THẦY MARCEL NGUYỄN TẤN VĂN – NẠN NHÂN CỦA VIỆT CỘNG

 May be an image of 1 person and text

Gương anh hùng:

THẦY MARCEL NGUYỄN TẤN VĂN – NẠN NHÂN CỦA VIỆT CỘNG

Lời toà soạn: Đây là sinh chứng của cha Denis Paquette, bề trên của thầy MARCEL. Ngài cũng đã tự ý ở lại Bắc Việt và cũng đã bị trục xuất vào ngày 23/10/1958. Lúc bấy giờ thầy MARCEL đã bị khổ sai hơn 3 năm.

***

“Không một nỗi gian khổ nào có thể xoá nhoà nụ cười êm dịu luôn phảng phất trên gương mặt gầy hóp của anh được. Và nụ cười tươi nở cho ai, nếu không phải là cho bạn tình Giêsu! Anh là lễ vật của tình yêu, và tình yêu là hạnh phúc hoàn hảo, bất diệt của anh. Anne Marie, em thân mến, anh khuyên em đừng khóc, cố gắng vui vẻ và hiến dâng tất cả cho Chúa”.

Bút tích trên được trích trong bức Ngục trung thư của thầy Marcel gửi cho em gái, hiện là nữ tu Dòng Chúa Cứu Thế tại Sainte Anne de Beaupré, Gia Nã Đại.

Vào tháng 7 năm 1954, khi Bắc Việt rơi vào tay Cộng sản, thầy Marcel đang phục vụ tại Học viện Dòng Chúa Cứu Thế Đà Lạt. Thầy tình nguyện gia nhập nhà Dòng tại Hà Nội để làm chứng tá dưới chế độ Cộng sản. Trong số năm tu sĩ phục vụ tại đây, có hai linh mục Gia Nã Đại, một linh mục người Việt và hai tu sĩ, có nhiệm vụ duy trì đời sống của nhà Dòng dưới chế độ đỏ, và giúp đỡ cộng đoàn tín hữu ở lại trong xứ đạo sau biến cố di cư. Các vị Bề trên đã không ngần ngại chấp nhận lời thỉnh cầu của một tu sĩ gương mẫu như thầy Marcel, và chọn thầy để nêu cao tang chứng đức tin như ngọn đuốc sáng trong đêm tối của Giáo Hội thầm lặng và nguyện cầu.

Lúc ấy thầy Marcel được 26 tuổi, và đã khấn dòng được 9 năm. Lòng sốt sắng nồng nhiệt, tinh thần kỷ luật tuyệt mức, chí làm việc và hy sinh là những đặc điểm sáng chói nơi thầy. Từ thuở ban đầu, giữa bốn bức tường của gian phòng Tập viện, thầy đã tha thiết ước ao ơn Tử Đạo. Nên dịp hiếm có vừa đến, thầy đã không ngần ngại hiến dâng.

Trên đường ra Bắc, thầy đã thổ lộ hy vọng hạnh phúc Tử Đạo. Vài tháng sau ngày Việt cộng tiếp thu Hà Nội, tình hình đã rõ rệt và nguy hiểm đang sờ sờ trước mắt, Bề trên đã khuyên thầy nên theo đợt di cư cuối cùng vào Nam. Không ngần ngại, thầy từ chối, viện lẽ đã chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận mọi cực hình và sự chết vì tình yêu Chúa. Ít lâu sau, thầy nói cùng Bề trên: “Cộng sản sẽ buộc con vu cáo cha, nhưng cha đừng sợ, con sẽ không bao giờ vu cáo cha. Con sẽ kháng cự đến chết, và như thế con sẽ thắng Cộng sản”. Số phận của thầy đã được thực hiện đúng từng li theo lời tiên báo ấy.

Vào một buổi sáng thứ Bảy ngày 07 tháng 05 năm 1955, 7 tháng sau tiếp thu, thầy đã bị bắt và tống giam. Tu sĩ Marcel Nguyễn Tấn Văn đã bị buộc tội làm gián điệp cho Đế Quốc Mỹ và chánh phủ Miền Nan Việt Nam. Từ hăm doạ đến hứa hẹn, người ta bắt ép thầy phải nhận tội và đồng thời tố cáo vị Bề trên Dòng là chỉ huy tổ chức gián điệp và tuyên truyền chống chánh phủ. Thầy sẽ được trả tự do nếu thầy nhận tội và tố cáo vị Bề trên. Thầy Marcel không còn lạ về mánh khoé của Cộng sản và đã anh hùng trung thành cùng Thiên Chúa và lương tâm.

Năm tháng trời đằng đẵng trôi qua trong ngục tối. Có lần thầy đã bị tra hỏi suốt 15 đêm liền. Sức khoẻ mong manh của thầy vượt quá mức chịu đựng, thầy lâm bệnh trầm trọng và trước ngưỡng cửa sự chết, thầy vẫn một lòng sắt son với đức tin và tình yêu Giáo Hội.

Mọi biện pháp đều tỏ ra vô hiệu. Cộng sản không còn hy vọng khai thác thầy được. Thầy lại bị tống vào trại giam trung ương ở Hà Nội, cùng với hàng trăm tù nhân, đa số là Công Giáo, với 2 linh mục. Những bức thư lén lúc từ trại giam gửi ra cho biết nỗi khổ từ nội tâm và chí cương quyết của thầy: “Thưa cha, muốn sống là một điều dễ. Con chỉ việc vu cáo cha. Nhưng cha đừng sợ, con không bao giờ chịu vu cáo cha đâu. Con sẽ kháng cự đến chết”.

Sau này nhiều tù nhân đồng trại được phóng thích, đã nói lên lòng cảm mến và khâm phục thầy trong suốt thời gian bị giam giữ. Gương mặt thầy luôn phản chiếu ánh vui tươi siêu việt. Thầy cầu nguyện suốt ngày, tận tình bác ái với đồng bạn, chia sẻ từng miếng cơm, manh áo hay tiền bạc.

Sau nhiều lần bị tra hỏi vô hiệu. Thầy đã lãnh án 15 năm khổ sai. Thầy bị giải lên trại giam số 1 ở Mỏ Chén, một trại giam hai ngàn tù nhân với hai nghĩa địa để vùi thây những kẻ chết rũ tù. Một đoạn thư trong thời gian ấy: “Ở đây con được phước sống chung với nhiều tín hữu: thầy Quản lý nhà thờ Phát Diệm, bà Tu viện trưởng Dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm cũng bị giam ở đây. Tất cả mọi tín hữu trong trại đều rất vững lòng tin. Nhiều người ăn chay nhiệm nhặt ngày thứ Tư và thứ Bảy.

Phần con, từ ngày lên đây, phải đóng vai một cha xứ. Ngoài giờ làm việc, phải tiếp các tù nhân, an ủi họ. Mọi người đều đến với con. Cám ơn Chúa hết lòng. Cuộc tù đầy đã không lay chuyển mức sống thiêng liêng của tâm hồn con. Rất nhiều lúc, Thiên Chúa tỏ rõ ràng là con đang thực hiện thánh ý Người nơi đây”.

Tháng 08 năm 1957, thầy Marcel bị giải sang trại số 2 ở Yên Bái. Chúng tôi không còn được phép thăm viếng thầy nữa: “Tên Văn không tiến bộ tí nào sau thời gian tẩy não. Các ông không nên thăm viếng nữa!” Chúng tôi biệt tin thầy từ đó. Thầy tạ thế ngày 10 tháng 07 năm 1959. Trong ngục ròng rã một năm, thầy kiệt sức vì thiếu ăn, đang lúc bệnh lao hoành hành, và sau cùng cơn bệnh thũng đã kết liễu cuộc đời anh dũng của thầy.

Trưa ngày 10 tháng 07, thầy hấp hối, cha Vinh Bề trên Địa phận Hà Nội, bạn đồng ngục của thầy, đã giúp đỡ thầy trong giây phút cuối cùng. Trên ngôi mộ thầy, các bạn đồng ngục của thầy đã chôn một vỏ chai để ghi dấu.

Thiên Chúa đã thực hiện hoài vọng của thầy Marcel. Tù ngục, tra tấn và sau cùng là cái chết bi đát, tất cả chỉ vì lòng trung thành cùng Thiên Chúa, cùng Giáo Hội, từ chối phá hoại Giáo Hội bằng vu cáo Bề trên: “Nếu con muốn sống thì rất dễ, con chỉ việc vu cáo cha”. Cũng như ngày thầy khấn dòng, trước đau khổ và sự chết, thầy Marcel đã lựa chọn và hiến dâng, sự lựa chọn và hiến dâng đó đã tươi nở nên một ngành hoa đỏ thắm mà các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam hân hạnh tiến dâng lên Thiên Chúa và Giáo Hội.

Nếu các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế khắp hoàn cầu có vinh hạnh tôn dương một người anh cả như thánh Giêrađô, thì các tu sĩ Dòng tại Việt Nam cũng không kém vinh hạnh trước gương sáng thánh thiện và anh dũng của thầy Marcel Nguyễn Tấn Văn tinh hoa của DCCT tại đất Việt.

(Trích Nguyệt San Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, số 183 tháng 8 năm 1964, tr. 252 – 253)

LỜI DẶN DÒ CẦN THIẾT

LỜI DẶN DÒ CẦN THIẾT

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Chúa Giêsu lập Nhóm Mười Hai.  Ngài cho các ông sống bên cạnh mình.  Ngài trực tiếp huấn luyện, bằng cách cho các môn đệ được nghe những lời Ngài giảng, được xem những việc Ngài làm.  Sau đó, Ngài sai các môn đệ ra đi thực tập truyền giáo.  Hai động từ “gọi, sai đi” diễn tả rõ rệt ơn gọi của các Tông đồ.  Trước khi các học trò lên đường, Chúa Giêsu căn dặn nhiều điều như là hành trang cần thiết cho sứ vụ tông đồ.  M. Quesnel ví những lời đó như “một loại thủ bản, một cẩm nang cho một nhà truyền giáo hoàn hảo” (“Comment lire un évangile?”, Seuil, trang 103).

*1) Hành trang người tông đồ                                                                           

 a)Hành trang đi đường: cây gậy, đôi dép, không mang hai áo.  Ý nghĩa ở đây là những kẻ được sai đi phải là những con người thanh thoát, không cồng kềnh nặng nề với của cải vật chất để có thể luôn sẵn sàng lên đường ra đi cho sứ vụ.

Các môn đệ được tham dự vào ba chức năng tư tế, tiên tri và vương đế của Chúa Giêsu.  Cây gậy của vương đế, đôi dép của tiên tri, và tấm áo của tư tế.

  • Cây gậy

Cây gậy trong tay biểu trưng cho sức mạnh của Thiên Chúa thông ban cho người thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng.  Ra đi với niềm tin vào năng quyền của Thiên Chúa trao ban: công bố Tin mừng cứu độ của Đức Kitô, chữa lành và thánh hoá nhằm cải thiện đời sống, xua trừ ma quỷ hầu chế ngự và đẩy lui các thế lực sự dữ.

  • Đôi dép

Đôi dép là hình ảnh luôn lên đường.  Truyền giáo là ra đi.  Đi để mang sứ điệp Tin mừng đến với muôn dân.  Sứ vụ sai đi khởi phát từ Chúa Cha “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.”

  • Tấm áo

Người ra đi mang áo là mặc lấy tâm tình Chúa Giêsu.  Nhờ đó, các môn đệ làm cho cuộc đời mình trở nên của lễ hiến dâng hợp với hiến lễ Chúa Kitô.

Chúa Giêsu trao cho các ông những quyền năng Ngài có: quyền rao giảng, quyền chữa bệnh, quyền trừ quỷ.  Đó là hành trang quan trọng hàng đầu.  Mọi hành trang khác chỉ là phụ thuộc: một chiếc áo đang mặc, một cây gậy và đôi dép khi đi đường.  Với những hành trang như thế, Chúa Giêsu muốn tỏ cho thấy sự thành công trong hoạt động tông đồ không do tài lực của con người nhưng là do quyền năng Thiên Chúa.

           b)Phương tiện sinh sống: không được mang lương thực, bao bị, tiền bạc. Hành trình như vậy đặt các người được sai đi trong tư thế tuỳ thuộc.  Không vướng víu, không “mọc rễ” bất cứ đâu để nhẹ nhàng ra đi nơi đâu Chúa muốn. 

          c)Tương lai bấp bênh.  Chúa Giêsu cũng không giấu diếm họ điều gì.  Con đường truyền giáo là con đường đầy chông gai, lắm gian khó.  Cũng như Ngài, họ đón nhận sự rủi ro bị từ chối, bị xua đuổi.  Cần phải hy sinh bản thân.  Đó là thân phận kẻ được gọi, được sai đi.  Ra đi mà không gì bảo đảm, ra đi mà không mảy may dính bén.  Sẵn sàng đến mà cũng sẵn sàng đi.  Thành công cũng không thụ hưởng, mà thất bại cũng chẳng đắng cay.  Bởi lẽ như lời Thánh phaolô nòi: Tôi trồng, Apollô tưới, Chúa cho mọc lên.

Người truyền giáo luôn bị cám dỗ định cư, tìm an toàn bảo đảm bản thân, an nghỉ trong những thành công tạm bợ… và không muốn ra đi.  Càng gắn bó, lúc cách xa càng luyến nhớ.  Sâu đậm bao nhiêu, lúc giã biệt sẽ nuối tiếc bấy nhiêu.  Vì vậy, Chúa muốn các môn đệ luôn sẵn sàng ra đi.  Lên đường bao giờ cũng đẹp.  Hạnh phúc chỉ dành cho ai dám lên đường tìm kiếm.

*2) Phương thức hoạt động: “từng hai người một”

Khi sai đi “từng hai người một,” Chúa Giêsu mong các ông hợp tác và liên đới với nhau, khích lệ và bàn hỏi nhau khi gặp khó khăn “Hai người có giá trị hơn một, nếu họ ngã, người này đỡ người kia dậy” (Gv 4,9).  Hai người làm việc chung, nâng đỡ nhau biểu lộ tình yêu thương nhau như một dấu chỉ đặc trưng của môn đệ của Chúa (x. Ga 13,35).  Dấu chỉ này là một chứng từ sống động và lôi cuốn người khác.

Trong Công vụ Tông đồ, các nhà truyền giáo thường lên đường với nhau “từng hai người một”: Phêrô đi với Gioan (Cv 3,1; 4,13); Phaolô với Banabê (Cv 1 3,2); Giuđa và Sila (Cv 15, 22)…  Hoạt động tông đồ luôn là tạo thành nhóm.  Nếp sống huynh đệ là một bài giảng về tình yêu.  Chứng tá Kitô hữu phải nhắm đến một hình thức cộng đoàn trong Giáo Hội.  Cuộc sống yêu thương trong cộng đoàn vừa là dấu hiệu của người môn đệ Chúa Giêsu, vừa là lời rao giảng sống động, hùng hồn nhất về Tin Mừng.

  • 3) Tinh thần tông đồ là ra đi

Trao “Sứ vụ” cho các môn đệ, Chúa Giêsu không bảo các ông “phải giảng điều gì.”  Ngài chỉ căn dặn các ông những chi tiết “phải sống.”  Đối với Chúa Giêsu, ra đi làm chứng tá bằng cuộc sống quan trọng hơn chứng tá bằng lời nói.

