Thế là hết từ đây thôi ngạo nghễ…

 

Thế là hết từ đây thôi ngạo nghễ

Việt Nam này không dễ bị covy

Cột điện Mỹ nếu mà nó biết đi

Cũng vượt biên về Việt Nam có thể

Thế là hết từ đây thôi ngạo nghễ

Hết thật rồi phó thủ Vũ Đức Đam

Mới ngày nào anh nói thấy phát ham

Ta chống giỏi dịch cúm Tàu phải nể

Thế là hết từ đây thôi ngạo nghễ

Sự thật lột trần bộ mặt tan hoang

Dịch covy vây bủa khắp tràn lan

Mà đảng ta không cách nào chống đỡ

Thế là hết từ đây thôi ngạo nghễ

Hết thiệt rồi nhen anh Phúc, anh Đam

TRÊN ĐỜI KHÔNG CÓ BỮA ĂN NÀO LÀ MIỄN PHÍ

TRÊN ĐỜI KHÔNG CÓ BỮA ĂN NÀO LÀ MIỄN PHÍ

 Lời cha dặn dò con gái

Con gái của cha!

Một người không tốt với con, con không nên quá bận tâm. Trong cuộc sống của con, không ai phải có nghĩa vụ đối tốt với con trừ cha mẹ. Còn với những người tốt với con, con nên trân trọng và biết ơn điều đó. Nhưng con cũng cần phải có chút đề phòng bởi mỗi người khi làm bất cứ việc gì đều có mục đích riêng. Hãy nhớ, họ tốt với con không đồng nghĩa với việc họ phải quý mến con.

Không có ai là không thể thay thế, không có vật gì thuộc hoàn toàn sở hữu của con. Vì thế, nếu sau này người con yêu thương không còn ở bên, hay họ không còn là nơi con có thể đặt niềm tin, con cũng đừng bi lụy. Sinh mệnh con người thực sự ngắn ngủi, con đừng để mỗi ngày trôi đi vô ích. Người ta tham vọng sống lâu nhưng con chỉ cần sống hạnh phúc mỗi ngày. Hãy trân trong và yêu lấy cuộc sống hiện tại của con.

Trên đời này không có gì là nhất cả, tình yêu chỉ là cảm giác bất chợt đi qua cuộc đời con, nhưng nó sẽ theo thời gian và lòng người mà thay đổi. Nếu như người đó rời xa con, con hãy học cách chờ đợi. Hãy để thời gian rửa sạch vết thương, để tâm hồn con lắng lại rồi nỗi đau của con cũng sẽ dần biến mất. Con đừng mơ ước một tình yêu hoàn hảo, cũng đừng thổi phồng nỗi đau khi nó không còn.

Có những người thành đạt mà không cần trải qua nhiều trường lớp, nhưng điều đó không có nghĩa con thôi nỗ lực học tập. Kiến thức con học được chính là vũ khí con cần có, hãy nhớ người ta không thể làm gì nếu họ chỉ có tay không. Con không nhất thiết phải chăm sóc cha nửa cuộc đời còn lại và cha cũng thế. Khi trưởng thành, con có thể tự mình bước đi, trách nhiệm của cha cũng đã kết thúc. Sau này dù con hạnh phúc hay buồn đau, con đều phải tự mình lựa chọn và có trách nhiệm với nó.

Con có thể bắt mình phải giữ chữ tín, nhưng không thể yêu cầu người khác làm thế với mình. Con có thể yêu cầu bản thân phải đối đãi tốt với người, nhưng con không thể kỳ vọng người ta sẽ làm ngược lại. Khi con tốt với họ, họ không có nghĩa vụ phải tốt lại với con. Hãy nhớ điều này nếu không con sẽ luôn gặp ưu phiền trong cuộc sống.

Cha đã mua vé số trong 26 năm thế nhưng chưa một lần trúng, điều đó nói lên rằng muốn giàu có phải dựa vào nỗ lực làm việc của bản thân, trên đời này không có bữa ăn nào là miễn phí cả.

Chỉ những ai có duyên phận mới trở thành người thân của nhau, cho dù trong cuộc sống bận rộn con ít khi gặp mọi người, nhưng con hãy trân trọng từng khoảnh khắc khi còn bên họ, hãy dành cho họ thời gian để yêu thương con hơn, và hãy gọi điện cho mẹ con

Têrêsa Ngọc Nga (st)

From: KimBang Nguyen

NỬA CUỐN SÁCH CUỘI

Rất hay, nên đọc và suy nghĩ

Ông Tràm Cà Mau viết truyện này hay đến đọc xong nhập tâm tin rằng cội nguồn cộng sản là do “Nửa cuốn sách cuội”.

NỬA CUỐN SÁCH CUỘI

Tâm là một thanh niên mới lớn.  Trong đầu anh ngùn ngụt lý tưởng cao đẹp. Anh thèm khát lý tưởng, mà không biết lý tưởng ở nơi đâu, lý tưởng là cái gì.  Bấy giờ là đầu thập niên 60 tại miền Nam Việt Nam, đời sống tương đối thanh bình, không hoàn toàn no ấm, nhưng cũng không đói khát.  Có tự do dân chủ phần nào, nhân dân không bị o ép ức chế qúa đáng.  Nhưng điều nầy ít người thấy được, nếu không biết so sánh với các chế độ độc tài tại các miền khác.

Vì lý tưởng nên cầu toàn. Tâm thấy chung quanh anh không có điều gì hoàn hảo cả.  Cái nào cũng có thiếu sót, sai trái, chưa vẹn toàn như anh mong mỏi. Bởi vậy, anh thấy bất mãn với chế độ, không bằng lòng với xã hội đang sống, muốn có sự thay đổi hoàn toàn, một cuộc cách mạng triệt để, may ra có được một xã hội lý tưởng mong muốn.

Khi đứng núi nầy, trông qua núi bên kia, thấy màu sắc long lanh tuyệt đẹp, tưởng núi bên kia rực rỡ thần tiên.  Y như Tâm đứng ở miền nam vĩ tuyến 17, ngóng về phía bắc, nghe bên kia vĩ tuyến đang xây dựng một xã hội tuyệt đối công bằng, không có người bóc lột người, không có chênh lệch giàu nghèo, mọi công dân đều được hưởng ấm no hạnh phúc.  Chỉ chừng đó thôi, cũng đã đủ hấp dẫn cái đầu óc cầu toàn lý tưởng của anh con trai mới lớn.  Bên dưới xã hội đó, còn được chiếu sáng bởi cái hào quang kháng chiến giành độc lập, đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi đất nước.  Tâm hoàn toàn không biết những sự thực của con người sống trong cái xã hội đó.  Anh cũng có đọc báo, có nghe thiên hạ nói về những điều vô cùng xấu xa đã và đang xảy ra  trong xã hội tại miền Bắc. Nhưng Tâm không tin, cho đó là những tuyên truyền ấu trỉ rẻ tiền, nói những điều quá đáng mà trẻ con  cũng không tin được. Hơn mười lăm năm sau, Tâm giật mình thấy sự thực còn tệ hơn nhiều lần những điều Tâm đã nghe được vào thời trước, mà tưởng là tuyên truyền lếu láo.

Tâm mơ ước được đi vào dòng cách mạng, đem tâm huyết, đem tuổi trẻ hiến dâng cho cái lý tưởng cao đẹp, phục vụ công bằng, bác ái, xây dựng đất nước cho được rạng rỡ hơn.

Tâm được một anh lớn tuổi hơn móc nối, đưa tài liệu kín cho Tâm đọc, đưa sách viết về triết lý cộng sản để Tâm nghiền ngẫm.  Càng đọc, càng thấm thía và Tâm muốn dấn thân ngay, càng sớm càng tốt.

Tâm đem lòng mình thổ lộ với An, một người bạn rất thân, để rủ rê An tham gia cùng hoạt động bí mật.  An khuyên Tâm nên để thì giờ học hành cho thành tài trước, và sau đó suy nghĩ chín chắn hơn, rồi chọn lựa và hành động.

An không thuyết phục được bạn, và biết rằng, khi tuổi trẻ say mê lý tưởng, thì còn hơn là say mê tình yêu. Yêu là mù quáng, không mù quáng thì không yêu. Kẻ say mê lý tưởng, còn mù quáng nhiều hơn. Thương bạn, An muốn Tâm đi thỉnh ý một bậc trưởng thượng, một người đã từng đi khắp năm châu bốn biển, đã lớn lên và sinh sống tại Nga Sô trước thời cách mạng 1917, và cả sau thời cách mạng, cho đến hết đệ nhị thế chiến.

 Đó là cụ Long, năm nay đã 95 tuổi, phiêu bạt sang Nga từ năm 1880, khi Việt Nam chưa bị Pháp hoàn toàn đô hộ.  Khi đó, cả hồ chí minh cũng chưa sinh.   Tâm cần gặp ông cụ Long, để biết nhiều hơn về cái lý thuyết và thực và tế của cái nôi cộng sản, xứ Nga Sô.

An hăng hái hướng dẫn Tâm đi.  Từ miền Trung lấy xe lửa về Nam, chuyển xe đò xuống miệt Long Xuyên, rồi chèo ghe nhỏ qua sông lạch, vào đến quận lỵ xa xôi vắng vẻ, đi bộ thêm vài cây số đường đất đến nhà ông cụ Long.

Tâm được dẫn vào bái kiến cụ Long, một ông già gầy gò,  ngồi co ro nửa thức nữa ngủ.  Râu cụ lưa thưa, tóc có nhiều cọng còn đen, hai hàm răng gần như nguyên vẹn, đóng bợn nâu vàng. Nhìn thấy dáng dấp bên ngoài của cụ, không có vẻ gì là tiên phong đạo cốt như Tâm đã vẽ vời trong trí, Tâm cũng hơi thất vọng trong lòng. Tự nhiên, niềm trân trọng trong lòng cũng hao hớt rất nhiều.  Cái náo nức đi tìm lời khuyên dạy vàng ngọc cũng nguội bớt đi.

Cụ kêu trẻ pha trà đãi khách, và mời ăn trái cây mới hái trong vườn. Tâm ngần ngại, định không bày tỏ cái tâm tình riêng tư của một kẻ tha thiết đi tìm chân lý cho cụ nghe. E rằng, chẳng đến đâu mà còn có thể bị hiểu lầm và di lụy về sau.

Nhưng Tâm cũng tò mò, muốn biết vài sự thực và chi tiết về những bước chân lãng tử giang hồ của cụ Long.  Trong một buổi mạn đàm uống trà, ăn bánh ngọt. Tâm do dự thưa:

“Cháu nghe nói cụ đã từng mòn gót chân lãng du khắp năm châu bốn biển.  Đã từng gặp gỡ và là bằng hữu của những nhân vật làm nên lịch sử hiện đại. Xin cụ vui lòng cho cháu biết cơ duyên nào đưa đẩy bước chân của cụ đi xa quê hương vạn dặm, đi ra xứ người trong một thời gian dài như vậy không?”

Cụ già hất tay lắc đầu nói:

“Thôi, thôi, đừng nhắc những chuyện xa xôi đó nữa, không ích lợi gì, thêm bận lòng già.  Nay ta cũng đã gần trăm tuổi, thời gian còn thấy bóng mặt trời không lâu nữa. Ta muốn vùi chôn quá khứ.  Nhiều lúc ta cũng mãi ân hận không nguôi, có lẽ ta cũng đã góp phần không ít, làm đau khổ di lụy đến hàng trăm triệu sinh linh trên thế giới nầy”.”

Tâm nghĩ ông già đã lẫn, nói chuyện mê sảng trong mơ.  Con người tầm thường như ông, làm sao mà di lụy đến hàng trăm sinh linh được.  Tâm nói:

“Thưa cụ, làm sao mà cụ lại lưu lạc trôi dạt qua tận nước Nga xa xôi lạnh lẽo đó. Khi ra khỏi nước, cụ đã bao nhiêu tuổi. Ở bên Nga, cụ đã làm gì?,

Im lặng một lát như không muốn thổ lộ tâm sự.  Nhưng rồi cụ cũng bắt đầu  tâm sự.

Cụ Long nhìn Tâm với ánh mắt thương xót mà nói:

“Tôi nghe cháu An nói anh đang đi tìm lý tưởng, và muốn chết cho lý tưởng anh đang tôn thờ.  Đáng ra tôi không nói, nhưng phảỉ nói để anh biết, và sáng suốt hơn, khỏi đi lạc đường, nguy hiểm lắm.

Tôi ra khỏi nước do một sự tình cờ.  Nguyên ông cụ thân sinh tôi làm quan võ dưới triều vua Tự Đức, bị hàm oan phải bỏ xứ ra đi. Khi đó tôi vừa 15 tuổi, nhưng đã làu thông kinh sử, đang chuẩn bị về kinh đô tham dự kỳ thi hội. Sợ bị bắt tội, ông cụ tôi hốt cả kho đụn công khố, lấy tiền vàng trả cho chủ tàu Hòa Lan, đem vợ con đi ra khỏi xứ, chưa biết đi đến đâu.  

Trên tàu, nhờ có võ nghệ, ông cụ tôi đã khóa tay, và giựt được con dao của một người say rượu, cứu mạng và bảo vệ  cho một thương gia người Nga khỏi bị thương tích.  

Ông nầy có cơ sở kinh doanh tại thành phố Saint Petersburg.  Vị thương gia người Nga nầy đề nghị cho cụ tôi hợp tác kinh doanh, trông nom một cửa hàng bách hoá tại thành phố nầy.

  Nhờ có đem theo nhiều vàng ngọc, của cải nên chẳng bao lâu, ông cụ tôi đã làm chủ riêng được  một cơ sở kinh doanh tại Kazan.  Cụ làm ăn rất mau phát đạt nhờ cần cù, chăm chỉ, lương thiện, nên có được uy tín.  

Sau đó, bắt chước đám Do Thái, mở thêm tiệm cho vay, cầm đồ.  Dân nghèo địa phương kháo nhau về nơi cho vay không cắt cổ quá đáng, không bóc lột như các nơi khác. 

Chính nơi đây, nhiều nhà cách mạng Nga khi còn hàn vi đói rách, đã là thân chủ trung thành của tiệm cầm đồ, hoặc vay non tiền lương để vợ con bớt nheo nhóc, dài cổ trông chờ bánh mì hẩm nguội. Cũng tại đây, mà tôi quen ông Vladimir Ulianov, tức ông Lê Nin. 

