Duyên Phận và Mệnh Số – TRUYỆN NGẮN… Lê Nguyễn Hằng…

TRUYỆN NGẮN CUỐI TUẦN… Lê Nguyễn Hằng…

Duyên Phận và Mệnh Số

Từ San Jose, tôi đón xe đò Hoàng xuôi Nam. Từ hôm cùng với mấy đứa con của Hà bí mật bàn tính chuyện tổ chức buổi lễ sinh nhật thứ 60 cho Hà ở San Diego, tôi rất nôn nóng chuẩn bị cho chuyến đi này. Đây không phải một họp mặt sinh nhật bình thường như những lần trước. Đến đó tôi sẽ gặp lũ đông đủ lũ bạn “quỷ sứ” của trường tiểu học và trung học ngày xưa.

***

Hà là một người chị họ con bà bác, chỉ hơn tôi một tuổi và học cùng lớp nên hai chị em thân nhau hơn bạn. Hai đứa từ giã Hà Nội cùng gia đình di cư vào Nam và cùng định cư tại Tuy Hòa, cùng ở gần nhà nhau trong khu “Bắc Kỳ di cư” từ ngày “tóc còn để chỏm.”

Dù là vai chị nhưng vì xuýt xoát tuổi nhau, lại học cùng lớp nên hai đứa tôi vẫn mày tao. Hà và tôi lúc nào cũng ngồi bàn đầu và sát cạnh nhau vì chúng tôi vừa nhỏ tuổi lại vừa nhỏ con, cùng nổi tiếng là “cây gạo”. Chúng tôi thân nhau đến độ cắt tóc và mặc quần áo giống nhau.

Ngoài giờ học ở trường, hai đứa thường đến nhà nhau học bài chung. Đi thi Tú Tài I ở Quy Nhơn và Tú Tài II ở Nha Trang đều ngồi cạnh nhau vì tên cùng vần.

Đậu Tú Tài Toàn xong, như chim rời tổ, mỗi đứa một nơi, Hoành vào Saigon học tiếp, Hà đi Nha Trang, riêng tôi ở lại Tuy Hòa đi làm giúp đỡ gia đình một thời gian.

Cuộc sống nổi trôi theo dòng đời, tôi thuyên chuyền vào Saigon, mãi đến năm 1974, mới tình cờ gặp lại Hà ở Chợ Bến Thành thì cả hai đã tay bế tay bồng, mỗi đứa đều có hai con gái và một con trai. Gia đình Hà rất hạnh phúc, hai vợ chồng làm cùng nghề. Phong, chồng Hà cưng chiều vợ hết mực.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 như cơn hồng thủy đổ ập lên đầu mọi người, chúng tôi mất liên lạc một lần nữa. Gia đình tôi may mắn được di tản và định cư tại Mỹ, còn Hà ở lại sống với gian truân thử thách.

Phong bị đi tù cải tạo như hàng vạn quân dân cán chính khác. Hà lo sợ hoảng hốt vì chồng đi biệt tăm không trở về sau 10 ngày như lời hứa hẹn của chính quyền, cũng không có tin tức còn sống hay chết dù chỉ một lời nhắn.

Cũng như những gia đình của miền Nam phải đối mặt với cuộc sống mới khó khăn vô định, Hà bắt đầu bán tất cả những gì có thể, từ cái TV, tủ lạnh, bộ bàn thờ, giường tủ, bát đĩa, xoong nồi đến những bộ quần áo, giầy dép của hai vợ chồng đều từ từ bỏ Hà ra đi để đổi lấy gạo và thức ăn nuôi ba đứa con đang sức lớn mà không được ăn đủ no. Hà phải thoát ra khỏi cái vỏ ốc của một phụ nữ yếu đuối mong manh, bươn chải theo những người bạn đi buôn để có tiền nuôi con và chờ tin tức của chồng.

Rồi Hà được tin về Phong từ những trại tù ở những tỉnh miền Bắc xa xôi chưa bao giờ Hà nghe tên. Những chuyến thăm nuôi vất vả, ngủ đêm chờ đợi ở bến xe, rồi băng rừng lội suối, đi bộ trên những đoạn đường mấp mô gập ghềnh khó khăn để rồi nhìn thấy một hình hài quắt queo, nhăn nhúm của chồng chỉ làm Hà thêm quyết tâm cố gắng làm ra tiền dù phải vất vả trăm bề để nuôi chồng sống sót mong một ngày trở về.

Gần sáu năm sau, Phong ra tù, tinh thần và thể xác đều kiệt quệ. Hà đau lòng nhìn thấy chổng tàn tạ rũ rượi như tàu lá héo trong khi các con ở trường thì bị trù dập vì là “con của ngụy”, học thì bị nhồi sọ những giáo điều cũ kỹ, không tưởng, bịa đặt và láo khoét. Để phụ với mẹ kiếm sống, sau giờ học, chúng đi bán bánh kẹo nên phải học cách mánh mung, gian trá.

Thời ấy, bên cạnh phong trào đi bán chính thức đang rầm rộ, có những chuyến vượt biên không chính thức cũng diễn ra trong âm thầm, các con Hà cũng được tập nói dối trơn tru khi bị hạch hỏi tra gạn về những chuyến vượt biên hụt của gia đình.

Ngay khi Phong trở về từ nhà tù, hai vợ chồng đã quyết định phải tìm cách mang các con ra đi, dù có cùng bỏ mạng trên biển cả còn hơn sống trên quê hương mà như trong cõi chết.

Cả gia đình đã vài lần cùng đi nhưng thất bại và đồng tiền Hà dè xẻn, dành dụm đã cạn dần, cuối cùng phải quyết định để Phong đi một mình trước rồi Hà sẽ tìm đường đem các con đi sau.

Ngày Phong ra đi, Hà đeo vào cổ anh sợi dây chuyền có tượng Phật Bà Quan Âm nhỏ bằng vàng giả, giống hệt như cái nàng đang đeo, Hà bảo anh rằng gặp cơn hoạn nạn thì nhớ cầu Phật Bà che chở.

Ba tháng, rồi sáu tháng, chờ mãi không được tin tức gì của chồng, chỉ nghe người ta xì xào là chuyến ghe đó bị chìm, cả gia đình chủ tàu cũng không ai sống sót.

Hà bèn liều mạng dùng mấy lạng vàng cuối cùng dẫn các con đi với gia đình một người bạn. May mắn thay mẹ con Hà đã đến được bến bờ tự do.

Năm 1983, tôi được tin Hà đã một mình vượt biển mang theo ba đứa con, Linh 14. Nga 11 và Nhi 4 tuổi, vừa được Lộc, người em kế rất thân với Hà, bảo lãnh ra San Diego ở với vợ chồng cậu ấy, cả gia đình tôi lập tức xuống vùng Nam California để gặp Hà.

Phút tương phùng, chúng tôi ôm nhau mừng rỡ trong nước mắt. Nhìn một Hà gầy guộc, đen xạm, dấu tích của những ngày lao động cơ cực, tôi không khỏi đau xót nhớ đến một Hà xinh đẹp, duyên dáng, ăn mặc thanh nhã nhưng hợp thời trang của thời đi học và trước năm 1975.

Hà ôm lấy tôi nức nở: “Anh Phong bỏ tao đi rồi Hằng ơi, gần một năm rồi còn gì.” Tôi thương bạn quá đỗi nên an ủi: “Đã chắc gì, nhiều khi anh ấy trôi giạt vào một hoang đảo nào đấy thôi, từ từ xem.” Tôi nói nhưng thực sự không tin điều mình nói. Tôi nhìn những ngón tay xương xẩu của bạn mà lòng xót xa. Tôi đã ở lại mấy ngày với Hà và lũ nhỏ để chia sẻ, an ủi với Hà những bất hạnh, giúp ý kiến cho Hà trong những ngày đầu bỡ ngỡ nơi xứ lạ.

Rất may là Hà và tụi nhỏ đã đến bến bờ tự do, thôi thì muộn còn hơn không! Hãy làm lại từ đầu, nước Mỹ sẽ là nơi cho chúng mặc sức học hành và phát triển tài năng. Tôi nói. Hãy nhìn về phía trước Hà ơi…

Mới vừa được tạm ổn dưới mái nhà của Lộc, “họa vô đơn chí” vẫn không buông tha người bạn khốn khổ của tôi. Ở chung trong gia đình với người em được gần sáu tháng, Lộc mới trên ba chục tuổi đang khỏe mạnh, có việc làm tốt, bỗng nhiên đột tử chỉ sau một cơn nhức đầu. Hà đã lăn lộn vật vã khóc thương Lộc, người em mà Hà thương nhất trong các anh chị em. Được tin, dù đang bận việc sở cho cuối tài khóa, tôi cũng lập tức chạy xuống thăm để nâng đỡ tinh thần bạn tôi.

Tôi vừa bước vào cửa, Hà đã rũ xuống tay tôi như cây chuối bị đốn. Tôi chỉ còn đủ sức dìu Hà vào phòng đặt nằm trên giường, kéo gối và đắp mền cho thẳng thắn rồi ghé nằm xuống bên cạnh, tay tôi lại chạm vào đôi vai gầy gò đang rung lên từng hồi theo tiếng kể lể thảm thiết đứt quãng của bạn mà lòng đau như cắt. Lúc đó tôi thực sự oán trách ông Trời. Chúa ơi, Phật ơi, các Ngài ở đâu mà để cho một người đàn bà chân yếu tay mềm như Hà gánh hết oan khiên khổ nạn của cuộc đời! Chỉ trong hai năm mà chồng mất tích, hai đứa em vượt biển bị chết và bây giờ cái phao cuối cùng để Hà bám vào cho sự sống cũng không còn nữa.” Tôi chỉ có thể nắm chặt hai bàn tay lạnh giá run rẩy của bạn như một lời hứa “bên mày luôn có tao, Hà ơi.”

Về lại San Jose, hằng ngày tôi điện thoại xuống an ủi, động viên và khích lệ tinh thần Hà để vượt qua những tai ương nghiệt ngã đeo đẳng. Phải mất mấy tháng Hà mới lấy lại bình tĩnh và lo cho cuộc sống thường nhật. Lúc đầu rất khó khăn vì Hà chưa biết lái xe và các con còn nhỏ. Nhờ tính tần tiện và vén khéo, tiền trợ cấp cũng đủ cho mẹ con sống và ăn học. Cũng may, một mình lo cho bốn mẹ con vừa ăn vừa học lại thêm bài vở của mình, Hà không có rảnh một phút để buồn tủi cho thân phận cô đơn vất vả của mình trên đất lạ. Các con cũng biết thương mẹ khổ sở nên chịu khó học hành và ngoan ngoản vâng lời mẹ dạy.

Tuy tiếng Anh hơi yếu, nhưng nhờ quyết tâm và vốn liếng chữ nghĩa có sẵn, Hà đã lấy được mảnh bằng đại học sau bốn năm miệt mài kinh sử. Hè năm 1987, Linh xong trung học và Hà đậu bằng cử nhân. Tôi xuống San Diego dự lễ ra trường của hai mẹ con. Chúng tôi thật là hạnh phúc!

Biết là Hà không có thì giờ và tâm trí để đi mua sắm, thỉnh thoảng trong những chuyến công tác xuống Santa Ana, tôi vẫn ghé thăm Hà cùng 3 đứa con và những khi đi “shopping”, thấy quần áo hay ví tay mà tôi thích, tôi mua luôn một cặp, để hai đứa tôi vẫn còn được mặc quần áo giống nhau như ngày xưa còn bé.

Khi chúng tôi có thì giờ tâm sự, tôi nói bóng gió xa gần về sự lẻ loi đơn chiếc của Hà:

– Mày cứ thui thủi một mình làm tao không yên tâm tí nào.

– Còn đám con tao đấy thôi. Hà ngắt lời.

– Con khác. Chúng nó có đời sống riêng. Mày phải cần kiếm một bờ vai của một người đàn ông cho mày tựa những lúc cuộc đời làm khó mày, hay những lúc mày ốm đau xuống tinh thần là những điều không đứa con nào có thể cho được.