Suốt mấy năm ra mặt với đời để thi hành sứ vụ, Chúa Giêsu không ngừng đi rày đây mai đó.  Ngài luôn ngang dọc trên mọi nẻo đường đất nước để truyền giáo.  Từ hội đường này đến hội đường khác (Mt 4,23).  Đôi khi ở ngoài trời, ở ngoài đường.  Trên một sườn núi cũng có (Mt 5,1), bên một bờ hồ hiu quạnh cũng có (Mc 6,30-34).  Có khi “mệt mỏi vì đường sá,” một mình ngồi trên thành giếng nói chuyện với người phụ nữ đến kín nước (Ga 4,6).  Có lúc vì dân chúng chen lấn xung quanh đông đảo quá thì “Ngài mới lên một chiếc thuyền, thuyền của Simon và xin ông ấy chèo ra xa bờ một tí.  Ngài ngồi xuống rồi từ ngoài thuyền nói vào mà giảng dạy dân chúng” (Lc 5,3).  Chúa Giêsu thực hiện một cuộc hành trình liên miên.  Theo ngôn ngữ của Phúc âm Marcô chương 1: Ngài bỏ Nazareth để đến gặp Gioan bên sông Giođan, rồi đến Galilê, dọc theo bờ biển Galilê, và Ngài đi rao giảng trong các hội đường khắp xứ Galilê.  Trong chương 2: ít lâu sau, Ngài lại về Capharnaum… Ngài ngang qua đồng lúa … Cứ đi và đi như vậy mãi.

Chính giữa khung cảnh đường dài trời rộng thênh thang ấy mà lời giảng dạy của Chúa bao giờ cũng khởi hứng từ một hoàn cảnh cuộc sống.  Các hình ảnh cuộc sống đời thường gần gũi tràn ngập trong lời rao giảng.  Cánh huệ mọc ngoài đồng.  Đàn chim sẻ đang bay.  Một đám ruộng lúa chín vàng mở rộng đến chân trời.  Một mẻ cá lớn bên biển hồ.  Những hạt giống người nông phu gieo vương vãi trên đường mòn, giữa bụi gai, trên sỏi đá.  Một đàn cừu người chăn lùa về buổi chiều tối.  Từng tảng đá, từng hạt sạn người ta nhặt từ một đống muối để vất đi.  Từng con còng người đánh cá nhặt ra bỏ lại bên bờ sau một mẻ cá…

Việc thu thập môn đệ, Ngài cũng vừa đi, vừa gọi, vừa nhận…  Như các môn đệ đầu tiên (Mc 1,16-20).  Chúa Giêsu không dừng lại, yên nghỉ, hưởng thụ hay củng cố vị trí người ta dành sẵn cho mình.  Sau một ngày thành công rực rỡ ở Capharnaum chẳng hạn: “Sáng đến, Ngài ra đi vào nơi hoang vắng.  Dân chúng đi tìm Ngài và đến nơi Ngài, họ cố giữ Ngài lại, không để Ngài đi khỏi chỗ họ.  Nhưng Ngài bảo họ: Ta còn phải đem Tin mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa” (Lc 4,42-43).

Như thế, suốt đời Chúa Giêsu đã không hề có trụ sở, không hề có nhà thờ.  Ngài đi khắp mọi nẻo đường trên thế giới Ngài đang sống.

Chúa Giêsu bị bắt lúc đang cầu nguyện giữa vườn Giệtsêmani hoang vắng.  Bị điệu đến Hanna rồi Caipha.  Từ tòa đạo qua tòa đời.  Hết bị điệu đến dinh Philatô lại bị gửi qua dinh Hêrôđê, rồi bị đưa trả về cho Philatô.  Không đầy một ngày một đêm mà kẻ tử tù đã phải đi không biết bao nhiêu dặm đường trên con đường “công lý” của loài người.

Bị kết án thập hình.  Hai tay dang rộng, bị đóng đinh trên thập giá.  Tảng đá lấp cửa mồ (Mc 14,32 -15,47).  “Lính canh phòng cẩn mật, niêm phong tảng đá lại” (Mt 27,62-66).  Thế nhưng, Chúa Giêsu đã không dừng chân cả trong cái chết.  Ngày thứ ba Ngài sống lại, vượt cái chết qua sự sống bất diệt.  Sau khi phục sinh, Ngài cũng đi nhiều nơi, đến với với các môn đệ, củng cố lòng tin và sai họ ra đi loan báo Tin mừng.

Hoàn thành sứ mạng, “Ngài lên trời ngự bên hữu Chúa Cha” (Mc 16,19) và luôn đồng hành cùng Giáo hội “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).

Chúa Giêsu gọi các môn đệ và “thiết lập Nhóm Mười Hai” để họ ở với Ngài và để Ngài sai đi.  Giáo hội tiếp nối sứ vụ được sai đi, ra đi đến với muôn dân.  Ra đi là dấn thân đi đến gặp gỡ mọi người với tinh thần đơn sơ, từ bỏ và tự do, để loan báo tin vui và mang đến cho họ ơn cứu độ.

Cuộc đời người Kitô hữu cứ phải ra đi không ngơi nghỉ.  Ra khỏi cái cũ và đi tới cái mới.  Ra khỏi cái đang có để đi tới cái chưa có.  Ra khỏi cái mình đang là để đi tới cái mình phải là.  Như thế, hành trình xa xăm nhất lại chính là hành trình của con tim.

Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi.

Nhưng khó vì lòng người ngại núi e sông.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã ra đi từ trời cao xuống đất thấp, mang Tin mừng chiếu soi nhân trần.  Xin sai chúng con ra đi nhẹ nhàng và thanh thoát, không chút cậy dựa vào khả năng bản thân hay vào những phương tiện trần thế.  Xin Chúa giúp chúng con chỉ biết cậy dựa vào Chúa.  Chỉ mình Chúa là đủ cho chúng con.  Amen!

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

From: Langthangchieutim

MỘT CÁN BỘ CAO CẤP VỀ HƯU TRỞ LẠI ĐẠO

MỘT CÁN BỘ CAO CẤP VỀ HƯU TRỞ LẠI ĐẠO

(Trích từ hồi ký “Một linh mục trong ngục tù cộng sản’’)

LỜI DẪN: Hồi cha Phêrô Đinh Ngọc Quế phụ trách Hội Legio Mariae Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, các hội viên hoạt động rất nhiệt thành. Các anh chị em này đã dẫn đưa được nhiều người trở lại đạo, trong đó có một số cán bộ lớn bé đã về hưu. Trong hồi ký của mình, Cha Quế kể một số trường hợp là cán bộ to.

Tôi cũng xin nói thêm, chính các thành viên Hội Legio này là những chiến sĩ tiên phong của Chúa Kitô trong việc truyền giáo ở An Thới Đông. Nhờ các anh chị em này cũng như nhờ Cha Chân Tín và các anh em DCCT, một vùng chiến khu của cộng sản trước 75, từ đầu năm 1990, đã dần dần trở nên một họ đạo đông đảo và sinh động của huyện Cần Giờ, ngoại thành Sài Gòn.

***

Một ông cán bộ cao cấp, tren 40 năm tuổi đảng, nhờ anh chị em Legio kiên trì làm việc, đã trở lại đạo. Chính tôi được diễm phúc đến tận nhà Rửa Tội và Thêm Sức cho ông, hợp thức hóa hôn nhân cho ông, dâng Thánh Lễ Tạ Ơn để cho ông cùng gia đình được rước Mình Thánh Chúa. Khi rửa tội cho ông tôi hỏi: Cụ xin gì cùng Hội Thánh Chúa? Cụ thưa:

-Thưa “Đức Cha” , “Đức Cha” rửa tội cho tôi để tôi có sức phục vụ Chúa, Đảng và Nhà Nước.

Mọi nghi lễ được tiến hành tuần tự. Trước khi chính thức đổ nước Rửa Tội cho cụ, tôi, một lẫn nữa, lại hỏi ý muốn của cụ:

-Thưa Cụ, cụ có muốn cho tôi Rửa tội cho cụ không?

Ông cụ rất chững chạc nói lớn:

-Thưa “Đức Cha”, xin “Đức Cha” rửa tội cho tôi để tôi thêm sức phục vụ Chúa, Đảng và Nhà Nước.

Tôi đã đổ nước trên đầu cụ và Thêm Sức cho cụ, đã hợp thức hóa hôn nhân và dâng lễ Tạ Ơn để cụ rước lễ.

Mọi sự diễn biến tốt đẹp. Anh em Legio cùng với gia đình dọn một bữa tiệc nhỏ để mừng ông cụ. Vì sợ đang đau và sợ cụ mệt, nên gia đình định dọn cơm trên giường cho cụ. Nhưng lạ thay, cụ nhất định phải ăn cơm chung, đòi ngồi bên “Đức Cha” để tiếp “Đức Cha” mới được. Cụ nói, cụ cười, cụ đã trở nên như con trẻ. Tinh thần của cụ lúc này thật thoải mái vì cụ đã làm con của Chúa. Cụ cứ lặp đi lặp lại hoài: “Đời tôi chưa bao giờ hạnh phúc như ngày hôm nay. Cám ơn “Đức Cha”, cám ơn anh chị em. Anh chị em nhớ đến thăm tôi luôn nghe.”

Sau này tôi được biết, Rửa tội cho cụ rồi, cụ đổi hẳn tính tình. Trước kia hay gắt gỏng, chửi bới vợ con. Bắt vợ con phải cung phụng, không được thì đập phá. Chửi cả Đảng và Nhà Nước, vì đã cướp công của cụ. Bao nhiêu năm theo cách mạng, rất nhiều thành tích, nhưng giờ đây về hưu, già cả, bệnh tật, hàng tháng Nhà Nước chỉ cấp dưỡng cho mấy chục ngàn (VN). Nhưng bây giờ rửa tội xong, cụ trở nên hiền hòa, gia đình vui hẳn lên. Ai cũng tỏ ra quí mến cụ. Cám ơn Chúa về công việc Chúa đã làm!

(Lm. Phêrô Đinh Ngọc Quế, Hồi ký Một linh mục trong ngục tù cộng sản, trang 33-35. Trích đăng với sự ban phép của Cha Phêrô Bùi Quang Tuấn, Bề Trên Giám Phụ Tỉnh DCCT Hải Ngoại.)

***

LỜI BÀN: Ông cán bộ mà cha Quế kể ở đây có lẽ thuộc thế hệ những người đầu tiên ở VN theo cộng sản và thuộc loại cộng sản “chân chính.” Lớp người này về hưu hồi những năm 80-đầu 90 của thế kỷ trước, khi chế độ cộng sản chưa thành “tư bản đỏ” như hiện nay. Lớp cán bộ này phần lớn thường khá nghèo khi đương chức cũng như khi về hưu, vì thế ở Hà Nội hồi thập niên 80 mới có câu: “Đầu đường đại tá vá xe/ Cuối đường trung tá bán chè đỗ đen”.

Hồi tôi ở Hà Nội cuối những năm 80 tôi thường thấy khá đông các cán bộ này tụ tập ở bờ hồ Tây, khu vực cổng Đền Quan Thánh và nhất là cổng Chùa Trấn Quốc và hay được nghe họ kể chuyện xưa và chửi chế độ. Đây là câu vè tự thú tổng kết cuộc đời họ: “Ăn như tu. Ngủ như tù. Nói như lãnh tụ. Đến khi về già mới biết mình Ngu! Ngu! Ngu!”

Roma 08.07.2021

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Khải DCCT

Người Việt Đừng Để Bị “Con Ma Chủ Nghĩa Xã Hội” Tiếp Tục Hù Dọa Trên Nước Mỹ

Van Pham

Người Việt Đừng Để Bị “Con Ma Chủ Nghĩa Xã Hội” Tiếp Tục Hù Dọa Trên Nước Mỹ

Trên Youtube Hoang Bach Channel ngày 24/06/2021, bác sĩ Ngô Bá Định ở vùng Little Saigon có kể một câu chuyện vui về một chú bệnh nhân lớn tuổi, đã được anh cho thuốc uống ngừa sạn thận, nhờ vậy không phải đi bắn sỏi thận nữa. Sau khi cảm ơn bác sĩ, bệnh nhân này lại dặn dò thêm một câu (không có ăn nhập gì đến y khoa ráo trọi) rằng: “… nhưng mà bác sĩ à, tôi vẫn nghĩ rằng đảng Dân Chủ đang nhận tiền hối lộ của Trung Cộng, nó đang làm việc cho Trung Cộng đó nghe bác sĩ…”. Có lẽ chú bệnh nhân này thấy dạo gần đây Bác Sĩ Ngô Bá Định nghiêng về phía “Dân Chủ thổ tả” quá nên mới nhắc nhở vậy!

Thực ra chú bệnh nhân này không phải là người Việt ở Mỹ duy nhất vẫn bị “con ma chủ nghĩa xã hội” (CNXH) ám ảnh trên đất Mỹ, và cho rằng đảng Dân Chủ ở Mỹ đang chạy theo CNXH. Những lời tuyên truyền “nếu Biden làm tổng thống nước Mỹ sẽ lọt vào tay cộng sản” thường xuyên được nhắc tới trong mùa bầu cử 2020, cho dù nước Mỹ sau bao đời tổng thống Dân Chủ hay Cộng Hòa vẫn chưa bao giờ bị đổi tên thành… Cộng Hòa XHCN Hoa Kỳ!

Tại sao người Việt mình ở Mỹ vẫn sợ “con ma CNXH” đến thế, cho dù đã sống hằng chục năm trời ở xứ tư bản hùng mạnh nhất thế giới? Một phần vì hầu hết những người Việt tị nạn đều đã có những ký ức kinh hoàng với chế độ CSVN, những cơn ác mộng có khi sẽ theo ta đến cuối đời. Một phần vì kỹ thuật tuyên truyền của các chính trị gia đảng Cộng Hòa, lập đi lập lại điều này trong những mùa bầu cử, nghe nhiều quá cho nên có nhiều người tin rằng đó là sự thật.

Sự thật thì ra sao? Nhiều người Việt tị nạn- đặc biệt là những người thuộc thế hệ tị nạn thứ nhất, là nạn nhân trực tiếp của chế độ CSVN- chỉ biết có một loại CNXH thôi. Đó là thứ CNXH mà đảng CSVN du nhập từ cộng sản Liên Xô, cộng sản Tàu. Những đặc điểm chính của nó là:

– Tiêu diệt chủ nghĩa tư bản, triệt tiêu quyền tư hữu, triệt tiêu nền kinh tế thị trường.

– Chủ trương cướp chính quyền bằng bạo lực.

– Cai trị người dân trong nước bằng chế độ độc tài toàn trị, tước đi hầu hết các quyền tự do căn bản của con người.

Thứ CNXH này hỏi ai mà không sợ? Và nước Mỹ từ hồi chiến tranh lạnh đến nay đã dẫn đầu thế giới tự do để chống lại thứ quái thai của lịch sử nhân loại này. Đến ngày hôm nay, thứ CNXH này đã biến mất ở Nga và Đông Âu.

Những nước còn rêu rao là theo CNXH như Trung Cộng và Việt Nam thì đã lặng lẽ bỏ chủ trương tiêu diệt tư bản, và chính quyền của họ đã biến thành những tập đoàn tư bản đỏ. Riêng CSVN còn đẻ ra một thứ quái thai mới: nền kinh tế thị trường định hướng…CNXH!!! Họ chỉ còn giữ lại chế độ độc tài để dễ dàng cai trị người dân, chứ còn tiền tư bản thì không chê!

Vì thế, khi các chính khách Cộng Hòa tìm cách tuyên truyền trong cộng đồng gốc Việt, họ đã cố tình đồng hóa đảng Dân Chủ với thứ CNXH theo kiểu này. Họ cũng biết điều này là không đúng, nhưng vẫn cứ nói vì vẫn có nhiều người tin.

Kỳ thực, khi các chính khách của cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ tranh cãi với nhau về chuyện “Mỹ có nên hay không nên theo CNXH”, đó là một thứ khái niện CNXH hoàn toàn khác. Trong khoảng vài năm gần đây, giới truyền thông của Mỹ đã giải thích lại rất nhiều về 2 khái niệm gọi là “xã hội dân chủ” (social democracy), hay “dân chủ xã hội” (democracy socialism). Nói một cách vắn tắt dễ hiểu, 2 mô hình xã hội dân chủ này có những đặc điểm:

– Không chủ trương tiêu diệt tư bản, mà vẫn xem tư bản là nền móng cho một xã hội giàu có thịnh vượng. Tôn trọng nguyên tắc thị trường tự do.

