Không có bằng chứng nào cho thấy loại vi rút biến thể có đủ khả năng phá vỡ được sự che chở dành cho người được chích ngừa. Ở cả hai nước Do Thái và Tô cách Lan cuộc nghiên cứu không truy cập xem hiệu quả của thuốc chủng ngừa đối với việc chống lại loại vi rút biến thể. Riêng ở Do Thái, nơi có sự xuất hiện khá quan trọng của loại vi rút biến thể, các nhà khoa học ghi nhận có sự sút giảm số người phải đi điều trị trong bệnh viện. Điều này có nghĩa là thuốc chủng ngừa  có lẽ có đủ khả năng chống lại biến chủng của vi rút. Nhóm nghiên cứu Jensen, làm việc cho hãng Johnson & Johnson cho chúng ta những tài liệu rất hữu ích. Thuốc của hãng  Johnson & Johnson được cơ quan FDA chấp thuận cho sử dụng vào ngày 27 tháng Hai vừa qua có khả năng chống lại được biến thể của vi rút, kể cả loại biến thể ở Nam Phi. Thuốc của hãng Johnson & Johnson chỉ cần chích một liều, và hiệu quả  57% giúp người được chích ngừa không thể bị bệnh nặng do COVID-19 gây ra. (tiêu chuẩn để được FDA chấp thuận cho sử dụng là thuốc chủng chỉ cần đạt hiệu quả 50% là đủ). Thử nghiệm về hiệu quả của hai loại thuốc chủng của Pfizer-BioNTech và Moderna cũng có hiệu quả rất cao giúp người được chích ngừa không bị bệnh, nhưng khả năng phát sinh chất miễn nhiễm “antibodies” không mạnh để chống lại biến thể của vi rút. 

Kết quả của những thử nghiệm trên đưa đến một bài học là: sau khi được chích ngừa, cơ thể của chúng ta được bảo vệ không còn bệnh nặng, nhưng các chuyên gia y tế khuyên chúng ta vẫn tiếp tục phải đề cao cảnh giác. Con vi rút SARS-CoV-2 nó không chịu nằm yên, hay biến mất. Trái lại, giống như nhiều loại vi rút khác sau này, chúng chỉ tạm thời ngủ yên- morph- và vẫn tiếp tục chờ cơ hội đi tìm cơ thể mới để tấn công. 

Tiên liệu trước chuyện này có thể xảy ra, hai hãng bào chế thuốc chủng ngừa Pfizer-BioNTech và Moderna thực hiện cuộc nghiên cứu đối với những người đã được chích ngừa đầy đủ hai liều, bây giờ cho họ chích thêm liều thứ ba. Mục đích để thử xem coi liều thuốc thứ ba có giúp những người này tăng cường khả năng chống lại được những vi rút biến thiên. 

Trong trường hợp mũi thuốc này không đủ mạnh, mỗi công ty dược phẩm tìm cách chế ra  loại thuốc chủng mới đặc biệt để trị con vi rút biến thiên ở Nam Phi. Để bào chế loại thuốc chủng nguyên thủy, cả hai công ty đều sử dụng kỹ thuật mới mRNA, chích vào cơ thể con người loại chất liệu lấy từ “gene” của con vi rút, chất liệu đó sẽ tạo ra chất protein của con vi rút, nó sẽ giúp huấn luyện cho những tế bào miễn nhiễm trong cơ thể đánh bại con vi rút gây ra bệnh. Để có thể tạo ra thuốc chủng mới, chống lại mầm gây bệnh mới biến thiên, các nhà khoa học chỉ việc hoán chuyển (swap) bộ “genetic code” nguyên thủy sang loại gây mầm bệnh mới giống hệt như việc thay đổi thuốc chủng ngừa bệnh cúm xảy ra hàng năm để ngăn chặn loại cúm mới xuất hiện trong mùa. Ông Mikael Dolsten, trưởng nhóm khoa học gia ở hãng Pfizer nói: “Chúng tôi luôn luôn đi trước con vi rút một bước. Chúng tôi dự đoán mức độ miễn nhiễm trong cơ thể con người có thể sẽ tăng lên để chống lại con vi rút biên thiên, bảo vệ được cơ thể.” 

Nhóm Jenssen của hãng Johnson & Johnson cũng đang tìm cách khuếch đại mức bảo vệ của thuốc chủng do hãng bào chế. Nhóm nghiên cứu đang tự hỏi liệu chích thêm một liều thuốc nữa có giúp tăng cường sự bảo vệ cho cơ thể chống lại vi rút biến đổi hay không? Họ hy vọng trong vài tháng nữa sẽ có câu trả lời. 

