NHÌN BẰNG TRÁI TIM- TRUYỆN SUY NGẪM
NHÌN BẰNG TRÁI TIM- TRUYỆN SUY NGẪM
Gần nhà ngoại tôi có một đôi vợ chồng già bị mù. Họ đã có với nhau một đàn con cháu đông đúc. Nghe ngoại nói, năm nay hai cụ đã ngót nghét tám mươi tuổi.
Ngoại kể, ngày xưa, khi lấy nhau, người chồng ngồi xe bò đi đón vợ. Tuy cô dâu và chú rể đều không nhìn thấy gì, nhưng chú rể vẫn nhờ người cuốn đầy lụa điều lên chiếc xe và đầu con bò, như vậy cho giống đám cưới.
Khi cô dâu vừa về nhà chồng, chú rể dắt tay vợ rà mò từ nhà trên xuống nhà bếp, khắp lượt các ngóc ngách trong gia đình. Rồi cũng từ đó, suốt hơn nửa thế kỷ, trong cái thôn nghèo chẳng mấy ai biết đến ấy, dù trời mưa hay nắng, người ta luôn nhìn thấy họ tay trong tay, lẳng lặng cùng nhau làm mọi việc.
Có lẽ trong tất cả công việc thì khó nhất vẫn là múc nước từ giếng lên. Lần nào cũng thế, hai người họ đều dắt nhau đi. Người vợ sờ thấy cây gỗ ở cạnh giếng, một tay ôm chặt cây, còn tay kia níu chặt bàn tay chồng. Người chồng quỳ trên sàn giếng thả gầu xuống múc, kéo nước lên.
Có người nhìn thấy họ múc nước khó khăn ngỏ ý muốn giúp nhưng hai vợ chồng đều cảm ơn rồi từ chối. Họ bảo:
– “Các ông bà giúp được chúng tôi một lần, nhưng không giúp được chúng tôi một đời”.
Cứ như thế, hai vợ chồng luôn tay dắt tay nhau đi lấy nước cho đến khi đứa con đầu lòng có thể gánh được một gánh nước.
Dân làng đều cảm thấy lạ lùng. Trong thôn cũng có nhiều trai gái trẻ từng vì đất trơn mà trượt chân ngã xuống giếng, nhưng đôi vợ chồng mù chưa lần nào té ngã. Càng lạ lùng hơn, dù không thể nhìn thấy nhưng vợ chồng họ vẫn có thể tìm ra nhau trong đám đông đang nói chuyện ồn ào.
Người chồng là một người thổi kèn trong ban nhạc ở thôn quê. Ông thường đến các đám cưới thổi những bài: “Trăm con chim phượng hoàng”, “niềm vui đầy nhà”… Dù đi thổi kèn ở đâu, ông cũng có một yêu cầu, để người vợ mù của ông đi cùng. Ông nói, để vợ ở nhà một mình, ông không an tâm.
Mỗi khi tiếng kèn của người chồng cất lên, người vợ ngồi bên rất chăm chú nghe. Dường như những giai điệu ấy đều là ông thổi riêng cho bà. Người ta bảo, những lúc ấy, khuôn mặt người vợ mù thường đỏ ửng lên, khiến ai nấy đều cảm thấy người phụ nữ đang ngồi lặng lẽ kia xinh đẹp biết nhường nào.
Sau này, khi hai vợ chồng đều đã già và không cần đi ra ngoài nữa, họ bắt đầu trồng hoa trong sân nhà. Dù chẳng thể nhìn thấy được những đoá hoa tươi rực rỡ mình trồng lên, nhưng ông bà đều rất hạnh phúc mỗi khi đến mùa hoa nở.
Những người con của ông bà từng hỏi bố mẹ:
– “Nếu ông trời dành cho bố mẹ một cơ hội, liệu bố mẹ có muốn nhìn nhau bằng mắt không?”
Ông tự hào nói:
– “Dắt tay nhau một đời, có bao nhiêu đường vân trong lòng bàn tay mẹ con, đều đã in trong trái tim bố. Bố chưa từng trông thấy người đẹp nhất. Trong trái tim bố thì mẹ con là người đẹp hơn cả. Cần mắt để làm gì? Mắt là thứ tham lam nhất trần đời, nhìn cái gì cũng đánh giá tốt hay xấu, xinh hay không xinh; nhìn cái gì hay là muốn có cái đó. Trên mặt người ta có một vết sẹo cũng có thể để trong tim suốt đời.”
Tim sáng hơn mắt. Nó là sáng nhất, thật nhất!
Còn bà thì trả lời:
– “Người ta nhìn người bằng mắt, bố mẹ nhìn người bằng trái tim. Tim sáng hơn mắt – thật.”
Sưu tầm
From: TU-PHUNG
Bà Hằng, ông Quyết bị bắt vì vi phạm mang tính ‘thách thức’: quy định mơ hồ!
Đài Á Châu Tự Do
Nhà báo độc lập Nguyễn Ngọc Già, khi trả lời RFA từ Sài Gòn hôm 1/4 cho rằng, việc bắt bà Nguyễn Phương Hằng đã được Bộ Chính Trị bật đèn xanh do bà này phát ngôn trái ý Đảng CSVN:
“Tuyên bố của ông Võ Văn Thưởng cho thấy khi bắt bà Hằng đã được Bộ Chính trị đồng ý. Tức câu chuyện trầm trọng hơn rất nhiều so với những gì dư luận nghĩ. Tuy nhiên, nhiều người ngạc nhiên khi bà Hằng bị bắt vì điều 331, lợi dùng quyền tự do dân chủ, thay vì tội danh vu khống làm nhục… Tôi cho rằng qua phát ngôn của ông Thưởng thì câu chuyện đã rõ ràng hơn, đó là việc bắt bà Hằng đã mang tính chất chính trị. Thứ hai, khi họ bắt bà Hằng bằng điều 331 chắc họ cũng đã suy nghĩ rất kỹ vì nó giống như điều 117, nghĩa là án bỏ túi, tùy vào lúc đó Bộ Chính trị quyết như thế nào? Mức án ra sao?”
Theo Nhà báo Nguyễn Ngọc Già, đây là điều bất lợi cho bà Nguyễn Phương Hằng, ông giải thích:
“Tôi không biết sắp tới khi ra tòa thì tiền lệ không có tranh tụng, không có đối chất, có được lập lại hay họ sẽ tạo ra một cái mới hơn… Cái thứ hai, những cái bà Hằng mang lại lợi ích cho nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam chỉ gói gọn ở góc độ kinh tế, nhưng cái bất lợi mà bà mang lại cho nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam quá lớn, đó chính là hình ảnh. Và cái giống nhau của bà Nguyễn Phương Hằng và ông Trịnh Văn Quyết như ông Thưởng phát ngôn đó là sự ‘thách thức’… Bà Hằng thì thách thức danh dự của nhà cầm quyền CSVN, tức mang tính chính trị. Còn ông Quyết thách thức khả năng quản trị quốc gia, tức về mặt kinh tế.”
Tóm lại theo Nhà báo Nguyễn Ngọc Già, việc bắt kết án bà Hằng và ông Quyết có như thế nào thì sự thách thức vẫn còn nguyên vẹn, và chỉ mang tính trấn áp mà thôi.
RFA.ORG
Bà Hằng, ông Quyết bị bắt vì vi phạm mang tính ‘thách thức’: quy định mơ hồ!
Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng vừa cho rằng các vụ Nguyễn Phương Hằng, Trịnh Văn Quyết có tính chất thách thức, cần xử lý nghiêm. Pháp luật Việt Nam quy định việc này như thế nào?
Đã đến lúc Việt Nam tìm mua vũ khí của Mỹ thay cho Nga
Đài Á Châu Tự Do
Việt Nam là quốc gia Đông Nam Á mua nhiều nhất vũ khí từ Nga. Từ năm 1995 đến 2019, Việt Nam đã nhập khẩu vũ khí Nga trị giá 7,38 tỷ USD — chiếm 84% tổng lượng vũ khí nhập khẩu của nước này (xấp xỉ 5% tổng kim ngạch xuất khẩu quốc phòng toàn cầu của Nga). Trong 20 năm qua, 61% xuất khẩu quốc phòng của Nga sang Đông Nam Á là bán cho Việt Nam (2).
Nga là nhà cung cấp vũ khí lớn nhất cho Việt Nam và Đông Nam Á. Năm 2018, Việt Nam đã đặt hàng một hạm đội máy bay chiến đấu, tàu nổi và tàu ngầm do Nga sản xuất trị giá hơn 1 tỷ USD, theo hãng thông tấn nhà nước TASS.
Trước đó, Việt Nam đã mua sáu tàu ngầm lớp Kilo trị giá hơn hai tỷ USD.
Việt Nam là một trong những nước nhập khẩu vũ khí tích cực nhất trên thế giới trong những năm gần đây, đặc biệt trong bối cảnh Trung Quốc luôn đe doạ Việt Nam trên khu vực Biển Đông.
Việt Nam xếp thứ 23 trong số 137 quốc gia và đứng thứ hai ở Đông Nam Á sau Indonesia trong bảng xếp hạng sức mạnh quân sự 2019 của Global Firepower có trụ sở tại Mỹ.
RFA.ORG
Đã đến lúc Việt Nam tìm mua vũ khí của Mỹ thay cho Nga
Một trong những lĩnh vực mà Việt Nam chịu ảnh hưởng từ việc cấm vận và trừng phạt của Phương Tây đối với Nga, đó là vấn đề vũ khí.
