Cựu Đại Sứ VNCH Bùi Diễm qua đời, thọ 98 tuổi

Cựu Đại Sứ VNCH Bùi Diễm qua đời, thọ 98 tuổi (Báo Nguoi-Viet)

October 24, 2021

ROCKVILLE, Maryland (NV) – Ông Bùi Diễm, cựu đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ, giai đoạn 1967-1972, vừa qua đời vào 8 giờ sáng Chủ Nhật, 24 Tháng Mười, tại nhà riêng ở Rockville, tiểu bang Maryland, thọ 98 tuổi.

Ông Boone La Qui Dung, con rể của ông Bùi Diễm, xác nhận tin này với nhật báo Người Việt, và cho hay: “Cha vợ tôi qua đời an lành trong lúc ngủ.”

Cựu Đại Sứ Bùi Diễm, hình chụp Tháng Tư, 2021. (Hình: The Jimmy TV)

Theo gia đình, ông Bùi Diễm qua đời, để lại người vợ 73 tuổi cùng hai con gái và một con trai, và hiện chưa có chương trình tang lễ.

Theo trang Wikipedia, ông Bùi Diễm sinh năm 1923, quê ở Hà Nam, miền Bắc Việt Nam.

Thân phụ ông là nhà nho Ưu Thiên Bùi Kỷ, dòng dõi phó bảng Bùi Văn Quế và Bùi Ân Niên. Ông có người cô ruột là Bùi Thị Tuất, phu nhân của học giả, thủ tướng Trần Trọng Kim (1945).

Ông từng học trường Bưởi – Chu Văn An, tham gia Trường Lục Quân tại Yên Bái.

“Ông từng làm chủ nhiệm báo Saigon Post xuất bản ở Sài Gòn bằng Anh ngữ (1954-1963). Đây là tờ báo tiếng Anh đầu tiên ở Việt Nam. Ông cũng thành lập hãng phim Tân Việt, sản xuất cuốn phim Chúng Tôi Muốn Sống.”

Về chính trị, ông giữ chức tổng trưởng Phủ Thủ Tướng (1965) trong nội các Thủ Tướng Phan Huy Quát. Còn trong nội các của Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, ông là ủy viên ngoại giao (1965-1967). Ông cũng là đảng viên Đảng Đại Việt.

Thời Đệ Nhị Cộng Hòa, ông được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm làm đại sứ Việt Nam Cộng Hòa ở Washington, D.C., thay thế đại sứ Vũ Văn Thái. Chức vụ này ông đảm nhiệm từ năm 1967 đến năm 1972 thì chuyển làm đại sứ lưu động cho đến năm 1975.

Sau khi Sài Gòn thất thủ năm 1975, ông định cư tại Hoa Kỳ, sống tại Rockville, Maryland.

Tại Hoa Kỳ, ông là học giả tại Trung Tâm Học Giả Quốc Tế Woodrow Wilson và tại Viện Doanh Nghiệp Hoa Kỳ, đồng thời là giảng viên tại Đại Học George Mason.

Ông xuất bản cuốn hồi ký chính trị “The Jaws of History,” sau đó được dịch ra tiếng Việt tựa đề “Gọng Kìm Lịch Sử”. Cuốn sách thứ hai là “Vietnamese Economy and Its Transformation to an Open Market System” xuất bản năm 2004.

Ông từng trả lời phỏng vấn Stanley Karnow, tác giả “Vietnam: A Television History” và từng được phỏng vấn trong loạt phim “The Vietnam War” (Chiến Tranh Việt Nam) của nhà làm phim Ken Burns năm 2017.