Tất cả những nghiên cứu trên cho chúng ta rút ra được một bài học về cách xử lý bệnh dịch COVID-19 trong những năm sau sắp tới. Nếu con vi rút vẫn tỏ ra ngoan cố, sống dai dẳng, biến đổi, để phá vỡ sự bảo vệ của thuốc chủng ngừa, chúng  ta sẽ phải điều chỉnh thuốc chủng ngừa hàng năm, giống như chúng ta từng làm cho loại thuốc chủng ngừa dịch cúm hàng năm. Nếu việc bảo vệ cơ thể con người đủ sức ngăn chặn sự phá hoại của con vi rút, khi đó nó không còn có thể tìm ra đủ người để gây bệnh, và tự động sẽ biến mất.

Cho đến nay, ít nhất là thuốc chủng ngừa có vẻ như đã giúp cho hệ thống y tế bớt được gánh nặng chữa trị bệnh nhân bị COVID-19. Các chuyên gia y tế công cộng hy vọng rằng với số người được chủng ngừa gia tăng nhanh, rồi đây gánh nặng đó sẽ còn được vơi bớt thêm, để rồi cuối cùng sẽ ngăn chặn hoàn toàn sự lây lan của con vi rút. Họ không thể biết rõ, biết chắc chắn, cho đến khi nào số người trên thế giới được chủng ngừa lên thật là cao, và khi đó họ mới có thể truy cập phản ứng của con vi rút sẽ ra sao đối với bức tường miễn nhiễm ngày càng tăng mạnh.

Nguyễn Minh Tâm  dịch theo báo TIME ngày 15/3/2021

ĐẮNG LÒNG. . .

ĐẮNG LÒNG. . .

Anh với chị trước đây là vợ chồng

Chị chê anh đồ đàn ông vô dụng

Anh hiền lành ,khô khan nhưng tốt bụng

Biết phận mình , anh cũng chẳng nói chi

Rạn nứt tăng dần , đỉnh điểm tới khi

Bé Hương ra đời bị thiểu năng trí tuệ

Chị mắng anh vô cùng thậm tệ

Có đứa con làm chẳng thể ra hồn

Bé Hương ba tuổi thì anh chị li hôn

Anh nhận nuôi con , dồn tình thương cho nó

Và bắt đầu những tháng ngày khốn khó

Gà trống nuôi con lọ mọ một mình

Thiểu năng ngôn ngữ , nhưng Hương vẫn thông minh

Biết phận mình nên không làm phiền bố

Thời gian trôi trên mặt anh khắc khổ

Bé Hương giờ là cô gái sắp trưởng thành

Nhưng bất hạnh chẳng chịu buông tha anh

Lại giáng xuống mái đầu xanh thêm lần nữa

Ung thư lâu rồi , anh hết quyền chọn lựa

Chỉ sống thêm vài tháng nữa mà thôi

Ngày anh hẹn gặp chị đã tới rồi

Quán cũ , sân ga và mấy lời anh nói dối :

Con bé đang dậy thì nên có nhiều thay đổi

Rất cần cô giúp đỡ để quen dần

Tôi là cha nên không thể gũi gần

Đây là lúc nó rất cần có mẹ

Nhưng đừng làm tổn thương con bé

Nó chịu nhiều bất hạnh quá rồi

Chắc chỉ cần một vài tháng thôi

Tôi sẽ đón nó về nuôi trở lại

Chị nhìn anh , con mắt đầy ái ngại

Sao đời tôi , ông mãi chẳng buông tha

Chồng chị đồng ý cho bé Hương về nhà

Chị dặn anh , ba tháng thôi đấy nhé

Vì đã lâu sống không cần có mẹ

Nên từ lâu con bé tự lập rồi . …

Nó chỉ chờ điện thoại của bố thôi

Nói khó khăn , nên chủ yếu nghe bố nói

Mấy tuần đầu , ngày nào anh cũng gọi

Sợ con buồn nên anh phải hỏi thăm luôn

Những ngày đầu nó cảm thấy rất buồn

Đi học về , nó ở luôn trong phòng nhỏ

Chẳng ai thèm quan tâm đến nó

Nên suốt ngày cứ mò mẫm vào ra

Nó có đứa em cùng mẹ khác cha

Thằng bé có chiếc piano xinh xắn

Nhìn cây đàn trong lòng nó mê lắm

Nó lại gần thử vài nốt xem sao

Mẹ nó mắng : Đừng có đụng vào

Ở trường cũ nó đã rất tự hào

Nó học đàn được điểm cao nhất đấy

Nó ước ao có cây đàn như vậy …

Rồi một ngày , tự nhiên nó cảm thấy

Bố đi đâu sao chẳng thấy cuộc gọi nào

Chắc là bố đã bị làm sao ….