Lúc nào Hà cũng gạt đi:

– Tao đã sống quá nửa đời người, qua bao nhiêu khổ đau nghiệt ngã, đâu còn thiết tha gì chuyện tình ái. Tao chỉ mong cho mấy đứa nhỏ ăn học thành tài, sống cuộc đời ngay thẳng đạo đức như ông bà nội ngoại và vợ chồng tao đã dạy, muốn vậy thì chính tao phải là một tấm gương tốt cho chúng nó noi theo, với lại…

Tôi ngắt lời:

– Với lại gì?

Hà ngập ngừng:

– Với lại… tao vẫn có một linh tính mơ hồ là anh ấy chưa chết cho nên tao vẫn…đợi. Mày có nghĩ tao hoang tưởng thì tao cũng đành vậy thôi.

Không chịu thua, thỉnh thoảng tôi vẫn gợi tên những người đàn ông yêu mến Hà và muốn cho Hà hạnh phúc. Họ thấy không cách nào gây được sự chú ý của Hà nên đã nhờ cậy đến tôi, nhưng những lời bóng gió, khuyên nhủ, dỗ dành của tôi đều như gió thoảng mây bay, Hà vẫn một mực ôm ấp và gìn giữ tình yêu cho chồng. Bây giờ Hà đã 60, nhưng tình yêu ấy không hề suy giảm.

Hà cũng tâm sự về con. Thằng Linh có tính nghệ sĩ, nó nói với tao rằng:

– Từ bé con đã mê hội họa và đàn dương cầm, con xin phép Me cho con học hai môn này.

– Me biết con thích những thứ đó, nhưng hãy thực tế một chút đi con. Gia đình mình nghèo, con là anh cả trong nhà thay ba con làm cột trụ gia đình, con nên chọn một nghề có thể nuôi sống gia đình và giúp đỡ bà con nội ngoại còn đang sống nghèo khổ thiếu thốn ở Việt Nam. Sau này, con vẫn có thể học thêm những món ưa thích kia cho con vui và giải trí, nghe lời me đi con.

Thế là Linh chọn nghề bác sĩ, ngành giải phẫu cho Mẹ vui lòng với lý do rất nhân bản là để cứu giúp những người đau ốm bệnh tật ngoài việc kiếm đủ tiền nuôi gia đình.

Nga là một đứa con gái hiền lành, nền nếp dễ bảo, lúc nào cũng muốn làm vừa ý mẹ, nó học làm dược sĩ để cùng hợp tác với Linh trong vấn đề thuốc thang cho bệnh nhân. Hai anh em vẫn thường bàn cãi sôi nổi về những phát minh y khoa và dược khoa.

Nhi, bé út nhưng ngỗ nghịch và hay lý sự nhất nhà. Mặc dù rất thương mẹ, nhưng đôi khi cũng làm phật ý mẹ, Nhi luôn làm theo ý mình. Nó bảo trong nhà có hai bác sĩ là quá nhiều rồi, nó muốn làm kỹ sư. Nhờ có dòng máu thông minh của cả ba lẫn mẹ, Nhi đã trở thành một chuyên gia xuất sắc trong ngành của mình và làm chủ nhiều bằng phát minh.

Người bạn mà tôi rất thương yêu và khâm phục ấy, một người đàn bà chân yếu tay mềm như thế đó, trải qua bao nhiêu gian truân, đau thương trong cuộc đời, đã đơn thương độc mã chiến đấu với cuộc sống mới khó khăn trên đất Mỹ, bắt đầu với hai bàn tay trắng cùng ba đứa con nhỏ dại và mấy cái khăn tang dấu kín trong lòng đã vượt thoát khỏi nghịch cảnh, tự xây dựng cho mình một cơ sở làm ăn vững vàng nhờ bản tính trung thực, nhã nhặn và ba đứa con thành công trong những lãnh vực khác nhau.

Đã gần 35 năm, kể từ ngày mẹ con Hà đến được nước Mỹ. Còn số phận của Phong, người chồng mất tích trong chuyến vượt biển trước đó thì sao?

***

Sau chín ngày lênh đênh trên biển cả, con tầu hết dầu, chết máy, thả neo trông đợi thuyền tàu nào tới cứu. Rồi ngày qua ngày, không thấy gì ngoài bầu trời mênh mông và biển dữ cuồng nộ. Khi thì mưa tầm tã, lúc lại nắng chang chang rát mặt, đêm bao la đen tối đến rợn người. Những mảnh khăn trắng treo trên cột buồm không mảy may làm xúc động những con tầu đi ngang, những lời lạy lục van xin cũng không động tâm những người trên các chuyến tàu vô tình kia. Mỗi ngày là một thách đố cho sự sống còn của mấy chục mạng người trên chiếc thuyền mong manh ấy. Lương thực đã hết.

Cái chết đầu tiên đã làm mọi người hoang mang, hoảng loạn. Ngày hôm sau, hôm sau nữa lại thêm những cái chết cô đơn trong đói khát, nằm ngồi ngổn ngang. Tiếng khóc than tuyệt vọng tắt dần. Phần Phong, cũng chỉ còn sức để lặng lẽ cầu nguyện.

Thuyền cứ lênh đênh trôi cho đến khi vừa nhìn thấy bờ ở xa xa thì chiếc tàu bị đội lên, một tiếng soạc khủng khiếp và chiếc tàu bị nứt rạn do đá tảng cứa vào, tiếng la hét vang dội, nhưng không ai còn sức lực nào để có thể bơi vào được tới bờ.

Phong chỉ nhớ được rằng khi chiếc tàu lật úp, đập lên người Phong, chàng thấy đau nhói ở đùi bên trái và máu ra lênh láng, chàng cố vẫy vùng trong tuyệt vọng, cuối cùng bám được một mảnh gỗ của chiếc ghe, phó mặc cho số mạng…

Sau cơn trôi dạt vô vọng không biết bao lâu, Phong bỗng thấy quanh mình lao xao tiếng người, rồi chàng dần hồi tỉnh. Một thanh niên cho Phong biết là khi tàu của họ được vớt sau khi đã chết gần hết thì thấy trên bờ xa xa hình như có một thân người, họ đến nơi thấy chàng còn thoi thóp thở nên kéo chàng nhập chung vào nhóm người cùng ghe của họ và tất cả 9 người đều được hội Hồng Thập Tự chăm sóc sức khỏe.

Phong bị con thuyền đập vào gẫy chân trái, máu ra nhiều mà không được cứu chữa ngay, nên bị nhiễm độc và bác sĩ phải cưa chân trái của chàng tới trên đầu gối.

Lúc tỉnh dậy, Phong thấy mình cụt một chân, tay trái bị bó bột, toàn thân đau đớn vì xương sườn bị dập. Thấy mình đã thành người tàn phế, chàng không muốn sau này trở thành gánh nặng cho vợ con nếu chàng may mắn tìm được họ vì vậy chàng chỉ muốn tự vẫn, hóa kiếp cái hình hài dị dạng này cho xong một đời người. Một tuần sau mọi người đã có mặt trên đảo Pulau Bidong, Malaysia.

Nhờ sự giúp đỡ của các bác sĩ, nhất là sự chăm sóc tận tình của một nữ y tá người địa phương tên Wani Avarat và lời khuyên răn của những thuyền nhân khác, Phong dần dần nguôi ngoai nhưng vẫn nhất quyết không trở thành một gánh nặng cho vợ con với một tinh thần sa sút và một thân xác tàn tật.

Cô y tá Wani, một người đàn bà trẻ góa chồng và không có con, tìm thấy trên mặt của chàng còn phảng phất nét thông minh tuấn tú của một người có học thức dù bao năm bị tù đầy vùi dập và chuyến vượt biển thập tử nhất sinh của Phong nên ngoài việc lưu tâm săn sóc thể chất, cô luôn luôn động viên tinh thần cho Phong. Chờ khi Phong tỉnh táo, cô đã đề nghị với chàng để cô bảo lãnh ra sống với cô ở Mã Lai với lời hứa là Phong có thể đi tìm và trở về với gia đình của chàng bất cứ lúc nào.

Nhờ có sự khuyến khích của cô Wani, Phong dần dần hồi phục. Sau khi đã được lắp chân giả, Phong đi học lại và cũng theo ngành y tá. Hai người sống với nhau hạnh phúc cho đến hai năm trước đây, cô Wani bị bệnh ung thư. Để đền đáp mối ân tình cho người đã cứu mạng sống của mình, Phong đã tận tụy săn sóc Wani, nhưng cuối cùng, Wani vẫn không thể vượt qua cơn bệnh ngặt nghèo. Hai năm trước đây, Wani đã giã biệt cõi đời. Từ đó Phong xin làm thiện nguyện và rồi trời đã xếp đặt cho chàng có cơ duyên làm việc cùng toán với Linh, một bác sĩ giải phẫu từ Hoa Kỳ sang làm thiện nguyện tại một làng nghèo bên Mã Lai.

Ngày cuối của công việc thiện nguyện, sau khi đã hoàn tất một ca giải phẫu cho bệnh nhân, Bác sĩ Linh mời y tá Phong ra ngoài sân bệnh viện uống cà phê cho tỉnh táo. Sau mấy ngày làm việc với ông y tá đứng tuổi của địa phương có nước da nâu sạm và đôi tay gân guốc, hai người đều đeo khẩu trang nên Linh không thấy rõ chi tiết trên khuôn mặt, ngoại trừ đôi mắt sâu thẳm u uẩn của ông ta. Nay xong công việc, khẩu trang đã gỡ bỏ, thong thả bên ly cà phê, bác sĩ và y tá biết nhau cùng là người Việt, trò truyện bằng tiếng Việt, Linh bỗng cảm thấy một cái gì gần gũi thân quen khác thường.

Khi ông Phong cúi xuống dập tàn thuốc lá, nhìn khuôn mặt khắc khổ của người bạn lớn tuổi mới quen, Linh bỗng giật mình khi thấy trên cổ ông ta một sợi dây chuyền có tượng Phật Bà. Phải rôi, cũng sợi dây chuyền ấy, tượng Phật Bà ấy, Linh từng thấy Mẹ mang trên cổ hàng ngày. Cho tới bây giờ, thỉnh thoảng mẹ vẫn mân mê cái tượng đã xám xỉn lâm râm lời cầu nguyện. Linh kiên nhẫn gợi chuyện và ngồi yên lắng nghe về chuyến hải hành đầy khủng khiếp của Phong.

Bây giờ thì Linh đã chắc chắn người y tá già ngồi trước mặt là người cha mất tích suốt tuổi niên thiếu của mình vì nơi chốn và ngày đi của ông ấy đều trùng hợp với cha mình.

Hai bố con nhận ra nhau. Linh ôm ông, chàng khóc như chưa từng khóc trong đời, chàng thương cho sự bất hạnh của Ba và nhất là cho Mẹ đã bao năm vò võ ở vậy nuôi con chờ chồng.

Trên đây là chuyện do chính Linh kể lại cho tôi nghe. Chú bé 13 tuổi khi theo mẹ đến Mỹ năm xưa nay đã là một bác sĩ giải phẫu 48 tuổi. Hàng năm, thay vì đi du lịch ngắm thắng cảnh thế giới, Bác sĩ Linh dành 2 tuần lễ nghỉ phép, đi theo đoàn thiện nguyện đến chữa bệnh ở những nơi mà người dân thiếu may mắn trong vùng Đông Nam Á. Nhờ đó mà sau 35 năm thất lạc, bố con có dịp nhận ra nhau. Giấc mơ đoàn tụ bao năm thành sự thật. Sinh nhật mẹ Hà cũng sắp tới. Đâu còn món quà sinh nhật nào quí hơn. Mọi thủ tục bảo lãnh, đưa Bố Phong từ Mã Lai vào Mỹ được lặng lẽ hoàn tất. Mọi diễn tiến, với sự đồng ý của bố, anh em Linh giữ kín, mẹ Hà hoàn toàn không hay biết.

Là người thân trong nhà, tôi được các cháu của Hà nhờ mời dùm đông đủ các bạn học cũ của chúng tôi từ thời ở Tuy Hoà về dự sinh nhật mẹ năm nay. Nhưng cũng chỉ tới giờ chót, mới được cho biết câu chuyện, mà còn nghe cháu Nga dặn đi dặn lại “không cho mẹ biết trước, nghe dì”.

***

Sinh nhật của Hà năm nay được tổ chức tại nhà cháu Linh. Tuổi sáu mươi sắp đến, nhưng Hà vẫn tươi tắn, rạng rỡ cùng các con chào đón các bạn cũ, bạn mới.

