Bộ Công An: “Ông Lê Đình Kình là một loại cường hào địa chủ mới!”

 

 

 Bộ Công An: “Ông Lê Đình Kình là một loại cường hào địa chủ mới!”

Thiếu tướng Tô Ân Xô, Người phát ngôn Bộ Công an Việt Nam có bài trả lời phỏng vấn và quy kết người dân chỉ một ngày trước phiên xử 29 người trong vụ Đồng Tâm.

Thông tấn xã Việt Nam chiều 6-9 có bài phỏng vấn ông Xô và được báo Chính Phủ dẫn lại lời “kết tội người đã chết” như sau:

“Trong đó, sự nổi lên của đối tượng cầm đầu, nhất là ông Lê Đình Kình trong bối cảnh dòng họ Lê Đình có ảnh hưởng lớn tại thôn Hoành, có khả năng chi phối, tác động kết quả bầu cử ở cơ sở, là một loại “cường hào địa chủ mới”.

Hậu quả sự thoái hóa biến chất của một bộ phận cán bộ đảng viên, mượn danh nghĩa đảng viên, lo cho dân để chống lại chủ trương, chính sách của đảng, Nhà nước.”

Theo ông Xô, lý do dẫn đến vụ án là do “một nhóm đối tượng lợi dụng danh nghĩa đảng viên lôi kéo, lừa mị người dân tham gia các hoạt động sai phạm.

Nguyên nhân trực tiếp là hoạt động chống đối của một số đối tượng trong cái gọi là “Tổ đồng thuận” do ông Lê Đình Kình đứng đầu thành lập, coi thường pháp luật, lợi dụng khiếu nại, tố cáo, đấu tranh chống tham nhũng, tâm lý ham muốn vật chất của một số người dân để tập hợp, lôi kéo những người bất mãn, tiêu cực, kể cả số nghiện hút ma túy, số có tiền án tiền sự tham gia các hoạt động gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.”

Người phát ngôn Bộ Công an cũng bảo vệ quan điểm cho rằng, việc triển khai 3000 cảnh sát cơ động tràn vào thôn Hoành lúc 2-3 giờ sáng là “đúng pháp luật”.

“Thời điểm triển khai phương án, việc triển khai bố trí lực lượng sớm, ngay từ trong đêm xuất phát từ 2 yêu cầu.

Thứ nhất là căn cứ kế hoạch hiệp đồng giữa các lực lượng, lực lượng Công an có trách nhiệm hoàn tất triển khai phương án bảo đảm an ninh, trật tự trước 6h00 ngày 9/1/2019 để các đơn vị của Bộ Quốc phòng xây dựng đoạn tường rào còn lại trên địa bàn xã Đồng Tâm.

Thứ hai là trong tất cả các phương án, kế hoạch bảo đảm an ninh, trật tự, lực lượng Công an đều phải triển khai lực lượng, biện pháp 24/24 giờ, cả trước, trong và sau khi diễn ra sự kiện để đảm bảo tuyệt đối an ninh, an toàn đối tượng bảo vệ, do vậy việc bố trí lực lượng trong đêm là bình thường, đúng quy định của pháp luật liên quan,” ông Xô khẳng định.

Sáng 7-9-2020, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội sẽ đem 29 người dân xã Đồng Tâm huyện Mỹ Đức ra xét xử với cáo buộc 2 tội danh là “giết người” và “chống người thi hành công vụ”.

Đại sứ quán Hoa Kỳ trước đó cho biết sẽ theo dõi sát sao vụ án và thúc giục chính phủ Việt Nam tuân thủ đúng văn bản và tinh thần luật pháp trong đó có Bộ Luật Hình Sự và Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự; đồng thời nhất quán với các qui định về nhân quyền trong Hiến pháp Việt Nam và những nghĩa vụ cùng cam kết quốc tế mà Hà Nội đã ký kết.

Bạn nghĩ sao về phát biểu của ông Xô?

#DongTam #VuanDongTam #LeDinhKinh

Image may contain: one or more people

Ở cuối con đường sinh mệnh đó là Tình Thương, Trí Tuệ và Nụ Cười,

Ở cuối con đường sinh mệnh đó là Tình Thương, Trí Tuệ và Nụ Cười,

Vì biết trong ta có cả Bùn lẫn Sen, có cả Ác quỷ lẫn Thiên thần, không quá thích sen mà chối bỏ bùn, không vì yêu mến thiên thần mà hận thù ác quỷ, từ đó có Bình An.

– Vì biết trong ta có cả đen lẫn trắng, không khước từ đen để hãnh diện vì mình trắng, không quá vui khi mình trắng mà cay đắng lúc mình đen, từ đó có Bình An.

-Vì biết nhìn người và vật không thể nhìn bề ngoài. Cái vỏ ngoài chỉ là giả tướng, từ đó có Bình An..

– Vì biết cảm hóa người khác là chuyện không dễ dàng, không quá mong mỏi người khác thay đổi theo ý mình, từ đó có Bình An.

– Vì biết không thể nói về biển với con ếch đáy giếng, không thể bàn về băng tuyết với côn trùng mùa hè, từ đó có Bình An..

– Vì biết nhìn vào trạng thái tâm trước khi nói, từ đó có Bình An

– Vì biết sống trên cái lưỡi khen chê của thiên hạ là luôn nô lệ giá trị bên ngoài và bị tha hóa, nghe gì cũng ”Thôi Kệ!”, từ đó có Bình An..

– Vì biết đánh giá tình cảm của con người không chỉ nhìn qua hành động tạm thời trước mắt, mà qua hoạn nạn mới rạng chân tình, từ đó có Bình An..

– Vì biết nhìn người ta mà sống là nô lệ, và sống cho người ta nhìn là sống ảo, từ đó có Bình An.

– Vì biết chắc chắn ta sẽ già, sẽ bệnh, sẽ chết. Trừ bậc Thánh, chẳng một ai thoát ra ngoài cái quy luật muôn đời ấy, từ đấy có Bình An..

– Vì biết chịu trách nhiệm những hành động thiện ác lớn bé trong tam nghiệp của mình, từ đó co Bình An..

– Vì biết Khổ đau đi theo sau Hạnh phúc như bóng dõi theo hình, không nhọc nhằn đeo đuổi hạnh phúc nữa, từ đó có Bình An..

– Vì biết bất cứ điều gì hễ có khi bắt đầu sẽ có lúc kết thúc, từ đó có Bình An.

– Vì biết cái Ác chỉ có thể thắng cái Thiện nhất thời rồi nhanh chóng nhường lại chỗ ngồi cho Chân Lý, từ đó có Bình An..

– Vì biết cái có thể mang theo được ở cuối con đường sinh mệnh đó là Tình Thương, Trí Tuệ và Nụ Cười, mỗi ngày sống với ba điều đó, từ đó có Bình An…
 

Thích Tánh Tuệ

From: TU-PHUNG

Những cô giáo nhỏ

Những cô giáo nhỏ

Em mãi mãi là người đi gieo hạt 

Dù đất cằn hay đất lẫn phù sa 

(Tôn Sỹ Dũng)

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến (Danlambao) – Bữa coi phim Titanic tui khóc ướt áo luôn khiến mấy đứa nhỏ cười bò lăn, bò càng:

– Trời ơi, sao nghe nói “tuổi già hạt lệ như sương” mà ba lại nhiều nước mắt dữ vậy cà?

Sau con, tới vợ:

– Chắc tại cái tuyến nước mắt của ổng bị bể (ngang) nên nó mới tràn lan quá xá ể như vậy!

Tui (ra đường) hay đi tròng ghẹo thiên hạ nên (về nhà) bị mẹ con nó xúm lại chọc quê kể cũng… đáng đời. Tui không giận dỗi hay buồn phiền gì ráo mà chỉ cảm thấy mình cũng hơi kỳ.

Tui không chỉ yếu xìu trong chuyện làm tiền (cũng như làm tình) mà còn yếu ớt trong đủ thứ chuyện tào lao khác nữa. Tui đi mua hàng bị thối thiếu tiền nhưng sợ người bán ngượng nên đành nín lặng cho qua. Sáng sớm chạy tập thể dục, lỡ đạp nhằm con ốc sên (“nghe cái rốp”) là tui bần thần cho tới tận trưa luôn. Dọn vườn – có khi – lỡ tay làm gẫy một cành hoa, cũng khiến tôi đâm ra áy náy.

Nói tóm lại, và nói theo ngôn ngữ của tâm lý học phổ thông, là tui thuộc loại người đa cảm và có hơi nhiều… nữ tính. Đây không hẳn vì tính trời sinh đâu mà còn do ảnh hưởng của giáo dục từ những năm thơ ấu.

Không hiểu tại sao, và bằng cách nào, khi vừa đến tuổi cắp sách đến trường thì tôi (và năm bẩy thằng nhóc khác) lại được nhận vô trường nữ tiểu học Đoàn Thị Điểm – ở Đà Lạt. Thành phố này vốn sẵn nhiều bông, tui lại lâm vào cảnh “lạc giữa rừng hoa” nên trở thành “mong manh” là phải.

Các cô giáo của tôi đều là những phụ nữ xinh đẹp, dịu dàng, hiền lành và vô cùng tận tụy. Qua năm năm tiểu học, tôi được dậy dỗ kỹ càng nhiều điều cần thiết để thành người tử tế: phải rửa tay trước khi ăn, đánh răng trước khi ngủ, phải viết chữ (thay vì con số) ở đầu câu, phải xuống hàng sau mỗi đoạn văn đã đủ ý, phải vâng lời cha mẹ và anh chị, kính mến người già, tôn trọng thiên nhiên, thương mến xúc vật, qúi trọng bạn bè, yêu quê hương đất nước, thương người như thể thương thân…

Tuy không không thành công hay hiển đạt (gì ráo trọi) tôi vẫn sống được như một người đàng hoàng cho mãi đến hôm nay là nhờ luôn ghi khắc (và biết ơn) những gì đã được học hỏi vào thưở ấu thời. Hình ảnh của những cô giáo (thiên thần) của tôi cũng thế, cũng mãi mãi in đậm trong tâm trí của một kẻ tha hương – dù tóc đã điểm sương.