Nó chạy vào phòng trong và khóc

Mấy hôm nay nó bỏ ăn bỏ học

Suốt ngày ngồi khóc lóc ủ ê

Mẹ nó nghĩ chắc dở chứng đòi về

Ít ngày nữa trả nó về cho anh ấy

Rồi một đêm , giật mình chị nghe thấy

Ở đâu đây văng vẳng tiếng dương cầm

Dưới phòng khách , chị cữ ngỡ mình nhầm

Con bé chơi đàn và âm thầm hát nhỏ :

Nhớ xa xưa …ngày cha đã già với bao sầu lo …

Sống với cha êm như làn mây trắng …

Đêm đêm cha về hôn chúng con ….

Ôi ! Cha đã già đi cha có biết không . …

Chị cảm thấy vô cùng xúc động

Chị đến sau lưng và ôm nó vào lòng

Nó khóc , và đưa chị xem tờ giấy mỏng

Biết anh ung thư , chị gục xuống góc nhà

Trong đầu chị , một ý nghĩ thoáng qua

Và vậy là chị phải nuôi con bé

Giọng ngọng nghịu nó vỗ về lưng mẹ

Mẹ yên tâm , đừng lo nhé mẹ ơi

Ngày mai con về lại dưới ấy rồi

Con sẽ xin vào học trường nội trú

Trên thiên đường bố đang yên ngủ

Và đủ rồi , không phiền mẹ , mẹ ơi

Con tạm ở đây là bố muốn thế thôi

Bố muốn ra đi một mình thanh thản

Và muốn hai mẹ con có thời gian làm bạn

Chắc dưới kia bố mãn nguyện lắm rồi

14-03-2020

Nguồn: N.N

Ảnh: Minh Hoạ

May be a black-and-white image

BỘ RĂNG VÀNG

BỘ RĂNG VÀNG

  Vũ Trọng Phụng

Ông cụ già ngót tám mươi tuổi đầu ấy đã hứa với chúng cái chết của mình ba tháng nay rồi, mà ba tháng nay, ông cụ cứ nằm lỳ giữa giường để rên đấy, ăn đấy, và thi hành mọi việc cần dùng ở đấy…

Không rời chùm thìa khoá, mở tủ, lấy văn tự địa đồ chia của cho con.

Đến bây giờ thì ông cụ quả thật chết rồi, nhẹ nợ!…

Ông cụ chết rồi, thì thằng cả, thằng hai với vợ chúng xúm nhau vào vồ lấy chùm thìa khoá, tính việc chia gia tài.

Chúng để mặc cái thây ma nằm đấy.. Cả hai ngày hôm ấy chúng bận bù đầu vào trăm công nghìn việc :

Thằng hai nhường cho anh bộ đồ thờ với yến thư bàn độc, kỳ kèo ép anh phải bỏ tiền ra lo cho bố, thết đãi hàng xã, hàng tổng, phải lấy lại hai con lợn nái của mình.

Tối hôm sau cái chết của ông cụ, họ hàng cũng không một ai biết, vì chúng tính toán…chưa xong!

Đến độ nửa đêm mọi việc đã thương lượng được với nhau đâu vào đấy cả. Lên giường nằm nghỉ, thằng cả mơ màng đến những cảnh phóng túng chơi bời cũng như thằng hai, sướng bằng mở cờ trong bụng định những việc mưu danh, cầu tước, mua lấy một chân chức sắc trong làng.

Bốn vợ chồng chúng xì xào to nhỏ với nhau, khúc khích với nhau, duy chỉ một mình ông cụ, một cái thây ma phủ dưới một cái chăn đơn, nằm đờ với ngọn đèn dầu to không bằng hạt đỗ. 

Vì không có chúc thư để lại, cái chết kia là cái chết bất thình lình, chúng đã dấu kín ngày giờ với họ hàng, làng nước, thì chúng kêu gào khóc lóc làm chi?

Vợ chồng thằng cả muốn như đã ngủ rồi

Vợ chồng thằng hai rón rén đẩy cửa lôi nhau ra ngoài chuyện kín. Thằng hai, óc lý tài sáng suốt hơn thằng cả, nhớ rõ ngay rằng trong lúc sinh thời, ông bố muốn thay vào hàm răng cái còn cái gãy, đã lên tỉnh, giồng răng vàng.

Chúng cứ xì xào cãi lẫn với nhau: con vợ nhất định giãy nảy không nghe, kêu rằng trong nhà có kẻ qua đời, người sống muốn cho kẻ chết được thiêng liêng phù hộ cho mình, thường còn lắm khi bỏ vàng vào miệng. Nên khi thấy chồng bàn, lấy bộ răng trong mồm bố để bán, nó chẳng bằng lòng…

Thằng chồng phát gắt mà rằng:

– Cái đời đàn bà chúng mày sao ngu thế? Chết rồi, thì việc cúng giỗ chẳng qua là việc lừa dối thiên hạ, bộ răng vàng ấy đem bán đi không được chục bạc hay sao? Mày không nghe ông mặc kệ mày, miễn sao mày đừng để cho vợ chồng anh cả biết. Ông làm gì thì mặc xác ông!