– Đặt giá trị xã hội dân chủ lên hàng đầu, tuyệt đối không ủng hộ cách cai trị chuyên chế độc tài. Chế độ đa đảng, tam quyền phân lập của nước Mỹ cho đến nay vẫn là một mẫu mực cho nền dân chủ thế giới.

– Chủ trương giảm bớt bất bình đẳng xã hội, giảm khoảng cách giàu nghèo trong xã hội Mỹ. Một trong những phương cách thường sử dụng đó là đánh thêm thuế của người giàu có để tăng cường an sinh xã hội cho người nghèo. Đây chính là chủ đề tranh cãi hầu như bất tận giữa hai đảng, nhưng đó cũng chính là điểm son của chế độ đa đảng luôn tạo thế quân bình chính trị.

– Chủ trương chính quyền nên có trách nhiệm trong việc tạo ra một hệ thống an sinh xã hội rộng hơn cho toàn dân Mỹ, thí dụ như bảo hiểm y tế toàn dân, nên có một nền giáo dục miễn phí từ cấp nhà trẻ đến đại học cộng đồng (điều mà chính phủ Biden đang nỗ lực để đạt được) …

Tất nhiên, không có mô hình nào là hoàn chỉnh, cho nên người Mỹ có kẻ ủng hộ, người chống. Trở lại với cộng đồng gốc Việt, nếu biết mô hình xã hội dân chủ ở Mỹ mà đảng Dân Chủ đang theo đuổi là như vậy, liệu chúng ta có còn sợ hãi nó như thứ CNXH của Việt Nam, của Trung Cộng hay không?

Thí dụ cụ thể hơn, nhiều nước Bắc Âu như Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch… đã theo mô hình xã hội dân chủ này từ lâu. Có thể quốc gia của họ không giàu mạnh như Mỹ, nhưng người dân xứ nào sống sướng hơn, đỡ căng thẳng lo lắng hơn thì chưa chắc ai hơn ai. Người dân ở những xứ này có mời họ sang định cư ở Mỹ chưa chắc họ nhận lời! Ngược lại, những người Mỹ có tinh thần khởi nghiệp, thích tìm kiếm cơ hội để làm giàu cũng chưa chắc đã thích sống ở các xứ sở quá êm ả này.

Cộng đồng gốc Việt có thể tự chọn lập trường có nên ủng hộ mô hình xã hội dân chủ kiếu đó hay không. Cách đơn giản nhất để lựa chọn đó là xem các chính sách đó có đem lại lợi ích cho mình, cho gia đình mình, cho cộng đồng mình hay không.

Còn chuyện thực hiện nó như thế nào thì hãy để cho các chuyên gia kinh tế, chính trị bàn cãi. Không có lựa chọn nào là hoàn toàn đúng, hoàn toàn sai. Nhưng đừng để cho các chính trị gia ảnh hưởng đến quyết định của mình bằng cách hù dọa với những nỗi sợ hãi trong quá khứ, không có thực trong hiện tại.

Nếu hiểu được như vậy, thì chú bệnh nhân của Bác Sĩ Ngô Bá Định có thể sẽ nói với các chính trị gia rằng: “tui có quyền lựa chọn đảng Cộng Hòa, hay đảng Dân Chủ tùy theo quyền lợi của tui. Nhưng xin đừng đem con ma CHXH ra hù dọa tui nữa. Xưa rồi Diễm…”

Ông Sáu Mù – Tưởng Năng Tiến

Ông Sáu Mù

Tưởng Năng Tiến

Đôi lúc, tôi vẫn nghe các bạn đồng hương (và đồng thời) than thở: “Bọn trẻ ở Hoa Kỳ không mấy đứa biết tôn kính người già.” Có vị còn chua chát thêm: “ Bây giờ thì đâu mà chả thế, chứ nào có riêng chi

Những câu càm ràm (thượng dẫn) hay khiến tôi nhớ đến ông Sáu Mù, một ngư dân sống hồi cuối thế kỷ trước tại xóm chài Lâm Quang Ky – Rạch Giá. Ông Sáu, thực ra, cũng chưa hẳn đã đui nhưng vì đôi mắt kèm nhèm và có cái tật hay nhíu mày nên bị chết cái tên (“mù”) cũng hơi oan chút xíu.

Sau bữa trưa khề khà chừng hơn xị rượu, rồi đánh một giấc thật đẫy đà, chiều vừa nhạt nắng là Sáu Mù lần dò ra đứng hồi lâu trước nhà sàn. Đây là giây phút nghiêm trang nhất trong ngày nên cả xóm đều lặng im, chăm chú theo dõi nhất cử nhất động của ông. Sáu Mù nghiêng tai nghe ngóng, trầm ngâm hít hà gió biển (chập lâu) rồi mới cùng đám con lục tục xuống ghe, sau khi ông đã định được hướng xuất hành. Mọi người chỉ chờ có thế là cùng loạt nổ máy, hớn hở theo sau.

Dân xóm chài Lâm Quang Ky làm nghề tùy theo thời vụ: lưới kến, lưới năm, câu bờ, câu khơi … nhưng thường thì họ hay đi ủi xịp (hoặc còn gọi là ủi xệp) vì biển Rạch Giá cạn và lắm bùn nên tôm tép vô số. Rọi đèn xuống nước, giữa đêm đen, sẽ thấy mắt tôm đỏ lừ và dầy đặc. Không mặc quần đùi hay quần sịp mà nhẩy đại xuống nước là dám bị chúng búng tới … xước da cu luôn!

Đi xịp một đêm, xúc vài cần xé đầy vun (tôm chì, tôm thẻ, tôm nghệ …) không khó. Tuy thế, biển cả bốn phương/tám hướng, phải biết chỗ mà ủi thì mới có ăn. Chớ chạy lạng quạng trật hướng thì kể như là trớt quớt, chỉ kiếm được đôi ba chục ký là cùng. Lỗ tiền dầu là cái chắc. 

Không biết nhờ vào thính giác hay khứu giác (hoặc cả hai) mà ông Sáu “cảm” được hướng đi và nơi quần tụ của tôm cá. Kinh nghiệm quí giá này giúp cho cả xóm ăn nên làm ra nên ông rất được vị nể và kính trọng, dù là người khuyết tật.

Sáu Mù là hình ảnh rơi rớt, hiếm hoi của một già làng thuộc Thời Trung Cổ. Cái thời mà kiến thức của nhân loại chỉ có thể lưu lại cho hậu thế qua truyền khẩu, hoặc bằng kinh nghiệm sống thực thôi.

Đêm trường Trung Cổ đã qua. Người như Sáu Mù nay chả còn vai trò gì nữa. Với cái smartphone, ai cũng có thể tiếp cận tin tức khí tượng và dự báo thời tiết từ bất cứ nơi đâu, vào bất kể lúc nào. Tất cả ngành nghề cũng đều có thể học hỏi online, và gần như mọi câu hỏi đều có lời giải đáp qua google hết trọi.

Ở Thời Đại Thông Tin, phần lớn, những công dân lão hạng đều vô dụng và trở thành gánh nặng cho xã hội nên họ mất đi sự tôn kính là lẽ thường tình – nếu chưa muốn nói là chuyện tất nhiên. Tôi rất biết thân biết phận của mình (một anh già nát rượu & hoàn toàn vô tích sự) nên chưa bao giờ dám lớn tiếng than thân, hay than van gì ráo.

Lẩm bẩm hoặc lầu bầu (nho nhỏ, lí nhí) cũng không luôn. Chả những thế tôi còn cảm thấy là mình biết ơn rất nhiều người, nhất là lớp hậu sinh vì nhờ họ nên mới có dịp được học hỏi thêm nhiều điều mới mẻ.

Xin đan cử đôi ba trường hợp …

Ngày 4 tháng 6 vừa qua, FB Teresa Trần Kiều Ngọc đã nhắc đến một hiện tượng tâm lý khá lạ (Imposter Syndrome – Hội Chứng Giả Mạo) không thường thấy trong những cộng đồng người Việt: “Tự vấn, hoài nghi chính mình, không phải là điều hoàn toàn xấu hay tiêu cực. Nó giúp cho chúng ta khiêm tốn, biết được giới hạn để không trở nên tự mê, tự kiêu, tự đại. Ngoài kia còn nhiều người tài giỏi hơn mình rất nhiều. Thế giới là một biển học vô bờ. Bằng sự chính trực và khiêm cung, dù nhỏ nhoi đến đâu thì mỗi người trong chúng ta vẫn đều có thể là người hữu ích cho việc chung.”

Bên dưới status thượng dẫn là phản hồi của FB Viet Beat, đề cập đến một hiện tượng tâm lý khác, cũng rất đáng quan tâm: “Imposter syndrome dành cho người khiêm cung, hiểu được giới hạn của mình nhưng rất tiếc bây giờ một số người Việt lại bị hội chứng nghịch, hiệu ứng Dunning-Kruger, quá tự tin và cao ngạo về điều (không) biết của mình…”

Tôi cũng có đọc qua loa về hiệu ứng Dunning-Kruger (Unskilled and unaware of it: how difficulties in recognizing one’s own incompetence lead to inflated self-assessments) của hai nhà tâm ý học J. Kruger và D. David nhưng lười tìm hiểu thêm vì không quan tâm mấy.

Cứ tưởng rằng giữ thể diện (sợ mất mặt – save face) là tâm lý chung của đám đông. Trong giao tiếp hằng ngày, thiên hạ có khuynh hướng tự nâng (trình độ học vấn, lương bổng, gia cảnh, gia thế, tài sản …) mình cao hơn lên chút xíu là chuyện khá bình thường, và cũng chả gây thiệt hại hay phiền phức gì cho bất cứ ai cả. Nổ chơi (cho đã miệng) chút xíu thôi mà.

Tuy nhiên, sau khi xem lại cách đặt vấn đề của Trần Kiều Ngọc và Viet Beat về hai hiện tượng tâm lý tương phản (thượng dẫn) thì nhận thức của tôi có hơi đổi khác. Một cá nhân hợm mình, tự cao, tự đại, ba hoa, khoác lác, nói thánh, nói tướng …  thường  chỉ có thể làm cho một số ít người sống gần khó chịu và tìm cách tránh xa thôi.

Còn một tập thể mắc chứng hợm hĩnh, huyênh hoang, ngạo mạn (như thiên hạ hay nói đến bệnh kiêu ngạo cộng sản, chả hạn) mà lại đang nắm vai trò điều hành cả một quốc gia thì e là đại họa.

Hãy thử nghe dăm bẩy câu nói của giới lãnh đạo Việt Nam để thấy sự ngông cuồng và điên loạn của đám người này :

  • Vũ Đức Đam: “Tất cả cuộc sống người Việt Nam ta hôm nay là niềm mơ ước của nhiều nước.”
  • Nguyễn Mạnh Hùng: “Việt Nam có thể đi đầu cách mạng công nghiệp 4.0.
  •  Lê Minh Hưng: “Toàn cầu bất ổn nhưng Việt Nam rất ổn.”
  • Nguyễn Xuân Phúc: “Niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng chưa bao giờ lớn và sâu sắc như lúc này.”
  • Nguyễn Phú Trọng: “Không có một lực lượng nào khác ngoài ĐCSVN có đủ bản lĩnh, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn.”
  • Võ Văn Thưởng: “Nhiều nước coi Việt Nam là mô hình phát triển để học tập.”
  • Nguyễn Chí Vịnh: “Bộ đội ta có những kỹ năng đặc biệt khiến Liên Hợp Quốc khâm phục.”
  • Phan Quốc Việt: “Có 20 quốc gia đang đàm phán mua bộ sinh phẩm kít xét nghiệm virus corona chủng mới của Việt Nam.”

Mức độ tự huyễn của những lời phát ngôn dẫn thượng khiến tôi nhớ đến lời than phiền, nghe được từ hồi cuối thế kỷ trước, của ông Hà Sỹ Phu: “Đảng cộng sản Việt Nam như người đi đường không biết dùng bản đồ. Thỉnh thoảng lại sa xuống hố. Lóp ngóp bò lên được thì hô vang thắng lợi. Cứ thế, Ðảng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.”

Với thời gian thì cái tần suất “sa xuống hố” mỗi lúc một thêm đều đặn (và toàn là hố thẳm: Vinashin, Vinalines, Bauxit, Vũng Áng, Vĩnh Tân, Duyên Hải, Formosa, rồi đến những Khu Tự Trị …) cứ như thể là cả Đảng đã bị đui hết trơn rồi vậy.

Sự tăm tối của giới cầm quyền ở Việt Nam hiện nay cũng khiến tôi nhớ đến ông Sáu Mù, ở xóm chài Lâm Quang Ky, với hơi nhiều nuối tiếc.

Tưởng Năng Tiến
7/2021

Mẹ Nhặt

 Mẹ Nhặt

Năng lượng tích cực trong những ngày đầy mây xám.

Trong hình là ông cụ Đinh Tiên Sinh (63 tuổi), bên cạnh là bà Nguyễn Thị So (88 tuổi), do ông “nhặt” về làm mẹ.

Câu chuyện dễ thương này bắt đầu khi ông Sinh và vợ là bà Lan (58 tuổi) từ nhỏ đã mồ côi cha mẹ. Hai vợ chồng ông Sinh không họ hàng thân thích, sống rày đây mai đó, ngủ nhờ hiên nhà hàng xóm, sau này thuê được căn phòng trọ 9m vuông. Năm 2010, ông theo xe phụ gom rác dân lập cho một người quen ở Quận 3. Mỗi ngày đi làm đều ngang chợ Bà Chiều, ông để ý thấy cụ bà 80 tuổi đi khắp chợ bán vé số mưu sinh. Thấy thương nên ngày nào ông cũng mua một tờ ủng hộ.

Một tối giữa năm 2012, ông Sinh gặp bà cụ đang gối đầu trên túi xách, nằm co ro trong chợ. Ông thương, đến hỏi thăm thì biết bà không có gia đình, không con cháu, sống lang thang. Ông Sinh về bàn với vợ, mong muốn rước bà So về phụng dưỡng để bà có chỗ ngủ đàng hoàng.

“Vợ tôi gật đầu đồng ý. Vậy mà năn nỉ cả tháng, bà mới chịu theo chúng tôi về. Ban đầu còn xưng hô khách sáo nhưng được ít hôm, tôi nói: Bà làm mẹ tụi con nha! Bà gật đầu. Vậy là sau mấy chục năm không còn mẹ, vợ chồng tôi lần nữa lại có mẹ” – ông Sinh xúc động kể lại.

“Mấy chục năm rồi mới kêu lại tiếng mẹ, tôi vừa mừng vừa ngượng. Mẹ tôi cũng vậy, bỗng dưng có con nên phải mất một thời gian hai bên mới quen nhau. Nhà này mẹ làm chủ hộ, lúc chở mẹ lên phường làm hộ khẩu, để tiện, tôi khai nguyên quán ở Tây Ninh cho giống mẹ. Từ ngày có hộ khẩu, mỗi tháng mẹ được lãnh 380.000 đồng tiền cho người cao tuổi, lại được cấp BHYT miễn phí” – ông Sinh kể.

Phòng trọ nhỏ của gia đình ông Sinh thường rộn ràng sau 12 giờ, lúc mẹ ông bán vé số về. Đơn giản chỉ là những câu hỏi han “Mẹ bán hết không?”, “Mẹ ăn cơm chưa?”, ai nghe thấy cũng rưng rưng thương.