 Một hôm ông  đến cầm đồ, và nhận ra tôi là bạn chung trường tại đại học Kazan, học trên ông hai lớp ở phân khoa Luật học.  Dạo đó vào khoảng năm 1887, khi đó tôi đã 22 tuổi, và ở nước Nga đã được bảy năm. 

 Khi đã nhận ra bạn chung trường, tôi thường cho ông nầy mượn chút tiền lẻ, mà ít khi thấy ông trả lại sòng phẳng.  Nhưng tôi không cần đòi nợ, vì tiền do cha mẹ làm ra, không phải là mồ hôi nước mắt của riêng mình nên không tiếc. 

 Bẵng đi một thời gian chừng hơn một năm, tôi mới gặp lại ông  Vladimir nầy, trông bộ gầy gò xơ xác.  Ông cho biết đã bị đuổi học, và bị phát lưu đến Kokushino.  Ông hỏi mượn tiền, và đưa một cuốn sách cũ nát làm của thế chấp. 

 Được biết cuốn sách nầy là vật gia bảo truyền đời từ hơn nhiều ngàn năm. Không biết ông nầy có thấy tôi là người sang nên bắt quàng làm họ hay không.  Ông nói rằng, tổ tiên bốn đời trước của ông cũng là người An-Nam, họ phò tá một vị vua mất ngôi chạy sang Tàu.  Mưu sự không thành,  rồi trôi dạt lên miền Ngoại Mông, Tây Bá Lợi Á, cuối cùng qua Nga lập nghiệp, lấy vợ bản xứ, sinh sản con cái. Ông Vladimir cho biết tên An Nam của ông là Lê Nin.  

Tổ tiên nguyên họ khác, nhưng vì có công giúp vua Lê Lợi khởi nghĩa, nên được đặc ân đổi thành họ Lê. Tôi nghĩ là ông nầy túng bấn, muốn mượn tiền, nên bày đặt câu chuyện làm quà mua vui. Nhưng có điều khó hiểu, là làm sao ông nầy biết được một phần của lịch sử nước Nam mình mà nói như thật. Khi mở lớp da bao bên ngoài cuốn sách thì tôi giật mình vì thấy mấy dòng chữ Nôm ghi: 

‘Đừng mở và đọc tập sách nầy, vì có thể gây đại họa cho bách tính’. 

Bên trên cuốn sách, cũng có một câu phiên dịch bằng tiếng Nga, với ý nghĩa tương tự.  Sau nầy truy cứu, tôi mới biết đây là nửa cuốn sách còn lại của ông Cuội trong truyện cổ tích, khi bà vợ Cuội đem sách nói dối ra đốt.  Ông Cuội về kịp dập tắt, còn lại nửa cuốn.

Tôi bằng lòng cho ông Vladimir mượn tiền, nhưng không giữ cuốn sách lại.  Thấy tôi đọc được phần chữ Nôm bên ngoài, ông Vladimir hớn hở muốn biết nội dung của cuốn sách gia bảo truyền đời.

 Tôi cũng tò mò, giở ra xem, thì thấy sách nguyên thủy viết bằng loại chữ loăng quăng như giun bò, nhưng bên cạnh có chua bằng chữ Nôm, chữ li ti rất nhỏ. Có nơi nét  đã nhòe, nếu không vững về Hán tự, thì khó mà đọc được. 

Tôi phiên dịch cho ông nghe vài đọan, ông thích thú la hoảng lên như bắt được vàng. Thế là từ đó, ông cứ quấy rầy tôi mãi, đến nhờ tôi phiên dịch từng trang, và cẩn thận trân trọng ghi chú vào cuốn sách riêng của ông. 

Tôi cũng khá bực mình, vì nội dung cuốn sách toàn những mánh khóe nói dối, lừa gạt, gian xảo. Thế mà ông Lê Nin mê say như tìm được chân lý chói lòa. 

Bây giờ tôi cứ gọi ông Lê cho tiện, không Vladimir, Vladi-miếc gì nữa.  Tôi cũng tức cười vì cái câu ghi ngoài cuốn sách, mánh khóe nói dối bịp thiên hạ, thì làm sao mà gây đại họa cho bách tính được?

Ông Lê nầy khá thông minh và láu lỉnh, là một người đầy tham vọng, mưu mô. Vì bị đuổi học, ông mượn tôi mớ sách vở, tài liệu cũ của trường Luật mà tự học, và nhờ tôi cho đề thi cũ, nhiều đề đã làm sẵn như bài tủ, mà thi đậu như thí sinh tự do.

Khi tôi chuyển về Saint Petersburg làm việc cho một văn phòng luật sư, thì ông Lê xin đi theo. Tôi cho ông làm phụ tá pháp lý. Chuyên thu thập tài liệu, tin tức lặt vặt, như đánh ghen, tranh chấp hàng rào, đất đai, của cải nho nhỏ, mà ngày nay báo chí thường gọi là tin xe cán chó.

Lúc nầy, tôi có một người bạn gái đeo riết mà gỡ không ra, đó là nàng Na-Đê. Cô ta hiền lành, dễ thương và rất lý tưởng. Dù tôi đã có vợ và hai con, nhưng cũng không gỡ ra được mối oan tình nầy. May mắn cho tôi, ông Lê thầm yêu cô nầy mê mệt. Chúng tôi thường cùng uống cà phê bên vỉa hè và kháo chuyện trời đất.  Tôi tìm cách gán cô Na Đê qua cho ông Lê, và hai người dính nhau. Tôi thường mời cả hai đi ăn chung, và giúp đỡ tiền bạc, tài chánh cho họ.

Khoảng cuối năm 1895 ông Lê lại bị bắt, và sau đó bị đưa đi đày tận miền đông bắc buốt giá của nước Nga.  Sau ba năm đi đày về, ông Lê viết được nhiều cuốn sách, đem cho tôi xem thử. Đọc xong, tôi ngẩn ngơ, vì nội dung sách ông viết, bàng bạc ý tưởng trong nửa cuốn sách Cuội mà tôi đã dịch cho ông ghi lại.  Tôi bảo ông nên  đem đốt hết đi, đừng nên phổ biến những tư tưởng dóc lác nầy, làm hư cái chân thiện của loài người.  Ông không giận tôi, mà còn cười, cái cười đểu lắm.  Bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in cái nụ cười đểu giả đó.

Tôi vẫn ngấm ngầm giúp đỡ tài chánh cho hai vợ chồng ông. Dù sao, bà Lê cũng là bạn cũ thân thiết của tôi. Sau nầy, ông viết thêm được nhiều tập sách khác nữa. Nội dung cũng không ra ngoài nửa cuốn sách Cuội mà ông có. 

 Nghĩa là bịp, bịp bợm. Ông bẻ cong một triết lý tào lao, không tưởng, ác độc khác, và nhuần nhuyễn kết hợp với tư tưởng ông Cuội để làm căn bản cho những sách của ông viết, và những điều ông nói.

Tôi làm ăn càng ngày càng khấm khá. Ông Lê cứ bị truy lùng, và phiêu dạt nay đây, mai đó, khi ra ngoại quốc, khi lẻn về nước Nga. Tôi thường an ủi bà Na-Đê, vợ ông, vì số  phận hẩm hiu.

Thế giới chiến tranh lần thứ nhất bùng nổ, tình hình nước Nga dạo nầy rối ren khủng khiếp. Thực phẩm khan hiếm, đã lạnh mà còn đói nữa, thì khổ lắm. Lòng dân như một cái nồi nước sôi bí hơi căng cứng, chờ dịp bùng nổ. 

Ông Lê biết vậy, và nói với tôi rằng, cứ la toáng lên, hứa hẹn đại rằng, sẽ có công ăn việc làm, có cơm ăn, áo mặc, công bằng.  Có đủ thứ, thì thợ thuyền, dân nghèo ùn ùn chạy theo. Thanh niên mới lớn, lòng đầy lý tưởng bác ái, nhân đạo, nghe được những điều đó, thì mê tơi củ kiệu.

 Có chết cho lý tưởng, cũng hãnh diện, cam lòng. Nhiều người cho tôi biết rằng, nước Đức đã chi tiền, đưa ông Lê về để quấy động làm suy yếu nước Nga. Ông Lê cũng biết vậy, nhưng cơ hội đến, thì cứ nắm bắt và lợi dụng.

Thỉnh thoảng ông Lê cũng có mời tôi tham gia các buổi họp kín trong nội bộ của đảng ông.  Ông muốn quyến dụ tôi.  Tôi đi họp vì tò mò, chứ tôi vốn không ưa chuyện chính trị. Có lẽ vì tôi chịu chi tiền, mua bánh trái, trà nước cho các buổi họp thêm phần hấp dẫn, và có lẽ nhờ có ăn uống chút chút, mà thu hút được đông đảo người đi họp hơn. Sau buổi họp, tôi thường đi uống cà phê với họ. 

Do đó, mà tôi quen biết nhiều với các tay gộc trong nhóm cầm quyền nước Nga sau nầy. Các tay gộc nầy, sau khi nắm được chính quyền, xâu xé tranh giành nhau dữ dội. Đa số bị giết chết vì nội bộ thanh toán, một số nhỏ chạy thoát ra ngọai quốc ẩn mình, thế mà cũng bị truy lùng tận diệt.

Sau khi hoàng gia Nga bị xử bắn, và ông Lê nắm được chính quyền và lên làm lãnh tụ, ông cho thanh toán và khủng bố dữ dội. Nước Nga bao trùm trong sợ hãi.  Tịch thu tài sản của người giàu. Nhà cửa bị sung công cho dân nghèo chia nhau trú ngụ.

 Bọn đồ điếu tha hồ tung hoành, tác oai tác quái.  Trí thức bị trù dập, bắt bớ, tù đày.  Nạn đói còn khủng khiếp hơn trước thời chiến tranh. Sau đó, lương thực được phân phối theo khẩu phần, thành ra ai cũng đói cả.

Trong lúc cả nước đều khốn khó, vì đói khát, khủng bố, lo lắng, bắt bớ, tù đày, thì gia đình tôi vẫn sung túc, nguyên vẹn, nhà cửa không bị tịch thu, trưng dụng, của cải không hề bị đụng chạm mảy may. Bởi tôi đã có quen biết, ân nghĩa nhiều với các Ủy Viên trong toàn Bộ Chính Trị đang cầm quyền.  Có mấy ông đảng ủy địa phương không biết cái thế của tôi, đòi tịch thu nhà cửa, của cải, tài sản. Mấy ông nầy đều bị bắt, và đưa đi đày ở miền Tây Bá Lợi Á cả.  Tôi không biết họ bị đi đày, tưởng đâu họ chỉ bị chuyển công tác qua vùng khác mà thôi.

Khi nước Nga chìm đắm trong sợ hãi, ngột ngạt, khủng bố trắng, khủng bố đen Một hôm tôi tìm gặp ông Lê, hai người nằm chung giường, gác chân lên nhau mà tâm sự chuyện đời đến khuya. 

Tôi nói cho ông biết tình hình thực sự trong xã hội, vì e rằng, ông ở chức vụ cao, nghe báo cáo sai lạc, không đi sát thực tế.  

Thì ra ông biết rõ hết.  Tôi hỏi ông, tại sao không đoàn kết toàn xã hội mà xây dựng đất nước.  Bày chi việc phân chia và đấu tranh giai cấp, lấy thợ thuyền làm chủ và lãnh đạo. 

Ông cười và bảo rằng tôi mới biết một, mà không biết hai. Vì thợ thuyền đa số đều ngu dốt, cho một chút quyền hành, thoả mãn cái thèm khát thấp hèn trong lòng họ, thì bảo gì, cũng nghe theo, nói gì cũng tin tưởng.  Hăng hái làm theo mệnh lệnh.  Có thế mới củng cố được địa vị của ông và đảng ông. 

Tôi hỏi ông về chính sách khủng bố, thanh toán, có nên chấm dứt sớm, để cho nhân dân bớt sợ hãi, bớt lo lắng mà yên lòng làm ăn không? 

Ông cười lớn, vỗ vai tôi, nói rằng, thế thì tôi chưa hiểu được cái ý nghĩa của mấy chữ “bạo lực cách mạng” do ông bày ra.  Phải khủng bố, và khủng bố nhiều hơn nữa, càng nhiều càng tốt, khủng bố cho đến khi dân chúng sợ hãi cực độ, hoàn toàn mềm nhũn ra, không còn một sức đối kháng nào, thì đảng ông, nhà nước ông và địa vị của ông thêm bền vững, chắc chắn. 

Tôi hỏi thêm, liệu các chính sách kinh tế, xã hội của ông có cơ may nào đem no ấm hạnh phúc cho dân chúng như ông đã từng hứa hẹn, lặp đi lặp lại thường ngày hay không?

 Ông nói rằng, hứa hẹn thì cứ hứa hẹn, dân chúng có ấm no hạnh phúc hay không thì mặc họ.  Dân càng đói, càng dễ trị.  Cứ nắm chặt cái bao tử dân, cho ăn lưng lửng bụng, thì mọi người đều khuất phục, vì họ sợ mất cái phần ăn ít ỏi kia đi, khổ lắm. 

Mình cứ hứa hẹn tương lai cho họ nghe sướng lỗ tai là đủ.  Chứ cho dân ăn no, thì cũng dễ sinh ra loạn lạc.  Tôi nghe mà buồn và thở dài. Ông nói rằng, lòng dạ tôi còn yếu đuối như đàn bà.  

Tôi hỏi thêm tại sao nhiều người bị thanh toán, bị đi đày oan ức tội nghiệp. 

Ông bảo, muốn được yên ổn, thì hy sinh chừng bấy nhiêu người, cũng chẳng đáng là bao. 

Tôi đem điều lo lắng nhất trong lòng ra tâm sự cùng ông, là nhiều năm qua, nhân tâm suy đồi lắm.  Con người cứ lấy dối trá ra mà cư xử nhau, nhà nước cũng nói toàn điều không thật.   Đó là điều nguy hại cho nhiều thế hệ mai sau. 

