DIỄN GIẢI CHÍNH TRỊ MYANMA MỘT CÁCH DỄ HIỂU NHẤT.

 

DIỄN GIẢI CHÍNH TRỊ MYANMA MỘT CÁCH DỄ HIỂU NHẤT.

1/Aung San Suu Kyi bị chính quyền quân phiệt(quân đội) bắt giam trong 15 năm.

2/ Aung San Suu Kyi chiến thắng chế độ độc tài quân phiệt, được bầu lên bởi nền dân chủ non trẻ năm 2015.

3/Aung San Suu Kyi ngó lơ và biện minh cho quân đội đàn áp người Rohingya, một sắc dân thiểu số Hồi giáo.

4/ Aung San Suu Kyi vẫn được sắc dân chiếm đa số Phật giáo tin tưởng và bỏ phiếu cho.

5/ Aung San Suu Kyi bị quân đội bắt giữ trong cuộc bầu cử năm 2020 bởi quân đội trong khi vẫn được đa số dân theo Phật giáo tin tưởng.

Từ đây nảy sinh vấn đề :

– Aung San Suu Kyi có phải là lãnh đạo độc tài không ?

– Ai chịu trách nhiệm chính trong việc đàn áp người Rohingya?

Câu trả lời :

– Aung San Suu Kyi không phải là nhà lãnh đạo độc tài vì Myanma có 2 phe đối lập nhau : quân đội và NTD.

– Phe quân đội mới là kẻ chịu trách nhiệm chính trong vụ đàn áp người Rohingya, Aung San Suu Kyi chỉ là kẻ không lên tiếng bảo vệ sắc dân này.

Từ đây nảy sinh ra mâu thuẫn :

– Nếu cho rằng Aung San Suu Kyi độc tài đáng bị lật đổ thì lại trao chính quyền về tay quân đội, những kẻ chịu trách nhiệm chính trong vụ đàn áp người Rohingya chứ không phải bà Aung San Suu Kyi . Như vậy những người phản đối bà Aung San Suu Kyi đang giao trứng cho ác.

– Nếu bảo vệ bà Aung San Suu Kyi thì họ cho rằng có lỗi với dân Rohingya, đi ngược với tiêu chí nhân quyền của thế giới. Nhưng không đứng về phía bà Aung San Suu Kyi thì càng phản bội lý tưởng nhân quyền hơn.

– Nếu thừa nhận quân đội bắt bà Aung San Suu Kyi mà không cần thông qua ngành tư pháp độc lập thì phản bội các giá trị dân chủ,pháp trị.

Đặt lên bàn cân qua , cân lại thì thấy ủng hộ bà Aung San Suu Kyi có giá trị cân nặng hơn. Tuân thủ dân chủ và ít phản bội nhân quyền hơn .

Tóm gọn : Hiện tượng bà Aung San Suu Kyi và Myanma là hiện tượng phổ biến của một nền dân chủ khiếm khuyết. Bà Aung San Suu Kyi có đầy đủ ưu khuyết của một lãnh đạo dân chủ chứ không phải là thần thánh như trong chế độ độc tài.

Bà Aung San Suu Kyi nếu không thôn tính quyền lực, đàn áp đối lập để tạo nên một chính quyền độc đảng thì vẫn phải được công nhận bởi đa số người dân Myanma đã bầu nên bà chứ không phải quân đội.

Vấn đề của người Rohingya phải được tách ra và sẽ được các chính phủ phương Tây gây sức ép lên các chính sách của bà sau này.

Một nền dân chủ khiếm khuyết vẫn hơn một chế độ độc tài quân phiệt.

Liên Hiệp Quốc và cả thế giới đã lên án cuộc đảo chính ở Miến điện.

 Liên Hiệp Quốc và cả thế giới đã lên án cuộc đảo chính ở Miến điện.

Nhiều cuộc Biểu tình phản đối cuộc đảo chính đã được tổ chức bên ngoài các đại sứ quán của Myanmar trên khắp thế giới.

Quân đội Myanmar bắt giữ bà Aung San Suu Kyi và các lãnh đạo dân cử khác, cáo buộc đảng của bà Suu Kyi gian lận sau chiến thắng long trời trong cuộc bầu cử gần đây.

Việc quân đội tiếp quản diễn ra sau nhiều tuần căng thẳng giữa các lực lượng vũ trang và chính phủ sau cuộc bầu cử quốc hội mà phe đối lập được quân đội hậu thuẫn thua cuộc.

Phe đối lập đã yêu cầu tổ chức lại cuộc bầu cử, đưa ra các cáo buộc gian lận trên diện rộng mà không được sự ủng hộ của ủy ban bầu cử.

Tổng thư ký LHQ António Guterres gọi động thái của quân đội là một “đòn giáng trầm trọng vào cải cách dân chủ”, khi hội đồng bảo an chuẩn bị cho một cuộc họp khẩn cấp. LHQ yêu cầu trả tự do cho ít nhất 45 người mà họ nói đã bị giam giữ.

Tổng thống Mỹ Joe Biden đã đe dọa sẽ khôi phục các lệnh trừng phạt lên Myanmar sau khi quân đội nước này lên nắm quyền sau một cuộc đảo chánh.

Trong một tuyên bố, ông Biden nói “các thế lực không bao giờ được tìm cách gạt bỏ ý chí của người dân hoặc cố gắng xóa bỏ kết quả của một cuộc bầu cử đáng tin cậy”.

Mỹ đã dỡ bỏ các lệnh trừng phạt trong thập niên qua khi Myanmar tiến tới dân chủ. Ông Biden nói điều này sẽ được xem xét khẩn cấp, đồng thời nói thêm rằng: “Hoa Kỳ sẽ bảo vệ dân chủ ở bất cứ nơi nào nó bị tấn công.”

Các nhà lãnh đạo Liên minh châu Âu đã có những lên án tương tự.

Anh Quốc cũng đã lên án cuộc đảo chính.

Tại Anh, Thủ tướng Boris Johnson đã lên án cuộc đảo chính và “việc bỏ tù bất hợp pháp” bà Aung San Suu Kyi.

TL – BBC

Hàng chục ngàn người Cộng Hòa đổi đảng sau vụ bạo loạn tại tòa nhà Quốc Hội

 

Hàng chục ngàn người Cộng Hòa đổi đảng sau vụ bạo loạn tại tòa nhà Quốc Hội

Tin Denver, Colorado – Trong tuần lễ từ ngày 6 đến 12 tháng 1, khoảng 4,600 người Cộng Hòa đã đổi đảng chính trị tại tiểu bang Colorado, theo phân tích của hãng CPR News. Không có đảng nào từng trải qua tình trạng tương tự.

Hãng CPR News đã liên lạc được với khoảng vài chục người, bằng cách theo dõi sự thay đổi trong dữ liệu cử tri của tiểu bang. Số người đổi đảng đã tăng ngay lập tức sau vụ xâm nhập tòa nhà quốc hội. Hiện tượng tương tự cũng diễn ra trên toàn Hoa Kỳ.

Các hãng truyền thông cho biết khoảng 6,000 người đã đổi đảng tại tiểu bang North Carolina, 10,000 ở Pennsylvania, và 5,000 tại Arizona. Tại Colorado, chỉ một số ít người Cộng Hòa chọn cách chuyển sang Dân Chủ. Một số khác chuyển sang các đảng bảo thủ thứ 3. Tuy nhiên, đa số còn lại, khoảng 4,200 người, đã chuyển từ đảng Cộng Hòa sang tình trạng không đảng phái. Đây là xu hướng đang lan rộng tại Colorado trong những năm gần đây, và ảnh hưởng đến cả hai đảng.

Tổng cộng, đảng Cộng Hòa mất khoảng 0.5% cử tri trong tuần lễ sau vụ bạo động. Các cử tri độc lập vẫn có thể ủng hộ các ứng cử viên Cộng Hòa và tham gia các cuộc bầu cử sơ bộ của đảng sau này. Trong những năm gần đây, ngày càng nhiều cử tri Cộng Hòa và cả Dân Chủ đã ghi danh thành cử tri độc lập. Tuy nhiên, dữ liệu phân tích cho thấy giai đoạn biến động hậu bầu cử đã gây chia rẽ trong nội bộ đảng Cộng Hòa.

Đối với một số cử tri Cộng Hòa trung dung, vụ bạo động tại Quốc Hội đơn giản chỉ là giọt nước tràn ly. Một số người cho rằng, sự xuất hiện của bà Sarah Palin từ hơn 1 thập niên trước đã là dấu hiệu cho thấy đảng Cộng Hòa bắt đầu tập trung nhiều hơn vào văn hóa, thay vì các mục tiêu truyền thống là chi tiêu thận trọng và củng cố quốc phòng.

– Hàng chục ngàn người Cộng Hòa đổi đảng sau vụ bạo loạn tại tòa nhà Quốc Hội. Ảnh: Reuters

https://abcnews.go.com/…/republicans…/story…

https://www.nytimes.com/…/republicans-capitol-riot.html

Myanmar, Aung San Suu Kyi và bài học cho Việt Nam.

 

Myanmar, Aung San Suu Kyi và bài học cho Việt Nam.

Song Chi

Tôi chợt nhớ lại năm 2009, khi tôi vừa tới Na Uy chưa được bao lâu và lần đầu tiên từ nơi ở là Kristiansand đến Oslo chơi, tôi ghé thăm là Nobel Peace Center, nơi trưng bày mọi hình ảnh, tư liệu về các nhân vật, tổ chức đã từng được đoạt giải Nobel Hòa Bình.

Gặp đúng lúc người ta đang tổ chức ký tên kêu gọi trả tự do cho bà Aung San Suu Kyi, người đã được trao giải Nobel Hòa Bình năm 1991 và hiện đang bị chính quyền quân phiệt độc tài Myanmar giam lỏng tại nhà.

Tất nhiên là tôi cũng ký tên như nhiều người khác. Thật ra, trước đó khi còn ở trong nước tôi phải thú nhận là tôi không biết gì nhiều về bà Aung San Suu Kyi, tôi ký vì ngay tại đó tôi đứng đọc những thông tin về cuộc đời đấu tranh của bà.

Không bao lâu sau, tháng 11/2010 bà Aung San Suu Kyi được thả tự do tại Yangon. Báo chí quốc tế khắp nơi đưa tin này.

Những ngày tháng ấy bà Aung San Suu Kyi là một biểu tượng của hòa bình, một ngọn hải đăng cho phong trào đấu tranh dân chủ không chỉ ở Myanmar, từng được thế giới ca ngợi hết lời. Không có mấy nhân vật đấu tranh được như bà, bao nhiêu giải thưởng, bằng danh dự quốc tế, bao nhiêu tổ chức lên tiếng đòi trả tự do cho bà, trong cuộc đời mình bà đã từng gặp biết bao chính khách, lãnh đạo từ Đông sang Tây, ở đâu bà cũng được tiếp đón trọng thị.

Bà thu hút mọi người không chỉ vì danh tiếng của một nhà đấu tranh mà còn vì là một trí thức từng tốt nghiệp Cử nhân, Thạc sĩ các ngành chính trị, kinh tế tại các trường Cao đẳng thuộc Đại học Delhi ở New Delhi, đại học Oxford…, có thể nói được vài ba ngoại ngữ. Người phụ nữ mảnh mai, tuy đã có tuổi nhưng vẫn giữ được nét đẹp thanh lịch, nền nã trong những bộ trang phục truyền thống của phụ nữ Myanmar, luôn luôn cài hoa tươi trên đầu.

Và rồi khi bà bắt đầu nắm quyền lực, một số vết mờ trên bức chân dung của bà bắt đầu xuất hiện.

Từ chuyện vì có chồng quá cố và con sinh ra ở nước ngoài nên không được làm Tổng thống do một điều khoản trong Hiến pháp Myanmar, nhưng vẫn “đẻ” ra cái vai trò là State Counsellor of Myanmar (Cố vấn Quốc gia) có thực quyền hơn cả Tổng thống, thậm chí “cao hơn Tổng thống”, như lời tuyên bố của bà.

Những vết mờ ngày càng lớn hơn khi bà lên nắm quyền, Myanmar chẳng những không có những tiến bộ đáng kể nào về kinh tế mà quan trọng hơn, bà vẫn không xây dựng được một lộ trình dân chủ thật sự cho đất nước, nhiều vi phạm về nhân quyền vẫn tồn tại. Một ví dụ là dưới sự lãnh đạo của bà, nhiều nhà báo tại Myanmar đã bị truy tố.

Bà cũng không giải quyết được những mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo vốn âm ỉ trong xã hội Myanmar, thay vào đó lại im lặng trước hành động bị xem là tội ác diệt chủng của quân đội đối với cộng đồng thiểu số Hồi giáo Rohingya. Thậm chí ngày 10/12/2019 bà đã ra Tòa án Công lý Quốc tế LHQ ở La Haye, Hà Lan, để bảo vệ quân đội, bảo vệ cho đất nước Myanmar trước cáo buộc phạm tội diệt chủng đối với người thiểu số Hồi giáo Rohingya.

Thật khó tin rằng một người trí thức, bị ảnh hưởng bởi cả triết lý bất bạo động của Mahatma Gandhi và cụ thể hơn là bởi các khái niệm Phật giáo, luôn chọn con đường đấu tranh bất bạo động, một con người đã dùng những năm tháng bị giam lỏng tại gia để nghiễn ngẫm triết học Phật giáo và thiền định, lại trở thành một con người khác đến thế khi nắm được quyền lực.

Có những người bênh vực bà Aung San Suu Kyi, cho rằng bà chấp nhận bị phương Tây chỉ trích, chấp nhận đánh đổi danh tiếng của mình để “chung sống hòa bình” với bên quân đội vẫn chưa bao giờ thực sự mất quyền lực, và vì bà biết thế của bà và của đảng Liên đoàn quốc gia vì dân chủ của bà (National League for Democracy) không đủ mạnh để nắm trọn quyền, rằng nếu bà cực lực lên án vụ đàn áp người Hồi giáo Rohingya thì sẽ bị bên quân đội cho “lên đường” ngay. Có thể điều đó có một phần đúng chăng?