Ba tháng trước, giữa những ngày dịch bệnh bùng phát, thương mẹ nghỉ bán ở nhà cả ngày nằm trên gác phải hứng chịu nắng nóng, ông Sinh ra cửa hàng điện máy mua trả góp một cái quạt hơi nước đặt trên gác cho mẹ.

Tám năm về đây, bà vẫn đi bán vé số, vẫn mua cơm hộp theo thói quen dù vợ chồng ông năn nỉ đủ cách. “Tiệm cơm đó mẹ quen mấy chục năm rồi. Bán vé số đi đây đi đó là niềm vui, nằm ở nhà chỉ sinh bệnh, cứ để mẹ đi” – nghe bà nói có lý nên vợ chồng ông không áy náy như trước. Chỉ khác, ông xin mẹ mỗi sáng được chở bà ra chợ Bà Chiểu thay vì đi xe buýt, để rồi khi gặp người quen ông lại khoe: “Mẹ tôi đó”.

Cre: Nguyễn Ngọc Thạch

May be an image of 2 people, people sitting and indoor

 Nghệ Thuật Nhân Sinh: Quên

 Nghệ Thuật Nhân Sinh: Quên

Bài này có thể các bạn đã đọc qua. Cuối tuần của Lễ ĐỘC LẬP Mỹ, nếu rảnh, mời quý bạn đọc lại. Xem như “Ôn Cố Tri Tân” các bạn nhé. Chúc tất cả có một cuối tuần vui vẻ, hạnh phúc.

Hoa V. 
 
Một buổi tối, tôi đi thăm người bạn từng bị vu cáo hãm hại. Lúc ăn cơm, anh nhận được một cú điện thoại, người đó muốn nói cho anh biết ai đã hãm hại anh.
Nhưng anh bạn tôi đã từ chối nghe. Nhìn thấy vẻ mặt ngạc nhiên của tôi, anh nói: “Biết rồi thì sao chứ? Cuộc sống có những chuyện không cần biết và có những thứ cần phải quên đi”.
Sự rộng lượng của anh khiến tôi rất cảm kích. Đời người không phải lúc nào cũng được như ý, muốn bản thân vui vẻ, đôi khi việc giảm áp lực cho chính mình là điều cần thiết và cách để giảm áp lực tốt nhất chính là học cách quên, bởi trong cuộc sống này có những thứ cần nhặt lên và bỏ xuống đúng lúc.

Lời nói của lão hòa thượng đầy thiền ý, hàm chứa trong nó một nghệ thuật nhân sinh. Cuộc đời con người giống như một cuộc hành trình dài, không ngừng bước đi, ven đường nhìn thấy vô vàn phong cảnh, trải qua biết bao những gập ghềnh, nếu như đem tất cả những nơi đã đi qua, đã nhìn thấy ghi nhớ hết trong lòng thì sẽ khiến cho bản thân mình chất chứa thêm rất nhiều gánh nặng không cần thiết. Sự từng trải càng phong phú, áp lực càng lớn, chẳng bằng đi một chặng đường quên một chặng đường, mãi mãi mang một hành trang gọn nhẹ trên đường. Quá khứ đã qua, thời gian cũng không thể quay ngược trở lại, ngoài việc ghi nhớ lấy những bài học kinh nghiệm, còn lại không cần thiết để cho lòng phải vướng bận thêm.
Sẵn sàng Quên đi là một cách cân bằng Tâm Lý, cần phải chân thành và thản nhiên đối mặt với cuộc sống. Có một câu nói rất hay rằng: tức giận là lấy sai lầm của người khác để trừng phạt chính mình, cứ mãi nhớ và không quên khuyết điểm của người khác thì người bị tổn thương nhiều nhất chính là bản thân mình. Bởi lẽ đó, để có được niềm vui và một cuộc sống thanh thản, ta không nên truy cứu lỗi lầm cũ của người khác.

Có rất nhiều người thích câu thơ:
Xuân có hoa bách hợp, Thu có trăng.
Hạ có gió mát, đông có tuyết”.
Trong lòng không có việc gì phải phiền lo, ấy mới chính là mùa đẹp của nhân gian. Nhớ những cái cần nhớ, quên những cái nên quên, sống một cuộc sống cởi mở, trong lòng không vướng mắc thì cuộc sống này sẽ thật tươi đẹp. 
 
Giang Nhất Yến

From: TU-PHUNG

FBI tóm ông gốc Việt tham gia bạo loạn Quốc Hội và âm mưu ly khai

FBI tóm ông gốc Việt tham gia bạo loạn Quốc Hội và âm mưu ly khai

July 7, 2021 

ALEXANDRIA, Virginia (NV) – Một ông gốc Việt ở Virginia bị truy tố tội xông vào Quốc Hội hôm 6 Tháng Giêng, đang bị nghi cũng tham gia một nhóm kiểu dân quân đang bàn bạc theo dõi điện Capitol và ly khai khỏi Mỹ sau vụ bạo loạn, theo Insider hôm Thứ Tư, 7 Tháng Bảy.

Bị cáo Fi Dương, 27 tuổi, biệt danh “Vua Khỉ” và “Jim,” được thả về để quản thúc tại gia hôm Thứ Sáu tuần trước sau khi bị truy tố nhiều tội liên quan vụ tấn công Quốc Hội, gồm gây rối trật tự và cản trở thủ tục của chính quyền.

Bị cáo Fi Dương. (Hình: United States District Court of the District of Columbia)

Trong đơn tố cáo công bố hôm Thứ Ba, FBI cho hay một cảnh sát viên chìm gặp bị cáo Fi ở Quốc Hội trong ngày ủng hộ viên cựu Tổng Thống Donald Trump tràn vào tòa nhà này và xô xát với nhân viên công lực.

Bị cáo Fi cho cảnh sát viên này hay ông ta là “người điều hành,” đơn tố cáo viết, cho biết thêm có bằng chứng sau đó người ta nhìn thấy ông ta bên trong Quốc Hội, đeo “mặt nạ kiểu Nhật.”

Theo đơn tố cáo, khoảng một tuần sau, cảnh sát viên chìm giới thiệu bị cáo Fi với nhân viên FBI chìm và nhân viên này thâm nhập nhóm có tên “Học Kinh Thánh” của ông ta.

Nói chuyện với nhân viên FBI này, bị cáo Fi cho hay ông ta là thành viên nhóm “gián điệp” kiểu dân quân mà “không thể xuất đầu lộ diện” và nhiệm vụ của ông ta là tìm kiếm người cùng tư tưởng để chuẩn bị đối phó “kịch bản xấu nhất” cho Virginia, theo đơn tố cáo.

Bị cáo Fi gửi tin nhắn cho nhân viên FBI chìm này có ý nói một trong số “thành viên của chúng tôi” đang “tuần tra” bên ngoài điện Capitol, và một thành viên khác sau đó gửi tin nhắn cho hay đã chụp hình phía Tây và phía Đông tòa nhà Quốc Hội và sẽ đăng lên ứng dụng (app) nhắn tin được mã hóa, theo đơn tố cáo.

Ngày 12 Tháng Hai, nhân viên FBI này dự buổi gặp gỡ của nhóm “Học Kinh Thánh” tại nhà bị cáo Fi. Tuy nhiên, nhóm này chỉ học hai đoạn Kinh Thánh, còn sau đó là bàn bạc lên kế hoạch cho những cuộc gặp gỡ khác cũng như thảo luận về vũ khí và huấn luyện trong tương lai, đơn tố cáo cho biết.

Đơn tố cáo không cho thấy bất kỳ cáo trạng nào liên quan bạo lực hôm 6 Tháng Giêng nhưng cho hay bị cáo Fi “liên tục bày tỏ mong muốn đụng độ, kể cả bạo lực, với những nhóm khác quan điểm với ông ta.”

Đài CNN dẫn lời các nhà điều tra cho biết bị cáo Fi tàng trữ nhiều vũ khí tại nhà ông ta ở Alexandria, trong đó gồm một khẩu AK-47 và năm thùng chứa đầy vật liệu chế tạo và thử bom xăng.

Bị cáo Fi ra tòa liên bang ở DC lần đầu tiên hôm Thứ Sáu tuần trước. Tòa quyết định thả anh ta ra sau khi Bộ Tư Pháp đồng ý có thể phóng thích anh ta, theo hồ sơ tòa án.

Đến nay, 545 người bị truy tố liên quan vụ bạo loạn Quốc Hội. (Th.Long)

Khoảng trống cuối đời  

Khoảng trống cuối đời  

Lưu An- Vũ Ngọc Ruẩn

Một nén hương cho những người mẹ bất hạnh mà tôi quen biết.

Vài hàng phi lộ

Bất cứ người Việt Nam nào đã trưởng thành và sống qua thời kỳ từ năm 1975 đến nay đều chứng kiến biết bao nhiêu hiện tượng buồn đau, xuống dốc đạo đức trong gia đình, tập thể người Việt Nam ở trong nước cũng như ở hải ngoại. Những cảnh anh em chém giết, thưa kiện nhau vì tranh dành tài sản, đất đai; bỏ bê, đày đoạ, bất hiếu với cha mẹ khi về già. Vợ chồng tan vỡ chỉ vì tham bạc bỏ tình, bạn bè thì lừa đảo, đổi trắng thay đen không trừ thủ đoạn nào để dành quyền lợi cho mình, như một kẻ ăn cướp,.v.v… Riêng cá nhân tôi, sau hơn 45 năm sống và làm việc tại hải ngoại, đã có biết bao nhiêu dịp du hành vui chơi, thăm viếng người thân quen hay công tác tại nhiều quốc gia trên thế giới, đã chứng kiến bao nhiêu chuyện đau buồn trong tập thể người Việt Nam tại những nơi chốn đi qua mà ngẩn ngơ vì nó ra ngoài sự tưởng tượng của mình. Nhiều khi tôi tự hỏi tại sao con người Việt Nam chúng ta đã đổi thay đến mức kinh hoàng như vậy.

Mà cũng rất lạ lùng, nơi mà tôi chứng kiến những cảnh buồn đau đó lại phần lớn xảy ra các các quốc gia giàu có, thịnh vượng tại Âu châu, Bắc Mỹ, những nơi mà tôi tưởng rằng với cuộc sống cao sang, luật lệ đàng hoàng con người ta sẽ ý thức, lòng ngay thẳng và trong sáng tâm hồn hơn. Nhưng tôi đã lầm, sự ngay ngắn, đàng hoàng, đạo đức không phải chỉ sinh ra từ những nơi vật chất dư dả, luật lệ khắt khe… Mà đôi khi còn ngược lại, trong những xã hội văn minh, tân tiến đó con người ta tinh khôn hơn, lòn lách cao cấp hơn trong lừa đảo nữa là khác. Nhờ văn minh, kiến thức, người ta biết tính toán, biết xếp đặt sao cho hợp với luật pháp để lừa đảo mà nạn nhân chỉ còn biết khóc than, chịu thiệt. Hãy ngoái nhìn lại Việt Nam ngày xưa lúc còn đối diện với khó khăn, nghèo túng thì cha mẹ, anh em vợ chồng, cha mẹ hoà thuận, thương yêu nhau, chia cho nhau từng nắm cơm, con cá… Nhưng ngày nay vật chất thừa mứa, nhà cao cửa rộng thì coi nhau như kẻ thù, sẵn sàng làm những chuyện vô luân, bất đạo để chiếm đoạt hay kéo nhau ra toà với mọi thủ thuật miễn là giành được mối lợi về mình, v.v…

Sinh ra, trưởng thành trong tao loạn, có thể nói tôi đã nếm đủ những mùi vị, đắng cay, chua ngọt của nhân sinh, nhưng đã bao lần ngẩn ngơ, ngao ngán thở dài khi phải chứng kiến biết bao nhiêu những cảnh tượng không vui trong tập thể người Việt Nam của chúng ta mà buồn bã. Hôm nay, trong cái không gian vắng vẻ, buồn chán, tôi đã để cho ký ức mình lang thang về một hoàn cảnh rất buồn của một bà mẹ gốc Tây học. Một gia đình quý phái ngày xưa tôi đã quen biết để viết ra câu truyện xót đau của đời bà, như môt nén hương dành cho bà và cũng để tưởng nhớ đến một vài bà mẹ khác mà tôi cũng rất thân thiết, mang ơn họ với những bữa cơm hay những bát bún, tô canh… họ đã cho tôi vào những năm tháng nghèo đói của đời tôi khi còn đi học tại Viêt Nam. Những bà mẹ ân tình của tôi ở trong nước cũng như hải ngoại, họ cũng đã vướng vào một dạng thức khổ đau nào đó trước khi vĩnh viễn rời xa trần thế.

Tôi đã dùng kỹ thuật văn chương để chuyển đổi tí chút về thời gian, về địa phương và cả về nhân vật trong câu truyện để tránh đi những tác động không tốt cho sự giao tế của tôi với những người thân của bà. Nhưng cứu cánh mà tôi muốn đem vào câu truyện vẫn là những tiếng thở dài, thương xót như một nén hương lòng với mồi lửa tâm hồn, lòng biết ơn mà tôi muốn dành cho những bà mẹ bất hạnh, những bà mẹ mà tôi đã từng quen biết, mang ơn họ trong quá khứ xa xưa, thời mà tôi còn là một học sinh, sinh viên trong tình trạng đói nghèo.

(Lưu An, Vũ Ngọc Ruẩn)

Vào truyện

Qua người bạn thân cùng lớp, tôi quen với gia đình bác Chấn, một gia đình gốc Tây học, giàu có và thế lực của miền Nam trước năm 1975. Bác có hai người con, một trai, anh Quang hơn tôi 3 tuổi. Một gái, chị Yến hơn tôi 1 tuổi. Hai người con của bác đều theo học chương trình Tây. Sự quen biết của tôi với gia đình bác rất sơ sài, không bước xa hơn những lời chào hỏi xã giao thông thường hay vài câu hỏi tò mò về thân thế tôi trong những lần tôi theo người bạn đến nhà bác chơi.

Sau này tôi được biết hai người con của bác Chấn đã đi du học tại Thụy Sĩ ngay sau khi tốt nghiệp bậc trung học Pháp. Còn tôi không có điều kiện nên học đại học trong nước. Năm 1971 tôi tốt nghiệp rồi xuống Cần thơ dạy học. Từ ngày lên đại học rồi đi làm tôi không có dịp nào đến chơi nhà bác Chấn nữa. Đầu năm 1974 trước khi nhận học bổng di du học ở Nhật bản, tôi được người bạn cho biết bác Chấn trai đã bị mất vì ung thư. Bác gái vẫn sống với vài người cháu họ xa ở căn khá nhà lớn, sang trọng ngày xưa ở đường Ngô Tùng Châu.

Rồi với bao nhiêu đưa đẩy của thời cuộc, cuối năm 1979 tôi rời bỏ Nhật Bản vì tìm được việc làm đúng với chuyên môn ở thành phố Zürich, vùng nói tiếng Đức ở miền bắc Thụy Sĩ. Sang Thụy Sĩ được khoảng một năm tôi lập gia đình với người bạn gái người Nhật mà tôi đã quen biết nhiều năm trong thời du học tại đó.

Một lần vào năm 1983 gia đình tôi xuống Genève thăm người bạn, ngẫu nhiên tôi gặp được chị Yến, cô con gái của bác Chấn. Chị cho biết chị và anh Quang đã tốt nghiệp xong đại học Genève từ lâu, cả hai đang đi làm, vẫn sống ở Genève, nhưng kẻ ở đầu tỉnh, người ở cuối tỉnh, lại bận rộn với công việc làm cho nên cũng rất ít gặp nhau. Chị cũng cho biết cả hai vẫn chưa lập gia đình nhưng sống chung với người yêu đều là người Thụy Sĩ. Tôi cũng hơi ngạc nhiên vì cả hai đều đã xấp xỉ 40 tuổi mà vẫn độc thân, nhưng không dám thắc mắc vì có lẽ lối sống Tây phương là thế.