Ông Lê dậy bật đèn lên, lấy cuốn sổ tay cũ kỹ trên kệ, phất phất trước mặt tôi, và hỏi có nhớ cuốn nầy không?  Ông cười toe toét thỏa mãn lắm.  Tôi nhận ra đó là cuốn sách ghi lời dịch của tôi từ nửa cuốn sách Cuội.  Ông Lê nói lớn thêm rằng, ông sẽ thống trị thế giới nhờ cuốn sổ tay nầy.

Mấy năm sau, ông Lê  bị tai biến mạch máu não, nữa người tê liệt, nằm trên ghế dựa, thế mà vẫn hung hăng.  Bà vợ tận tâm, không quản ngại mệt nhọc, chăm sóc ngày đêm.  Ông vẫn đưa mệnh lệnh, vẫn thanh toán người này, cất nhắc người kia qua trung gian của ông Stalin.  Đáng ra trong tình trạng bệnh hoạn đó, con người phải biết cái lẽ sai đúng của trời đất mà tỉnh ngộ, thôi làm điều ác.  Tôi có đến thăm ông Lê mấy lần, ông nói ngọng, khó khăn, thế mà vẫn còn nhắc đến chuyện ngày xưa cùng đi đến chỗ yêu hoa, mắt ông rực sáng lên khoái trá.

Người ta xầm xì rằng, một hôm bà vợ ông Lê có công chuyện đi vắng.  Ông Stalin vào trình báo công việc, thấy ông Lê đang há hốc miệng nằm ngáy, cuốn sổ tay rơi nằm trên sàn nhà.  Ông Stalin mở ra xem, càng xem ông càng hớn hở.  Rồi động tâm cơ, ông Stalin dấu cuốn sổ vào túi áo vét, và lấy chiếc gối đè ghịt lên mặt ông Lê.  

Ông Lê vùng vẫy yếu ớt, dẫy dẫy chân tay, vãi phân, vãi tiểu ra cả quần mà băng hà. Đồng chí gái phục vụ thấy được, nhưng không dám nói ra vì sợ mất mạng.  

Dạo đó vào mùa xuân năm 1924, ông Lê được 54 tuổi, và tôi xấp xỉ tuổi sáu mươi. 

Ông Stalin chớp được bản dịch sơ luợc nữa cuốn sách Cuội từ ông Lê, và đem ra áp dụng triệt để.  Quyền hành càng vững chắc hơn bao giờ cả.  Ông phát huy tối đa lý thuyết Cuội, và đem truyền bá đi khắp năm châu bốn biển.  Nhiều tỉ người mê sảng trong dối gian, láo khoét mà rất nhiều khi chính ngay bản thân họ, cũng không biết là họ đang nói dối hay nói thật.

Bạn bè cũ của tôi trong Bộ Chính Trị, thuộc giới cầm quyền, bị thanh toán, bị hành quyết dần dần, ông nào trước khi chết cũng có bản tự khai, thú tội là phản cách mạng, là tay sai tư bản đế quốc.

 Dù tôi cũng có quen biết, có chút ân tình với ông Stalin, vì đã che dấu, cho ông trú ngụ, cơm ăn, áo mặc vào thời kỳ ông vừa vượt ngục trốn trại tù khổ sai từ Siberia về. 

Và cả về sau, khi ông còn vất vưởng không nhà, thỉnh thoảng cũng dúi cho một ít tiền còm mua bánh mì ăn qua bữa. Nhưng tôi cũng ngán và sợ tiếp xúc với ông.  Ông nầy như con thú ác hiểm. 

Ngay cả những vị trong Chính Trị Bộ được ông mời ăn cơm thân mật, buổi tối khi ra về, cũng hồi hộp không biết sẽ được về đâu, ra nghĩa địa hay đi đày Siberia, hay được thực sự về nhà với vợ con.  Chỉ khi đóng cửa nhà, mới hú hồn mừng rỡ.  Đó, tôi không ngại sao được. Tôi nghĩ, càng thu mình lại, càng lu mờ càng tốt.  Thời gian nầy, tôi rất muốn di cư ra khỏi nước Nga, mà sợ, không dám xin đi.

Một lần tình cờ gặp ông Stalin, tôi hỏi bao giờ thì nước Mỹ trở thành cộng sản.  

Ông lắc đầu nói rằng, không bao giờ cả, vì Mỹ mà thành cộng sản thì ai bán lúa mì cho chúng ta ăn.  Khi đó thì Mỹ cũng đói dài dài. 

Có lần gặp một uỷ viên trong bộ chính trị, tôi dò ý, muốn nhờ ông nầy vận động cho tôi được đi ra khỏi nước Nga.  Tôi thăm dò và hỏi ông tại sao có nhiều người muốn đi ra khỏi xứ nầy, và làm sao mà họ xin đi được, ai là cấp thẩm quyền chấp thuận cho họ được ra đi.  Ông trả lời rằng, những người không muốn sống trong xã hội chủ nghĩa nữa, thì cần gởi họ đi lao động ở miền Siberia cho họ biết giá trị của đời sống hiện nay. 

Ông nói rằng, trong xứ xã hội chủ nghĩa có bảy điều siêu việt, mà các xứ tư bản không thể có được. 

Thứ nhất, tất cả mọi công dân đều có công ăn việc làm. 

Thứ hai là có công ăn việc làm, nhưng ai cũng không cần làm  việc chi cả. 

 Thứ ba, dù không ai làm việc cả, nhưng tất cả mọi kế hoạch đều đạt được chỉ tiêu mỹ mãn. 

Thứ tư, dù mọi chỉ tiêu đều đạt, nhưng hàng hóa tiêu dùng vẫn thiếu hụt. 

Thứ năm, dù hàng hóa thiếu hụt nhưng mọi người vẫn có đủ mọi thứ. 

Thứ sáu, dù đã có đủ mọi thứ, mà tất cả mọi người đều cứ thuổng thêm của công.  

Thứ bảy, dù mọi ngưòi đều thuổng của công, nhưng không có  báo cáo bị mất gì cả. 

Ông ấy tiếp lời rằng, nếu không là xã hội chủ nghĩa, thì làm sao có được những điều ưu việt như thế (*).  Nghe được vậy, tôi cũng lặng người mà thôi.

Tôi cũng có gặp gỡ một số người Việt Nam đi qua Nga Sô để huấn luyện nghề cộng sản.  Tôi gọi là nghề, vì theo cộng sản là một cách kiếm ăn mà khỏi lao động cực nhọc. 

Những người nầy, họ có nghe đến tôi, và tìm gặp.  Họ lả những người như ông Phú, ông Thành, cô Khai, tôi đều có mời ăn vài ba lần, và lâu lâu cũng có giúp đỡ một ít tiền bạc, hoặc một cái vé xe lửa đi đường xa. 

Tôi cũng có khuyên họ rằng, sau nầy nếu có thành công trong việc tranh đoạt chính quyền, cũng nên lấy nhân ái làm gốc, đừng khủng bố, áp bức kềm kẹp nhân dân trong gọng kềm chuyên chính, đừng làm suy đồi xã hội bởi lý thuyết dối trá ông Cuội. 

Than ôi, lời khuyên của tôi cũng chẳng khác chi nước xối đầu vịt. Nhưng tôi phải nói, phải dặn dò, dù biết trước mười mươi rằng, sau nầy họ không nghe, không làm theo.

Tôi cũng có gặp và quen biết nhiều, cả ông Lưu Thiếu Kỳ, chủ tịch nhà nước Trung Hoa khi qua Nga học nghe cộng sản.  Tôi cũng có nhắn nhủ ông nầy nhiều lần về đạo làm người, lòng nhân ái.  Bên ngoài, thì ông nầy lễ phép, dễ thương, nhưng làm sao mà đọc được lòng người.

Sau khi thế giới đại chiến lần thứ hai chấm dứt, nhiều quốc gia Âu Châu trở thành cộng sản, và sống trong tai họa tầy đình của sự hà khắc, áp bức ngu xuẩn đó. 

Và về sau, ở bên Trung Hoa, ông Mao, ông Lưu, vớ được vài trang bản sao sách Cuội học được từ đàn anh Liên Xô, mà nắm được chính quyền trong tay.  Cả gần một nửa nhân loại trên hành tinh nầy chịu áp bức, đày đọa, hăm dọa ngày đêm, từ tinh thần đến vật chất. 

Tôi cảm thấy có phần trách nhiệm, tội lỗi đã gây ra khi dịch nửa cuốn sách Cuội cho ông Lê ghi chép lại. Bởi thế cho nên tôi sợ chết, vì chết sẽ bị về địa ngục hành hình. Tôi ráng sống, cố kéo dài ngày đi đền tội ác đã gây ra.  Tội của tôi, tuy gián tiếp, nhưng cũng có thể nặng hơn tội các ông lãnh tụ trực tiếp vấy máu trên tay. 

Nhiều năm tôi ân hận, mất ngủ, và thương xót nhiều trăm triệu người đang bị chủ thuyết Cuội xéo dày”.

Cụ Long nghỉ một lát, chiêu thêm hớp trà, rồi từ tốn nói tiếp: 

“Này anh bạn.  Khi tuổi còn trẻ, thì có một lý tưởng là tốt.  Không có lý tưởng thì như con thuyền không lái, lênh đênh, bơ vơ không biết về bến bờ nào.   Cứ mơ mộng đi, mộng to, mộng nhỏ, mộng nào cũng tốt cả.  Có lý tưởng, để đem mộng vào thực, và đem thực vào mộng. Nhưng đa số những người nuôi mộng, phải cố gắng, đấu tranh cực lực với ngoại cảnh, với bản thân, và sau khi mộng đã thành, thì họ cảm thấy hụt hẫng, như không có gì cả, như phí phạm cả một đời để được cái ‘không’, Mà phải hy sinh không biết bao nhiêu là sức lực, xương máu, và thời gian sống của đời người.  

Bởi vậy, có nhiều kẻ xem những người trẻ có lý tưởng là một lũ ngu ngơ, dại khờ.  Và vì ngu ngơ, khờ dại nên rất dễ bị lợi dụng, bị cho ăn phân gà mà cứ vênh mặt lên hãnh diện.  Đã có rất nhiều người trẻ chết cho lý tưởng, chết vì lý tưởng, và sung sướng đem mạng mình ra để làm một viên gạch xây dựng lý tưởng. Họ cũng không ngờ, cái viên gạch là sinh mạng họ, đem ra để xây nhà tù, giam hãm, nhốt những kẻ hiền lương vào trong đó. Hoặc cái lý tưởng đó, quay lại gây nên khổ đau cho nhân quần xã hội. Kẻ lớn tuổi mà còn hăng say lý tưởng, thì có thể xem như gàn, cứng đầu, khó thỏa hiệp”.

Nghe cụ Long kể chuyện, Tâm chán nản trong lòng, nghĩ rằng, có lẽ ông già đã hoá khùng, lẩm cẩm, kể chuyện hoang đường, không tưởng.

Mấy năm sau, chiến tranh lan tràn khắp đất nước, bom đạn, chết chóc. Tâm được giao phó trách nhiệm làm công tác trí vận tại thành phố Sài gòn.  Tâm hăng say hoạt động trong bí mật, mơ một ngày tươi sáng, toàn dân được sống trong công bằng, no ấm và hạnh phúc.

Năm 1975, chiến tranh chấm dứt.  Tâm được đi thăm trái tim tổ quốc Hà Nội.  Được thực sự thấy và sống trong thiên đàng xã hội chủ nghĩa mà bao năm nay anh hằng mơ ước.

Tâm đã tìm về mộ cụ Long, thắp hương và nước mắt dầm dề ân hận. Mấy năm sau, Tâm đã cùng bạn là An lén lút dong thuyền ra khơi

Trước khi nhắm mắt vì đói và khát trên biển, Tâm đã thì thầm cùng An: “TÔI TƯỞNG NỮA CUỐN SÁCH CUỘI LÀ CHUYỆN HOANG ĐƯỜNG, KHÔNG NGỜ CÓ THẬT” ./.

TramCaMau

(*)  theo truyện tiếu lâm Ba Lan

ĐÊM KỊCH TẤT NIÊN

ĐÊM KỊCH TẤT NIÊN

Đoàn Dự

HỒI NHỎ, học xong tiểu học tôi thi vào lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ) trường Nguyễn Trãi Sài Gòn. Hai năm sau, bắt đầu lên Đệ Ngũ thì tôi đi học tư thêm lớp Đệ Tứ ở trường Cộng Hòa đường Pasteur và mua sách về nhà tự học để đi thi Trung học. Đậu xong trung học, tôi thi vào lớp Đệ Tam (lớp 10) trường Hồ Ngọc Cẩn đặng quay trở lại trường công nhưng nhanh hơn được một năm.

Đang học Đệ Tam trường Hồ Ngọc Cẩn vừa được đúng một tuần lễ thì tôi thấy người ta phát quảng cáo là trường Trung học tư thục Tân Phương của ông Phan Ngô cho thi học bổng vào lớp Đệ Nhị (lớp 11). Người hạng nhất và người hạng nhì sẽ được miễn học phí, người đậu hạng ba chỉ phải đóng một nửa còn các học sinh khác nghèo thì sẽ được nhà trường cứu xét.

Đây là một hình thức quảng cáo nhưng tôi cũng nộp đơn, xách bút đi thi thử xem sức mình ra sao, nếu may ra đậu hạng cao, được miễn hay giảm học phí là tôi sẽ bỏ Hồ Ngọc Cẩn, nhảy thẳng lên lớp Đệ Nhị, đi thi Tú tài phần I, nhanh thêm được một năm nữa.

Đúng là chó ngáp phải ruồi, may sao tôi đậu hạng nhì còn một người tên Trần Thị Phi Vân thì đậu hạng nhất, vậy là được miễn học phí. Tôi bỏ Hồ Ngọc Cẩn, học trường Tân Phương.

o0o

Hồi ấy các trường trung học công lập như Petrus Ký, Trần Lục, Võ Trường Toản, Nguyễn Trãi, Chu Văn An…là trường nam sinh, gồm toàn con trai, còn con gái thì thi vào trường Trưng Vương hoặc Gia Long tức nữ trung học.

Tiểu học tôi học trường con trai, thi vào Nguyễn Trãi cũng trường con trai, bây giờ ra trường tư, học chung với con gái tôi thấy hay hay, lạ lạ nhưng cũng thú vị.

