httpv://www.youtube.com/watch?v=bTLJEh7hVGE
PHIM CUỘC ĐỜI CHÚA GIESU VÀ NHỮNG PHÉP LẠ CỦA CHÚA GIESU – Full HD

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
httpv://www.youtube.com/watch?v=bTLJEh7hVGE
PHIM CUỘC ĐỜI CHÚA GIESU VÀ NHỮNG PHÉP LẠ CỦA CHÚA GIESU – Full HD
(trích một lời bàn góp ý):
“Củi đậu nấu đậu là đây…
Một dân tộc thông minh, cần cù ,nhẫn nại ,lam lũ… bây giờ đây là vậy đó !
Thương quá Việt Nam“





Thưa Bà Con,
Nhân ngày “Good Friday”, xin thân chuyển đến Quý Bà Con một bài luận văn của một học sinh ở Việt Nam. Không biết có thể là “hư cấu” hay không? Nhưng kể từ năm 2007, cho đấn nay, người viết cũng đã từng đi nhiều nơi, trên mạng lưới toàn cầu, radio hay truyền hình đều có cảnh giác Bà Con ở hải ngoại về vấn đề hóa chất độc hại sản xuất từ Trung Cộng qua Chợ Kim Biên (và dĩ nhiên phải có sự tiếp tay của CSBV nữa!) lũng đoạn và đầu độc trực tiếp lên dân tộc Việt Nam qua thực phẩm. Đây là một âm mưu tiêu diệt sức đề kháng của các thế hệ Việt sau nầy để không còn khả năng chống lại việc thôn tính của họ. Đây là một cuộc Hán hóa không tiếng súng đó Bà Con.
Hởi những người con Việt cần lưu tâm và quyết tâm không dùng hóa chất độc hại của TC trong thực phẩm chăn nuôi và trong nông nghiệp. Hội Bảo vệ Môi trường Việt Nam – Vietnamese Environmental Protection Society – VEPS
Bài luận văn của một học sinh
Sáng nào cũng vậy, khi con gà trống nhà em gáy te te là mẹ em trở dậy lục tục chuẩn bị ra đồng. Mấy năm nay mẹ em cứ dậy là kêu đau người, đau đầu liên tục.
Mẹ thường ca cẩm với bố, ông to xác thế, sao không chăm bẵm mấy sào rau cho tôi, ngày nào tôi cũng phải quần quật từ sáng đến tối ngoài đồng, tôi sắp chết rồi ông có biết không?
Bố em cũng đã dậy từ lâu, ông đăm chiêu nhấp một ngụm rượu sếch (ở quê em uống rượu vã không có đồ nhắm thì gọi là rượu sếch) rồi bảo mẹ: Bà phải chịu khó mà cày cấy, tôi ở nhà còn đàn lợn, gà rồi lại còn bán quán lòng lợn tiết canh, vất vả lắm thay.
Mẹ em không nói không rằng, chuẩn bị quần áo, khẩu trang kín mít rồi ra đồng.
Ở đồng, mẹ em trồng nhiều rau muống, rau cải với xu hào, thi thoảng bà còn tăng gia thêm cả vài sào dưa hấu. Mùa nào cũng vậy, rau xanh mơn mởn, lá nảy mượt mà.
Em rất muốn giúp mẹ nhưng cứ hễ thò mặt ra đồng là mẹ em đuổi em quầy quậy, bà bảo: “Về ngay, cái thằng ranh kia, chỗ sung sướng thì mày không ở lại đâm đầu ra đây. Mày có muốn chết sớm không con.”
Em hỏi mãi thì mẹ mới nói thật: “Con ơi rau nhà ta chỉ có 1 luống ở gần nhà ăn được, mấy sào này phải phun thuốc cho nó lớn nhanh, bán nhanh thì mới có tiền cho mày ăn học.
Mẹ ngày nào cũng ra đồng, cũng phun thuốc nên đầu hay đau nhức, cơ thể mệt mỏi, mắt mờ, tai ù, chân chậm… chẳng biết rồi mẹ sống được để chăm bẵm mày đến bao giờ”.
Em thương mẹ quá nhưng chẳng biết làm gì giúp mẹ. Em còn bé chưa phun được thuốc sâu.
Nghe mẹ nói em mới biết, hóa ra kiến thức sinh học trong mấy cuốn sách giáo khoa cô giáo vẫn dạy chẳng còn đúng nữa.
Sách dạy trồng rau muống, rau cải, su su, rau ngót, rau cần… phải 1, 2 tháng mới cho thu hoạch còn rau của mẹ em cho thu hoạch chỉ 4,5 ngày.
Hôm trước em thấy mẹ phun thuốc chì chạt, sáng hôm sau đã thấy rau xanh mơn mởn rồi mẹ cắt xoàn xoạt đem đi chợ bán.
Em thèm ăn mấy mớ rau đó lắm vì nó xanh và mướt nhưng mẹ toàn bắt em phải ăn luống rau còi cọc quanh nhà.
Một hôm vào vụ dưa, em đi học về ngang qua ruộng dưa gần nhà, đói và khát nước quá nên em nhảy xuống vặt tạm một quả định ăn cho mát.
Ai ngờ đang hí hoáy thì mẹ em chạy từ đằng xa lại kêu như cháy nhà, bà la lên bai bải: “Ối con ơi mày không thương bố mẹ nữa sao, muốn ăn thì về luống dưa ở vườn mà ăn chứ mẹ có tiếc con đâu.
Mày ăn quả này vào sau này con có mệnh hệ gì mẹ sống làm sao được”.
Em chán quá bỏ ngang miếng dưa rồi về. Mẹ chắc chẳng thương em, mấy quả dưa trong vườn nhà cũng trồng cùng ngày với dưa ngoài ruộng mà nó bé bằng con chuột nhắt. Đợi đến bao giờ em mới được ăn.
Ra đồng giúp mẹ không được, em muốn về nhà để phụ bố. Nhưng bố em cũng chẳng khiến. Ông và mấy chú hàng xóm giết lợn rất nhanh và thạo.
Hàng chục con lợn lúc bắt về nó kêu eng éc điếc cả tai nhưng bố chỉ hòa hòa cái thuốc gì đó cho chúng uống là con nào con ấy ngủ lăn quay. Chờ cho lũ lợn ngủ hết ông mới sai mấy chú giúp việc bơm nước vào mồm lợn cho bọn nó no ễnh bụng lên.
Đợi một lúc lâu cho lợn ngấm nước bố em mới sai các chú đem đi mổ. Chú Tỉn là chú họ của em hay bảo: “Bây giờ có cái chiêu bơm nước này hay thật, một con lợn lãi được bao nhiêu từ nước lã.
Cái thuốc an thần này cũng đúng là lợi hại, mổ con lợn cả tạ mà chả phải vất vả, thịt lại được giữ lâu, rất tươi mầu”.
Mang tiếng là nhà bán thịt lợn lại bán cả lòng lợn tiết canh đầu ngõ nhưng em chẳng bao giờ được ăn miếng thịt, miếng lòng nào.
Hễ em ho he ra quán bảo bố: “Bố ơi con đói là ông lại quát ầm lên: “Vào nhà xem còn cơm nguội không, ăn tạm đi con ạ, thiếu chất tí cũng được còn hơn ăn thịt lợn này thừa chất.
Mấy cái nước lã với thuốc an thần bố bơm vào lợn đã ăn thua gì, ở chỗ nuôi người ta còn cho lợn ăn toàn chất cấm, thuốc kích thích tăng trọng, lợn nuôi có 2 tháng mà được non 1 tạ. Lợn này là lợn thuốc đấy con ạ”.
Thế là ngày nào em cũng chẳng được ăn gì, dù toàn thứ nhà em làm. Ăn gì bố mẹ em cũng cấm chỉ sợ em phải thực phẩm bẩn ngộ độc, ung thư. Sao em khổ thế?
Hôm trước, bác hàng xóm có tổ chức đám cưới cho con trai lấy vợ ở làng bên. Tiệc cưới rất vui nhưng đến lúc ăn cỗ thì hai họ đánh nhau ầm ĩ.
Lệ làng em là khi làm cỗ cưới, nhà trai nhà gái đều phải góp thực phẩm để mâm cỗ thêm ấm cúng, tình nghĩa chan hòa.
Vào tiệc, bố chú rể gắp một miếng thịt gà vào bát của bố cô dâu rồi bảo: “Đây, đây, mời bác xơi miếng thịt gà, gà nhà bác thì mời bác xơi trước mới phải phép”. Bố cô dâu hình như đã nóng mắt lắm nhưng vẫn cố kìm chế.
Ông lại gắp miếng thịt lợn rồi bảo: “Mời bác xơi miếng thịt lợn nhà bác, tôi cung kính nhường bác ăn lợn nhà bác trước.” Hai bên thông gia cứ đùn đẩy cho nhau nhưng chẳng ai dám ăn gì.
Bố cô dâu ngà ngà say rồi đỏ mặt tía tai nói: “Thịt lợn nhà nó mà nó không dám hốc, nó định lừa cho cả họ nhà mình ăn để mình chết sớm à?” Thế là cả hai họ lao vào đánh nhau.
Bố chú rể và bố cô dâu vật lộn với nhau rất hăng, ông thì cầm miếng thịt gà, ông thì cầm miếng thịt lợn cứ đòi nhét vào mồm nhau xong rồi hét toáng lên: “Hôm nay tao cho mày chết, hôm nay tao cho mày chết.”
Đám cưới lẽ ra là ngày vui mà cuối cùng bung bét hết. Cả hai họ đói ngao lên rồi vác bụng rỗng đi về. Họ nhà giai thì chê thực phẩm nhà gái bẩn, nhà gái thì bảo mấy con lợn tăng trọng vù vù của nhà trai ăn sao được. Cô dâu chú rể khóc hết cả nước mắt.
Em với thằng Tủn đi xem đám cưới từ sáng mà phải đem cơm nắm rang muối trắng để ăn.
Cả mấy năm ăn chay trường như vậy em với Tủn với nhiều đứa trẻ nữa trong làng đều gầy giơ xương, má hóp, đít tóp, da xanh tái hoặc vàng bủng.
Chiều nay khi đi học về ngang ruộng dưa, em với Tủn đói quá bèn ngồi xuống bờ để thở.
Cô bảo chúng em bị suy dinh dưỡng rồi, nếu bố mẹ các em cũng như nhiều người nông dân khác không thay đổi cách trồng chọt, chăn nuôi thì sớm muộn gì cả lớp, cả trường sẽ có nguy cơ bị ung thư.
Ung thư thể chất đã đáng lo nhưng ung thư tâm hồn còn đáng sợ hơn gấp bội.
Em và Tủn chưa hiểu rõ ung thư tâm hồn là như thế nào. Em chỉ thấy đói, đói và thèm bát canh bầu mẹ nấu, thèm đến ứa nước miếng đĩa thịt gà thơm phức bố luộc cho ăn.
Tủn thì bảo, nó mơ được chạy chân trần trên bờ ruộng thơm mùi cỏ mật, thèm miếng dưa hấu mát lành, thèm bầu trời xanh mát không có mùi thuốc trừ sâu. Hai đứa cứ thế nằm trên bờ ruộng kể về nỗi thèm thuồng bình dị của trẻ thơ.