Ảnh: Marc Riboud

Trên con đường học vấn, tôi tự cho mình là một kẻ may mắn. Ít nhất thì cũng may mắn hơn rất nhiều những đứa bé thơ, hiện đang lớn lên ở đất nước Việt Nam:

– Cô giáo mầm non dùng dép đánh vào đầu trẻ

– Viết sai chính tả học sinh bị cô giáo đánh thâm tím mặt

– Giáo viên buộc học sinh uống nước giẻ lau bảng

– Thầy giáo cấp 1 bị tố dâm ô 9 học sinh lớp 3… 

– Phụ huynh biểu tình phản đối lạm thu

Như đã thưa, tôi vốn đa cảm và yếu đuối. Nghe tiếng vỡ vụn của một cái vỏ ốc sên dưới gót chân (lỡ bước) cũng đủ khiến tôi cảm thấy bất an nên không khỏi hoang mang, lo ngại cho những mầm non xứ sở vì những mẩu tin thượng dẫn.

May thay – tuần rồi – tôi tình cờ quen được một cô giáo trẻ, đang đi thăm người thân ở thủ đô Bangkok. Khi được hỏi về nghề nghiệp, cháu hãnh diện cho biết mình là một giáo viên dậy học tại một vùng quê thuộc tỉnh Nghệ An.

Ảnh: Phạm Thông

Tính cởi mở, và vẻ bặt thiệp, của người đồng hương khiến tôi bớt ngần ngại khi đặt những câu hỏi về tình trạng trẻ thơ bị ngược đãi hay bạo hành nơi trường học. Cháu xác nhận là có nhưng không nhiều lắm, và nói thêm rằng trở ngại lớn của nền giáo dục Việt Nam (hiện nay) là mức sống quá thấp nơi những thôn làng heo hút. Ở lắm chỗ, chuyện ăn mặc vẫn còn là vấn đề nên việc học hành gần như đang bị lãng quên hay bị coi như là điều xa xỉ.

Trước khi chia tay, chúng tôi trao đổi fb, email… Có lẽ vì sợ tuổi tác khiến cho tôi khó cập nhật thông tin nên vài hôm cô giáo trẻ gửi cho tôi vài bài báo, rất cảm động, về công việc của nhiều bạn đồng nghiệp:

Tuần qua, tôi cũng tình cờ đọc được một đoạn văn ngăn (ngắn) nhưng đầy ắp tình cảm của nhà báo Mai Thanh Hải. Ông viết vì quá xúc động sau cái chết của một cô giáo vùng cao, bị lũ cuốn trôi:

Vẫn nhớ gương mặt em hòa lẫn cùng hơn 20 gương mặt giáo viên Mầm non toàn nữ, trong những ngày rét nhất, rét đến cứng đơ người của mùa rét 2011 năm trước, khi các em tập trung về điểm Trường chính Sàng Ma Sao (Bát Xát, Lào Cao) nhận áo ấm, thực phẩm, chăn màn của Gánh Hàng xén – “Cơm có thịt” cho bọn lít nhít đang ngồi yên ở điểm Trường Ki Quan San, đợi cô về. 

Hôm ấy, mình phải ngủ lại điểm trường chính vì đường rừng bị sạt lở và lần đầu tiên, mấy thằng đàn ông bị “quây” rượu bởi hơn 30 cô giáo trẻ măng, vừa học xong đã phải lên trên bản dạy học, cả tháng may ra về Thị trấn được 1 lần. 

Cuộc rượu về đêm, không say nổi bởi nghe các em thay nhau kể về cái cảnh thiếu thốn, chịu đựng và còn cả khát khao rất tầm thường của những thiếu nữ mới hơn 22-23 tuổi, đang ở phố thị, nhoằng cái phải lên rừng dạy học. 

Sống cuộc sống không điện đóm, không tivi, không đài, không bạn bè, không tiếng người Kinh qua lại. Thiếu thốn từ hạt muối cho đến thanh củi, đêm nằm trong căn nhà tranh dột nát, gió lùa hun hút, không ngủ được vì lạnh, thành mất ngủ triền miên… Gần 2 năm, dự định gần Tết lại mang áo của Áo ấm biên cương lên Sàng Ma Sáo, gặp lại các em. Vậy mà! 

Vĩnh biệt em, cô giáo Lý Thị Hồng (SN 1987, dân tộc Giáy, cư trú ở thôn Piềng Láo, xã Mường Hum, Bát Xát, Lào Cai) – Giáo viên thuộc phân hiệu Ki Quan San, Trường Mầm non xã Sàng Ma Sáo… 

Hàng vạn thầy cô giáo phải chấp nhận sự hy sinh vì sự nghiệp giáo dục. 

Ảnh & chú thích: Dân Trí

Họ hy sinh mọi thứ (kể cả tính mạng) nhưng họ chỉ được nhận lại khoản tiền thù lao vô cùng ít ỏi. Theo BBC, đọc được vào hôm 23 tháng 8 năm 2018: “Một nhà khoa học Việt Nam đưa ra đánh giá nói công an và quân đội có thu nhập chính thức cao nhất, còn nghề giáo và làm nông là thấp nhất nước này.” Bà Nguyễn Thị Kim Thanh – Trưởng Phòng GD, Sở GD-ĐT TPHCM – cho biết thêm chi tiết: “Tính ra, thu nhập của giáo viên mầm non còn thua cả người giúp việc!”

Ông Nguyễn Tiến Đạt, Phó Giám Đốc Sở GD-ĐT TPHCM, khẳng định: “Không đâu chăm lo mầm non tốt như ở nước ta!” Tôi e khó mà chia sẻ với sự lạc quan của vị Phó Giám Đốc Sở GD-ĐT TPHCM, trước thực trạng “thu nhập của giáo viên mầm non còn thua cả người giúp việc!”

Tuy thế, không ai có thể phủ nhận được sự tận tụy, cùng tấm lòng vị tha, của hằng vạn giáo viên trên khắp nẻo đường đất nước. Xin chân thành cảm ơn các em, các cháu – những cô gái Việt Nam vô danh và thầm lặng – đã vì những mầm non bất hạnh mà hy sinh, và trao trọn tuổi thanh xuân, để tương lai của xứ sở đỡ được phần đen tối.

09.10.2018

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

danlambaovn.blogspot.com

Belarus: Đối lập tiếp tục biểu tình phản kháng Chủ Nhật thứ 5 liên tiếp

Hôm nay, 07/09/2020, theo kế hoạch, đối lập Belarus tiếp tục xuống đường đông đảo, ngày Chủ Nhật thứ 5 liên tiếp, để yêu cầu tổng thống Loukachenko hủy bỏ kết quả bầu cử, bị tố cáo là gian lận. Hôm qua, khoảng 4.000 người tuần hành tại Minsk.

Belarus: Đối lập tiếp tục biểu tình phản kháng Chủ Nhật thứ 5 liên tiếp
RFI.FR | BY RFI TIẾNG VIỆT
Belarus: Đối lập tiếp tục biểu tình phản kháng Chủ Nhật thứ 5 liên tiếp

Bộ Công an phong tỏa 500 triệu đồng tiền phúng điếu cụ Lê Đình Kình đến giờ chưa trả?

Bạn có biết Bộ Công an phong tỏa 500 triệu đồng tiền phúng điếu cụ Lê Đình Kình đến giờ chưa trả?

Đại diện Bộ tư lệnh Cảnh sát cơ động hôm 22-1-2020 đến tận nhà 3 công an được cho là đã tử vong trong vụ đụng độ với người dân Đồng Tâm trao 4 tỷ đồng cho thân nhân.

Đây là số tiền trích từ một ngày lương của cán bộ, chiến sĩ lực lượng cảnh sát cơ động ngay sau lễ phát động học tập “tấm gương dũng cảm hy sinh của 3 liệt sĩ”.

Trước đó chỉ 5 ngày, tài khoản ngân hàng của bà Nguyễn Thúy Hạnh tại Vietcombank bị phong tỏa sau khi hàng trăm người (chủ yếu là trong nước) gửi tổng cộng hơn 500 triệu đồng để phúng viếng cụ Lê Đình Kình, người bị cảnh sát bắn chết vào sáng 9-1.

Bộ Công an xác nhận, cơ quan điều tra đã đề nghị các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước phối hợp rà soát, phong tỏa một số tài khoản có liên quan “để phục vụ yêu cầu điều tra, mở rộng vụ án, trong đó có hành vi tài trợ khủng bố”.

Cho đến nay, không có ai và vụ án khủng bố nào trong vụ Đồng Tâm bị khởi tố và số tiền 500 triệu đồng vẫn còn bị phong tỏa.

Bạn nghĩ sao?

#DongTam #VuAnDongTam #LeDinhKinh

Image may contain: 7 people, text

Kế hoạch tấn công vào Đồng Tâm đã được công an thành phố Hà Nội vạch ra trước đó?

Bạn có biết kế hoạch tấn công vào Đồng Tâm đã được công an thành phố Hà Nội vạch ra trước đó?

Hôm 4-9-2020, một nhóm các luật sư bào chữa cho những người dân bị truy tố trong vụ việc xảy ra ở Đồng Tâm đã gửi đơn kiến nghị trước ngày xét xử đến Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Trong đơn, các luật sư dẫn trang 5 Cáo trạng của VKSND TP Hà Nội về vụ án nêu rõ, kế hoạch “tấn công” vào Đồng Tâm do Công an TP Hà Nội đưa ra và “Kế hoạch đã được UBND TP Hà Nội đồng ý chủ trương và đã được Bộ Công an phê duyệt”.

Các luật sư nhận xét đây “là một kế hoạch bài bản, có sẵn, không phải là sự kiện ngẫu nhiên, nó trái ngược hoàn toàn với những thông tin ban đầu khi mới xảy ra sự kiện được Bộ Công an đã đăng tải trên trang web công khai và được các tờ báo lớn nhỏ đăng tải, dẫn nguồn về việc hành động tấn công diễn ra trên cánh đồng Sênh.