“ĐỪNG BỊ DẪN DẮT THEO NÃO TRẠNG “CHÁNH TRỊ HÓA” ĐỐI VỚI VIỆC TRUYỀN BÁ TÔN GIÁO!
Bài hay nên đọc,
Người Việt đa số thích mê tín, thờ tùm lum… nên các đạo thờ Thiên Chúa theo lẽ tự nhiên khó hòa hợp với người Việt từ ban đầu.
Trong nhà trường, cơ quan chính quyền… có cái nhìn không mấy thân thiện với đạo Công giáo… như một cách gây chia rẽ để cai trị.
Đạo Phật một cách chưa chính thức được nhà cầm quyền ưu ái như quốc giáo. Lẫn lộn giữa yếu tố tôn giáo và chính trị, tôn giáo và mê tín dân gian… Nhiều ông sư dựa vào đây để tấn công các tôn giáo khác. Đặc biệt là tấn công đạo Công giáo.
“Đạo Phật được du nhập là dưới thời Tàu đô hộ.
Đạo Chúa được du nhập là dưới thời người Việt tự chủ. “
“ĐỪNG BỊ DẪN DẮT THEO NÃO TRẠNG “CHÁNH TRỊ HÓA” ĐỐI VỚI VIỆC TRUYỀN BÁ TÔN GIÁO!
– Đã đến lúc tỉnh táo tâm trí là vừa! Thế kỷ 21 rồi, đâu phải thời mông muội nữa.
Việc truyền giáo thuộc về lãnh vực tâm linh. Biết vậy, nhưng vẫn còn không ít quí bạn theo đạo Phật lại vô tình đem cặp mắt “chánh trị hóa” khi nhìn về tiến trình truyền giáo của đạo Chúa. Bài này đưa ra vài dữ kiện ĐỐI CHIẾU; qua đó giúp quí bạn có được cái nhìn trung thực, và đừng bị lỡm vào những chiêu thức “chánh trị hóa” nữa.
ĐẠO PHẬT (Buddhism) truyền bá vào nước Việt từ khi nào? Ắt quí bạn biết, là dưới thời Bắc thuộc, lúc nước Việt đã hoàn toàn nằm dưới sự cai trị của Tàu.
Trong lịch sử ghi nhận một số danh tính vị sư nổi bật. Như ngài Ksudra (Khâu-Đà-La), người Ấn Độ, đến giảng đạo trong khoảng các năm 168-189, lúc đó nước Việt là “Giao Châu” thuộc nhà Hán.
Như ngài Vinitaruci (Tì-ni-đa-lưu-chi) là vị sư người Ấn đến truyền pháp vào năm 580. Lúc này nước Việt vẫn còn trong thời kỳ Bắc thuộc, nằm dưới ách đô hộ của Tàu.
* ĐẠO CHÚA (Christianity) truyền bá vào nước Việt đầu thế kỷ 17.
Có thể ghi nhận vị giáo sĩ người Bồ Đào Nha Francisco de Pina (1585-1625) đến Đàng Trong vào năm 1617. Ngài còn là một người rất giỏi về ngữ âm học, thành thử đã tiếp cận nhanh chóng tiếng Việt và tạo nền móng soạn thảo ra Bộ chữ abc (sau này gọi là chữ Quốc ngữ mà hết thảy người VN chúng ta đang dùng).
Rồi vị giáo sĩ Alexander Rhodius (1593-1660), người thuộc “Quốc gia Hội thánh” (Status Ecclesiasticus, còn gọi là “Quốc gia Giáo tông”, “Quốc gia của sứ đồ” – “Apostolorum statum”), đến Đàng Trong vào năm 1624. Ngài học tiếng Việt nơi vị giáo sĩ Francisco de Pina. Sau đó, ngài Alexander Rhodius ra Đàng Ngoài truyền đạo.
Nước Việt lúc đó có do ngoại bang cai trị? Không. Mà triều đình Đàng Trong lẫn triều đình Đàng Ngoài đều là người Việt!
&2&
Việc truyền bá đạo Phật lẫn đạo Chúa, như tôi nêu ở đầu stt, là thuộc lãnh vực tâm linh. Các ngài đi truyền đạo vì sự xác tín tâm linh của chính các ngài.
Hẳn nhiên, đâu phải ưng muốn vô truyền đạo là cứ vô, ắt phải được sự chấp thuận của giới chức chánh trị cầm quyền tại nơi đến.
Các vị giáo sĩ truyền bá đạo Chúa có lúc gặp lệnh cấm đạo ngặt nghèo; nhưng cũng có những lúc được cho phép đi rao giảng Lời Chúa. Những lúc được tự do truyền đạo như rứa, ai cho phép? Là Chúa Nguyễn (Đàng Trong), chúa Trịnh (Đàng Ngoài) – nhắc lại – đều là giới cầm quyền người Việt cho phép!
Còn các vị sư sãi, cao tăng truyền bá chánh pháp, ai cho phép được đi lại trong nước? Suốt nhiều thế kỷ du nhập đạo Phật, thời Bắc thuộc, đều do giới cầm quyền đô hộ của Tàu cho phép.
Đạo Phật được du nhập là dưới thời Tàu đô hộ.
Đạo Chúa được du nhập là dưới thời người Việt tự chủ.
Có phải hễ nhà cầm quyền cho phép tôn giáo nào đó du nhập thì … bạn cho rằng tôn giáo phải “phục vụ chánh trị”?
Nếu dựa theo suy diễn này, tức là xác định đạo Phật – được phép du nhập trong thời Bắc thuộc – phục vụ cho nhà cầm quyền, tức phục vụ cho mưu đồ ngoại bang là giặc Tàu đô hộ sao?
Quí bạn theo đạo Phật ắt không muốn chấp nhận lối suy diễn trên.
Vậy, sao nhiều người trong quí bạn lại cho rằng đạo Chúa – về sau, hồi Pháp thuộc – phục vụ cho ngoại bang (Pháp)?
Điều mình không muốn người khác nghĩ xấu như rứa về mình, thì mình cũng đừng bao giờ nghĩ xấu về người khác.
4a) Đạo Chúa du nhập vào đầu thế kỷ 17, do các giáo sĩ đa phần là người Bồ Đào Nha.
Thực dân Pháp biết đến nước Việt và tấn công xâm lược vào năm 1858, giữa thế kỷ 19. Độ cách quãng thời gian từ lúc đạo Chúa du nhập cho đến khi Pháp đổ quân là gần 250 năm, gần hai thế kỷ rưỡi!
Xa cách tới cỡ vậy, mà vẫn có người ráng gán cho bằng được liên quan giữa đạo Chúa với sự xâm lược của Pháp. Hoặc là họ dốt đặc lịch sử; hoặc là họ cố tình quên béng lịch sử, thành thử họ đã đi quá xa của mọi sự hài hước trên đời!
4b) Như ở mục 2 & 3 cho thấy: Đạo Phật lúc du nhập & tồn tại suốt nhiều thế kỷ là hoàn toàn nằm dưới thời cai trị của ngoại bang Tàu – chớ chẳng phải cách xa cả hai thế kỷ rưỡi của đạo Chúa lúc du nhập so với lúc ngoại bang Tây mãi sau này mới đặt sự cai trị.
Nếu nói đạo Phật gắn chặt với mưu đồ thống trị của Tàu – bởi vì đạo Phật du nhập SAU KHI Tàu đã đặt ách cai trị lên nước ta, quí bạn chấp nhận nổi không? Ắt là không.
Vậy mà vẫn có những người trong quí bạn Phật tử lại đi gán đạo Chúa với mưu đồ thống trị của Pháp – trong khi đạo Chúa du nhập được khoảng 250 năm TRƯỚC KHI Pháp xâm lược.
Xin quí bạn chú ý: Trong những người thuộc giới làm chánh trị, tỉ như đám Tàu, đám Tây .v.v… bao giờ cũng đầy nhóc những kẻ mưu mẹo sử dụng tôn giáo cho ý đồ của họ. Việc chánh-trị-hóa-tôn-giáo là nghề của giới chính khách đó đa!
Mắc gì bạn, trong tư cách tín đồ của một tôn giáo, lại đi rước cái ngón nghề “chánh trị hóa” vào trong não trạng của mình, vô tình trở thành … cái loa cho bọn đầu cơ chánh trị chuyên nghiệp?
Thay vì vậy, quí bạn là các tín đồ hãy hướng tâm trí của mình vào việc giúp đỡ các vị giáo sĩ, linh mục (Công giáo), các vị mục sư (Tin Lành), các vị cao tăng (Phật giáo) chơn chính, một lòng một dạ đối với Chúa Jesus, với Phật Thích Ca ở mức cao nhứt – cao hơn hẳn những kẻ cầm quyền thế tục. Giúp các vị ấy toàn tâm toàn ý truyền bá chánh đạo, chánh pháp!
THAY LỜI KẾT
Điều mình không muốn người khác nghĩ xấu về mình, thì mình cũng đừng bao giờ nghĩ xấu về người khác.
Có quá nhiều người bị mắc lỡm bởi não trạng “chánh trị hóa” quá lâu. Đã đến lúc tự làm cho đầu óc tỉnh táo trở lại.
Thế kỷ 21 rồi, chớ đâu phải thời mông muội nữa ./.”