Từ nhỏ đi học tôi thường ngồi đầu bàn thứ ba ở phía giữa lớp ngay chỗ lối đi. Ngồi bàn thứ ba là vừa vặn nhất, không xa đến nỗi không nghe rõ lời thầy giảng mà cũng không gần đến nỗi bị bụi phấn bay vào mặt. Còn ngồi đầu bàn ở phía giữa lớp thì tiện, ra vô không phải leo qua lưng các bạn, và thầy cũng hay đi tới đi lui, có gì không hiểu mình dễ hỏi thầy.

Vào trường Tân Phương tôi cũng “tranh thủ” ngồi đúng như thế. Cách tôi lối đi, ở phía bên kia là các dãy bàn con gái, mỗi bàn ngồi sáu người. Người ngồi ngoài cùng, cũng đầu dẫy bàn thứ ba ngang với tôi trông rất xinh, đôi mắt đen lay láy và nụ cười thật tươi. Tôi bí mật coi trộm trong bản đồ lớp thì thấy “nàng” tên Ngọc Điệp – Nguyễn Thị Ngọc Điệp – một cái tên rất đáng mơ mộng!

Chị Điệp xinh lắm, cặp mắt đen, ướt át nhưng chắc chắn học không bằng tôi. Tôi biết. Bởi vì ở trường tư học sinh thường học theo kiểu thụ động, không chịu giơ tay xung phong lên bảng mà cũng ít khi tự mình làm bài thêm ở nhà trong khi nhà trường rất chiều học sinh, không dám đụng tới, “hễ lười là chết” như trong trường công. Riêng tôi, tôi quen lối học trong trường công, ra trường tư tôi vẫn giữ lối học chủ động, hễ có bài toán nào khó là tôi giơ tay lên bảng, kể cả tiếng Anh hoặc toán lý hoá, các thầy thích lắm, coi tôi như một học sinh đặc biệt và các bạn cũng nể, nhất là chị Điệp, chị phục tôi lắm.

Chẳng những ham học mà tôi còn ham hoạt động thể dục thể thao, như đánh bóng chuyền ở trong sân trường trong giờ ra chơi và thích văn nghệ. Tôi hay làm thơ, mặc dầu thơ thẩn của tôi có lẽ thuộc loại thơ… con cóc:

Chàng trai gối mộng trên trang sách

Cô gái bên song gắng đợi chờ

Mây trời lững thững mà vương vấn

Vương cả lòng ta lẫn ước mơ…

Có lần chị Điệp với tay sang mượn tôi quyển vở. Thấy mấy câu thơ, chị chăm chú đọc, có vẻ ngạc nhiên:

– Thơ ai làm vậy?

– Tui.

– Thiệt không? Anh làm được thơ?

Thiệt chứ, thiếu gì, cứ hứng là làm. Đây này…

Tôi mở mấy trang phía sau cuốn tập chỉ cho chị thấy. Chị Điệp tấm tắc:

Hay quá ta, chép tặng tui đi. Anh chép tặng tui làm kỷ niệm.

Tôi viết những câu thơ ra giấy, chị Điệp coi lại, cám ơn rồi mở cặp táp bỏ sang cho tôi mấy cục kẹo:

– Mần thơ hay tui thưởng cho đó.

Lại một lần khác, chị thấy mấy câu tôi viết trong tập :

“Em đi rừng núi vào xuân

Áo thiên thanh dệt trắng ngần hoa lan”

– Thơ của ai vậy?

– Tui không nhớ, viết thì viết vậy thôi, không phải của tui.

Chép cho tui đi!

Tôi lại chép và nàng lại tặng tôi mấy cục kẹo. Cứ như thế hai đứa chúng tôi chơi với nhau rất thân qua những câu thơ tôi ghi trong tập. Mãi sau này tôi mới biế đó là hai câu thơ của thi sĩ Đinh Hùng.

Tôi quên chưa kể là trong lớp tôi, ở khu “xóm nhà lá” tức mấy bàn cuối có một anh tên Thạnh, chơi đàn ghi-ta rất giỏi, được thầy hiệu trưởng Phan Ngô cho làm trưởng ban văn nghệ của lớp. Ngày trước anh Thạnh học ở trường Tân Thịnh, tiền thân của trường Tân Phương ở trên Tân Định. Hai anh em giáo sư Phan Ngô, Phan Thuyết mở trường này, làm ăn hết sức phát đạt. Đùng một cái, hai vị chia rẽ, không thể hàn gắn lại được, bèn bán trường, ông Phan Thuyết sang Gia Định mở trường Đạt Đức, còn thầy Phan Ngô mở trường Tân Phương cũng ở Gia Định. Giáo sư Phan Ngô là người ăn nói giỏi, làm hiệu trưởng nhưng cư xử rất thân thiết với học sinh nên khi ông chuyển trường sang Gia Định, đa số các học sinh cũ ở Tân Thịnh đều đi theo, trong đó có anh Thạnh, chị Ngọc Điệp, chị Phi Vân và nhiều người khác nữa. Đối với những người này thầy Phan Ngô có nhiều ưu ái, luôn luôn hỏi han, gần như biết rõ từng người nên họ rất thích.

o0o

Quay đi quay vậy mà đã gần tới tết. Nhà trường ra thông báo chuẩn bị kế hoạch liên hoan, văn nghệ, cắm trại ở trong sân trường và mời tất cả các trưởng ban văn nghệ lên họp để phổ biến cho lớp.

Họp xong, trong giờ ra chơi, anh Thạnh lên mời các bạn ngồi lại, giữ trật tự để anh phổ biến kế hoạch:

“Thưa các bạn, mùa xuân sắp tới. Mỗi khi mùa xuân tới hoa xuân lại nở trên cành…”.

Tụi tôi cười, nhiều anh vừa cười vừa suỵt : “Nói gì thì nói đại đi cho rồi…”

“Theo thông lệ hàng năm như các bạn đã biết, trước khi nghỉ tết nhà trường sẽ tổ chức một đêm văn nghệ tất niên. Thầy hiệu trưởng ra lệnh cho mỗi lớp đóng góp một số tiết mục. Riêng lớp ta, vì là lớp lớn đứng đầu trong trường nên thầy đề nghị ngoài các tiết mục đơn ca, song ca, hợp ca, chúng ta nên diễn một vở kịch cho chương trình văn nghệ thêm phần đặc sắc …”.

– “Không có vở thì lấy gì mà diễn?”.

– “Có, ban văn nghệ sẽ kiếm”.

Tuy hứa sẽ kiếm nhưng anh Thạnh là người làm việc lộn xộn, không có phương pháp, cứ đến giờ ra chơi là lo đệm đàn cho nhóm này hát, nhóm kia hát nên rất bận rộn, quên việc tìm kịch bản. Thầy Phan Ngô nhắc nhở dữ lắm. Thầy là người Trung, thích kịch thơ. Nhân được người bạn thân là thi sĩ Vũ Hoàng Chương cho người đem đến tận trường tặng tập thơ “Say” vừa mới xuất bản, thầy cao hứng mở ra, vừa làm điệu bộ vừa nhắm mắt nhắm mũi đọc những câu thơ mà thầy cho là xuất sắc:

Lui đôi vai, tiến đôi chân

Sàn mờ nhạt, chập chờn như ảo ảnh

– “Đó, các em thấy không, tuyệt diệu! Hết sức tuyệt diệu! Thơ là nhứt, chúng ta phải diễn kịch thơ mới được…”

Tôi về nhà tìm kiếm, lục ra được vở kịch thơ “Trai Thời Loạn” của Giang Quân đăng trên báo Ngày Nay của Tự Lực Văn Đoàn từ năm 1942, bèn chép nguyên văn, đem đến lớp đưa cho chị Điệp coi trước.

– Chị thấy hay không?

Hay, tụi mình diễn đi.

Chị biết diễn kịch?

Biết.

Nếu vậy thì tốt. Trong này có vai ông Đồ Trần, bà Đồ Trần với vai Khóa Vũ, ba người tất cả. Tôi giữ vai ông Đồ Trần, chị giữ vai bà Đồ Trần, chỉ còn kiếm thêm một người nữa là đủ.

Chị Điệp bàn nên rủ anh Thạnh, vì hồi trước anh Thạnh vẫn quen diễn với chị ở trường Tân Thiïnh. Tôi mừng lắm, bàn với Thạnh, anh ấy rất thích, nhận lời liền. Vậy là chúng tôi bèn đem vở kịch lên cho thầy Phan Ngô kiểm duyệt rồi bắt đầu tập. Thầy khen vở kịch hay, có nhiều ý nghĩa, khuyến khích chúng tôi tập dượt.

Vở “Trai Thời Loạn” không dài lắm, nội dung gồm ông Đồ Trần sống trong thời loạn, muốn vào Phú Xuân theo Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ chống lại quân Tàu, bèn gửi vợ con cho người bạn tên Khóa Vũ để đi cho được yên tâm. Nhưng Khóa Vũ là người hèn nhát, không dám nhận lời, bất đắc dĩ Đồ Trần phải nghĩ đến việc giết vợ con để ra đi giết giặc:

Giết vợ con

Ha ha ha

Giết vợ con để mưu đồ đại sự

Cũng là thường khí phách kẻ nam nhi!…

Khoá Vũ :

Thôi bác ạ cuộc đời này ngắn ngủi

Sức thư sinh sao lấp nổi biển Đông?

Bác nén giận, Vũ này xin phân tỏ…

Khoá Vũ không dám nhận trông nom giùm vợ con cho Đồ Trần. Đúng lúc Đồ Trần vung gươm định giết vợ con thì tiếng chiêng trống nổi lên dồn dập. Khóa Vũ xách kiếm chạy ra báo tin vua Quang Trung đã ra tới Thăng Long, đại phá quân Thanh ở đồn Hà Hồi. Nhiều người cũng chạy đến nữa báo tin thắng trận. Đồ Trần mừng rỡ dừng tay, thôi không giết vợ con nữa. Tất cả chạy đi tiếp ứng, làm hậu thuẫn cho quân vua Quang Trung. Màn hạ.

Tất nhiên tôi đóng vai Đồ Trần, còn Thạnh đóng vai Khóa Vũ. Chị Điệp thân với tôi lắm, những buổi chiều sau giờ tập dượt, chị rủ tôi đi uống nước. Tôi đã chiếm được cảm tình của chị trong vai Đồ Trần anh hùng và lại càng được dịp mơ mộng, làm thơ…con cóc:

Ta mơ thấy em hong suối tóc

Ta mơ thấy ta có hai bàn tay

Mắt em xao xuyến tình hoang dại

Và tóc em mềm theo gió bay…

Hôm tổng dượt, thầy Phan Ngô hân hoan bắt tay chúng tôi:

Vở kịch rất hay, các em diễn rất xuất sắc!

Sau đó, ông tiếp:

– Nhưng có điều thầy có ý kiến như thế này…

Ông nhận xét rằng tôi là người Bắc, nói tiếng Bắc vậy nên đóng vai người bạn tức Khoá Vũ, còn chị Điệp với anh Thạnh đều là người Nam, nói giọng Nam, đóng vai vợ chồng thì hạp hơn.

– Thưa thầy…

– Không, thầy đã nghĩ kỹ, các giáo sư cũng nhận xét như vậy. Chúng ta nên thay đổi lại.

– Nhưng thưa thầy tụi con đã học thuộc, lại sắp tới ngày trình diễn…

– Không sao, còn mười ngày nữa mới tới ngày trình diễn. Vai của Ngọc Điệp không có gì thay đổi, còn vai của em với Thạnh cứ chịu khó học lại sẽ thuộc. Chúng ta làm việc một cách lôgích kẻo thiên hạ lại cười là thầy trò không biết bảo nhau. Em hiểu không nào?

– Dạ hiểu.

Mặt tôi tiu nguỷu. Từ hôm ấy tôi bắt đầu học lại vở, đóng vai người bạn hèn nhát còn Thạnh thì đóng vai người chồng anh hùng. Tính Thạnh bơ bơ, muốn đóng vai nào cũng được và anh ta tự nhiên lắm, rất thân với Ngọc Điệp. Nhiều khi Thạnh nửa đùa nửa thật gọi Ngọc Điệp là bà đồ, xưng mình là ông đồ chứ không giữ gìn như tôi. Xem ra, tôi thua rõ rệt và “bà đồ” không thèm để ý đến tôi nữa. Sau những buổi tập dượt, họ thường rủ nhau đi uống nước :

– Bà đồ ơi, lợi đây qua biểu…

– Ơi, bà đồ đây, ông đồ kêu chi?

– Tập xong rồi, ông đồ mời bà đồ đi uống nước, ông đồ trả tiền.

– Ừa, đi liền.

Họ nắm tay nhau, vui vẻ, thân mật, bỏ lại mình tôi sớ rớ nhìn theo, trong lòng trống trải. Văn nghệ, văn nghệ, mi đã phụ ta rồi! Và tôi bắt đầu làm những câu thơ yếm thế khác với bản tính “quyết chiến quyết thắng” của tôi:

Sầu mỗi ngày một đọng

Tóc mỗi ngày một dài

Tóc dài còn cắt được

Sầu dài bỏ cho ai

o0o

Nên mắt khơi vực thẳm

Nên hồn nhuộm đêm đen

Nên lòng như sa mạc

Nên cắn răng chịu “hèn”!

“Hèn” quá đi mất ấy chứ! “Kịch” là như thế, tôi đóng vai hèn, càng hèn bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu và bà đồ lại càng lãnh đạm với tôi, chỉ biết có “ông đồ”. Đau không chịu nổi!

Đêm liên hoan. Mẹ tôi và em gái tôi biết tôi được đóng kịch trong nhà trường thì mừng lắm, suốt ngày cứ tính toán xem nên mượn ở đâu, mượn của ai chiếc áo the dài cho tôi mặc thật vừa vặn, chiếc khăn xếp kiểu Bắc cho tôi đội trên đầu. Mẹ tôi còn mượn được cả đôi giày Gia Định, chiếc quần đàn ông trắng và một giải khăn đỏ cho tôi cột ngang bụng để đeo kiếm nữa. Kiếm thì nhà trường đã mượn tại các đoàn cải lương nhỏ.

Suốt ngày hôm ấy chúng tôi dự hội chợ trong sân trường. Buổi chiều về, ăn cơm xong lại mau mau đi.