Đối với người Việt Nam, tôi đã từng nghe không biết bao nhiêu lời ca ngợi, ước ao, giá mà Việt Nam có một Aung San Suu Kyi. Sự thay đổi của bà không chỉ làm cho hàng triệu người Việt thất vọng, mà phương Tây càng thế… Nhưng, có lẽ đó là do nhiều người chỉ nhìn thấy bà từ xa?

Bài học gì cho dân chủ Việt Nam?

Dù sao, câu chuyện của bà Aung San Suu Kyi và con đường dân chủ hóa gập ghềnh vừa bị ném ngược trở lại mấy chục năm trước của Myanmar, cũng cho người Việt chúng ta rất nhiều bài học quý báu.

Theo tôi, đó là giành được quyền lực đã khó, xây dựng một lộ trình dân chủ thực sự cho đất nước, không để cho đất nước “chuyển hóa” thành một dạng độc tài kiểu khác, còn khó hơn gấp nhiều lần.

Có những “ngôi sao sáng”, là biểu tượng cho đấu tranh dân chủ nhưng thay đổi khi có quyền lực trong tay. Họ có thể phải thỏa hiệp với những thế lực phi dân chủ khác để giữ quyền lực và do đó cũng không thực sự cải cách dân chủ cho đất nước.

Người lãnh đạo, có tinh thần đấu tranh, khao khát tự do dân chủ, yêu đất nước chưa đủ, phải có trí tuệ, có tầm nhìn xa để vạch nên những chiến lược đường dài, lộ trình dân chủ hóa, và sự phát triển lâu dài, vững mạnh cho đất nước, dân tộc. Bà Aung San Suu Kyi có thể không thiếu trí tuệ nhưng có lẽ bà là một biểu tượng đấu tranh thì tốt hơn là trở thành một người đứng đầu nhà nước, vì cần phải có những kỹ năng khác để điều hành một đất nước.

Quan trọng nhất là chúng ta không nên “thần thánh hóa” bất cứ ai, biến họ thành một tượng đài. Như thế vừa làm hại chính họ vừa khiến cho những người khác, trẻ hơn, có khả năng lãnh đạo hơn nhưng lại bị “cái bóng” của người đó lấn át. Cần chú ý rằng người Việt vốn hay có tâm lý thần tượng ai đó, và tự nó là một biểu hiện phi dân chủ.

Cuối cùng là bài học về việc xây dựng lực lượng kế thừa. Cho đến giờ có vẻ như đảng của bà Aung San Suu Kyi và người dân Myanmar vẫn chưa chuẩn bị những người có khả năng thay thế bà, đã ở tuổi 75, cho nên nếu quân đội bắt bà Aung San Suu Kyi thì cũng có nghĩa là không còn ai khác. Người Việt Nam đấu tranh càng phải lựa chọn việc xây dựng một phong trào mạnh chứ không phải đặt hết vào một hai “lãnh tụ”.

Lại có người cho rằng cuộc đảo chính này có sự hỗ trợ phía sau của Trung Cộng, quốc gia từng không hài lòng khi nhìn thấy Myanmar tiến lên một bước về dân chủ và nhích ra xa khỏi ảnh hưởng của mình, và đây cũng là thêm một “phép thử” của Bắc Kinh đối với chính phủ mới của Mỹ, bên cạnh những “phép thử” về biển Đông và Đài Loan.

Không biết điều này có đúng không, nhưng dù sao, tôi vẫn tin rằng con đường dân chủ hóa của Myanmar dù có gập ghềnh, khi tiến khi lùi, nhưng chí ít dân tộc Myanmar vẫn còn may mắn vì giữ được sự hiền lương, thật thà, tử tế.

Nhiều người từng đến thăm Myanmar đều nhận xét như vậy. Myanmar là một quốc gia đa sắc tộc, đa tôn giáo nhưng phần lớn vẫn là Phật giáo, trong cách sống của họ rất thấm nhuần tư tưởng Phật giáo. Xã hội Myanmar dù cũng trải qua một chế độ độc tài sắt máu, nhưng không bị một chủ nghĩa cộng sản “giả cầy” phá nát đến tận gốc rễ từ văn hóa, đạo đức xã hội, tính thiện trong con người, các mối quan hệ gia đình cho tới kỷ cương, luật pháp… như các nước Liên Xô cũ cho tới Trung Cộng, Việt Nam, Bắc Hàn… Xây dựng lại từ đầu trên cái phông nền co người, xã hội như vậy có phần đỡ hơn.

Và từ bên ngoài, thế giới có lẽ sẽ không để mặc Myanmar.

Một số lãnh đạo các nước đã lên tiếng. Hoa Kỳ đã tính đến chuyện cấm vận trở lại Myanmar. Bởi vì cho dù hình ảnh của bà Aung San Suu Kyi có phần bị hoen ố nhưng thế giới sẽ lên tiếng, vì người dân Myanmar, vì bây giờ là năm 2021 chứ không phải 1962 để quân đội Myanmar muốn làm gì thì làm. Kết quả cuộc bầu cử và ước muốn được sống một cuộc sống tốt đẹp hơn của người dân Myanmar phải được tôn trọng.

Nhưng xét cho cùng, mọi thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp hơn cho mọi quốc gia phải bắt đầu từ chính khát vọng và hành động của người dân chứ không thể chỉ trông chờ vào bên ngoài.

– Bà Aung San Suu Kyi trước khi bị lực lượng đảo chính bắt giữ đóng vai trò Cố vấn Quốc gia của chính phủ do đảng Liên minh quốc gia vì dân chủ chiếm đa số lãnh đạo

– Bà Aung San Suu Kyi trong xe hơi sau khi nộp đơn tranh cử như một ứng viên hồi tháng 8/2020 trong cuộc bầu cử năm ngoái ở Myanmar mà sau đó đảng của bà thắng cử với tỷ lệ phiếu bầu 83%

– Cố vấn Nhà nước Myanmar Aung San Suu Kyi tham dự một buổi lễ tại thành phố Loikaw, ngày 15/01/2020

– Đảng Cộng sản Việt Nam vừa tổ chức Đại hội 13 và đang chuẩn bị đánh dấu 91 năm ngày thành lập

ĐỪNG ĐỂ CHO LỚP TRẺ CON EM CHÚNG TA PHẢI XẤU HỔ.

ĐỪNG ĐỂ CHO LỚP TRẺ CON EM CHÚNG TA PHẢI XẤU HỔ.

Trước đây tôi từng viết một bài nói về sự xấu hổ và xót xa khi nhìn thấy lá cờ vàng tung bay trên nóc tòa nhà quốc hội Mỹ. Nhưng có lẻ như thế là chưa đủ.Vì tôi thấy cộng đồng người Việt hải ngoại ủng hộ ông Trump vẫn chưa hiểu lắm về sự xấu hổ đó.

Mỹ là nước dân chủ quý vị ạ. Nếu quý vị đánh chiếm Nhà Trắng dưới thời ông Trump hay Biden rồi quý vị mang lá cờ ấy treo lên, thế giới chẳng ai nói một tiếng nào. Bởi phản kháng chính quyền dù đúng hay sai cũng thể hiện tinh thần dân chủ của quý vị.”Không tin tưởng vào chính quyền là điều mà thế giới luôn cổ võ”. Nó thể hiện tinh thần không cam chịu nô lệ.

Nhưng đánh chiếm một quốc hội lập hiến, được dân cử, đa đảng và đối lập lại là một chuyện khác. Nhất là khi sự đánh chiếm lại được cổ võ bởi chính quyền(một tổng thống đương chức). Như vậy là quý vị nghe lời chính quyền để truất phế nền dân chủ.

Đáng buồn là trong hàng loạt lá cờ được ghi lại hôm ấy và phát đi trên toàn thế giới ngoài cờ Mỹ và cờ của các tổ chức cánh hữu cực đoan, người ta không nhìn thấy lá cờ của một quốc gia nào khác trong 202 quốc gia và vùng lãnh thổ, chỉ có lá cờ của VNCH một quốc gia không hiện hữu trên thực tế, một quốc gia đã mất vì chế độ độc tài CSVN chiếm giữ. Cái gọi là quốc kỳ hiện nay không phải là quốc kỳ thật sự của Việt Nam.Nó chỉ là một dấu hiệu lịch sử của quốc tế 3 (quốc tế Cộng sản). Rồi đây khi nước Việt giành lại được dân chủ như Nga, Đức và Bungari thì lá cờ trước đó sẽ trở thành quốc kỳ . Ba nước này đã sử dụng lá cờ thời Sa hoàng, Cộng hòa Weimar và trước thời Cộng sản Bungari để làm lá cờ đại diện cho họ hiện nay. Cờ vàng ba sọc sẽ có ngày chiếm lại vị thế của mình như thế tùy thuộc vào ý chí dân chủ hóa của dân tộc Việt Nam.

Nhưng nay các vị lại đem một lá cờ dân chủ đi đánh chiếm nền dân chủ. Nền dân chủ ấy đã đem đến cho quý vị 8 năm vàng son từ 1967-1975 bằng một bản hiến pháp dân chủ, khoa học và tiến bộ nhất trong lịch sử 4000 năm của nước Việt. Chỉ có dưới nền dân chủ ấy, quý vị mới có quyền bầu nên tổng thống, bầu nên chính quyền đại diện cho mình theo nguyên tắc đa số thắng thiểu số. Và cũng chỉ dưới một bản hiến pháp tiến bộ như thế quý vị mới có thể giám sát và truất phế được chính quyền bằng một hay nhiều đảng đối lập.

Tất cả những kiến thức chính trị ấy con cháu của quý vị đều đang được học ở dưới các mái trường nước Mỹ. Quý vị có thể không biết nhưng con cháu quý vị đều biết. Và chúng sẽ vô cùng xấu hổ khi bạn bè của chúng chỉ vào lá cờ vàng ba sọc và bảo: “đại diện cho quốc gia mày đấy hả”?. Thì ra cha ông mày không muốn làm chủ mà chỉ muốn làm nô lệ.

Quý vị có thể về nhà và hỏi bất kỳ đứa trẻ nào con cháu của quý vị xem chúng có xấu hổ khi cha mẹ chúng kỳ thị người Mỹ da đen hay không ?Đó là một điều tối kỵ nhưng quý vị ngang nhiên thể hiện nó bằng ngôn ngữ, bằng thái độ trong khi mình cũng là sắc dân nằm trong nhóm thiểu số bị kỳ thị.

Hãy để cho con cháu mình tự hào khi nhìn thấy lá cờ của cha ông chúng tung bay trong các cuộc biểu tình đòi hỏi về quyền con người,đòi hỏi về tự do dân chủ cho Việt Nam, chống phân biệt chủng tộc, chống lạm dụng quyền lực của chính phủ, cảnh sát… Quý vị có rất nhiều dịp, nhiều nơi để vinh danh lá cờ của mình. Và hiện tại đã có trên 100 thành phố và nhiều tiểu bang chính thức công nhận cờ vàng ba sọc là đại diện cho Cộng đồng người Việt tại Mỹ.

Một quá trình đấu tranh gian khổ mới có được kết quả ấy. Xin quý vị hãy trân trọng thành quả công sức của những người đi trước, đừng bao giờ đem đổ nó xuống biển. Vinh danh một cá nhân, một chính quyền và mong muốn cá nhân chính quyền ấy nắm quyền mãi mãi là điều đáng xấu hổ trong một nền dân chủ. Bất chấp pháp luật để tràn vào lãnh địa liên bang và bạo loạn còn là điều đáng xấu hổ hơn nữa.

Sự đời xấu che, tốt khoe.Đã không xấu hổ che đi còn kéo cả cộng đồng, con cháu vào xấu lây khi trưng lá cờ của dân tộc ra cho cả thế giới thấy tầm nhận thức về chính trị dân chủ, độc tài của người Việt rất thấp.

Con cháu của quý vị sẽ ăn nói làm sao với bạn học cùng lớp, cùng trường với nó ? Cha ông bạn nó thì rất khôn cha ông nó thì lại quá u mê ?

May be an image of one or more people, people standing, monument and outdoors

FBI đã bắt giữ 2 người ở Las Vegas liên quan đến vụ bạo loạn ngày 6 tháng 1

FBI đã bắt giữ 2 người ở Las Vegas liên quan đến vụ bạo loạn ngày 6 tháng 1

Ronald “Ronnie” Sandlin và Nathaniel “Nathan” DeGrave là hai kẻ đột nhập Điện Capitol đã bị băt.

Sandlin người bị cáo buộc tham gia bạo loạn ở Capitol đã gọi Tổng thống Trump là ‘thần tượng’ của mình. Sandlin đã viết trên mạng xã hội rằng anh ta dự định lái xe đến Washington từ Memphis, Tennessee.

“Ai sẽ đến Washington D.C. vào ngày 6 tháng 1?””Tôi sẽ ở đó để thể hiện sự ủng hộ đối với tổng thống của chúng tôi và thực hiện phần việc của mình để ngăn chặn hành vi trộm cắp và cổ vũ Trump… Nếu bạn là một người yêu nước, tôi tin rằng nhiệm vụ của bạn là phải ở đó. “

Theo tài liệu của tòa án, Sandlin, DeGrave và một người đàn ông thứ ba đã kêu gọi quyên góp cho chuyến đi trực tuyến thông qua trang GoFundMe.

Các tài liệu của tòa án cho biết Sandlin và DeGrave đã được nhìn thấy qua camera bên trong Điện Capitol. Các nhà chức trách xác định Sandlin, người mặc một chiếc áo len màu cam sáng, và DeGrave, người đeo một chiếc khăn rằn cổ màu đỏ-trắng-và xanh.

Trong đoạn video Sandlin được nhìn thấy đang hút cỏ bên trong Điện Capitol. Người ta nghe thấy anh ta nói, “Mọi người đang hút cỏ ở đây. Cảm ơn người yêu nước. Chúng tôi đã làm nên lịch sử ở đây, ” theo tài liệu của tòa án.

Sandlin bị FBI bắt với tội danh cố ý xâm nhập bất hợp pháp, có hành vi bạo lực, gây mất trật tự trong khuôn viên Điện Capitol và cản trở việc thực thi pháp luật

https://www.8newsnow.com/…/i-team-2nd-man-arrested-in…/

Hai cha con ở Texas bị bắt vì tham gia bạo loạn

Chance Uptmore và cha của anh ta là James ở San Antonio bị FBI bắt giữ với cáo buộc tham gia vào cuộc bạo động ở Capitol vào ngày 6/1/2021.