Bài của Matthew NChuong
Nhà thờ đá Ninh Bình

Vì sao Nga xâm lược Ukraine và Putin muốn gì?
- Paul Kirby
- BBC News
Chụp lại video, Hình ảnh quay bằng drone cho thấy mức độ tàn phá ở các thành phố Ukraine từ khi cuộc chiến bắt đầu
Khi Vladimir Putin phá tan hòa bình ở châu Âu bằng việc đánh vào một quốc gia dân chủ 44 triệu dân, cái cớ của ông là nước Ukraine hiện đại, nghiêng về phương Tây là một đe dọa thường xuyên và Nga không thể thấy “an toàn, phát triển và tồn tại” được.
Nhưng sau năm tuần bắn phá, hàng ngàn người thiệt mạng, nhiều thành phố bị phá hủy và hơn 10 ngàn người mất nhà cửa trong cũng như ngoài Ukraine, những câu hỏi lớn vẫn được đặt ra: mục tiêu của Putin là gì và liệu có lối thoát nào?
Mục tiêu của Putin là gì?
Mục tiêu ban đầu của vị tổng thống Nga là chiếm Ukraine và lật đổ chính quyền, chấm dứt vĩnh viễn mong muốn gia nhập liên minh quân sự phương Tây NATO. Nhưng cuộc xâm lược của Nga đã bị sa lầy và Putin dường như đã thu bớt tham vọng của mình.
Khi mở chiến dịch xâm lược hôm 24/2, ông nói với người dân Nga rằng mục tiêu của ông là “phi quân sự hóa và phi phát xít hóa Ukraine”, để bảo vệ người dân Ukraine, những người đã phải chịu đựng cái mà ông gọi là tám năm đàn áp và diệt chủng của chính phủ Ukraine.
“Kế hoạch của chúng ta không phải là chiếm lãnh thổ Ukraine. Chúng ta không định áp đặt điều gì lên bất kỳ ai bằng vũ lực,” ông khẳng định.
Ông ta còn nói đây không phải là một cuộc chiến hay cuộc xâm lược, mà chỉ là một “chiến dịch quân sự đặc biệt”, cụm từ mà truyền thông Nga do nhà nước kiểm soát buộc phải dùng.
Cáo buộc về phát xít và diệt chủng ở Ukraine là hoàn toàn không có cơ sở, nhưng điều rõ ràng là Nga thấy thời điểm này là cốt yếu. “Tương lai của Nga và vị trí của Nga trên thế giới đang bị đe dọa,” giám đốc tình báo Nga Sergei Naryshkin nói.
Quân đội Nga có mục tiêu tràn vào thủ đô Kyiv, xâm lược Ukraine từ Belarus ở phía Bắc, cũng như từ phía Nam và Đông.
Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov nói về việc giải phóng Ukraine khỏi áp bức, trong khi Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky được bầu lên theo quá trình dân chủ thì nói “kẻ thù đã xác định tôi là mục tiêu số một; gia đình tôi là mục tiêu số hai”.
Nhưng sự chống trả quyết liệt của Ukraine đã gây ra thiệt hại nặng nề, và ở một số vùng, thậm chí đẩy lùi quân Nga.
Nga dường như đã hạ thấp tham vọng của họ, tuyên bố rằng Nga “nói chung đã hoàn thành” mục tiêu của giai đoạn một – làm giảm đáng kể khả năng chiến đấu của Ukraine.
Phía Nga tuyên bố tại các vòng đàm phán hòa bình rằng họ sẽ “giảm đáng kể” hoạt động quân sự quanh thủ đô Kyiv và quanh thành phố Chernihiv ở phía Bắc.
Điều này vẫn chưa được xác nhận và Tổng thống Ukraine Zelensky nói Ukraine chỉ tin vào những kết quả cụ thể, chứ không tin được lời nói.
Chiến tranh vẫn tiếp diễn, nhất là ở phía Đông và phía Nam, nơi quân Nga cố gắng tạo một hành lang đất liền dọc bờ biển phía Nam nối tới biên giới Nga.
Sau một tháng xâm lược, Nga tuyên bố mục tiêu chính của họ là “giải phóng Donbas” – nói chung gồm 2 vùng Luhansk và Donetsk ở Đông Ukraine.
Hơn một phần ba khu vực này đã do các lực lượng ly khai được Nga hậu thuẫn chiếm trong cuộc chiến bắt đầu từ năm 2014.

Trước khi cuộc xâm lược bắt đầu, điều rõ ràng là Tổng thống Putin muốn chiếm tất cả Đông Ukraine. Ông đã công nhận cả vùng này là thuộc về hai tiểu nhà nước do Nga giật dây. Người đứng đầu tiểu nhà nước Luhansk đề xuất tổ chức cuộc trưng cầu dân ý về việc gia nhập Nga, tương tự như cuộc trưng cầu được tổ chức lặng lẽ ở Crimea hồi 2014.
Ngoài mục tiêu quân sự, yêu sách lớn hơn của Tổng thống Putin là có được sự đảm bảo về trung lập trong tương lai của Ukraine.
Phía Ukraine đã đồng ý điều đó với điều kiện có đảm bảo về an ninh từ các nước đồng minh như một phần của thỏa thuận hòa bình rộng hơn được đưa ra trong vòng đàm phán ở Thổ Nhĩ Kỳ.
Vì sao Putin muốn một nước Ukraine trung lập?
Putin coi việc Liên Xô sụp đổ là “sự tan rã của nước Nga lịch sử.” Ông tuyên bố người Nga và người Ukraine là một và phủ nhận lịch sử lâu dài của Ukraine.
Chính việc ông gây áp lực lên cựu tổng thống Ukraine Viktor Yanukovych, người nghiêng về phía Nga, không ký một hiệp ước với Liên minh Châu Âu hồi 2013 đã dẫn đến các cuộc biểu tình và cuối cùng làm ông Yanukovych phải ra đi hồi tháng 2/2014.
Sau đó Nga đã chiếm vùng Crimea ở phía Nam Ukraine và châm ngòi cho phong trào ly khai nổi dậy ở phía Đông và một cuộc chiến khiến 14.000 người thiệt mạng.
Khi Putin chuẩn bị xâm lược Nga vào tháng Hai, ông xé tan thỏa thuận hòa bình Minsk 2015 và cáo buộc NATO đã đe dọa “tương lai của chúng ta như một dân tộc”. Ông tuyên bố mà không có cơ cở nào rằng các nước NATO muốn mang chiến tranh tới Crimea.
Một nước Ukraine trung lập là thế nào?
Trước khi Ukraine đưa ra kế hoạch hòa bình, Nga nói họ sẽ cân nhắc một nước Ukraine “trung lập, phi quân sự” với quân đội và hải quân riêng, tương tự như các nước Áo và Thụy Điển, cả hai đều là thành viên EU. Áo là nước trung lập trong khi Thụy Điển là nước không liên kết.
Tổng thống Zelensky đã tuyên bố rằng người Ukraine hiểu rằng họ sẽ không được vào NATO: “Đó là sự thực và điều đó cần được công nhận.”

Nga không coi các đề nghị hòa bình của Ukraine là hứa hẹn hay đột phá, nên cuộc chiến vẫn tiếp diễn.
Nhưng đây là những gì Kyiv đề xuất:
•Ukraine sẽ trở thành một quốc gia “không theo khối nào (hay không liên kết) và phi hạt nhân”, và không có căn cứ quân sự hay quân đội nước ngoài trên lãnh thổ
•Các đảm bảo nghiêm ngặt và mang tính pháp lý sẽ yêu cầu các quốc gia như Anh, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Thổ Nhĩ Kỳ, Pháp, Canada, Ý, Ba Lan và Israel bảo vệ nước Ukraine trung lập trong trường hợp nước này bị tấn công
•Trong vòng ba ngày Ukraine bị tấn công, các quốc gia bảo lãnh sẽ phải bàn bạc và tham gia bảo vệ Ukraine
•Ukraine sẽ được phép gia nhập Liên minh Châu Âu
•Ukraine sẽ không tham gia các liên minh quân sự – chính trị và bất kỳ cuộc tập trận quốc tế nào sẽ phải được sự đồng ý của các quốc gia bảo lãnh.
Đơn xin gia nhập NATO (và EU) của Ukraine được ghi trong hiến pháp 2019 của nước này, nên bất kỳ thay đổi nào sẽ cần có một cuộc trưng cầu dân ý sau đó vài tháng.
Còn Crimea và vùng Đông Ukraine thì sao?
Cho tới giờ, Nga không ấn tượng với đề xuất của Ukraine về số phận tương lai của Crimea, mà Nga xâm chiếm hồi 2014. Điện Kremlin nói Crimea giờ đây là lãnh thổ của Nga và hiến pháp Nga cấm việc bàn thảo địa vị của Crimea với bất kỳ bên nào khác.
Theo đề nghị hòa bình của Urkraine, tất cả quân Nga sẽ rời lãnh thổ Ukraine và tương lai của các khu vực phía Đông do quân ly khai chiếm giữ sẽ được đàm phán giữa hai tổng thống như một phần của cuộc gặp thượng đỉnh đình chiến.
Tuy nhiên, Tổng thống Putin sẽ không từ bỏ bất kỳ vùng lãnh thổ nào Nga chiếm được trong chiến tranh, nhất là khi mục tiêu ông tuyên bố là “giải phóng” miền Đông Ukraine. Trong khi đó, Kyiv sẽ không bao giờ đồng ý khoan nhượng toàn vẹn lãnh thổ của mình.