Hình như chúng em đói lả và ngất đi. Trong mơ em vẫn nghe thấy tiếng mẹ khóc nấc lên rồi kêu thảm thiết: “Ối con ôi sao mà ra nông nỗi này, sao hai đứa nằm thiêm thiếp ở đây”.
Em muốn nói với mẹ, con chỉ đói lả đi thôi, chỉ cần mẹ cho con ăn miếng dưa hấu là sẽ tỉnh lại ngay. Thế mà mẹ nhất quyết không cho em ăn.
Buồn quá. Người lớn sao lại khó hiểu như vậy nhỉ. Ai cũng nhăm nhăm kiếm thật nhiều tiền. Nhưng tiền nhiều để làm gì khi hàng ngày cứ hủy hoại, đầu độc lẫn nhau. Em sợ rồi sẽ giống bố mẹ. Em sợ rồi sẽ ung thư cả tâm hồn.
Tác giả Việt Hoàng (Lượm trên mạng toàn cầu)
*’Sang Đức giữa dịch Covid, tôi rơi vào bước đường cùng’
Chi hết hơn 500 triệu đồng để rời quê nhà bằng đường đi lậu qua ngả Nga, anh Nguyễn V T (không phải tên thật) tới Berlin hơn một năm trước, ngay trước khi dịch Covid-19 bùng phát dữ dội tại châu Âu.
Không có giấy tờ, không xin được việc làm, anh sống vạ vật nhờ sự hảo tâm của những người Việt đồng hương tại Berlin.
“Tôi xin ngủ nhờ, mỗi nhà vài ba hôm, lúc nào trời không lạnh thì tôi ngủ ngoài đường,” từ một địa điểm ngoại vi Berlin, anh nói với BBC News Tiếng Việt vào một ngày cuối tháng Ba 2021.
Để có tiền qua ngày, anh nói anh chấp nhận làm bất kỳ việc gì, kể cả bán thuốc lá lậu, “trừ ăn cắp, giết người, cướp của”.
Không công ăn việc làm, không có thu nhập, không được chăm sóc y tế nếu lỡ có ốm bệnh, nhưng anh nói anh “sợ nhất là bị công an Đức bắt” và “không dám nhập trại [tị nạn]” dù biết rằng cuộc sống trong trại tốt hơn nhiều so với hoàn cảnh hiện thời.
“Tôi sợ nhất là bị công an Đức trả về Việt Nam,” anh nói.
“Để sang đây, tôi phải chi hết hơn 500 triệu đồng, đem cầm cố hết sổ đỏ, nhà cửa cho ngân hàng để có tiền ra đi. Vợ con tôi giờ vẫn đang phải vay mượn hàng tháng để trả lãi. Nếu tôi bị trả về bây giờ, nhà cửa sẽ mất hết.”
“Tôi đã chọn sai đường, tưởng rằng sang đây sẽ kiếm tiền đỡ hơn một chút, đủ để nuôi con ăn học. Ở quê nhà, tôi làm nghề đi biển thì đói, nợ chồng nợ,” anh nói về tình cảnh hiện thời của mình và lý do khiến anh chưa dám quay về.
TL – BBC


Cái ấm đất
Khái Hưng
Ngày xưa có một người cự phú xứ quê ốm nặng và biết mình thế nào cũng sẽ từ trần liền gọi ba con trai đến bên giường mà bảo rằng:
– Cha sinh được ba con, nhờ trời cùng khỏe mạnh và nết na. Đó là sự quý báu nhất và sung sướng nhất trong đời cha. Trong đời cha, cha đã làm nhiều điều ác, nhiều sự bất công, cha xin thú thực thế trước khi nhắm mắt vĩnh biệt các con.
Nhưng đối với các con thì cha chỉ có một lòng thương mến, chiều chuộng. Có lẽ cũng vì quá thương mến chiều chuộng các con, và quá nghĩ đến tương lai tốt đẹp của các con mà cha đã ác nghiệt, bất công đối với kẻ khác.
Trong khoảng bao nhiêu năm cha đã bòn chắt làm giàu, cha đã hà hiếp bóp hầu bóp họng người ta để có được cái tài sản ngày nay mà cha sắp đem chia cho ba con, chia một cách thực công bằng, nghĩa là chia ra ba phần thực ngang nhau.
Người ốm mỉm cười chua chát nói tiếp:
– Sự công bằng, cha vẫn yêu quý sự công bằng, khốn nỗi cha lại yêu quý các con hơn sự công bằng, vì thế mà dù bản tâm công bằng cha đã nhiều lần trở nên thiên lệch. Thôi thì không công bằng với người đời, ít ra hôm nay cha cũng công bằng được với các con.
Cha muốn rằng sau khi cha từ trần, các con sẽ không kêu ca một điều gì về sự bất công của cha, và sẽ hoàn toàn ưng thích phần gia tài mà cha sắp chia cho.
“ Đây, ba phần tài sản ấy đây, cha đã chia từ lâu (vừa nói người cha vừa đưa ra một bản chúc thư). Nay chỉ việc điền tên các con vào phần các con ưng thuận. Ba phần ấy là: Phần thứ nhất, cái dinh cơ này và ao vườn bao bọc chung quanh, có tới dăm chục mẫu; Phần thứ hai, hai trăm mẫu ruộng và năm chục con trâu; Phần thứ ba, một cái ấm đất …”
Người con cả và người con thứ hai cùng ngắt lời, kêu:
– Một cái ấm đất?
– Ừ, một cái ấm đất. cái ấm đất ấy hiện cha chôn ở dưới một chân giường cha đương nằm đây. Cha yêu quý nó lắm. Ở đời nếu có vật gì cha yêu quý hơn cả các con thì vật ấy là cái ấm đất của cha. Chính nhờ nó mà ngày nay cha có nhà cửa nguy nga và vườn ruộng hằng trăm mẫu. Các con hãy để cha kể lịch sử nó cho các con nghe.
“Hẳn các con cũng biết mang máng rằng ngày xưa cha nghèo lắm. Nhưng chắc các con chưa rõ, chắc các con không thể tưởng tượng được cha nghèo đến bực nào. Ông bà sớm mất, cha phải mang thân đi tha phương cầu thực, trong hầu bao chỉ vỏn vẹn có hơn quan tiền?
Đó là tất cả gia tài mà ông để lại cho cha, và túp nhà tre lợp rạ làm nhờ trên một miếng đất công của làng đã sụp sau một trận bão lớn. Nhưng dù nghèo và mới mười hai tuổi đầu cha vẫn không lo chết đói, cha vẫn tin ở sức cha, ở lòng can đảm của cha và hy vọng ở tương lai, tuy tương lai chỉ lờ mờ xa lắc.
“Buổi đầu bỡ ngỡ, và không có chủ kiến, không có mục đích, cha đi lang thang trên đường cái, định bụng hễ gặp việc gì thì làm việc ấy. Nhưng chả gặp việc gì.
Vì thế, khi tới một tỉnh lỵ, cha đã ăn lấn vào cái vốn liếng nhỏ mọn mất gần một nửa. May sao, Trời Phật dun dủi, một hôm cha gặp một thằng bé tay xách cái ấm đất, tay cầm cái bát sành, miệng cất tiếng rao lanh lảnh: “Có ai nước vối nóng, hai đồng một bát không nào?”
“Cha như chợt trông thấy con đường đi của mình. Thế là cha làm thân với thằng bé, hỏi nó cách thức bán hàng và ngày hôm sau cha trở nên một bạn đồng nghiệp của nó …”
“Câu chuyện dài lắm, mà cha lại sợ mệt không đủ sức kể hết đầu đuôi, ngành ngọn cho các con nghe được. Các con chỉ nên biết rằng cha xuất thân với nghề bán nước vối rong, và cái đồ vật nuôi sống cha lúc buổi đầu, hơn thế, cái đồ vật đã gây cho cha cái lưng vốn thứ nhất nó sinh sôi nẩy nở mãi ra cho tới ngày nay là cái ấm đất quý báu, là cái ấm đất linh thiêng giấu ở trong một bí mật dị kỳ, cái ấm đất mà cha sắp đem chia cho một trong ba con yêu mến của cha.
Nó là người bạn hàn vi của cha. Nó là người bạn thân mật của một quãng đời trong sạch của cha, vì ngày còn phải kiếm ăn với cái ấm đất, cha rất hiền lành, ngay thẳng, thành thực.
Rồi sau, một ngày một thêm giàu có, cha cũng một ngày một thêm lừa lọc, gian trá, ác nghiệt, tàn nhẫn. Nhà cửa đồ sộ, cha đựng lên bằng mồ hôi nước mắt của người đời; vườn, ruộng mênh mang, đó là những giọt máu đào của người đời mà cha đã khôn khéo, gian ngoan, chiếm đoạt.
Đến như cái ấm đất nuôi sống cha thì nó hoàn toàn trong trắng, không hề nhuộm máu, đựng mồ hôi nước mắt của một ai.”
Ngừng một lát, yên lặng nhìn đỉnh màn nghĩ ngợi, rồi người cự phú lại nói: “Cái ấm đất chứa một bí thuật sung sướng, và cha đã tha thiết muốn sung sướng… nhưng cha đã dại dột chỉ muốn giàu có …
Nhưng đó là một điều bí mật mà cái ấm đất sẽ giúp một trong ba con khám phá ra. Vì thế cái ấm đất của cha sẽ là cái ấm đất yêu quý, cái ấm đất đạo đức, phần gia tài mà cha dành cho con nào xứng đáng nhất.
Vậy các con thử mỗi đứa trả lời một câu xem đứa nào sẽ có hân hạnh, sẽ có diễm phúc được chia phần gia tài trong sạch và thiêng liêng ấy”.
Người con cả vội đáp:
– Thưa cha, đời cha thực là một cái gương kiên nhẫn, cần lao, đạo đức cho chúng con và cho khắp mọi người soi. Cái cơ nghiệp hằng vạn của cha, cha đã tay trắng làm nên…
Người cha giơ bàn tay ra vội gạt:
– Không, cha khởi cơ nghiệp bằng cái ấm đất vậy con phải nói: Cha đã được ấm đất dựng lên nhà gạch mới đúng.
– Dạ, con cũng biết thế. Nhưng xây nhà xây cửa, tậu vườn tậu ruộng, há không phải do hai bàn tay trắng với lòng kiên nhẫn, với cái thông minh mẫn tiệp của cha?
Trên đời có biết bao nhiêu đứa trẻ bán nước vối, vậy thử hỏi ngoài cha ra đã một ai làm nên trăm nên nghìn chứ đừng nói làm nên vạn như cha vậy. Vậy thì cái ấm đất chỉ là một vật, một khí cụ mà cha đã dùng để trước là kiếm ăn, sau là làm giàu, cũng như cái cầy, cái bừa, chẳng hạn.
Vâng, thưa cha, cái cầy, cái bừa, con trâu đã giúp cha gây dựng cơ nghiệp to tát, con thiết tưởng ít ra ba thứ ấy cũng phải được xếp ngang hàng với cái ấm đất chứ; Cớ sao cha lại nỡ bên trọng, bên khinh…
Người cha mỉm cười ngắt lời:
– Thôi, con không nên dài lời vô ích, cũng không nên bắt bẻ cha, tội nghiệp. Cha hiểu ý con rồi. Con muốn được chia phần trăm mẫu ruộng và năm chục con trâu chứ gì?