Trong phòng khách rộng lớn của ngôi nhà, bánh sinh nhật và các bàn ăn đã sẵn sàng. Đúng giờ phút định trước, ánh sáng thay đổi. Hà được mời đứng giữa Linh và Nhi, con trưởng và con út. Tất cả được thông báo bắt đầu những phút trân trọng nhất của đông đủ gia đình cùng ra mắt trong tiệc sinh nhật. Linh rời mẹ, trong lễ phục nghiêm chỉnh, bước lên mấy bước, cầm micro, hướng về phía mẹ Hà:

– Thưa Mẹ. Chúng con xin cám ơn Mẹ và tất cả bà con bạn bè có mặt hôm nay. Đây là lần đầu tiên đông đủ gia đình ta cùng mừng sinh nhật mẹ. Xin mẹ cho phép con có vài lời về gia đình chúng ta. Hơn bốn mươi năm trước đây, Sàigòn sụp đổ, miền Nam đổi chủ, bố chúng con phải đi tù cải tạo. Từ ngày ấy, tuy còn là đứa trẻ mới sáu bẩy tuổi, con vẫn không quên những ngày tháng mẹ vất vả, cực nhọc thay bố nuôi chúng con.

Sau 6 năm tù đầy, trở về với gia đình không được bao lâu, mẹ lại phải cắn răng để Bố một mình ra đi và từ đó mất tích. Có tin chuyến tầu vượt biển có bố đi theo đã tan tành, không còn ai sống sót. Sau nhiều tháng vô vọng, mẹ lại một mình mang chúng con ra đi, lo cho chúng con thành người trên đất Mỹ. Đã 35 năm qua, hàng ngày, mẹ không ngừng cầu nguyện gia đình có ngày được đoàn tụ. Hôm nay, xin Mẹ quay nhìn sang phía trái…

Không chỉ Hà mà tất cả cùng nhìn theo hướng tay của Linh. Từ bao giờ, trên lối đi từ phía cầu thang, em gái Nga của Linh xuất hiện trong áo dài vàng rực, bên vai Nga là một người đàn ông cao gầy. Trong ánh nến bập bùng ven lối đi, cả hai đang bước ra. Từng bước. Từng bước chậm.

Cả sảnh đường bỗng im lặng tới mức nghe được từng hơi thở.

– Thưa Mẹ, Linh tiếp tục nói, em Nga đang cùng Ba bước về phía Mẹ. Hôm nay Ba đã trở về từ một nơi xa xôi để dự lễ sinh nhật của Mẹ và đoàn tụ với gia đình. Và thưa Ba, Mẹ và em Nhi đang chờ Ba. Thưa bà con, thưa các bạn, sau bao năm cầu nguyện, đây là lần đầu tiên Ba Mẹ chúng tôi thấy lai nhau. Cám ơn Trời Phật đã đáp ứng lời cầu nguyện kiên trì của bốn mẹ con mình.

Hai bố con Phong và Nga đã đến trước mặt mẹ con Hà. Họ đứng lặng nhìn nhau. Hà bước tới, tưởng như mình đang bước trong cơn mơ. Đúng Phong đây rồi, Phong bằng xương bằng thịt vẫn thường hiện ra trong giấc ngủ của nàng làm lệ ướt gối chăn. Dù có bao nhiêu nếp nhăn hằn sâu trên khuôn mặt, dù có bao vết thương, vết sẹo trên thân thể chàng, dù Phong có bước đi chân thấp chân cao, đây vẫn là người chồng mà Hà một đời yêu thương mong nhớ và chung thủy đợi chờ. Họ lặng lẽ ôm nhau. Linh cũng đã lặng lẽ bước lại đứng cạnh bố mẹ và các em. Đúng là đông đủ cả nhà đang đoàn tụ. Cả sảnh đường đang im lặng bỗng cùng lúc vỡ òa. Rồi Phong sẽ nói, Hà sẽ nói, không biết bao lời chúc tụng sẽ được nói lên.

Ai bảo là “phước bất trùng lai?”

Cuối cùng thì bạn tôi sau những đau thương, mất mát khủng khiếp trong cuộc đời, bây giờ được đền bù xứng đáng.

Tôi trao cho Hà món quà sinh nhật của tôi tặng và Linh được yêu cầu đọc mấy dòng tôi viết trong tấm thiệp mừng bạn. Đó là mấy câu thơ nổi tiếng của thi sĩ Hồ Dzếnh:

Cô gái Việt Nam ơi!

Nếu chữ hy sinh có ở đời,

Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực

Cho lòng cô gái Việt Nam tươi.

Tôi đã chép những câu thơ trên cho bạn tôi và viết thêm đoạn tường thuật này tặng chung các Bà Mẹ Việt Nam.

May be an image of one or more people and text that says 'TU TU TRĂM NGÀN NĂM NĂM MỚI MỚI NÊN Đ/ DUYÊN CHUNG vơ THUYỀN CHÔNG'

Bài ca vọng cổ

Bài ca vọng cổ

Tiểu Tử

Tôi vượt biên một mình rồi định cư ở Pháp. Năm đó tôi mới 49 tuổi, vậy mà đi tìm việc làm đến đâu người ta cũng chê là tôi già! Vì vậy, một hôm, khi chải tóc, tôi nhìn kỹ tôi trong gương. Tôi bỗng thấy ở đó có một người có vẻ như quen nhưng thật ra thì rất lạ: mắt sâu, má hóp, mặt đầy nếp nhăn trên trán, ở đuôi mắt, ở khoé môi, mái tóc đã ngả bạc cắt tỉa thô sơ như tự tay cắt lấy. Từ bao lâu nay tôi không để ý, bây giờ  soi gương vì bị chê già, tôi mới thấy rằng tôi của hồi trước ’’Cách mạng thành công’’ và tôi của bây giờ – nghĩa là chỉ sau có mấy năm sống dưới chế độ gọi là ưu việt – thật không giống nhau chút nào hết. Tôi già thiệt, già trước tuổi. Cho nên, tôi nhìn tôi không ra. Từ đó, mỗi ngày tôi … tập nhìn tôi một lần, nhìn kỹ, cho quen mắt!

Một người bạn làm việc lâu năm ở Côte d’ivoire (Phi Châu) hay tin tôi đã qua Pháp và vẫn còn thất nghiệp, bèn giới thiệu tôi cho Công ty Đường mía của Nhà nước. Không biết anh ta nói thế nào mà họ nhận tôi ngay, còn gửi cho tôi vé máy bay nữa!

Xưa nay, tôi chưa từng quen một người da đen gốc Phi Châu nào hết. Và chỉ có vài khái niệm thô sơ về vùng Phi Châu da đen như là: ở đó nóng lắm, đất đai còn nhiều nơi hoang vu, dân chúng thì da đen thùi lùi, tối ngày chỉ thích vỗ trống, thích nhảy tưng tưng v.v… Vì vậy, tôi hơi … ngán. Nhưng cuối cùng rồi tôi quyết định qua xứ da đen để làm việc, danh dự hơn là ở lại Pháp để tháng tháng vác mặt Việt Nam đi xin trợ cấp đầu nọ, đầu kia…

Nơi tôi làm việc tên là Borotou, một cái làng nằm cách thủ đô Abidjan gần 800km! Vùng này toàn rừng là rừng. Không phải là rừng rậm rì cây cao chớn chở như ở Việt Nam. Rừng ở đây cây thấp lưa thưa, thấp thấp cỡ mươi, mười lăm thước … coi khô hóc. Không có núi non, chỉ có một vài đồi trũng, nhưng đồi không cao và trũng không sâu…

Nhà nước phá rừng trồng mía. Rung mía ngút ngàn! Nằm ở trung tâm là khu nhà máy, khu cơ giới, khu hành chánh, khu cư xá v.v.. nằm cách nhau cỡ vài cây số.

Muốn về thủ đô Abidjan, phải lái xe hơi chạy theo đường mòn xuyên rừng gần ba chục cây số mới ra tới đường cái tráng nhựa. Từ đó chạy đi Touba, một quận nhỏ với đông đảo dân cư. Từ đây, lấy máy bay Air Afrique về Abidjan, mỗi ngày chỉ có một chuyến.

Phi trường Touba nhỏ xíu, chỉ có một nhà ga xây cất sơ sài và một phi đạo làm bằng đất đỏ, mỗi lần máy bay bay lên đáp xuống là bụi bay … đỏ trời !

Tôi hơi dài dòng ở đây để thấy tôi đi “làm lại cuộc đời’’ ở một nơi hoang vu hẻo lánh mà cảnh trí thì chẳng có gì hấp dẫn hết! Thêm vào đó, tôi là người Á Đông duy nhứt làm việc chung với Tây trắng (chỉ có năm người) và Tây đen (đông vô số kể). Ở đây, thiên hạ gọi tôi là “le chinois’’ – thằng Tàu – Suốt ngày, suốt tháng tôi chỉ nói có tiếng Pháp. Cho nên, lâu lâu thèm quá, tôi soi gương rồi … nói chuyện với tôi bằng tiếng Việt, trông giống như thằng khùng! Chưa bao giờ tôi thấy tôi cô đơn bằng những lúc tôi đối diện tôi trong gương như vậy.

… Một hôm, sau hơn tám tháng “ ở rừng’’, tôi được gọi về Abidjan để họp (Đây là lần đầu tiên được về thủ đô!). Anh tài xế đen đưa tôi ra Touba. Chúng tôi đến phi trường lối một giờ trưa.

Sau khi phụ tôi gởi hành lý, anh tài xế nói:

– Tôi ra ngủ trưa ở trong xe. Chừng Patron (ông chủ) đi được rồi tôi mới về.

Ở xứ đen, họ dùng từ “Patron’’ để gọi ông chủ, ông xếp, người có địa vị, có tiền, người mà họ nể nang v.v… Nghe quen rồi, chẳng có gì chói lỗ tai hết!

Tôi nói:

– Về đi! Đâu cần phải đợi!

Hắn nhăn răng cười, đưa hàm răng trắng toát:

– Tại Patron không biết chớ ở đây lâu lâu họ lại huỷ chuyến bay vào giờ chót, nói tại máy bay ăn-banh ở đâu đó. Máy bay cũng như xe hơi vậy, ai biết lúc nào nó nằm đường.

Rồi hắn đi ra xe. Tôi ngồi xuống một phô-tơi, nhìn quanh : hành khách khá đông, nhiều người ngồi với một số hành lý như thùng cạc-tông, bao bị, va-ly v.v… Không phải họ không biết gởi hành lý, nhưng vì những gì họ đã gửi đã đủ số ký-lô giành cho mỗi hành khách, nên số còn lại họ … xách tay, cho dầu là nhiều món vừa nặng vừa cồng kềnh!

Không khí nóng bức. Mấy cái quạt trần quay vù vù, cộng thêm mấy cây quạt đứng xoay qua xoay lại, vậy mà cũng không đủ mát. Thiên hạ ngủ gà ngủ gật, tôi cũng ngã người trên lưng ghế, lim dim…

Trong lúc tôi thiu thiu ngủ thì loáng thoáng nghe có ai ca vọng cổ. Tôi mở mắt nhìn quanh rồi thở dài, nghĩ: “Tại mình nhớ quê hương xứ sở quá nên trong đầu nghe ca như vậy’’. Rồi lại nhắm mắt lim dim… Lại nghe vọng cổ nữa. Mà lần này nghe rõ câu ngân nga trước khi “xuống hò’’: “Mấy nếp nhà tranh ẩn mình sau hàng tre rũ bóng… đang vươn lên ngọn khói… á… lam… à… chiều…’’

Đúng rồi! Không phải ở trong đầu tôi, mà rõ ràng có ai ca vọng cổ ngoài kia. Tôi nhìn ra hướng đó, thấy xa xa dưới lùm cây dại có một người đen nằm võng. Và chỉ có người đó thôi. Lạ quá! Người đen đâu có năm võng. Tập quán của họ là nằm một loại ghế dài bằng gỗ cong cong. Ngay như loại ghế bố thường thấy nằm dưới mấy cây dù to ở bãi biển … họ cũng ít dùng nữa.