Ukraine chưa bao giờ coi trọng yêu cầu phi quân sự hóa của Nga, và việc Moscow khăng khăng phải “phi Phát xít hóa” chỉ là tuyên truyền của Nga. Theo lời của ngoại trưởng Ukraine Dmytro Kuleba: “Thật là điên rồ, đôi khi họ thậm chí còn không giải thích được họ muốn nói đến điều gì.”
Vấn đề của Putin với NATO là gì?
Với nhà lãnh đạo Nga, liên minh quân sự có 30 thành viên của phương Tây chỉ có một mục đích – chia rẽ xã hội Nga và cuối cùng là hủy hoại nó.
Trước khi cuộc chiến bắt đầu, ông yêu cầu NATO quay lại thời 1997 và đảo ngược việc mở rộng sang phía Đông, rút quân và bỏ các căn cứ quân sự từ các nước thành viên gia nhập liên minh này từ năm 1997 và không triển khai “vũ khí tấn công gần biên giới với Nga”.
Điều đó có nghĩa là Trung Âu, Đông Âu và các nước vùng Baltic.

Trong con mắt của ông Putin, phương Tây đã hứa từ những năm 1990 rằng NATO sẽ “không mở rộng một tí nào về phía Đông”, nhưng vẫn làm như vậy.
Tuy nhiên, đó là việc trước khi Liên Xô sụp đổ, và lời hứa “không mở rộng về phía Đông” được đưa ra cho Tổng thống Liên Xô Mikhail Gorbachev chỉ nói đến Đông Đức trong bối cảnh một nước Đức thống nhất. Chính ông Gorbachev sau đó đã nói rằng “chủ đề NATO mở rộng chưa bao giờ được bàn tới” vào lúc đó.
Putin có tham vọng xa hơn Ukraine không?
Nếu có, thì những thất bại quân sự của ông ở Ukraine có lẽ đã làm giảm những tham vọng rộng hơn của Putin ngoài Ukraine.
Sau nhiều giờ nói chuyện với vị lãnh đạo chuyên quyền Nga, Thủ tướng Đức Olaf Scholz kết luận:
“Putin muốn xây dựng một đế chế Nga…Ông ta muốn định hình lại một cách cơ bản hiện trạng của châu Âu theo tầm nhìn của ông ta. Và ông ta không ngần ngại gì về việc sử dụng quân đội để đạt mục đích này.”
Bà Tatiana Stanovaya của hãng phân tích RPolitik và trung tâm Carnegie Moscow Center lo ngại về sự đối đầu Chiến tranh lạnh xoáy ốc: “Tôi có một cảm giác chắc chắn rằng chúng ta phải chuẩn bị nhận một tối hậu thư mà Nga đưa cho phương Tây, một tối hậu thư quân sự hóa hơn và hiếu chiến hơn chúng ta có thể tưởng tượng.”
Sau khi chứng kiến việc ông Putin sẵn sàng san phẳng các thành phố châu Âu để đạt được mục tiêu, các lãnh đạo phương Tây không còn ảo tưởng gì nữa. Tổng thống Joe Biden đã gọi Putin là một tội phạm chiến tranh và lãnh đạo Đức và Pháp coi cuộc chiến này là một bước ngoặt trong lịch sử châu Âu.
Trước cuộc chiến, Nga yêu cầu tất cả vũ khí hạt nhân Mỹ bị cấm sử dụng bên ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ. Hoa Kỳ đã gợi ý bắt đầu đàm phán về hạn chế sử dụng tên lửa tầm ngắn và tầm trung, cũng như một hiệp ước mới về tên lửa xuyên lục địa, nhưng ít có khả năng chuyện này sẽ xảy ra lúc này.
NGUỒN HÌNH ẢNH,EPA
Video cho thấy lính Nga chửi thề vì cuộc xâm lăng Ukraine
Video cho thấy lính Nga chửi thề vì cuộc xâm lăng Ukraine
March 30, 2022
KIEV, Ukraine (NV) – Video lan truyền trên mạng xã hội dường như cho thấy lính Nga chửi thề vì được trang bị thiếu thốn và bị Moscow ra lệnh tiến vào một vùng ở Ukraine mà không có kế hoạch rõ ràng, theo Newsweek hôm Thứ Ba, 29 Tháng Ba.
Trong đoạn video dài 1 phút 40 giây, toán lính này kể về việc họ nhận lệnh tiến vào vùng Sumy, Đông Bắc Ukraine.
Hình chụp hôm Thứ Ba, 29 Tháng Ba, cho thấy xe tăng Nga bị hư hại ở thành phố Trostianets, Đông Bắc Ukraine. (Hình minh họa: Fadel Senna/AFP via Getty Images)
Vài người trong số họ ngắt lời lẫn nhau trong đoạn video đầy tiếng chửi thề. Họ nhắc đến đơn vị số 1 và số 2 Tiểu Đoàn 4, Sư Đoàn 119.
Một người cho hay họ là “công nhân bình thường.” Một người khác nói “chúng tôi là trẻ em” và “họ bốc chúng tôi lúc 18 tuổi.”
Mỗi người tỏ ra tức giận, lo sợ và hoang mang chuyện gì sẽ xảy ra cho họ, khi họ kể lại việc đồng đội tử trận hoặc bị bắt làm tù binh.
“Chúng ta đang làm gì ở đây?” một người nói, “Bộ Quốc Phòng Nga chẳng biết gì về chúng ta hay chúng ta đang làm gì ở đây.”
Một người khác cho hay Nga “đang gửi cho chúng tôi súng trường để đấu lại Grad [hệ thống phóng hỏa tiễn hàng loạt], đạn pháo. Chúng tôi kêu gọi các bạn lan truyền tin này.”
Ban đầu, đoạn video này được đăng lên Donbass Case, kênh Telegram có khoảng 29,000 người theo dõi.
Mặc dù chưa được kiểm chứng độc lập, đoạn video được chia sẻ ồ ạt trên Twitter và một số công ty truyền thông đang đưa tin cuộc chiến Ukraine. Tính đến sáng Thứ Ba, hơn 1.1 triệu người xem đoạn video này.
Đoạn video xuất hiện giữa lúc tin tức tiếp tục cho hay lính Nga ở Ukraine đang xuống tinh thần. Bộ Quốc Phòng Mỹ cho biết có nhiều đơn vị quân đội Nga buông súng hoàn toàn.
Video trên mạng xã hội mấy ngày qua còn cho thấy lính Nga dường như bỏ lại rất nhiều xe quân sự.
Về số lính Nga tử trận, mỗi bên tuyên bố mỗi con số khác nhau. Trong khi Nga xác nhận khoảng vài ngàn lính thiệt mạng, Ukraine nói có đến 16,000. (Th.Long)
Tạp chí tiêu điểm – Chiến tranh Ukraina : Với Trung Quốc, « sự bất ổn là kẻ thù số 1 » (RFI)
RFI Tiếng Việt
Tổng thống Nga Vladimir Putin (T) và chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Bắc Kinh ngày 04/02/2022. via REUTERS – SPUTNIK
Nga và Trung Quốc những năm gần đây không ngừng thể hiện sự gần gũi. Dựa trên nền tảng trước đây có cùng hê tư tưởng cộng sản, cả hai nước phô bày một liên minh chống mặt trận phương Tây và tìm cách thiết lập một mô hình mới thống trị thế giới. Do vậy, theo nhiều chuyên gia tại Pháp, bất luận cuộc chiến ở Ukraina có tiến triển ra sao, Trung Quốc cũng sẽ không giữ khoảng cách với Nga. Hai nước hợp nhất trong cuộc chiến vì một thế giới hậu phương Tây.
Hai nhà độc tài, hai cách nhìn, một kẻ thù chung
Sự gần gũi đó dường như ngày càng khắng khít kể từ khi Tập Cận Bình và Vladimir Putin lên nắm quyền lãnh đạo đất nước. Người thứ nhất đưa ra những phát biểu chính trị của mình xung quanh những hứa hẹn một tương lai xán lạn và kinh tế giầu sang. Người thứ hai, thì ngược lại, luôn ám ảnh với việc phải tìm lại ánh hào quang thuở xưa. Tầm nhìn đi lên thành cường quốc tuy khác nhau, nhưng đôi bên cùng nhắm đến một kẻ thù chung duy nhất : Hoa Kỳ và rộng hơn nữa là phương Tây.
Nhưng mối quan hệ Nga – Trung không phải lúc nào cũng êm thắm. Những tranh cãi gay gắt về hệ tư tưởng trong suốt những năm 1950 dẫn đến hệ quả là một sự đoạn tuyệt bang giao giữa hai đại cường cộng sản trong những năm 1960 và đỉnh điểm căng thẳng là những vụ va chạm vũ trang nghiêm trọng năm 1969 dọc theo con sông ranh giới Oussouri giữa Nga và Trung Quốc. Sự kiện đã dẫn đến một sự xích lại gần ngoạn mục giữa Washington và Bắc Kinh trong những năm sau đó.