Ông cũng tham gia nhiều hoạt động, là một thành viên trong Ban Cố Vấn của National Congress of Vietnamese Americans (NCVA, Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt tại Hoa Kỳ). Ông tiếp tục hoạt động trong Đảng Đại Việt và từng giữ chức chủ tịch Ban Chấp Hành Trung Ương của Ðại Việt Cách Mạng Ðảng. (TL) [kn]

TRÁI TÁO CỦA STEVE JOBS

TRÁI TÁO CỦA STEVE JOBS

Nguyễn Trần Diệu Hương

Cuộc đời của thiên tài Steve Jobs ngừng ở tuổi 56 để lại tiếc thương cho cả triệu người khắp thế giới. Đóng góp của ông cho khoa học đã tạo cảm hứng cho họa sĩ Gudjonsson vẽ hình ông cầm trái táo đứng trước cửa thiên đường kèm theo lời chú thích: “Có ba trái táo trong lịch sử của nhân loại: trái táo của ông Adam, trái táo của ông Newton và trái táo của ông Jobs.”

Courtesy of Artist Sigudur Gudjonsson and www.bostonherald.com 

Trái táo của ông Adam, trong lãnh vực tôn giáo, là một hình tượng so sánh nhiều hơn là hình ảnh của những trái táo xanh, đỏ, vàng bán ở chợ. Trái táo của ông Newton lẫy lừng trong lịch sử khoa học, là một trái táo thật tròn trĩnh, -rớt từ trên cây xuống ngay trước mặt nhà bác học-, đẻ ra lực hút của trái đất cùng nhiều định luật vật lý  đóng góp cho mọi ngành khoa học, đặc biệt là kỹ nghệ hàng không, và thám hiểm không gian. 

Trái táo, bị cắn mất  một miếng,của ông Jobs thì rất thật và rất gần với đời sống của nhân loại cuối thế kỷ 20, đầu thế kỳ 21, là logo của Công Ty Apple, luôn nằm ở một góc những sản phẩm kỹ thuật của Công ty này.

Máy personal computer (PC) Apple 2 được giới thiệu ở thị trường tiêu thụ Mỹ cuối năm 1977, khi những người Việt Nam tị nạn đầu tiên vẫn còn bỡ ngỡ ở một môi trường sống mới. Những em bé Việt Nam đến trường học Mỹ cuối thập niên 70s là những người Việt Nam đầu tiên quen thuộc với hình ảnh trái táo có màu sắc cầu vòng – bị cắn lẹm mất một miếng ở bên trên – ở góc trái của cái computer Apple 2 vuông vức nằm chễm chệ trong phòng Science Lab của trường. Nhiều trong số em bé Việt Nam năm đó, về sau đã trở thành những kỹ sư computer giòi cả về cả hai mặt software và hardware, thầm lặng góp phần “behind the scene” cho các sản phẩm kỹ thuật càng ngày càng thon nhỏ, tối tân hơn.

***

Khi tôi xách cái túi nylon của Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc đặt chân đến Mỹ, cuộc chiến kỹ thuật và thương mại giữa IBM và Macintosh (sản phẩm của Công Ty Apple) đã đến hồi quyết liệt mà phần thắng có vẻ nghiêng về IBM. Doanh số bán máy computer Macintosh kém xa mức dự đoán. Rất thực dụng kiểu Mỹ, không tình nghĩa, Ban Điều hành của Apple, Inc.  đẩy ông Steve Jobs ra khỏi Công ty do chính ông (cùng một người bạn thời Trung học là Steve Wozniak) góp phần xây dựng nên vì lý do IBM hấp dẫn người  mua hơn là Macintosh. Nhiều người bỏ xó, hoặc cho Macintosh để quay qua mua PC của IBM về sử dụng.  Sức bán của Apple 2 thua xa doanh số của IBM. Lúc đó là vào cuối thập niên 80s, một cái Apple 2 (tên gọi thông thường là Macintosh PC để phân biệt với IBM Computer) vào khoảng một ngàn ba trăm dollars.

Thời đó, computer labs ờ các trường Đại học có hai bên: một bên là IBM Computers, một bên là Apple Computers. Máy personal computer (PC) còn đắt tiền nên đa số sinh viên phải vô lab để làm bài tập vì không có PC ở nhà. Thường thì nếu muốn dùng computer IBM phải chờ đợi, nhưng nếu dùng Macintosh thì lúc nào cũng có máy trống. Thấy rõ điều đó, nhà trường mở rộng IBM section, và thu hẹp Apple section. Ai vào lab thường xuyên đều thấy computer của IBM thắng thế rõ rệt so với Macintosh.  Đó có lẽ cũng là lý do mà sau thất bại của máy điện toán cá nhân Apple 3, Công ty Apple ngừng sản xuất computer, quay qua sản xuất các notebook, và iphone.