Cho tới tận bây giờ, rất nhiều người dân vẫn hiểu rằng, những người dân Đồng Tâm, những bị can bị bắt trong vụ án này đã chống lại lực lượng thi hành công vụ trên cánh đồng Sênh, nơi xảy ra tranh chấp đất đai chứ không phải là trong làng Hoành hay trong nhà cụ Kình…

Những thông tin nhiễu loạn khiến và được suy diễn theo hướng xấu hơn cho tình trạng của các bị can.”

Theo Bản kết luận điều tra trang 45 cũng thể hiện 2 ông Lê Đình Công và Lê Đình Quang đã đưa cho nhau xem video hình ảnh luyện tập của lực lượng Công an vào ngày 2-1-2020 do chính lực lượng công an đưa lên.

Theo thông báo của Bộ Công an ngay sau sự kiện ngày 9-1, trong quá trình xây dựng tường bảo vệ sân bay Miếu Môn, một số đối tượng có hành vi chống đối, sử dụng lựu đạn, bom xăng, dao phóng… tấn công lực lượng chức năng.

Cho đến nay, không có bất kỳ bằng chứng nào cho thấy người dân Đồng Tâm đã tấn công lực lượng quân đội đang xây hàng rào.

Bạn nghĩ sao?

#DongTam #VuanDongTam #LeDinhKinh

Image may contain: 1 person, text that says '2020 09 RFA BANCO CÓ BIÉT? KE HOACH TAN CONG' VÀO XÃ DONG TÂM DÃ DUOC CONG AN TP HÀ NOI VACH RA TRUÓC RFA RFAVietnam rfavietnamese RFAVietnamese DaiAChauTuDo rfa.org/vietnamese'

THÁNH TERESA CALCUTTA, NGƯỜI MẸ LÒNG THƯƠNG XÓT

THÁNH TERESA CALCUTTA, NGƯỜI MẸ LÒNG THƯƠNG XÓT

Vị nữ tu Teresa thành Calcutta qua đời ngày 05.09.1997 đã được Hội Thánh tôn phong lên hàng Chân Phước ngày 19.10.2003, và ngày Chúa Nhật 04.09.2016 được tôn kính trên bàn thờ trong Hội Thánh Công Giáo là đấng Hiển Thánh.

Cuộc đời 87 năm trên trần gian của mẹ Thánh Teresa gắn bó với số phận của những người nghèo vừa về miếng ăn lương thực, quần áo, thuốc men chữ bệnh, nhà cửa, và vừa về gía trị nhân phẩm con người cùng đau khổ tinh thần của họ nữa.

  1. Gia đình, nôi nuôi dưỡng lòng thương xót

 Mẹ Thánh Teresa mở mắt chào đời bên nước Albania, vùng phía Đông Âu châu, nằm trong liên bang Nam Tư Cộng sản cũ thời Thống Chế Tito.  Albania là một nước nhỏ đại đa số dân cư theo Hồi giáo, đạo Công Giáo chỉ là một thiểu số trong xã hội này.  Gia đình Mẹ Teresa là một gia đình khá giả nếp sống bậc trung lưu có cuộc sống hạnh phúc, theo đức tin Công Giáo truyền thống đạo đức.

Buổi sáng nào người mẹ gia đình Drana của Teresa cũng đều đưa ba người con của bà đi nhà thờ đọc kinh cầu nguyện dâng Thánh lễ.  Buổi chiều tối gia đình tụ tập lại lần chuỗi mân côi, dù bận rộn hay có khách.  Vì với gia đình đó là điều quan trọng hơn cả.

Ngay từ khi con còn nhỏ, người mẹ gia đình Drana đã dậy các con mình sống bác ái lòng thương xót theo phương hướng Phúc âm của Chúa: “Những gì các con làm cho một người bé nhỏ hèn mọn nhất trong các con, chính là các con làm cho Thầy” (Mt 25,40).

5,972 Mother Teresa Photos and Premium High Res Pictures - Getty Images

Rồi hằng tuần, người mẹ Drana của Teresa có thói quen thăm hỏi những người bệnh nạn trong khu phố, và mang cho những người nghèo quần áo cũng như thực phẩm cần thiết.  Bà muốn con mình ngay từ nhỏ đã biết cùng đồng hành với những người như thế.  Bà thường nói với các con mình: “Các con có phúc lắm, có nhà ở đẹp, có đầy đủ lương thực và quần áo.  Các không con thiếu gì.  Nhưng các con không được quên có nhiều người phải sống trong hoàn cảnh thiếu ăn, có những trẻ em không có quần áo, khi đau bệnh, chúng không có thuốc trị bệnh cần thiết để chữa bệnh.”

Đời sống gương sáng của người mẹ Drana đã ghi khắc dấu vết sâu đậm trong tâm khảm đời sống của Teresa ngay từ nhỏ.  Có lần Teresa lúc nhìn lại thời nhỏ còn ở nhà với mẹ mình đã tâm sự: “Tôi không biết phải nói gì hơn nữa, gương sống của mẹ tôi, hay nếp sống đạo đức chăm chỉ đi nhà thờ cầu nguyện của mẹ tôi đóng vai trò ảnh hưởng rất quan trọng cho ơn kêu gọi của tôi trưởng thành chín mùi.”  Chính trong bầu khí chan chứa lòng thương xót đó của gia đình với những người chung quanh Teresa đã lớn lên và trở thành vị Thánh, người mẹ lòng thương xót sau này giữa lòng xã hội con người.

  1. Con đường lòng thương xót

 Lúc Teresa lên 12 tuổi đã cảm nghiệm thấy mình có ơn kêu gọi vào sống tu trì trong nhà Dòng, và còn hơn thế nữa cảm nghiệm ra ơn kêu gọi trở thành một nhà truyền giáo sang Ấn Độ, bên Á Châu.

Năm 18 tuổi Teresa đã nói với mẹ mình và cha sở ý muốn đi truyền giáo sang Bengale bên Ấn Độ để cùng làm việc với các Cha Dòng Tên Chúa Giêsu đang sinh sống nơi đó.  Nhưng để thực hiện được ý muốn đó, Teresa phải nhập Dòng Đức mẹ Loreto ở bên Dublin nước Ái nhĩ Lan.  Các nữ tu dòng Đức mẹ Loreto thời đó cũng đang hoạt động truyền giáo bên Bengale.

Teresa nghe theo tiếng gọi con đường đó và trở thành nữ tu của Dòng Loreto, rồi năm 1928 được sai sang Ấn Độ đến vùng Himalaja sống thời gian nhà tập tu luyện, sau đó đến Calcutta học thêm và trở thành cô giáo môn lịch sử, địa lý trường trung học St. Mary’s High School của nhà Dòng.

Nữ tu Teresa làm công việc trí thức dạy học ở trường học nội trú với nhiệt tâm đầy đủ trách nhiệm, nhưng tâm hồn luôn nghĩ đến việc truyền giáo cho những người nghèo nhất nơi những người nghèo bên Ấn độ, mà vị nữ tu ngày đêm ấp ủ hoài bão lúc nào cũng mơ tưởng mong muốn được sống được làm.  Vị Nữ tu Teresa tâm sự: “Tôi là cô giáo, đây là một nếp sống mới với tôi.  Ngôi nhà trường nội trú này rất đẹp cùng thuận lợi cho các học sinh.  Tôi yêu thích việc dậy học.  Tôi chịu trách nhiệm trông coi cả nhà trường, các nữ học sinh yêu mến tôi…”

Nhưng trong khu nhà trường nội trú đó, vị nữ tu Teresa không gặp được một ai là người nghèo đói bị bệnh hoạn, bị bị bỏ rơi ngoài đường phố.

Ngày 10 tháng Chín 1946 nữ tu Teresa đáp xe lửa đi Darjeeling vùng phía Tây Bengale, nơi xưa kia Teresa đã sống thời gian nhà tập, đi tĩnh tâm.  Khi xe lửa đến nhà ga thành phố Calcutta, vị nữ tu cô giáo trường nội trú nhìn thấy tận mắt cảnh từng đám đông người nghèo, người đau khổ thiếu thốn nghèo khổ, bệnh tật đui què sống chen chúc vất vưởng ngoài đường, những bà mẹ trẻ bồng bế cõng con không quần áo trên lưng, trên vai ăn xin ngoài phố xá… thật là một cảnh hãi hùng thương tâm với vị nữ tu trẻ tuổi Teresa.  Tâm hồn vị nữ tu Teresa bồi hồi dao động vì cảnh tượng quá thương tâm như thế

Tâm hồn con mắt vị nữ tu Teresa càng mở ra to lớn hơn, và nữ tu Teresa đã có quyết định quay ngược lại với ơn kêu gọi mà chị đã cảm nghiệm được từ lúc còn ở quê nhà bên Albania: muốn trở thành nhà truyền giáo sống cho người nghèo khổ cùng cực bên Ấn Độ!

Chính mẹ Thánh Teresa sau này đã tâm sự nói về quyết định quay ngược lại tận căn rễ của mình: “Trong đêm hôm đó mắt tôi đã mở ra nhìn thấy cảnh thương tâm cùng cực của con người nghèo khổ xấu số, và tôi cảm thấy tận sâu thẳm sự gì là căn bản ơn kêu gọi của tôi.  Đó là tiếng gọi mới của Chúa nói với tôi, một ơn kêu gọi trong lòng ơn kêu gọi.  Chúa kêu gọi tôi không được từ bỏ đời sống là nữ tu, nhưng hãy thay đổi nếp sống.  Có thế mới phù hợp nhiều hơn với tinh thần phúc âm, với tinh thần truyền giáo, mà Chúa ký thác ban gửi cho tôi…  Tôi cảm nghiệm ra rằng Chúa muốn tôi bỏ nếp sống thanh bình yên lặng tiện nghi nhà Dòng của tôi, mà đi ra ngoài đường sống phục vụ những người nghèo khổ.  Với tôi sứ mạng đã rõ ràng: Tôi phải đi ra khỏi nhà Dòng và sống với những người nghèo khổ cùng cực.  Chúa đã gọi tôi đến sống với những người không có sự gì ở thành phố Calcutta này…. Cuộc tĩnh tâm của tôi ở Darjeeling là những ngày suy nghĩ về sứ mạng ơn kêu gọi mới của tôi, mà tôi đã tiếp nhận trên đường tới đây.  Sau đó về lại Calcutta, tôi quyết định thay đổi nếp sống đời tu.”  Con đường dấn thân cho lòng thương xót với con người cùng khổ, cùng đinh trong xã hội Calcutta bên Ấn Độ bắt đầu từ quyết định thay đổi ra đi đến với họ của mẹ Thánh Teresa.