Tuy nhiên, theo nhận định của nhà Trung Quốc học, Jean-Pierre Cabestan, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia, với nhật báo Pháp Le Monde (28/03/2022), cuộc trấn áp đẫm máu Thiên An Môn năm 1989 là một bước ngoặt quan trọng trong quan hệ Nga – Trung. « Đấy là một thời điểm quyết định cho mối quan hệ giữa Matxcơva và Bắc Kinh. Sau một gian đoạn chờ thời do việc Liên Xô bị tan rã, điều nghịch lý là chính phủ Trung Quốc lại tìm thấy trong chế độ dân chủ mới non trẻ của Nga thời đó, một đối tác cốt yếu cho cuộc chiến của mình chống thế thống trị về tư tưởng và chiến lược của phương Tây, đặc biệt là thế đơn cực của Mỹ. »
Việc ông Tập Cận Bình trở thành chủ tịch Trung Quốc còn đẩy nhanh mối quan hệ Nga – Trung đi xa thêm một bước. Năm 2013, một tuần sau khi nhậm chức, Tập Cận Bình đã bay đến Nga. Trước Viện Quan Hệ Quốc Tế ở Matxcơva, lãnh đạo Trung Quốc nói đến « định mệnh chung » và tuyên bố : « Quan hệ Nga – Trung là mối quan hệ song phương quan trọng nhất trên thế giới. Chúng là hình mẫu cho những mối quan hệ tốt đẹp nhất có thể tồn tại được giữa hai cường quốc ». (Le Monde, ngày 27-28/03/2022)
Cũng theo chuyên gia Cabestan, xu hướng ngày càng trở nên chuyên chế của chế độ Putin, sự xuống cấp quan hệ Nga – phương Tây và gia tăng căng thẳng Mỹ – Trung giải thích phần lớn cho điều mà ông gọi là « sự thông đồng Nga – Trung trên trường quốc tế đến mức vụ sáp nhập bán đảo Crimée bởi người có quyền lực nhất ở điện Kremlin năm 2014 đã được chấp nhận bằng một thái độ trung lập khoan dung của chính phủ ông Tập Cận Bình ».
Chiến tranh Ukraina thử thách tình bằng hữu Nga – Trung
Kể từ đó Nga và Trung Quốc thắt chặt quan hệ trong nhiều lĩnh vực như năng lượng, quốc phòng, khoa học thậm chí cả trong truyền thông. Theo Le Monde (28/03/2022), người ta sẽ chẳng có gì phải ngạc nhiên nếu một cư dân mạng gõ « Ukraina » trên công cụ tìm kiếm Weibo của Trung Quốc, chỉ thấy một bài xuất hiện là của trang mạng Sputnik.
Nhìn từ góc độ lịch sử này, đối với nhiều chuyên gia, việc Trung Quốc trong tuyên bố chung ngày 04/02 với Nga, tỏ rõ lập trường chống việc mở rộng NATO, đánh dấu kết quả của một chiến lược do ông Tập Cận Bình khởi xướng, nhằm làm sống lại « tình đồng chí » giữa hai nước « anh em » cộng sản. Alice Ekman, nhà nghiên cứu về châu Á, Viện Nghiên cứu An ninh của Liên Hiệp Châu Âu, lý giải như sau :
« Trước hết ở đây có một sự đồng nhất ở cấp độ tuyên truyền, nhưng điều đó chưa đủ, bởi vì còn có một sự nhất quán về quan điểm, thậm chí là cả hệ tư tưởng một cách sâu sắc. Cả hai nước cùng chia sẻ mối oán hờn nhắm vào NATO và Mỹ. Bắc Kinh cho rằng Mỹ và NATO phải là những bên chịu trách nhiệm đầu tiên cho cuộc chiến ở Ukraina. Do vậy, chính họ phải là bên đưa ra các nhượng bộ để làm dịu tình hình. Ngày nay, người ta thấy rõ có nhiều sự đồng nhất giữa Bắc Kinh với Matxcơva hơn là giữa Bắc Kinh và Washington. » (France Culture ngày 26/03/2022)
Chỉ có điều, việc Nga kéo quân xâm lăng Ukraina, dường như đang đặt « tình bạn không gì lay chuyển được » giữa hai nước trước một thử thách lớn. Bắc Kinh trước thế lưỡng nan giữa một bên là lòng trung thành với hiệp ước Nga – Trung và bên kia là những mục tiêu kinh tế bị đe dọa vì liên đới đến Nga, đang hứng chịu những đòn trừng phạt chưa từng có từ phương Tây.
Đọc toàn bài tại đây :
RFI.FR | BY RFI TIẾNG VIỆT
Tạp chí tiêu điểm – Chiến tranh Ukraina : Với Trung Quốc, « sự bất ổn là kẻ thù số 1 »
Nga và Trung Quốc những năm gần đây không ngừng thể hiện sự gần gũi. Dựa trên nền tảng trước đây có cùng hê tư tưởng cộng sản, cả hai nước phô bày một liên minh chống mặt trận phương Tây và tìm cách…
GÓC SUY GẪM – Cuộc Sống Không Cho Ai Quá Nhiều
GÓC SUY GẪM…
Cuộc Sống Không Cho Ai Quá Nhiều
Chuyện kể rằng: – Có một cô ca sĩ nổi tiếng sống tại một đất nước giàu có ở châu Âu. Tuy mới chỉ 30 tuổi nhưng danh tiếng của cô đã vang dội khắp nơi, triệu người ngưỡng mộ.
Cô có một người chồng yêu thương và một gia đình hạnh phúc mỹ mãn khiến không ít phụ nữ trong thiên hạ đều ao ước.
Một lần, sau đêm diễn thành công, cô ca sĩ cùng chồng và con trai đang tìm cách rời khỏi nơi tổ chức thì bị đám đông người hâm mộ cuồng nhiệt bao quanh. Mọi người dành những lời lẽ ca tụng, khen ngợi cô không dứt.
Có người khen ngợi cô tuổi trẻ mà chí lớn, vừa tốt nghiệp đại học đã được biên chế vào nhà hát tầm cỡ quốc gia và trở thành nữ ca sĩ trụ cột của nhà hát. Có người ca ngợi cô còn trẻ mà đã trở thành một trong mười nữ ca sĩ có giọng hát opera xuất sắc nhất thế giới.
Người khác thì vô cùng ngưỡng mộ khi cô có người chồng tuyệt vời và một cậu con trai kháu khỉnh, dễ thương. Trong mắt họ, cô quả thực là người phụ nữ hạnh phúc nhất thế gian, được Thượng đế ưu ái quá nhiều.
Mọi người tranh nhau bàn luận, ai cũng muốn bày tỏ quan điểm và suy nghĩ của bản thân để thể hiện sự ngưỡng mộ đối với thần tượng. Cô ca sĩ chỉ im lặng lắng nghe, không thể hiện thái độ gì.
Khi mọi người nói xong, cô mới chậm rãi nói: “Trước hết, tôi cảm ơn những lời ngợi khen của các vị dành cho tôi và những người trong gia đình tôi. Tôi rất trân trọng tình cảm của mọi người dành cho tôi. Tôi hy vọng có thể chia sẻ niềm vui này với mọi người. Tuy nhiên, các vị chỉ nhìn thấy một số mặt bên ngoài trong cuộc sống của tôi. Còn một số mặt khác, các vị vẫn chưa nhìn thấy. Cậu con trai của tôi được mọi người khen là kháu khỉnh, đáng yêu, nhưng thật bất hạnh, cháu là đứa trẻ bị câm. Ngoài ra, nó còn có một người chị tâm thần và thường xuyên bị nhốt ở nhà”.
Nghe cô ca sĩ nói vậy, mọi người đều ngơ ngác, sửng sốt nhìn nhau. Họ dường như khó chấp nhận sự thật như thế.
***
Câu chuyện này nói lên điều gì? Có lẽ chúng thể hiện một triết lý đó là Thượng đế rất công bằng, ngài không cho ai quá nhiều thứ bao giờ”.
Bạn có hài lòng về cuộc sống của mình không?
Cuộc sống vốn dĩ rất công bằng, mỗi người đều có những thế mạnh và cơ hội của riêng mình. Chúng ta đừng nên chỉ nhìn thấy hoặc ngưỡng mộ những thứ người khác có mà hãy biết nghĩ và trân trọng những thứ bạn đang có, cho dù đó không phải những điều tuyệt vời lớn lao.
Nhịp sống hối hả của xã hội hiện đại tạo sự thay đổi trong kỳ vọng của con người về cuộc sống. Con người thời nay ít hài lòng về bản thân. Điều đó khiến họ tự đánh mất đi hạnh phúc và niềm vui, chỉ còn ở lại với những bộn bề, áp lực, căng thẳng và lo lắng.
Nếu bạn đang cảm thấy hạnh phúc và hài lòng với cuộc sống của mình, điều đó thật tốt. Bạn không cần phải thay đổi điều gì cả.
Nếu như bạn đang mang bên mình quá nhiều áp lực, quá nhiều suy nghĩ, cảm thấy mệt mỏi, đôi lúc cảm thấy mất năng lượng, không hứng thú với nhiều thứ, thì có lẽ bạn nên dừng lại một chút để thay đổi bản thân.
Loại bỏ khỏi tâm trí những suy nghĩ tiêu cực và rèn luyện những thói quen tích cực cũng là một cách tốt để cuộc sống của bạn tốt hơn.
Bạn có thể ghi chép lại nhật ký thành công, tức những gì mà bạn làm được, cho dù là nhỏ hay lớn, hãy ghi chép lại để gia tăng sự tự tin cho chính mình.