Tò mò, tôi bước ra đi về hướng đó để xem là ai vừa ca vọng cổ lại vừa nằm võng đong đưa. Thì ra là một anh đen còn trẻ, còn cái võng là loại võng nhà binh của quân đi Việt Nam Cộng Hoà hồi xưa. Tôi nói bằng tiếng Pháp:

– Bonjour!

Anh ngừng ca, ngồi dậy nhìn tôi mỉm cười, rồi cũng nói “ Bonjour’’. Tôi hỏi, vẫn bằng tiếng Pháp:

– Anh hát cái gì vậy?

Hắn đứng lên, vừa bước về phía tôi vừa trả lời bằng tiếng Pháp_

– Một bài ca của Việt Nam. Còn ông? Có phải ông là le chinois làm việc cho hãng đường ở Borotou không?

Tôi trả lời, vẫn bằng tiếng Pháp:

– Đúng và sai! Đúng là tôi làm việc ở Borotou. Còn sai là vì tôi không phải là người Tàu. Tôi là người Việt Nam.

Bỗng hắn trợn mắt có vẻ vừa ngạc nhiên, vừa mừng rỡ, rồi bật ra bằng tiếng Việt, giọng đặc sệt miền Nam, chẳng có một chút lơ lớ:

– Trời ơi! … Bác là người Việt Nam hả?

Rồi hắn vỗ lên ngực:

– Con cũng là người Việt Nam nè!

Thiếu chút nữa là tôi bật cười. Nhưng tôi kềm lại kịp, khi tôi nhìn gương mặt rạng rỡ vì sung sướng của hắn. Rồi tôi bỗng nghe một xúc động dâng tràn lên cổ. Thân đã lưu vong, lại ’’trôi sông lạc chợ’’ đến cái xứ “ khỉ ho cò gáy’’ này mà gặp được một người biết nói tiếng Việt Nam và biết nhận mình là người Việt Nam, dù là một người đen, sao thấy quý vô cùng. Hình ảnh của quê hương như đang ngời lên trước mặt…

Tôi bước tới bắt tay hắn. Hắn bắt tay tôi bằng cả hai bàn tay, vừa lắc vừa nói huyên thuyên:

– Trời ơi!… Con mừng quá! Mừng quá! Trời ơi!… Bác biết không? Bao nhiêu năm nay con thèm gặp người Việt để nói chuyện cho đã. Bây giờ  gặp bác, thiệt… con mừng “ hết lớn’’ bác à!

Rồi hắn kéo tôi lại võng:

– Bác nằm đi! Nằm đi!

Hắn lại đống gạch  “ bờ-lóc’’ gần đấy lấy hai ba viên kê bên cạnh võng rồi ngồi lên đó, miệng vẫn không ngừng nói:

– Con nghe thiên hạ nói ở Borotou có một người Tàu. Con đâu dè là bác. Nếu biết vậy con đã phóng Honda vô trỏng kiếm bác rồi! Đâu đợi tới bây giờ…

Hắn móc gói thuốc, rút lòi ra một điếu, rồi đưa mời tôi:

– Mời bác hút với con một điếu.

Hắn đưa gói thuốc về phía tôi, mời bằng hai tay. Một cử chỉ mà từ lâu tôi không còn nhìn thấy. Một cử chỉ nói lên sự kính trọng người trưởng thượng. Tôi thấy ở đó một “ cái gì’’ rất Việt Nam.

Tôi rút điếu thuốc để lên môi. Hắn chẹt quẹt máy, đưa ngọn lửa lên đầu điếu thuốc, một tay che che như trời đang có gió. Tôi bập thuốc rồi ngạc nhiên nhìn xuống cái quẹt máy. Hắn nhăn răng cười:

– Bộ bác nhìn ra nó rồi hả?

Tôi vừa nhả khói thuốc vừa gật đầu. Đó là loại quẹt máy Việt Nam, nho nhỏ, dẹp lép, đầu đít có nét cong cong. Muốn quẹt phải lấy hẳn cái nắp ra chớ nó không dính vào thân ống quẹt bằng một bản lề nhỏ như những quẹt máy ngoại quốc. Hắn cầm ống quẹt, vừa lật qua lật lại vừa nhìn một cách trìu mến:

– Của ông ngoại con cho đó! Ổng cho, hồi ổng còn sống lận.

Rồi hắn bật cười:

– Hồi đó ổng gọi con bằng “ thằng Lọ Nồi’’.

Ngừng một chút rồi tiếp:

– Vậy mà ổng thương con lắm à bác!

Hắn đốt điếu thuốc, hít một hơi dài rồi nhả khói ra từ từ. Nhìn cách nhả khói của hắn tôi biết hắn đang sống lại bằng nhiều kỷ niệm… Tôi nói:

– Vậy là cháu lai Việt Nam à?

– Dạ. Má con quê ở Nha Trang.

– Rồi má cháu bây giờ ở đâu?

Giọng của hắn như nghẹn lại:

– Má con chết rồi. Chết ở Nha Trang hồi Việt cộng vô năm 1975.

– Còn ba của cháu?

– Ổng hiện ở Paris. Tụi này nhờ có dân Tây nên sau 1975 được hồi hương. Con đi quân dịch cho Pháp xong rồi, về đây ở với bà ni. Con sanh ra và lớn lên ở Sài Gòn, về đây, buồn thúi ruột thúi gan luôn!

Tôi nhìn hắn một lúc, cố tìm ra một nét Việt nam trên con người hắn. Thật tình, hắn không có nét gì lai hết. Hắn lớn con, nước da không đến nỗi đen thùi lùi như phần đông dân chúng ở xứ này, nhưng vẫn không có được cái màu cà phê lợt lợt để thấy có chút gì khác khác. Tóc xoắn sát da đầu, mắt lồi môi dầy…

Tôi chợt nói, nói một cách máy móc:

– Thấy cháu chẳng có lai chút nào hết!

Hắn nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng nghiêm trang:

– Có chớ bác. Con có lai chớ bác.

Hắn xoè hai tay đưa ra phía trước, lật qua lật lại:

– Bên ni của con là nằm ở bên ngoài đây nè.

Rồi hắn để một tay lên ngực, vỗ nhè nhẹ về phía trái tim:

– Còn bên ngoại của con, nó nằm ở bên trong. Ở đây, ở đây nè bác.

Bỗng giọng hắn nghẹn lại:

– Con lai Việt nam chớ bác!

Trong khoảnh khắc, tôi xúc động đến quên mất màu da đen của hắn, mà chỉ thấy trước mặt tôi, một thanh niên Việt Nam, Việt Nam từ cử chỉ tới lời lẽ nói năng. Tôi vói tay vỗ nhẹ lên vai hắn mấy cái, gật đầu nói:

– ô! Bác thấy. Bây giờ thì bác thấy…

Hắn mỉm cười:

– Ở đây người ta nói con không giống ai hết, bởi vì con hành động cư xử, nói năng không giống họ. Bà ni con cũng nói như vậy nữa! Còn con thì mỗi lần con nhìn trong kiếng, con vẫn nhận ra con là người Việt Nam. Bác coi có khổ không?

Rồi nó nhìn tôi, một chút trìu mến dâng lên trong ánh mắt:

– Bây giờ con gặp bác rồi, con thấy không còn cô đơn nữa. Gặp một người giống mình, ở cái xó xa xôi hẻo lánh này, thiệt là Trời còn thương con quá!

Tôi im lặng nghe hắn nói, nhìn hắn nói mà có cảm tưởng như hắn đang nói cho cả hai: cho hắn và cho tôi. Bởi vì cả hai cùng một tâm trạng…

Hắn vẫn nói, như hắn thèm nói từ lâu:

– Nhớ Sài Gòn quá nên con hay ca vọng cổ cho đỡ buồn. Hồi nãy bác lại đây là lúc con đang ca bài “ Đường về quê ngoại’’ đó bác.

– Bác không biết ca, nhưng bác rất thích nghe vọng cổ.

Giọng nói của hắn bỗng như hăng lên:

– Vọng cổ là cái chất của miền Nam mà bác. Nó không có lai Âu lai Á gì hết. Nó có cái hồn Việt Nam cũng như cá kho tộ, tô canh chua. Bác thấy không? Bởi vậy, không có gì nhắc cho con nhớ Việt Nam bằng bài ca vọng cổ hết.

– Bác cũng vậy.

Tôi nói, mà thầm phục sự hiểu biết của hắn. Và tôi thấy rất vui mừng có mt người như vậy để chuyện trò từ đây về sau…

Có tiếng máy bay đang đánh một vòng trên trời. Chúng tôi cùng đứng lên, hắn nói:

– Nó tới rồi đó. Con phải sửa soạn xe trắc-tơ và rờ-mọt để lấy hành lý. Con làm việc cho hãng Air Afrique, bác à.

Rồi hắn nắm tay tôi lắc mạnh:

– Thôi, bác đi mạnh giỏi. Con tên là Jean. Ở đây ai cũng biết  -“Jean le vietnamien’’ hết. Chừng về bác ghé con chơi, nghen.

Bỗng, hắn ôm chầm lấy tôi siết nhẹ, rồi giữ như vậy không biết bao nhiêu lâu. Tôi nghe giọng hắn lạc đi:

– Ghé con nghe bác… Ghé con…

Tôi không còn nói được gì hết. Chỉ vừa gật gật đầu, vừa vỗ vỗ vào lưng hắn như vỗ lưng một người con…

Khi hắn buông tôi ra, tôi thấy hai má của hắn ướt nước mắt. Tôi vội vã quay đi, lầm lũi bước nhanh nhanh về nhà ga mà nghĩ thương cho ’’thằng Jean le vietnamien’’. Hồi nãy, nó ôm tôi, có lẽ nó đã tưởng tượng như là nó đang ôm lại được một góc trời quê mẹ…

…Trên máy bay, tôi miên man nghĩ đến “ thằng Jean’’ rồi tự hứa sẽ gặp lại nó thường. Để cho nó bớt cô đơn. Và cũng để cho tôi bớt cô đơn nữa!

* **

Bây giờ, viết lại chuyện thằng Jean mà tôi tự hỏi:

“Trong vô số người Việt Nam lưu vong hôm nay, còn được bao nhiều người khi nhìn trong gương vẫn nhận ra mình là người Việt Nam?’’

“ Và có được bao nhiêu người còn mang trong lòng bài ca vọng cổ, để thấy hình ảnh quê hương vẫn còn nằm nguyên trong đó?’’./.

Tiểu Tử

Thánh Ca: Xin Thánh Giuse Chữa Lành (Dịch Corona Covid -19 tái bùng phát) St. Phạm Trung

httpv://www.youtube.com/watch?v=V_8Wq59hPGY

Thánh Ca: Xin Thánh Giuse Chữa Lành ( Dịch Corona Covid -19 tái bùng phát) St. Phạm Trung

Nguyện Thánh Giuse xin thương trợ giúp chúng con, trong cơn đại dịch khổ đau lan tràn thế giới. Nguyện Thánh Giuse xin thương giải thoát chúng con, trong nỗi đớn đau chúng con thiết tha van nài.

Proshow: Fx. Lê Khắc Lâm (ofm)

  Đứa trẻ bị bỏ rơi trong bãi rác, hơn 30 năm sau trở thành triệu phú

  Đứa trẻ bị bỏ rơi trong bãi rác, hơn 30 năm sau trở thành triệu phú

“Đừng để hoàn cảnh xác định bạn là ai” là lời khuyên mà doanh nhân thành đạt Freddie Figgers muốn truyền lại cho người khác.

Freddie Figgers, nhà phát minh, doanh nhân và triệu phú ngành viễn thông – người mà cách đây hơn 30 năm, được tìm thấy bên cạnh một thùng rác ở gần Quincy, vùng nông thôn Florida.

Đứa con bị bỏ rơi

Hôm ấy, một người qua đường nhìn thấy kế bên thùng rác lớn có đứa trẻ sơ sinh trong cái bọc, liền gọi cảnh sát. Đứa bé trai được chở tới bệnh viện. Hai ngày sau khi được chữa những vết thương nhẹ trên thân thể, đứa bé bị bỏ rơi được đưa vào trại tế bần.

Ở gần đó, vợ chồng công nhân Nathan và Betty Figgers tuy có một cô con gái, nhưng khi nhìn thấy cậu bé mồ côi, họ nhanh chóng nhận về nuôi, dù chẳng dư dả gì. Ông bà lấy họ mình, và đặt tên cho cậu bé là Freddie – Freddie Figgers.