Trong lần gặp nhau đó, tôi cho chị địa chỉ, số điện thoại của gia đình, ân cần mời chị và anh Quang đến chơi, coi như tìm được người bạn xa xưa nơi xứ lạ quê người. Nhưng tôi có cảm tưởng chị không có vẻ hồ hởi với lời mời vồn vã, chân thành của tôi lắm. Vô tình hay cố ý, chị cũng không cho tôi biết địa chỉ! Tuy nhiên tôi cũng chẳng bận lòng vì nghĩ họ đã sống với nền văn hóa Tây Phương từ ngày bé, sự lạnh lùng, cách biệt với những người không cần thiết là lẽ tự nhiên như thế mà thôi.

Chỉ có vậy, lần gặp nhau như thoáng qua, được quên đi dễ dàng. Bất thình lình, khoảng gần 2 năm sau ngày chúng tôi gặp chị, tôi nhận được điện thoại của chị cho biết bác Chấn gái đã được anh em chị bảo lãnh sang đoàn tụ, hiện đang sống với chị ở Genève đã được khoảng một tháng rồi. Chị có nói với bác Chấn về gia đình chúng tôi, bác mong muốn mời gia đình tôi đến chơi để tâm sự. Đặc biệt trong cuộc điện thoại này chị rất thân thiện, thân thiện đến nỗi tôi có cảm tưởng chị năn nỉ chúng tôi đến chơi với mẹ chị, giúp bà vui mà quên đi nỗi nhớ quê hương khi chưa quen biết ai ở Genève.

Ngay sáng sớm thứ bảy cuối tuần, vợ chồng tôi lái xe xuống Genève đến tạm trú nhà một người bạn cũng ở trong Genève, nghỉ ngơi một lúc, khoảng 2 giờ chiều chúng tôi mới đến nhà chị Yến thăm bác Chấn. Trong lần gặp gỡ này có cả anh Quang cùng với hai người Thụy Sĩ là bạn trai và bạn gái của chị Yến và anh Quang.

Ngay khi bước vào nhà, sau vài câu chào hỏi thông thường, vợ chồng tôi đã nhận thấy ngay bầu không khí nặng nề giữa bác Chấn với hai người con của bác cùng với 2 người bạn của họ. Bác Chấn hoàn toàn bị tách xa trong cuộc sinh hoạt của hai người con và bạn của họ, dù ngôn ngữ Pháp với bác không thành vấn đề. Sau vài câu xã giao bình thường, nói chuyện vu vơ với chúng tôi, nhóm con của bác Chấn cũng tự tách rời. Họ nói chuyện, cười đùa, âu yếm nhau trước mặt chúng tôi, chẳng có tí ngại ngần rồi dẫn nhau vào phòng bên cạnh đùa giỡn trong âm thanh của âm nhạc khá ồn ào.

Bác Chấn có vẻ ngượng ngùng, nhưng chúng tôi cố làm ra vẻ không để ý, coi như chuyện bình thường của giới trẻ Tây phương. Chúng tôi cũng ân cần mời bác lên nhà chúng tôi chơi bất cứ lúc nào, bác có thể ở với chúng tôi hàng tháng cũng chẳng sao vì nhà khá rộng lại có vườn riêng nên rất thoải mái. Bác tỏ vẻ rất cảm động với nhiệt tình của chúng tôi, lại càng thích hơn khi thấy vợ tôi cầm chiếc áo len mà bác đang đan nửa chừng, tò mò xem ra chiều hiểu biết và đồng sở thích thêu thùa. Lúc sửa soạn ra về, vợ chồng tôi có ý gặp hai người con để chào từ giã, đưa mắt nhìn chúng tôi với tí ngần ngừ, trong vẻ ngượng ngùng bác nói:

– Thôi, các cháu cứ về đi, bác sẽ nói với chúng nó sau.

Thông hiểu sự khó nói của bác, chúng tôi thân thiết quàng tay ôm bác trước khi chia tay bác ra về.

***

Sáng hôm sau, ngày chủ nhật, sau khi ăn sáng với gia đình người bạn xong chúng tôi từ giã để về lại Zürich. Tôi định lái xe đi một vài vòng thành phố Genève trước khi về lại Zürich. Đang lúc chạy xe tôi thoáng thấy bác Chấn ngồi ở chiếc ghế của một trạm xe bus. Dừng xe vào lề đường tôi chạy vội đến nói với bác:

– Bác Chấn, bác đi đâu vậy? Bác lên xe cháu chở đi.

Bác giật mình khi nhìn thấy tôi, nhưng ngay lúc đó cảm giác ngượng ngùng buồn bã hiện rõ trên khuôn mặt, ánh mắt của bác. Chẳng đợi cho bác trả lời tôi nói tiếp:

– Cháu đang định chạy lòng vòng xem thành phố đây, bác đừng ngại gì cả, cứ lên cháu chở đi mà.

Nói xong tôi cầm tay, kéo bác về hướng chiếc xe, nơi đó vợ tôi đang mở cửa xe chờ đợi. Ngần ngừ tí chút, nhìn tôi như gửi gấm nỗi buồn kín đáo, bác nói như muốn khóc:

– Bác có muốn đi đâu đâu! Ở nhà buồn và cô đơn quá cháu ạ, chịu không được, ngày nào bác cũng ra ngồi ở các trạm xe bus, xe điện để nhìn người ta lên xe, xuống xe cho đỡ buồn đó mà thôi!

Tôi ngẩn ngơ, nhìn bác trân trối, câu trả lời của bác xót đau quá! Tôi cảm nhận người đàn bà xấp xỉ tuổi 70 đang đứng tước mặt tôi có rất nhiều tâm sự buồn đau khó nói. Hình ảnh cuộc gặp mặt chiều hôm qua ở nhà cô Yến, con gái bác lại hiện ra, trở về trong ký ức tôi! Tôi thoáng hiểu một phần nào nỗi buồn, cô đơn của bác. Nhân dịp gặp lại trong ngẫu nhiên này tôi muốn được nghe bác tâm sự, biết đâu tôi có thể tìm được điều gì đó giúp bác giảm được nỗi buồn mà bác đang chất chứa trong lòng? Nghĩ như vậy, tôi thân thiện khoác tay lên vai bác, khẩn khoản nói:

– Bác lên xe với cháu, chúng ta tìm một quán nước nào đó nói chuyện, bác đừng ngại gì cả, ngày hôm qua cháu muốn nói chuyện với bác nhiều mà chưa hết.

Hình như sự nhiệt tình của tôi, cũng có lẽ vì quá buồn, bác im lặng đi theo tôi lên xe. Sau một lúc chạy lung tung, chúng tôi vào một quán nước bên ngoài hành lang của một khách sạn trên đại lộ Quai du Mont Blanc, bên kia đường là hồ Lehmann. Bầu trời trong xanh, ánh sáng ban mai chiếu rọi lên mặt hồ nhấp nhô tạo ra những dải sáng lấp lánh tuyệt đẹp của một buổi sáng nắng tốt. Bác Chấn đã khóc gần như suốt thời gian ngồi kể cho tôi nghe về lý do của bác khi lựa chọn rời xa Việt Nam, sang Thụy Sĩ định cư. Một lựa chọn mà bác nghĩ rằng đã sai lầm, đang làm cho bác buồn đau vì cô đơn.

Bác cho biết, với lời khuyên nhủ rất hợp lý, chân tình của hai con. Bác đã bán căn nhà của mình ở trong nước, gom vào với tất cả nữ trang, tiền bạc mà bác đã dành dụm từ khi mới kết hôn để giúp hai con, mua cho mỗi người một căn hộ ở Genève. Căn hộ mà chúng tôi đến thăm hôm qua là của Yến. Một căn khác cho Quang, đến nay dù đã hơn một tháng ở Thụy Sĩ nhưng bác vẫn chưa có dịp đến xem nó to nhỏ, xấu đẹp ra sao.

Trước khi rời bỏ quê hương sang Thụy Sĩ, bác nghĩ rằng, tuổi đã già, bệnh hoạn, sống chết không biết lúc nào, vì vậy nếu được sống với chính con của mình là một điều rất hợp lý, vẫn hơn sống với những đứa cháu họ ở Việt Nam. Đã thế với khả năng thông thạo tiếng Pháp của bác, có lẽ chẳng khó khăn trong việc giao tế với người địa phương, ngoài ra với sở thích đọc sách báo, thêu thùa cũng sẽ giúp bác che lấp được những lúc nhà rỗi, cô đơn khi các con đi làm. Với ý nghĩ lạc quan như vậy bác đã chờ đợi từng ngày cho việc ra đi đoàn tụ với hai con. Nhưng khi đến Thụy Sĩ, chỉ sau một tuần lễ đầu tiên bác đã nhận thấy mình sai lầm, cái sai lầm ra ngoài tưởng tượng, tính toán của bác. Dù thích đọc sách, thích thêu thùa nhưng bác chẳng có được hứng thú mà làm được như mong muốn!

Bác được Yến, người con gái mà bác thương yêu nhất đón về sống chung. Mấy ngày đầu tiên Yến nghỉ làm việc, dẫn bác đi lo giấy tờ hành chánh, bảo hiểm sức khỏe đồng thời chỉ dẫn bác cách mua vé, xử dụng các phương tiện giao thông công cộng như xe bus, xe tram của thành phố. Yến cũng không quên hướng dẫn bác sử dụng các máy móc trong nhà như máy giặt, máy sưởi cùng với những việc làm trong tập thể chung cư.

Mấy ngày đầu tiên còn bận rộn với những học hỏi, làm quen với cuộc sống mới nơi xứ lạ quê người, bác không có thời gian để cảm thấy cô đơn. Nhưng chỉ một tuần sau, mọi hoạt động đã được đưa vào thứ tự và đều đặn. Buổi sáng Yến vội vàng đi làm, chiều tối về nhà, mệt mỏi cô ta chẳng có thì giờ và hứng thú để nói chuyện với bác ngoài vài câu hỏi sức khỏe vu vơ. Đã thế Yến thường về với người bạn trai, họ lại quây quần với nhau trong phòng riêng, chẳng thèm để ý đến bác. Bác sống im lìm như một chiếc bóng thừa thãi trong căn hộ.

Mấy ngày đầu tiên, có lẽ vì món ăn lạ hay nể nang công lao nấu nướng của bác, Yến và người bạn trai còn về nhà ăn cơm tối. Nhưng chỉ được vài ngày, họ chẳng còn thú vị với món ăn của bác nữa, Yến nói với bác đừng nấu cơm cho họ, họ tự lo được. Từ đó Yến và bạn trai thường ăn cơm ở đâu đó trước khi về nhà khá muộn. Thỉnh thoảng Yến mua đồ ăn nguội, rượu bia mang về bày ra bàn, ăn uống với bạn trai, nói chuyện cho đến khuya rồi chẳng thèm thu dọn…. Sáng hôm sau khi thức dậy, nhìn thấy đống bát đĩa bác lại phải lau chùi, thu dọn… Không nói ra nhưng bác Chấn đã có cảm tưởng mình là người hầu hạ trong nhà, không còn là người mẹ được con đón sang để phụng dưỡng nữa. Còn Quang thỉnh thoảng cùng cô bạn gái đến chơi, nói chuyện vu vơ với bác rồi quây quần ăn uống với Yến và bạn trai một vài giờ đồng hồ rồi ra về và cuối cùng việc thu dọn lại cũng là bác!

Đôi lần thấy bác buồn, than van cô đơn không bạn bè… Yến khuyên bác hãy làm theo lối giải trí, tìm vui của người Thụy Sĩ khi về già, không có việc gì làm, để tránh thời gian rảnh rỗi, cô đơn họ mua vé tháng của thành phố cho xe bus, xe tram… Rồi sáng đi, tối về, ngày ngày dùng phương tiện giao thông đi từ phố này, sang phố kia ngắm nhìn người ta buôn bán ở các siêu thị. Buổi trưa hay lúc mệt mỏi thì tạt vào những nhà ăn bình dân rẻ tiền trong các siêu thị uống cà phê hay ăn trưa.

Nghe lời đề nghị của cô con gái, bác hình dung khá rõ con đường sống của mình sẽ ra sao nếu còn sống nơi đây. Bác chợt hiểu ra rằng hai đứa con của bác thật sự đã là dân Thụy Sĩ rồi, chúng sống, chúng suy nghĩ và giải quyết theo xã hội, con người Thụy Sĩ. Chúng không thể nào nhìn thấy hay cảm thấy nỗi buồn, cô đơn của bác được nữa. Nói đến đây, bác Chấn ngước nhìn tôi với đôi mắt nhòa lệ, buông tiếng thở dài buồn bã bác than thở:

– Có lẽ bác phải về lại Việt Nam cháu ạ, sống ở đây chắc bác sẽ chết vì cô tịch mà thôi. Mấy ngày trước bác có liên lạc với tòa lãnh sự Việt Nam ở Genève để hỏi về việc hồi hương. Theo bác không khó khăn lắm, nhưng cần nhiều thủ tục để lấy lại hộ khẩu của bác ở Việt Nam và nhất là chứng minh được sự bảo đảm về tài chánh cho sự sinh sống của bác khi hồi hương.

Thấy tôi im lặng, bác buồn rầu nói tiếp:

– Hiện nay bác chẳng có gì ở Việt Nam nữa, nhà cửa đã bán, tiền bạc, nữ trang cũng không còn nữa. Bác đúng nghĩa một người nghèo, già lão đơn độc nếu về lại quê hương thì sống làm sao đây?

Tôi buột miệng hỏi:

– Tại sao bác không nói với anh Quang, chị Yến trả lại bác một ít tiền để có thể về Việt Nam sinh sống?

Lắc đầu ra vẻ thất vọng, bác cho biết tiền bán nhà, bán nữ trang vừa rồi rất lớn so với xã hội Việt Nam nhưng có đáng bao nhiêu so với Thụy Sĩ đâu. Bác đã chia cho hai con để giúp chúng mua nhà, theo bác biết thì hai người con cũng phải mượn ngân hàng hơn một nửa mới có đủ tiền để mua hai căn hộ. Hiện nay tiền lời ngân hàng cùng với chi phí dịch vụ cho chung cư như thang máy, điện nước, lau chùi, cắt cỏ, xúc tuyết, làm vườn… tất cả không phải nhỏ, chẳng thua gì tiền đi thuê nhà. Bác đã bàn với hai con để đưa trả lại bác một số tiền cho bác mua một căn nhà nhỏ ở Việt Nam, nhưng coi vẻ không được vì chúng vẫn phải trả nợ ngân hàng mỗi tháng, chẳng dư dả để đưa cho bác được. Đã thế khi về Việt Nam tiền sinh sống, thuốc thang, bệnh viện khi ốm đau cũng không thể coi là nhỏ được!

Nhẩm tính lại cuộc sống ở Việt Nam, tôi nói với bác:

– Theo cháu nghĩ nếu hai người con của bác giúp bác mỗi tháng 200 quan Thụy Sĩ (thời điểm 1986) chắc bác sống không khó khăn lắm đâu!

Bác Chấn mỉm cười trả lời:

– Cháu tưởng đơn giản như thế sao? Giả dụ mà chúng nó gửi cho bác 200 quan mỗi tháng thì cũng chỉ đủ cho sinh sống bình thường mà thôi. Còn lúc ốm đau, chi dụng cho việc thuê nhà, cho người quen, họ hàng để người ta vui vẻ mà săn sóc cho mình làm sao mà đủ? Tuổi già của bác đâu có thể sống độc lập được, mà phải dựa vào người khác, nhất là lúc ốm đau, dù là họ hàng, quen biết cũng phải có tiền, không dễ dàng như cháu nghĩ đâu!