Người con yên lặng cúi đầu không đáp. Người cha lại nói:
– Quả thực con không xứng đáng được cha chia cho cái ấm đất trong sạch và thiêng liêng của cha. Vậy đem bút mực đây để cha điền tên con vào chỗ phần thứ hai.
Người con Cả, sung sướng chạy vội đi lấy cái bút và nghiên mực đặt ở bên mình cha, rồi đưa tay ra sau gáy nâng cha ngồi dậy. Người ốm vừa viết vừa nói:
– Đáng lẽ cha phải chia cho con phần dinh cơ trong đó có nhà thờ ông cha, mà con lại là con trưởng. Nhưng con đã thích ruộng, thích trâu, thì cha cũng chia ruộng trâu cho con.
Cha không muốn làm phật lòng các con trước khi cha nhắm mắt. Bây giờ đến lượt anh Hai. Anh nghĩ sao? Anh thử trả lời để cha xem anh có xứng đáng được hưởng cái phần gia tài quý giá nhất của cha không?
Người con thứ Hai lễ phép cúi đầu thưa:
– Cha đã hỏi, con xin thành thực trình bày. Cái ấm đất mà cha vừa kể cho chúng con biết rõ lịch sự, thực là một cái ấm đất quý, một cái ấm đất phi thường, một cái ấm đất thiêng liêng nữa, như lời cha dạy.
Nó là người bạn buổi thiếu thời của cha, nó là người bạn trong sạch nhất của cha. Bây giờ cha lại muốn để nó làm bạn với một trong ba anh em chúng con, thì con thiết tưởng kẻ nào được phần danh dự ấy phải là người có tài cao, có đức lớn mới xứng đáng. Nay con tự xét mình còn tài hèn, đức mỏng…
Người cha vội cướp lời:
– Nghĩa là con không ưng lấy cái ấm đất chứ gì!
– Dạ, xin cha cho phép con nói hết ý nghĩ của con đã. Cha là người có đại tài, đại đức nên đã tay trắng làm nên cơ nghiệp to tát ngày nay. Con nói tay trắng, tuy con vẫn nhớ công cái ấm đất kia.
Con nói thế là vì con cho rằng có tài, đức như cha dù xuất thân làm nghề gì cha cũng tới được cái đích giàu có hằng vạn. Cái ấm đất chỉ may mắn được lọt vào tay cha lúc ban đầu. Nếu cha xuất thân làm thợ ngõa thì chắc cái bay, cái thước nay cũng được cha quý trọng như cái ấm đất. Tóm lại, làm nên giàu có là chỉ nhờ về tài về đức của cha. Nếu con cũng có tài cao, có đức dầy thì với cái ấm đất cha để cho con, con sẽ cũng làm nổi cơ đồ như cha ngày nay.
Nhưng tiếc rằng tài con hèn, đức con mỏng nên không dám cáng đáng lấy cái công việc khó khan mà chỉ những người phi thường như cha mới làm nổi.
Người cha cười:
– Khéo! Khéo! Khéo! Con khéo nói lắm. Như thế kể con cũng có tài đấy, cái tài ngôn ngữ. Nhưng đức của con thì quả còn mỏng mảnh như con nói. Vậy con chưa xứng đáng để cha chia cho cái ấm đất của cha. Còn anh Ba, anh Ba nghĩ sao? Thử nói cho cha nghe nào.
Người con thứ Ba đáp:
– Thưa cha, cái ấm đất của cha thực là một gia bảo của nhà ta, nếu cha giao nó cho con, thì con xin cam đoan với cha rằng con sẽ chăm nom giữ gìn nó, con sẽ là người bạn suốt đời của nó.
Người cha kinh ngạc hỏi:
– Con có đủ tài đức để giữ nó không, để giữ nó mãi mãi không?
– Thưa cha, con không dám tự cao cho rằng con có đủ tài, đủ đức, và con cũng không biết con có xứng đáng được cha giao cho thứ bảo vật yêu quý của cha không, nhưng nếu cha xét thấy con xứng đáng mà ban cho thì con xin vui lòng nhận.
– Con vui lòng?
– Vâng, con vui lòng.
– Nhưng con phải biết phần gia tài ấy chỉ có một cái ấm đất với mười quan tiền để mua nồi, mua vối, mua củi…
– Thưa cha, ngày xưa cha xuất thân chỉ có một cái ấm đất với ngót một quan tiền.
– Con sẽ phải đi bán vối rong, con sẽ phải cất cao giọng rao suốt ngày nầy sang ngày khác: “Có ai uống nước vối nóng không?”.
– Cha làm được thì con cũng xin cố làm được.
– Con sẽ ngủ nhiều đêm ở vệ hè, ở trong quán chợ.
– Người ta ngủ như thế được thì con cũng ngủ như thế được.
– Hai anh con được một người hai trăm mẫu ruộng, và một người cái dinh cơ đồ sộ này, mà con chỉ được mỗi một cái ấm đất, con không suy bì?
– Thưa cha, hai trăm mẫu ruộng, một nơi dinh cơ rộng rãi với một cái ấm đất, hơn kém nhau thế nào khó lòng mà so sánh được. Nhưng có một điều con tin chắc, là cha đã chia ra làm ba phần bằng nhau, thì tất ba phần ấy phải bằng nhau, không hơn không kém.
Nhận phần hai trăm mẫu ruộng, hay phần dinh cơ, hay phần một cái ấm đất, con tin chắc rằng cũng thế mà thôi, nhất con lại được nghe cha ca tụng cái quãng đời bán nước vối của cha là trong sạch, là sung sướng, và mạt sát cái đời làm chủ nhân mấy tòa nhà và hai trăm mẫu ruộng mà cha cho là một đời lừa lọc, gian trá, ác nghiệt, tàn nhẫn.
Thưa cha, nếu kiếm ăn với một ấm nước vối là sống và tiêu pha phung phí trong tòa nhà này cũng chỉ là sống thì can gì không chọn lấy cái sống trong sạch và sung sướng kia mà lại đi chuốc lấy cái sống ô trọc, khổ sở này.
Thưa cha, con quả quyết xin cha ban cho con cái ấm đất, nếu cha xét con thực xứng đáng được lĩnh phần gia tài quý báu ấy.
Người cha vui cười:
– Xứng đáng thì con xứng đáng lắm rồi! Ngày xưa, lúc lâm chung, mẹ con có căn dặn cha rằng thằng Ba khá hơn hai anh nó, vậy khi chia gia tài, phải nghĩ đến nó hơn hai anh nó một chút.
Quả thực ngày nay cha thấy rõ rằng con khá hơn hai anh con, và quả thực ngày nay con được cha chia cho phần gia tài đích đáng nhất. Cha cứ tưởng phần gia tài ấy không ai được nhận và cha sẽ phải làm lại chúc thư. Nhưng bây giờ thì sẽ yên tâm mà nhắm mắt từ biệt các con.
Năm hôm sau người cha chết giữa lúc tâm trí còn sáng suốt, vì lời cuối cùng của nhà cự phú là lời dặn các con nên giản dị trong việc ma chay. Dẫu có lời trối trăn ấy, anh Cả và anh Hai cũng cứ làm ma linh đình để được tỏ lòng hiếu, không phải hiếu đối với cha mà đối với làng, xóm họ hàng. Vì đối với người cha đã qua đời, họ không cần lấy lòng lấy bề như xưa để hòng được hưởng phần gia tài lớn nữa.
Riêng người con thứ Ba là thành thực đau đớn. Xưa nay anh vẫn yêu cha, vì yêu cha là một tính tình tự nhiên trong lòng anh. Nhưng từ lúc được nghe mấy lời tâm huyết của cha, tình yêu của anh lại tăng lên bội phần, tình yêu lẫn trong tình thương.
Ban ngày ngồi một mình, anh tưởng tượng cái đời vất vả, nghèo đói, khổ sở của cha thửa trước. Anh thấy hiện ra trước mắt một thằng bè rách rưới, gầy còm, xách ấm nước vối chạy rong, miệng luôn luôn rao hàng: “Có ai uống nước vối nóng không nào!” Thằng bé ấy là cha anh, và vài hôm nữa sẽ là anh.
Đã có đêm Ba chiêm bao thấy chính Ba xách ấm đi thất tha thất thểu ngoài đường, dưới mưa phùn gió lạnh. Tỉnh dậy Ba lại càng thương cha. Và Ba muốn sống ngay cái đời rét mướt ấy để được biết ngày xưa cha khổ sở đến bực nào.
Anh Cả và anh Hai thương hại em và muốn chia của cho em để em được cùng mình hưởng giàu có. Nhưng Ba nhất định từ chối, nói cha đã chia cho một cái ấm đất và một chục quan tiền để làm vốn mua vối nấu nước bán, thì anh chỉ nhận phần gia tài ấy thôi. Hai anh dọa Ba rằng Ba sẽ chết đói. Ba cười đáp:
– Thế thầy ngày xưa thì sao? Không những thầy không chết đói mà thầy còn làm nên nhà cửa, tậu được ruộng vườn để ngày nay chia cho anh em ta.
Và Ba lại cười. Hai anh cho rằng Ba nói mỉa mai, tức giận im lặng. Vì sự thực những nhà cửa, ruộng vườn ấy chỉ hai anh được hưởng, chứ Ba có dự phần nào đâu. Nhưng cái cười của Ba là cái cười tự nhiên, chứ không có ngụ ý mỉa mai hay oán trách hai anh.
Vả lại chính Ba đã bằng lòng và xin nhận cái phần gia tài mà cha cho là trong sạch ấy. Anh nghĩ thầm: “Có lẽ cái trong sạch đã làm cho cha sung sướng, khi cha còn bần hàn, vì trong cái đời giàu có của cha, ta chưa từng thấy cha sung sướng bao giờ: lúc nào cha cũng phàn nàn, lo nghĩ, xoay xở, có khi mất ngủ mất ăn.
Ta chỉ mong được sung sướng, vậy thì có cái ấm đất mà sung sướng còn hơn có cửa nhà, vườn rộng mà khổ sở.”
Thế là Ba quả quyết với cái chí tự lập lấy thân.
Vừa xong việc tang ma, anh bắt đầu bước vào nghề mới, cái nghề bán nước vối rong.
Anh bỏ ra ba quan thuê một cái quán tranh ở bên chợ. Với năm quan anh mua lá vối và các đồ dung để nấu nước. Rồi sáng sáng dậy thực sớm, dậy trước cả tiếng gà gáy thứ nhất, anh nấu nước rót vào cái ấm đất ra đi và cất tiếng rao lanh lảnh:
– Nước vối nóng ngon, có ai uống không? Có ai uống nước vối nóng ngon không nào?
Mà nước vối của Ba vừa nóng vừa ngon thực. Lá vối trước khi nấu Ba đã ủ kỹ nhiều ngày. Ba lại nấu với nước mưa trong sạch và tra vào một ít nụ vối. Vì thế nước vối của Ba ngọt và thơm. Các bà đi chợ xa nghe tiếng rao, vui mừng bảo nhau:
“Chúng ta hãy đặt gánh nghỉ chân uống một bát nước vối của anh Ba đã! – Nước vối anh Ba uống vào là hết nhọc mệt liền!” Rồi gọi lại mỗi người uống một bát. Uống xong, các bà khen lấy khen để: “Nước vối anh Ba nấu khéo quá! Ai đã uống một lần thì không sao quên được nữa, không sao bỏ được nữa, người ta nghiện nước vối anh Ba như nghiện rượu,” “Nước vối anh Ba” câu ấy đã thành như một câu ngạn ngữ.