Dành thời gian cho những thú vui đơn giản giúp giảm áp lực hay sự không hài lòng của bản thân. Bạn có thể đọc sách, đi dạo, tìm gặp và nói chuyện với những người đã lâu bạn không gặp hoặc mới quen… Bất kỳ cách nào cũng được, nhưng ít nhất thì bạn cũng phải làm một điều gì đó khác đi.
Cuộc đời mỗi người sẽ có những lúc bạn cảm thấy hạnh phúc hoặc cũng có thể có khoảng thời gian “xám xịt” với bạn, đó là chuyện tất yếu.
Cho nên, việc đơn giản của bạn, đôi khi lại là chẳng phải suy nghĩ quá nhiều, chấp nhận nó là một phần của cuộc sống, và học cách thích nghi để thay đổi.
Sau khi đọc bài viết trên đây, nếu ai đó hỏi: “Bạn có hạnh phúc không?”. Bạn hãy trả lời rằng: “Mình hạnh phúc. Hạnh phúc theo cách sống và những gì mình đang có trên đời này”.
Qua đó, mọi người ai cũng có thể hạnh phúc, nếu mình biết chấp nhận những gì đang có. Đừng ngó người khác để so sánh hay ước muốn được như họ vì bạn có biết họ có hạnh phúc hay không?
Tình Bằng Hữu Bạn Già
Tình Bằng Hữu Bạn Già
BS Nguyễn Ý Đức
Tục ngữ Mỹ có câu nói: “Tiếp tục kiếm thêm bạn mới nhưng hãy duy trì bằng hữu cũ, vì bạn mới là bạc mà bạn cũ lại là vàng.” Cụ Nguyễn Đình Chiểu của chúng ta trang trọng bạn xưa với:
“Trong đời mất bậc cố tri,
Mấy trang đồng đạo, mấy nhìn đồng tâm”
Nhà thơ Lê Đại Thanh viết:
“Bạn là một nửa bản thân tôi
Nửa da thịt, nửa trái tim, khối óc”
Nhiều người tuổi cao cũng có chung ý nghĩa là, khi về già, ngoài việc có một sức khỏe tốt, một gia đình êm ấm, thì tình bạn lâu năm là một hành trang quý giá mà họ đã mang theo được cho tới giai đoạn cuối của cuộc đời.
Bạn Hữu là gì?
Hiểu theo nghĩa thông thường, bạn là một nhóm người không có liên hệ ruột thịt, gắn bó với nhau qua những tương đồng về hoàn cảnh sinh sống.
Họ đến với nhau trong tâm đầu ý hợp, bằng kết nối những tâm tư, những nguồn giao cảm gần giống nhau.
Họ thân với nhau để chia sẻ vui buồn, để cùng thực hiện những hoài bão chung, để nương tựa lẫn nhau. Họ hiểu nhau, tin tưởng nơi nhau, thích nhau. Đây là một gắn bó của sự chung thủy và thương yêu vị tha và lâu dài. Với nhau, họ là người đồng hành, là người tin cậy.
Bạn hữu khác với người quen biết, gặp nhau trong sinh hoạt hàng ngay như ở sở làm, trong cộng đồng, ngoài lối xóm. Đó chỉ là những tiếp xúc trong một thời gian giới hạn và cần thêm nhiều lôi cuốn khác nữa để chuyển sang tình bằng hữu.
Trong đời sống hàng ngày, nhiều khi người ta đã lạm dụng chữ bạn. Mới gặp nhau vài lần đã nói đó là bạn tôi, cứ như là thật. Ông chủ lấy lòng nhân viên, sai bạn ơi làm hộ tôi cái này, sao mà gọi như mía lùi.
Bạn hữu thường tập trung vào mấy nhóm.
Một số người có tinh thần độc lập, tự cho là không cần ai. Không phải họ sống cô độc. Nhưng, với họ, những giao tế qua lại thường nhẹ nhàng, có cũng được mà không cũng chẳng sao. Rồi tùy theo hoàn cảnh, tùy theo nhu cầu, nếu cần thì giao tiếp, sau đó có thể quên đi cũng được. Họ sống với hiện tại và thỏa mãn với những người mà họ mới gặp hay đã có sẵn. Cho nên khi mất một giao hữu, họ cũng chẳng tiếc mấy.
Những người kỹ tính, lựa bạn mà chơi thì có gắn bó sâu đậm đặc biệt với một số người mà họ coi là rất thân, nên họ buồn tiếc khi mất. Còn những liên hệ khác thì chỉ là những thiển giao, quen biết nhiều hơn là kết bạn. Họ sống nhiều với bạn xưa và không muốn tìm bạn mới khi tới tuổi cao.
Người hiếu bạn có nhiều bằng hữu hơn: bạn quen từ những năm trước, bạn mới tạo ra sau này. Họ là những người sống với cả quá khứ, hiện tại trong tình bạn và sửa soạn cho tương lai với nhiều bạn bè. Họ luôn luôn dùng giao tế nhân sự để kiếm thêm bạn mới.
Nhiều nhà xã hội học phân biệt bằng hữu tương nhượng, bằng hữu tiếp thu và bằng hữu trong hợp tác.
Khi đôi bên cho nhau lòng trung thành và tình thương yêu thì có sự cân bằng của tình bạn, đôi bên nương tựa lẫn nhau.
Khi chỉ hợp tác vì một quyền lợi, một mục đích mà không có thương yêu, chung thủy thì giao tế không bền lâu và rất giới hạn.
Đặc điểm của bằng hữu
Khác với tình anh em, vợ chồng, tình bạn hữu có những sắc thái riêng biệt. Đây là một giao hảo có tính cách tự nguyện, một ràng buộc riêng tư do đôi bên thương lượng, một liên hệ qua lại trong tinh thần bình đẳng và mang nhiều thiện ý, cảm tình tốt.
Vì tự nguyện với có quyền lựa chọn và được chọn lựa nên không ai bắt buộc ai phải là bạn. Nó cũng không có ràng buộc pháp lý như tình nghĩa vợ chồng, hoặc lễ nghĩa huyết tộc như tình anh chị em ruột thịt.
Cho nên dù có liên hệ huyết mạch, người cùng lối xóm, cùng sở làm mà không có tương khí tương đồng thì cũng không trở nên bằng hữu được. Ta có thể tỏ ra hết sức lịch sự với người cùng phòng, cùng sở, nhưng không có điều gì bắt buộc ta phải thích và là bạn người đó. Ta không thể tự coi là bạn của một người khi ta không biết người đó có sẵn sàng nhận ta là bạn không. Một nhà văn Pháp đã nói: “Cha mẹ là do số phận, bạn bè do lựa chọn”.
Bình Đẳng vì tình bạn xây dựng trên cá nhân mỗi con người. Nó không đòi hỏi sự bằng nhau tuyệt đối về học vấn, về địa vị trong xã hội, về sự giàu tiền, lắm bạc như nhau, thành công như nhau. Đã có nhiều tình bạn nảy nở giữa chủ và thợ, giữa thầy và trò, giữa người giàu và người nghèo.
Tình bạn cũng tôn trọng tính cách độc lập của nhau: mỗi bên có nếp sống riêng tư, tự do quyết định cho đời sống của mình mà không bị bên kia can thiệp. Không có sự áp đặt như chủ với nô lệ hay khuất phục như lãnh chúa độc tài với thần dân.
Trong tình bạn, đôi bên dành cho nhau những cảm tình tốt, những chăm sóc, quan tâm tận tình, những giúp đỡ khi cần và sự rộng lượng, sẵn sàng với nhau. Thiện ý này không đưa đến sự lợi dụng nhau hoặc phụ thuộc nhau. Người giúp thấy thoải mái làm mà không cho là có bổn phận hoặc bị bắt ép phải làm, mà người nhận không bị ám ảnh là đã đòi hỏi quá nhiều ở bạn.
Khi đã phụ thuộc vào nhau thì sự tự do, bình đẳng không còn nữa. Một tình bạn đích thực không những chỉ cởi mở để cho mà còn vui vẻ để nhận.
Tình trạng sẵn sàng với nhau cũng là căn bản của bằng hữu và trong tình bằng hữu, không có sự ghen tỵ mà còn cần chung thủy, thành thật với nhau, không màu mè, che đậy.
Để có bằng hữu
Tình bạn có thể được xây dựng trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào của con người.
Căn bản là ít nhất họ có cùng một thôi thúc tình cảm, có sự chia sẻ trao đổi những ý nghĩ giống nhau, có cùng sở thích, cùng quyền lợi. Trong tình bạn tuy cũng có những khác biệt nhưng khác biệt này bổ túc cho nhau. Nếu hoàn toàn giống nhau thì đâu còn đối thoại, đồng cảm.
Bạn thường tìm thấy trong các nhóm có chung sinh hoạt: học cùng trường, ở cùng khu phố, làm cùng nghề, cùng thú vui chơi giải trí, cùng lui tới cơ sở tôn giáo. Nó nẩy sinh ở những lứa tuổi khác nhau. Nhóm trung niên có lợi điểm là có bạn ở mọi lứa già trẻ trong khi người già có bạn ở cùng lứa tuổi hoặc trẻ hơn.
Về giống tính thì thường thường đàn ông đàn bà đều có nhiều bạn như nhau, nhưng chồng thì không hay tâm sự nơi bạn mà tin cẩn vợ hơn, còn vợ thì có nhiều bạn gái để tâm sự ngoại chồng mình.