Ôi chao, đèn màu lấp lánh, tiếng nhạc xập xình, đèn chiếu sáng rực. Vào cửa tự do nên khán giả đông lắm, cả khu sân trường Tân Phương rộng như thế mà đầy ắp toàn người là người, họ đứng cả ra đến ngoài lề đường.

Tôi không biết gì hết. Người tôi như ngây như say. Người ta lôi tôi ra đánh phấn, thoa son, vẽ mày vẽ mặt và cài kiếm vào cạnh sườn tôi. Tôi thấy “ông đồ” oai hơn tôi, đứng bên cạnh, hết sức đẹp trai, đang âu yếm trang điểm thêm cho “bà đồ”!

– “Đây, vở kịch nòng cốt ‘Trai Thời Loạn’ của học sinh lớp Đệ Nhị trường Tân Phương bắt đầu!”.

“Cọc, cọc, cọc…”, ba tiếng búa long trọng gõ xuống mặt sàn. Màn từ từ mở. Chị Điệp ăn mặc theo kiểu Bắc, ngồi trên chiếc chõng tre nhỏ, ru con ạ ời cũng theo lối Bắc. Chị người Nam, bắt chước giọng Bắc rất giỏi khiến các bạn bè vỗ tay vang dội. Rồi anh Thạnh ra. Sau đó tôi ra. Thầy Phan Ngô đích thân đứng chỉ huy phía sau cánh gà, nét mặt hân hoan thấy rõ. Rồi tiếng trống trận đùng đùng, vua Quang Trung kéo quân ra Bắc, đại phá quân Thanh…

– “Hay quá, hay quá! Tuyệt diệu, tuyệt diệu!”

Các giáo sư đứng dậy, vào tận hậu trường bắt tay chúng tôi. Cả thầy Thiên Giang già và cao lớn cũng vào bắt tay nữa.

Đêm kịch tất niên chấm dứt, khán giả ra về hể hả. Mọi người và toàn ban giáo sư ở lại dự tiệc liên hoan ăn mừng “chiến thắng”. Cháo gà, gỏi gà bày ra la liệt trên những dãy bàn trải khăn trắng trên lối đi ở phía sân sau. Đến lúc sắp ăn thì không thấy “ông đồ, bà đồ” đâu cả, thầy Phan Ngô bảo tôi:

– Em chạy đi kiếm coi hai đứa tụi nó đâu…

– Dạ

Tôi ra tới gốc cây vú sữa thì thấy “bà đồ” đang ngồi ru con tưởng tượng trên chiếc ghế đá góc vườn, còn “ông đồ” thì đã thay đổi y phục nhưng vẫn say men “chiến thắng”, tuốt gươm tưởng tượng, đặt tay lên vai bà đồ. Họ áp mặt lên nhau và…và… họ “hun” nhau, cái này không hề có trong kịch bản!

Nghỉ tết xong tôi bắt đầu lao đầu vào học. Phải học nếu không sẽ bị thi rớt. Tôi không thích rớt, tôi muốn chiến thắng. Thôi kệ ông đồ bà đồ, muốn đồ muốn đạc gì cũng được. Và tôi cũng không thèm làm thơ nữa. Thơ với thẩn là thứ xa hoa, không đúng sự thật, chẳng có người con gái nào cư xử đẹp với mình.

“Em đi rừng núi vào xuân

Áo thiên thanh dệt trắng ngần hoa lan”

Vào xuân cái con mẹ! Vào xuân, đi diễn kịch, hoạt động liên hoan, văn nghệ chỉ tổ người ta đá đít, nếu thi rớt nữa thì nhục nhã lắm, tức như bò đá!

Vào lớp, tôi vẫn ngồi đầu bàn ba nhưng “bà đồ” thì đã tự ý đổi xuống phía mấy bàn dưới, gần với “ông đồ”. Bà không còn biết trên đời này có một thằng ngu, rất hay làm thơ mà hồi trước bà rất thân, cứ mỗi lần bảo nó chép thơ thì lại tặng cho nó mấy cục kẹo.

Thời gian lặng lẽ trôi đi, dần dần lại tới thi Đệ nhị lục cá nguyệt. Tôi vượt lên trên, được xếp hạng nhất trong cả năm học đồng hạng với chị Phi Vân, sau này chị đậu thủ khoa vào trường Nữ Hộ sinh Quốc gia, được phần thưởng của Bộ Y tế do chính ông Bộ trưởng đích thân trao tặng.

Hôm nhà trường làm lễ phát thưởng rất lớn tại rạp Văn Hoa Đa Kao có phần phụ diễn văn nghệ. “Ông đồ bà đồ” và thêm hai người nữa có lẽ học lớp Đệ Tam, tập tành cả tháng, diễn vở Lưu Bình Dương Lễ. Bạn bè ngạc nhiên lắm, nhiều người hỏi tôi sao, bị cho ra rìa rồi hả, nhưng cũng người thông cảm, bảo tôi khôn như con chồn, bây giờ lo học. Trong lễ phát thưởng, thầy Phan Ngô đặt thêm giải thưởng cho ban văn nghệ. Anh Thạnh với chị Ngọc Điệp ở trong hậu trường bước ra lãnh, họ còn mặc nguyên bộ đồ đã mướn của rạp cải lương, mũ cao áo dài trong vở Lưu Bình Dương Lễ.

Đúng một tuần lễ sau thì chúng tôi đi thi Tú tài phần I. Hôm có kết quả, nhà trường theo dõi danh sách và đem kết quả về giùm: lớp có 83 người, đậu 12 người. Tỉ lệ thi đậu như vậy cũng đỡ bởi vì trường tư thường thường chỉ đậu vào khoảng mười phần trăm, ngoại trừ những trường danh tiếng nhất, học đắt tiền nhất. Tất nhiên “ông đồ bà đồ” không đậu, họ bỏ dở ngay sau khi chỉ mới”thử lửa” ngày đầu tiên!

Mười hai người thi đậu chúng tôi một số xin vào lớp Đệ Nhất trường Chu Văn An, một số vào Petrus Ký còn một số thì do hoàn cảnh gia đình thiếu thốn, gặp ngành gì thi ngành nấy, đi làm. Chúng tôi còn phải qua kỳ thi Tú tài phần II, nếu đậu bấy giờ mới được thi vô các trường Đại học.

Một hôm, gặp Phong, người bạn bây giờ đang học bên Petrus Ký, anh ta hỏi tôi:

– Ê, sao bữa hổm mày không đi dự đám cưới thằng Thạnh với con gì diễn kịch? Hồi tất niên tụi nó diễn với mày mà?

– Ủa, họ lấy nhau rồi hả? Sao lập gia đình sớm quá vậy? Học hành chưa đâu vào đâu…

– Thì tại hai đứa tụi nó thương nhau. Nghe nói ông già bà già tụi nó không bằng lòng nhưng nó cứ nhứt định định lấy nhau nên phải chìu.

Tụi bay đi có đông không?

Không, có mấy đứa thôi. Đứa nào biết thì đi, đem quà tới mừng gọi là chỗ bạn bè chớ tụi nó cũng làm nhỏ xíu, không đưa thiệp mời.

Ừ, tội nghiệp!

Không hiểu sao tôi lại thốt ra hai tiếng tội nghiệp. Theo tôi nghĩ, cuộc sống quá nhiều khó khăn, phức tạp, cái tuổi mười bảy, mười tám và ngay cả mười chín, đôi mươi nữa của Thạnh và Điệp cũng chưa phải là tuổi lấy vợ lấy chồng, có con có cái.

Năm sau, tôi đậu Tú tài II rồi thi vào Đại học Sư Phạm, bốn năm sau ra trường. Lúc ấy tôi 22 tuổi, vẫn chưa phải cái tuổi đủ khả năng và đủ bản lãnh cá nhân để tính tới chuyện lập gia đình.

Tám năm sau, tôi ba mươi tuổi. Một lần, ngày tết, tôi đến đường Trương Minh Giảng, vào hẻm Chuồng Bò để tìm địa chỉ một người bạn. Kỳ lạ, anh ta ghi địa chỉ đàng hoàng mà ngõ này lại cứ ngoắt ngoéo, ăn thông sang ngõ khác và các số nhà loạn xà ngầu tìm không sao thấy.

Những người thanh niên ở trần ngồi đánh bài cào hay binh xập xám gì đó ngay trên đầu ngõ chật hẹp. Những chiếc pháo xì vứt trên rãnh nước đen ngòm, bẩn thỉu. Những con ruồi bu trên các đống xác mía nằm rải rác lẫn với những chiếc vỏ dưa. Một người đàn bà ngồi bán hàng đang cho con bú bên cạnh một chiếc tủ nhỏ đựng thuốc lá và chiếc mẹt kê trên chiếc ghế đẩu, bày sơ sài vài băng pháo tép, vài miếng dưa hấu, vài chiếc bánh ú, bánh tét. Kỳ lạ thật, ngày tết ngày nhất mà bán những thứ này thì ai mua? Có lẽ họ bán cho những người thanh niên đánh bài, đói bụng ăn ẩu ăn tả không cần biết đến vệ sinh. Đằng sau lưng chị có hai đứa trẻ con trai cũng ở trần, đứng bám trên vai chị, thân hình lem luốc.

– Xin lỗi, chị làm ơn chỉ giùm tôi cái số nhà này…

Người đàn bà ngửng lên, tay cầm lấy mảnh giấy ghi địa chỉ, nhíu mày coi qua một cách thành thạo. À thì ra chị này cũng có học, không phải mù chữ.

Chợt, chị ngạc nhiên:

– Ủa, xin lỗi, ông là… anh Dự, hồi trước học trường Tân Phương của thầy Phan Ngô phải không?

Tôi cũng ngạc nhiên :

– Vâng, xin lỗi, chị là…?

Người đàn bà mỉm cười, có vẻ hơi ngượng:

– Tui là Ngọc Điệp, hồi đó đóng kịch anh không nhớ sao? Anh đi đâu lại lạc tới đây?

– Tôi đi kiếm nhà người quen. Tại mười mấy năm nay rồi không gặp nhau. Sao, anh Thạnh khoẻ không chị?

Chị Điệp nhíu mày, nét mặt hơi buồn:

Cũng không khỏe lắm đâu anh. Tại ảnh phụ chạy xe đò, tiền bạc kiếm hổng bao nhiêu mà cứ phải ở lợï tỉnh hoài, gặp gỡ ba thứ trời ơi đất hỡi, có đồng nào nó bòn hết trơn. Chúng tôi lấy nhau sớm quá…

Anh chị được mấy cháu?

Năm. Năm đứa con trai. Đứa nầy nhỏ nhứt, lúc có bầu cứ tưởng sẽ sanh con gái không ngờ vẫn sanh con trai. Năm đứa, “ngũ quỷ” anh biểu hổng nghèo sao được? Phải chi sanh đứa con gái cho đỡ xui.

Tôi im lặng. Năm nay chị cỡ hăm chín hay ba mươi tuổi, bằng với tuổi tôi, nếu muốn sanh thì còn có thể sanh thêm hàng chục đứa nữa.

– Anh lập gia đình chưa? Được mấy cháu?

Tôi cười, hơi mắc cỡ:

– Dạ, chưa đâu chị, tôi hơi trễ.

– Trễ chưa lập gia đình hay chưa có con?

– Cả hai.

– Vậy cũng đỡ chớ như tui với anh Thạnh…

Ngay lúc ấy một đứa trẻ ở trần mặc quần xà lỏn, theo sau lại một đứa khác chạy tới có vẻ vội vã:

– Má, ba biểu má có tiền đưa ba mượn đỡ vài ngàn, trưa gỡ được dìa ba trả!…

– Bài bạc mà gỡ cái gì? Tao đâu có đồng nào!…

– Ba binh xập xám, đang đỏ, mới ăn được hai cây lợi thua lợi, hết tiền phải mượn chú Ba Đực hết mười mấy ngàn.

– Má không có tiền! Nói ba dìa ngay, nhà có khách!…

– Thôi chị ạ, cũng gần trưa rồi có lẽ tôi cũng phải đi, lúc khác sẽ đến thăm anh chị.

– Dạ, cám ơn anh. Đó, anh coi, ảnh mần không ra tiền nhưng máu mê cờ bạc đủ thứ. Hễ thua là cho con về đòi tui phải đưa. Mà tui hổng có là chết với ảnh, gia đình lại lộn xộn, gây gổ um xùm điếc tai hàng xóm.

– Thôi tôi đi chị nhé.

– Dạ, anh đi. Tụi tui ở căn nhà tôn đàng kia, cách đây ba căn. Lúc nào rảnh mời anh tới chơi…

Tôi nhìn theo tay chị. Căn nhà bé tí, lụp xụp, vách đóng bằng gỗ, khóa cửa.

– Vâng, lúc khác tôi tới.

Thằng bé đứng bụng xịu, ngón tay gạy gạy những vôi vữa trên bức tường ở bên cạnh:

– Má, ba kiu má cho ba mượn tiền. Ba đang đỏ, má hổng chịu đưa cho ba gỡ…

Người mẹ hơi ngượng, mở chiếc gói nylông cất trong túi áo:

– Đây, còn mấy ngàn, biểu ba mày xài hết đi rồi nhịn đói!

Hai đứa trẻ hí hửng kéo nhau đi. Đợi chúng chạy khỏi, tôi móc bóp lì xì cho hai đứa đứng bám vai mẹ và đứa còn ẵm ngửa:

– Năm mới bác lì xì hai cháu…

– Thôi anh, ba nó lại lấy đánh bạc chớ đâu có giữ được.

– Không sao đâu chị, chút đỉnh mà!

Và tôi nhắc lại một kỷ niệm nay đã xa xưa:

– Không bằng cái ơn ngày trước thỉnh thoảng chị lại liệng cho tôi mấy cục kẹo!

Người bạn học cũ bật cười:

– Anh còn nhớ mấy câu trong vở kịch thơ Trai Thời Loạn không?

– Câu gì hả chị? Nhiều quá tôi không nhớ hết…

– “Ha ha ha… Giết vợ con để mưu đồ đại sự, cũng là thường khí phách kẻ nam nhi…”

– Có, tôi nhớ.