Đi khỏi một quãng, các bà đem chuyện anh Ba ra kể với nhau cho vui trên con đường xa. Một bà bảo:
– Anh Ba là con cụ Bá làng tôi. Cụ giàu nứt đá đổ vách mà sao cụ vừa mất được mươi hôm anh ấy đã phải đi bán nước rong.
Bà khác đáp :
– Hai người anh cũng tệ ! Nào nhà cửa linh đình, nào ruộng nương hằng trăm mẫu mà nỡ để em đi bán nước vối.
Bà thứ ba nói :
– Nghe đâu hai người anh có xin chia của cho em, nhưng anh Ba anh ấy nhất định không nhận. Anh ấy bảo ngày xưa cụ Bá xuất thân với cái nghề bán nước vối rong thì nay anh ấy cũng cứ theo cái nghề ấy.
– Dễ thường anh ấy điên ?
– Chẳng điên thì cũng lẩn thẩn. Thiên hạ lại có người chê của thì cũng lạ !
Trong khi các bà khác kháo chuyện anh thì Ba đương rẽ xuống ruộng bán nước vối cho một bọn thợ gặt. Nghe tiếng rao trong trẻo, họ đã ngừng tay cắt lúa và cất tiếng gọi :
– Anh Ba, đem nước xuống đây bán cho chúng tôi, nước vối của anh chúng tôi uống hôm qua,hôm nay vẫn còn nhớ vị thơm ngọt. Chúng tôi đương mong ngóng anh đây !
Chẳng mấy lúc ấm nước đã cạn. Ba chạy về nhà rót đầy ấm khác rồi lại đi bán rong cho khách qua đường, mãi xế chiều mới trở về nơi quán tranh thổi cơm ăn.
Cơm xong, Ba nghêu ngao hát chèo, hát trống quân chơi rồi đi ngủ để sáng hôm sau lại dậy sớm nấu nước vối đi bán.
Và anh tự cho là sung sướng, tự cho là đời anh đầy đủ. Phải, anh còn thiếu một thứ gì ? Anh có nhà để ở. Có một nghề “trong sạch” để kiếm ăn. Anh không lo nghĩ, không phiền muộn, băn khoăn.
Ngày ngày anh kiếm không những đủ ăn, mà còn để ra được chút đỉnh. Số tiền ấy anh sẽ dùng vào việc thuốc thang khi không may anh xảy ra đau ốm. Nhưng anh chắc chắn rằng không khi nào anh sẽ đau ốm được. Anh ăn uống có điều độ, ngủ thức có điều độ.
Công việc làm không những anh cho là không vất vả mà lại còn có hứng thú nữa. Khi xưa ở nhà với cha, không bao giờ anh để ý ngắm cảnh đẹp, không bao giờ anh để tai nghe chim hót.
Ngày nay thì anh coi như đó là những vật sở hữu của anh. Buổi sáng tiếng chim chích chòe làm cho lòng anh thư thái ; Buổi chiều tiếng chim sơn ca vừa hót vừa bay thẳng vút lên trời xanh làm cho trí anh cao rộng.
Rồi thân thể anh nở nang ra dưới gió mát, dưới nắng trong, dưới làm không khí thênh thang nơi đồng áng. Cả mưa dầm gió lạnh cũng không làm cho thân anh hao tổn, trái lại nhờ thế mà bắp thịt anh rắn chắc lại, mà lòng can đảm, chí phấn đấu của anh tăng mãi lên. Và anh càng thấy anh sung sướng.
Một buổi sáng, Ba dậy sớm nấu nước vối xong rót vào ấm đất ra đường rao bán. Nhưng hôm ấy không phải là ngày phiên chợ nên anh phải đi một quãng đường dài để đến bán nước cho bọn thợ cấy ở các thửa ruộng xa.
Gần tới nơi, anh gặp một ông lão râu tóc bạc phơ ngồi mệt lả ở bên vệ đường. Ông lão uể oải giơ tay vẫy anh, như không còn đủ sức để cất tiếng gọi. Ba lại gần hỏi :
– Cụ xơi nước ?
Ông lão gật đầu. Rồi Ba chưa kịp rót nước ra bát, ông lão đã giựt lấy cái ấm đất và ngậm vòi uống ừng ực. Ba vội kêu :
– Ấy nước nóng, khéo không cụ bỏng mồm đấy.
Nhưng lạ chưa. Không những ông lão không bỏng mồm mà ông còn có vẻ khoan khoái nữa. Một lát, ông đưa cái ấm đất trả lại Ba. Anh cầm thấy nhẹ bỗng, ghé mắt nhòm vào trong thấy ấm ráo hoảnh. Ông lão mỉm cười nói :
– Lão uống mất nhiều phải không ? Lão khát quá đi mất thôi. Không có ấm nước vối của anh thì không khéo lão đã chết rồi. cám ơn anh nhé. Thôi, lão đi đây, bây giờ khỏi khát rồi thì lão đi xa đến đâu cũng được.
Dứt lới, ông lão đứng lên đi thẳng.
Ba không nói gì, chỉ vội vàng chạy một mạch về nhà rót đầy ấm nước khác đem đi bán.
Hôm sau cũng vào lúc ấy và ở chỗ ấy. Ba gặp một bà lão nằm rên khừ khừ. Ba ghé lại hỏi thăm :
– Cụ làm sao thế ?
Bà lão đáp :
– Già khát lắm mà không có tiền uống nước. Không khéo già chết khát mất thôi.
– Thưa cụ, có nước vối nóng đây, xin mời cụ xơi, Bao giờ cụ có tiền cụ trả cũng được.
– Nhưng già làm gì có tiền, già nghèo lắm.
– Mời cụ cứ xơi, cháu xin biếu không cụ một bát.
– Một bát thì thấm thía vào đâu !
– Vậy mời cụ muốn uống bao nhiêu tùy ý.
– Thế à ?
Bà lão vui sướng vồ lấy cái ấm đất, nhưng tay bà run lẩy bẩy đánh rơi ấm xuống cỏ, nước đổ lênh láng.
– Thôi, thế này thì khổ già rồi. Đổ không còn lại một giọt nào nữa.
Ba không lộ vẻ thất vọng, không thốt một lời gắt gỏng hay phàn nàn. Anh chỉ ôn tồn bảo bà lão:
– Cụ chịu khó ngồi đấy chờ cháu một lát, cháu về nhà lấy ấm nước khác đem đến mời cụ xơi.
Rồi anh xách cái ấm đất cắm đầu chạy thực mau về nơi quán tranh, trong lòng chỉ áy náy lo rằng nếu mình chậm trễ thì bà lão kia sẽ chết khát mất. Lúc ra tới chỗ cũ thì quả bà lão, mệt lả vì khát, đương nằm phục bên đường. Anh vừa thở hổn hển vừa gọi:
– Cụ ơi, nước đây rồi, cụ dậy mà uống.
Bà lão vội vàng ngồi dậy nói:
– Ồ! Thế thì tốt quá!
Rồi choàng tay ra vồ lấy cái ấm đất. Nhưng trong lúc hấp tấp, bà ta lại đánh đổ hết nước trong ấm.
Lần thứ hai, Ba xách ấm chạy về nhà. Không những anh không bực tức và oán trách bà lão, mà anh còn cố chạy mau hơn lần trước, vì sợ bà lão đã khát quá không khéo lần này anh sẽ không kịp cứu sống.
Nhưng Ba cứu sống được bà lão, vì lần cuối cùng này anh rất cẩn thận, cầm ấm và bát rót nước cho bà lão. Bà uống luôn ba bát, và mặt bà tỉnh táo hẳn lên. Bà mỉm cười nói:
– Anh tốt bụng lắm, vừa thương người vừa nhẫn nại. Thương người già yếu thì có người bằng anh đấy, nhưng nhẫn nại như anh thì có lẽ không một ai nữa. Nước của anh đổ, anh đã không tức giận, không tỏ lòng tiếc, lại còn hấp tấp chạy về nhà lấy ấm nước khác để cho người đánh đổ nước của anh uống; anh thực là một người hiếm có và giống hệt cha anh thửa còn hàn vi….
Ba kinh ngạc hỏi:
– Thưa cụ, cụ biết cha cháu từ thời cha cháu hàn vi?
Bà lão cười đáp:
– Phải, tôi biết lắm. Vì chính tôi đã giúp cha anh trở nên giàu có. Tôi thấy cha anh là người phúc hậu nên tôi thương, – tôi nói ngày xưa cơ, chứ về sau cha anh đã thay đổi hẳn, không còn dễ dàng và có lòng tốt thương người nữa. Cho hay đó vẫn là lẽ tự nhiên, khi người ta giàu có thì người ta dễ thay đổi tính tình…
– Vậy thưa cụ, cụ là ai ?
– Tôi là linh hồn cái ấm đất này. Tôi là thần Ấm Đất, và cũng như cha anh ngày xưa, nhờ phép tôi, anh sẽ trở nên giàu có ngay lập tức. Anh đã hiểu vì sao cha anh chia cho anh cái ấm đất này chưa ?
Anh đã hiểu vì sao thương yêu anh nhất trong ba con, cha anh đã chia cho anh phần gia tài quý báu này chưa ? Trong ba phần gia tài thì phần này to hơn nhất, mà to hơn nhất là vì tôi sẽ có phép làm cho anh giàu có hơn cả hai người anh không tốt của anh ?
Anh thì anh tốt lắm. Hôm qua tôi đã thử anh một lần, hôm nay tôi lại thử anh hai lần nữa, đều thấy anh vẫn không thay lòng đổi dạ.
Ba ngây người đứng nghe, tưởng mình đương chiêm bao. Bà lão lại tiếp :
– Cha anh chia cho anh phần gia tài này còn vì một lẽ nữa. Là nếu cái ấm đất có lọt vào tay hai người con lớn của cha anh thì họ cũng chẳng biết, chẳng thèm dùng đến. Mà có dùng đến thì cũng chẳng được tôi hóa phép giúp đỡ, vì tôi rất ghét cái tính ngạo mạn và huênh hoang của chúng. Cha anh biết chỉ có anh mới cảm động nổi tôi. Quả thực anh đã được lòng tôi, vì tôi đã hiện lên đây để giúp đỡ anh.
Ba vẫn ngây người không hiểu. Anh nhắc lại :
– Giúp đỡ cháu ?
– Phải, giúp đỡ anh. Nhưng trước khi hóa phép, tôi hỏi anh câu này : “Anh muốn giàu có như cha anh và suốt đời lo nghĩ, băn khoăn, cặm cụi, mong ước mỗi ngày một giàu có mãi hơn lên, phải, anh thích cái đời giàu có và không bình tĩnh một chút nào ấy hay cái đời đủ ăn và luôn luôn thư thái, không làm phiền ai và không bị ai làm phiền mình. Tóm lại, anh thích một đời giàu có hay một đời sung sướng ?”
Hai tiếng “sung sướng” như đánh thức Ba.
Anh không ngần ngừ nữa, quả quyết trả lời :
– Cháu chỉ ao ước được sung sướng, suốt đời sung sướng.