Nghe bác tâm sự, tôi đã đã tạm hiểu hoàn cảnh của bác. Đúng như vậy, cái sai lầm là bác đã bán nhà, thu dọn tài sản để gửi cho con mong được sống gần con. Điều này nghe ra đơn giản và hợp lý như thói thường của gia đình văn hoá Việt Nam, nhưng với hai người con của bác, sự việc đã xảy ra khác hoàn toàn. Tìm một giải quyết cho bác không dễ dàng, họa chăng một hay cả hai người con bác biết cảm thông nỗi cô đơn, buồn bã của mẹ mà tìm cách giúp đỡ mà thôi. Bác không nói ra, nhưng tôi có cảm tưởng hai người con bác không như bác chờ mong.

Trước khi chia tay tôi ân cần nhắc lại lời mời của gia đình tôi, bất cứ lúc nào bác có ý muốn đến nhà tôi chơi nhiều tuần, vài tháng hoàn toàn không có gì khó khăn. Hình như nhìn rõ sự chân thành của tôi, bác vuốt nhẹ bàn tay vợ tôi mỉm cười và hỏi vợ tôi:

– Cháu có phiền lòng nếu bác đến nhà cháu chơi không?

Dù ngôn ngữ Việt Nam chỉ hiểu lõm bõm, nhưng vợ tôi cảm nhận hoàn toàn ý nghĩa lời nói của bác qua ánh mắt, khuôn mặt và cả dáng điệu chân thành trong giọng nói, nụ cười của bác. Vợ tôi đưa tay ra dấu thêu đan, lõm bõm câu tiếng Việt:

– Bác cứ đến chơi đi… có nhiều việc làm với nhau lắm, bác đừng lo!

…

Nghe vợ tôi nói, không giấu được niềm vui ngỡ ngàng hiện lồ lộ trên khuôn mặt, ánh mắt, bác cầm lấy bàn tay vợ tôi vuốt ve:

– Bác cám ơn cháu lắm lắm, cháu là người vợ hiền, dâu thảo.

Có lẽ đây là lần đầu tiên trong suốt cuộc gặp gỡ bác, hôm qua và hôm nay tôi đã nhìn thấy bác cười, vẻ buồn bã biến mất, thay vào đó là niềm vui hiện trên khuôn mặt, trong ánh mắt của người đàn bà xấp xỉ 70 tuổi mà tôi cũng chỉ quen biết thoáng qua trong quá khứ.

***

Trở về Zürich đã cả tháng trời, vì bận rộn với sinh nhai tôi cũng chẳng có dịp liên lạc với bác nữa. Đôi lúc trong trí nhớ tôi cũng nghĩ đến bác, nhưng cho rằng với thời gian bác sẽ làm quen với những người Việt Nam khác, rồi cũng giống như mọi người, đâu vào đó mà thôi. Nhưng bất thình lình vào buổi tối khi tôi đang ăn dở bữa cơm thì bác gọi đến. Với giọng nói thều thào, chứa đầy buồn bã, chán nản bác cho biết hiện đang ở bịnh viện đã gần một tuần lễ nay. Tôi hỏi lý do, bác không nói rõ ràng lắm nhưng có lẽ liên quan đến tim mạch lại thêm bị trầm uất vì buồn bã, cô đơn mà ra. Bác khóc qua điện thoại cho biết hai người con chỉ đến thăm bác một lần duy nhất vào ngày đầu tiên, sau đó vì bận rộn họ chỉ điện thoại hỏi thăm mà thôi. Tôi buông tiếng thở dài, nói vài câu an ủi bác, hứa sẽ chở vợ đến thăm bác vào ngày mai hay ngày kia! Có lẽ cảm nhận được ý nghĩa tiếng thở dài của tôi trong điện thoại, bác nói rất nhẹ:

– Cám ơn vợ chồng cháu, biết là làm phiền cháu nhưng bác muốn gặp lại các cháu lắm. Cháu cố đến với bác lần nữa nhé. (Rồi một tiếng thở dài, bác nói tiếp) chắc bác không có dịp gặp lại vợ chồng cháu nữa đâu.

Tôi nghe mà rụng rời, tưởng như bác muốn gặp để nói lời trối trăn! Tôi nói vài câu an ủi, nâng đỡ tinh thần rồi hứa chắc ngay ngày mai sẽ xin nghỉ làm một ngày đến thăm bác.

Xế chiều hôm sau chúng tôi đến bệnh viện của tỉnh, căn phòng khá rộng có 4 bệnh nhân. Chúng tôi đã giật mình đến độ nghi ngờ thị giác của mình khi nhìn thấy bác nằm như đang ngủ. Chỉ hơn một tháng trời mà sắc diện của bác thay đổi quá mau! Khuôn mặt tái xanh, hốc hác như người bệnh lâu năm, cơ thể như bị thu nhỏ lại nằm ép dính xuống tấm nệm của chiếc giường! Cánh tay trái khẳng khiu, tái xanh thò ra ngoài chiếc chăn, được nối với sợi dây truyền serum treo lủng lẳng trên chiếc giá bằng alumin trắng. Tôi nhẹ nhàng nắm lấy cổ tay xương xẩu làm bác giật mình tỉnh dậy. Nhìn thấy chúng tôi, sự vui mừng, cảm động hiện rõ trên khuôn mặt già nua trắng bệch, bác gật đầu nhẹ, đáp lại lời chào hỏi của vợ chồng tôi, rồi thều thào:

– Cám ơn hai cháu đã đến thăm bác, mời hai cháu ngồi!

Bác cho biết mấy ngày trước tự nhiên bị mệt mỏi, chóng mặt rồi bị xỉu, ngã ngay ở bếp vào ban đêm. Yến nghe tiếng động của chiếc ghế bị đổ, chạy ra mới biết và chở bác đến bệnh viện. Qua kiểm nghiệm bác sĩ cho biết do chứng suy tim đã có từ trước kèm theo thận và gan hoạt động không bình thường gây tắc trách sự tuần hoàn dẫn đến chứng lậm độc máu.

Sau vài giờ đồng hồ tâm sự, bác kể cho chúng nghe những ngày tháng cô độc, buồn chán càng lúc càng đè nặng lên bác vừa qua. Tôi cũng chỉ biết khuyên nhủ để nâng đỡ tinh thần bác mà thôi. Trước khi từ giã, bác nói với vợ chồng tôi trong nước mắt:

– Chắc bác và vợ chồng cháu không có dịp gặp lại nhau nữa đâu! Dù thế nào thì bác rất cảm động với lòng tốt của các cháu đã vì thương bác mà nghe tất cả những lời tâm sự của bác. Bác cũng không ngờ cuối đời mình lại cô độc và buồn đau như thế này. Con của bác vì bận rộn hay vì vô tâm mà chúng quên săn sóc bác, nhưng biết làm sao ngoài sự im lặng, tủi thân! Nhưng ít ra vào lúc cuối đời bác cũng có một niềm vui đó là có hai cháu để hàn huyên, tâm sự ….

Dù rất mệt, tiếng nói thều thào nhưng bác nói với chúng tôi khá nhiều, toàn là những câu nói đượm buồn và kín đáo than van! Tôi có cảm tưởng tinh thần bác hoàn toàn suy sụp, buông xuôi. Nỗi chán nản cùng cực của bác không những thể hiện trên khuôn mặt mà còn trong những lời nói như muốn gửi những lời trăn trối với vợ chồng tôi. Tôi cố gieo vào bác lòng tin về tài năng của y học Thụy Sĩ, họ sẽ mang lại cho bác sức khoẻ và niềm vui. Tôi hứa chắc chắn khi bác khỏe mạnh tôi sẽ xuống chở bác lên chơi với gia đình tôi vài tháng. Bác nghe lời hứa của tôi trong trạng thái bâng quơ hình như kín đáo che dấu sự thất vọng ở trong lòng.

Sau khi từ giã ra về, tôi tạt vào phòng y tá trực của dãy phòng bác nằm, ý định gặp người y tá nào đó nói với họ vài lời cám ơn, nhân tiện nhờ họ thông báo cho tôi biết ngay nếu có gì cần thiết. Thật may, tôi gặp được cô y tá trưởng, biết nói tiếng Đức, nhờ vậy mà vấn đề giao tiếp, nhờ vả của tôi dễ dàng hơn. Tôi cũng chẳng ngần ngại nói rõ với cô ta sự thật về hoàn cảnh không vui của bác cùng với sự nhạt tình, thiếu săn sóc của hai người con. Tôi mong cô ta cảm thương nỗi cô tịch của bác mà đặc biệt quan tâm. Tôi cũng không quên đưa cho cô ta số điện thoại, ân cần xin cô ta báo tin cho tôi biết ngay, bất cứ giờ nào, ban đêm hay ban ngày nếu có gì bất trắc, để tôi kịp đến thăm viếng hay giúp đỡ bác nếu cần.

Trở về nhà, vừa được 2 ngày, vào buổi sáng khi đang sửa soạn đi làm thì cô y tá trưởng từ bệnh viện Genève gọi đến. Tôi giật mình, linh cảm có gì không may xảy đến cho bác rồi. Cô ta cho biết bác hiện đang ở khoa cấp cứu, trong tình trạng tuyệt vọng! Với tí chút ngập ngừng cô ta cho biết đêm hôm qua vào khoảng nửa đêm, khi mọi người an ngủ, bác đã dùng kéo cắt đứt sợi dây chuyền serum, rồi để nguyên mũi kim trong mạch máu ở khủy tay cho máu chẩy ra ngấm vào chăn, đệm! Khi người y tá trực đêm biết thì bác đã rơi vào hôn mê. Bác sĩ khoa cấp cứu cho biết rất khó hy vọng cứu chữa vì bệnh nhân đã bị sẵn bệnh về tim mạch lại cơ thể rất yếu. Theo cô ta, nếu tôi đến bệnh viện trước buổi trưa hy vọng có thể gặp được bác lần cuối cùng.

Dù bị vướng bận với việc làm, nhưng tôi cũng xin nghỉ, lái xe một mình xuống Genève hy vọng gặp được bác thêm một lần nữa. Trên đường đi, tôi cầu mong sự kiện không phải quá bi đát như lời cô y tá nói.

Đến Genève, người đầu tiên tôi tìm gặp là cô y tá ,cô ta cho biết bác đã mất ngay sau khi cô ta điện thoại cho tôi, hiện đang nằm ở một phòng riêng gần khu nhà xác của bệnh viện để làm thủ tục cần thiết trước khi đưa vào nhà xác của bệnh viện. Tôi thẩn thờ khi biết mình đến quá chậm để không gặp được bác lần cuối cùng!

Mở cửa bước vào căn phòng nhỏ ở cuối hành lang của dãy nhà phụ được tách biệt với khu vực chính của bệnh viện. Chỉ có một chiếc giường duy nhất trên đó bác Chấn đang nằm. Cặp mắt của bác nhắm lại, bình thản như đang trong giấc ngủ! Chỉ có khác là khuôn mặt của bác hốc hác làm cho đôi gò má nổi hẳn lên giữa màu xám, tái xanh xấu xí của làn da mặt. Tôi im lặng đặt nhẹ bàn tay lên thân thể, lên cánh tay xương xẩu của bác như muốn cảm nhận rõ hơn cái lạnh lẽo của cơ thể cũng như nỗi buồn đau, cô độc của tâm hồn bác lúc ra đi.

Cũng chính lúc đó, lời tâm sự của bác mấy ngày trước khi vợ chồng tôi đến thăm bác ở bệnh viện hình như vang nhẹ bên tai tôi: “Bác đã lầm lẫn chọn lựa! cái lầm lẫn đã làm cho bác mất tất cả! Mất nhà cửa, mất tiền bạc nữ trang và có lẽ mất cả hai đứa con của bác nữa! Bác đã không thể hình dung ra cuộc sống xa quê hương lại mang đến cho bác thất vọng và buồn đau đến như thế! Nhưng ân hận cũng đã muộn, chẳng còn giải quyết nào khác hơn là phải chấp nhận những ngày tháng cô liêu đang đến. Nhưng bác tự hỏi bác có can đảm để chấp nhận nó suốt cuộc đời còn lại của bác hay không?”

Tôi đưa mắt nhìn qua khung cửa sổ, bên ngoài ánh nắng hoàng hôn đổ dài trên con đường trải đá sỏi trong khung viên của bệnh viện. Vài con chim nho nhỏ chuyền nhẩy trên cành cây làm rung động những bông hoa cuối mùa đã khô vì nắng gió còn sót trên những ngọn cây… Không gian thật vô tư, im lặng, chẳng có gì khác lạ để cảm thương cho một người mẹ đã vượt xa biết bao nhiêu khoảng cách trời đất, rời bỏ quê hương đến nơi đây với hy vọng được sống gần những đứa con, tìm cho mình một niềm vui đoàn tụ. Nhưng cuối cùng phải mang lấy nỗi buồn đau, cô tịch mà về với hư vô!

Lưu An Vũ Ngọc Ruẩn
(Switzerland, Zuerich)

Nguồn: https://www.rongmotamhon.net/xem-sach_Khoang-trong-cuoi-doi_gmlmsgqs_show.html

From:TU-PHUNG

Chậm Lại Hóa Hay

Van Pham

Chậm Lại Hóa Hay

Người ta thường nói: “Trâu chậm uống nước đục”, tuy vậy ở đời có những cái chậm lại hóa hay. Có người vì chậm mà không phải lên chuyến tàu định mệnh, hoặc vì chậm mà tránh được chuyến bay tử thần, chuyến bay một đi không trở lại bao giờ, cũng có khi vì chậm mà tránh được chuyến xe đi vào vĩnh viễn…

Trong số hàng triệu người ly hương, có nhiều kẻ vì hay bị chậm mà lại hóa hay, lại may mắn hơn, hưởng nhiều lợi lạc hơn những người đi trước. Những kẻ đi sau diện ODP, diện đoàn tụ gia đình, hoặc qua đường hôn nhân… đều là những kẻ an nhàn hơn, may mắn hơn, đi bằng máy bay, không phải vượt biên bằng tàu thuyền hay băng đường bộ. Những lớp người vượt biên trải qua chín chết một sống, lao vào cõi chết để tìm sự sống…

So với những người thuộc lớp đầu tiên đến đây với hai bàn tay trắng và một tâm hồn tan nát vì quê hương. Những lớp người thuộc diện HO sớm, đến đây với sự khó khăn bỡ ngỡ và phải làm lại từ đầu…Gã đến xứ Cờ Hoa này quả là chậm, quá chậm khi mà cộng đồng Việt đã hình thành vững mạnh và đông đảo. Gã đến xứ Cờ Hoa khi mà quan hệ hai nước đã bang giao, việc đi – về đã dễ dàng. Nếu những lớp người đi trước nhớ nhà, nhớ quê đến da diết tâm hồn, lâu lâu gặp được một đồng hương hay một dấu hiệu quê hương thì mừng lắm, quý lắm. Những tháng năm ấy thức ăn, món uống hay sản vật quê hương rất hiếm hoi, có người mua được chai nước mắn ở chợ Tàu mà mừng rơi nước mắt. Hoặc giả có người đang ở giữa đường mà nghe được người nói tiếng Việt thì cảm động đến độ chạy đến làm quen. Thời của gã đến đây thì hàng hóa made in Viet Nam đã ê hề, đã đầy nhóc các siêu thị: quần áo, gia dụng, thực phẩm, hàng thủ công mỹ nghệ…

Gã đến xứ này theo diện hôn nhân. Vợ gã là con gái của một vị thiếu tá quân lực Việt Nam Cộng Hòa, hai đứa quen biết và yêu nhau trước khi gia đình nhà vợ xuất cảnh theo diện HO 13, sau mấy năm thì vợ gã về Việt Nam bảo lãnh. Bởi thế mà gã mới bảo rằng, tuy trâu chậm nhưng không uống nước đục, thậm chí còn hưởng được nước ngọt ngon, thành quả từ những lớp đi trước gầy dựng nên. Khi gã đến xứ này thì chẳng còn tình cảnh thèm món ăn quê hương hay thèm nghe được tiếng nói đồng hương, thậm chí vào thời điểm ấy người Việt đã “ngán ngẩm” nhau lắm rồi. Người nào cũng bảo” cạch mặt Việt Nam”, “Đụng với người Việt dễ bị phiền toái lắm”…Chuyện người Việt chống báng nhau cứ từ từ nói sau, giờ quay lại những bước đầu của gã ở Mỹ.