  1. Nhà Dòng lòng thương xót: Dòng thừa sai bác ái.

Con đường thay đổi nếp sống của nữ tu Teresa để ra đi sống với và cho người nghèo cùng khổ không đơn giản dễ dàng.  Vì phải vượt qua những chặng thử thách có phép chấp thuận của nhà Dòng Loreto cho nữ tu Teresa ra đi, phép của Đức Giám Mục Calcutta, phép của Thánh bộ giáo sỹ tu sỹ bên Roma, và sau cùng phép phê chuẩn của Đức Thánh Cha cho mẹ Teresa lập Dòng mới như mẹ thỉnh nguyện xin.

Sau những năm tháng khảo sát điều tra, ngày 7.10.1950 Tòa Thánh đã phê chuẩn chấp thuận cho mẹ Teresa thành lập Dòng Thừa sai bác ái bên Calcutta Ấn Độ để giúp phục vụ người nghèo khổ cùng cực trong xã hội.

Thế là ơn kêu gọi phục vụ truyền giáo cho người nghèo của mẹ Teresa về phương diện pháp lý theo luật đạo thành sự.

Ơn kêu gọi hoài bão lòng mong ước đến sống truyền gíáo lòng thương xót giữa những người nghèo khổ, mà mẹ Teresa đã đón nhận ơn soi sáng từ Thiên Chúa nguồn tình yêu thương, giờ đây thành hiện thực cho đời mẹ.

Như các Dòng truyền thống trong Hội Thánh Công Giáo, Dòng của Mẹ Teresa cũng có ba lời khấn: khó nghèo, vâng lời và khiết tịnh, ngoài ra Dòng còn buộc các chị em nữ tu lời khấn thứ tư nữa: sống vị tha bác ái thương người.

Mẹ Teresa, vị sáng lập Dòng Thừa sai bác ái tâm sự: “Chúng tôi có trách nhiệm bổn phận với lời khấn phục vụ cho hết mọi người không đòi hỏi thù lao được trả công.  Lời khấn này có nội dung là chúng tôi không làm việc phục vụ cho người giầu có, không làm việc vì thù lao tiền bạc, chúng tôi không được nhận tiền bạc thù lao.”

Dòng Thừa sai bác ái của Mẹ Teresa chọn áo Sari dài phủ kín thân thể của phụ nữ Ấn Độ vẫn thường mặc hằng ngày.  Áo Sari mầu trắng bằng vải thô, bên vành áo có ba vạch mầu xanh da trời nói lên ý nghĩa mầu của bầu trời.  Phía bên trái áo Dòng Sari có gắn cây Thánh Giá Chúa Giêsu, để nhắc nhở người nữ tu nhớ đến Chúa Giêsu.

Mẹ Teresa cắt nghĩa về áo dòng Sari: “Chiếc áo Dòng Sari giúp người nữ tu cảm nhận mình là người nghèo giữa những người nghèo, nhận ra mình cũng là người bệnh tật đau khổ, là trẻ em, là những người già yếu bị bỏ rơi.  Và với chiếc áo Dòng Sari cùng chia sẻ đời sống không có gì thừa tự để lại cho thế giới.”

Chiếc áo Dòng áo Sari hèn mọn theo kiểu của người phụ nữ bình dân trong xã hội Ấn Độ nói lên sâu đậm căn tính lòng thương xót cùng đồng cảm với con người của Dòng Thừa sai bác ái do mẹ ThánhTeresa sáng lập.

  1. Dụng cụ lòng thương xót

 Mẹ Thánh Teresa lúc còn sinh thời đã thuật kể lại về nhà Dòng Thừa sai bác ái phục vụ cho người nghèo, trẻ con, người bệnh tật bị bỏ rơi trên toàn thế giới: Dòng chúng tôi có 3.500 chị em nữ tu nơi 95 quốc gia với 445 nhà, chúng tôi càng cần thêm nhiều ơn kêu gọi nữa do Chúa gửi đến…

Chúng tôi là dụng cụ của Thiên Chúa.  Những công việc phục vụ cho bác ái tình yêu là những công việc phục vụ cho hòa bình.  Chúng tôi không bao giờ có ý nghĩ về chính trị.  Chúng tôi chỉ muốn phục vụ giúp đỡ người nghèo khổ, vì họ cần đến tình yêu của chúng tôi…

Công việc dấn thân phục vụ người nghèo, người cùng khổ là chứng từ cụ thể cho đức tin.  Nó cắt nghĩa cho người người nghèo, người đau khổ về tình yêu Thiên Chúa trao tặng cho họ.  Ở Ấn Độ, một phóng viên người Hoa Kỳ quan sát tôi săn sóc người bệnh bị bệnh da lở loét rất nguy hiểm, anh ta nói với tôi: “Dạ, việc như vậy dù có cho tôi một triệu Mỹ kim, tôi cũng không làm!”  Tôi nói lại ngay: Đúng thế, tôi cũng chẳng làm dù có được một triệu Mỹ kim!  Nhưng tôi làm vì tình yêu Chúa.  Người nghèo khổ bệnh tật này với tôi là thân thể Chúa Giêsu Kitô…  Anh phóng viên nghe thế đứng yên lặng rất mủi lòng cảm động, và hiểu nhận ra sức mạnh nào đã kêu gọi cùng thêm sức nâng đỡ việc làm của chúng tôi…

Chúng tôi luôn nỗ lực cố gắng tìm đến nơi có những người lâm vào hoàn cảnh đau khổ mà không có ánh sáng niềm hy vọng.  Đó là nơi những người nghèo khổ, đói khát và bị bệnh tật, nhất là những người bị bỏ rơi sinh sống vất vưởng.  Chúng tôi đến những nơi đó do Chúa sai đến và chỉ cho chúng tôi việc phải làm…

Với Mẹ Thánh Teresa và Dòng của Mẹ, cầu nguyện với Chúa là suối nguồn kín múc sức mạnh cho việc làm bác ái lòng thương xót con người mà Chúa gửi sai đến: “Ngày sống làm việc của chúng tôi đặt trên căn bản cầu nguyện.  Dòng chúng tôi là Dòng chiêm niệm ở giữa lòng trần gian.  Vì thế cầu nguyện là căn bản đời sống nhà Dòng.  Chúng tôi luôn luôn cầu nguyện khắp mọi nơi đang khi làm việc cũng như lúc đi dọc đường.  Nếu chúng tôi không liên lỉ sống kết hợp với Chúa, chúng tôi đâu có thể có sức lực để sống dấn thân hy sinh phục vụ được.”

Khi người ta xin Mẹ tấm thẻ địa chỉ của Dòng, Mẹ Thánh Teresa rút trong túi áo Dòng Sari ra một mảnh giấy nhỏ rẻ tiền mầu xanh, trên có in dòng chữ bằng tiếng Anh:

“Chúa Giêsu vui mừng hạnh phúc đến với chúng ta,
khi sự chân thật muốn được loan truyền,
khi sự sống muốn được cho bừng lên chỗi dậy,

khi ánh sáng muốn được bật chiếu tỏa lan ra,
khi tình yêu muốn được yêu mến,
khi niềm vui muốn được tiếp tục cho đi,
khi hòa bình muốn được xây dựng lan tỏa gieo rắc.”  (Mẹ Teresa)

Xin Mẹ Thánh Teresa cầu cho chúng con!

Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long

Giáo dục XHCN Sẽ Tự Xóa Sổ Chế Độ

+3

Thưa Bà Con,

CSBV vừa khai giảng niên học mới 2020-2021. Ngày khai giảng đặc biệt của gần 23 triệu học sinh cả nước 05/09/2020 07:00 GMT+7

Sáng nay (5/9), gần 23 triệu học sinh khai giảng năm học 2020-2021. Để “Tất cả vì học sinh thân yêu” trong năm học này sẽ đòi hỏi tâm trí, thời gian, công sức mà các thầy cô dành cho mỗi giờ giảng, cho mỗi học trò nhiều hơn nữa.

Nói thì hay lắm …vì học sinh thân yêu, nhưng sự thật đây là một chương trình học nhồi sọ, tẩy não những mái đầu xanh, đặc căn bản trên sự hận thù, mù quáng tôn sùng lãnh tụ và cộng sản… mặc dù, CSBV hiện nay chỉ là chế độ độc tài man rợ!

Xin mời Bà Con đọc.

***

Giáo dục XHCN Sẽ Tự Xóa Sổ Chế Độ

Ngày 5/9 vừa qua là ngày khai giảng niên học 2018-19 ở Việt Nam. Đã 43 năm kể từ ngày CSBV tiến chiếm miền Nam, thu về một mối dưới ánh “hào quang quang vinh” của đảng, tình trạng giáo dục vẫn không thay đổi, nghĩa là những hình ảnh trong ngày tựu trường ở những vùng xa như thầy trò cùng leo đồi – lội sông – vượt suối như những hình ảnh minh họa dưới đây.