Freddie Figgers lúc nhỏ. Hình: Nathan Figgers.

Được cha mẹ nuôi yêu thương, nhưng Freddie vẫn phải trải qua những ngày thơ ấu buồn tủi. Ở trường tiểu học, em bị những đứa trẻ khác bắt nạt, khinh miệt gọi bằng biệt danh “thằng rác rưởi”. Sống trong ngôi làng có chưa tới 10,000 cư dân, mọi người đều biết em là đứa trẻ bị bỏ rơi từ khi mới lọt lòng.

Năm lên tám tuổi, Freddie hỏi cha mình về những gì em nghe bạn bè chế diễu. Câu trả lời của cha, như tát vào mặt cậu học sinh lớp hai: “Con à, con không phải là con ruột của ba mẹ đâu. Bà Fred, mẹ ruột của con, đã vứt bỏ khi con mới chào đời. Ba mẹ đưa con về nuôi, vì không muốn con ở trong trại tế bần.”

Khi nghe cha nói vậy, cậu bé Freddie đau đớn nghĩ trong lòng: “Ừ, mình đúng là đồ rác rưởi.” Nhưng ông Nathan kịp nhận ra nỗi đau của con, ông ôm con trai nuôi vào lòng, thủ thỉ: “Nghe này, con trai của ta, hãy quên đi quá khứ và đừng bao giờ để điều đó ảnh hưởng đến cuộc sống của mình. Từ lâu, con đã là con trai của ba mẹ mà. Hiểu chưa!”.

Đối với Freddie, ba Nathan và mẹ Betty Mae là những người hùng, và là những hình mẫu tuyệt vời nhất. “Tôi thấy cha tôi luôn giúp đỡ mọi người,” Freddie kể, “Ông hay dừng lại bên đường để giúp đỡ một ai đó chẳng hề quen biết, hoặc người vô gia cư. Ai cần gì ông cũng giúp. Ông là người đáng kính, và cũng là mẫu người đàn ông mà tôi muốn trở thành như vậy.”

Bạn xuất thân từ đâu, không quyết định thành công. Tất cả chúng ta đều có thể trở nên vĩ đại, chỉ cần nắm được cơ hội. Có lẽ, không ai hiểu điều đó hơn nhà triệu phú tuổi 30 – Freddie Figgers.

‘Khởi nghiệp’ từ chiếc máy tính Mac bị hỏng

Vào cuối tuần, Freddie hay được ba Nathan chở đi lòng vòng xung quanh khu vực chứa đồ phế thải, xem có gì còn xài được thì đem về. Một lần, Nathan đặc biệt chú ý đến chiếc máy tính. Ông nói với con trai: “Nhìn thì thấy cũ quá, con nhỉ. Vẫn biết “cũ người mới ta” nhưng đồ bỏ thế này, chắc chẳng xài được.”

Sau đó không lâu, một lần đi Goodwill (nơi bán đồ cũ), ông Nathan chợt nhìn thấy một chiếc máy tính MacIntosh bị hỏng. Biết con trai cũng thích máy móc, ông liền chạy ngay ra hỏi nhân viên bán hàng, và trả giá để lấy được chiếc máy cũ xì ấy với giá 24 USD. Người bán đồng ý, thế là ông sung sướng đem máy về nhà cho con trai.

Vốn rất thích mày mò sưu tập radio, đồng hồ báo thức hay VCR mà bố nuôi tích góp được, chiếc máy Mac hỏng chiếm hết tâm trí của cậu bé chín tuổi. Freddie tháo máy ra rồi lắp máy lại. Làm vậy mấy lần thì cậu bé phát hiện, chiếc máy này có thể dùng được, nếu lắp thêm một số linh kiện trong một chiếc radio cũ của cha mình. Cuối cùng, Freddie thành công. Chiếc máy tính hoạt động bình thường. Vào lúc này, cậu bé biết cuộc đời mình sẽ chỉ dành cho công nghệ.

“Đến bây giờ tôi vẫn còn giữ nó”, Freddie Figgers nói về chiếc máy tính đầu tiên ấy. “Nó chính là thứ khơi dậy niềm say mê, hứng thú với công nghệ trong tôi.”

“Tiếng lành đồn xa”, năm 13 tuổi, Freddie được thành phố Quincy thuê đến sửa chữa một số máy tính bị hư. Năm 15 tuổi, Freddie Figgers gầy dựng công ty đầu tiên – Figgers Computers, chuyên sửa chữa máy tính và giúp khách hàng lưu trữ dữ liệu trên các máy chủ do chính em tạo ra.

Vậy là từ đôi bàn tay trắng, Freddie đã làm nên sự nghiệp. Sau khi xây dựng cơ sở dữ liệu cloud database của riêng mình, anh quyết định bỏ học đại học. “Tôi không khuyến khích mọi người đi theo con đường này,” anh nói. “Nhưng cách ấy phù hợp với tôi. Năm 17 tuổi, tôi đã có 150 khách hàng.” Trên thực tế, anh cũng không bỏ học hoàn toàn, mà vẫn theo học một số khóa học ngắn hạn về chuyên môn.

Chằng có con đường nào đi đến thành công mà dễ dàng. Hình: FB Freddie Figgers.

Sáng chế từ những câu chuyện của người thân

Ông Nathan, ba của Freddie mắc chứng Alzheimer. Ông hay bỏ nhà đi lang thang. Có khi chẳng ai biết ông đi đâu. Thấy nguy hiểm quá, Freddie nghiên cứu chương trình theo dõi bằng kỹ thuật định vị toàn cầu (GPS) và sáng chế ra thiết bị định vị, nhét vào giày của cha, để mỗi khi ông đi đâu, anh đều biết. Thậm chí với thiết bị này, anh còn có thể nói chuyện được với cha. Đó là bước ngoặt lớn trong cuộc đời Freddie Figgers. Năm 2012, anh bán chương trình theo dõi GPS này cho một công ty ở Kansas với giá 2,2 triệu USD.

Ông Nathan qua đời ở tuổi 81, vào tháng 1-2014. Lúc sinh thời, ông Nathan luôn muốn sở hữu một chiếc xe bán tải Ford đời 1993 và một chiếc thuyền đánh cá. Nhưng khi Freddie có đủ khả năng để mua cho cha thì đã quá muộn. Freddie tự trách mình: “Tôi quá thất vọng về mình. Tất cả những gì tôi muốn là thấy ba tôi hạnh phúc. Vậy mà tôi lại không làm được.”

Sau đó, Freddie phát minh thêm được một thiết bị thông minh khác, cũng được lấy cảm hứng từ kinh nghiệm cá nhân – một kỷ niệm buồn.

Hồi năm Freddie lên tám, Freddie được ba mẹ cho sang Georgia thăm người ông trẻ – chú của mẹ. Freddie kể: “Khi chúng tôi đến nhà, mẹ và ba tôi đứng gõ cửa lâu lắm, mà chẳng thấy ai trả lời. Sốt ruột, ba kêu tôi trèo qua cửa sổ, rồi mở cửa chính cho ba mẹ tôi vô.”

Freddie làm y như vậy. Vô tới bên trong nhà, thấy có người đang ngồi trên ghế cạnh lò sưởi, cậu bé nghĩ mọi thứ đều ổn. Nhưng khi ông Nathan vào, đến gần người chú thì giật mình gọi vợ: “Betty Mae, ông chết rồi!”

Người đàn ông ấy bị bệnh tiểu đường, rơi vào tình trạng hôn mê và ra đi lặng lẽ không ai hay biết.

Nhớ lại cái chết của ông trẻ, Freddie bắt tay chế tạo một máy đo đường huyết thông minh, chia sẻ tức thì mức glucose cùng với các kết quả kiểm tra sức khỏe điện tử của một người với người thân nhất của họ. Nếu glucose trong máu của một người bất thường, nó sẽ gửi thông báo cảnh báo qua công nghệ Bluetooth.

Nhưng mọi chuyện không bao giờ dễ dàng. Ở nhiều vùng nông thôn trên nước Mỹ, rất nhiều nơi không có mạng 2G hoặc 3G. Ở Quincy vào thời điểm đó, cư dân vẫn đang sử dụng internet quay số (dial-up internet). Vì muốn mang thông tin liên lạc đến những vùng nông thôn, vào năm 2008, Freddie Figgers – người đầu tiên nộp đơn lên FCC (Ủy Ban Truyền Thông Liên Bang) xin giấy phép để thành lập công ty tư nhân về viễn thông – Figgers Communication.

Năm 2011, ở tuổi 21, Freddie trở thành nhà điều hành mạng viễn thông trẻ nhất ở Mỹ. Theo NBC News, Figgers Communication là công ty viễn thông thuộc sở hữu tư nhân của người da đen duy nhất trên toàn quốc.

Trong những ngày đầu thành lập công ty, Freddie tự mình làm hầu hết công việc – từ đổ bê tông cho tháp điện thoại di động đầu tiên, đến lắp đặt cáp quang. Anh bắt đầu cung cấp dịch vụ ở các vùng nông thôn phía Bắc Florida và Nam Georgia. Năm 2014, Freddie ra mắt điện thoại thông minh Figgers F1, với thiết bị phát hiện chuyển động và chuyển sang “tình trạng an toàn” trên 10mph, ngăn mọi người nhắn tin khi đang lái xe. Sau đó, anh sáng chế Figgers F3 – thiết bị sạc không dây (Wireless Inductive Charger), thứ đã khiến kiểu sạc cũ trở nên lỗi thời.

Freddie Figgers: “Bây giờ bạn có thể ở trong bóng tối, nhưng ngày mai trời sẽ sáng.” Hình: FB Freddie Figgers.

“Đừng bao giờ bỏ cuộc!”

Năm tuổi 30, Freddie Figgers có một danh sách dài những điều khiến nhiều người mơ ước: là một nhà phát minh, lập trình viên máy tính và kỹ sư phần mềm, là người Mỹ trẻ nhất nắm giữ giấy phép của Ủy ban Truyền thông Liên bang và là người Mỹ gốc Phi duy nhất sở hữu một công ty điện thoại di động. Figgers Wireless phục vụ gần một triệu khách hàng tại hơn 80 quốc gia. Công ty viễn thông tư nhân này có giá trị hơn 62,3 triệu USD (theo định giá năm 2017), biến anh trở thành triệu phú ở tuổi 30.

Khi được hỏi về bí quyết thành công, Freddie Figgers cho biết anh không bao giờ bỏ cuộc. “Bây giờ mà nói thì các bạn sẽ cảm thấy nói gì chẳng được. Nhưng tôi muốn các bạn nhớ rằng, bây giờ bạn có thể ở trong bóng tối, nhưng ngày mai trời sẽ sáng.”

“Tuổi tác và chủng tộc là những thách thức lớn trên con đường tôi đi. Tôi còn quá trẻ, lại là người da đen. Có quá nhiều rào cản và thử thách. Tôi biết họ muốn thách thức trí thông minh của tôi.” Germain Bebe, COO của Figgers Communications, nhìn nhận kiên trì là một tố chất trong con người của Figgers. “Anh ấy năng động và biết mình cần làm gì. Đó là cuộc chiến 24 giờ mỗi ngày. Anh ấy không còn coi đó chỉ là công việc nữa.”

Ngoài kinh doanh và phát minh, triệu phú tuổi 30 này cũng là người điều hành quỹ Figgers Foundation, tổ chức quyên góp giải quyết nhiều vấn đề khác nhau, bao gồm nỗ lực cứu trợ sau thảm họa thiên nhiên, học bổng đại học cho học sinh trung học hay hỗ trợ đồ dùng học tập cho giáo viên nghèo. Các chương trình gần đây như tặng xe đạp cho các trung tâm nuôi dưỡng trẻ em, và các thiết bị y tế đặc biệt cho những nhân viên tuyến đầu trong đại dịch COVID-19.

Triệu phú Freddie Figgers. Hình: FB Freddie Figgers.

Truyền cảm hứng và giúp đỡ người khác

“Điều tuyệt vời nhất mà con người có thể làm là truyền cảm hứng đến người khác,” anh cho biết. Bản thân anh cũng được cha mẹ nuôi truyền cảm hứng và năng lượng để anh có thể thoải mái sáng tạo từ khi còn nhỏ. “Ba mẹ chưa một lần nói tôi không phải con của họ. Họ thật đặc biệt. Dù nhận nuôi tôi khi đã lớn tuổi, nhưng ông bà là người đã dạy tôi những điều quý giá. Học được từ ba mẹ, chuyện giúp đỡ mọi người đã trở thành niềm đam mê của tôi.”