– Nghĩa là anh không ham giàu ?
– Không.
– Anh không thích sang ?
– Không.
– Anh không thích ở nhà lầu ? Anh phải biết ở nhà lầu, cao ráo, sạch sẽ, mát mẻ.
– Thưa cụ ở nhà tranh cũng có thể cao ráo, sạch sẽ, mát mẻ được.
– Anh không thích ăn sơn hào, hải vị ? Sơn hào, hải vị ngon lắm chứ ?
– Thưa cụ, rau muống, đậu phụ chấm tương cũng ngon lắm mà lại lành ?
– Anh không thích được ngắm những thửa ruộng thẳng cánh cò bay của mình.
– Thưa cụ, cháu thường được ngắm nhiều hơn thế, cháu thường được ngắm những cánh đồng lúa chạy thẳng tắp đến tận chân trời.
– Nhưng đó không phải ruộng của anh.
– Thưa cụ như thế càng hay, vì cháu được ngắm cái đẹp mà không phải chăm nom săn sóc tới.
– Nhưng thóc sẽ về tay người khác.
– Nhưng người ấy có ăn được hết số thóc đâu ? Cháu không có một tấc ruộng nào mà hằng ngày vẫn đủ no. Tiền bán nước vối cũng đủ nuôi sống cháu rồi.
– Vậy anh muốn gì ? Anh muốn tôi giúp anh như thế nào, vì thế nào tôi cũng phải giúp anh. Tôi là bạn thân của cha anh thửa xưa, cha anh đã phó thác anh cho tôi, chẳng lẽ tôi lại để anh nghèo đói, khổ sở, chẳng hóa ra tôi phụ lòng tin cậy của cha anh lắm ư?
– Thưa cụ, quả cháu không khổ sở. Nếu cụ làm cho cháu cứ được vui vẻ, sung sướng suốt đời như ngày hôm nay thì cháu cám ơn cụ lắm.
Bà lão đứng dậy nói:
– Anh sẽ vui vẻ, sung sướng suốt đời.
Rồi bà biến đi.
Sáng hôm sau Ba dậy sớm để nấu nước, nhưng lạ quá! Cái ấm đất ai đem để ngay trong nồi, và lạ hơn nữa! Cái ấm đất ấy đựng đầy nước vối nóng. Ba rót ra bát nếm thử thì thấy nước ngọt và thơm hơn mọi ngày nhiều. Anh vui mừng xách ấm đi bán rong. Và mãi chiều anh mới về nhà thổi cơm ăn vì cái ấm đất kỳ dị của anh không bao giờ nước vơi, nên anh không cần về lấy thêm. Hàng anh bán lại chạy gấp năm, gấp mười trước: Hình như tiếng rao của anh có phép thiêng lôi cuốn khách lại.
Đó là pháp thuật của thần Ấm Đất. Thần đã chuẩn lời mong ước của Ba: Suốt đời sung sướng.
Và Ba sẽ suốt đời sung sướng với cái ấm đất linh thiêng bao giờ cũng đầy nước vối thơm ngọt.
Ba sẽ sung sướng được sống một đời trong sạch.
Ba sẽ sung sướng với sự giúp đỡ kẻ nghèo, vì không cần giàu có, Ba cũng có thể giúp đỡ được kẻ nghèo bằng một bát nước vối nóng thơm, ngọt.
Ba sẽ sung sướng vì một đời bình dị sẽ không bao giờ thay đổi lòng Ba như một đời giàu có: Ba sẽ mãi mãi giữ được nguyên vẹn lòng tốt của mình.
Không có lòng tốt thì người ta sung sướng sao được.
Ba sẽ suốt đời sung sướng
CHÂN DUNG “KẺ XÂM LƯỢC”
Bùi Đức Thịnh
MacArthur đến Nhật với đôi bàn tay đẫm máu người Nhật. Khi MacArthur rời Nhật về Mỹ, từ nơi dinh phủ ông ở đến Sân bay Atsugi có hàng triệu người Nhật đứng hai bên đường đưa tiễn. Đoàn xe hộ tống đi qua những hàng nước mắt cùng tiếng hô vang dậy của người dân Nhật: Đại nguyên soái!
MacArthur được người Nhật vinh danh là 1 trong 12 danh nhân nước Nhật mọi thời đại.
Bị đánh bom nguyên tử, vì sao người Nhật lại cúi đầu kính trọng tướng Mỹ?
Năm 1942 tướng MacArthur dẫn đại quân tấn công Nhật Bản, từ Melbourne đánh thẳng đến Tokyo, hai tay nhuộm máu người Nhật Bản. Vì thế người Nhật hận ông thấu xương.
Chiều ngày 30/8/1945, tướng quân MacArthur ra khỏi máy bay và đặt chân lên đất Nhật, cho dù ông không mặc quân phục và không mang theo vũ khí gì, cũng không có người tổ chức duyệt binh, nhưng thời khắc đó với 70 triệu người Nhật Bản là thời khắc kinh hoàng mà họ không thể quên, trong tâm trí mọi người chỉ còn nghĩ được hai chữ “mất nước”.
Nhưng tướng MacArthur mang quân đến hòa bình, chính nghĩa, khoan dung và dân chủ.
Nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh rơi vào suy sụp, đến bữa trưa của Nghị viên Quốc hội cũng phải ăn cơm trộn khoai lang, cái đói bao phủ khắp nơi. Lúc này tướng MacArthur gây áp lực khiến chính phủ Mỹ phải hỗ trợ Nhật Bản, thế là 3,5 triệu tấn lương thực và 2 tỷ Mỹ kim tức tốc được gửi đến Nhật. Ông không chỉ giữ lại chính quyền Nhật Bản mà còn đặc xá cho Thiên hoàng, thậm chí còn quan tâm đến số phận của từng người lính bình thường của Nhật Bản, giúp họ tìm con đường sống.
Theo sau ông, 400 nghìn lính Mỹ đã dùng thiện ý và tinh thần hy sinh để chinh phục người Nhật Bản. Khi đó các con hẻm trong thành phố của Nhật rất chật hẹp, một người Nhật bình thường và một người lính Mỹ to lớn nếu gặp nhau cũng khó để đi qua, vì thế thường thì người lính Mỹ sẽ nép vào một bên cho người Nhật đi trước. Người Nhật không thể không băn khoăn tự hỏi, nếu mình là kẻ chiến thắng thì có làm được như thế không?
Sau khi tướng MacArthur đến Nhật Bản, ông lập tức ra lệnh thả tội phạm chính trị, trong đó có rất nhiều Đảng viên Cộng sản, bị chính phủ Nhật bắt giam trong thời gian dài.
Ngày 25/8/1945, quân chiếm đóng của Mỹ cho phép phụ nữ Nhật thiết lập tổ chức của mình; tháng 9 cho công bố Dự luật về vai trò trong bầu cử của phụ nữ Nhật Bản; đây là lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, phụ nữ được quyền bầu cử và ứng cử.
Lúc này tại Tokyo có cô kỹ nữ được chọn làm Nghị viên thành phố, nhiều thị dân cảm thấy khó chấp nhận. Nhưng tướng MacArthur nói, mọi người chọn cô ấy để cô ấy phục vụ mọi người, đừng vì cô ấy là kỹ nữ mà kỳ thị bỏ qua. Khi đó mọi người chợt hiểu người được chọn trong bầu cử dân chủ phải là người thay mặt để vì mình làm việc, thế là sau khi hiểu ý nghĩa vấn đề họ đã quyết định chọn bầu cô kỹ nữ kia. Kết quả sau khi trở thành Nghị viên, cô đã không phụ lòng mọi người, làm được rất nhiều việc có ý nghĩa.
Vào ngày 11/10/1945, tướng MacArthur tuyên bố bỏ lệnh cấm báo chí, Nhật Bản được tự do thông tin và tự do ngôn luận.
Ngày 22/12/1945, ban hành “Luật Công hội”, giai cấp công nhân thực sự có tổ chức của mình. Ngày 1/9/1947, ban hành “Luật lao động”, quy định tiêu chuẩn tiền lương thấp nhất và thời gian làm việc nhiều nhất.
Ngày 3/2/1946, tướng MacArthur chỉ thị cho Tổng bộ Liên minh khởi thảo Hiến pháp Nhật Bản. Chính phủ Mỹ truyền đạt nguyên tắc chế định Hiến pháp cho tướng MacArthur là: Chính phủ Nhật Bản phải do toàn thể cử tri trao quyền và phải chịu trách nhiệm trước toàn thể cử tri.
Ngày 3/5, quân liên minh giao ra Bản dự thảo Hiến pháp. Ngày 7/10, Quốc hội Nhật Bản thông qua Hiến pháp. Ngày 3/11, Thiên hoàng cho ban hành Tân Hiến pháp.
Đây là Hiến pháp do kẻ chiếm lĩnh chiếu theo giá trị quan phương Tây áp đặt cho kẻ bị chiếm lĩnh, nhưng lại là bản Hiến pháp đem lại phúc lợi cho nhân dân quốc gia bị chiếm lĩnh. Bản Hiến pháp nhấn mạnh quyền lợi công dân cơ bản của người Nhật Bản, xem những quyền lợi này là “quyền lợi trời cho mà không ai có quyền tước đoạt”. Những quyền này bao gồm: quyền bầu cử, lập hội và tự do xuất bản; không có sự tham gia của luật sư thì không được định tội; bảo đảm quyền cư trú an toàn cho dân, cấm kiểm tra và tước đoạt vô cớ.
Ngày 21/10/1946, Quốc hội đã thông qua “Luật Cải cách ruộng đất”. Chính phủ Nhật Bản mua lại đất đai dư thừa của giới địa chủ, sau đó bán đất lại cho nông dân không có ruộng. Với những nông dân không có tiền mua đất, chính phủ cho vay thế chấp. Tất cả diễn ra không đổ một giọt máu, một mạng người, những người nông dân ai nấy đều có được một phần đất cho mình.
Ngày 31/3/1947, ban hành “Luật Giáo dục”. Theo đó mục tiêu hàng đầu của giáo dục là “tôn trọng sự tôn nghiêm của cá nhân, bồi dưỡng cho mọi người có lòng nhiệt huyết vì chân lý và hòa bình”. Trường học của Nhật Bản không còn nằm trong kiểm soát của chính phủ mà là do Ủy ban Giáo dục do dân chúng bầu ra quản lý. Việc chọn lựa nhà giáo, sách học và bố trí chương trình hoàn toàn do người dân tự chủ quyết định.
Năm 1952, quân chiếm đóng Mỹ trả chính quyền về cho chính phủ Nhật Bản. Sau 7 năm chiếm đóng, người Mỹ cải cách triệt để con đường phát triển của Nhật Bản, chủ quyền quốc gia từ trong tay kẻ chuyên chế trao lại cho người dân Nhật Bản, những tiền đề tiến bộ đầu tiên này giúp người Nhật bước vào con đường thênh thang.
Hơn 10 năm sau, Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới, quốc gia phồn vinh, nhân dân giàu có, xã hội ổn định. Có thể nói thêm một câu, quân chiếm đóng của Mỹ không chi một đồng tiền thuế nào của người dân Nhật Bản, chi phí của họ là lấy từ tiền thuế của người Mỹ.