Nhưng mỗi năm, vẫn có những sự kiện mới trong ngày nầy, đặc biệt trong năm nay có thêm sự kiện mới nữa. Đó là:

  • Hàng năm vẫn phát hành hàng loạt sách giao khoa “mới” đề phân phối (thực ra là bán) tiêu tốn hàng chục ngàn tỷ ngân sách quốc gia, và vỗ béo cho hàng ngàn “cán bộ giáo dục”. Sách mới nhưng nội dung vẫn như cũ vẫn còn những lỗi phạm phải mà không hề có sửa chữa;
  • Điểm mới năm nay có thêm bộ tự điển tiếng Việt …lai Tàu của Bùi Hiền;
  • Và loạt sách đánh vần “kiểu mới” (văn minh và khoa học gấp vạn lần kiểu đáng vần cũ) áp dụng cho lớp 1.

Đó chính là giáo dục xã hội chủ nghĩa siêu việt!

Đề tìm hiểu thêm, người viết lần lượt trình bày hai nền giáo dục ở miền Nam trước đây (1955-1975) và hiện tại sau 43 năm dưới sự cai trị của CSBV.

1- Lãnh vực giáo dục của hai nền Cộng Hòa ở Miền Nam

Vào năm 1958, một đại hội giáo dục toàn quốc (từ vỹ tuyến 17 trở vào) đã nghiên cứu và chấp nhận 3 nguyên tắc căn bản định hướng cho nền giáo dục Việt Nam là nhân bản, dân tộc, khai phóng. Và định hướng giao dục nầy được ghi rõ trong hiến pháp thời bấy giờ.

  1. Nền giáo dục Việt Nam phải là một nền giáo dục nhân bản, tôn trọng giá trị thiêng liêng của con người, lấy chính con người làm cứu cánh, và như vậy nhằm mục đích phát triển toàn diện con người;
  2. Nền giáo dục Việt Nam phải là một nền giáo dục dân tộc, tôn trọng giá trị truyền thống, mật thiết liên quan đến những cảnh huống sinh hoạt như gia đình, nghề nghiệp, đất nước và bảo đảm hữu hiệu cho sự sinh tồn và phát triển của quốc gia;
  3. Nền giáo dục việt Nam phải có tính cách khai phóng, tôn trọng tinh thần khoa học, phát huy tinh thần dân chủ xã hội, thâu thái tinh hoa các nền văn hóa thế giới.

Đến năm 1970, thêm một nguyên tắc khác được đem vào làm chuẩn cho nền giáo dục Miền Nam. Đó là lấy sự tôn trọng tinh thần khoa học – như các quốc gia tân tiến trên thế giới – làm nền tảng cho mọi sự tiến bộ giáo dục tại Việt Nam.

Từ đó, giáo dục Miền Nam đã có những bước đi vững chắc trên nền tảng của Nhân bản – Dân tộc – Khai phóng – Khoa học. Đây chính là kim chỉ nam giúp cho nền giáo dục Miền Nam liên tục thăng tiến, nâng cao phẩm chất giáo dục quốc gia, và tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên Miền Nam trở thành những thành viên ưu tú của đất nước trong suốt thời kỳ 1958 – 1975.

2- Còn tình trạng giáo dục Bắc Việt & Việt Nam sau ngày 30/4/1975 thì sao?

Trước năm 1975, tại miền Bắc, hệ thống giáo dục trung học phổ thông chỉ có 10 năm. Thực chất của CSBV là nhằm mục tiêu đưa các em thanh niên ra chiến trường. Đặc biệt hơn nữa, rõ ràng CSBV không hướng đến việc đào tạo kiến thức phổ thông mà đặt trọng tâm vào việc xây dựng một cán bộ cộng sản nhiều hơn.

Sau năm 1975, vì lý do cào bằng, CSBV đã “xuống cấp” giáo dục ở miền Nam, đặc biệt ĐBSCL. Thí dụ trước năm 1975, trình độ trung bình của thanh niên vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long ở lớp tuổi từ 14 đến 25 là lớp 7.5 theo thông kế của UNESCO. Cũng trong thời điểm nầy, trình độ của lớp tuổi trên ở Đồng Bằng Sông Hồng là 5.5. Hiện tại (2016), tình trạng đã đảo ngược, trình độ ở ĐBSCL là 5.0 và ĐBSH là 7.0.

Vì vậy, việc làm cấp bách cho Việt Nam tương lai là phải đặt trọng tâm vào việc kiến thiết lại hệ thống giáo dục miền ĐBSCL, đồng thời với việc cải thiện hệ thống y tế công cộng của vựa lúa rất quan trọng này của cả nước.

Phải chăng đây là chính sách cào bằng và triệt hạ người dân miền Nam. Các trường học, ngoài việc thiếu thốn phòng ốc và tài liệu học tập (ngoại trừ các sách giáo khoa từ chương một chiều hạn chế tinh thần suy nghĩ độc lập và sáng tạo của học sinh) thậm chí không có nơi cho học sinh tiểu tiện. Học sinh phải nín tiểu, nín tiêu… tạo thành một hiện tượng trường ốc có một không hai trên thế giới?

  • Về nước uống cho học sinh hầu như không được để ý đến, học sinh phải nhịn khát. Nhiều nơi được các nhà thiện nguyện ngoại quốc và người Việt tỵ nạn giúp đỡ các bình lọc nước… nhưng các bình lọc nầy chỉ hiện diện ở trường học một thời gian ngắn rồi biến mất về nhà của… cán bộ.
  • Hiện tại, nước uống cho học sinh, bàn ghế, phấn viết, và nhiều dịch vụ khác đều nằm trong chi phí mà phụ huynh phải trả trước tri con em được vào lớp. Trong lúc đó, hiến pháp xhcn có ghi rõ ràng là “giáo dục trung tiểu học là cưỡng bách và miễn phí”!

Bây giờ nếu nhìn vào xã hội hiện tại, chúng ta có thể hình dung một cách rõ ràng, qua báo chí cộng sản, trên các mạng lưới, hình ảnh thầy gạ dâm trò để nâng điểm cao hay cho biết đề thi, cảnh học sinh lớp 9 dở trò dâm ô với nhau trong khi cô giáo đang giảng dạy trên bảng, và hàng vạn tệ nạn khác xảy ra hàng ngày trên khắp các nẻo đường Việt Nam từ thành thị đến thôn quê.

Một thí dụ về Trường Nữ Trung học Gia Long trước 1975 và Trường Nguyễn Thị Minh Khai sau 1975: “Nội dung học tập của học sinh hai trường Gia Long và Minh Khai cũng hoàn toàn khác, đặc biệt là trong lĩnh vực lịch sử và luân lý”. Con người xuất thân từ trường Gia Long có khái niệm về dân chủ, về chính thể tam quyền phân lập rõ ràng hơn. Còn học sinh Minh Khai thì coi chính sách độc đảng toàn trị là mô hình cai trị toàn hảo. Vì vậy mà sự hình thành nhân cách và lý tưởng của con người được đào tạo từ hai trường Gia Long và Minh Khai cũng hoàn toàn khác. (Trích Sổ Tay Ký Thiệt kỳ 129)

Xã hội Việt Nam hiện nay ngày càng băng hoại và chính hình ảnh nầy đã và đang đánh dấu buổi hoàng hôn của chế độ CS Bắc Việt.

Bây giờ hãy thử so sánh từng điểm của nền giáo dục trước năm 1975 với hiện trạng “giáo dục” ngày hôm nay, dưới chế độ CSBV, chúng ta thấy gì?

  1. Nhân bản: Nhân bản thời xã hội chủ nghĩa là tự do đàn áp, tra tấn và “cướp ngày”;
  2. Dân tộc: Dân tộc trong nghĩa Hán tộc đại đồng, chữ Tàu phải nằm trong chương trình giáo dục phổ thông;
  3. Khai phóng: còn có nghĩa là khai thông biên giới và chỉ tiếp cận với một văn minh duy nhứt là văn minh của Hán tộc;
  4. Và Khoa học: là khai thác, tận dụng tối đa sức lao động của người dân để cung phụng cho lý tưởng “đại đồng” của chủ nghĩa, tức là toàn đảng cùng giàu cùng hưởng thụ.

Vậy chính sách giáo dục quốc gia của Miền Nam trước 1975 khác xa HOÀN TOÀN giai đoạn giáo dục của xã hội chủ nghĩa hôm nay về căn bản và kết quả!

3- Thay lời kết

Qua những nhận định trên, chúng ta thấy sự khác biệt của hai nền giáo dục đặt trên căn bản xã hội pháp trị và xã hội chủ nghĩa đã đưa “đầu vào” (học sinh) và “đầu ra” (kết quả học tập) như thế nào rồi.

Vì vậy, bằng bất cứ giá nào mọi người con Việt trong và ngoài nước cần phải xóa tan cơ chế chuyên chính vô sản của xã nghĩa CSBV hầu mang lại một chính sách giáo dục đúng đán cho các thế hệ Việt về sau.

Và điều nầy cần phải hành động cấp bách.

Và, một Việt Nam DÂN CHỦ PHÁP TRỊ tương lai cần phải có một nền giáo dục đặt nặng vào các mục tiêu sau:

  1. Giúp cho thanh niên thu thập được nền văn hóa phổ thông, đồng thời chuẩn bị cho họ bước vào các ngành chuyên môn ở bậc đại học và kỹ thuật.
  2. Khuyến khích việc học ngoại ngữ, chú trọng đến các sinh hoạt hội đoàn để học sinh quen sống tập thể, có tinh thần tháo vát, biết giúp ích mọi người, đồng thời rèn luyện những đức tính cần thiết cho đời sống thực tế của một công dân tương lai.
  3. Đặc biệt chú ý đến vấn đề sức khỏe của học sinh và phát động phong trào thể dục thể thao toàn quốc, nhằm thực hiện mục tiêu “Một tinh thần minh mẫn trong một thân thể tráng kiện”.
  4. Và nhứt là đề cao môn đạo đức học và công dân giáo dục hầu tạo dựng một tầng lớp thanh niên ưu tú về khoa học, đạo đức, và ý thức công dân để kiến thiết quốc gia.