Kinh doanh với anh không chỉ là một công việc kiếm ra tiền, mà còn có ý nghĩa cộng đồng. Anh bán máy đo đường huyết không dây. Anh cũng thực hiện dự án tương tự như công nghệ định vị để giúp các gia đình giữ liên lạc với người thân khi phải sống xa họ, hoặc là người vô gia cư.

“Biết đâu đó cũng là tương lai của tôi. Tôi có thể đã là kẻ vô gia cư hay chết cóng bên đường nếu không được người dọn rác tìm thấy,” anh nhớ lại. Sau này, anh biết mẹ ruột của mình là “gái làng chơi” và nghiện ngập ma túy. Anh chưa từng gặp bà, cũng không có ý định ấy, nhưng anh nói đã tha thứ cho bà.

Freddie Figgers bên con gái Rose. Hình: Natlie Figgers

“Bố mẹ nuôi đã cho tôi tình yêu và tương lai. Họ đã làm hết sức mình để biến thế giới này thành một nơi tốt đẹp hơn. Và bây giờ, đó cũng là điều tôi muốn làm.” Năm nay 83 tuổi, mẹ của Freddie, cũng bắt đầu bị bệnh Alzheimer. Freddie nói mẹ mình đã rất tự hào về những gì con trai bà.

Kết hôn với luật sư Natlie Figgers năm 2015, nhà triệu phú cho biết anh đang rất hạnh phúc với mái ấm gia đình cùng vợ chăm con nhỏ. Bé Rose đầu lòng mới hơn 2 tuổi.

“Tôi đang ở nơi hạnh phúc. Điều quan trọng là tôi sẵn sàng làm mọi thứ để bảo vệ hạnh phúc của mình. Tôi cũng chỉ là một con người thôi, nhưng tôi tin rằng mình có thể tác động đến nhiều người. Tôi muốn con gái mình biết điều đó.”

Trên trang Facebook cá nhân, Freddie Figgers nhắn nhủ với mọi người: “Đừng so sánh cuộc sống của bạn với người khác. Mọi con đường đều khác nhau. Bạn là người làm chủ vận mệnh của chính mình, và bạn muốn cuộc sống của mình trở thành như thế nào. Vì vậy, đừng đổ lỗi cho người khác vì bạn đang trốn tránh sự thật cho chính mình. Nếu bạn không kiểm soát số phận của mình, người khác sẽ làm.”

Theo BBC, Washington Post, Blackbusiness. 

From: Do Tan Hung & KimBằng Nguyễn

CÔ VỢ XINH ĐẸP VÀ NGƯỜI THỢ MỎ

CÔ VỢ XINH ĐẸP VÀ NGƯỜI THỢ MỎ

Thật là một câu chuyện đáng đọc… mắt tôi đã nhòe đi khi đọc đến những dòng cuối cùng..

Cô ấy 30 tuổi, người xinh đẹp, nước da trắng, thân hình nhỏ gọn, nhưng số mệnh cô không được tốt, trước tiên là sinh hạ một cô con gái đần độn, sau đó nữa thì, năm cô 29 tuổi, chồng cô mất. Về sau, cô đã quyết định tái giá, cô gả cho một người đàn ông lớn hơn cô 15 tuổi.

Cô không chịu nổi khổ, huống hồ còn phải dẫn theo cô con gái đần độn. Điều quan trọng là, ông ấy là một người thợ mỏ, thu nhập bao nhiêu thì không nói, chỉ là nếu như xảy ra tai nạn, thông thường nạn nhân sẽ được bồi thường bảy, tám trăm triệu.

Cô đã nghèo khổ đến sợ rồi, nếu không, tại sao xinh đẹp như vậy lại muốn gả cho một người có chút tật ở chân cơ chứ. Ông ấy vừa già vừa khó coi, miệng méo mắt lệch…

Ông ấy cũng biết rằng bản thân mình không xứng, nhưng vẫn cảm thấy giống như có được báu vật vậy…

Số tiền ông kiếm được, toàn bộ đều đưa hết cho cô, nhưng mỗi tháng cũng chỉ khoảng 3 triệu, trừ đi các khoản chi dùng cho cơm ăn áo mặc thì cũng chẳng còn lại bao nhiêu.

Cô thật sự không can tâm, cô con gái ngốc của cô sau này còn phải dùng đến tiền nữa, bản thân không muốn sống với ông cả đời như vậy. Khai thác khoáng sản, đâu đâu cũng dễ xảy ra tai nạn như vậy, tại sao ông ấy lại không gặp phải nhỉ?

Điều cô nghĩ đến chính là vài trăm triệu đó, nếu như ông ấy chết rồi, cô sẽ ôm tiền bỏ đi. Đây là một suy nghĩ ác độc, nhưng lại là điều chân thật nhất…

Cô mua quần áo phấn son tô điểm cho chính mình, liếc mắt đưa tình với người hàng xóm…

Có người nói cho ông hay rằng: “Hãy nhìn vợ ông kìa, lấy tiền của ông chưng diện rồi gian díu với người đàn ông khác!”.

Ông chỉ cười: “Cô ấy ở nhà cô đơn buồn chán, ăn diện một chút thì có sao đâu”. Thật ra, trái tim ông đang đau nhói, ông không muốn thấy cô phóng đãng như vậy.

Cô nói muốn ăn quýt, ông liền đi ra tận thị trấn mua, nhưng lúc đi không có nói với cô trước. Cũng ngay lúc đó, tại hầm mỏ xảy ra tai nạn, suy nghĩ đầu tiên của cô chính là, lần này tốt rồi, tiền đã đến tay rồi!

Bao nhiêu thi thể được khiêng ra, cô nhìn xem từng người từng người một, nhưng không có nhìn thấy ông, trong lòng không khỏi thất vọng cùng cực.

Bỗng nhiên quay đầu lại, cô nhìn thấy ông ấy tay ôm theo giỏ quýt đi đến trước mặt cô, ngây thơ giống như một đứa trẻ.

Ông nói: “Cho em này. Anh đi ra thị trấn mua quýt cho em, vậy nên đã thay ca với người khác!”.

Cô khóc òa lên, không phải xúc động vì thấy ông bình an, mà là bởi hy vọng tan vỡ.

Ông khuyên rằng: “Anh không sao, em đừng sợ”. Ông tưởng rằng cô đang sợ hãi lo lắng cho mình.

Khi ăn trái quýt, trong lòng cô cảm thấy bản thân mình không ra gì….

Một thời gian sau, ông len lén chạy lên núi trồng cây, mỗi tháng trồng được khoảng bốn năm chục cây. Có người hỏi ông trồng cây để làm gì? Ông cười trả lời rằng: “Trồng cho hai mẹ con họ, sau này khi tôi chết rồi, thì số cây này cũng đã lớn, có thể nuôi sống hai mẹ con họ”.

Lời này đã đồn đến tai cô, trong lòng cô không khỏi chua xót, suýt chút nữa là rơi nước mắt.

Về sau, cô bị nhiễm phong hàn, ông ấy đã không quản ngày đêm chăm sóc cho cô. Nửa đêm tỉnh dậy, phát hiện người chồng đang ôm chân của mình. Cô hỏi: “Anh ôm chân em làm gì vậy?”.

Ông nói: “Chỉ cần em tỉnh dậy, anh sẽ biết được, nếu như em phải đi vệ sinh sẽ có người dìu em”.

Lần này cô thật sự đã khóc, nghẹn ngào nói: “Anh đúng là ngốc mà”.

Sau khi bệnh khỏi rồi, cô khuyên ông rằng: “Anh đừng có đi làm ở khu mỏ nữa được không? Chỗ đó lúc nào cũng có tai nạn rình rập, hôm trước lại chết mấy người nữa, em thật sự rất sợ”.

Lần này cô thật lòng, bởi vì cô đã nghĩ thông suốt rồi, con người là quan trọng nhất, người không còn nữa, thì cái gì cũng đều không có nữa.

Sau đó, cô nghiêm túc hẳn, không có đi đây đi đó nữa, cũng không còn trang điểm quyến rũ nữa. Cô mở một tiệm tạp hóa nhỏ, hàng ngày đứng tựa cửa chờ ông trở về.

Không lâu sau đó, ông đột nhiên cảm thấy lồng ngực đau nhói, mới làm việc được một lúc, mồ hôi đã đầm đìa, thế là ông lén uống thuốc giảm đau, mỗi lần uống là năm sáu viên, nhưng vùng ngực vẫn cứ đau.

Ông lén đi ra thị trấn khám thử. Bác sĩ nói, ung thư gan thời kỳ cuối, nhiều nhất chỉ sống được hơn ba tháng nữa, muốn ăn gì thì hãy cứ ăn, đừng có làm khổ bản thân mình.

Đi ra chợ, ông đã tiêu xài hết toàn bộ số tiền mang theo, ông đã mua rất nhiều đồ, quần áo mới cho cô, áo khoác hoa cho con gái, son phấn nước hoa, nhưng lại không có mua một món gì cho bản thân mình.

Buổi sáng hôm sau, ông nói ông tính đến khu mỏ làm việc.

Cô nói: “Đừng đi, chỗ đó rất nguy hiểm, dễ xảy ra chuyện, đừng có đi, dứt khoát đừng có đi!”.

Ông cười hì hì, cuối cùng vẫn đi. Ông nói với ông chủ rằng: “Hãy sắp xếp cho tôi phần công việc khó nhất, có mệt tôi cũng không sợ”. Ông chủ đương nhiên đồng ý, bèn cử ông xuống hầm mỏ sâu nhất. Khi cơn đau kéo đến, ở trong bóng tối ông thầm gọi tên cô.

Đi làm được ngày thứ ba, dưới hầm bắt đầu ngập nước, ông vốn dĩ là có cơ hội chạy thoát được, nhưng ông nghĩ, có được tiền rồi, cô và con gái cả đời cũng không cần phải lo nghĩ nhiều nữa. Thế là, ông không có chạy, cũng không kêu cứu.

Sau khi hay tin, cô đầu tóc cũng không chải mà chạy đến nơi, dùng tay gắng sức đào bới ngoài cửa mỏ, hai tay đều đã chảy máu. Nhìn thấy thi thể của ông, cô gọi tên của ông, khóc lóc kêu gào thảm thiết rằng: “Em không muốn! Em không muốn! Anh đừng bỏ em, đừng bỏ em, làm ơn đừng bỏ lại em mà!”.

Từ trong túi áo của ông rơi ra một mẩu giấy chẩn đoán của bệnh viện, lúc này cô mới hiểu rằng, người đàn ông này đã dùng sinh mệnh của mình để yêu thương cô một lần cuối cùng.

SƯU TẦM

NGẪM:

Phụ nữ cần được yêu thương, vậy nên tình thương của người chồng mới là niềm ao ước lớn nhất của người phụ nữ.

Tiền bạc, địa vị…

Chung quy điều mà người phụ nữ muốn nhất chẳng qua chỉ là tình yêu và sự che chở của người đàn ông.

Người đàn ông cần được thấu hiểu, vậy nên sự thấu hiểu của người vợ mới là niềm an ủi lớn nhất của người đàn ông.

Vẻ đẹp, khao khát …

Điều mà người đàn ông mong muốn sau cùng chỉ là sự dịu dàng và bầu bạn quan tâm của người phụ nữ.