Cả hai đều bị buộc tội: cố ý xâm nhập bất hợp pháp, có hành vi bạo lực, gây mất trật tự trong khuôn viên Điện Capitol.

Đã có nhân chứng báo cáo với các đặc vụ về bài đăng mà Chance Uptmore đã chia sẻ trên trang Facebook của mình. Anh ta thừa nhận rằng đã quay video khi đang ở bên trong tòa nhà Capitol. Theo đơn tố cáo, Chance cũng chia sẻ một bức ảnh của mình bên ngoài Điện Capitol vào ngày bị bao vây và tiết lộ anh ta đang ở bên trong ở các bình luận.

Chance chia sẻ: “Khi một bức tranh bị giật khỏi tường, chúng tôi đã giúp cảnh sát khôi phục nó. Cảnh sát đã nói những điều như, “Chúng tôi sát cánh cùng bạn … Cảm ơn vì đã ở đây … Bạn đã đưa ra ý kiến của mình bây giờ hãy bình tĩnh rời đi.” Tôi đã ghi lại TẤT CẢ trong băng. “

FBI cho biết tài khoản Facebook của Chance cùng với bình luận và ảnh bị cáo buộc hành vi phạm tội của anh ta đã bị xóa. Tuy nhiên trong ngày 9/1/2021, các đặc vụ FBI đã tiến hành kiểm tra nguồn mở và cơ sở dữ liệu với yêu cầu thực thi pháp luật để điều tra Chance.

Trong bản tin ngày 14/1/2021 của Telegraph Anh, các đặc vụ đã nhìn thấy một hình ảnh và họ xác định đó là Chance. Một bài báo khác của CNN cũng cho thấy Chance có mặt trong cuộc bạo loạn.

Chance cùng cha mình đã tự nguyện đến Washington, D.C. vào ngày 5 /1 để tham dự cuộc biểu tình ngày 6/1/2021. Anh ta cho biết chuyến đi kéo dài 5 ngày này là một phần kỷ niệm sinh nhật của Chance.

Chance thừa nhận rằng cả anh và cha anh đều đang ở trong khuôn viên của Capitol khi vụ đột nhập xảy ra, và cả hai đều bước vào tòa nhà. Theo Chance, cha của anh đã theo anh vào trong sau khi khuyên anh đừng vào nhưng họ “bị cuốn vào” đám đông.

Cả hai người đàn ông đã quay video về cuộc hỗn chiến bên trong tòa nhà trên điện thoại di động của họ.

https://dfw.cbslocal.com/…/texas-father-son-chance…/

Daniel D. Phipps, 48 tuổi, đã bị bắt hôm thứ Ba tuần trước vì tội cố ý xâm nhập bất hợp pháp và cản trở cơ quan công vụ; và có hành vi mất trật tự trong khuôn viên Điện Capitol.

Phipps là cư dân phía Bắc Texas thứ tám bị buộc tội liên quan đến cuộc nổi dậy ngày 6/1 ở Washington D.C.

Ngày 12/1, FBI nhận thông tin từ chuyên viên phân tích thông tin thuộc Cảnh sát Fort Worth nơi “được yêu cầu giúp xác định các cư dân địa phương đã tham gia bạo loạn hoặc hoạt động bất hợp pháp” cho thấy Phipps có liên đến cuộc bạo loạn.

Theo hồ sơ cho thấy, Phipps đã mối quan tâm với một bài đăng trên Facebook nói về chuyến xe buýt dự định đi đến Washington cho một “cuộc biểu tình” vào ngày 6/1.

Nội dung bài đăng ấy như sau: “ATTN: Người sáng lập Stop The Steal có một chuyến xe buýt 50 chỗ ngồi từ DFW đến DC với chi phí khứ hồi $ 50. Vui lòng truy cập vào liên kết bên dưới, gửi email và số điện thoại để chúng tôi giữ đăng ký chỗ chính thức trên chuyến xe STOP THE STEAL BUS! #MAGA. ”

Vào ngày 8 tháng 1, Phipps đã đăng một bức ảnh trên Facebook của anh ta bên trong tòa nhà Capitol cầm một lá cờ Mỹ. Và anh ấy nói trong một bài đăng khác rằng “Mọi người đều nói về việc trở thành một người yêu nước cho đến thời điểm để trở thành một người yêu nước [thực thụ],”

“Tôi đã đến DC. Tôi đã giúp chiếm lấy ngọn đồi, ” “Tôi đã giúp những người yêu nước khác ngăn chặn antifa phá hủy mọi thứ.” Phipps bị cáo buộc đã viết những dòng trên.

“Tôi đã thực hành Tu chính án thứ nhất nhằm khiếu nại với đại diện của chúng ta. Đó là một cuộc biểu tình chính trị (chủ yếu là hòa bình). Bạn đã ở đâu trong ngày 6/1? ”

Khoảng thời gian gần đây, Phipps liên tục đăng những lời phàn nàn trên Facebook về một cuộc bầu cử “bị gian lận” và “bị đánh cắp”, và anh ta đã chia sẻ những tuyên bố không có cơ sở về gian lận bầu cử. Vào cuối tháng 12, ông đã đăng một meme có nội dung: “Hỡi những kẻ theo chủ nghĩa Mác, Trump sẽ đến vào ngày 6 tháng 1…”

Mặc dù Phipps đã xóa một số bài đăng có liên quan đến bạo loạn nhưng FBI vẫn truy xuất được dữ liệu để đưa ra bằng chứng buộc tội

https://www.dallasnews.com/…/garland-man-who-posted…/

P/s: STOP THE STEAL là thuyết âm mưu về cuộc bầu cử bị đánh cắp được rất nhiều Youtuber Việt chuyên tung tin vịt phổ biến từ sau ngày 3/11. Rất nhiều người Việt tại hải ngoại bị đầu độc và tham gia biểu tình trong ngày 6/1 theo lời kêu gọi của Ngụy Vũ, Bé Tý … với niềm tin son sắt rằng mình là người yêu nước nhưng không ngờ mình bị dẫn dắt để chụp hình chung với tội phạm bạo loạn.

Từ nhiều câu chuyện của những người tham gia bạo loạn bị bắt giữ cho thấy thuyết âm mưu mỗi ngày đã đầu độc và khiến người ta trở thành tội phạm lúc nào không hay biết.

FBI đã nói, chỉ cần bạn có mặt trong đám đông bạo loạn dù bạn có xóa hình ảnh hay clip thì chúng tôi vẫn sẽ gõ cửa nhà bạn, chỉ là sớm hay muộn.

Tính đến nay, FBI đã nhận hơn 175,000 tin nhắn tố giác tội phạm liên quan đến những kẻ bạo loạn có mặt trong và bên ngoài tòa nhà Quốc hội. Hãy tỉnh táo, đừng biến mình thành nạn nhân của sự thiếu hiểu biết vì trót trao nhầm niềm tin cho những kẻ chuyên tung thuyết âm mưu như Ngụy Vũ, Bé Tý và nhiều người khác.

Hình ảnh có tính chất minh họa nhặt được trên Internet.

May be an image of 13 people and people standing

CHÍNH TRỊ HÓA QUÂN ĐỘI, MỐI NGUY KHÔN LƯỜNG CHO ĐẤT NƯỚC

CHÍNH TRỊ HÓA QUÂN ĐỘI, MỐI NGUY KHÔN LƯỜNG CHO ĐẤT NƯỚC

Việc đảng của bà NLD của bà Aung San Suu Kyi giành chiến thắng áp đảo trước phe quân đội trong cuộc bầu cử Quốc hội ở Myanmar tuy bị tố gian lận nhưng chưa chắc gì thực sự có gian lận. Vì quyền lợi của mình thì phe quân đội có quyền nghi ngờ bên kia gian lận, tuy nhiên giải quyết trang chấp hợp pháp là kiện tụng lên tòa án. Đó là cách văn minh nhất, cách giải thuyết phục nhất. Khi anh chỉ tố người mà không kiện thì rõ ràng anh không có bằng chứng gian lận anh mới không dám kiện thôi, chứ nếu kiện mà chắc thắng thì anh vác súng đi cướp chiến thắng người khác làm gì?! Hiện nay hành động của quân đội Myanmar phải khẳng định rằng, đó là bất hợp pháp. Dù cho bầu cử có gian lận thật thì cách hành xử đó vẫn bất hợp pháp.

Cũng nghi ngờ gian lận bầu cử, nhưng ở cuộc cử Mỹ người ta đem nhau ra tòa xử và kết quả cuối cùng là hoàn toàn làm cho cả thế giới tâm phục khẩu phục. Hình ảnh nền dân chủ mẫu mực của Mỹ bị bôi bẩn bởi những lời tố gian lận vô căn cứ cuối cùng cũng được tòa án độc lập ở xứ cờ hoa rửa sạch và trả lại danh dự cho nền dân chủ nước này. Tuy có bôi bẩn nền dân chủ Mỹ thật, nhưng phe thua cuộc ở Mỹ họ vẫn chọn cách giải quyết bằng tòa án, đấy là điểm không những đáng khen và đáng ngưỡng mộ. Họ cũng đã hành xử rất văn minh.

Hiến pháp năm 2008 của Myanmar do quân đội viết ra đã rào trước đón sau để bảo vệ quyền lợi chính trị cho cánh quân đội. Bản hiến pháp này đã cấm bà Suu Kyi làm tổng thống và cho phép quân đội tham gia tranh ghế quốc quốc tham gia nắm một số bộ trong chính quyền dân sự. Đó là lý do tại sao bà Aung San Sui Kyi không làm tổng thống mà làm Có Vấn Nhà Nước. Hiến Pháp Myanmar do quân đội viết và đưa đặc quyền của nó vào trong đó,và cấm cấm quyền lợi chính của đối thủ. Nó khá giống bản hiến pháp Việt Nam. Một bản hiến pháp bảo vệ phe quân đội một bản hiến pháp thì bảo vệ ĐCS.

Chính sự khác nhau về nền tảng như thế mà khi cuộc tranh chấp bầu cử nước Mỹ diễn ra căng thẳng nhất thì tổng tham mưu trưởng liên quân Hòa Kỳ Tướng Mark Milley đã đăng đàn tuyên bố “Quân đội Hoa Kỳ không thề trung thành với một ông vua hay nữ hoàng, một bạo chúa hay một nhà độc tài. Chúng ta không thề trung thành với bất kỳ cá nhân nào,”. Và kết quả là nền dân chủ Mỹ được bảo vệ. Đó là bài học cho những quốc gia lạc hậu noi theo. Trong khi đó cũng xảy ra hoàn cảnh tương tự tại Myanmar thì quân đội lại vác súng đi cướp. Cứ nghi ngờ bị oan là vác súng đi cướp thì xã hội không loạn mới lạ! Hành động như vậy thì không thể nào xây dựng được một đất nước tiến bộ. Tiến bộ gì được khi mà nền chính trị đó dựa trên nền tảng cướp bóc.

Ở Việt Nam thì quân đội cũng được chính trị hóa bằng việc bắt buộc các cấp sỹ quan đều là đảng viên. Mà đảng viên là những con người phải biết phục tùng chỉ thị của đảng. Khi quân đội trở thành công cụ thế lực chính trị thì vô cùng nguy hiểm. Ở Myanmar thì quân đội tham gia ăn cướp chiến thắng bầu cử, ở Tàu thì quân đội thành lực lượng nghiền nát dân biểu tình ở Thiên An Môn nhằm bảo vệ quyền lợi cho ĐCS. Còn ở Việt Nam thì quân đội cũng chẳng khác gì Trung Cộng. Sẵn dàng cướp đất, sẵn sàng chỉa súng vào dân nếu đảng cần. Rất nguy hiểm.

Muốn đất nước tién bộ thì thể chể chính trị phải tiến bộ đã. Thể chế chính trị mà còn để quân đội tham chính thì hỏng. Nó là rào cản mà quốc gia nào không phá bỏ thì không thể tiến đến văn minh tiến bộ được.

-Đỗ Ngà-

May be an image of 2 people and people standing

Câu chuyện dân chủ Miến Điện

Câu chuyện dân chủ Miến Điện

Bởi   AdminTD

 Nhã Duy

2-2-2021

Tin tức về vụ quân đội Miến Điện đảo chánh, cắt mạng internet và bắt giữ cấp lãnh đạo Miến Điện, là tiêu điểm thời sự thế giới vào cuối tuần qua. Phát ngôn viên tòa Bạch Ốc là bà Jen Spaki đã lập tức lên tiếng phản đối mạnh mẽ và yêu cầu giới quân phiệt Miến Điện tôn trọng các nguyên tắc dân chủ và luật pháp, trả tự do cho giới lãnh đạo dân sự nước này.

Tuyên bố này viết rằng, Hoa Kỳ tiếp tục khẳng định sự ủng hộ mạnh mẽ các định chế dân chủ của Miến Điện và phản đối bất kỳ nỗ lực thay đổi kết quả của cuộc bầu cử hợp pháp hoặc cản trở tiến trình dân chủ của Miến Điện, cũng như sẽ có biện pháp chế tài với những người chịu trách nhiệm nếu không đảo ngược quyết định.

Cuộc đảo chánh được giới bình luận quốc tế xem như sự lặp lại cáo buộc sai trái của tổng thống Donald Trump về cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ. Nó xảy ra sau một tháng tướng Min Aung Hlaing, người đang nắm quyền Miến Điện hiện nay, đã gặp gỡ với Ngoại Trưởng Vương Nghị của Trung Cộng. Cũng nói thêm, Miến Điện là quốc gia mà Trung Cộng nhắm vào quyền lợi dầu khí và khí đốt đáng kể tại đây.

Lộ trình dân chủ của Miến Điện đã được Hoa Kỳ tiếp sức khá mạnh mẽ và đưa đến thành công của đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân Chủ (NLD) của bà Aung San Suu Kyi, là đảng giành thắng lợi và nắm quyền từ năm 2015 cho đến chiến thắng áp đảo trong cuộc bầu cử tháng 11 vừa qua.