Nếu sự áp dụng chính sách quốc gia giáo dục của hai nền Cộng Hòa ở Miền Nam được sáng suốt thi hành, và đặt trọng tâm trên nền tảng Nhân bản – Dân tộc – Khai phóng – Khoa học, thế vào toàn bộ hệ thống giáo dục băng hoại của chế độ hiện hành, thiết tưởng một Việt Nam trong tương lai sẽ thoát khỏi sự thụt lùi trong một vài thập niên hậu Cộng sản.

Mai Thanh Truyết

Trích trong sách “Giải pháp cho Việt Nam”

Houston, 9/11/2018

Cố Tổng Thống Trần Văn Hương

+2

Mai Thanh Truyet Envirovn

Thưa Bà Con,

Có một số bạn yêu cầu gửi lại bài viết về Cụ Trần Văn Hương dưới đây:

Nhớ về một Nhơn sĩ Miền Nam

Cố Tổng Thống Trần Văn Hương

Cụ Trần Văn Hương sinh năm 1902 tại làng Long Châu, quận Châu Thành (nay là thành phố Vĩnh Long), tỉnh Vĩnh Long trong một gia đình nghèo. Nhờ học giỏi và được sự hy sinh của gia đình, cậu học sinh Trần Văn Hương được ra Hà Nội học trường Cao đẳng Sư phạm… Sau khi tốt nghiệp, ông giáo Trần Văn Hương được bổ về dạy tại trường Collège Le Myre De Villers tại Mỹ Tho, cũng là ngôi trường cũ mà ông đã theo học mấy năm trước. Thời gian 1943-1945, Cụ Hương là giáo sư dạy môn văn chương và luận lý tại trường này. Cụ là một thầy giáo đã từng đào tạo nhiều học trò nổi tiếng (tướng Dương Văn Minh, tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa, cũng tự nhận là một học trò của ông) và từng giữ chức vụ Đốc học Tây Ninh.

Cụ Trần Văn Hương mất ngày 27 tháng 1 năm 1982 tại Sài Gòn, nhằm ngày mùng 3 Tết. Cụ mất đi để lại cho chúng ta nhiều tiếc nuối. Hôm nay nhân ngày lễ tưởng niệm Cụ, tôi xin chia xẻ vài suy nghĩ về Cụ.

Khi “Cách mạng tháng Tám 1945” nổ ra, Cụ tham gia chánh quyền Việt Minh với tư cách nhơn sĩ tự do. Khi Pháp tái chiếm Đông Dương, Cụ được cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban Hành chánh Kháng chiến tỉnh Tây Ninh. Tuy nhiên, năm 1946, do Cụ biết lực lượng Việt Minh là Cộng sản quy chụp cho nhiều trí thức là Việt gian rồi đem thủ tiêu nên Cụ bỏ về quê sống ẩn dật và tuyên bố bất hợp tác với cả chánh quyền Việt Minh lẫn Pháp và Cộng hòa tự trị Nam Kỳ, sau này là Quốc gia Việt Nam.

Xét về sự nghiệp chánh trị, Cụ Trần văn Hương đã hai lần được mời và bổ nhiệm đảm trách chức vụ Ðô Trưởng Sài Gòn, chức vụ đứng đầu quán xuyến điều hành bộ máy hành chánh thủ đô Việt Nam Cộng Hòa, bảo tồn bộ mặt của thể chế Cộng hòa ở miền Nam đang trong giai đoạn củng cố xây dựng và phát triển với những khó khăn chồng chất về mọi mặt:

  • Lần đầu vào năm 1955 sau khi Hiệp định Genève chia hai đất nước Việt Nam được ký kết, do cố Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm;
  • Lần thứ hai, sau khi chánh quyền Ngô Ðình Diệm bị lật đổ vào năm 1963, Cụ Trần Văn Hương lại được bổ nhiệm làm Ðô Trưởng Sài Gòn.

Và hai lần được mời làm Thủ tướng và một lần Phó Tổng Thống:

  • Lần đầu vào Tháng 11 năm 1964, cụ được Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu bổ nhiệm làm Thủ Tướng Chánh Phủ (1964-1065) và lập nội các, giữa lúc tình hình chánh trị vô cùng căng thẳng.
  • Lần thứ hai vào năm 1968, trước tình hình chánh trị, quân sự, kinh tế suy sụp trầm trọng cụ nhận lời Tổng thống Thiệu ra làm Thủ tướng lần thứ hai (1968 -1969).

Lần chấp chánh thứ ba của Cụ là Phó Thổng Thống Việt Nam Cộng Hòa (1971 -1975).

Trong bối cảnh chánh trị miền Nam, Cụ đã lần lượt dấn thân vào sinh hoạt chánh trị đại chúng với danh nghĩa là một nhơn sĩ miền Nam do nhu cầu của đất nước; và lần nào Cụ cũng giúp cho tình thế vượt qua những khó khăn. Ðến phút cuối, khi bị áp lực phải chuyển giao quyền hành cho những kẻ mà cụ biết là “chẳng làm được gì”, Cụ cũng thực hiện nó trong tinh thần Hiến định, tức chuyển giao theo “ý dân”, qua các Dân Biểu và Nghị sĩ, trong phiên họp lưỡng viện Quốc Hội.

Với tôi, Cụ là mẫu người có phong cách của một nhơn sĩ miền Nam xem thường mọi thiếu thốn và ràng buộc vật chất trong khi dấn thân phục vụ đất nước. Lúc nào Cụ cũng giữ vững tinh thần, ngay cả trong lao tù, Cụ coi mọi chuyện đều “vô thường”, qua câu thơ bất hủ để đời ghi trong tập thơ “Lao trung lãnh vận” khiến ai đọc lên cũng cảm phục “ông già” trong cảnh tù đày.

Ðó là: “Ngồi buồn gải háng, dái lăn tăn”. (một số bạn bè nói bản chánh của câu trên là “ngồi rù”…). Những người yêu thơ lãng mạn có thể không thích câu thơ nặng tính nhân sinh này, nhưng những người từng trải qua cảnh tù đày đều thấy ở đó cái khí khái xem thường nghịch cảnh lao tù của tác giả.

Tính can trường về nhân cách của con người miền Nam của Cụ Trần Văn Hương còn được biểu lộ qua sự kiên quyết dấn thân, không bỏ cuộc, mà trái lại, vẫn chấp nhận trách vụ được giao phó do nhu cầu của tình hình đất nước và thường hoàn thành trách vụ. Còn nhớ, trong cuộc hành quân Hạ Lào Lam Sơn 719, Cụ đã bất chấp thế lực của quân đội Mỹ, và sự hiểm nguy của bản thân, mở cuộc họp báo quốc tế, tố cáo thái độ bội ước và bỏ rơi chiến hữu Việt Nam Cộng Hòa của quân đội Mỹ, khiến Chánh phủ Mỹ lúc đó phải lập tức ra lịnh cho các đơn vị Mỹ hành quân phải tiếp tục kế hoạch, và xin lỗi về việc này. Dịp này Cụ đã hãnh diện nhận lãnh tước vị ‘Hạ sĩ danh dự’ của binh chủng Nhảy Dù, ghi đậm lời tri ơn sâu xa của binh chủng này dành cho Cụ.

Trong tư cách là một nhà giáo, vào năm 1974, cụ có ước nguyền là cố gắng xây dựng Ðại học Long Hồ tại Vĩnh Long. Nhiều giáo sư gốc gác địa phương được mời phụ trách chức vị Viện trưởng như GS Nguyễn Văn Trường, GS Trần Kim Nở nhưng việc không thành vì những biến động thời cuộc dồn dập trong giai đoạn nầy.

Một biến cố sau cùng của con đường “hoạn lộ” của Cụ theo lời kể của một cựu quân nhân thân cận với chức vụ Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa kể từ ngày 21-4-1975:”Là một quân nhân, vào những ngày cuối cùng của miền Nam, tôi được cái may mắn gần gũi với cụ Hương, nhất là những lúc dầu sôi lửa bỏng khi thủ đô Saigon đang bị cộng quân vây hãm. Tình hình thật là cấp bách sau khi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức vào ngày 21-4-75, bàn giao chức vụ Tổng Thống cho cụ Trần Văn Hương theo hiến pháp.

Ông đã nhận lấy chức vụ đứng đầu một đất nước trong hoàn cảnh thật là khó khăn. Một mặt, dưới sức ép thật nặng nề từ người bạn đồng minh Hoa Kỳ muốn sớm rút chân ra khỏi Việt Nam, mặt khác, về phía địch, cộng sản Bắc Việt biết rõ sự suy yếu hoàn toàn của chánh quyền miền Nam dưới sự bỏ rơi của Mỹ nên càng gia tăng áp lực, đưa quân uy hiếp thủ đô Saigon. Thêm vào đó, thành phần thân cộng có mặt trong guồng máy miền Nam, cũng luôn tạo áp lực để đòi hỏi lật đổ chánh quyền miền Nam bằng sự thay thế một chánh quyền do cộng sản kiểm soát.

Trong thời gian bảy ngày sau khi bàn giao với tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, cuối cùng Cụ Trần Văn Hương phải chấp nhận việc bàn giao cho tướng Dương Văn Mình theo diễn tiến như sau:

  • Ngày 21-4-75 tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, Cụ Trần Văn Hương nhận lãnh chức vụ Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa.
  • Ngày 26-4-75 đại sứ Martin yết kiến và thông báo cho Cụ Hương về áp lực cộng sản Bắc Việt và khả năng của cộng quân tấn công vào Saigon.
  • Ngày 27-4-75 quốc hội VNCH họp và biểu quyết việc trao quyền lại cho Tướng Dương Văn Minh.
  • Ngày 28-4-75 vào lúc 5:00 chiều, Cụ Trần Văn Hương trao quyền lại cho tướng Dương Văn Minh theo quyết định của quốc hội.