Chaunguyenthi st

May be an image of sky, nature and mountain

NGƯỜI THẦY CHÂN CHÍNH 

NGƯỜI THẦY CHÂN CHÍNH 

Một chàng trai nhận ra thầy giáo dạy tiểu học của mình trên đường.
 Anh lại gần ông giáo già và hỏi:
– Thầy có nhận ra em không? Em là học sinh của thầy đây. 
– Ừ, thầy nhớ là dạy em hồi lớp ba. Bây giờ em làm gì rồi? 
– Em cũng đi dạy học. Chính thầy có ảnh hưởng sâu sắc đến em, nên em cũng muốn đi dạy những em nhỏ. 
– Vậy sao? Cho phép tôi tò mò một chút, ảnh hưởng của tôi thể hiện ở việc nào? 
– Thầy thực sự không nhớ gì sao? Thầy cho phép em nhắc lại chuyện cũ nhé. 
Có lần, một bạn học đến lớp đeo một chiếc đồng hồ rất đẹp được bố mẹ tặng. 
Bạn ấy tháo ra và đặt nó vào ngăn bàn. 
Em luôn mơ ước có một chiếc đồng hồ như thế. Em đã không kiềm chế được lòng tham và quyết định lấy chiếc đồng hồ đó từ ngăn bàn của bạn ấy. 
Một lúc sau, bạn ấy đến chỗ thầy, vừa khóc và vừa than bị mất đồ. 
Thầy nhìn khắp cả lớp một lượt rồi nói: “Ai đã lấy chiếc đồng hồ của bạn, xin hãy mang trả cho bạn ấy”.

Em rất xấu hổ, nhưng em không muốn bỏ chiếc đồng hồ ra, do vậy em đã không nhận lỗi. 
Thầy đi ra đóng cửa lớp lại và ra lệnh cho tất cả học sinh nam đứng dọc bờ tường. Thầy báo trước: “Thầy sẽ khám túi tất cả các em với một điều kiện: tất cả phải nhắm mắt lại”. 
Chúng em nghe lời thầy, và em cảm thấy, đó chính là khoảnh khắc đáng xấu hổ nhất trong thời thơ ấu của mình. 
ắ
Thầy đi từ đứa này đến đứa khác, sờ từ túi quần này sang túi quần khác. 
Khi rút chiếc đồng hồ ra khỏi túi quần của em, thầy vẫn tiếp tục đi đến đứa học trò cuối cùng. 
Sau đó, thầy nói: “Các em, tất cả đã xong. Các em có thể mở mắt ra và đi về bàn của mình”. 
Thầy đưa trả lại chiếc đồng hồ cho bạn ấy và không bao giờ nói một lời về sự việc đó. 

Ngày hôm đó, như vậy là thầy đã cứu vãn danh dự và tâm hồn em. 
Thầy đã không tố giác em là kẻ cắp, kẻ lừa dối, là đứa vô tích sự.
Thầy cũng không cần nói chuyện với em về sự việc đó. Mãi sau này, em mới hiểu tại sao. 

Bởi vì, thầy là người thầy chân chính, nên thầy không muốn làm hoen ố phẩm cách một đứa trẻ chưa trưởng thành. Bởi vậy, em đã trở thành thầy giáo như thầy. 

Cả hai cùng im lặng, bồi hồi nhớ lại chuyện xưa. Sau đó, thầy giáo trẻ hỏi:
– Chẳng lẽ hôm nay nhìn thấy em, thầy không nhớ đến chuyện này? 
Ông giáo già trả lời:

– Vấn đề là, khi thầy soát túi quần các Em thầy cũng NHẮM MẮT!

From: KimBằng Nguyễn

Từ bò đỏ đến bò túc cầu

Từ bò đỏ đến bò túc cầu

Bởi AdminTD

Đỗ Ngà

17-6-2021

Khi mà não con người không biết phân biệt phải trái, không biết thế nào là chừng mực, không xác định điều gì nên nói và gì không nên nói, thì thành phần này chỉ được sử dụng như là một thứ công cụ cho kẻ xấu. Với loại người này, chỉ cần xây dựng thần tượng cho họ thì suỵt đâu thì chúng bổ nhào vào đấy mà tấn công, mà cắn xé.

Dư luận viên thuộc vào thành phần như thế. Không thể nói dư luận viên là thành phần thất học, thậm chí chúng còn là kẻ có trình độ đại học nữa là khác. Thế mới thấy giáo dục XHCN nó tai hại như thế nào.

Đã là sản phẩm của nền giáo dục thì tất nhiên sẽ chiếm số đông trong xã hội. Đảng Cộng sản đang sử dụng hàng vạn dư luận viên để suỵt cho chúng cắn càn những người chỉ trích chế độ, tưởng như đó số lượng rất lớn, nhưng không, đó chỉ mới là một số lượng nhỏ mà chính quyền CS đã tuyển dụng từ một xã hội với đầy rẫy thành phần như thế.

Dư luận viên được xã hội “tặng” cho danh xưng rất đúng, đó là từ “Bò đỏ”. Từ “Bò đỏ” có 2 phần, phần “bò” và phần “đỏ”. Phần “bò” chính là cái nền, đó là thành phần không biết phân biệt phải trái, không biết thế nào là chừng mực, không xác định điều gì nên và không nên làm. Còn phần “Đỏ” chính là đối tượng bò sùng bái. Từ “đỏ” là ám chỉ bò ấy sùng bái ĐCS. Như vậy thành phần “bò đỏ” được xây dựng trên nền “bò” rất phong phú của xã hội Việt Nam. Nếu xây dựng cho nó thần tượng gì thì nó sẽ biến thành loại bò đó.

Ở Việt Nam, Vingroup cũng xây dựng nên lực lượng “Bò Vin” dựa trên nền tảng “bò” như thế. Bò đỏ hay Bò vin chỉ khác nhau về thần tượng, đỏ có thần tượng là ĐCS còn Vin có thần tượng là Vingroup. Ở Việt Nam, chỉ cần dùng truyền thông xây dựng cho họ một thần tượng thì thần tượng đó sẽ có một lượng bò ủng hộ. Chúng rất hung hăng và không có khả năng phân biệt phải trái. Nói chung là nguồn bò ở xã hội này rất đông.

Chưa có nước nào như Việt Nam, khi cổ vũ bóng đá thì trên khán đài có mang theo hình lãnh tụ, mặc dù nhân vật Hồ Chí Minh chỉ là một người làm chính trị không liên quan gì đến bóng đá. Đã là “bò” thì không phân biệt phải trái, không phân biệt được những gì nên và không nên, nên mới có chuyện nực cười như vậy.

Với người biết suy nghĩ, ắt phải cảm thấy rất nhục nhã vì đất nước Việt Nam xuất hiện “bò” khắp nơi, trong khi đó cả thế giới không thấy ai làm chuyện “ngu như bò” như thế thì Việt Nam đầy rẫy. Khán đài sân vận động có đội tuyển Việt Nam thi đấu nhan nhản bò. Thành phần mang ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh cổ vũ bóng đá là loại “bò lai”, nó vừa là “bò túc cầu” vừa là “bò Hồ”.

Sau trận cầu giữa UAE và Việt Nam hôm tối ngày 15/6 thì ngay sau đó facebook của trọng tài người Iraq Ali Sabah Al-Qaisi bị các Cổ động viên Việt Nam tấn công dữ dội với những lời lẽ vô văn hóa. Cổ động viên thì nước nào cũng có, còn loại cổ động viên “đầu bò” như Việt Nam thì chắc không nước nào nhiều như Việt Nam. Loại cổ động viên tấn công trọng tài như thế chính là loại “Bò túc cầu”, chắc là trong đó không ít là loại bò lai, nó lai giữa “bò túc cầu” và “bò đỏ”.

Hãy để ý, trên khán đài sân vận động mà cổ động viên hát nhạc ca tụng lãnh tụ (Như có Bác hồ trong ngày vui đại thắng… chẳng hạn), hay đem ảnh lãnh tụ cổ vũ thì thừa biết đất nước đó nguồn “bò” nhiều vô số kể. Vì vậy việc cả đàn kéo nhau húc trọng tài trên không gian mạng thì cũng chẳng có gì ngạc nhiên.

Nói thật, nhìn thấy hình ảnh lãnh tụ trên khán đài sân vận động bóng đá thì tôi cảm thấy nhục hơn là tự hào. Nhục vì cũng là một đất nước như bao đất khác nhưng sao Việt Nam lại sinh ra nhiều “bò” đến thế? Vậy bao giờ đất nước này mới văn minh được đây? Nghĩ mà chán!

Đến một lúc nào đó…

 May be an image of body of water and nature

Chau Nguyen Thi

Đến một lúc nào đó…

* Con người ta hình như đến một lúc nào đó sẽ ngộ ra rằng cuộc đời thật ra chẳng có gì quan trọng. Cuối cùng rồi như nhau cả. Bạn có thể có một cuộc đời sung sướng, hạnh phúc hay bạn đã phải lầm than, nghèo túng, khổ đau. Cuối con đường có khác gì nhau đâu. Lúc xuôi tay, quân vương hay kẻ cơ hàn đều là sự giã biệt. Có thể có kẻ sẽ có tiền hô hậu ủng, kèn trống vang trời. Có người bó trong chiếc chiếc chiếu rách đi giữa mưa rơi. Nhưng cả hai đều chẳng còn biết gì, tất cả đều đang làm cho người sống. Đến một tuổi nào đó, người ta sẽ nghiệm thấy rằng cuộc đời chỉ là con số không to tướng. Sinh ra, lớn lên, già đi rồi mất hút. Mọi thứ danh vọng chỉ là trò hư ảo. Mọi thứ của cải làm ra cũng chỉ là thứ phù phiếm có rồi mất. Mọi thứ hoan lạc hay khổ ải cũng chỉ là gia vị của cuộc đời. Sinh ra thì phải sống, phải chiến đấu để tồn tại, phải khát vọng để vươn lên. Thế rồi, khi tuổi già đã tới, những bi kịch của tàn phai tác động đến mỗi người, sẽ thấy hoá ra mình đã bỏ cả tuổi thanh xuân để chạy theo toàn những thứ ảo vọng. Tranh dành nhau cái danh, lấn lướt nhau đoạt lợi. Được danh lợi rồi lại tham vọng nhiều hơn, lớn hơn. Cuối cùng cũng chỉ là một cuộc chơi, để rồi trắng tay lúc trở về cát bụi.

* Đến một thời điểm nào đó của cuộc sống, nhìn lại đoạn đường ta đã đi, ta phát hiện ta chỉ để lại lắm điều lầm lỗi. Lầm lỗi với cha mẹ, với những người thân yêu. Lầm lỗi với bạn bè, với xã hội. Lầm lỗi với những người ta đã gặp, những người đã đi qua đời ta. Tất cả đều do cái tôi quá lớn của mỗi người. Không biết quên mình mà chỉ sống cho mình. Do vậy, những suy nghĩ và hành động ích kỷ cứ mãi quẩn quanh để đưa đến lỗi lầm.

 *Sống đến tuổi nào đó, người ta mới hiểu được rằng tự thắng được mình mới là điều quan trọng. Tuổi trẻ háo thắng chỉ chăm chăm thắng người, hơn người. Cảm thấy tự mãn và sung sướng trong thắng lợi. Có biết đâu rằng cái thắng lợi mình có là cái thất bại và đớn đau cho người khác. Đâu có biết rằng chính cái thắng lợi ấy là chiếc bẫy tiếp theo của cuộc đời mình. Trong mọi hoàn cảnh, tự thắng chính mình là điều khó nhất. Làm được điều đó là ta đã có thể tự hào.

 *Đến một lúc nào đó, người ta mới hiểu được rằng lắng nghe mới là điều cần thiết. Biết lắng nghe là biết thu thập cả thế giới cho riêng mình. Biết lắng nghe thì mới phân biệt được phải trái phân minh. Biết lắng nghe thì mới có sẻ chia. Muốn lắng nghe thì phải học im lặng. Con người ta chỉ mất vài năm để học nói, nhưng mất cả đời để học im lặng. Im lặng để lắng nghe. Không chỉ lắng nghe ngôn ngữ của con người, ta phải tập lắng nghe tiếng của thiên nhiên, tiếng của cỏ cây, giun dế, của gió, của nắng, của mưa bão. Tiếng sóng vỗ, tiếng chim kêu đều mang lại cho ta những cảm xúc của cuộc đời. Thiếu chúng nó, cuộc đời chỉ là khoảng trống vô vị.

* Tới một tuổi nào đó, con người nên đến với thế nhân bằng những nụ cười. Hãy cười với nhau bằng tâm hồn mở tất cả các cửa, với tấm lòng thân thiện. Hãy chào nhau dù chỉ gặp một lần vì biết đâu ngày mai không còn cơ hội để gặp, không còn dịp để gởi nhau nụ cười. Sinh tử là ranh giới mỏng manh. Đời vốn vô thường. Già sẽ đưa đến tật bệnh, bệnh làm cho người ta héo úa, đau đớn khó chịu. Nếu lạc quan và trang bị nụ cười với mọi người, nỗi đau sẽ giảm đi, héo úa sẽ bớt đi, nụ cười chính là son phấn trang điểm cho tuổi già.