– Anh Thạnh đang giết vợ con đó anh. Nhưng đáng tiếc là cái “đại sự” ảnh mưu đồ quá nhỏ, không lớn như trong vở kịch.

Tôi cười, chào từ giã lần nữa rồi dắt xe đi.

Sau tết, tôi có chút việc phải trở lại, đến nhà gặp người bạn. Lúc về, đi ngang qua phía trước căn nhà tôn tôi nghe có tiếng võng đưa kẽo kẹt và một giọng đàn bà hát ru trầm trầm, xa vắng:

“Ầu ơ… Bướm vàng đậu trái mù u

Lấy chồng càng sớm lời ru thêm buồn…”

Lúc ấy là ba giờ chiều, trời nắng chang chang mà trong lòng tôi giá lạnh như người chết rồi. Phải chăng từ đáy tâm hồn, tôi vẫn còn yêu một cái gì đó đã mất?

May be an image of flower, body of water and nature

2 triệu liều Mordena đã về tới Nội Bài…

 

Mỹ nói là làm rốp rẻng luôn! 3 ngày sau khi Nhà Trắng tuyên bố thì 4g30 sáng nay 10/7, 2 triệu liều Mordena đã về tới Nội Bài và Bộ Y tế vừa cho hay sẽ chuyển gấp vào TP HCM 1 triệu liều.

Mỹ thông báo viện trợ vắc xin cho Việt Nam nằm trong chiến lược nhằm “chấm dứt đại dịch ở mọi nơi”, chứ không phải “ngoại giao vắc xin” để đối phó với Trung Quốc và Nga. Mỹ nói rằng họ chia sẻ vắc xin mà không kèm theo điều kiện nào.

Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) chia sẻ: “Chúng tôi tự hào hỗ trợ Việt Nam trong cuộc chiến chống đại dịch này và chúng tôi tin tưởng rằng phối hợp cùng nhau, chúng ta sẽ chiến thắng COVID-19”.

Theo thông tin tôi được biết thì trong số gần 1,6 triệu liều gồm 1 triệu liều AstraZeneca của Nhật viện trợ thêm vừa về VN hôm qua 9/7 hay trươc đó ít ngày cũng sẽ dành phần lớn cho TP HCM.

Trong tháng này nếu không có gì thay đổi giờ chót thì tổng cộng 7-8 triệu liều sẽ về đến VN và TP HCM là nơi được ưu tiên cao nhất.

Giờ đây thì chỉ có vắc xin, vắc xin và vắc xin mới là giải pháp tốt nhất để dập nhanh cúm Tàu cho nên những nghĩa cử như của các bạn Mỹ hôm nay hay Nhật thời gian qua tôi và có lẽ nhiều đồng bào sẽ luôn ghi nhớ với lòng biết ơn chân thành!

– Fb Hà Phan 

Hành trang người môn đệ

 Hành trang người môn đệ

Điều gì quan trọng nhất??

CN 15 Thường niên – năm B. 

Lung Linh

Tin Mừng Chủ nhật 15 B Thường niên nói về việc rao giảng mà hiện nay chúng ta gọi là Loan báo Tin Mừng.

Trên internet chúng ta nhận được những lời khuyên thật chí tình:

Đây là những lời khuyên điển hình và giá trị nhất

Hành trang của người môn đệ là sự gắn bó mật thiết với Đức Giêsu.

Sự gắn bó ấy giúp Người hoàn toàn kết hiệp với Đức Chúa Cha, trở nên một lòng một ý với Đức Chúa Cha, luôn cầu nguyện, luôn từ bỏ ý riêng để làm theo ý Chúa Cha. Chính vì thế, sứ vụ của Người đã thành công tốt đẹp.

Hành trang của người môn đệ là tâm hồn đơn sơ phó thác.

Không mang theo gì của loài người, chỉ mang theo niềm tin yêu phó thác vào Thiên Chúa, đó chính là mang theo tất cả.

Hành trang của người môn đệ là tình liên đới. 

Tình liên đới không những cần thiết để giúp các ngài làm việc tông đồ một cách hữu hiệu. Chính qua tình liên đới mà Tin Mừng dễ dàng được đón nhận.

Hành trang của người môn đệ là trái tim biết cảm thương.

Một tay nắm lấy tay Chúa, một tay nắm lấy tay anh em. Một tình yêu anh chị em trong tình yêu mến Chúa. Liên kết mọi người trong tình yêu mến. Với tình yêu mến, chắc chắn việc tông đồ của ta sẽ đi đúng đường hướng của Chúa. Với tình yêu mến, chắc chắn việc tông đồ sẽ có kết quả tốt đẹp.

***

Nhưng thực tế thì thế nào?

Từ lời khuyên tới thực hiện…từ lý thuyết tới thực hành..có một khoảng cách cả chục cây số!!!

Như vậy, chúng ta tha hồ khích lệ nhau..Hãy cố gắng mà chuẩn bị hành trang thật tốt để lên đường loan báo Tin Mừng…

Nhưng công cuộc Loan báo Tin Mừng dường như vẫn dậm chân tại chỗ

Hay nói u buồn hơn: công cuộc Loan báo Tin Mừng dường như bị chết yểu từ trong trừng nước..

Tại sao lại nói kiểu “Bùi Lan” – bàn lui hoặc ‘đâm sau lưng chiến sĩ’ như thế???

Vì những lý do sau:

Có tới hơn 90 % chúng ta vẫn nghĩ rằng:

Hoàn toàn kết hiệp với Đức Chúa Cha Là chuyện không tưởng.

Chúa thì thánh đức ngàn trùng, tôi thì thội lỗi phàm hèn…

Làm theo ý Chúa Cha Là chuyện mò kim đáy biển.

Làm sao biết chắc rằng đây là ý của Chúa Cha??? Toàn là đoán mò…!!!

Đây là 2 yếu tố nền tảng mà chúng ta không nắm được coi như chúng ta đã xây tòa nhà Loan Báo Tin Mừng trên cát mất rồi!!!

Sao lại xây trên cát: Vì lý do sau:

Dù tôi dụ được hàng ngàn người vào cộng đoàn..

Dù tôi thuyết trình hàng trăm lần trước hàng trăm cử tọa

Dù tôi đi Đông đi Tây, ra Bắc vào Nam để Loan Báo Tin Mừng

Dù tôi giúp cho nhiều người cảm thấy sống tốt hơn, vui vẻ hơn…

Nhưng còn chính mình thì sao nhỉ??? Chúa vẫn là người khách lạ ngay trong ngôi nhà tâm hồn mình.

Khi đi Loan Báo Tin Mừng, tôi lên kế hoạch thật hoàn hảo để đạt được hiệu quả cao. Đó chính là mục đích mà tôi phải đạt cho bằng được.

Còn chuyện Hoàn toàn kết hiệp với Đức Chúa Cha … Tôi chẳng bao giờ nghĩ tới. Tôi chỉ thấy  tôi và một số anh chị em trong ban điều hành cùng nhau thực hiện thế nào cho thật hoành tráng.

Quả thực Hoàn toàn kết hiệp với Đức Chúa Cha Là chuyện không tưởng.

Kết luận:

Tới đây câu hỏi tựa để nêu ở trên cùng

Hành trang người môn đệ… Điều gì quan trọng nhất?

Đã có câu trả lời:

Nhận ra Chúa sống trong mình và tập sống kết hiệp với Ngài ngay trong đời sống hằng ngày của mình…

Làm sao nhận ra Chúa sống trong mình?

Thánh Phaolo nhắc nhở chúng tôi:

Thật vậy, chính ở nơi Người mà chúng ta sống, cử động, và hiện hữu. (Cv 17:28)  

Một ngày nào đó tôi có thể chọn một cử động nào đó như: lên xuống cầu thang; chạy xe đi làm, nhai cơm một mình…

Vừa cử động vừa lên xuống từng bậc thang, hay vừa vặn ga, hoặc vừa từ từ nhai cơm… vừa nhử lòng mình….từng cử động này đang được thực hiện trong Chúa…. Chúa Cha, Chúa Kitô, Chúa Thánh Thần đều được..

Kiên trì tập ngày này qua ngày khác…tháng này qua thánh khác..năm này qua năm khác…Mỗi ngày khởi đầu khoảng  10 phút…30 phút…rồi 1 tiếng…đã là quý lắm rồi…

Chắc chắc một ngày đẹp trời nào đó.. tôi chắc chắn sẽ dần dần cảm nhận rằng mình quả thực đang sống từ nguồn sống của Ngài..

Lúc đó mới nói tới chuyện  Hoàn toàn kết hiệp với Chúa Cha.

Tất nhiên đây cũng chính là hành trang quan trọng nhất trong công cuộc loan báo Tin Mừng,

Thiếu điều này, tôi chỉ là một thùng rỗng… kêu hết sức to!!!

Nguồn  https://tramtubensuoi.blogspot.com/2021/07/hanh-trang-nguoi-mon-e-ieu-gi-quan.html

From: Kim Bang Nguyen

TÊN THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU

TÊN THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU

 Sương Mai

Mỗi người sinh ra đều được đặt một cái tên.  Tên hay còn gọi là danh xưng của một cá nhân nhằm xác định cụ thể và định dạng về một ai đó.  Nói đến tên là nói đến sự hiện hữu của người đó.  Mỗi cái tên mang một ý nghĩa và có một tầm quan trọng rất lớn.  Tên gắn bó với người đó trong suốt cuộc đời và còn mãi cho đến khi đã khuất tên vẫn còn “lưu truyền hậu thế,” như câu ngạn ngữ: “Hổ chết để da, con người ta chết để tiếng;” lưu truyền đó tốt hay xấu là do cách sống của ta.  Khi nói đến tên của ai đó ta nghĩ về cuộc đời và con người của họ.  Người Công giáo ngoài tên thường gọi, còn có tên Thánh, được đặt từ ngày lãnh nhận Bí tích Rửa tội.  Tên con người là thế, nhưng có ai đã đặt vấn đề: Con người sinh ra ai cũng có tên, vậy Thiên Chúa là Đấng dựng nên ta, Ngài có tên không?  Và tên Ngài là gì?

Khi ta biết tên của ai đó là lúc ta bắt đầu biết về họ.  Chúng ta không ai biết tên Thiên Chúa.  Sở dĩ chúng ta biết tên Thiên Chúa là nhờ Ngài mạc khải chính tên của Ngài cho chúng ta.  Cho nên, khi con người biết tên Thiên Chúa là bước khởi đầu để con người có cơ hội biết về Ngài, và Ngài sẵn sàng thiết lập tương giao giữa Ngài với con người.  Điều này được thấy rõ trong Kinh Thánh Cựu Ước, khi Thiên Chúa mạc khải tên của Ngài cho dân qua Môsê trên núi Sinai (Xh 3,1-15).  Thiên Chúa mạc khải cho Môsê biết tên Ngài là Giavê (Yahweh), Đấng Tự Hữu, là “Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em, Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Jacob.”  Khi Thiên Chúa mạc khải tên của Ngài cũng là lúc Ngài mạc khải bản tính của Ngài.  Ngài là Thiên Chúa của tình yêu.

Theo dòng lịch sử của mình, Israel đã có thể khám phá ra rằng Thiên Chúa chỉ có một động lực duy nhất khiến Ngài tự mạc khải cho họ, và chọn họ giữa mọi dân để họ là dân của Ngài: đó là tình yêu nhưng không của Ngài.  Nhờ các tiên tri, Israel hiểu rằng, cũng vì tình yêu mà Thiên Chúa không ngừng giải cứu họ và tha thứ cho sự bất trung và tội lỗi của họ.  Tình yêu của Thiên Chúa đối với Israel được so sánh với tình yêu của một người cha đối với con mình (Hs 11,1).  Tình yêu đó còn mạnh hơn tình yêu của một người mẹ dành cho con cái mình (Is 49, 14-15).  Thiên Chúa yêu dân Ngài hơn người chồng yêu người vợ yêu dấu của mình (Is 62,4-5). Tình yêu đó cũng chiến thắng những bất trung, tình yêu là tha thứ, và tình yêu của Thiên Chúa đối với dân Israel là vĩnh cửu “tồn tại muôn đời” (Is 54,8).  “Núi có dời có đổi, đồi có chuyển có lay, tình nghĩa của Ta đối với ngươi vẫn không thay đổi” (Is 54,10).  “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng thương xót” (Gr 31,3).  Tình yêu vĩnh cửu đó thể hiện rõ nhất qua việc “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài” (Ga 3,16).  Thánh Gioan định nghĩa: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8.16), vì chính Hữu thể của Thiên Chúa là tình yêu.  Với mầu nhiệm nhập thể, tử nạn và phục sinh, tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện cụ thể, rõ ràng qua dung mạo của Đức Giêsu Kitô.  Đức Kitô chính là lời mạc khải trọn vẹn về tình yêu Thiên Chúa.  Qua Con Một, Thiên Chúa mạc khải điều bí ẩn thâm sâu nhất của Ngài: Chính Ngài là sự trao đổi tình yêu vĩnh cửu: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và Ngài đã tiền định cho chúng ta được dự phần vào sự trao đổi tình yêu đó. (GLHTCG 218-221)

Chúng ta biết Tên của Thiên Chúa là Tình Yêu, và chúng ta được Thiên Chúa dựng nên bằng tình yêu của Ngài, khi Ngài cho con người giống hình ảnh Ngài, nên chúng ta được thông phần với tình yêu của Ngài.  Vì thế, tên của chúng ta cũng phải thể hiện được bản chất vốn sẵn có mà Thiên Chúa đã khắc ghi trong mỗi người chúng ta đó là Tình Yêu.  Chúng ta được mời gọi hãy sống và phản chiếu dung mạo của Thiên Chúa là Tình yêu.  Khi ta sống trong tình yêu và thể hiện tình yêu ấy là ta đang sống đúng bản chất tình yêu như Thiên Chúa muốn ban tặng cho chúng ta; được kết hiệp nên một với Thiên Chúa, cuộc đời ta được tháp nhập hoàn toàn vào tình yêu của Ngài, dù tình yêu của ta nhỏ bé và giới hạn so với tình yêu của Thiên Chúa.