Trong bài diễn văn, Tổng thống Trần Văn Hương đọc trước quốc hội ngày 26-4-75, chúng ta thấy rõ ràng Cụ Trần Văn Hương không thoát khỏi áp lực quá mạnh, một của người bạn đồng minh Hoa Kỳ, và môt áp lực về phía cộng sản Bắc Việt mà tướng lưu vong Dương Văn Minh được xắp xếp như là một con cờ chính trị để làm nhiệm vụ xóa chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

Chúng ta hãy nhớ lại những gì Cụ Hương đã phát biểu có tính cách lịch sử trong bài diễn văn tại quốc hội dưới sự hiện diện của đầy đủ dân biểu và thượng nghị sĩ. Cụ Hương đã cho biết rằng Cụ “chỉ muốn chỉ định Đại tướng Dương Văn Minh trong vai trò thủ tướng, nhưng tướng Dương Văn Minh vẫn khăng khăng đòi Cụ Hương phải trao quyền để cho tướng Dương Văn Minh nói chuyện với phía bên kia”.

Ba Nhân cách LỚN của Cụ Trần Văn Hương

1 – Ngày 29 tháng 4 năm 1975, Đại sứ Hoa Kỳ, ông Martin đến tư dinh đường Công Lý với một tham vụ sứ quán nói tiếng Pháp. Đại khái Đại sứ Martin nói:

“Thưa Tổng Thống, tình trạng hiện nay rất nguy hiểm. Nhơn danh chính phủ Hoa Kỳ, chúng tôi đến mời Tổng Thống rời khỏi nước, đi đến bất cứ xứ nào, ngày giờ nào với phương tiện nào mà Tổng Thống muốn. Chính phủ chúng tôi cam kết bảo đảm cho Ngài một đời sống xứng đáng với cương vị Tổng Thống cho đến ngày TT “trăm tuổi già””.

Tổng Thống Trần Văn Hương mĩm cười trả lời:

– “Thưa Ngài Đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cám ơn Ông Đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư biết Cộng Sản vào được Saigon, bao nhiêu đau khổ nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia xẻ với họ một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nổi thống khổ của người dân mất nước. Cám ơn ông Đại sứ đã đến viếng tôi”.

Khi nghe câu “Les États-Unis ont aussi leur part de responsabilités (Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó), đại sứ Martin giựt mình nhìn trân trân Cụ Trần Văn Hương. Năm 1980, Cụ Hương thuật lại với tôi: Dứt câu chuyện, “on se sépare sans même se serrer la main” (GS Nguyễn Ngọc An. Cụ Trần Văn Hương, đăng trên Thời Luận không rõ ngày)

2 – Vào năm 1978, khi Việt cộng trả lại “quyền công dân” cho Ông Dương Văn Minh, các anh em đang bị tù “học tập cải tạo” đều bị đi xem hình ảnh và phim chiếu lại cảnh cựu “Tổng Thống” Dương Văn Minh đang “hồ hỡi phấn khởi” đi bầu quốc hội “đảng cử dân bầu” của cộng sản.

Cụ Trần Văn Hương cũng được cộng sản trả lại “quyền công dân” nhưng Cụ đã từ chối. Cựu Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Trần Văn Hương đã gửi bức thư sau đây đến các cấp lãnh đạo chính quyền cộng sản: “…hiện nay vẫn còn có mấy trăm ngàn nhơn viên chế độ cũ, cả văn lẫn võ, từ Phó Thủ Tướng, Tổng Bộ Trưởng, các Tướng Lãnh, Quân Nhân Công Chức các cấp các Chính Trị Gia, các vị Lãnh Đạo Tôn Giáo, Đảng Phái đang bị tập trung cải tạo, rĩ tai thì ngắn hạn mà cho đến nay vẫn chưa thấy được được về. Tôi là người đứng đầu hàng lãnh đạo Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa, xin lãnh hết trách nhiệm một mình. Tôi xin chính phủ mới thả họ về hết vì họ là những người chỉ biết thừa hành mạng lệnh cấp trên, họ không có tội gì cả. Tôi xin chính phủ mới tha họ về sum họp với vợ con, còn lo làm ăn xây dựng đất nước. Chừng nào những người tập trung cải tạo được về hết, chừng nào họ nhận được đầy đủ quyền công dân, chừng đó tôi sẽ là người cuối cùng, sau họ, nhận quyền công dân cho cá nhân tôi.”

3 – Sau cùng, trong hoàn cảnh cơ cực của thời đất nước bị đô hộ bởi Miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa, các Ðại sứ của các nước Pháp, Úc cho người đến thăm Cụ và cho biết họ có thể can thiệp với Cộng sản cho Cụ ra khỏi nước với lý do đi trị bịnh, nhưng cụ tiếp tục từ chối, cương quyết ở lại chia sẻ cùng dân quân Miền Nam sự tủi nhục và nghèo đói dưới gông cùm Cộng sản.

Xin nghiêng mình trước tiết tháo của một nhơn sĩ miền Nam Việt Nam!

Khi Cụ qua đời, đám tang được tổ chức tại nhà do chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cấp trước kia trong hẽm 210 đường Phan Thanh Giản, bên cạnh trường Marie Curie.

Có một sự kiện thú vị cũng cần nên kể ra nơi đây là anh con trai trưởng của Cụ là Trần Văn Dõi đi ra phường để xin phép mua một cái hòm quốc doanh, nhưng người tài xế trung thành của Cụ chận ngang, và anh nầy chạy vào Chợ Lớn mua một cổ quan tài gỗ với giá 10.000 Ðồng (tiền Việt cộng bấy giờ). Anh Tàu nghe nói là mua cho Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa nên bớt xuống còn 5.000 Đồng mà thôi.

Một trong những ước nguyền của Cụ là khi chết được chôn ở Nghĩa trang Quân Ðội với lễ nghi quân cách của một binh nhì; nhưng việc nầy cũng không thành. Tuy nhiên một an ủi cho Cụ là được hỏa táng tại Lò thiêu Thủ Ðức, xéo bên cạnh bức tượng Tiếc Thương, trước sự hiện diện đông đủ của học trò cùng hầu hết thân hào nhân sĩ miền Nam không quản ngại mạng lưới công an chằng chịt chung quanh lò thiêu.

Hôm nay, nhân ngày giỗ Cụ Trần Văn Hương, cúi xin dâng nén hương lòng tưởng niệm một người con Việt chân chánh miền Nam với niềm tin chắc chắn rằng Tuổi trẻ miền Nam sẽ tiếp nối bước đường Cụ đi và chắc chắn sẽ thành công trong công cuộc dành lại quê hương từ tay bạo quyền Cộng sản.

Thành kính xin Cụ phò hộ cho Tuổi Trẻ Việt Nam trong công cuộc dành lại Quê Hương.

Mai Thanh Truyết

Người con Việt miền Nam

Tết Đinh Dậu – 2017

Phụ chú:

Thơ cố Tổng Thống Trần Văn Hương:

“Thân quèn xin gởi cùng sông núi

Xương mục chờ tiêu với cỏ cây”

“Xét thời trời còn lắm nỗi gian nguy

Ngẫm lại thêm buồn cho hậu thế;

Phù vận nước được vài phân ổn định,

May ra bớt thẹn với tiền nhơn”

Và câu dịch của Ngài càng thấm thía cho thân phận lưu vong khi nghe mưa về nơi đấtkhách: Cố hương qui mộng tam canh vũ – Lữ xá hoài ngâm tứ bích trùng

Ba canh mưa phủ mơ vườn cũ

Bốn vách trùng ngâm tủi xứ người!

VÌ ĐÂU NÊN NỖI ?

VÌ ĐÂU NÊN NỖI ?

Sau thời gian dài ngụp lặn trong nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung bao cấp. Hoàn toàn sống dựa vào viện trợ của Liên xô.

Khi Liên xô sụp đổ, Việt Nam bị bao vây cấm vận về kinh tế. Trong tình huống ngàn cân treo sợi tóc…

Tình thế bí bách buộc phải tìm cách để duy trì chế độ. Người cộng sản đã gạt qua mọi thể diện, chọn kẻ thù làm cứu cánh. Họ chạy lại với chính kẻ thù vừa gây ra cái chết trực tiếp cho hàng trăm ngàn đồng bào chiến sĩ ở biên giới phía bắc. Trước đó họ gián tiếp gây ra cuộc chiến giữa VN và Campuchia, hao người tốn của.

Hiệp ước Thành đô ra đời chính thức đặt ĐCSVN dưới sự bảo trợ của ĐCS TQ.

Từ lúc này VN đi theo mô hình kinh tế Trung quốc. Từ đây bắt đầu xây dựng nền kinh tế thị trường có đuôi.

Chính trong thời gian này những người cộng sản đã dần biến chất. Họ đua nhau làm giàu bằng chính sách. Bằng quyền lực quản lý.

Mọi tài nguyên đều được đem ra làm ép phe để được lợi ích tối đa cho cá nhân. Bất kỳ dự án nào cũng mang lại lợi ích béo bở cho người được giao quản lý.

Họ đầu tư bất chấp hậu quả cho đất nước miễn là tiền chảy vào đầy túi họ.

Một thế lực tư bản đỏ ra đời bằng cách đi đêm với những bóng ma quyền lực. Họ cùng nhau nhai ngấu nghiến bất kỳ thứ gì miễn là thỏa mản lòng tham của những kẻ từng đói khát.

Đất đai là miếng mồi béo bở nhất, dễ ăn nhất vì nó sở hửu toàn dân đang ở trong tay quyền lực quản lý. Và từ đây tiếng kêu rỉ máu thấu trời của người dân bị cướp đất trở thành phổ biến. Khắp 63 tỉnh thành không ở đâu vắng bóng dân oan.

Những bất công đó đã đẩy người dân thành kẻ bị cai trị bằng dùi cui và họng súng. Họ đẩy những người trước đây từng giúp họ cướp chính quyền vào bần cùng, nếu phản kháng họ bị kết tội phản động, nghe thành phần thù địch để kết tội tống tù.

Họ độc quyền lãnh đạo, điều hành. Người dân mất quyền tự do kể cả quyền yêu nước.

Giờ đây đất nước đang ở trong một cơn áp thấp thường trực. Chỉ chờ điều kiện để thành bão.