Tổng Thống Barack Obama và Ngoại Trưởng Hillary Clinton được xem có những đóng góp to lớn trong việc giúp Miến Điện đạt được thành công này, nhằm giúp Miến Điện đi theo con đường dân chủ, thoát Trung và thân Mỹ hơn, thông qua chiến lược chuyển trục châu Á của Hoa Kỳ.

Tổng Thống Obama đã đến Miến Điện vào năm 2012 và Ngoại Trưởng Clinton đã hai lần đến Miến Điện vào năm 2011 và năm 2015 để vận động cho tiến trình này. Hoa Kỳ cũng bỏ lịnh cấm vận vào cuối nhiệm kỳ TT Obama.

Sau chiến thắng áp đảo của đảng NLD, bà Clinton tuyên bố “Đây là sự khẳng định vai trò không thể nào thiếu vắng của Hoa Kỳ, trong tư cách nhà cổ vũ cho hòa bình và tiến bộ thế giới”. Bà đã dành nguyên một chương trong cuốn hồi ký “Những chọn lựa khó khăn” (Hard Choices) để kể chi tiết về vấn đề Miến Điện.

Cũng theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, có những sự việc dẫn đến một số bất đồng trong mối quan hệ song phương, qua hành động bị xem là phản dân chủ của chính phủ Miến Điện trong việc đàn áp sắc dân Hồi giáo thiểu số Rohingya. Dù không là tổng thống vì các quy định công dân theo hiến pháp nhưng trên thực tế, bà Aung San Suu Kyi là người lãnh đạo Miến Điện qua vai trò cố vấn tối cao, kiêm Ngoại Trưởng tại quốc gia này và là người chịu trách nhiệm chính. Tuy nhiên Hoa Kỳ vẫn tiếp tục thực hiện chiến lược cam kết khi ghi nhận những bước tích cực mà Miến Điện đã thực hiện và khuyến khích cuộc cải cách đi xa hơn nữa.

Nguyên tắc chủ đạo này nhằm giúp sự cải tổ nền chính trị và kinh tế của Miến Điện, thúc đẩy việc hòa giải dân tộc, xây dựng các định chế, trách nhiệm và sự minh mạch của chính phủ, trao quyền cho cộng đồng địa phương và xã hội dân sự, thúc đẩy mối can dự quốc tế đầy trách nhiệm, đồng thời tăng cường việc tôn trọng và bảo vệ nhân quyền, quyền tự do tôn giáo. Từ năm 2012 cho đến nay, Hoa Kỳ đã viện trợ cho Miến Điện khoảng 1.5 tỉ đô la (theo US Relations with Burma-US Department of State).

Trong khi Trung Cộng không đưa ra tuyên bố gì ngoài việc kêu gọi các bên “kiềm chế” đầy ngoại giao, cũng như một số quốc gia Á châu tuyên bố đó là “vấn đề nội bộ của Miến Điện” thì Tổng thống Joe Biden đã ra tuyên bố trong ngày đầu tuần rằng:

Hoa Kỳ đã gỡ bỏ các lệnh cấm vận đối với Miến Điện trong thập niên qua dựa trên tiến trình dân chủ tại đây. Việc đảo ngược tiến trình đó sẽ cần bị xem xét lại ngay lập tức bằng các hành động thích hợp qua thẩm quyền và lịnh cấm vận. Hoa Kỳ sẽ bảo vệ dân chủ ở bất cứ nơi nào mà nó bị tấn công”. Ông cũng kêu gọi thế giới đồng lên án và áp lực giới quân đội Miến Điện, phải lập tức trả lại quyền hành và tự do cho giới lãnh đạo Miến Điện.

Việc điều hành quốc gia và những trách nhiệm của bà Aung San Suu Kyi trong vấn đề phân biệt sắc tộc đã bị Hoa Kỳ cùng cộng đồng quốc tế lên tiếng chỉ trích, bà đã phải ra điều trần tại tòa án quốc tế Hague và phủ nhận những cáo buộc. Nó cho thấy tiến trình dân chủ một quốc gia chưa bao giờ suôn sẻ và các chính sách sắc tộc là vấn đề hiện diện tại nhiều quốc gia, không riêng với Miến Điện.

Tuy nhiên việc quân đội nước này sử dụng vũ lực để đảo chánh và cướp chính quyền, tấn công vào tiến trình dân chủ và hiến pháp quốc gia này lại là một vấn đề hoàn toàn riêng biệt, liên quan đến những nền tảng và nguyên tắc dân chủ thế giới. Đó là lý do tại sao Hoa Kỳ cùng các nước phương Tây khác đã lên tiếng.

Hồi tháng 7 năm 2019, trong cuộc gặp gỡ một số nạn nhân các quốc gia bị đàn áp tôn giáo từ phòng Bầu Dục, một người Miến Điện thuộc sắc dân Hồi Giáo Rohingya đã hỏi Donald Trump rằng ông sẽ làm gì trước nạn diệt chủng tại Myanmar. Trump đã hỏi ngược lại “Myanmar chính xác là ở đâu?” và một phụ tá của ông đã cứu nguy cho thượng cấp khi nhắc ông là nó nằm cạnh … Burma!

Trong khi Burma vốn là tên cũ của Myanmar và Hoa Kỳ, Anh vẫn đang tiếp tục sử dụng vì không muốn thừa nhận cái tên do giới quân phiệt Miến Điện đã đổi tên. Không lấy điều này để đại diện cho chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, tuy nhiên nó cho thấy vấn đề Miến Điện không hề được Donald Trump biết đến.

Nhắc lại câu chuyện Donald Trump bên trên cùng một trong những khủng hoảng đối ngoại đầu tiên mà nội các tổng thống Joe Biden đối diện và phản ứng, người ta có thể nhìn nhận được vai trò, sự quan tâm và thái độ của Hoa Kỳ trước vấn đề dân chủ thế giới sẽ thay đổi theo từng lãnh đạo và nội các khác nhau. Điều này cho thấy, các phong trào dân chủ thế giới hay Việt Nam nói riêng cũng cần quan sát, theo dõi và nắm bắt theo từng chính sách ngoại giao và ưu tiên của mỗi đời tổng thống Hoa Kỳ, nếu thật sự muốn tìm kiếm sự hậu thuẫn và ủng hộ.

Nền dân chủ thế giới luôn bị thách thức và đối diện nguy hiểm, kể cả chính tại Hoa Kỳ, nơi từng được xem một thành trì dân chủ của thế giới. Câu chuyện Miến Điện là lời nhắc nhở về những nền dân chủ thiếu sức mạnh và nếu không được bảo vệ đúng mức, sẽ có nguy cơ xảy ra những gì như đang diễn ra trên đất nước chùa vàng này.

TÔNG THƯ PATRIS CORDE CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

Con chép lại dưới đây Tông Thư  về Thánh Giuse,

nếu đọc rồi, mong đọc l ại, và Thánh Giuse Thần Thế Phù Hộ chúng ta thêm. Con bỏ hầu hết các chú thích khi đọc lại.

Trọng kính,

lmpcqminh,sj.

TÔNG THƯ

PATRIS CORDE

CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

NHÂN KỶ NIỆM 150 NĂM
TÔN VINH THÁNH GIUSE
LÀ BỔN MẠNG HỘI THÁNH

VỚI TRÁI TIM CỦA NGƯỜI CHA: đó là cách mà Thánh Giuse yêu thương Chúa Giêsu, Đấng mà cả bốn sách Phúc âm đều gọi là “con của ông Giuse”.[1]

Matthêô và Luca, hai Thánh sử nói nhiều nhất về thánh Giuse, lại kể rất ít, nhưng cũng đủ để chúng ta thấy được ngài là người cha như thế nào và Chúa quan phòng đã giao phó cho ngài sứ mệnh gì.

Chúng ta biết rằng thánh Giuse là một người thợ mộc đơn sơ (x. Mt 13,55), đã đính hôn với Đức Maria (x. Mt 1,18; Lc 1,27). Ngài là “người công chính” (Mt 1,19), luôn sẵn sàng thi hành thánh ý Thiên Chúa như đã được mạc khải trong Lề Luật (x. Lc 2,22.27.39) và trong bốn giấc mơ (x. Mt 1,20; 2: 13.19.22). Sau chuyến hành trình dài và mệt nhọc từ Nadarét đi Bêlem, ngài được chứng kiến Đấng Mêsia sinh ra trong chuồng bò, vì “không có chỗ cho họ” trong quán trọ (x. Lc 2,7). Ngài đã chứng kiến các mục đồng (x. Lc 2,8-20) và các đạo sĩ (x. Mt 2, 1-12) đến thờ lạy Chúa, họ là những người đại diện cho dân Israel và các dân ngoại.

Thánh Giuse đã can đảm trở thành người cha của Chúa Giêsu theo lề luật, Đấng mà ngài đã đặt cho cái tên được mặc khải qua sứ thần báo trước: “Ông hãy đặt tên cho Người là Giêsu, vì Người sẽ cứu dân Người khỏi tội” (Mt 1,21). Như chúng ta biết, đối với các dân tộc cổ đại, đặt tên cho một người hoặc một sự vật, như Ađam đã làm trong trình thuật ở Sách Sáng thế (x. 2,19-20), là để thiết lập một mối tương quan.

Bốn mươi ngày sau khi Chúa Giêsu sinh ra, Thánh Giuse và Mẹ Maria đã dâng con mình cho Chúa trong Đền thờ, và ngạc nhiên lắng nghe lời tiên tri của ông Simeon về Chúa Giêsu và Mẹ Người (x. Lc 2,22-35). Để bảo vệ Chúa Giêsu thoát khỏi tay Hêrôđê, Thánh Giuse đã sang Ai Cập sống như một người ngoại kiều (x. Mt 2,13-18). Sau khi trở về quê hương, ngài sống ẩn dật ở ngôi làng Nadarét nhỏ bé và ít người biết đến thuộc xứ Galilê, cách xa Bêlem, là ngôi làng của tổ tiên ngài, và cách xa cả Giêrusalem và Đền thờ. Người ta nói về Nadarét rằng “Không có ngôn sứ nào xuất thân từ đây” (x. Ga 7,52) và quả thật, “Ở Nadarét nào có chi hay!” (x. Ga 1,46). Trong cuộc hành hương lên Giêrusalem, Thánh Giuse và Mẹ Maria đã lạc mất Chúa Giêsu khi ấy mười hai tuổi, họ lo lắng đi tìm và gặp thấy Người trong Đền thờ, đang trao đổi với các tiến sĩ Luật (x. Lc 2,41 -50).

Sau Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, không có vị thánh nào được nhắc đến thường xuyên trong huấn quyền của Giáo hoàng hơn Thánh Giuse, bạn trăm năm của Mẹ. Các vị tiền nhiệm của tôi đã suy tư về sứ điệp trong thông tin giới hạn được các sách Phúc Âm ghi lại để đánh giá đầy đủ hơn vai trò trung tâm của Thánh Giuse trong lịch sử cứu độ. Chân phước Piô IX đã tôn vinh Thánh Giuse là “Bổn mạng Hội Thánh”,[2] Đấng đáng kính Piô XII gọi ngài là “Bổn mạng của người lao động”[3] và Thánh Gioan Phaolô II tuyên xưng ngài là “Đấng bảo vệ Chúa Cứu Thế”.[4] Thánh Giuse được mọi người kêu cầu là “Bổn mạng kẻ mong sinh thì”.[5]

Giờ đây, một trăm năm mươi năm sau khi Chân phước Piô IX công bố Thánh Giuse là Bổn mạng Hội Thánh (ngày 8 tháng 12 năm 1870), tôi muốn chia sẻ một vài suy tư cá nhân về dung mạo phi thường này, thật gần gũi với kinh nghiệm của con người chúng ta. Vì, như Chúa Giêsu đã nói, “lòng đầy miệng mới nói ra” (Mt 12,34). Mong muốn ấy của tôi càng thêm mãnh liệt trong những tháng đại dịch này, khi chúng ta cảm nghiệm, giữa cuộc khủng hoảng, rằng “cuộc sống của chúng ta được đan dệt với nhau và được nâng đỡ nhờ những con người bình thường – những người thường bị quên lãng, – họ không xuất hiện trên báo chí, hay trong những chương trình truyền hình mới nhất, nhưng ngay trong những ngày này, chắc chắn họ đang làm nên những biến cố quan trọng của lịch sử chúng ta. Các bác sĩ, y tá, các chủ cửa hiệu và nhân viên siêu thị, nhân viên vệ sinh, người chăm sóc người già và bệnh nhân, công nhân vận chuyển, những người cung cấp các dịch vụ thiết yếu và an ninh công cộng, các tình nguyện viên, các linh mục, nam nữ tu sĩ, và rất nhiều người khác. Họ hiểu rằng không ai được cứu một mình… Có biết bao người hằng ngày vẫn kiên nhẫn gieo niềm hy vọng, lo sao để không gieo rắc hoảng loạn nhưng gieo vãi tinh thần đồng trách nhiệm. Có biết bao người cha, người mẹ, ông bà, thầy cô, chỉ cho con cái chúng ta – qua những cách thức nhỏ bé hằng ngày – cách thức đón nhận và đương đầu với khủng hoảng, bằng cách điều chỉnh các thói quen, ngước mắt lên cao và khích lệ cầu nguyện. Có biết bao người cầu nguyện, dâng những hy sinh và chuyển cầu cho thiện ích của tất cả mọi người”.[6] Mỗi người chúng ta đều có thể khám phá rằng Thánh Giuse –  một người chẳng được để ý – vẫn hiện diện hằng ngày cách âm thầm kín đáo, để cầu thay nguyện giúp, trợ giúp và hướng dẫn chúng ta khi gặp khó khăn. Thánh Giuse nhắc nhở chúng ta rằng những ai ẩn mình hay sống trong bóng tối có thể đóng một vai trò không thể sánh được trong lịch sử cứu độ. Tất cả những người ấy đều đáng được nhìn nhận và biết ơn.