Từ muôn thuở Thiên Chúa đã khắc ghi tên ta là Tình yêu trong trái tim Ngài.  Ngài muốn hiện hữu cùng ta với tên gọi Tình yêu.  Ta là Tình yêu của Thiên Chúa.  Thế nhưng, đối với ta, Thiên Chúa có là Tình yêu của ta không?  Hay chỉ là một thụ tạo, một đam mê, một vui thú thế gian nào đó mới là tình yêu của ta?  Ta đã thực sự thông phần vào bản chất tình yêu mà Thiên Chúa đã khắc ghi trong trái tim Ngài chưa?

Thân phận con người vốn mỏng manh, yếu đuối và dễ đổi thay.  Thiên Chúa thấu suốt mọi tâm can từng gang tấc nơi con người hơn bất cứ ai.  Ta đã từng khấn hứa giao ước tình yêu với Thiên Chúa, nhưng liệu ta có giữ mãi được lời thề hứa sắt son đó không?  Tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu trung tín, không thay đổi; chỉ có tình yêu nơi con người mới đổi thay.  Thiên Chúa mãi mãi thể hiện đúng bản chất tình yêu của Ngài.

Trong cuộc sống, có lẽ ai cũng có những lúc ta muốn buông xuôi tất cả, cảm thấy chán nản, thất vọng, đau khổ, sợ hãi, căng thẳng, mệt mỏi…  Có những lúc tình yêu và lòng nhiệt huyết đi theo Chúa của ta không còn nồng nàn như thuở ban đầu, ta cảm thấy tình yêu ta dành cho Chúa sao hời hợt, tẻ nhạt quá.  Dù như thế, ta hãy nhớ ta vẫn mãi là Tình yêu của Thiên Chúa vì ngay cả khi ta không trung tín với Ngài thì Ngài cũng vẫn tín trung, vì Ngài không thể nào tự chối bỏ chính mình (2Tm 2,13).  Dù ta có như thế nào Thiên Chúa chỉ muốn ta một điều đó là không được thay đổi tình yêu.  Tình yêu là chất keo gắn kết ta với Chúa và giúp ta hiệp thông với anh chị em.  Trung thành trong tình yêu là điều cần thiết để theo Ngài.  Cuộc sống có lúc thăng, lúc trầm, điều đó giúp cho cuộc sống ta thêm phong phú hơn, nó như một bản nhạc cuộc đời làm cho ta thêm khởi sắc hơn.  Ta hãy nhìn cuộc sống bằng đôi mắt đức tin và trong cái nhìn tích cực để thúc đẩy ta trung thành với tình yêu giao ước thuở ban đầu của ta với Chúa.

Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã sớm cảm nghiệm được tình yêu, nên ngài viết lên một lời bất hủ: “Trong lòng Giáo hội, con sẽ là Tình yêu.”  Một tình yêu âm thầm nhưng vĩ đại và sâu sắc.  Tình yêu của hoa hồng đầy gai nhưng tràn ngập hạnh phúc vì được yêu Chúa.  Chị thánh đã nói: “Tôi đã chẳng cho Thiên Chúa tốt lành điều gì ngoài tình yêu, và Ngài sẽ trả lại cho tôi chính tình yêu.”  Thánh nữ không chỉ là bông hoa bé nhỏ của Chúa Giêsu nhưng còn là của toàn Giáo hội, chị đã để lại một kho tàng quý giá là linh đạo “Con đường thơ ấu” với một tình yêu mạnh mẽ và vĩ đại.

Lạy Chúa Giêsu, tạ ơn Chúa đã thương chọn gọi con, đã yêu thương con bằng mối tình muôn thuở, và đã khắc tên con trong trái tim Ngài.  Xin cho con biết thể hiện và sống đúng bản chất tên Tình yêu như Chúa.  Ước gì trái tim con luôn cùng nhịp đập với trái tim Ngài để con biết yêu thương như Ngài đã yêu bằng đời sống đức ái với anh chị em con.  Xin cho con được mãi trung thành với giao ước tình yêu mà Chúa dành cho con trong ơn gọi thánh hiến.   Amen!

 Sương Mai

Nguồn: https://dongten.net

CUỘC ĐỜI…

CUỘC ĐỜI …

NAM GIANG TỬ

Cuộc đời пhư một dòпg sôпg, mãi tɾôi đi khôпg bɑo giờ tɾở lại – пhữпg lời пày giúp bạп sốпg bình an, vui tư ơi.
Làm vui lòпg пgười khác thì chi bằпg hãy làm vui lòпg mình. Cuộc sốпg khốn khổ thì mìпh hãy sốпg tɾàn đầy ý thơ. Thế gian bạc bẽo thì mìпh hãy sốпg tìпh sâu пghĩɑ пặng. Đó mới là sốпg có bản lĩnh. 

Biết cúi đầu sẽ khôпg bị đụпg cửa; biết пhượпg bộ sẽ khôпg ρhải lùi bước; пgười cầu khuyết thiếu mới có cảm giác hài lòng; пgười tiếc ρhúc mới có được hạпh ρhúc…

Cuộc đời con пgười quả khôпg Ԁễ Ԁàng, bao đắпg cay mặn пgọt, lúc vui buồn hợp taп, chúпg tɑ vẫn ρhải sốпg tốt, tɾoпg пhữпg пăm còn lại củɑ cuộc đời, cần sốпg một cuộc sốпg theo cách mà mìпh muốп.
Ban đầu chúпg tɑ đến với thế giới пày là vì khôпg thể khôпg đếп. Cuối cùпg chúпg tɑ ɾời khỏi thế gian cũпg bởi vì khôпg thể khôпg đi. Quá tɾìпh ở giữɑ đó thì chúпg tɑ có thể sốпg tùy theo ý mình.
Làm vui lòпg пgười khác thì chi bằпg hãy làm vui lòпg mình. Cuộc sốпg khốn khổ thì mìпh hãy sốпg tɾàn đầy ý thơ. Thế gian bạc bẽo thì mìпh hãy sốпg tìпh sâu пghĩɑ пặng. Đó mới là sốпg có bản lĩnh.

Cách sốпg khác nhau, kết quả cũпg khác nhau…
Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy tiền bạc làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ sốпg ɾất khổ.
Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy con cái làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ 
sốпg ɾất mệt.
Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy ái tìпh làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ 
sốпg ɾất đau lòng.
Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy so đo làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ 
sốпg ɾất ρhiền toái.
Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy khoan Ԁuпg làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ 
sốпg ɾất hạпh ρhúc.

Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy hài lòпg làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ sốпg ɾất vui vẻ.
Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy cảm ân làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ 
sốпg ɾất thiện lương.

Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy ái tìпh làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ sốпg ɾất đau lòng. Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy so đo làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ sốпg ɾất ρhiền toái. (Ảnh: Pexels).

Có câu пói: ‘Khi bạn пằm tɾên giườпg bệпh, bạn sẽ chẳпg còn sợ gì пữa!’… vì sao vậy?
Bởi lẽ khi đó chỉ có пgười khác sợ bạn: Bạn bè thân thích sợ bạn mượn tiền; Chɑ mẹ sợ bạn chữɑ khôпg khỏi; Bạn đời sợ bạn làm liên lụy đến họ; Lãпh đạo sợ bạn khôпg thể qυay lại côпg tác, vội vàпg tìm пgười thay; Bác sĩ sợ bạn khôпg đủ tiền tɾả viện ρhí…

Đến lúc đó, пóпg tíпh và kiêu пgạo sẽ hoàn toàn biến mất…

Do đó, пhất địпh ρhải chăm sóc tốt bản thâп, dù thứ gì đi пữɑ cũпg khôпg bằпg bản thân mình. Duy chỉ có thân thể là củɑ mình, thứ qυan tɾọпg пhất là tâm tíпh – đạo đức và sức khỏe.
Học cách chăm sóc bản thâп, yêu bản thâп, cuộc sốпg chân thực пhư vậy, hãy tɾân quý.
Khi bạn mệt thì sẽ có ɾất пhiều пgười пói với bạn ɾằng: “Mệt thì đừпg làm пữa”. Nhưпg có ɑi cho bạn tiền để chi tiêu không?
Khi bạn mắc bệ̣nh, sẽ có ɾất пhiều пgười пói với bạn ɾằng: “Uốпg thuốc đi”. Nhưпg có ɑi cho bạn tiền để muɑ thuốc không?
Khi bạn пói điện thoại củɑ bạn tɾục tɾặc, sẽ có ɾất пhiều пgười пói với bạn ɾằng: “Hỏпg ɾồi thì muɑ cái mới đi”. Nhưпg có ɑi cho bạn tiền để muɑ không?
Khi bạn gặp khó khăп, sẽ có ɾất пhiều пgười пói với bạn ɾằng:“Khôпg sao…”. Nhưпg có bao пhiêu пgười có thể thực sự giúp bạn?
Cuộc sốпg đều ρhải dựɑ vào mìпh пỗ lực, пếu khôпg cố gắпg thì chẳпg ɑi có thể cho mìпh cuộc sốпg mà mìпh moпg muốn cả.

Khi bạn gặp khó khăп, sẽ có ɾất пhiều пgười пói với bạn ɾằng:“Khôпg sao…”. Nhưпg có bao пhiêu пgười có thể thực sự giúp bạn?
Chỉ cần пghĩ thoáng thì sẽ hiểu ɾõ…
Trên thế gian пày bạn chíпh là bạn: Bạn đau đớn hay mệt mỏi thì chỉ mìпh bạn chịu đựng.
Có thể có пgười cảm thôпg với bạп, пhưпg cũпg có thay đổi được gì пhiều đâu. Cuối cùпg thu Ԁọn tàn cuộc vẫn là ρhải dựɑ vào chíпh mình.
Có пhữпg пgười bạn có thể kỳ vọng, пhưпg đừпg ỷ lại. Từпg giờ từпg ρhút khuyên ɾăn mình: hãy пỗ lực, hãy kiên cường!
Trời mưɑ thì đườпg tɾơп, mìпh tɾượt пgã thì tự mìпh bò dậy, đườпg ɑi пgười ấy ρhải tự đi, mệt hay khôпg thì tự mìпh biết.
Nước mắt ɑi пgười ấy tự lau, chẳпg пgười пào có thể thay thế được mình.
Chớ ôm  ấp dĩ vãпg mà khôпg muốn tiếp bước…
Khi một пgười coi thườпg bạn thì chớ đau lòng. Ai cũпg có cuộc đời ɾiêng, chẳпg ɑi có thể luôn luôn ở bên bạn được.
Ngượпg пhất là khôпg gì bằпg đánh giá mìпh quá cao tɾoпg lòпg пgười khác. Thực ɾɑ bạn biết ɾõ, khôпg gì ti tiện hơn tìпh cảm, khôпg gì lạпh lẽo hơn tìпh пgười.
Bạn cần hiểu ɾõ, пgười muốn đi thì khôпg thể giữ được; пgười giả пgủ thì khôпg thể đánh thức được; пgười khôпg thích bạn thì khôпg làm cảm động được.
Mặt tɾời đứпg bóпg liền пgả về Tây; tɾăпg tɾòn liền chuyển saпg khuyết. Do đó có khiếm khuyết mới lâu dài, khôпg hoàn mỹ mới là пhân sinh.
Thực ɾɑ cảпh giới đẹp пhất là hoɑ пở chưɑ hết, tɾăпg vẫn chưɑ tɾòn…
Biết cúi đầu sẽ khôпg bị đụпg cửa; biết пhượпg bộ sẽ khôпg ρhải lùi bước; пgười cầu khuyết thiếu mới có cảm giác hài lòng; пgười tiếc ρhúc mới có được hạпh ρhúc.

NAM GIANG TỬ

From: KimBang Nguyen

Đời Sài Gòn, ít ai chịu được hai từ “giải phóng”

Đời Sài Gòn, ít ai chịu được hai từ “giải phóng”

Ngày đầu tôi vào Sài Gòn, lúc ấy chưa xin được việc nên tạm thời đi làm công nhân một thời gian, chỗ công ty may túi xách của Nhật ở cổng Khám Chí Hòa với vai trò là thợ phụ, nhớ không nhầm là tiền công 25,000/ngày thì phải. Hồi đó chưa nhiều người Bắc như bây giờ. Có mấy đứa người Bắc làm chung với những người Nam Kỳ khác. Hồi đó cũng chưa có internet, cũng chưa có smartphone, ai giàu lắm cũng chỉ có cái “cục gạch” Nokia. Mạng xã hội chưa có cho nên mọi thứ chưa dễ tìm hiểu.

Mấy người Nam có vẻ không ưa mấy người nói giọng Bắc. Mình buồn lắm, vừa buồn, vừa có chút giận vì trong lòng. Mình yêu người Nam thế mà tại sao họ lại ghét mình. Không ai nói cho mình hiểu cả. Sau đó có internet thì mình cũng lên mạng học ngoại ngữ, tò mò vào các nhóm thì gặp một ông người Việt ở Mỹ, hỏi han qua lại khi biết mình người Bắc là ổng chối đây đẩy y như giẫm phải cờ ứt vậy.

Cay cú lắm, mình mới đi tìm hiểu, lúc đó cũng 30 tuổi rồi nhưng mà còn khờ kiến thức xã hội lắm. Trong trường Y học trối chết, có thời gian đâu, với lại có thời gian cũng chẳng có thông tin nào mà đọc. Sau có cô bạn người Nha Trang (lúc này mình mới bắt đầu đi học chuyên khoa định hướng năm 2014 và thực sự hòa nhập vào môi trường ở đây). Bạn ấy kể:

– Mẹ em nói hồi xưa còn Mỹ ở đây sướng lắm.

– Ủa, sao lại sướng hả em? Chị nghĩ là đánh Mỹ đi để giành độc lập mới sướng chứ? Nước mình độc lập không sướng hơn à?

– Ừ thì độc lập nhưng mà không sướng như ngày xưa đâu chị.

– Sao kỳ vậy em? Em nói gì chị không hiểu, chị nghĩ Sài Gòn được giải phóng thoát khỏi sự kìm kẹp của Mỹ Ngụy thì người dân phải vui hơn mới phải chứ (nói đúng lý thuyết luôn).

– Thì biết vậy nhưng mà “giải phóng” rồi đừng có đi chiếm nhà của người ta, làm bao nhiêu người bị mất nhà mất cửa, bị đẩy đi vùng kinh tế mới, chết vì sốt rét rừng… Họ không chịu được nên họ về cũng lang thang không chỗ ở nên buộc phải vượt biển chết bao nhiêu là người…

Bạn cũng chỉ nói tới đó thôi vì nghe kể sao biết vậy. Lúc ấy mình mới lờ mờ hiểu… À, thì ra là mình bị ghét vì lý do này đây.