Rồi nó nguây nguẩy quay vào, để cho vợ một mình đứng đấy. Trong nhà có người chết, ngoài sân lại thêm đom đóm bay liệng lập lòe, cây cau, cây chuối cọ lá sột sạt vào nhau, con vện thỉnh thoảng cắn bóng nó một cách tức bực buồn rầu, nghe sợ đến rủn người đi được.

Chị vợ bỗng giật mình hoảng sợ, hấp tấp chạy vào những toan ngăn chồng không cho làm thế, nhưng khi đến cửa buồng, nhìn vào thây ma trơ trơ nằm đấy thì chị ta lại sợ, không dám bước vào.

Nó biết vợ nó phải lánh mặt đi rồi thì nó cứ việc tự do hành động. Nó nhìn sau nhìn trước, lắng tai nghe kỹ, thấy vợ chồng anh mình đã ngáy mới yên trí, rón rén đến bên giường bố chết, lật cái chăn ra. Để một tay giữ trên đôi mắt người đã qua đời, còn một tay nó bóp lấy hàm, cố vành ra cho được. Thấy hơi răn rắn, nó liền dùng hết sức, cố vành mồm kẻ chết móc ra được bộ răng vàng. Như người sốt rét phải chậu nước lạnh dội vào mình, nó bỗng run lên lật bật. Bộ răng vàng rơi lăn xuống đất nó cũng không kịp nhặt, vì khi nhìn lại đôi mắt của kẻ qua đời đã bị bàn tay phũ phàng của nó, làm cho lật hẳn mi lên. Mà cái mồm, một cái mồm không răng trông sâu hoăm hoẳm mà tối om om, sau khi đã bị vành thì thôi, nhất định không thèm ngậm lại. 

Người chết hình như trợn mắt, há mồm, nguyền rủa thằng con bất hiếu, trông đáng sợ vô cùng.

Nó đứng ngây ra đấy kinh khủng mà nhìn, không chớp mắt một hồi, rồi sau khi rú lên một tiếng, bưng mặt đẩy cửa chạy đi. Nghe thấy tiếng kêu ghê gớm lạ lùng hai vợ chồng người anh đều ngồi nhổm dậy. Chúng không hiểu nguyên do sao cả, chỉ nhìn nhau một cách kinh ngạc rồi rón rén xuống đất, bước đến cửa phòng người chết, đứng đấy nhìn vào. Cái thây ma trợn mắt há mồm như đang chửi rủa..

Hai vợ chồng sợ quá đứng sát nách nhau mà run lập cập, trống ngực đánh thình lình. Giữa cái lúc bối rối tâm thần, mơ màng đến những chuyện “quỷ nhập tràng” của bộ Liêu trai, không biết nên đứng ỳ ra đấy hay cuống cẳng bỏ chạy đi đâu, thì thằng anh nhìn thấy cái bộ răng vàng nằm dưới gậm giường nhờ ánh sáng đèn chiếu ra lóng lánh. Cái việc thằng em vào đây, rú lên rồi ôm đầu bỏ chạy, nó hiểu rõ ra ngay. Nhìn ra sau lưng, thấy vợ chồng thằng em đã đứng tái mặt đấy rồi, thì nó lên giọng đàn anh, mắng trùm: 

-“Chúng mày thực là bất hiếu!”

Cụ thật là người keo kiệt, đến lúc hấp hối rồi mà vẫn còn đo lọ nước mắm đếm củ dưa hành, hau háu ra chi li từng đồng xu nhỏ một chẳng chịu. Người đàn bà kia cố cãi cho ra lẽ, kêu rằng đã hết lời ngăn cản mà chồng chẳng chịu nghe nào!

Rồi chị ta xin lỗi cho chồng, những mong được lượng thứ giữ kín những chuyện nhơ nhuốc trong nhà, cứ việc lắp lại hàm răng vào mồm cho bố.

Nhưng thằng anh lại không làm thế, sau khi không có cách nào vuốt mắt, đậy mồm cho người đã mất thì nó chỉ đành trùm chăn lên trên một cách gọn gàng. Rồi nó quay lại mắng đứa em dâu:

– Chú thím đã định lừa tôi như thế, thì bộ răng này, sau khi tôi bán được, mong rằng chú thím đừng nhớ đến chuyện chia…

Sau cùng, thì một cách tự nhiên, nhanh nhẹn nhất đời, nó cúi xuống nhặt bộ răng vàng, bỏ vào túi.

Vũ Trọng Phụng

Đăng trên Hà Nội báo,số 34; tháng 8.1936

 Công Tố Viên Liên bang sẽ khởi tố thêm ít nhất 100 nghi can tham gia bạo loạn tại Điện Capitol