Đến Mỹ hai tuần sau là có thẻ an sinh xã hội, gã lập tức xin vào hãng sản xuất phụ tùng xe hơi, cày đúng một tuần là bỏ. Khổ trần ai, tiếng dập ầm ầm đinh tai nhức óc, hơi nóng từ hệ thống máy móc tỏa ra thiếu điều như nung trong lò bát quái, xong mỗi ca làm là nằm dài ra chẳng còn thiết ăn uống, sau một tuần nhận được cái ngân phiếu chưa được hai trăm đồng. Trời, làm cực và nặng vậy mà lương thế này thì sao sống nổi?

Thiên hạ xưa nay vẫn ca tụng:” Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật, lãnh lương Mỹ”, lương Mỹ như cái ngân phiếu này sao? Bỏ việc, sau có người quen giới thiệu vào một tiệm nails. Tiệm đang hồi thiếu thợ, thế là nhào vô chơi luôn, ban đầu làm vụng, xấu, khách chê dữ lắm nhưng riết rồi quen. Đến khi làm thạo thì sanh ra chán, tuy có tiền mặt và tiền tip rủng roẻn nhưng cảm thấy không thích hợp. Ngày nào vào tiệm cũng đầy chuyện thị phi cãi cọ giữa thợ với thợ, thợ với khách, giữa thợ với chủ, tất cả cũng không ngoài việc giành khách, hơn thua tiền tip, thậm chí đố kỵ vì người này người nọ hơn mình…Công việc quả thật nhàm chán, cứ rị mọ hí hoáy với mấy cái móng đàn bà.

Một ngày nọ, một anh thợ nam đắp bột móng tay và thợ nữ chà chân, làm xong người khách chỉ cho có một đồng tiền tip. Anh thợ xé đôi tờ bạc và nói:’ You và me làm chung, nó cho một đồng, you năm mươi, me năm mươi”. Người thợ nữ nghẹn, chửi:” Đồ bần tiện”, không biết chị ta chửi khách hay chửi anh thợ kia, có lẽ cả hai.

Rồi một ngày khác có cô thợ vớt tay trên của bạn làm chung;” Tuần trước đi casino thua mấy xấp, giờ tui phải tranh thủ cày bù lại”. Người kia uất ức nhưng không biết làm gì được, chửi:” Bòn đứa dại đãi đứa khôn”. Rồi chuyện thợ này nói xấu thợ kia, bỏ nhỏ với khách:’ Đứa đó làm xấu, chơi thuốc, chỉ biết tiền tip… mầy đừng để nó làm cho mầy”… oải quá, gã bỏ nghề! Cuối cùng vào được một hãng gia công lắp ráp máy cho công ty Google, thế rồi từ ấy tạm yên với công việc của mình, không còn phải đụng hay nhìn thấy đồng hương.

Cũng thời gian ấy, có một quyển sách vừa xuất bản đã gây xôn xao dư luận, quyển “ Người Bắc Kinh ở New York” ( tác giả người Hoa, quên tên rồi). Trong quyển ấy có một câu mà gã rất tâm đắc:” Nếu bạn yêu ai, hãy đem họ đến New York; còn như bạn ghét ai, thì cũng đem họ đến New York”. Điều ấy cho thấy, xứ Cờ Hoa này quả nhiên là mảnh đất lý tưởng của những người tỵ nạn ( tỵ nạn với bất cứ lý do gì), là mảnh đất của giấc mơ ( Ameria dream), nhưng nó không dễ dàng tí nào, nó không phải là mảnh đất thần tiên để “ Nằm ngửa ra đô la rơi vào mồm ăn” như những lời đồn phóng đại., những lời nổ sảng. Xứ Cờ Hoa nói chung, New York nói riêng, nó là thiên đường cho những ai chăm chỉ làm ăn nhưng nó cũng là địa ngục cho những ai không chịu nổi những đặc tính của nó. Xứ sở này dù giàu có, tự do nhưng cũng vất vả lắm! Người lao động quần quật và trần ai chứ không dễ gì kiếm tiền. Đồng lương cơ bản làm sao đủ chi trăm thứ chi phí, phải làm thêm giờ, làm job thứ hai…”cày” đến phờ phạc cả mặt mày. Sáng vào hãng, quần quật suốt ngày; tối về quất tô cơm, làm lon budweiser rồi lăn ra ngủ lấy sức để sáng mai lại cày.

Ngày gã đến Mỹ cũng là thời điểm có khá nhiều “Việt kiều hồi hộp” xênh xang áo gấm về làng. Họ bỏ ra vài trăm đô là tha hồ ăn nhậu và nổ sảng về nước Mỹ, khoe những tấm hình chụp ké nhà sang xe xịn của ai đấy để lòe dân quê, làm cho không ít người có cái nhìn ngộ nhận và sai lệch về nước Mỹ. Gã đã nghe có người nổ sảng” Mỹ sẽ trả lương và bồi thường cho những ai đã làm sở Mỹ trước 1975” Biết nói sao với những tay “Áo gấm về làng” như thế!

Nước Mỹ quả là thật tự do, muốn đi đâu thì đi, muốn ở đâu thì ở, chẳng cần xin phép ông kẹ bà chằng nào cả. Nước Mỹ thật sướng, muốn theo đảng phái nào thì theo ( chí ít là không phải Communist hay Fascisti là ok!), Nước Mỹ thật tuyệt vời, muốn viết gì thì viết, muốn in sách thì cứ in ( in ra mà bán được hay không mới là quan trọng), viết và in cứ tự do, chẳng phải kiêng kỵ ai, chẳng phải xin phép ai, chẳng bị kiểm duyệt ( khi mà chưa phải là nhân viên cao cấp có thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia). Nước Mỹ quả là thiên đường của người cầm bút, tác phẩm có sống được hay không mới là yếu tố quyết định. Nước Mỹ có cả một rừng báo, tạp chí, ấn phẩm… ở đâu cũng thấy sách báo.Những kẻ mang nghiệp chữ thấy mà ham!

Nước Mỹ với hệ thống giáo dục tân tiến, khoa học, hữu dụng và thực tế. Giáo dục hoàn toàn miễn phí ( trừ bậc đại học trở lên). Nước Mỹ với nền chính trị minh bạch, tam quyền phân lập, báo chí tự do, khoa học kỹ thuật hiện đại, nghệ thuật khai phóng…Quả thật là ấn tượng sâu sắc với gã! Điều đầu tiên mà gã thích nhất, khoái nhất khi đến nước Mỹ không phải là đi shopping mua sắm mà là vào nhà sách. Gã mê mẩn với muôn hồng ngàn tía của một rừng sách báo. Những năm tháng đầu thì tiếng Anh còn yếu lắm, chưa đọc nổi, chỉ đọc những mẩu tin ngắn và xem hình là chính ( kể cả xem tạp chí playboy, penthouse…). Thế gian này có kẻ nào mang nghiệp chữ mà không mê sách báo bao giờ!

Có những lần gọi phone về Việt Nam nói chuyện với bạn bè, gã thật thà “kể khổ” phải cày như trâu. Nhiều đứa cười bảo:” Việt Nam giờ sướng lắm, sáng tà tà cà phê, chiều nhậu sương sương, tối quậy tới bến”, hoặc “ Việt Nam giờ sống thoáng lắm, miễn là đừng đụng chuyện chính trị”… Đôi khi gã cảm thấy lung lay, mình ở đây “cày như trâu”, tụi nó sống tháng ngày hoan lạc hưởng thụ, đến Mỹ để chịu “thiệt” như vậy sao?. Nghĩ đi rồi nghĩ lại, mình vẫn hơn rất nhiều, được thụ hưởng cái tự do, cái bảo đảm về nhân quyền, có tương lai ổn định và vững chắc cho con cái, được thở cái không khí an toàn mà ở quê hương mình không có được!

Gã đến Mỹ khi mà cộng đồng người Việt đã đông đảo và phát triển. Ngay tại thành Ất Lăng này, chỉ chừng vài mươi ngàn người Việt ( những năm tháng ấy) nhưng cũng có đến hai cộng đồng. Quanh năm kèn cựa nhau, chụp mũ nhau, đấu tố nhau như “ Chỉ có cộng động thống hợp là hợp pháp”, “ Chỉ có cộng đồng hậu duệ là chính quy”, Một nhúm người mà hai cộng đồng, nhóm nào cũng cho mình là đại diện chính đáng, bao nhiêu cuộc họp dàn xếp nhưng bất thành. Bên nào cũng khư khư cho mình là phải, nhóm kia là quấy, tất cả cũng không ngoài cái danh hão và nguồn trợ giúp của tiểu bang.

Người Việt ở đây thường nói vui với nhau một câu tục ngữ mới:” Không ăn đậu không phải Mễ, không chia rẽ không phải Việt Nam”, quả thật như thế! Người Việt lúc nào cũng chống báng nhau, tranh đấu với nhau, kèn cựa nhau, hễ một người làm được mà những người khác không bằng thì thế nào họ cũng lôi kéo xuống cho bằng được.

Có người còn ví người Việt như những con cua đồng trong cái rọ tre, con nào ngoi lên thì con kia kéo xuống, những cái que của chúng móc vào nhau! Cũng có người bảo:” Người Việt như nắm cát khô” ngụ ý cát khô sẽ chảy qua kẽ ngón tay.

Việc tranh đấu ngoài đời chưa đủ, họ còn kết bè kết cánh với cả thày chùa, với đám mang danh luật sư, bác sĩ kém phầm hạnh bắt tay với lũ cộng nằm vùng tấn công những người hy sinh làm việc giúp cộng đồng, đặc biệt là nhóm trẻ đáng tuổi con cháu, họ cũng chẳng tha. Họ âm mưu đặt để người theo ý mình, hòng điều khiển mọi việc theo ý đồ riêng tư. Nhưng không thành công theo ý, thì họ quay sang tấn công cá nhân, moi móc chuyện đời tư mà không hiểu họ chui gầm giường hay sao mà biết rõ thế….

Cũng câu tục ngữ ấy nhưng phiên bản mới là “ Không ăn đậu không phải Mễ, không đi trễ không phải Việt Nam”. Quả thật người Việt ở xứ này là chúa đi trễ, những lễ lạc, hội hè, tiệc tùng… người Việt trễ một hai giờ là chuyện thường. Chỉ duy có đi làm là đúng giờ ( có lẽ đi trễ bị trừ tiền, trừ điểm, đuổi việc…nên sợ). Có những lần đám cưới, gã cứ thật thà đi đúng giờ ghi trên thiệp, hậu quả là bơ vơ lạc lõng ngồi chờ đồng hương đến. Ngay cả những buổi lễ có tính cách tôn giáo cũng thế, đồng hương cứ tà tà, lọt chọt đến sau.

Những ngày sống và làm việc ở xứ này, gã cũng tham gia vào việc dạy tiếng Việt ở một ngôi chùa địa phương. Bọn trẻ sinh ra và lên ở đây, chúng có thể nói được tiếng Việt ( vì ba mẹ và ông bà vẫn nói tiếng Việt) nhưng chúng không thể đọc hay viết tiếng Việt được.

Dạy tiếng Việt cho tụi trẻ quả là cũng cần thiết và cũng thú vị, giao tiếp với trẻ em thì bao giờ cũng dễ chịu và thoải mái. Nhiều đứa trẻ có lối tư duy rất Mỹ, tuy chúng rất ngoan và hiền nhưng lý luận rất sòng phẳng và rạch ròi. Khi gã dạy tiếng Việt, có ý lồng những nội dung về con ngoan trò giỏi hay con hiền cháu thảo để cho các em biết về văn hóa Việt…

Lúc trao đổi với các em, gã cũng học thêm được chút ít về lối sống Mỹ. Khi gã hỏi một em học sinh về tình cảm và cách đối xử với cha mẹ, em ấy bảo:” Em thương cha mẹ, khi em lớn ở riêng, cha mẹ ở nhà cha mẹ, cha mẹ không thể ở nhà em!”, cũng có em khác trả lời về vấn đề ông bà” Ông bà là cha mẹ của cha me, không phải cha mẹ em, em không phải lo cho ông bà”… Văn hóa Mỹ là thế! Tác động sâu vào những thế hệ thứ hai, thứ ba.

Dù muốn hay không chúng ta cũng phải chấp nhận cái thực tế này. Vấn đề mà chúng ta có thể là duy trì việc dạy tiếng Việt cho con em, thông qua đó có thể giới thiệu chút ít về nguồn cội lịch sử, văn hóa của chúng ta với con em mình! Gã cũng có lần hỏi các em vì sao chúng ta có mặt ở xứ sở này, khá nhiều em không biết vì sao và hiều em thắc mắc:” Tại sao ở đây ( chùa và cộng đồng người Việt) dùng lá cờ màu vàng mà ở trường Mỹ thì em thấy lá cờ màu đỏ?”

Thời gian hai năm đầu khi đến Mỹ quả thật không khó khăn nhiều như những lớp người di tản, vượt biên… nhưng cũng “cày” vất vả không kém ai, không ít lần có ý nghĩ quay về Việt Nam, sống tà tà sáng cà phê chiều nhậu mát trời ông địa. Chuyện tự do, dân chủ, nhân quyền… xa xôi quá, có người khác lo! Dần dần thời gian trôi qua, gã cũng nhận diện ra sự thật của vấn đề ( nói kiểu nhà thiền nhận ra bản lai diện mục). Thiên đường có thể là địa danh, có thể là tính từ. Thiên đường không phải là cái có sẵn để mình nằm không mà hưởng. Thiên đường phải cật lực kiến tạo mới có được! Không phải cuộc sống cứ tà tà ăn nhậu chơi bời là thiên đường, nếu cho thiên đường là thế thì quả thật là “ thiên đường mù” ( chữ của nhà văn Dương Thu Hương).

Xứ sở này phải làm cật lực, phải vất vả học hành và làm việc. Xứ sở này tuy chưa phải là thiên đường nhưng nó có những yếu tố của thiên đường: Tự do, nhân bản, khai phóng, phát triển, an toàn, bền vững…Mọi người đều có cơ hội như nhau. Xứ sở này trời cao đất rộng, thiên nhiên xanh tươi, khí hậu trong lành, xã hội văn minh, chính trị minh bạch, giáo dục nhân bản, nghệ thuật khai phóng, dân quyền, dân sinh, dân chủ… đều được pháp luật bảo vệ. Tài năng của mọi người có cơ hội phát triển và nuôi dưỡng. Mọi người có quyền biểu đạt ý kiến và quan điểm của mình. Ở xứ này, mọi người đều tiếp cận và thụ hưởng dễ dàng những phương tiện kỹ thuật hiện đại nhất, nhất trào lưu tân tiến nhất, cho dù ta chỉ là những người bình dân. Ở xứ này con người dễ dàng phát huy mọi khả năng và sở trường của mình, chỉ sợ là mình không có khả năng gì mà thôi! Nếu mình mà có khả năng đặc biệt thì lập tức những công ty hãng xưởng sẽ trọng dụng mình, những học sinh xuất sắc sẽ được các đại học danh tiếng chiêu dụ mình.