Những người nắm quyền lực sau khi đã vun vén đầy USD đã cho con cái người thân tìm thẻ xanh ở các nước tư bản giàu có. Nếu thể chế thay đổi thì họ đã cao chạy, xa bay để lại một đất nước hoang tàn, một núi nợ cho dân đen gánh vác.

Ngày ấy không còn xa !

Cái mà ai cũng biết khi đã được Giang Trạch Dân huỵch toẹt ra rằng : Hai đảng có chung vận mệnh.

Nếu đúng thế thì dân tộc này buộc phải chờ cái vận mệnh của đảng cộng sản Trung Hoa còn bao xa.? .. Vì thế không lạ khi người Việt háo hức với cuộc chiến mà Trump phát động. Chỉ mong sao kinh tế Trung quốc sụp đổ mau chóng. Mong sao người Hong Kong thắng lợi đạt được tự do, độc lập. Chắc chắn họ sẽ thắng và là ngòi nổ xé Trung Hoa ra nhiều mảnh. Sẽ có một sự chia tách như thời Xô viết.

Nếu không thì người Việt phải tự gánh vác vận mệnh của tổ quốc mình.

Liên Trà

Image may contain: plant, flower, night, nature and outdoor
Liên Trà

MỐI NGUY TỪ NHỮNG KHOẢN VAY TÀU CỘNG

  
Image may contain: text that says 'CHINA'S DEBT TRAP हिंदी में DEBT DEBT L DEBT এা্'

MỐI NGUY TỪ NHỮNG KHOẢN VAY TÀU CỘNG

Chuyện đầu gấu cho vay nặng lãi và đòi hỏi kỳ hạn hoàn trả ngắn để ép con nợ đến đường cùng phải giao nhà giao sổ là chuyện thường thấy ở xã hội Việt Nam. Không ai muốn cho những kẻ không có khả năng trả nợ vay một khoản tiền lớn ngoại trừ bọn cho vay nặng lãi. Vì sao? Vì chỉ khi cho kẻ không có khả năng xoay trở vay thì mới đưa con nợ vào bẫy, và từ đó chiếm đoạt tài sản.Thủ đoạn như vậy người ta gọi là bẫy nợ.

Người tử tế thì cho vay với lãi suất hợp lý còn loại lưu manh thì chuyên cho vay cắt cổ. Tuy nhiên, để được vay các khoản vay tử tế, người chủ xét đối tượng vay rất kỹ, uy tín của người đi vay phải cao thì mới đảm bảo khả năng trả nợ. Đó là tiêu chí quan trọng nhất. Còn với loại lưu manh thì ngược lại, người đi vay có uy tín càng thấp nólại càng muốn cho vay miễn sao người đó phải có gì đó để nó chiếm đoạt, ví dụ như nhà cửa, ruộng vườn hay vợ đẹp chẳng hạn.

Trên thế giới cũng vậy, trong những nước cho vay thì cũng có quốc gia tử tế và quốc gia lưu manh. Tử tế thì cho vay để giúp đất nước người ta phát triển, còn lưu manh thì cho vay để tính đường gài bẫy. Đại diện cho thế lực lưu manh trên thế giới là Tàu Cộng.

Trên thế giới hiện nay có 3 tổ chức độc lập chuyên xếp hạng mức tím nhiệm tín dụng của từng quốc gia, đó là nhóm The Big Three gồm: Standard & Poor’s (S&P), Moody’s, và Fitch. Quốc gia nào được xếp ở mức tín nhiệm cao thì càng dễ được vay thương mại. Các nước độc tài, nghèo đói, có chỉ số tham nhũng cao thì thường bị xếp mức tín nhiệm thấp nên khó tìm được khoản vay lớn với lãi suất thấp và điều kiện rằng buộc thoáng. Những quốc gia có mức tín nhiệm thấp thường không có lựa chọn, và thế là họ tìm đến anh lưu manh Tàu Cộng.

Nếu muốn trả được tiền vay thì phải biết đầu tư vào công trình hữu ích và có khả năng sinh lời. Chỉ khi làm được như vậy thì khoản vay ấy nó sẽ giúp đất nước vừa phát triển vừa thoát nợ. Những nước được xếp hạng mức tín nhiệm tín dụng cao là những nước biết cách sử dụng đồng tiền, nên cho họ vay sẽ đảm bảo dễ thu hồi vốn. Những nước bị xếp vào mức tín nhiệm thấp là những nước có tỷ lệ rút rỉa vốn vay rất cao. Hầu hết dự án họ đầu tư hoặc bị tham nhũng xà xẻo hoặc lãng phí không hiệu quả kinh tế. Công trình đường sắt Cát Linh-hà Đông là một dạng dự án như thế, nó chỉ xảy ra ở những nước có mức tín nhiệm tín dụng thấp mà thôi. Với những loại công trình như vậy tràn lan, thì làm sao những nước tử tế dám cho Việt Nam vay những khoản tiền lớn được?

Nếu nói khả năng trả nợ của một người tùy thuộc vào túi tiền người đó, thì khả năng trả nợ nước ngoài của một quốc gia nó phụ thuộc vào nguồn dự trữ ngoại tệ của quốc gia đó. Khi dự trữ ngoại tệ mà thấp hơn số nợ đáo hạn trong 1 năm thì xem như quốc gia đó có nguy cơ vỡ nợ. Hiện nay Lào đang rơi vào hoàn cảnh như vậy. Dữ trữ ngoại tệ của Lào dưới 1 tỷ USD không đủ trả nợ. Hiện nay Bộ Tài Chính lào đang đàm phán với chủ nợ lớn nhất của họ là Trung Cộng, và chắc chắn Tàu Cộng sẽ không bỏ lỡ cơ hội này ép Lào chấp nhận những yêu sách đầy toan tính của họ. Trước Lào thì Sri Lanka cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự và đã bị Tàu ép giao cảng nước sâu Hambantota cho Tàu sử dụng trong 99 năm. Trong bối cảnh Mỹ – Ấn đối đầu quân thì cảng Hambantota là một lợi thế nếu Trung Cộng sử dụng cảng này như một quân cảng.

Với chiến lược bẫy bẫy nợ, Trung Cộng đã từng bước tiến vào những quốc gia con nợ và cũng từng bước đưa bàn tay lông lá ra điều khiển các quốc gia này. Ở Biển Đông thì Tàu Cộng đã ngang ngược kiểm soát, còn ở phía Tây thì lào và Cam đang đứng trước nguy cơ dính bẫy nợ. Khi 2 quốc gia này dính bẫy, thì có thể nói ở phía Tây, Tàu Cộng phà hơi thở vào mặt hà Nội, điều đó cũng có nghĩa là sợi dây ràng buộc giữa Hà Nội và Bắc Kinh sẽ bị siết chặt hơn.

Theo báo Vietnamnet bản Tiếng Anh thì năm 2020 này, chính quyền CS cần 16 tỷ đô để trả nợ. Trong đó trả nợ nước ngoài chỉ 2,63 tỷ đô la. Như báo chí CS thông báo thì dữ trữ ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước đến nay đã lên đến 84 tỷ đô la, vượt rất xa khả năng thanh toán các khoản nợ. Thế nhưng có một điều khó hiểu là, nếu dự trữ ngoại tệ dồi dào thì sao lại phải bung tiền Hồ mua đô vượt quá ngưỡng quy định để rồi bị Mỹ quy xem xét dán mác “thao túng tiền tệ”? Vậy nên con số dự trữ ngoại tệ đến 84 tỷ đô đấy cũng là con số không đáng tin.

Đã nhiều năm nay, chính quyền CS Việt Nam luôn đi vay nợ mới để trả nợ cũ. Khoản tiền vay bao giờ cũng vượt khoản nợ phải trả để còn bù vào bội chi ngân sách. Cứ như vậy thì nợ công ngày một phình ra và kéo theo đó là khoản nợ phải trả hằng năm cũng tăng dần, trong đó có phần nợ nước ngoài. Nếu dự trữ ngoại tệ dồi dào thì chính phủ cũng không nhất thiết phải đi vay quá nhiều vậy?! Vậy thì đây lại thêm một bằng chứng nữa là con số 84 tỷ đo la dự trữ ngoại tệ cũng không đáng tin. Dự trữ ngoại tệ thật của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vẫn là ẩn số. Dự trữ ngoại tệ càng thấp thì nguy cơ dính bẫy nợ của Trung Cộng càng cao.

Câu hỏi đặt ra là, nguồn vay từ Trung Cộng đã được ĐCS Việt Nam làm gì? Thực tế cho thấy, những đồng tiền vay đó phần lớn biến thành những đống sắt vụn hoặc khối bê tông vô dụng giữa lòng đô thị, hoặc những công trình gây ô nhiễm môi trường và kém hiệu quả kinh tế. Ngoài ra, một phần rất lớn trong gói vay đó chảy vào túi quan chức. Rõ ràng những khoản vay này vỗ béo quan tham, bỏ lại cho xã hội những đống rác, để lại cho đất nước nguy cơ dính bẫy Trung Cộng. Nhẫn tâm với đất nước như vậy, chỉ có CS mới làm được.

Đỗ Ngà

Tham khảo:

https://vietnamnet.vn/en/business/vietnam-s-government-to-pay-us-16-billion-in-debts-in-2020-580231.html

https://www.thesaigontimes.vn/307808/lao-can-ke-nguy-co-vo-no-cong.html

https://dantri.com.vn/the-gioi/sri-lanka-nhuong-cang-chien-luoc-cho-trung-quoc-trong-99-nam-20170730091856256.htm

https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-50135030

https://vietnamfinance.vn/chinh-phu-da-vay-tra-no-the-nao-trong-nam-2018-20180504224223797.htm

https://infonet.vietnamnet.vn/thoi-su/ke-hoach-vay-tra-no-cua-chinh-phu-nam-2017-66536.html

https://vietnambiz.vn/du-tru-ngoai-hoi-viet-nam-dat-ki-luc-84-ti-usd-tam-dem-lon-de-on-dinh-ty-gia-2020041111130925.htm