Trong thời gian chiếm đóng Nhật Bản, rất nhiều người Nhật đã viết thư gửi cho tướng MacArthur yêu cầu biếu tặng đất đai của họ. Nhiều phụ nữ can đảm viết thư đề nghị được hiến thân cho tướng MacArthur, nhiều người còn viết “xin hãy cho tôi được sinh con cho ngài”.
Sáng ngày 16/4/1951, Tổng thống Harry Truman phế bỏ chức Tư lệnh quân chiếm đóng và buộc tướng MacArthur phải về nước, sự kiện này chỉ thông báo cho một số quan chức cấp cao người Nhật biết. Nhưng khi ông ngồi lên ô tô thì mới phát hiện, từ nơi dinh phủ ông ở đến Sân bay Atsugi có hàng triệu người Nhật Bản đứng hai bên đường đưa tiễn. Đoàn xe hộ tống đi qua những hàng nước mắt cùng tiếng hô vang dậy của người dân Nhật Bản: Đại nguyên soái!
Người dân Tokyo đứng chật kín hai bên đường, ai nấy rơi nước mắt, họ như hoàn toàn quên chuyện tướng MacArthur là kẻ chiếm đóng đã đánh bại quân đội quốc gia mình. Thiên hoàng đích thân đến sứ quán đưa tiễn MacArthur, tướng MacArthur cũng xúc động rơi nước mắt, nắm chặt hai tay của Thiên hoàng Hirohito.
Khi đưa tiễn, Thủ tướng Yoshida của Nhật nói: “Tướng quân MacArthur đã cứu chúng tôi ra khỏi nỗi sợ hãi, lo lắng và hỗn loạn của thất bại để đưa chúng tôi vào con đường mới do ông xây dựng, chính Ngài đã gieo trồng hạt giống dân chủ trên đất nước chúng tôi để chúng tôi bước trên con đường hòa bình, tình cảm ly biệt mà nhân dân chúng tôi dành cho Ngài không lời nào có thể diễn tả được”.
Uy lực quả bom nguyên tử của Mỹ tàn phá thành phố và nền kinh tế của Nhật Bản, nhưng về phương diện tinh thần, nước Mỹ đã hoàn toàn chinh phục được người Nhật Bản./-
AI SẼ LĂN TẢNG ĐÁ?
Lm Giuse Nguyễn Hữu An
Tin Mừng Chúa Nhật Phục Sinh nói đến tảng đá lấp cửa mộ đã bị bật tung và mở toang. Sự kiện khởi đi buổi “sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần”, Maria Mađalêna đi thăm mộ và “thấy tảng đá đã được lăn ra khỏi mồ”, bà liền kết luận “người ta đã đem Chúa đi khỏi mồ, và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.” Phêrô thinh lặng. Gioan “đã thấy và đã tin.”
Mađalêna đau khổ thất vọng nên chỉ thấy tảng đá là sự kết thúc. Bà chưa hiểu phía sau tảng đá được lăn ra kia ẩn chứa một mầu nhiệm siêu phàm.
Tông đồ Phêrô, quan sát kỹ lưỡng từ tảng đá cho đến ngôi mộ trống và tất cả những gì đã xảy ra nơi đây, nhưng ngài không nói gì, không bày tỏ thái độ mà chỉ thinh lặng. Vì sao vậy? Lý do có thể Phêrô là lãnh đạo tinh thần của nhóm tông đồ nên sự im lặng là cần thiết? Băn khoăn, không biết nghĩ thế nào hay phải ăn nói làm sao! Tuy nhiên, căn cứ vào những gì Tin mừng trình bày, sự im lặng của Phêrô có nguyên nhân từ sự chưa hiểu thấu mầu nhiệm Phục sinh: “Trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: Theo Kinh thánh, Đức Giêsu phải chỗi dậy từ cõi chết” (x. Ga 20,9). Thật thế, cho đến mãi sau này, khi đã được gặp Đấng Phục Sinh và đón nhận Thánh Thần, Phêrô mới hiểu vì sao ngôi mộ trống và tâm hồn ông lúc ấy mới bừng sáng để hiểu điều mà Kinh thánh từng loan báo. Phêrô là một người chân chất đơn sơ. Điều gì chưa biết thì im lặng và chờ đợi chứ không nhiều lời, không suy diễn.
“Khi từ mộ trở về, các bà Maria Macđala, bà Gioanna và bà Maria, mẹ ông Giacôbê và các bà khác cùng đi với mấy bà này. Các bà kể cho Nhóm Mười Một và mọi người khác biết tất cả những sự việc ấy. Nhưng các ông cho là chuyện vớ vẩn, nên chẳng tin” (Lc 24,11). Tảng đá nghi ngờ đang che mờ đôi mắt đức tin của họ.
Các thượng tế và kỳ mục thì lo âu sợ hãi trước hiện tượng mồ trống. Vì thế, các ông mới cho lính canh số tiền hậu hĩ và bảo những người này phao tin là các môn đệ của ông Giêsu đã đến lấy trộm xác: “các anh hãy nói như thế này: ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ đã đến lấy trộm xác” (Mt 28,13). Tảng đá ghen ghét đã bịt lối nhìn lối nghĩ của họ.
Cuối cùng chỉ có một người tin. Đó là Tông đồ Gioan. Nhưng Gioan tin không phải vì hiện tượng mồ trống mà vì những gì đã thấy. Gioan thấy gì? Ông thấy những băng vải và khăn che đầu không xếp lộn với nhau, nhưng để riêng ra một nơi. Cảnh tượng này làm Gioan nhớ lại lời Kinh Thánh nói rằng Đức Kitô phải chịu đau khổ, phải chết rồi mới chỗi dậy mà vào chốn vinh quang (Lc 24,26). Gioan đã chứng kiến dấu lạ Chúa Giêsu cho Ladarô sống lại. Ladarô ngồi dậy, nhưng thân mình còn quấn chặt các thứ khăn liệm, còn ở đây, mọi thứ được xếp gọn gàng. Gioan nhớ lại lời nói của Chúa Giêsu sau khi đuổi phường buôn bán ra khỏi đền thờ: “Hãy phá đền thờ này đi, và trong ba ngày Ta sẽ xây dựng lại” (Ga 2,19). Gioan còn nhớ điềm lạ của Giona với lời khẳng định của Chúa Giêsu: “Như Giona ở trong bụng cá ba ngày ba đêm thế nào, thì Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba ngày đêm như vậy” (Mt 12,40). Gioan vẫn nhớ như in, trên núi Tabor, Chúa hiển dung và căn dặn các ông không được nói lại với ai về chuyện đó, cho đến khi Ngài sống lại từ cõi chết (Mc 9,9). Gioan luôn nhớ, trước lúc lên đường về Giêrusalem để dự lễ Vượt qua, Thầy cũng đã nói với 12 môn đệ thân tín: “Này, chúng ta lên Giêrusalem và sẽ hoàn tất cho Con Người mọi điều các tiên tri đã viết. Vì chưng Ngài sẽ bị nộp cho dân ngoại, sẽ bị nhạo báng, hành hạ, khạc nhổ, và sau khi đã đánh đòn Ngài, người ta sẽ giết Ngài, nhưng ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại” (Lc 18,31-33). Gioan ghi tạc vào lòng lời tâm sự của Thầy trong buổi tiệc ly: “Hết thảy các ngươi sẽ vấp ngã vì Ta trong đêm nay… Nhưng sau khi Ta sống lại, Ta sẽ đi trước các ngươi tới Galilê” (Mt 26,31-32) … Những lời đó làm Gioan tin chứ không phải thấy Đấng Phục Sinh. Gioan không thấy Đấng Phục Sinh nhưng ông tin Đấng mà ông yêu mến đã sống lại. Ngay từ giây phút đầu tiên khi thấy những vết tích còn để lại trong mồ trống, Gioan đã tin cách tuyệt đối. Tuy không thấy xác nhưng những vải liệm kia chính là những dấu chỉ có giá trị đối với ông. Nói như J.P Duplantier, “ngôi mộ không trống cũng chẳng đầy, nhưng nó đã trở nên một ngôn ngữ.” Nhờ việc chú ý đến thứ ngôn ngữ ấy, người môn đệ Chúa yêu đã khám phá và hiểu rằng Chúa Kitô đã toàn thắng sự chết, điều mà lúc bấy giờ ngoài ông ra, các môn đệ khác còn chưa hiểu nổi. Rõ ràng, thấy là nền tảng và bằng chứng cho lòng tin. Nhưng thấy ở đây không phải là thấy những sự kiện bên ngoài mà là thấy ý nghĩa bên trong gắn liền với sự kiện. Tông đồ Gioan thấy sự kiện những băng vải và khăn che đầu, nhưng vì nhớ lời Kinh Thánh mà tin. Thấy rồi mới tin là chuyện bình thường. Còn không thấy mà tin mới là phúc như lời Chúa Giêsu nói với tông đồ Tôma: “Phúc cho những ai không thấy mà tin” (Ga 20,28).
Sáng sớm ngày thứ nhất đầu tuần mới, tảng đá lấp cửa mồ đã mở toang. Nấm mồ lạnh lẽo, chật hẹp, tối tăm đã mở tung ra như cánh hoa hồng hay đôi môi thắm tươi của nụ cười thiếu nữ, đầy sức sống và bình an. Tảng đá lấp mộ làm sao niêm giữ được Đấng Phục Sinh! Nấm mồ chỉ là giai đoạn chuyển tiếp. Nó giống như lối đi ngầm dưới mặt đất, sẽ mở lên một vòm trời vinh quang. Chúa Giêsu dùng nó như cánh cửa mở vào miền đất tử thần và từ đó biến nó thành ngõ mở vào cõi sống trường sinh.
Có những hòn đá ta bước qua rất dễ. Có những tảng đá phải tốn thời giờ công sức mới dịch chuyển nó sang một bên để có đường đi. Nhưng cũng có những tảng đá to chắn bít lối đi, che khuất tầm nhìn nên không thể bước tiến. Trong đời sống thường nhật, có biết bao tảng đá vô hình mà nặng nề, cần phải được tháo bỏ. Giuđa bán Thầy với giá 30 đồng bạc, cả một tảng đá tham lam đè nặng tâm hồn. Phêrô chối Thầy đến 3 lần, ấy là vì tảng đá sợ hãi che kín. Các môn đệ bỏ trốn, vì tảng đá nhát đảm sợ liên luỵ đang vây bủa. Mỗi người chúng ta có thể cũng đang bị một tảng đá vô hình nào đó đè nặng tâm hồn. Tảng đá đam mê nết xấu. Tảng đá ghen ghét, chia rẽ. Tảng đá đam mê dục vọng… Ai sẽ giúp chúng ta lăn những tảng đó ra?… Xin thưa là chính Chúa Giêsu Phục Sinh. Ngài sẽ giúp ta lăn tảng đá đó ra khỏi đời mình và làm cho tâm hồn ta được phục sinh để sống bình an.
Tảng đá to đã niêm phong cửa mồ, các Thượng tế và những người Pharisiêu xin Tổng trấn Philatô cắt đặt một tiểu đội binh sĩ đến canh ngôi mồ (Mt 27,62), và “Thế là họ ra đi canh giữ mồ, niêm phong tảng đá, rồi cắt lính canh mồ” (Mt 27,66). Tảng đá đó thể hiện sức mạnh quyền lực của sự dữ và sự thống trị của con người. Cận vệ đền thờ nghĩ rằng dấu niêm phong của lãnh đạo Do thái có khả năng thách thức được quyền phép Thiên Chúa sao? Đấng Phục Sinh đã bật tung tảng đá niêm phong, từ cõi chết, Người sống lại vinh quang, mở lối vào sự sống mới.