Bằng hữu nảy sinh trong những thôi thúc tình cảm giữa hai người. Thôi thúc càng cao thì bằng hữu càng sâu đậm.
Một câu hỏi thường được nêu ra là tại sao ta có ước muốn gắn bó với đối tượng này mà lại hững hờ với đối tượng khác. Có những tình bạn xuất hiện như tia chớp trên nền trời xanh: mới chỉ gặp một vài lần, chưa biết quá trình, hiện tại của nhau nhưng đã có cảm tình cho nhau, đã muốn được có bạn và được nhận là bạn. Ý thức chưa thấy gì, nhưng tiềm thức đã nhận ra và tiên đoán là nhiều triển vọng tình bạn sẽ nẩy nở sau này.
Sự chèo kéo, nài nỉ không đưa tới tình bạn, như các cụ ta nói: “Thấy sang bắt quàng làm họ”.
Đồng nghiệp, đồng sở không đương nhiên thành bằng hữu vì đây chỉ là giao tế khách quan, không vượt qua lãnh vực nghề nghiệp.
Một vấn đề tế nhị là sự xét đoán và chấp nhận trong tình bạn: nhận xét một cách khách quan về việc làm của bạn hoặc chấp nhận và hỗ trợ vô điều kiện. Đa số đều kỳ vọng có sự chấp nhận không phê phán từ bạn mình. Một số khác lại tin cậy ở nhận xét của bạn để quyết định và để học cách hành xử trong hoàn cảnh mới. Như vậy mặc dù con người không thích bị đánh giá, nhưng một nhận xét chân thành của bạn có thể có ích cho họ.
Bạn già
Giống như lúc mới sinh và trong thời còn thơ ấu, tuổi già chịu một số phận không mấy vui là phải phụ thuộc vào người khác sau khi đã có nhiều mất mát.
Nhưng, thay vì vươn ra khỏi sự phụ thuộc như lớp tuổi thơ thì người già lại đi sâu vào vòng phụ thuộc. Họ không còn làm việc, bị giảm lợi tức, con cái đi ở riêng, mất dần bạn bè, người thân yêu kém sức khỏe, bệnh hoạn. Cho nên về già mà có được những bạn cố tri thân thiết hoặc tạo thêm ra những bạn mới để nương tựa lẫn nhau là một điều rất an ủi.
Nhiều người cho rằng dù họ hàng thân thuộc có giúp đỡ nhưng bằng hữu thường gần gũi nhau hơn. Và có những điều mà chính người phối ngẫu không cung ứng được bằng những bạn cố tri. Họ đã cùng vui buồn có nhau khi xưa mà bây giờ già rồi vẫn còn có nhau. Họ nương tựa lẫn nhau để có bầu bạn, hiểu nhau để giúp đỡ lẫn nhau. Họ lắng nghe nhau tâm sự, kể lại cho nhau những kỷ niệm, những việc đã cùng làm. Họ đối xử, xưng hô thân mật như mấy chục năm về trước.
Thường thường người già muốn có những người bạn cùng lứa tuổi, có hoàn cảnh như nhau, sở thích kinh nghiệm như nhau, sống gần nhau để thuận tiện qua lại. Nhưng họ cũng có khuynh hướng là tạo thêm bạn mới ở lứa tuổi trẻ hơn để thay thế vào chỗ của những người bạn cùng tuổi sẽ lần lượt ra đi. Cũng có người già tập trung nuôi dưỡng bạn cố tri, giới hạn trong việc tìm thêm bạn mới để tiết kiệm sinh lực và để tránh gặp những trái ý không cần thiết.
Về già cũng có một số hoàn cảnh khiến tình bạn gặp trở ngại.
Kém sức khỏe khiến không cùng nhau sinh hoạt; phụ thuộc vào bạn trong các sinh hoạt hàng ngày. Nếu sự phụ thuộc quá nhiều khiến đôi khi bạn cũng cảm thấy khó chịu, xa dần. Rồi người già rơi vào cảnh cô lập, nhất là khi giảm khả năng đối thoại với tai nghễnh ngãng, mắt kèm nhèm.
Cũng nhiều người già không có thì giờ nhiều cho bạn bè vì phải dành thì giờ chăm sóc cho sức khỏe của mình, dành thì giờ để nghỉ ngơi. Ngoài ra, có trường hợp trong đó khi dư giả thì bạn bè năng tới lui, mà nghèo khó thì lại vắng kẻ tới lui.
Tình nghĩa vợ chồng già dù có như đũa có đôi, nhưng cũng nên có những bạn riêng để phòng hờ thời gian cô góa.
Khi mất người phối ngẫu, lão nam cảm thấy cô đơn nhiều hơn vì đã mất người bạn tâm tình quan trọng nhất. Bình thường các cụ bà có nhiều bạn tâm tình trong suốt cuộc đời. Nhưng khi chồng chết, cụ bà thấy quan hệ với bạn cũ của vợ chồng giảm dần. May mắn là họ dễ dàng tạo thêm bạn mới, giao hảo mới bằng cách tham dự vào nhiều sinh hoạt cộng đồng, tôn giáo. Đa số bạn của các bà cụ khi đó là cô quả vì đồng cảnh tương lân, chỉ có một số nhỏ có gia đình.
Cho nên khi còn sống với nhau mà bà vợ không chịu giao tế tạo bạn cho mình thì khi góa sẽ có nguy cơ cô đơn nhất là chẳng may khả năng tài chánh lại không được dồi dào.
Kết luận
Mặc dù có thể có những căng thẳng, những thay đổi ngoài tầm kiểm soát, tình bạn vẫn giúp người già cảm thấy vui lên rất nhiều. Cho nên mất một bạn cố tri là một tai biến vì nhiều người già cảm thấy không còn đủ thời gian để thay thế chỗ trống tình cảm đó.
Hơn nữa, như Simone de Beauvior đã viết: “Cái chết của bạn thân thiết là sự đoạn tuyệt đột ngột với quá khứ của mình. Chúng ta không những mất một sự hiện diện mà còn mất cả một phần của cuộc sống mà chúng ta đã gửi gắm nơi họ.”
BS Nguyễn Ý Đức
Texas – Hoa Kỳ
Tại sao chúng ta chỉ hiểu được Chúa Giêsu như là một mầu nhiệm?
Tại sao chúng ta chỉ hiểu được Chúa Giêsu như là một mầu nhiệm?
Chúc 1 ngày thật mạnh mẽ trong đức tin, bền vững trong đức cậy, tràn đầy trong đức mến nhé.
Cha Vương
Thư 5: 31/03/2022
GIÁO LÝ: Tại sao chúng ta chỉ hiểu được Chúa Giêsu như là một mầu nhiệm? Vì Chúa Giêsu vừa là Thiên Chúa vừa là người thật, nên ta không thể hiểu Chúa Giêsu nếu ta loại bỏ thực tại vô hình của Thần tính Người. (YouCat, số 78)
SUY NIỆM: Mầu nhiệm là gì? Mầu nhiệm là một thực tại (hoặc là một mặt của thực tại) mà sự hiểu biết do lý trí không thể đạt tới được. (YouCat, số 78 t.t)
❦Khía cạnh hữu hình của Chúa Giêsu chuyển dẫn ta đến khía cạnh vô hình của Người. Có những yếu tố rất quan trọng trong cuộc đời Người mà ta chỉ hiểu được như là các Mầu nhiệm, chẳng hạn thân phận làm Con Thiên Chúa, việc nhập thể, cuộc khổ nạn và sự sống lại của Người. (Jeremy Taylor, 1613-1667, văn sĩ tôn giáo Anh)
LẮNG NGHE: Mầu nhiệm này đã được giữ kín từ muôn thuở nơi Thiên Chúa là Đấng tạo thành vạn vật, để giờ đây, nhờ Hội Thánh, mọi quyền năng thượng giới được biết sự khôn ngoan thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã hành động như thế theo quyết định Người đã có từ muôn thuở và đã thực hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta. (Ep 3:9b-11)
CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, mọi sự bởi Chúa mà ra, mọi loài do Chúa mà có, mọi việc nhờ Chúa mà thành, xin Chúa nâng đỡ và gia tăng đức tin yếu hèn của con để con có thể thấy Chúa mọi nơi, nhận ra Chúa trong mọi người, sống với Chúa trong mọi lúc, đón nhận Chúa trong mọi sự hôm nay.
THỰC HÀNH: Dâng một lời tạ ơn Thiên Chúa vì Ngài đã dựng nên bạn và cho Con Chúa ra đời, chịu nạn chịu chết vì bạn.
From: Đỗ Dzũng
Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ – một điều luật hoàn toàn thừa thãi
Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ – một điều luật hoàn toàn thừa thãi
Nhưng lại rất cấp thiết để bảo vệ quyền lực độc tôn của chính quyền Đảng Cộng sản.
Ảnh: Reuters. Đồ họa: Luật Khoa.
Có hằng hà sa số điều luật có vấn đề nghiêm trọng trong Bộ luật Hình sự nói riêng và luật Việt Nam nói chung, nhưng Điều 331 của Bộ luật Hình sự là một điều luật có vấn đề… đặc biệt nghiêm trọng.
Nó đặc biệt nghiêm trọng vì nó hoàn toàn thừa thãi.
Ta hãy đọc nguyên văn điều luật này: [1]
| Điều 331. Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
1. Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. 2. Phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. |
Thoạt nghe, điều luật này có vẻ… có lý. Xâm phạm lợi ích của người khác thì phải bị trừng phạt chứ.