– Nhưng mà chị hỏi em nè, những người như chị có tội tình gì đâu mà sao chị lại bị ghét? Mấy cô người miền Tây hay dùng từ “Bắc Kỳ”.

– Kỳ thị là đúng đó chị, họ không nói ra thôi, chị nghe những điều hồi nãy em nói không? Nỗi đau lớn nhất trong cuộc đời là mất người thân, vậy sao họ không hận cho được mặc dù những người như chị không có lỗi nhưng chị nói giọng Bắc là họ không có ưa.

À, thì ra là vậy.

Cho nên mình cũng ráng dữ lắm, ráng sống cho thật tốt, chơi với bạn thật chân thành, không bao giờ dám nhắc tới hai từ “giải phóng” bởi với họ, đó là nỗi đau. Hai từ ấy chỉ có người nào vào Nam rồi và chơi với họ thì mới hiểu, đó là nỗi đau, đó là sự mất mát. Ở ngoài Bắc, nhất là các bạn trẻ bây giờ thường nói trong vô thức. Bởi vì các bạn ấy không hề hiểu, đối với người Nam, từ “giải phóng” là từ kỵ, rất kỵ. Họ sẵn sàng nổi sùng lên khi nghe hai từ ấy. Sự việc hôm rồi cũng thế, có lẽ đó cũng là nguồn cơn của cuộc chiến không hồi kết trên mạng xã hội.

Bây giờ, nếu như muốn xóa bỏ ngăn cách thì có một việc cần làm đó là đừng có nhắc tới hai từ kỵ húy ấy. Hãy tìm hiểu nhiều hơn các thông tin để hiểu về người khác. SỰ CHÂN THÀNH SẼ XÓA NHÒA KHOẢNG CÁCH chứ đừng có gân cổ lên chửi làm gì, không giải quyết được việc gì cả. Người ta ghét mình thì hãy tìm hiểu làm sao họ ghét.

Sự thật thì hãy chấp nhận là sự thật, kể cả vết thương có lớn, có đau như thế nào nhưng điều trị đúng thì nó sẽ lành thôi. Nhân đây tôi cũng mong là một số anh chị hơi cực đoan hãy vui lòng nhìn lại và thông cảm, bởi những người trẻ như tôi hồi ấy không hề biết gì mất mát của các anh chị, học trên lý thuyết ra sao thì biết vậy, một số bạn trẻ bây giờ cũng thế. Cùng là dân tộc Việt nhưng không biết bao giờ sự ngăn cách mới được xóa nhòa.

(Tựa bài do Saigon Nhỏ đặt)

From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

Loạn Covid và phát biểu mê sảng của lãnh đạo CSVN, báo hiệu điều gì?

Loạn Covid và phát biểu mê sảng của lãnh đạo CSVN, báo hiệu điều gì?

Bởi  AdminTD

Jackhammer Nguyễn

9-7-2021

Chủ tịch thành Hồ, ông Nguyễn Thành Phong kêu gọi, rằng mỗi người dân thành phố này hãy là một chiến sĩ! Quái lạ, chiến sĩ đánh nhau với ai? Chiến hạm Trung Quốc vào tới… cảng Nhà Rồng?

À không, ông chủ tịch kêu gọi chống dịch Covid-19. May mà ông chưa tuyên bố … nắm lấy thắt lưng con virus mà đánh!

Nhưng virus lại thoắt ẩn, thoắt hiện còn hơn cả những du kích quân Cộng sản thế hệ tiền bối của ông Phong nữa, làm sao mà đánh đây?

Trong chiến cuộc Việt Nam, các du kích quân có hai thứ rất lợi hại để chiến thắng, đó là vũ khí tối tân của Nga Xô, và chiến thuật tuyên truyền rất hữu hiệu. Trong thời bình, Đảng và Nhà nước (cộng sản) của ông Phong, cùng các đồng chí của ông vẫn còn hai thứ vũ khí đó để đàn áp bọn “phản động”, bọn “diễn biến hòa bình”, bọn “cách mạng màu”…

Nào là dùi cui, nào là máy phá sóng điện thoại, các đội công an cơ động trang bị tận răng. Rồi biệt đội “dư luận viên” Lực lượng 47 (cảm hứng từ khẩu AK47 lừng danh của du kích cộng sản), tác chiến, tấn công mạng…

Nhưng hai thứ bửu bối đó đều thúc thủ trước con virus Covid-19 bé xíu, vào ra trại giam, bệnh viện như chỗ không người, từng tấn công cả một ủy viên trung ương (có thể là nhiều hơn một).

Có thể hiểu rằng, ông Phong, cũng như nhiều đồng chí, đồng mộng, đồng phe với ông, vẫn còn tâm lý chiến tranh cách mạng, như tôi từng nêu ra trong bài viết gần đây “Cái nắm đấm đẫm lệ và chủ nghĩa tư bản Vượng Vin”. Chúng ta hiểu rằng, ông Phong bảo các công dân thành Hồ hãy tuân theo chỉ dẫn chống dịch, hãy có kỹ luật, hãy tích trữ lương thực chờ giới nghiêm,… nói chung, như một chiến sĩ, theo cái nghĩa đen của nó, chứ không phải súng đạn, người giết người như nghĩa bóng, ẩn dụ.

Nhưng đoạn phát biểu sau đây của đương kim thủ tướng Phạm Minh Chính thì phải hiểu ra làm sao? Hãy xem đoạn dẫn sau đây trên báo Chính phủ:

“Ngoài các phương châm phòng chống dịch đã có, Thủ tướng đề nghị nghiên cứu, bổ sung phương châm kết hợp hài hòa, hợp lý, hiệu quả giữa truyền thống và hiện đại, giữa phân tán và tập trung. Thủ tướng lấy một số ví dụ như kết hợp tây y và đông y trong điều trị bệnh; kế thừa truyền thống của cha ông ta trong đánh giặc là vừa kết hợp chiến tranh hiện đại với bộ đội chủ lực và chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân. Tinh thần là kết hợp sức mạnh tổng lực để kiểm soát, ngăn chặn, đẩy lùi dịch bệnh.”

Thủ tướng Phạm Minh Chính (trái) và Chủ tịch thành Hồ Nguyễn Thành Phong.

Hãy đặt câu hỏi cho vài “ý tưởng” của ngài thủ tướng xem sao.

– Truyền thống và hiện đại: Ý thủ tướng nói là kết hợp thuốc đông y và vaccine? Đọc lại lịch sử Việt Nam, thì có những ghi chép về dịch bệnh, nhưng không thấy thuốc men gì cả, sau khi dịch giết chết một số đông cư dân, số còn lại miễn nhiễm thì dịch hết. Đó là ngày xưa, dân cư thưa thớt, phải đi xe thổ mộ cả ngày từ Bình Điền vào quận Nhất, nay virus đi theo xe gắn máy, máy bay,… thì làm sao mà kết hợp?

– Phân tán và tập trung: Ý ông Chính nói là tập trung những người bị bệnh lại và phân tán những người không bị bệnh ra?

– Bộ đội chủ lực và du kích: Ý ông thủ tướng, vaccine là bộ đội chủ lực; còn xét nghiệm là du kích? Hay ông nói bác sĩ y tá điều trị bệnh nhân là chủ lực, còn 300 em học sinh Hải Dương “đường mòn Hồ Chí Minh trên không” là du kích?

Quả là không thể dùng một loại logic ngôn ngữ bình thường nào để có thể hiểu cao kiến của thủ tướng, vốn xuất thân từ một viên công an từ Thanh Hóa.

Chỉ có thể hiểu là, lại một lần nữa, ông Phạm Minh Chính lại chơi trò ghép từ như các đồng chí của ông, từ đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng cho tới ông bí thư xã. Đó là một loại từ điển, một loại cẩm nang từ ngữ cách mạng vô sản, chiến tranh cách mạng,… mà khi cần thì các ông ghép lại với nhau, thành một thứ diễn văn trị bá bệnh cho “công tác tuyên truyền”, từ “chống diễn biến hòa bình”, cho đến chống lạm phát; từ chống tham nhũng, cho đến công nghiệp hóa quốc gia.

Nay lại đến chống dịch Covid-19. Nhưng dịch Covid-19 không phải là một cuộc chiến với đối thủ cụ thể mà tấn công, du kích hay tổng lực, nó cũng không phải kiểu vô thưởng vô phạt như bầu cử Quốc hội cho vui, có cũng được mà không có cũng chẳng sao. Dịch Covid là chết người, là hết sạch giường nằm và máy thở trong bệnh viện, là hàng nấm mồ tập thể không kịp đào!

Thế cho nên, bên cạnh các phát biểu đầy tính “nâng quan điểm giai cấp đấu tranh cách mạng” của các ông Nguyễn Thành Phong, Phạm Minh Chính,… là tình trạng thực tế rất bi đát của dịch bệnh, có thể kể ra vài sự việc tiêu biểu như sau:

– Xếp hàng chích ngừa và xét nghiệm chật như nêm. Thuốc chưa kịp có hiệu quả thì virus hẳn đã bùng phát trong đám đông.

– Cấp giấy chứng nhận xét nghiệm như một loại căn cước đi xin việc, một loại giấy thông hành đi lại lúc giới nghiêm. Nhà cầm quyền không hiểu là người có xét nghiệm âm tính có thể nhiễm virus sau đó vài giây.

Việc rối loạn vì dịch Covid-19 ở thành Hồ và Việt Nam hiện nay gợi nhớ hình ảnh Đông Âu cộng sản sụp đổ, vì nhà cầm quyền không biết phải làm gì trước sự tan rã mà họ không hiểu.

Tình trạng dịch Covid-19 ở Việt Nam hiện nay, với trên dưới 1000 ca nhiễm mỗi ngày, không đến nỗi bi đát cho nhà cầm quyền cộng sản như vậy. Lệnh giới nghiêm và phong tỏa sẽ giúp kéo dài thời gian, chờ đợi vaccine tới, dù muộn, mà trớ trêu lại là các loại vaccine đến từ những nhà nước tư bản. Và cũng chẳng có một tổ chức nào khả dĩ có thể nắm lấy cái khoảng trống quyền lực, nếu nhà nước này sụp đổ.

Nhưng cơn hoảng loạn vì dịch Covid-19 ở thành Hồ, gây ra bởi nhóm cán bộ điều hành quốc gia thiếu kiến thức, thừa mệnh lệnh tuyên truyền chính trị, báo hiệu xã hội Việt Nam cộng sản có thể bị tan rã, hoặc sẽ trở thành một kiểu nhà nước thất bại (Failed State). Vì căn bản của xã hội cộng sản, hệ thống cộng sản là một hệ thống loại trừ (exclusive) đưa đến đỉnh quyền lực những người không có khả năng, chỉ biết hoạt động trong một cái khuôn có sẵn của công thức toàn trị, không đối phó được với những diễn biến của tự nhiên, của xã hội, đòi hỏi phải có kiến thức và tạo cơ hội cho mọi công dân (inclusive) cùng nhau quản trị quốc gia.

“QUEN VỚI NGƯỜI CHẾT HAY SAO MÀ CÚI ĐẦU CHÀO TIỄN HỌ VẬY?”

 

Trung Lễ   Những câu chuyện thú vị

“QUEN VỚI NGƯỜI CHẾT HAY SAO MÀ CÚI ĐẦU CHÀO TIỄN HỌ VẬY?”

Buổi trưa, giờ tan học, trước cổng trường Tiểu học đang có rất nhiều phụ huynh chờ đón con, người thì dõi mắt tìm kiếm, người gọi tên con mình …

​Lúc ấy, có xe đám tang đi ngang qua. Nhiều người ngước nhìn xe đưa tang, bày tỏ sự phấn khích khi đội nhạc cử kèn trống vang lên inh ỏi.

Họ bàn tán xôn xao, có người khen ban kèn Tây chơi toàn nhạc Trịnh Công Sơn “nghe hết sảy”, người khác góp ý như thế thì không hợp với khung cảnh, đáng lẽ phải chơi bài Lòng mẹ, Tình cha …

Duy nhất trong số phụ huynh đang ồn ào đó, có người đàn ông trên 50 tuổi lặng lẽ bước xuống xe, lấy chiếc mũ bảo hiểm đang đội trên đầu cầm tay rồi đứng thẳng người, đầu hơi cúi một chút. Ông cứ đứng vậy, yên lặng chờ xe tang đi qua mới ngước mặt gọi cháu lên xe đi về.

Người đứng bên cạnh tỏ vẻ ngạc nhiên hỏi:

– “Ủa, ông quen với người chết hay sao mà cúi đầu chào tiễn họ vậy?”.

Ông trả lời:

– “Tôi không hề quen biết hay bà con với người đã mất, nhưng sống trên đời “nghĩa tử là nghĩa tận” mà chú em”.

Rồi ông giải thích:

– “Thời tôi đi học, thầy cô thường nhắc nhở học sinh phải biết kính trọng và lễ phép với người già, người lớn tuổi, biết thương yêu giúp đỡ các em nhỏ tuổi hơn mình, trên đường đi khi gặp người lớn hơn mình phải biết khoanh tay cúi đầu chào, khi gặp đám tang đi ngang phải biết ngả mũ cúi đầu chào người quá cố để tiễn đưa họ …

Chính vì vậy mà các việc ấy bây giờ trở thành thói quen với tôi, mà thói quen thì không bao giờ quên được, việc tôi làm chỉ xem là phản xạ tự nhiên từ nhỏ cho đến bây giờ”.

Tôi nghe ông nói, ngẫm nghĩ đó chỉ là chuyện nhỏ, chuyện đạo làm người mà hình như bây giờ trong xã hội không còn tồn tại hình ảnh đẹp hết sức trân trọng đó.

Tôi mong sao những bài học đạo đức như vậy được chú trọng dạy trong trường, thay vì chỉ tập trung dạy kiến thức sách vở, để trẻ có thể hình thành những thói quen tốt trong cuộc sống, như có thể giữ yên lặng và cúi chào tiễn đưa khi gặp đám tang đi qua.

Nguồn: TRẦN VĂN TÁM