  1. Một người cha yêu thương

Sự vĩ đại của Thánh Giuse ở chỗ ngài là bạn trăm năm của Đức Maria và là cha của Chúa Giêsu. Như thế, theo lời Thánh Gioan Kim khẩu, Thánh Giuse đã tự đặt mình “phục vụ toàn bộ kế hoạch cứu rỗi”.[7]

Thánh Phaolô VI đã chỉ ra rằng Thánh Giuse đã thể hiện một cách cụ thể vai trò làm cha của mình “bằng cách biến cuộc đời mình trở thành của lễ hy sinh phục vụ mầu nhiệm nhập thể cùng với sứ vụ cứu thế. Thánh Giuse dùng quyền hạn hợp pháp của mình đối với Thánh Gia để cống hiến hết mình cho các ngài trong cuộc sống và công việc của mình. Ngài đã biến ơn gọi sống tình yêu gia đình của phàm nhân thành sự dâng hiến siêu phàm chính mình, trái tim và tất cả khả năng của mình, một tình yêu được dành để phục vụ Đấng Mêsia đang lớn lên trong mái ấm của ngài”.[8]

Vì vai trò của ngài trong lịch sử cứu độ, Thánh Giuse luôn được các Kitô hữu tôn kính là cha. Điều này được thể hiện qua vô số nhà thờ dâng kính ngài trên khắp thế giới, nhiều học viện tôn giáo, hội đoàn và các nhóm giáo hội lấy cảm hứng từ linh đạo của Thánh Giuse và mang tên ngài, cùng với nhiều cách bày tỏ lòng đạo đức truyền thống cũng tôn vinh ngài. Vô số các thánh nam nữ đã rất sùng kính ngài. Trong số đó có Thánh Têrêsa Avila, đã chọn Thánh Giuse làm đấng bênh vực và cầu thay cho mình, đã thường xuyên đến với ngài và bất cứ ơn nào xin với Thánh Giuse đều được toại nguyện. Được khích lệ bởi kinh nghiệm của chính mình, Thánh Têrêsa còn thuyết phục những người khác cũng vun trồng lòng sùng kính đối với Thánh Giuse.[9]

Sách kinh nào cũng có những kinh cầu nguyện với Thánh Giuse. Có những kinh đặc biệt cầu cùng Thánh Giuse vào các ngày thứ Tư và nhất là trong tháng Ba, theo truyền thống được dành để kính Thánh Giuse.[10]

Lòng tín thác của mọi người vào Thánh Giuse được thể hiện trong câu “Hãy đến cùng Giuse”, gợi lại nạn đói ở Ai Cập, khi người Ai Cập xin Pharaô cho họ bánh ăn. Ông trả lời: “Hãy đến cùng Giuse; và hãy làm những gì ông ấy bảo” (St 41,55). Pharaô muốn nói đến Giuse, con của Giacob, là người đã bị anh em mình bán làm nô lệ do lòng ghen tị (x. St 37,11-28) và là người – theo lời Kinh thánh – sau đó trở thành phó vương Ai Cập (x. St 41,41-44).

Thánh Giuse thuộc dòng dõi vua Đavít (x. Mt 1, 16-20), là cội rễ mà từ đó Chúa Giêsu sẽ sinh ra theo lời hứa đã được tiên tri Nathan báo cho Đavít (x. 2 Sm 7), và là bạn trăm năm của Đức Maria thành Nadarét, như thế Thánh Giuse tượng trưng cho mối liên hệ giữa Cựu ước và Tân ước.

  1. Một người cha dịu dàng và yêu thương

Thánh Giuse đã chứng kiến Chúa Giêsu lớn lên từng ngày “về khôn ngoan, vóc dạng và ân sủng, trước mặt Thiên Chúa và trước mặt người ta” (Lc 2,52). Như Thiên Chúa đã làm với Israel, Thánh Giuse cũng đã làm với Chúa Giêsu: “ngài dạy bước đi, cầm lấy tay; đối xử như một người cha nâng đứa trẻ lên tận má mình, cúi xuống và cho ăn” (x. Hs 11,3-4).

Nơi Thánh Giuse, Chúa Giêsu đã nhìn thấy tình yêu dịu dàng của Thiên Chúa: “Như người cha yêu thương con cái mình, Chúa xót thương những ai kính sợ Người” (Tv 103, 13).

Trong hội đường, khi cầu nguyện bằng Thánh vịnh, chắc chắn Thánh Giuse đã nghe đi nghe lại nhiều lần rằng Thiên Chúa của Israel là Thiên Chúa chạnh lòng thương,[11] là Đấng nhân hậu với tất cả mọi người, Đấng “nhân từ hơn tất cả những gì Ngài đã làm”. (Tv 145,9).

Lịch sử cứu độ được hoàn thành “trong hy vọng dù không còn hy vọng” (Rm 4,18), qua những yếu đuối của chúng ta. Chúng ta thường nghĩ rằng Thiên Chúa chỉ hoạt động qua những mặt tốt của chúng ta, nhưng hầu hết các kế hoạch của Ngài đều được thực hiện qua các yếu đuối của chúng ta và bất chấp sự yếu đuối ấy. Vì vậy, Thánh Phaolô mới nói: “Để cho tôi khỏi tự cao tự đại, thân xác tôi như bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Satan được sai đến để hành hạ tôi, để cho tôi khỏi huênh hoang. Đã ba lần tôi xin Chúa cho thoát khỏi điều này, rằng nó sẽ rời bỏ tôi, nhưng Người bảo tôi: ‘Ơn Ta đủ cho con, vì quyền năng của Ta được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối’” (2 Cr 12,7-9).

Vì đây là một phần của toàn bộ kế hoạch cứu độ, chúng ta phải học cách nhìn vào những yếu đuối của mình với lòng thương xót dịu dàng.[12]

Kẻ Ác khiến chúng ta thấy được và lên án sự yếu đuối của chúng ta, trong khi Thánh Thần đưa nó ra ánh sáng bằng tình yêu dịu dàng. Sự dịu dàng là cách tốt nhất để chạm vào sự yếu đuối bên trong chúng ta. Chỉ tay và phán xét người khác thường là dấu hiệu của việc không thể chấp nhận sự yếu đuối, sự mong manh của bản thân chúng ta. Chỉ có tình yêu dịu dàng mới cứu chúng ta thoát khỏi cạm bẫy của kẻ tố cáo (x. Kh 12,10). Đó là lý do tại sao việc gặp gỡ lòng thương xót của Thiên Chúa, đặc biệt là trong bí tích Hòa giải, nơi chúng ta cảm nghiệm được sự thật và lòng dịu dàng của Ngài là điều rất quan trọng. Nghịch lý thay, Kẻ Ác cũng có thể nói sự thật với chúng ta, nhưng hắn làm vậy chỉ để lên án chúng ta. Chúng ta biết rằng sự thật của Thiên Chúa không lên án, nhưng đón nhận, ôm lấy chúng ta, nâng đỡ và tha thứ cho chúng ta. Sự thật ấy luôn được bày tỏ cho chúng ta như người cha nhân hậu trong dụ ngôn của Chúa Giêsu (x. Lc 15,11-32). Sự thật ấy đến gặp chúng ta, phục hồi phẩm giá của chúng ta, nâng chúng ta dậy và vui mừng vì chúng ta, vì như người cha đã nói: “Con trai ta đã chết và nay sống lại; nó đã mất và nay được tìm thấy” (câu 24).

Ý Chúa, lịch sử và kế hoạch của Ngài vẫn hoạt động, ngay cả qua nỗi sợ hãi của Thánh Giuse. Vì thế, Thánh Giuse dạy chúng ta rằng đức tin vào Thiên Chúa cũng là tin rằng Ngài có thể hành động cả khi chúng ta sợ hãi, mỏng manh và yếu đuối. Ngài cũng dạy chúng ta rằng giữa những thử thách của cuộc đời, chúng ta đừng bao giờ sợ để Chúa dẫn lối cho chúng ta. Đôi khi, chúng ta muốn kiểm soát mọi sự, nhưng Thiên Chúa luôn nhìn thấy bức tranh toàn cảnh hơn.

  1. Một người cha vâng phục

Như đã thực hiện nơi Đức Maria, Thiên Chúa cũng mạc khải kế hoạch cứu độ của Ngài cho Thánh Giuse. Thiên Chúa đã làm như vậy bằng cách dùng những giấc mơ, mà trong Kinh thánh và trong tất cả các dân tộc cổ đại, được coi là một cách để cho biết ý muốn của Ngài.[13]

Thánh Giuse vô cùng bối rối trước việc mang thai lạ lùng của Đức Maria. Ngài không muốn “công khai tố giác bà”,[14] nên đã quyết định “lặng lẽ rời bỏ bà” (Mt 1,19).

Trong giấc mơ đầu tiên, một sứ thần giúp ngài giải quyết tình huống khó xử nghiêm trọng: “Đừng ngại nhận Maria làm vợ, vì đứa trẻ được thụ thai trong lòng bà là do Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh một con trai, và ông sẽ đặt tên là Giêsu, vì Người sẽ cứu dân Người khỏi tội” (Mt 1,20-21). Thánh Giuse đáp lại ngay: “Khi Giuse vừa thức giấc, ông đã làm theo lời sứ thần Chúa truyền” (Mt 1,24). Thái độ vâng phục đã giúp Thánh Giuse vượt qua khó khăn và cứu được Đức Maria.

Trong giấc mơ thứ hai, sứ thần bảo Thánh Giuse: “Hãy trỗi dậy, đem Hài nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập, và cứ ở đó cho đến khi ta nói lại; vì Hêrôđê sắp lùng bắt Hài nhi để giết đi” (Mt 2,13). Thánh Giuse đã không ngần ngại vâng lời, bất kể khó khăn gian khổ: “Ngài trỗi dậy trong đêm, đưa Hài nhi và mẹ Người đi Ai Cập, và ở đó cho đến khi Hêrôđê qua đời” (Mt 2,14-15).

Ở Ai Cập, Thánh Giuse kiên nhẫn chờ sứ thần báo tin có thể trở về nhà an toàn. Trong giấc mơ thứ ba, sứ thần cho ngài biết những kẻ tìm giết Hài nhi đã chết và truyền cho ngài trỗi dậy, đem Hài nhi và mẹ Người trở về đất Israel (x. Mt 2,19-20). Một lần nữa, Thánh Giuse lại mau mắn vâng lời. “Ông trỗi dậy, đưa Hài nhi và mẹ trở về đất Israel” (Mt 2,21).

Trên đường trở về, “khi Giuse nghe tin Archelaô lên làm vua xứ Giuđê thay cho cha mình là Hêrôđê, thì ông sợ không dám về đó. Được cảnh báo trong giấc mơ” – đây là lần thứ tư – “ông lui về miền Galilê. Ở đó, ngài lập cư tại một thành gọi là Nadarét” (Mt 2,22-23).

Còn thánh sử Luca cho chúng ta biết rằng Thánh Giuse đã trải qua cuộc hành trình dài và vất vả từ Nadarét đến Bêlem để ghi tên vào sổ bộ nơi nguyên quán của gia đình mình trong cuộc điều tra dân số của Hoàng đế Cêsarê Augustô. Chúa Giêsu đã được sinh ra trong hoàn cảnh đó (x. Lc 2,7) và được ghi vào sổ bộ của Đế quốc Rôma, giống như mọi đứa trẻ khác. Thánh Luca đặc biệt quan tâm kể lại việc cha mẹ của Chúa Giêsu đã tuân giữ tất cả các quy định của Luật: nghi thức cắt bì cho Chúa Giêsu, nghi thức thanh tẩy cho Đức Maria sau khi sinh con, nghi thức dâng con đầu lòng cho Thiên Chúa (x. 2,21-24).[15]

Trong mọi hoàn cảnh, Thánh Giuse đều nói lời “fiat” của chính mình, cũng như khi Đức Maria được sứ thần truyền tin và như Chúa Giêsu trong Vườn Cây Dầu.

Trong vai trò là chủ gia đình, thánh Giuse đã dạy Chúa Giêsu vâng lời cha mẹ (x. Lc 2,51), theo lệnh truyền của Chúa (x. Xh 20,12).

Trong những năm sống ẩn dật ở Nadarét, Chúa Giêsu đã học ở trường học của thánh Giuse để làm theo ý của Chúa Cha. Ý của Chúa Cha là lương thực hằng ngày của Người (x. Ga 4,34). Ngay cả khi gặp khó khăn nhất, trong Vườn Cây Dầu, Chúa Giêsu cũng đã chọn làm theo ý muốn của Đức Chúa Cha hơn là ý muốn của mình,[16] trở nên “vâng lời cho đến chết, thậm chí chết trên thập tự giá” (Pl 2,8). Vì thế, tác giả Thư gửi người Do Thái kết luận rằng Chúa Giêsu “đã học biết vâng phục qua những gì Người phải chịu” (5,8).

Tất cả những điều này cho thấy rõ rằng “Thánh Giuse đã được Thiên Chúa kêu gọi để trực tiếp phục vụ con người và sứ mệnh của Chúa Giêsu qua việc thực thi chức vụ làm cha” và như thế, “khi thời gian viên mãn, ngài đã cộng tác vào mầu nhiệm cứu độ cao cả và thực sự là một thừa tác viên của ơn cứu độ”.[17]

  1. Một người cha chấp nhận

Thánh Giuse đã chấp nhận Đức Maria một cách vô điều kiện. Ngài tin vào lời sứ thần đã nói. “Sự cao thượng của tâm hồn Thánh Giuse là ở chỗ những gì ngài học được từ lề luật thì ngài đã sống theo tình bác ái. Ngày nay, trong thế giới của chúng ta, nơi mà bạo lực tinh thần, ngôn từ và thân xác đối với phụ nữ đã quá rõ ràng, thì Thánh Giuse trở thành hình ảnh của một người đàn ông biết tôn trọng và tinh tế. Mặc dù không hiểu rõ mọi chuyện, nhưng ngài vẫn quyết định bảo vệ danh thơm tiếng tốt, phẩm giá và cuộc sống của Mẹ Maria. Khi ngài còn do dự không biết nên làm gì, Thiên Chúa đã soi sáng để giúp ngài quyết định”.[18]

Trong cuộc sống, vẫn có những điều xảy ra mà chúng ta không hiểu được ý nghĩa. Phản ứng đầu tiên của chúng ta thường là thất vọng và nổi loạn. Thánh Giuse đã gạt bỏ ý riêng của mình để chấp nhận các sự kiện xảy đến và, dù các sự kiện ấy xem ra gây hoang mang, ngài vẫn đón nhận, nhận trách nhiệm và biến chúng thành một phần lịch sử của chính mình. Nếu chúng ta không hòa hợp với lịch sử của chính mình, chúng ta sẽ không thể đi tiếp, vì chúng ta sẽ luôn là con tin cho những kỳ vọng và những thất vọng theo sau.