Vậy thì ta hãy xem lý do tại sao cần phải có luật.
Về cơ bản, luật được sinh ra để làm hai việc: quy định những gì công dân không được làm và những gì chính quyền được làm.
Pháp luật hiện đại được xây dựng dựa trên giả định rằng “tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”, như Tuyên ngôn Độc lập Mỹ 1776 đã nói và được Hồ Chí Minh trích dẫn trong Tuyên ngôn Độc lập 1945 do chính ông soạn thảo và đọc. Giả định này xuất phát từ thuyết luật tự nhiên, do các triết gia Khai Sáng ở châu Âu phát triển vào thế kỷ 17 – 18. [2] Theo đó, chỉ cần là con người được sinh ra là đã nghiễm nhiên có quyền tự do chứ không cần ai ban phát. Ban phát quyền là giả định phổ biến trong các xã hội quân chủ – một loại hình xã hội xoay quanh một cá nhân hay một dòng họ.
Vì con người có sẵn quyền tự do như vậy, họ có thể lạm dụng quyền đó để gây hại cho người khác. Nếu ai cũng có quyền tự do tuyệt đối thì hậu quả là một xã hội loạn lạc. Nhà nước vì vậy được sinh ra để thiết lập trật tự xã hội thông qua một khế ước xã hội (social contract), hoặc ít nhất là các triết gia Khai Sáng đã nghĩ như vậy và đặt nền tảng cho nhà nước hiện đại. [3] Cái nhà nước đó sẽ ban hành ra pháp luật để hạn chế bớt quyền tự do của mỗi cá nhân, đặt ra những điều cấm, biến tự do thành những quyền tương đối.
Chẳng hạn, anh/ chị có quyền tự do ngôn luận, nhưng quyền đó sẽ bị giới hạn trong các trường hợp vu khống, tung tin đồn thất thiệt về dịch bệnh, kích động bạo lực tức thì, v.v.
Hoặc, anh/ chị có quyền biểu tình, nhưng phải thông báo/ đăng ký với chính quyền và chỉ được biểu tình ở ngoài những khu vực cấm.
Hoặc, anh/ chị có quyền sở hữu tài sản, nhưng tài sản đó có thể bị nhà nước trưng dụng cho những mục đích an ninh, quốc phòng khi có lý do hợp lý và có bồi thường thỏa đáng; việc sử dụng tài sản cũng bị giới hạn trong trường hợp gây ảnh hưởng tới môi trường; và, gần gũi nhất, nhà nước có quyền khám xét mảnh đất, ngôi nhà bạn sở hữu khi điều tra tội phạm, v.v.
Nếu bạn vi phạm những điều cấm hoặc không tuân thủ những giới hạn trên, bạn có thể phải chịu chế tài (và chế tài này cũng không nhất thiết phải là tù tội trong luật hình sự).
Mọi giới hạn và can thiệp của nhà nước, về nguyên tắc, phải thỏa mãn tiêu chí cần thiết, tức là có thể biện minh được bằng những lý do hợp lý. [4] Chẳng hạn, nhà nước có quyền triệu tập nhân chứng để phục vụ việc xét xử tại một phiên tòa hình sự.
Đó là cách tiếp cận của những người theo trường phái nhà nước tối thiểu (minimal state). Dần dần, người ta xây dựng những mô hình nhà nước lớn hơn, có mức độ can thiệp sâu hơn vào xã hội, giới hạn nhiều quyền hơn, đánh thuế cao hơn và cung cấp nhiều dịch vụ hơn. Pháp luật khi đó không còn chỉ là để ngăn chặn và trừng phạt các hành vi gây hại, bảo vệ tự do của người dân, mà còn để phân phối của cải và cung cấp những phúc lợi gia tăng cho người dân. Đó là mô hình nhà nước phúc lợi (welfare state). [5]
Nhưng dù là nhà nước tối thiểu hay nhà nước phúc lợi, căn bản pháp luật vẫn dựa trên nguyên lý đã nêu ở đầu bài: mọi người đều nghiễm nhiên có quyền tự do, luật được đặt ra để giới hạn các quyền tự do đó, ngăn chặn hoặc trừng phạt những hành vi xâm hại đến lợi ích của người khác hoặc của xã hội.
Và đó chính là nội dung của… Điều 331.
Ta hãy đọc lại điều luật đó: “Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị…”.
Nói cách khác, Điều 331 này cõng trên lưng toàn bộ chức năng gốc và căn bản của cả một hệ thống pháp luật. Bản thân nó không giải quyết một vấn đề xã hội nào cụ thể cả, mà nó chính là triết lý chung đằng sau tất cả những đạo luật. Nó là tuyên ngôn chung của mọi hoạt động lập pháp để giải quyết các vấn đề pháp lý của xã hội, chứ nó không phải là một điều luật như điều khoản về tội giết người, tội cướp tài sản, hay tội gây rối trật tự công cộng.
Đó cũng chính là lý do mà nhiều người đã nhận xét rằng điều luật này mơ hồ, không rõ ràng. Làm sao rõ ràng được khi nó không giải quyết một vấn đề cụ thể mà chỉ có ý nghĩa tuyên ngôn về triết lý lập pháp?
Đến đây, ta sẽ thấy vì Điều 331 không giải quyết một vấn đề cụ thể nào nên nó không có lý do để được sinh ra. Nó hoàn toàn thừa thãi.
Vậy thì tại sao nó vẫn được sinh ra?
Tôi xin đề xuất hai điều để lý giải chuyện này.
Một, chính quyền Việt Nam và Đảng Cộng sản cần một công cụ hình sự để bảo vệ quyền lực của chính nó khỏi những mối đe dọa từ xã hội, chẳng hạn như những lời chỉ trích, những cuộc biểu tình, những hội đoàn độc lập. Chính vì thế, họ đặt ra những tội an ninh quốc gia như tội tuyên truyền chống nhà nước, tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.
Nhưng những điều luật an ninh quốc gia này nặng tính chính trị, thường bị quy cho là tội chính trị, và do đó, những ai bị truy cứu theo những tội danh này cũng được gọi là tội phạm chính trị, và những vụ án đó được gọi là vụ án chính trị. Là một đảng từng tranh đấu để loại bỏ ách nô lệ và những vụ án chính trị như vậy, Đảng Cộng sản không muốn mang tiếng là một kẻ cai trị tương tự như người Pháp. Do đó, họ cần tạo ra một điều luật ít tính chính trị hơn, nằm ngoài nhóm tội an ninh quốc gia. Và tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ ra đời, nằm trong nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính – nghe nhạt nhẽo hơn nhiều.
Hai, chính quyền và Đảng Cộng sản cần một điều luật có phạm vi áp dụng đủ rộng để họ muốn diễn giải thế nào cũng được, phù hợp với nhiều mục đích. Vì thế, họ tạo ra một điều luật có phạm vi rộng tới mức không thể rộng hơn, như tôi đã trình bày ở bên trên: nó cõng toàn bộ chức năng gốc và căn bản của hệ thống pháp luật. Với phạm vi điều luật lớn như vậy, về lý thuyết, họ có thể diễn giải nó thành bất kỳ cái gì và lấn át cả chức năng của các điều luật khác.
Chẳng hạn, muốn trừng phạt một người vì bịa chuyện nói xấu một người khác, họ có thể dùng Điều 331 và như vậy vô hình trung vô hiệu hóa một điều luật sẵn có là tội vu khống.
Hoặc, muốn trừng phạt những người biểu tình bên ngoài các khu vực cho phép, gây tắc nghẽn giao thông, họ cũng có thể dùng Điều 331 và phớt lờ một tội danh sẵn có là tội gây rối trật tự công cộng.
Tuy nhiên, bằng cách gom tất cả những hành vi và khái niệm này với nhau, nhà nước Việt Nam có một tập hợp những vi phạm không lằn ranh, không giới hạn, không cần phân biệt mà cũng không thể giải thích.
“Bịa chuyện nói xấu sai sự thật” hay đơn thuần chỉ là vài ngôn từ thô lỗ vô thưởng vô phạt?
“Gây tắc nghẽn giao thông” hay đơn thuần chỉ là một buổi tuần hành trên vỉa hè gây chướng mắt nhà chức trách?
Tất cả là tùy hứng của cơ quan chức năng. Luật pháp vốn dĩ cần phải định nghĩa rõ ràng những gì công dân không được làm và những gì nhà nước được làm – với triết lý ngầm định là nhằm bảo vệ quyền tự do của người dân và giới hạn quyền lực nhà nước – thì nay biến thành một công cụ vạn năng với khả năng diễn giải vô hạn cho nhà nước.
Và sự thật cho thấy Điều 331 đang đóng vai trò gần như tương tự Điều 117 – tội tuyên truyền chống nhà nước và Điều 156 – tội vu khống. Nó được dùng để truy cứu những ai chỉ trích chính quyền/ quan chức chính quyền/ những ai thân cận với chính quyền.
Như vậy, Điều 331 có thể thừa thãi với công dân, chứ không thừa thãi với quan chức. Đó là khi ta biết quan chức và chính quyền nói chung có địa vị pháp lý cao hơn thường dân. Trong lịch sử, đó chính là triết lý cốt lõi, nền tảng để xây dựng nên các chính quyền quân chủ.