* Đến một tuổi nào đó, con người sẽ hiểu được rằng điều cơ bản của con người là sự cô đơn. Con người sinh ra một mình và mất đi cũng chỉ một mình. Không ai sống thay ta và cũng chẳng ai chết thay ta. Gia đình, chồng vợ, con cái, bạn bè đều là người thân đấy, nhưng mỗi người có một cuộc sống, mỗi người có mỗi số phận và định mệnh riêng. Do vậy, mỗi người phải tự quyết định đời mình, không chờ đợi một ai có thể thay mình. Trong hành trình sống, con người là một thực thể cô độc, không ai hoán đổi được. Tới tuổi già chính là lúc gặm nhấm nỗi cô đơn nhiều nhất.

*Tới một lúc nào đó, người ta hiểu được sống là để làm cho đủ bốn bổn phận đối với cuộc đời. Bổn phận với quá khứ là trả hiếu với mẹ cha. Bổn phận với tương lai là nuôi dạy con cái. Bổn phận với cuộc sống là giúp đỡ kẻ hoạn nạn, yêu thương mọi người và cuối cùng là bổn phận lấp đầy đời mình bằng tiêu pha, sinh hoạt hàng ngày. Con người làm ra tiền dù ít hay nhiều cũng chỉ quẩn quanh từng đó bổn phận. Có kẻ làm không đủ thì là thiếu trách nhiệm. Thế cho nên làm người là làm tròn bổn phận. Tới tuổi già, làm xong bổn phận ta có thể ung dung để hưởng những ngày còn lại trong sự thanh thản.

* Đến một lúc nào đó người ta sẽ có những nuối tiếc. Tiếc vì chưa làm được những điều muốn làm, chưa đến được những nơi muốn đến. Quỹ thời gian không còn, chuyến tàu sầm sập đến hoàng hôn. Chợt giật mình thời gian quá ngắn. Bởi thế nên muốn làm gì thì làm ngay, muốn đi đâu thì đừng lần lửa. Có ước muốn thì hãy thực hiện. Nếu tha thứ được thì nên tha thứ, nếu quên được thì nên quên. Sống tập quên cái cần quên cũng là một thứ thuốc chữa tâm hồn. Nhớ nhiều chỉ vác nặng. Sống mà mang nặng quá chỉ khổ thân.

 S.T.

THIÊN CHÚA HIỆN DIỆN

 THIÊN CHÚA HIỆN DIỆN

  TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Thiên Chúa có hiện hữu không?  Nếu có, tại sao Ngài dửng dưng với nỗi thống khổ của con người?  Đó là câu hỏi nhiều người thường đặt ra, khi đối diện với đau khổ thử thách trong cuộc đời.  Không dễ đưa ra một câu trả lời cho câu hỏi trên.  Đau khổ là một thực tại gắn liền với cuộc sống con người.  Dù cao sang giàu có đến mấy, con người ta không tránh khỏi đau khổ.  Nếu thoát khỏi đau khổ do thiếu thốn vật chất, thì lại vướng vào đau khổ về tinh thần.  Lời Chúa hôm nay khẳng định với chúng ta: Thiên Chúa luôn hiện diện giữa con người và Ngài sẽ ra tay cứu giúp họ vào lúc Ngài muốn.

Chúng ta còn nhớ rõ buổi chiều ngày 27-3-2020, khi đại dịch Covid-19 đang lên đến đỉnh điểm tại châu Âu và châu Mỹ, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chủ sự một buổi cầu nguyện chưa từng có trong lịch sử.  Tại quảng trường thánh Phêrô, trong thời tiết mưa và lạnh của Rôma, chỉ mình Đức Thánh Cha với mấy người phụ tá hiện diện.  Đức Thánh Cha đã cùng với cả thế giới Công giáo cầu nguyện cho đại dịch chấm dứt.  Một buổi cầu nguyện đầy cảm xúc.  Trong giờ cầu nguyện này, Bài Tin mừng theo Thánh Máccô được đọc lên để diễn tả bối cảnh thế giới.  Đức Giêsu ở trên thuyền với các môn đệ.  Bão ập đến.  Chúa đang ngủ.  Các môn đệ kinh hãi kêu với Chúa: chúng con chết mất!  Chúa Giêsu đã dẹp yên bão tố bằng một lời ra lệnh.  Biển trở lại an bình.  Diễn giải Lời Chúa, Đức Thánh Cha trấn an chúng ta: Chúa Giêsu vẫn đang hiện diện với nhân loại đang gánh chịu đại họa do dịch bệnh.  Như Người ở trên cùng một chiếc thuyền với các môn đệ, nay Chúa cũng đang hiện diện giữa chúng ta.  Sau khi truyền lệnh cho sóng gió và biển yên lặng, Chúa quở trách các môn đệ: “Sao nhát thế! Anh em vẫn chưa có lòng tin sao?”  Từ bài Tin Mừng, Đức Thánh Cha mời gọi thế giới hãy tin tưởng vào Chúa, hãy liên đới với nhau trong lúc hoạn nạn và chắc chắn Chúa sẽ giải cứu chúng ta.

Trong truyền thống của một số nền văn hoá cổ xưa, biển là quyền lực của sự dữ.  Biển cũng như một quái vật, nuốt chửng vào lòng những nạn nhân bị đắm tàu thuyền hay đuối nước.  Qua mạc khải của Thánh Kinh, Thiên Chúa quyền năng thống trị biển.  Ngài ra lệnh cho chúng và chúng phải vâng phục.  Điều này được thể hiện trong Bài đọc thứ nhất trích sách ông Gióp: “Ta phán: ngươi chỉ tới đây thôi, chứ không được tiến xa hơn nữa.”  Thiên Chúa cũng điều khiển mọi thế lực hùng mạnh mà con người thường tôn thờ như các thần linh.  Thánh vịnh 106 được chọn làm Đáp ca trong thánh lễ cũng diễn tả ý tưởng này.  Nội dung Thánh vịnh làm cho ta liên tưởng tới câu chuyện ngôn sứ Giôna: ông đi tàu thuỷ sang một hướng khác để trốn khỏi lệnh truyền của Chúa sai ông đi Ninivê.  Bão tố đã nổi lên và biển chỉ yên lặng khi thuỷ thủ ném ông Giôna xuống biển.  Qua sự kiện này, quyền năng của Thiên Chúa thể hiện, khiến người ngoại tôn vinh và thờ lạy Ngài.

Đại dịch Covid-19 đã hoành hành thế giới từ 2 năm nay. Đại dịch ấy chắc chắn sẽ kết thúc, nhờ nỗ lực cố gắng của con người.  Người tín hữu chúng ta tin rằng Thiên Chúa tác động qua các nhà chuyên môn để nghiên cứu ra những loại thuốc phòng chống và chữa trị dịch bệnh.  Dịch bệnh sẽ hết, cuộc sống của chúng ta vẫn tiếp tục và như thế sóng gió bão táp vẫn vây bủa cuộc sống của chúng ta.  Thực vậy, đời sống con người được sánh ví như một cuộc vượt biển.  Trong cuộc vượt biển này, có biết bao sóng gió thử thách vây bọc chúng ta.  Có những lúc chúng ta cảm thấy như Chúa vắng bóng trong cuộc đời, giống như các môn đệ kêu van với Chúa: “Thày ơi, chúng ta chết mất, Thầy chẳng lo gì sao?”  Khi kêu lên những lời đó, các ông nghĩ rằng Chúa đang ngủ và bỏ rơi các ông.  Tuy vậy, vào lúc các ông đang gặp gian nguy, Chúa đã can thiệp.  Biển trở lại an bình, và niềm vui cũng trở lai với mọi người.

Thiên Chúa không dửng dưng trước nỗi thống khổ của con người.  Bằng chứng là Ngài đã sai Con của Ngài là Đức Giêsu Kitô xuống thế làm người và chịu khổ hình vì chúng ta.  Phó thác cậy trông nơi Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh và mọi thử thách gian nan, đó là lời khuyên của Thánh Phaolô với giáo dân Côrinhtô.  Thánh Phaolô đã đạt tới sự viên mãn của Đức tin, khi khẳng định: “Từ đây, chúng tôi không còn biết một ai theo quan điểm loài người” (Bài đọc II).  Tin vào Chúa Giêsu là đoạn tuyệt với quá khứ, cũng là thay đổi quan niệm về Người, để nên giống Người trong suy nghĩ cũng như trong hành động hàng ngày. Đó là lý tưởng của đời sống Kitô hữu chúng ta.

 TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

Quốc gia không đọc sách (Phần 1)

Quốc gia không đọc sách (Phần 1)

Bởi  AdminTD

 Thái Hạo

15-6-2021

Không đọc sách là nói hơi quá, đúng hơn là “gần như không đọc sách”.

Một thống kê trên báo tuổi trẻ công bố năm 2019 cho biết, trung bình mỗi người Việt Nam chỉ đọc 0.8 quyển sách/năm, nghĩa là chưa tới 1 quyển. Đó là tính tất cả, cả sách giáo khoa, giáo trình.

Trên báo Pháp luật cung cấp một thông tin khác: Một cuộc khảo sát cho thấy 98% số người được hỏi không đọc sách tuần qua; 80% không đọc sách trong một năm qua; 70% cho biết chỉ học chứ không đọc. “Học chứ không đọc sách”, đây có lẽ là điều kỳ lạ nhất mà một cư dân ở vùng lãnh thổ khác có thể nghe thấy về xứ sở của ta.

Thực tế là người dân gần như không đọc sách. Nhưng, học sinh cũng không đọc; đáng sợ hơn, giáo viên cũng không mấy ai đọc sách. Trên báo Thanh Niên có bài “Sinh viên “quên” đọc sách”. Nghĩa là người Việt gần như không đọc sách! Quốc gia không đọc sách, chúng ta đang đứng trước nguy cơ vĩnh viễn bị bỏ lại phía sau về mọi mặt.

Facebook không thể thay cho sách. Vĩnh viễn không bao giờ thay được. Tuy nhiên, ngày nay người trưởng thành gần như không ai không dùng Facebook, mà dùng để đọc lại cũng chiếm một tỉ lệ quá nhỏ trong tổng số 60 triệu tài khoản đang hoạt động (đó là chưa nói tới việc “đọc cái gì”).

Có một điều chắc chắn, rằng không có cách gì có thể chấn hưng được dân tộc nếu tình trạng đọc sách như hiện tại vẫn còn duy trì, thậm chí có nguy cơ đi xuống (theo báo Tuổi trẻ, năm 2018 là 1.2 quyển/năm, đến 2019 trong một bài báo khác là 0.8 quyển/năm). Một tình trạng “sa mạc hóa” tinh thần đang hiện hình; chúng ta có thể phải chứng kiến một thời kỳ hoang dã mới ngay trong thế kỷ 21 này khi ngày càng xa lạ với văn minh nhân loại và các trải nghiệm tế vi mà chỉ có sách mới có thể chuyển tải được.

Tình trạng này trước hết là lỗi (tội) của bộ Giáo dục; nhưng lớn hơn là thuộc về cách quản trị và điều hành quốc gia của những cái “trên bộ”. Không tạo ra một động cơ đọc sách bằng cách kiến tạo những thang bậc giá trị chân chính để sách trở thành một nhu cầu tự nhiên. Khi mà xã hội chỉ còn biết chạy theo tiền và dùng đồng tiền làm thước đo cho tất cả thì sách trở nên vô duyên và thừa thải.

Hãy hình dung, một ông hiệu trưởng suốt hàng chục năm không hề đọc một cuốn sách, lúc ấy chúng ta sẽ hiểu cái thảm trạng của một trường học “được” lãnh đạo bởi những vị như thế. Mà bây giờ đa số “lãnh đạo” giáo dục gần như không đọc sách, họ đã quên từ lâu rồi. Nó là cơn ác mộng của giáo dục và của xã hội nói chung.

Các quan lại càng không đọc sách. Sách là thứ xa xỉ bậc nhất. Nghĩa là, đất nước đang được lãnh đạo bởi những người không đọc sách. Và nó sẽ đi về đâu thì chúng ta hoàn toàn có thể dự đoán được.