Con đường thiêng liêng mà Thánh Giuse vạch ra cho chúng ta không phải là con đường giải thích, mà là con đường chấp nhận. Chỉ khi nào biết chấp nhận và giao hoà như thế, chúng ta mới có thể bắt đầu nhìn thấy một lịch sử bao quát hơn, một ý nghĩa sâu sắc hơn. Dường như chúng ta nghe vọng lại câu trả lời thật sâu sắc của ông Gióp với người vợ, bà đã xúi giục ông phản kháng vì những điều ác mà ông phải gánh chịu: “Chúng ta nhận được điều tốt từ tay Thiên Chúa, sao chúng ta lại không nhận điều bất hạnh?” (G 2,10).

Chắc chắn Thánh Giuse không cam chịu một cách thụ động, nhưng chủ động một cách can đảm và vững vàng. Trong cuộc sống của chúng ta, việc chấp nhận và đón nhận có thể là một biểu hiện của ơn Sức Mạnh của Chúa Thánh Thần. Chỉ có Chúa mới có thể ban cho chúng ta sức mạnh cần thiết để chấp nhận cuộc sống như nó vốn thế, với tất cả những mâu thuẫn, nản lòng và thất vọng của nó.

Chúa Giêsu đến ở giữa chúng ta, đó là một ơn của Chúa Cha, giúp mỗi người chúng ta có thể hòa hợp với lịch sử cụ thể của đời mình, cả khi chúng ta không hiểu được hoàn toàn.

Cũng như Chúa đã nói với Thánh Giuse: “Hỡi Con vua Đavít, đừng sợ!” (Mt 1,20), dường như Ngài cũng nói với chúng ta: “Đừng sợ!” Chúng ta cần gạt bỏ mọi tức giận và thất vọng để đón nhận mọi thứ như chúng vốn thế, cả khi chúng không diễn ra như chúng ta mong muốn. Không phải là đành chịu mà đầy hy vọng và can đảm. Như thế, chúng ta sẽ mở ra với một ý nghĩa sâu sắc hơn. Cuộc sống của chúng ta sẽ được tái sinh một cách kỳ diệu nếu chúng ta can đảm sống theo Phúc Âm. Sẽ chẳng có vấn đề gì nếu mọi thứ dường như đã tồi tệ hoặc có điều gì không sửa chữa được nữa. Chúa có thể làm cho hoa mọc lên từ đá. Ngay cả khi lòng chúng ta kết án chúng ta, “Thiên Chúa lớn hơn lòng chúng ta, và Ngài biết mọi sự” (1 Ga 3,20).

Ở đây, một lần nữa, chúng ta gặp lại chủ nghĩa hiện thực Kitô giáo vốn không phủ nhận những gì hiện hữu. Thực tại, trong tính phức tạp bí ẩn và không thể giải thích của nó, có một ý nghĩa hiện sinh, với tất cả ánh sáng và bóng tối của nó. Thế nên Tông đồ Phaolô mới nói: “Chúng ta biết rằng Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh ích cho những ai yêu mến Người” (Rm 8,28). Thánh Augustinô nói thêm, “ngay cả cái được gọi là sự dữ (etiam illud quod malum dicitur)”.[19] Theo góc nhìn rộng hơn này, đức tin mang lại ý nghĩa cho mọi biến cố, dù vui hay buồn.

Chúng ta cũng đừng bao giờ nghĩ rằng tin có nghĩa là tìm ra các giải pháp dễ dàng và an ủi. Đức tin mà Chúa Kitô đã dạy chúng ta là những gì chúng ta thấy nơi Thánh Giuse. Ngài không tìm kiếm những lối tắt, mà mở rộng đôi mắt để đối mặt với thực tế và nhận trách nhiệm cá nhân về điều ấy.

Thái độ của Thánh Giuse khuyến khích chúng ta chấp nhận và đón nhận người khác như họ vốn có, không có ngoại lệ, và quan tâm đặc biệt đến những người yếu đuối, vì Thiên Chúa chọn những gì yếu đuối (x. 1 Cr 1,27). Thiên Chúa là “Cha kẻ mồ côi và là Đấng che chở những người góa bụa” (Tv 68,6), Ngài truyền cho chúng ta phải yêu thương người xa lạ ở giữa chúng ta.[20] Tôi thích nghĩ rằng chính từ Thánh Giuse, Chúa Giêsu đã có cảm hứng để kể câu chuyện dụ ngôn người con hoang đàng và người cha nhân hậu (x. Lc 15,11-32).

  1. Một người cha có lòng can đảm đầy sáng tạo

Nếu giai đoạn đầu tiên của mọi chữa lành nội tâm thực sự là chấp nhận lịch sử cá nhân của chúng ta và chấp nhận cả những gì trong cuộc sống mà chúng ta đã không chọn lấy, thì nay chúng ta phải thêm một yếu tố quan trọng khác: lòng can đảm đầy sáng tạo. Lòng can đảm này thể hiện đặc biệt trong cách chúng ta đối phó với những khó khăn. Đối mặt với khó khăn, chúng ta có thể đầu hàng và bỏ cuộc hay nhập cuộc cách nào đó. Đôi khi, khó khăn làm bật ra những nguồn lực mà chúng ta thậm chí không nghĩ rằng mình đang có.

Khi đọc các bài tường thuật thời thơ ấu của Chúa Giêsu, có lẽ chúng ta thường thắc mắc tại sao Thiên Chúa không hành động một cách trực tiếp và rõ ràng hơn. Nhưng Thiên Chúa lại hành động qua các biến cố và qua con người. Thánh Giuse là người được Chúa chọn để hướng dẫn giai đoạn khởi đầu của lịch sử cứu chuộc. Ngài là “dấu lạ” thực sự mà Chúa dùng để cứu hài nhi Giêsu và mẹ của Người. Thiên Chúa đã hành động qua thái độ tin tưởng vào lòng can đảm đầy sáng tạo của Thánh Giuse. Khi đến Bêlem và không tìm được chỗ cho Đức Maria sinh con, Thánh Giuse đã chuẩn bị một cái chuồng bò và làm hết sức có thể để biến nó thành ngôi nhà chào đón Con Thiên Chúa đến thế gian (x. Lc 2, 6-7). Trước nguy cơ sắp xảy ra là Hêrôđê muốn giết Hài nhi Giêsu, một lần nữa trong giấc mơ, thánh Giuse đã được báo mộng để bảo vệ Hài nhi, và nửa đêm thức dậy chuẩn bị trốn sang Ai Cập (x. Mt 2,13-14 ).

Khi đọc lướt qua những câu chuyện này có thể chúng ta thường có cảm tưởng rằng thế giới được phó mặc cho những kẻ mạnh và kẻ có quyền, nhưng “tin mừng” của Phúc âm là ở chỗ cho thấy rằng, bất chấp thói kiêu ngạo và bạo lực của các quyền lực thế gian, Chúa luôn tìm ra cách thực hiện kế hoạch cứu độ của Ngài. Cuộc sống của chúng ta vậy, đôi khi xem ra bị phó mặc trong tay kẻ có quyền, nhưng Tin Mừng cho chúng ta thấy điều gì mới là đáng giá. Thiên Chúa luôn tìm ra cách để cứu chúng ta, miễn là chúng ta thể hiện lòng can đảm đầy sáng tạo như người thợ mộc thành Nadarét, người có thể biến vấn đề thành khả năng bằng cách luôn tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa.

Nếu có lúc dường như Chúa không giúp chúng ta, thì chắc chắn không có nghĩa là chúng ta bị bỏ rơi, mà là chúng ta đang được Chúa tin tưởng để tự mình lên kế hoạch, sáng tạo và tìm ra giải pháp.

Lòng can đảm đầy sáng tạo đó đã được những người bạn của người bại liệt thể hiện, họ đã dỡ mái nhà hạ anh xuống để đưa anh đến với Chúa Giêsu (x. Lc 5, 17-26). Khó khăn đã không ngăn cản được sự mạnh dạn và kiên trì của những người bạn đó. Họ tin chắc rằng Chúa Giêsu có thể chữa lành cho anh, và bởi “không tìm được cách nào để đưa anh ta vào vì đám đông dân chúng, họ đã trèo lên mái nhà và thả anh xuống cùng với chiếc giường vào giữa đám đông đang ở trước mặt Chúa Giêsu. Nhìn thấy đức tin của họ, Chúa Giêsu nói: “Này bạn, tội lỗi của bạn đã được tha’” (câu 19-20). Chúa Giêsu nhìn nhận đức tin sáng tạo mà nhờ đó họ đã tìm cách đưa người bạn đau yếu đến với Ngài.

Phúc Âm không cho chúng ta biết Đức Maria, Thánh Giuse và Hài nhi ở lại Ai Cập bao lâu. Tuy nhiên, chắc chắn các ngài cần phải có cái ăn, có một mái nhà và có việc làm. Chẳng cần phải tưởng tượng nhiều cũng thấy được những chi tiết đó. Thánh Gia đã phải đối mặt với những vấn đề cụ thể như mọi gia đình khác, giống như rất nhiều anh chị em di dân của chúng ta, là những người ngày nay cũng phải liều mạng để thoát khỏi bất hạnh và đói khát. Về khía cạnh này, tôi coi Thánh Giuse là Đấng bảo trợ đặc biệt của tất cả những ai buộc phải rời bỏ quê hương vì chiến tranh, hận thù, đàn áp và nghèo đói.

Ở cuối mỗi câu chuyện mà thánh Giuse là nhân vật chính, Phúc Âm kể lại rằng ngài trỗi dậy, ẵm lấy Hài nhi và cùng với Mẹ Người làm như Thiên Chúa đã truyền (x. Mt 1,24; 2,14.21). Thật vậy, Chúa Giêsu và Đức Maria Mẹ Người là kho tàng đức tin quý giá nhất của chúng ta.[21]

Trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa,  Chúa Con không tách rời khỏi Đức Maria Mẹ của Người, Đấng đã “tiến bước trong cuộc lữ hành đức tin, trung thành hợp nhất với Con cho đến tận bên chân Thập giá”.[22]

Chúng ta cần luôn xét xem, liệu chúng ta có đang bảo vệ Chúa Giêsu và Mẹ Maria hay không, vì các Ngài cũng được trao phó cho trách nhiệm của chúng ta một cách mầu nhiệm, để chăm sóc và giữ gìn. Con của Đấng Toàn Năng đã đến trần gian của chúng ta trong tình trạng thật yếu đuối mỏng giòn. Ngài cần được Thánh Giuse che chở, bảo vệ, chăm sóc và nuôi nấng. Thiên Chúa đã tin cậy Thánh Giuse, cả Đức Maria cũng thế, Mẹ là người đã thấy nơi Thánh Giuse một người không chỉ cứu mạng mình mà còn luôn chăm lo cho mình và con của mình nữa. Theo nghĩa này, Thánh Giuse không khác gì Đấng Bảo vệ Hội Thánh, vì Hội Thánh là sự tiếp nối Nhiệm Thể Chúa Kitô trong lịch sử, cũng như tư cách làm mẹ của Đức Maria được phản ánh trong tư cách Mẹ của Hội Thánh.[23] Khi tiếp tục bảo vệ Hội Thánh, Thánh Giuse tiếp tục bảo vệ Hài nhi và mẹ Người, và cả chúng ta nữa, khi yêu mến Giáo hội, là chúng ta tiếp tục yêu Hài nhi Giêsu và mẹ Người.

Hài nhi ấy là Đấng sẽ nói: “Điều ngươi đã làm cho một trong những người nhỏ bé nhất trong gia đình của Ta đây, là làm cho chính Ta” (Mt 25,40). Vì vậy, tất cả những ai nghèo khổ, thiếu thốn, đau khổ hay đang hấp hối, tất cả những ai là người xa lạ, tù nhân hay bệnh nhân đều là “hài nhi” mà Thánh Giuse tiếp tục bảo vệ. Bởi thế, Thánh Giuse được kêu cầu như Đấng che chở cho người bất hạnh, người túng thiếu, lưu đày, đau khổ, nghèo đói và hấp hối. Và Hội Thánh không thể không bày tỏ tình yêu thương đặc biệt đối với những người anh chị em hèn mọn nhất của chúng ta, vì Chúa Giêsu đã bày tỏ mối quan tâm đặc biệt đến họ và đồng hoá với họ. Từ nơi Thánh Giuse, chúng ta cũng phải học cách chăm sóc và trách nhiệm ấy. Chúng ta phải học cách yêu thương Hài nhi và mẹ Người, yêu mến các bí tích và đức bác ái, yêu mến Giáo hội và người nghèo. Mỗi thực tại ấy luôn là Hài nhi và mẹ Người.

  1. Một người cha làm việc

Một khía cạnh của Thánh Giuse đã được nhấn mạnh từ khi Đức giáo hoàng Lêô XIII ban hành Thông điệp xã hội đầu tiên, Rerum Novarum, là mối quan hệ của ngài với công việc. Thánh Giuse là một người thợ mộc làm việc lương thiện để nuôi sống gia đình. Nơi Thánh Giuse, Chúa Giêsu đã học được giá trị, phẩm giá và niềm vui của việc ăn miếng bánh là thành quả lao động của chính mình.

Trong thời đại của chúng ta, khi việc làm một lần nữa trở thành một vấn đề xã hội cấp bách, và tình trạng thất nghiệp đôi khi lên đến mức kỷ lục ngay cả ở các quốc gia đã được hưởng một mức độ thịnh vượng nhất định trong nhiều thập kỷ, thì cần ý thức lại để biết quý trọng việc làm đem lại phẩm giá mà Thánh Giuse là vị bổn mạng mẫu mực.