Chúa Giêsu sống lại, chân lý đã chiến thắng, tình yêu vượt trên hận thù và sự sống mạnh hơn sự chết. Phục Sinh là niềm tin và hy vọng cho người Kitô hữu vào sự sống mai sau: “Nếu chúng ta đã chết với Đức Kitô, chúng ta sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta” (Rm 6,8).
Phục Sinh là niềm vui của những người được Chúa Kitô đẩy tảng đá ra khỏi cuộc đời họ, làm cho tâm hồn họ được bình an. Như Giakêu, như Lêvi đã được Chúa Giêsu giải thoát khỏi tảng đá của tội lỗi nên họ cảm thấy tâm hồn nhẹ nhàng thanh thản và bước theo Chúa. Và còn biết bao tấm gương khác đã được giải thoát khỏi những tảng đá vô hình, và từ đó hân hoan bước theo Chúa Giêsu.
Chúa đã Phục Sinh. Tin vui làm ấm áp cõi lòng đang buồn phiền vì mất mát đắng cay. Tin mừng đã lau khô đôi mắt ngấn lệ khóc than tiếc thương của các môn đệ. Mầu nhiệm sự sống qua cái chết mà Thầy từng rao giảng thực sự được khai trương. Chúa đã chỗi dậy từ chính nơi đã được mai táng. Ánh sáng tràn ngập. Niềm hy vọng lớn lao đã được bắt đầu từ chính nơi hôm qua còn đầy đau thương tuyệt vọng. Chúa Phục Sinh đã đẩy mọi tảng đá nặng nề ra khỏi tâm hồn các môn đệ. Từ đây các môn sinh bắt đầu một hành trình mới, loan báo Tin mừng Phục sinh.
Chúa đã sống lại thật! Allêluia! Đó là niềm vui và tuyên tín của các Tông đồ. Niềm vui và tuyên tín đó đã được loan truyền cho tới ngày nay và mãi cho tới ngày tận cùng của nhân loại. Nhìn lại đời sống mình, chúng ta sẽ nhận thấy vô vàn sự phục sinh. Khi một tình bạn, một tình yêu bị tan vỡ, chúng ta biết hàn gắn lại bằng yêu thương thì đó không phải là sự phục sinh sao? Khi mà chúng ta có kinh nghiệm về sự tha thứ, dẹp tan lòng thù hận, oán ghét thì đó là cuộc vượt qua phi thường… Tảng đá vô hình đè nặng được lăn ra khỏi tâm hồn chính là phục sinh. Tin vào Đấng Phục Sinh là thắp lên ánh sáng mới, là đón nhận tình yêu mới cho mùa xuân tâm hồn.
Lm Giuse Nguyễn Hữu An
httpv://www.youtube.com/watch?v=ddR5Mmfk27A
CHÚA GIÊSU THÀNH NAZARETH – ĐẠO DIỄN FRANCO ZEFFIRELL’S
Canh tân nước Mỹ: Một “New Deal” thế kỷ 21
Bởi AdminTD
Nhã Duy
2-4-2021
Nhắc đến Tổng Thống Franklin Delano Roosevelt (1882-1945), người ta thường ghi công ông như vị tổng thống Hoa Kỳ đã lãnh đạo nước Mỹ và thế giới tự do dành được chiến thắng trong Đệ Nhị Thế Chiến.
Nhưng một nghị sự đối nội quan trọng khác của ông phải kể đến là chương trình tái thiết nước Mỹ “New Deal” rất thành công. Đó là lý do không phải ngẫu nhiên mà ông được xem là một tổng thống cận đại vĩ đại nhất của Hoa Kỳ, chỉ thua Tổng Thống George Washington thời lập quốc và Abraham Lincoln của thời nội chiến Hoa Kỳ.
Tổng Thống Roosevelt thuộc đảng Dân Chủ, là tổng thống Mỹ duy nhất đắc cử bốn nhiệm kỳ, trước khi Quốc Hội thông qua Tu Chính Án 22 chỉ còn tối đa là hai nhiệm kỳ như hiện nay vào năm 1947. Nhậm chức ngay giai đoạn Đại Khủng Hoảng (Great Depression) vào năm 1933 với tỉ lệ thất nghiệp lên đến 25%, trọng trách của ông là phải vực dậy nền kinh tế Hoa Kỳ lúc bấy giờ với bất cứ giá nào. Kế hoạch tái thiết nước Mỹ qua các chương trình xây dựng cấu trúc hạ tầng và tạo công ăn việc làm cho người dân với tên gọi “New Deal” ra đời theo mục tiêu này.
Đây là chương trình liên bang nhằm cải tổ hệ thống tài chính để tránh tái diễn sự sụp đổ của thị trường chứng khoán vào năm 1929 rồi dẫn đến cuộc đại khủng hoảng, cũng như tái thiết hệ thống công chánh, xây dựng thêm hàng chục ngàn công trình công cộng, năng lượng, y tế, giáo dục, nghệ thuật, công viên… tại các thành phố lớn nhỏ khắp nước Mỹ.
“New Deal” không chỉ giải quyết công ăn việc làm trước mắt cho người dân thời kỳ hậu khủng hoảng thập niên 1930 mà còn để lại cho các thế hệ sau này nhiều công trình giá trị, có thể nhiều người không chú ý là đã được xây dưới thời Tổng Thống Roosevelt.
Có thể kể ra một vài công trình và kiến trúc công cộng quen thuộc và nổi tiếng của Mỹ trong vô số công trình khác thuộc “New Deal”, như phi trường LaGuardia ở New York, cầu Golden Gate ở San Francisco, phố Riverwalk ở San Antonio, đập Hoover Dam tại vùng ven Las Vegas, cụm kiến trúc Griffith Observatory ở Los Angeles… mà người dân vẫn còn đang sử dụng hiện nay.
Nhắc về “New Deal” để thấy những ảnh hưởng và lợi ích to lớn đến đời sống của xã hội và người dân Mỹ trong nhiều thế hệ sau như thế nào với những chính sách và tầm nhìn của TT Roosevelt hay những tổng thống tiền nhiệm khác. Và nhắc đến nó vì không thể không liên tưởng đến kế hoạch tạo công ăn việc làm và cải tổ cơ sở hạ tầng (American Jobs Plan) của Tổng Thống Joe Biden qua khẩu hiệu “Tái dựng tốt hơn” (Build Back Better) vừa được thông báo trong tuần này.
Đây là một chương trình không chỉ tái thiết hệ thống cầu đường, phi trường, năng lượng, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) mà còn nâng cao đời sống, phúc lợi cho người dân qua các kế hoạch xây dựng, thay thế hay hiện đại hóa hệ thống điện nước, nước thải, gia cư, giáo dục, môi trường, kỹ thuật, huấn nghệ lực lượng nhân công, giúp đỡ người già và tàn tật… lên đến hơn hai tỉ ngàn đô la.
Trong thông báo cùng các số liệu từ Bạch Ốc đưa ra, thì dù là quốc gia giàu có và hùng mạnh bậc nhất thế giới, cơ sở hạ tầng nói chung của nước Mỹ nằm ở hạng 13 và thấp hơn trong một số lãnh vực riêng biệt như hệ thống giao thông công cộng, cầu đường, internet tốc độ cao… Phần lớn hệ thống công chánh đã không được thay thế hay có sự tái thiết quy mô từ thập niên 1960.
Đây là một kế hoạch cần thiết cho nước Mỹ và cho những thế hệ tương lai, cũng như là sự đầu tư chiến lược cho vị thế hàng đầu của Hoa Kỳ trước tham vọng phát triển và muốn dẫn đầu của Trung Cộng. Nó từng nằm trong kế hoạch của các đời tổng thống tiền nhiệm, bất kể đảng phái nào nhưng chưa thực hiện được vì các lý do và ưu tiên khác nhau.
Trong khi cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa đồng ý, đây là một nhu cầu cấp bách, kế hoạch giữa hai đảng chưa có sự đồng thuận. Nếu Tổng Thống Joe Biden muốn đệ trình một kế hoạch cải tổ quy mô và toàn diện, liên quan và phục vụ cho phúc lợi người dân thì phía Cộng Hòa chỉ đồng ý những dự án liên quan đến việc tu bổ cầu đường, đặc biệt phản đối việc tăng thuế với các tập đoàn.
Để có ngân sách cho kế hoạch này thì nội các TT Joe Biden cần phải tăng thuế doanh nghiệp lên 28%, mà thật sự chỉ là quay lại mức thuế trung bình trước khi được Donald Trump cắt giảm còn 21% bất kể thu nhập vào năm 2017. Theo số liệu từ Tax Foundation, cho đến năm 1986, các doanh nghiệp có thu nhập trên 1.4 triệu đô la đã chịu thuế đến 46% và năm 2017 thì thu nhập trên 10 triệu là 35%.
Nghĩa là, thực chất không tăng thuế mà chỉ không để các đại tập đoàn hưởng các chính sách thuế ưu đãi quá lớn. Theo nghiên cứu từ Institution on Taxation and Economic Policy, có đến 91 tập đoàn trong nhóm Fortune 500 không phải trả thuế liên bang (zero tax) trong năm 2018 và các tập đoàn trung bình chỉ trả mức thuế khoảng 8% nhờ việc tái đầu tư lợi nhuận tại nước ngoài dù có lợi nhuận to lớn. Với kế hoạch của TT Biden, họ sẽ chỉ được miễn giảm thuế nếu tái đầu tư và tạo công ăn việc làm ngay trong lãnh thổ Hoa Kỳ.
Tổng Thống Joe Biden kêu gọi sự hợp tác và cộng tác từ phía đảng Cộng Hòa tại Quốc Hội, cũng như ngay thành phần cấp tiến trong đảng Dân Chủ muốn thêm bớt những khoản đầu tư to lớn hay các điều khác hơn trong dự luật. Mitch McConnell, Chủ tịch khối thiểu số tại Thượng Viện nói, phía Cộng Hòa sẽ chống tới cùng (fight them every step of the way). Nhưng người ta tin rằng, TT Biden và nội các của ông chắc chắn sẽ thực hiện chương trình nghị sự này với vài thêm bớt, ngay cả khi không có sự đồng thuận từ phía Cộng Hòa.
Tổng thống Franklin Roosevelt bảo rằng, có những kẻ ích kỷ chỉ muốn vặt lông con đại bàng Mỹ để lót tổ cho riêng mình và sự thành công của các chương trình quốc gia tất nhiên phụ thuộc vào sự hợp tác của công chúng, bằng sự ủng hộ có trí tuệ (intelligent support). Chương trình “New Deal” của ông cũng từng bị nhóm bảo thủ phản đối và ngăn chận nhưng sự quyết tâm và nỗ lực của ông đã chứng minh bằng kết quả là đã mang lại cho nước Mỹ một khuôn mặt mới và phục vụ cho lợi ích người dân đến hiện nay.