Ở xứ này con người rất xa lạ, thậm chí chẳng hề nghe qua cái gọi là “lý lịch ba đời”, “ Lập trường giai cấp”… Con người dường như bao đời nay chưa hề biết đến những từ ngữ:” Tịch thu”, “ quốc hữu hóa”, “Quy hoạch”, “Sở hữu toàn dân”…Ở xứ này, tài sản người dân được pháp luật bảo vệ; thân thể, nhân phẩm, danh giá con người được tôn trọng; tài năng được trọng dụng. Xứ sở này có thể chưa phải là thiên đường nhưng rõ ràng nó mang bóng dáng của một thiên đường và vô số người vẫn cho nó là một thiên đường. Bằng chứng là hàng triệu, hàng chục triệu người khắp thế gian này đều tìm cách đến đây để sinh sống. Họ tìm mọi cách kể cả phi pháp, bất hợp pháp.

Họ không chỉ là người tị nạn, người nghèo mà có rất nhiều những người giàu bỏ tiền của ra để mua cho bằng được thẻ xanh. Có rất nhiều những con ông cháu cha, quan chức trung cấp, cao cấp tìm đến xứ sở này để sống và còn rất nhiều quan chức cao cấp khác gởi tiền trong các nhà băng ở xứ này, mua đất mua nhà ở xứ này! Xứ sở này dẫu chưa phải là thiên đường nhưng nó thât sự là thiên đường trong con mắt của vô số người trên thế giới. Vô số người nuôi “Giấc mơ Mỹ”!

Có không ít những người Việt sống ở đây nhưng lại nghĩ Việt Nam mới là thiên đường, ở bển tha hồ sáng cà phê chiều nhậu, bia bọt gái gú, ăn chơi khoe thân, khoe của, lên mạng làm những trò nhí nhố…Bởi thế năm nào cũng làm những chuyến “ Áo gấm về làng”, tha hồ ăn chơi vung vít, nổ sảng cho sướng lỗ miệng, tha hồ phô bày cái “Tôi”, cái “Ngã” đầy nhỏ nhen ích kỷ của mình.

Tuy họ về bển chơi, ca tụng ở bển mới là thiên đường nhưng không đời nào họ dám từ bỏ thẻ xanh hay quốc tịch mẽo này đâu! Nếu ngày xưa, những người ra đi mệnh danh tìm tự do, vậy bây giờ họ ra về thì mệnh danh là gì? Có lẽ câu hỏi này không khó để trả lời, nhất là với những người thuộc giới showbiz

Không phải đến thế kỷ hai mươi người Việt mới có di tản, lưu vong. Lịch sử hai ngàn năm nước Việt có rất nhiều những lần lưu lạc ly tán. Khởi đầu là những cuộc di dân nam tiến của cư dân Việt cổ xưa thuộc đồng bằng bắc bộ ngày nay, cao điểm là những lần đánh chiếm đất Champa.

Lịch sử còn ghi nhận Hoàng tử Lý Long Tường ( đời nhà Lý) đã đem toàn bộ gia tộc và gia nhân vượt thoát sang Đại Hàn – Triều Tiên để tránh họa diệt tộc. Mãi đến thế kỷ hai mươi này, hậu duệ đời thứ bốn mươi là ông Lý Xương Căn tìm về Đình Bảng để bái yết tổ tiên, có lẽ đây là cuộc di tản buồn nhất, dài lâu nhất của người Việt. Sử Đại Hàn chép rõ ràng, hoàng tử Lý Long Tường dựng “Vọng quốc đài” ngày ngày ngóng trông về Đại Việt.

Kế đến là những cuộc vượt thoát từ đàng ngoài vào đàng trong, kéo dài suốt hai trăm năm nội chiến của các tập đoàn phong kiến: Lê – Mạc – Trịnh – Nguyễn. Sông Gianh trở thành biên giới phân chia giữa đàng ngoài và đàng trong.

Thế kỷ hai mươi thì lịch sử lập lại một cách nghiệt ngã, sông Bến Hải trở thành vĩ tuyến chia đôi đất nước, hàng triệu người rời bỏ nhà cửa, ruộng vườn để di tản vào nam.

Năm 1975, cuộc chiến tương tàn kết thúc thì hàng trăm ngàn người Việt di tản, sau đó thì lại có hàng triệu người lao ra biển đông để tìm đường sống, hàng triệu người vượt biên, lao vào cái chết để tìm sự sống, đó cũng là lý do tại sao có cộng đồng Việt ở xứ Cờ Hoa này. Ngày nay, có không ít những người xưa kia từng tuyên bố vượt biên tìm tự do, giờ họ làm cuộc vượt biên ngược lai, không biết cuộc vượt biên ngược lại để tìm gì đây?

Nước Mỹ bây giờ còn vật vã trong cơn dịch Corona virus, tuy nhiên đang dần được khống chế. Nước Mỹ vẫn còn âm ỉ những chia rẽ phân liệt nặng nề bởi một ông tổng thống bá đạo, thô lỗ và ích kỷ. Nước Mỹ vẫn còn ngăn cách bởi sự bênh và chống giữa Dân Chủ với Cộng Hòa. Nước Mỹ hôm nay đã có phần suy giảm trước sự phát triển và hung hăng của Trung Cộng. Tuy vậy, nước Mỹ vẫn còn là cường quốc số một của thế giới, có những giả thuyết đặt ra sau vài mươi năm nữa Trung Cộng sẽ thay thế nước Mỹ, xem ra những giả thuyết này chẳng có sức thuyết phục nếu nước Mỹ đoàn kết như trước đây. Nước Mỹ hôm nay vẫn đương nhiên là nước hàng đầu thế giới về mọi mặt: Kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, công nghệ, tài chánh, nhân quyền… và kể cả là cường quốc dung chứa những người tị nạn. Những nạn nhân của chiến tranh, kỳ thị tôn giáo, kỳ thị giới tính, bất công xã hội, những người bị săn đuổi bởi những thể chế độc tài toàn trị… đều được nước Mỹ mở rộng vòng tay đón họ.

Những thế hệ người Việt đến Mỹ sớm giờ đã già, một phần đã ra đi. Những thế hệ thứ hai, thứ ba… đã hội nhập sâu vào đời sống Mỹ, có không ít đã thành công trên chính trường, quân đội, dân sự, khoa học và nhiều nhất, dễ thấy nhất là thành công ở mặt kinh tế. Tỷ lệ theo mức độ hội nhập và thành công của người Mỹ gốc Việt thế hệ con cháu là cái “ Căn cước” tị nạn cũng dần phai.

Những người Việt đến Mỹ hiện nay, đa số là du học sinh, một số ít theo diện đầu tư ( thật sự là kiếm đường định cư mà thôi) và một phần đáng kể nữa là đi theo diện hôn nhân ( kể cả rất nhiều vụ kết hôn giả). Không khó khăn gì để nhận thấy có một sự khác biệt khá lớn giữa lớp người đi trước và những người mới đến hôm nay, cái khác biệt về tư tưởng, quan điểm, cách nhìn nhận vấn đề; khác biệt về lối sống và văn hóa ứng xử… u đó cũng là hậu quả của hai môi trường sống khác nhau.

Tiểu Lục Thần Phong

May be an image of one or more people and outdoors

SỰ SỢ HÃI TRONG DÂN?…

SỰ SỢ HÃI TRONG DÂN?…

Ngày hôm qua, bắt đầu từ trưa khi Thủ tướng họp với lãnh đạo thành phố bàn việc chống dịch. Trong phát biểu ý kiến của Thủ tướng đại ý là: “Chính phủ kêu gọi sự cảm thông và ủng hộ của nhân dân nếu phải áp dụng các biện pháp khoanh vùng, giãn cách, phong tỏa, cách ly trên diện rộng để xử lý triệt để sự lây lan của dịch bệnh vì sức khỏe cộng đồng và sự phát triển của đất nước.”. Có nghĩa là Thủ tướng và thành phố đang chuẩn bị một số biện pháp mới mạnh hơn, quyết liệt hơn trong việc ngăn chận dịch bệnh.

Thế là chỉ không lâu sau đó, trên mạng xã hội và truyền thông có lan truyền một lời nhắn có nội dung: ̵”̵ ̵E̵m̵ ̵c̵h̵u̵ẩ̵n̵ ̵b̵ị̵ ̵đ̵ồ̵ ̵ă̵n̵,̵ ̵t̵h̵ự̵c̵ ̵p̵h̵ẩ̵m̵ ̵t̵h̵i̵ế̵t̵ ̵y̵ế̵u̵ ̵n̵g̵a̵y̵ ̵n̵h̵é̵.̵ ̵A̵ ̵đ̵a̵n̵g̵ ̵h̵ọ̵p̵ ̵t̵r̵ự̵c̵ ̵t̵u̵y̵ế̵n̵ ̵h̵o̵ả̵ ̵t̵ố̵c̵.̵ ̵C̵h̵u̵ẩ̵n̵ ̵S̵G̵ ̵k̵o̵ ̵đ̵c̵ ̵r̵a̵ ̵n̵g̵o̵à̵i̵.̵ ̵L̵à̵m̵ ̵n̵g̵a̵y̵ ̵đ̵i̵.̵ ̵A̵ ̵đ̵t̵ ̵k̵o̵ ̵n̵g̵h̵e̵.̵”̵ ̵

Tiếp đó là thông báo sẽ lockdown toàn thành từ 0 giờ ngày 9/7. Tui nhận được khoảng 100 tin như thế này trên messenger cũng trên tin nhắn điện thoại, zalo, Viber…

Đồng thời, tui cũng được báo tin trên điện thoại bởi nhiều bạn bè quen biết. Tôi đọc tin mà ngờ ngợ vì trước đây mấy hôm cũng đã có tin như thế này tung ra nhưng sau đó đã được cải chính. Hôm nay thì chỉ một cái nhắn tin nho nhỏ, ngắn gọn giống như của người trong cuộc đưa ra.

Hàng trăm, hàng ngàn cái tin đều giống như đúc từ một khuôn và nội dung là một. Tui đâm nghi ngờ nên cũng dè dặt khi trao đổi với bạn bè và người thân. Rất nhiều người tin vào cái mẩu con con này, Họ bảo nhà nước này từ xưa đến nay muốn làm gì quan trọng đều theo bài này, tức là tung tin ra, sau đó cải chính nhưng thật sự là chuyện đó có thật.

Như chuyện mấy lần đổi tiền ngày xưa chẳng hạn. Lại thêm nhiều cơ quan, xí nghiệp, nhà máy yêu cầu công nhân, viên chức ở lại cơ quan, công nhân ăn ngủ, làm việc trong xưởng để hạn chế lây lan dịch bệnh. Chỉ cần thế là mọi người đã nháo nhào.

Thế nên mọi người lại ùn ùn lũ lượt ra siêu thị vét hàng. Chiều và tối hôm qua các siêu thị các quầy hàng trống rỗng. Sáng hôm nay cũng vậy. Chợ bây giờ phải bán chui, sạp hàng bảo với khách quen muốn mua hàng thì ra lúc 4:30 sáng để tránh dân quân với công an. Giá thì bảo sao mua vậy, không thể cò kè vì hàng khan hiếm.

Dù hôm nay, chính quyền đã thông báo cho biết là không có lockdown, chỉ hạn chế có kiểm soát tình hình ra vào và di chuyển trong thành phố. Nhưng khổ lắm, dân vẫn không chịu tin và vẫn sống trong nghi ngờ và sợ hãi. Cho đến giờ, tui vẫn khẳng định tin nhắn nho nhỏ được phát tán, lan truyền một cách rộng rãi hôm qua là tin giả và vẫn nghĩ rằng chính quyền đang có một kế hoạch mới để đối phó với dịch bệnh đang lan tràn, số người mắc bệnh càng ngày càng cao.

Hôm nay hơn 120.000 thí sinh và các bộ phận liên quan đang thi tốt nghiệp. Thí sinh đi thi với tâm trạng không ổn, cha mẹ học sinh thì đầy âu lo. Nhà nước cũng ở trong tình trạng căng thẳng vì lỡ như có thí sinh nhiễm bệnh vì tập trung đi thi, dân chửi không kịp vuốt mặt. Và mới đây đọc báo thấy có một thí sinh ngất xỉu trong phòng thi phát hiện thấy dương tính. Đọc tin mà hoảng hồn. Nguy thật!

Thành phố xáo xào hoang mang với đủ thứ lời đồn. Thực hư, hư thực. Tin chính thống của nhà nước thì hạn chế, mông lung nhiều khi không cụ thể vấn đề, chữ nghĩa thì kêu rổn rảng mà chẳng hiểu gì. Tin vỉa hè, tin giả thì lan truyền như vết dầu loang. Dân bối rối nên thường chỉ tin vào những đồn thổi.

Giá như chính quyền khi dự định đưa ra những biện pháp mới nên khẳng định có phong toả toàn thành, nội bất xuất, ngoại bất nhập hay không, khẳng định điều đó trước khi đề nghị những phương cách mới.

Được như thế, dân hiểu ngay là chính quyền sắp có nhiều thay đổi nhưng biết rõ có hay không biện pháp phong toả toàn thành. Khi được biết những khẳng định minh bạch của nhà nước, dân sẽ ít bị chi phối bởi những tin đồn nhảm. Đừng vội trách dân chúng và dân cũng nên thông cảm với chính quyền.

Trong tình hình nước sôi lửa bỏng như thế này, minh bạch là điều cần thiết đối với lãnh đạo và dân phải tập bình tĩnh trước những sự kiện. Thành phố đang thiếu một bộ phận đầu não có kiến thức chuyên môn và tổ chức khoa học cùng một đội ngũ truyền thông tốt. Chính vì thiếu những yếu tố đó đã đưa đến tình trạng hỗn loạn và bát nháo trong dân.

Phải thay đổi cách dập dịch là điều tiên quyết để ngăn chận dịch lan truyền như lúc này. Không thể cứ có dương tính là đóng cửa, là bao vây và sau đó hàng loạt F1, F2 vào khu cách ly. Thành phố đã có gần 800 điểm cách ly và phong toả, cứ thấy nơi đâu cũng giăng dây và hàng rào kẽm, lòng dân làm sao yên. Khi người nhiễm bệnh không còn có những triệu chứng thì việc tập trung đông người để tầm soát bệnh là việc làm gây nhiều nguy cơ.

Khi số người bệnh tăng cao lên con số hàng trăm, hàng ngàn một ngày thì tất cả những việc tập trung đông người như tổ chức thi tốt nghiệp hay tầm soát là một việc làm sai lầm. Đó là dịp để dịch bệnh lan tràn khó kiểm soát.

Có thể thành phố không thiếu lương thực, thành phố vẫn còn những cơ sở cung ứng thức ăn, thực phẩm theo kiểu online.

Nhưng người ta lại ngán shiper. Họ chạy suốt ngày ngoài đường, tiếp xúc không biết bao nhiêu người nên nguy cơ tiềm ẩn bệnh là rất lớn, do vậy mua hàng online chỉ là cái bấm chuột nhưng tiếp xúc với người giao hàng thì lắm e ngại.

Nhưng mua hàng kiểu đấy chỉ dành cho những người có đồng ra đồng vào, còn dân nghèo thì chịu chết, làm không ra vì dịch bệnh bủa vây, lấy tiền đâu mà mua.

Thế nên, để an dân, ngoài chuyện minh bạch thông tin, chính quyền nên lưu ý đến những người dân nghèo, không thể cứ để mặc cho những người làm thiện nguyện hỗ trợ dân như lâu nay vẫn thế và bây giờ vẫn vậy.

Phải có chính sách và tổ chức để đến với tầng lớp dân nghèo. Họ không thể ngồi chờ mãi những tấm lòng của mọi người hảo tâm mang đến mà phải có một sự trợ giúp dài hơi của chính phủ, và đó là bổn phận và trách nhiệm của nhà nước đối với nhân dân. Đó cũng là một cách để an dân.

7.7.2021

DODUYNGOC

May be an image of 1 person and text