Việc làm là một phương tiện để tham dự vào công trình cứu chuộc, một cơ hội để làm cho Nước Trời mau đến, để phát triển tài năng và khả năng của chúng ta, và để phục vụ xã hội và tình hiệp thông huynh đệ. Nó trở thành cơ hội để hoàn thiện không chỉ bản thân mình, mà cả tế bào căn bản của xã hội là gia đình. Một gia đình không có việc làm đặc biệt dễ gặp khó khăn, căng thẳng, rạn nứt và thậm chí tan vỡ. Làm sao chúng ta có thể nói về phẩm giá con người mà lại không hành động để bảo đảm cho ai cũng có thể kiếm được một cuộc sống tử tế?

Những người đang làm việc, dù làm việc gì, đều đang hợp tác với chính Thiên Chúa, và theo một cách nào đó trở thành những người sáng tạo thế giới xung quanh chúng ta. Cuộc khủng hoảng của thời đại chúng ta – về kinh tế, xã hội, văn hóa và tinh thần – có thể là lời kêu gọi tất cả chúng ta khám phá lại giá trị, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc làm để mang lại một sự “bình thường” mới mà không ai bị loại ra. Việc làm của Thánh Giuse nhắc nhở chúng ta rằng chính Thiên Chúa, khi làm người, đã không khinh thường công việc. Tình trạng mất việc làm vốn ảnh hưởng đến rất nhiều anh chị em của chúng ta và đã gia tăng do hậu quả của đại dịch Covid-19, cần được coi như một lời kêu gọi xét lại các ưu tiên của chúng ta. Chúng ta hãy cầu xin Thánh Giuse Thợ giúp chúng ta tìm ra những cách thể hiện niềm tin vững vàng rằng không một người trẻ nào, không một người nào, không một gia đình nào không có việc làm!

  1. Một người cha trong bóng tối

Nhà văn Ba Lan Jan Dobraczyński, trong tác phẩm “Hình bóng của Chúa Cha”,[24] đã kể câu chuyện về cuộc đời của Thánh Giuse theo hình thức tiểu thuyết. Ông dùng hình ảnh gợi liên tưởng của một cái bóng để nói về Thánh Giuse. Trong mối tương quan với Chúa Giêsu, Thánh Giuse là hình bóng trần gian của Cha trên trời: Ngài trông nom và bảo vệ Chúa Giêsu, không bao giờ để Chúa Giêsu đi một mình. Chúng ta có thể nghĩ đến những lời của Môsê nói với Israel: “Trong sa mạc … ngươi đã thấy Đức Chúa là Thiên Chúa ngươi bồng bế ngươi như người ta bồng bế con mình, trên mọi nẻo đường các ngươi đi” (Đnl 1,31). Tương tự như vậy, Thánh Giuse đã đóng vai trò một người cha trong suốt cuộc đời của ngài.[25]

Chúng ta không sinh ra là cha, nhưng trở thành người cha. Một người không trở thành cha đơn giản chỉ vì sinh ra một đứa con, nhưng vì đảm nhận trách nhiệm chăm sóc đứa con ấy. Bất cứ khi nào một người nhận trách nhiệm về cuộc sống của một người khác, thì một cách nào đó, họ trở thành cha của người ấy.

Trẻ em ngày nay dường như mồ côi cha. Giáo hội cũng cần có những người cha. Lời thánh Phaolô nói với các tín hữu Côrintô vẫn còn hợp thời: “Dù anh em có vô số người hướng dẫn trong Đức Kitô, nhưng anh em không có nhiều người cha đâu!” (1 Cr 4,15). Mỗi linh mục hay giám mục đều có thể nói thêm, cùng với vị Tông đồ rằng: “Tôi đã trở thành cha của anh em trong Chúa Giêsu Kitô nhờ Phúc âm” (ibid.). Thánh Phaolô cũng nói tương tự như vậy với các tín hữu Galata: “Hỡi các con bé nhỏ của tôi, mà tôi phải quặn đau sinh ra một lần nữa cho đến khi Đức Kitô được thành hình nơi anh em!” (4,19).

Làm cha có nghĩa là đưa con cái đến với cuộc sống và với thực tế. Không giữ chúng lại, không bảo bọc chúng quá đáng hay sở hữu chúng, mà là giúp cho chúng có khả năng tự quyết định, tận hưởng tự do và khám phá những khả năng mới. Có lẽ vì thế mà ngoài danh hiệu cha, truyền thống còn gọi Thánh Giuse là Đấng “cực thanh cực tịnh”. Tước hiệu đó không đơn thuần là một dấu chỉ của lòng yêu mến, mà còn là tóm lược một thái độ đối lập với tính chiếm hữu. Thanh khiết là sự tự do thoát khỏi thái độ chiếm hữu trong mọi lĩnh vực đời sống của mình. Chỉ khi nào tình yêu thanh khiết, đó mới là tình yêu thực sự. Một tình yêu chiếm hữu cuối cùng sẽ trở nên nguy hiểm: nó giam hãm, bóp nghẹt và gây đau khổ. Chính Thiên Chúa đã yêu nhân loại bằng một tình yêu thanh khiết; Ngài để chúng ta được tự do, thậm chí phạm tội và chống lại Ngài. Luận lý của tình yêu luôn là luận lý của tự do, và Thánh Giuse biết cách yêu thương với thái độ tự do phi thường. Ngài không bao giờ biến mình thành trung tâm của mọi sự. Ngài không nghĩ về mình, mà luôn nghĩ về cuộc đời của Mẹ Maria và Chúa Giêsu.

Thánh Giuse tìm được hạnh phúc không phải ở sự hy sinh bản thân mà là ở sự tự hiến. Nơi ngài, chúng ta không bao giờ thấy nỗi thất vọng mà chỉ thấy niềm tin tưởng. Sự thinh lặng kiên nhẫn của ngài dẫn tới những thể hiện cụ thể của lòng tin tưởng. Thế giới của chúng ta ngày nay cần những người cha. Nó không chấp nhận những bạo chúa, những kẻ hà hiếp người khác như một phương tiện để bù đắp cho nhu cầu của chính họ. Nó từ chối những người nhầm lẫn quyền hành với độc đoán, phục vụ với tùng phục, thảo luận với áp bức, bác ái với trợ giúp, sức mạnh với hủy diệt. Mọi ơn gọi đích thực đều được sinh ra từ việc tự hiến, là hoa trái của sự hy sinh chín chắn. Chức linh mục và đời sống thánh hiến cũng đòi hỏi phải có sự chín chắn như vậy. Dù ơn gọi của chúng ta là gì, kết hôn, độc thân hay sống trinh khiết, việc cho đi chính mình sẽ không thành toàn nếu nó chỉ dừng lại ở sự hy sinh; nếu thế, thay vì trở thành một dấu chỉ của vẻ đẹp và niềm vui của tình yêu, việc cho đi chính mình sẽ có nguy cơ trở thành biểu hiện của bất hạnh, buồn bã và thất vọng.

Khi người cha từ bỏ cám dỗ sống cuộc sống của con cái mình, những khung cảnh mới mẻ và bất ngờ sẽ mở ra. Mỗi đứa con đều mang trong mình một mầu nhiệm độc đáo chỉ có thể được tỏ lộ nhờ sự giúp đỡ của người cha biết tôn trọng quyền tự do của đứa con ấy. Một người cha sẽ nhận ra mình là một người cha và một nhà giáo dục nhất vào lúc mình trở thành “vô dụng”, khi thấy con mình trở nên độc lập và có thể bước đi trên con đường của cuộc đời mà không cần ai đi kèm. Khi người cha ấy trở nên giống như Thánh Giuse, luôn biết rằng con mình không phải là của riêng mình mà chỉ được giao phó cho mình chăm sóc mà thôi. Cuối cùng, đây là điều mà Chúa Giêsu muốn chúng ta hiểu khi Người nói: “Các con đừng gọi ai ở dưới đất là cha, vì các con chỉ có một người Cha ở trên trời” (Mt 23, 9).

Mỗi khi thi hành thiên chức làm cha, chúng ta phải luôn nhớ rằng thiên chức ấy không liên quan gì đến sự chiếm hữu, mà là một “dấu chỉ” hướng đến một tình phụ tử lớn hơn. Một cách nào đó, tất cả chúng ta đều giống như Thánh Giuse: là cái bóng của Cha trên trời, Đấng “làm cho mặt trời mọc lên trên kẻ dữ cũng như người lành, và làm mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất lương” (Mt 5,45). Và là cái bóng bước theo Con của Ngài.

*  *  *

Thiên Chúa nói với Thánh Giuse: “Hãy trỗi dậy, đem Hài nhi và mẹ Người trốn đi” (Mt 2,13).

Mục đích của Tông thư này là làm cho chúng ta thêm lòng yêu mến Thánh cả, khuyến khích cầu xin ngài chuyển cầu cho chúng ta và noi gương các nhân đức và lòng nhiệt thành của ngài.

Thật vậy, sứ mệnh cụ thể của các thánh không chỉ là chuyển ban phép lạ và ơn thánh(*), nhưng là chuyển cầu cho chúng ta trước mặt Thiên Chúa, như Ápraham[26] và Môsê[27], và như Chúa Giêsu, “Đấng trung gian duy nhất” (1 Tm 2,5), là “Đấng bảo trợ” cho chúng ta trước mặt Chúa Cha (1 Ga 2,1) và là Đấng “hằng sống để chuyển cầu cho chúng ta” (Dt 7,25; x. Rm 8,34).

Các thánh giúp tất cả các tín hữu “phấn đấu nên thánh và theo đuổi sự trọn lành của bậc sống mình”.[28] Cuộc sống của các ngài là bằng chứng cụ thể cho thấy có thể sống Phúc Âm.

Chúa Giêsu đã nói: “Hãy học cùng tôi, vì tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11,29). Cuộc đời của các thánh cũng là những tấm gương để noi theo. Thánh Phaolô nói rõ điều này: “Anh em hãy bắt chước tôi!” (1 Cr 4,16).[29] Bằng sự thinh lặng hùng hồn, Thánh Giuse cũng nói như vậy.

Trước tấm gương của biết bao vị thánh nam và nữ, Thánh Augustinô đã tự hỏi: “Điều các ngài đã làm được, mi không làm được sao?” Và thế là ngài đã dứt khoát hoán cải và thốt lên: “Con đã yêu Chúa quá muộn màng, ôi Vẻ Đẹp vẫn cổ xưa mà luôn tươi mới!”[30]

Vậy chúng ta hãy cầu xin với Thánh Giuse ban cho chúng ta ơn của các ơn: đó là ơn hoán cải.

Giờ đây chúng ta hãy cầu nguyện với ngài:

Kính chào Đấng Gìn giữ Đấng Cứu Thế,
Bạn trăm năm của Đức Trinh Nữ Maria.
Chúa đã trao Con Một của Chúa cho ngài;
Mẹ Maria đã tin tưởng vào ngài;
Chúa Kitô đã lớn lên thành người cùng với ngài.

Lạy Thánh Giuse diễm phúc,
xin cũng hãy tỏ ra ngài là cha của chúng con
và hướng dẫn chúng con đi trên đường đời.
Xin giúp chúng con đón nhận ân sủng, lòng thương xót và lòng can đảm,(*)
và xin bảo vệ chúng con khỏi mọi sự dữ. Amen.

Ban hành ở Rôma, tại Đền Thờ Latêranô,

ngày 8 tháng 12, Đại lễ kính Đức Trinh Nữ Maria Vô nhiễm Nguyên tội, năm 2020,

năm thứ tám triều Giáo hoàng của tôi.

PHANXICÔ

Bản dịch chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam
WHĐ (10.12.2020)

[10] Mỗi ngày, trong hơn bốn mươi năm, sau Kinh Sáng, tôi đều đọc một kinh cầu nguyện với Thánh Giuse trích trong quyển Sách kinh của Pháp vào thế kỷ mười chín của Dòng Nữ tu Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Kinh này nói lên lòng yêu mến và tin tưởng, và thậm chí còn đặt ra một thách đố cho Thánh Giuse nữa: “Lạy Thánh tổ phụ Giuse vinh hiển, là Đấng có quyền năng biến điều không thể thành có thể, xin đến cứu giúp con trong những lúc đau khổ và khó khăn này. Xin bảo vệ con trước những tình thế ngặt nghèo và rắc rối mà con phó thác cho cha đây, hầu có một kết thúc tốt đẹp. Lạy cha yêu dấu của con, con đặt trọn niềm tin tưởng nơi cha. Xin đừng để người ta nói rằng con đã cầu xin cha luống công vô ích, và vì cha có thể làm mọi sự với Chúa Giêsu và Mẹ Maria, xin cha cho con thấy rằng lòng nhân hậu của cha cũng vĩ đại như quyền năng của cha. Amen.

000***000

Xin cầu cho con nữa,

Hết lòng Biết Ơn,

  1. phêrô chu quang minh, s.j.

QUÂN ĐỘI MYANMA BẮT GIỮ BÀ AUNG SAN SUU KYI- CHUYỆN KHÔNG LẠ.

QUÂN ĐỘI MYANMA BẮT GIỮ BÀ AUNG SAN SUU KYI- CHUYỆN KHÔNG LẠ.

Việc quân đội Myanma bắt giữ Cố vấn Nhà nước Aung San Suu Kyi có lẻ chẳng có gì ngạc nhiên lắm trong một nền dân chủ khiếm khuyết như Myanma. Giả sử nước Mỹ là Miến Điện thì Biden cũng sẽ bị quân đội bắt giữ như Aung San Suu Kyi bởi những cáo buộc gian lận bầu cử.Cho nên chúng ta không lạ gì khi phe “cuồng Trump” luôn tung những tin như “thiết quân luật” hay “tát cạn đầm lầy” với hoài vọng Trump sẽ dùng quân đội để bắt giữ toàn bộ đám “thổ tả” và sau đó làm tổng thống trọn đời bởi dân cuồng bao giờ cũng khá đông.

Điều này có lẻ sẽ diễn ra và kéo dài hàng chục năm một khi Việt Nam “lỡ may” giành được dân chủ. Bởi với người Việt Nam một khi có phe nào giành chiến thắng thì phe kia sẽ cáo buộc là thắng do gian lận dù chẳng đưa ra bất kỳ bằng chứng thuyết phục nào. Và ngành tư pháp độc lập sẽ luôn bị các dân tộc chậm tiến bỏ vào sọt rác.