Chương trình cải tổ cơ sở hạ tầng, một “New Deal” thế kỷ 21 của tổng thống Joe Biden cũng vậy. Nó sẽ mang lại ích lợi to lớn cho quốc gia và người dân Mỹ, một khi được thực hiện. Liệu có lý do gì để chống đối việc người dân cùng con cháu họ sẽ được uống nước sạch, có thêm trường học, chạy trên xa lộ an toàn, có hệ thống giao thông công cộng tiện nghi và sử dụng mạng internet nhanh và rẻ hơn?
Tương lai nước Mỹ nằm trong tay những cấp lãnh đạo quốc gia luôn đặt trách nhiệm của mình với các thế hệ mai sau bằng chiến lược và viễn kiến. Và người lãnh đạo tài ba không chỉ là người mang lại niềm hy vọng về một đất nước phồn thịnh, phát triển và nhân bản mà còn đang ra sức thực hiện điều này. Chương trình này là một thách đố, đồng thời cũng là một di sản to lớn mà tổng thống Joe Biden sẽ để lại cho nước Mỹ, nếu được thực hiện.
Luật đất đai và tài chơi chữ “siêu đểu”
Bởi AdminTD
Hà Sĩ Phu
1-4-2021
Trí tuệ của ông tổ Cộng sản Karl Marx thì ảo tưởng, phản khoa học, hoành tráng một cách ngớ ngẩn, khi đem áp dụng thì kết quả đều ngược lại với dự định. Nhưng những kẻ ôm chặt quyền lực CS thì không ngớ ngẩn chút nào mà tinh ranh, đứng về mặt tranh giành quyền lợi thì phải nói thuộc loại siêu đẳng, biết lợi dụng và quyết lợi dụng những điều ngớ ngẩn đẹp đẽ của Marx để mê hoặc và trục lợi.
Chỉ cần soi vào một dòng ngắn ngủi trong Hiến pháp CS đủ thấy rõ sự tinh khôn (tinh ranh) có tính chất bao trùm: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.
Thoạt nghe thì thấy bình thường, thậm chí hợp lý, nghiêm túc và… hoành tráng. Nhưng xét kỹ sẽ thấy chữ nọ phủ định chữ kia, mọi giá trị bị mất sạch một cách không nghiêm túc chút nào. Hãy xem:
– Chữ TOÀN đã làm mất giá trị chữ DÂN. Nói “toàn dân, toàn nhân dân, toàn dân tộc” một cách chung chung thì chỉ có lợi cho tầng lớp đại diện tối cao mà không ích lợi gì cho những người dân, những công dân, với tư cách là những số phận, những sinh mệnh của những con người cá nhân cụ thể, mà người dân trước hết lại cần điều thiết thân đó. Nhân danh “toàn dân” mà độc tài đảng trị thì mỗi người dân phỏng có được gì? Ngay trong bản tuyên ngôn độc lập HCM cũng trích một câu về dân quyền, quyền con người của hiến pháp Hoa kỳ nhưng lại “suy rộng” để lái sang quyền của cả quốc gia (mà ĐCS sẽ là người đại diện duy nhất)!
– “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân”? Bên cạnh phần đất đai của chung xã hội, người dân trước hết cần quyền sở hữu trên mảnh đất riêng mà mình làm chỗ ở và sản xuất và kinh doanh để sinh sống, thì ĐCS không cho hưởng cái quyền thiêng liêng tự nhiên ấy, cái quyền mà bất cứ một con chim, con thú nào cũng phải tự giành lấy và bảo vệ bằng tất cả sức lực của nó để được sinh sống. Chữ “Sở hữu toàn dân” đã triệt tiêu quyền sở hữu cá nhân về đất đai, là triệt tiêu quyền sống một cách tự nhiên của mỗi con người!
– Chữ “Nhà nước đại diện chủ sở hữu” đã triệt tiêu giá trị của chính chữ “sở hữu toàn dân” ngay trước đó, vì toàn dân tuy có “sở hữu” về danh nghĩa hờ nhưng “chủ sở hữu” tức cái “sổ đỏ” mang tính luật pháp thì lại nằm trong tay Nhà nước. Một Nhà nước dù có dân chủ cũng không thể chiếm mất cái “sổ đỏ sở hữu” của mỗi người dân, chứ huống chi cái Nhà nước CS thì chỉ là công cụ của ĐCS để cai trị dân, việc bầu cử ra Nhà nước chỉ là trò giả tạo do ĐCS bày ra mà ai cũng biết, thì trao cái “sổ đỏ sở hữu” cho một Nhà nước như thế là dân mất trắng!
– Chữ “quản lý” đã triệt tiêu giá trị của chữ “sở hữu”, vì tuy có sở hữu mà không được quyền quản lý thì cũng không có giá trị gì. Ví dụ như ông chồng CỦA tôi, bà vợ CỦA tôi nhưng lại do người khác QUẢN LÝ, việc đi-đứng-nằm-ngồi-thức-ngủ… lại do người khác chỉ huy, thì …có ai chịu được không? Ông chủ, bà chủ như thế thì cũng bị “lão quản lý” nẫng tay trên một cách ngang nhiên.
– Sau khi đã dùng chữ TOÀN để vô hiệu hóa chữ DÂN, dùng chữ ĐẠI DIỆN SỞ HỮU để vô hiệu hóa chữ SỞ HỮU, dùng chữ QUẢN LÝ để vô hiệu hóa chữ SỞ HỮU, thì còn thêm chữ THỐNG NHẤT để đóng chốt bất di bất dịch, đồng thời gây ảo tưởng rằng toàn xã hội, tức dân và chính quyền đã đồng thuận, đã nhất trí, đã “thống nhất” với nhau như vậy rồi, không thay đổi gì nữa nhé! Thế là sự gian trá đã được “đổ bê tông”, kẻ nào chống lại chỉ là húc đầu vào đá. Ôi chỉ có một dòng chữ ngắn ngủi nhưng xảo trá tinh khôn một cách tuyệt hảo, đủ để chiếm sạch một quyền sống tự nhiên của tất cả đám dân đen.
Chẳng những chiếm đoạt về mặt kinh tế mà cả về chính trị và văn hóa-tư tưởng, vì một khi đã mất đi cái mảnh đất riêng bất khả xâm phạm, tức mất đi cái “hòn đá tảng” để đứng trên đó mà sinh sống thì người dân chỉ còn cách phục tùng, nói theo, làm theo một cách tuyệt đối, vì nhu cầu sinh tồn. Cho nên cái dòng chữ ngắn ngủi trong Hiến pháp “đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” thật ra là hòn đá tảng, là cương lĩnh, là mẹo để ĐCS tồn tại trên đầu nhân dân. Tuy cũng gọi là có Luật, nhưng thuật cai trị của ĐCS thực chất là bằng nhũng Mẹo rất tài tình.
– Chơi chữ tài tình để cướp đất! Xin bái phục Bậc thày của sự ranh ma!
– Thế mới biết: Trí tuệ Cộng sản tập trung hết vào ĐẤT và GHẾ vậy!
Xin đồng tình với ý kiến của CLB Lê Hiếu Đằng [1]: nếu không sửa cái chìa khóa là Luật đất đai này thì mọi sự sửa đổi cũng là vô ích.
Làm thế nào để biết ai thương yêu và sằn sàng hy sinh vì mình?
Ở một ngôi làng kia có ông phú hô giàu có sống đầm ấm với vợ con. Một hôm ông chợt nghĩ không biết vợ ông và những đứa con ai là người thương yêu ông nhất và sẵng sàng hy sinh vì ông vô điều kiện?
Câu hỏi từ đó cứ ám ảnh ông mãi không thôi vì với người vợ ông cảm thấy nàng vẫn chu toàn bổ phận và không có điều gì đáng phiền trách. Với những đứa con đều ngoan ngoãn và vâng phục những điều ông răn dạy.
Cách nơi ông ở một ngày đường, ông nghe nói có một vị cao tăng tu luyện trong sơn cốc có pháp thuật và tài đoàn vận mệnh “quá khứ vị lai”. Thế là ông lên đường đến tìm vị cao tăng nọ.
Khi đến nơi, ông liền trình bày những băn khoăn khắc khoải của mình. Vị sư cho biết có cách để ông phú hộ biết ai sẽ là người thương yêu và hy sinh vì ông. Đó là sẽ làm phép cho ông phú hộ chết bất đắc kỳ tử trong vòng 2 ngày (chết gỉa).
Về nhà ông phú hộ nói với đứa con trai trưởng là nếu ông có chết thì đến mời nhà sư nêu trên, vì chỉ có vị cao tăng này là có thể cứu ông sống lại được mà thôi.
Rồi bỗng một hôm sau khi ăn cơm xong, ông lên võng nằm và đi luôn. Vợ con ông khóc than, thương tiếc vang trời. Rồi người con trai nhờ lời cha dặn bèn phóng ngựa và đưa kiệu đến mời vị cao tăng đến để cứu người cha.
Khi vị cao tăng đến nơi, ông nói: “Ông bố sẽ được sống lại, nhưng với điều kiện duy nhất, là trong số vợ con hiện diện phải có 1 người hy sinh chịu chết, lúc đó ông bố mới có thể sống lại…”
Nghe thế, người vợ, con trai và con gái lớn rồi đến các đứa em tất cả đều đưa ra mọi lý do để khước từ. Không ai muốn chết thay để người cha được sống lại.
Nằm bất động trong quan tài, nhưng ông bố nghe được mọi chuyện. ông qúa thất vọng vì cứ tưởng vợ con ông ai cũng sẽ sẵn lòng hy sinh tính mạng để cứu ông vì thương yêu ông thật lòng.
Sau khi tỉnh lại, phú ông rũ bỏ tất cả tài sản và mọi lưu luyến trần thế và lên đường tìm chốn nương thân nơi thiền môn….
***
Qua câu chuyện này, chúng ta thử nhìn lại chính mình xem, trong chúng ta có ai sẵn sàng hy sinh tính mạng để cứu chồng, cứu vợ và cứu cha mẹ của mình không?
Thế nhưng, hôm nay chúng ta chứng kiến con một Thiên Chúa đã hy sinh tính mạng mình để cứu chuộc nhân loại thoát khỏi cơn thịnh nộ của Chúa Cha.
Chúng ta đã sống xứng đáng là con cái Thiên Chúa để đáp lại lòng thương yêu vô bờ bến cùa Ngài?
Chúng ta đã làm vui lòng Thiên Chúa bằng cách san sẻ thương yêu đến với mọi người, nhất là những thân phận thấp kém, nghèo hèn hơn chúng ta chưa?
Và…….tự mỗi người đặt câu hỏi và tự trả lời.

“Tới ngày mùng 9 Tết (20-2-2021) vừa rồi thì anh nói rằng ảnh tiếp tục tuyệt thực lại, cho tới ngày hôm nay với yêu cầu là Tòa án Tối cao phải trả lời đơn của anh về vấn đề miễn hình phạt còn lại.
Trong cái lần tuyệt thực này anh Thức nói là là anh ấy kiểm soát được được tình hình tốt hơn.
Do vấn đề là trong những ngày cuối của lần tuyệt thực trước, ảnh có dùng một ít sữa để duy trì sự sống.
Còn trong lần tuyệt thực này cho đến ngày chị Năm đi thăm thì anh nói rằng anh đã hoàn toàn không dùng sữa luôn, thì anh có thể duy trì được sức khỏe bằng cách duy trì sự thiền định và thiền quán trong thời gian đó.”