Đối với các nước như Myanma, Thái Lan và Việt Nam quân đội luôn thể hiện sức mạnh. Ai nắm được quân đội xem như nắm được chính quyền.

Chỉ có nước Mỹ mới có chuyện quân đội đứng ngoài chính trị để bảo vệ hiến pháp thật sự

Nhà Trắng cảnh cáo Myanmar chớ cố gắng thay đổi kết quả bầu cử và sẽ hành động nếu quá trình chuyển đổi dân chủ bị cản trở sau khi có tin quân đội đảo chính.

“Mỹ phản đối bất kỳ nỗ lực nào nhằm thay đổi kết quả các cuộc bầu cử gần đây hoặc cản trở quá trình chuyển đổi dân chủ của Myanmar, và sẽ thực hiện hành động chống lại những người chịu trách nhiệm nếu những bước đi này bị đảo ngược”, phát ngôn viên Nhà Trắng Jen Psaki tuyên bố.

Bà nói thêm Tổng thống Mỹ Joe Biden đã được thông báo ngắn gọn về tình hình. Mỹ là quốc gia thứ hai lên tiếng về tình hình Myanmar sau Australia. Australia yêu cầu quân đội Myanmar lập tức thả Cố vấn Nhà nước Aung San Suu Kyi và nhiều lãnh đạo khác bị bắt trong cuộc đột kích sáng nay của quân đội.

Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken sau đó cũng ra tuyên bố bày tỏ quan ngại sâu sắc và kêu gọi quân đội Myanmar thả toàn bộ quan chức bị bắt.

“Chúng tôi kêu gọi các lãnh đạo quân đội Myanmar phóng thích toàn bộ quan chức chính phủ và lãnh đạo xã hội dân sự, tôn trọng ý nguyện của người dân được thể hiện qua cuộc bầu cử dân chủ hôm 8/11”, Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken cho biết. “Mỹ sát cánh cùng người dân Myanmar trong khát vọng của họ về dân chủ, tự do, hòa bình và phát triển. Quân đội Myanmar phải đảo ngược những hành động này ngay lập tức”.

Cuộc đột kích diễn ra sau nhiều ngày leo thang căng thẳng giữa chính phủ dân sự và lực lượng quân đội Myanmar, làm dấy lên lo ngại về nguy cơ xảy ra đảo chính sau một cuộc bầu cử bị quân đội nước này cáo buộc “gian lận”.

Đảng NLD của bà Suu Kyi giành chiến thắng với 346 trên tổng số 412 ghế quốc hội. Tuy nhiên, quân đội Myanmar tuần trước từ chối loại trừ khả năng lên nắm quyền của bà để giải quyết những cáo buộc bất thường trong cuộc bỏ phiếu, tuyên bố đã phát hiện hơn 10 triệu trường hợp gian lận cử tri. Quân đội đã yêu cầu uỷ ban bầu cử của chính quyền công bố danh sách cử tri để kiểm tra chéo nhưng uỷ ban không đồng ý.

Bà Suu Kyi từng được xem là ngọn hải đăng cho nhân quyền – một nhà hoạt động có nguyên tắc, đã hy sinh tự do của mình để thách thức các tướng lĩnh quân đội tàn nhẫn cai trị Myanmar trong nhiều thập niên.

Năm 1991, bà được trao giải Nobel Hòa bình, trong khi vẫn bị quản thúc tại gia, và được ca ngợi là “tấm gương xuất sắc về sức mạnh của kẻ bất lực”.

Bà Suu Kyi bị giam giữ gần 15 năm từ 1989 đến 2010.

Vào tháng 11 năm 2015, bà lãnh đạo đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) giành chiến thắng vang dội trong cuộc bầu cử công khai đầu tiên của Myanmar trong vòng 25 năm.

Hiến pháp Myanmar cấm bà trở thành tổng thống vì bà có con là công dân nước ngoài. Nhưng bà Suu Kyi, hiện 75 tuổi, được nhiều người coi là nhà lãnh đạo trên thực tế của Myanmar.

Nhưng kể từ khi trở thành cố vấn nhà nước của Myanmar, sự lãnh đạo của bà được định hình bằng cách bà đối xử với người thiểu số Rohingya theo đạo Hồi của nước này.

Năm 2017, hàng trăm nghìn người Rohingya đã chạy sang nước láng giềng Bangladesh vì cuộc đàn áp của quân đội, bùng lên bởi các cuộc tấn công chết người vào các đồn cảnh sát ở bang Rakhine trước đó.

Giới ủng hộ bà Suu Kyi trên thế giới cáo buộc bà đã không ngăn chặn việc người thiểu số Rohingya bị hãm hiếp, giết và khả năng bị diệt chủng, bằng cách từ chối lên án quân đội vẫn còn nắm nhiều quyền lực, hoặc thừa nhận đó là các hành vi tàn bạo.

Một số người ban đầu cho rằng bà làm thế vì là một chính trị gia thực dụng, đang tìm cách điều hành một quốc gia đa sắc tộc với một lịch sử phức tạp.

Nhưng việc Suu Kyi lên tiếng bào chữa cho các hành động của quân đội tại phiên điều trần Tòa án Công lý Quốc tế năm 2019 được coi là một bước ngoặt mới, làm mất đi những gì ít ỏi còn rớt lại về danh tiếng quốc tế của bà.

Tuy nhiên, ở quê nhà, bà Suu Kyi vẫn rất được đa số tín đồ Phật giáo, những người không mấy có thiện cảm với người Rohingya, ủng hộ.

TT Biden gặp gỡ các nhà lập pháp Cộng hòa để thảo luận về gói cứu trợ COVID

TT Biden gặp gỡ các nhà lập pháp Cộng hòa để thảo luận về gói cứu trợ COVID

01/02/2021

Hôm 1/2,Tổng thống Joe Biden sẽ gặp một nhóm gồm 10 thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa, những người đề xuất chi khoảng 1/3 trong số 1,9 nghìn tỷ đôla mà ông Biden đang tìm kiếm để cứu trợ do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19, theo AP.

Lời mời đến Nhà Trắng được đưa ra vài giờ sau khi các nhà lập pháp Cộng hòa gửi cho Tổng thống Biden một bức thư hôm 31/1, hối thúc ông đàm phán, thay vì cố gắng thông qua gói cứu trợ mà chỉ dựa trên phiếu bầu của phe Dân chủ. Hạ viện và Thượng viện dự kiến bỏ phiếu ngay trong tuần này về một nghị quyết ngân sách, điều này sẽ tạo cơ sở cho việc thông qua gói viện trợ theo quy tắc chỉ yêu cầu đa số phiếu chấp thuận.

Mục tiêu là đến tháng 3, khi trợ cấp thất nghiệp bổ sung và các khoản viện khác hết hạn.

Thư ký báo chí Nhà Trắng Jen Psaki cho biết hôm 31/1 rằng Tổng thống Biden đã nói chuyện với Thượng nghị sĩ Susan Collins, lãnh đạo của nhóm này. Mặc dù ông Biden muốn “trao đổi quan điểm đầy đủ”, bà Psaki nhắc lại rằng Tổng thống vẫn ủng hộ việc tiến tới với một gói cứu trợ sâu rộng.

Bà Psaki nói: “Với việc dịch bệnh gây ra một mối đe dọa nghiêm trọng đối với đất nước, và điều kiện kinh tế khó khăn đối với rất nhiều người, nhu cầu hành động là cấp bách, và quy mô của những gì phải làm là rất lớn.”

Nhóm các nhà lập pháp Cộng hòa cho biết trong thư rằng đề xuất đối ứng của họ sẽ bao gồm 160 tỷ đôla cho vaccine, xét nghiệm, điều trị và thiết bị bảo vệ cá nhân và kêu gọi khoản cứu trợ có mục tiêu hơn so với kế hoạch của ông Biden, theo đó phát hành ngân phiếu cứu trợ 1.400 đôla cho hầu hết người Mỹ.

“Với tinh thần lưỡng đảng và thống nhất, chúng tôi đã phát triển khuôn khổ cứu trợ COVID-19 dựa trên các luật hỗ trợ COVID trước đây, tất cả đều được thông qua với sự ủng hộ của lưỡng đảng,” các thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa viết.

Bức thư viết thêm: “Đề xuất của chúng tôi phản ánh nhiều ưu tiên mà quý vị đã nêu và với sự ủng hộ của quý vị, chúng tôi tin rằng kế hoạch này có thể được Quốc hội nhanh chóng thông qua với sự ủng hộ của lưỡng đảng.”

TT Biden gặp gỡ các nhà lập pháp Cộng hòa để thảo luận về gói cứu trợ COVID

VOATIENGVIET.COM

TT Biden gặp gỡ các nhà lập pháp Cộng hòa để thảo luận về gói cứu trợ COVID

Hôm 1/2,Tổng thống Joe Biden sẽ gặp một nhóm gồm 10 thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa, những người đề xuất chi khoảng 1/3 trong số 1,9 nghìn tỷ đôla mà ông Biden đang tìm kiếm để cứu trợ do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19.

CẦN BỘ MÁY SẠCH HAY CON NGƯỜI SẠCH?

CẦN BỘ MÁY SẠCH HAY CON NGƯỜI SẠCH?

Ở Úc: Vào năm 2011 ông Barry O’Farrell đắc cử chức thủ hiến bang New South Wales – Úc. Lúc đó có một doanh nhân tên là Di Girolamon tặng ông tân thủ hiến bang một chai rượu vang hiệu Grange sản xuất vào năm 1959 trị giá gần 3000 đô. Tuy nhiên không may cho ông Barry O’Farrell là đến năm 2014, ông Di Girolamon bị Ủy Ban chống Tham nhũng Độc Lập – ICAC điều tra tội hối lộ của và phát hiện ra năm 2011 ông Barry O’Farrell đã nhận chai rượu trị giá 3000 đô. Sau đó, nhân viên điều tra ICAC đã gọi ông thủ hiến lên thẩm vấn và ông một mực chối. Tuy nhiên trước bằng chứng không thể chối cãi của nhân viên điều tra ông đã thừ nhận là “không nhớ” món quà đó chứ ông không thừa nhận rằng ông đã nhận. Tuy nhiên chỉ với số tiền hối lộ 3000 đô thôi thì đủ để ông thủ hiến bang phải nói lời từ chức.

Ở Việt Nam: Bế mạc đại hội 13 hôm nay, ông Nguyễn Phú Trọng đã khoe trước toàn dân rằng: “Có người hối lộ xách vali tiền đến Ủy ban Kiểm tra Trung ương biếu xén, lấp liếm. Tôi nói với cán bộ kiểm tra anh mở vali ra để xem là cái gì, mở ra thì thấy tiền, đô la. Tôi bảo giờ anh khóa lại, lập biên bản, anh ký vào đây”. Và câu nói này đã được các báo đồng loạt đăng tải. Câu hỏi đặt ra là, nếu người được hối lộ không phải là ông Trọng mà là kẻ khác thì người ta có lắc đầu không? Hay là nhận tiền và giúp đỡ kẻ đưa hối lộ?

Được biết, năm 2018 bà cựu đại biểu Quốc hội Châu thị Thu Nga thú nhận bà đã mua ghế đại biểu Quốc hội 1,5 triệu đô la. Đó là người bán nhận tiền người ta và đã thực hiện cam kết. Còn mới đây báo chí đăng ông Cù Đăng Thành một cựu quan chức của Bộ Công An đã bán chức vụ phó của Tổng Cục thuế, Bộ Tài chính cho một đối tượng với giá 27 tỷ đồng và sau đó quỵt luôn không thực hiện cam kết. Quan chức CS thì đủ loại, có loại nhận tiền và tực hiện cam kết, có loại lừa nhận tiền rồi quỵt cam kết chứ loại không chịu nhận hối lộ thì cực hiếm.

Nếu so sánh ông Barry O’Farrell và Nguyễn Phú Trọng ta thấy rất tương phản. Ông O’Farrell thì nhận quà hối lộ còn ông Trọng thì không. Rõ ràng ở đây người ta dễ nhầm lẫn rằng, tư bản “tham lam xấu xa” còn XHCN thì “trong sạch, thanh cao”. Đó là về cá nhân, kẻ sạch người bẩn thì xứ nào cũng có. Tuy nhiên vấn đề là bộ máy nhà nước nó có loại bỏ hành động đưa và nhận hối lộ hay không mà thôi. Giả sử như ông Trọng trong sạch thật, thì liệu kẻ thế ông sau này có tiếp tục “trong sạch” hay là thấy những vali triệu đô là nhận hết?!

Hãy so sánh 2 bộ máy chính quyền của Úc và Việt Nam xem? Ở Úc chỉ đưa hối lộ có 3.000 đô mà không thoát, nhưng ở Việt Nam thì hối lộ triệu đô là chuyện bình thường. Và những phát hiện lối lộ là gần như không đáng kể so với thực tế, vì sao? Vì bản chất của chính quyền CS Việt Mam là quan chức không sống bằng lương mà chỉ sống bằng tiền hối lộ nên tài sản có thể bằng vài thế kỷ thậm chí và thiên niên kỷ tiền lương của chính quan chức đó.

Trên bảng xếp hạng của Tổ Chức Minh Bạc Thế Giới thì Úc đứng trên Việt Nam đến 93 bậc về mức độ trong sạch của bộ máy chính quyền. Ông Trọng có sạch hơn ông Barry O’Farrell thì chính quyền Việt Nam có sạch hơn chính quyền Úc đâu? Đó là thực tế. Đất nước Việt Nam cần một bộ máy nhà nước như Anh – Mỹ – Úc để chính quyền trong sạch chứ không cần con người “liêm chính” nào cả. Có bộ máy tốt thì ắt kẻ không liêm chính bị loại ngay. Con người là tạm thời, thể chế là mãi mãi. Việt Nam cần một thể chế sạch mới phát triển bền vững được, thể chế đó không phải là thể chế hiện nay.

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:

https://www.transparency.org/en/cpi/2020/index/nzl

https://vtc.vn/tong-bi-thu-co-nguoi-hoi-lo-mang-vali-tien…

https://plo.vn/…/bi-lua-hon-27-ti-dong-de-chay-chuc-vu…

https://vietnamnet.vn/…/thuc-hu-ba-chau-thi-thu-nga-chi…

May be an image of text