Ba “tài sản quý giá” đầu tiên ở Mỹ của một người tị nạn như tôi lúc đó là: cái xe Toyota Celica cũ đã 12 tuổi màu nâu (để làm chân đi học, đi làm), một cái TV mới 13 inches (để improve cách phát âm tiếng Mỹ), và một cái PC cũ có logo trái táo với màu sắc cầu vồng nằm trong cái khung vuông vức, mà mãi về sau, tôi mới biết đó là Apple 2, một trong những công trình tim óc  của  hai thiên tài cùng mang tên Steve (Jobs và Wozniak).

Một người bạn, là một người di tản buồn từ tháng 4/75, mua một cái IBM PC mới, thấy tôi mới khởi đầu vào College với hai bàn tay trắng, không có ba mẹ bên cạnh nâng đỡ; cần làm bài tập nhiều, anh cho tôi  cái computer cũ Apple 2. Khỏi nói  nỗi vui mừng của một người mới vào College có được một cái desktop computer làm của riêng ờ vào cuối thập niên 80. tôi quý Apple 2 ngang với cái Toyota Celica mười hai tuổi mua bằng cả tháng lương đầu tiên của mình. 

Mãi về sau, sau này, dù đã được sử dụng và làm chủ 3 hay 4 computers cùng lúc, dù luôn luôn thích IBM hơn Macintosh, tôi không nỡ đem cho, hay quăng đi cái Apple 2 cũ kỹ. Không chỉ vì đó là tài sản vô giá của tôi trong những ngày đầu lưu lạc quê người, đó là món quà tình nghĩa quý báu, mà còn vì Apple 2 có hình trái táo cắn dở với màu sắc cầu vồng cho tôi niềm tin muôn màu ở quê hương thứ hai.

***

Khả năng thư pháp học được từ một semester duy nhất ở Đại học của Steve Jobs và khả năng tiềm ẩn về hội họa của ông đã làm Apple 2 thành một công cụ không thể thiếu trong công việc của những người làm việc trong lãnh vực graphic design, vẽ kỹ thuật.

Nhưng những người dùng computer trong thương mại hay như một cái kho lưu trữ tư liệu cần thiết thì mê IBM hơn. Do vậy không ngạc nhiên khi Apple không thể nào sánh được với IBM trong doanh số tiêu thụ. Thất bại này như  “một viên gạch  mà cuộc đời liệng thẳng vào mặt” Steve Jobs như ông tự thú trong trong diễn văn nói chuyện với các sinh viên trường Đại học tư Stanford ở thành phố Palo Alto, quê nhà của ông.  Có lẽ đó cũng là lý do mà Macintosh computers chỉ có Apple 1, Apple 2, mãi mãi dừng lại ở Apple 3 non trẻ chết sớm, mà không bao giờ có Apple 4 tiếp  nối.

Apple 1 được tạo nên bởi Jobs và Steve Wozniak, một người bạn lớn hơn từ thời Trung học, cùng có đam mê phát minh máy móc như Steve Jobs. Hai ông Steve, cách nhau 5 tuổi, người nhỏ chững chạc hơn, người lớn hồn nhiên hơn số tuổi của mình, cùng đam mê sáng tạo khoa học, nên trở thành một teamwork bình đẳng rất hữu hiệu. Hai chàng trẻ tuổi thông minh, cùng bỏ học ở năm đầu Đại học, cần cù làm việc vì đam mê ngay trong phòng của ông Jobs (lúc đó vẫn còn ở chung với cha mẹ nuôi).  Những linh kiện điện tử (single circuit board. microprocessor) – được mua từ tiền bán chiếc xe Volkswagen Van cũ của Jobs, và cái máy tính điện tử scientific calculator HP 65 của Wozniak-, càng ngày càng nhiều đầy căn chung cư một phòng của ông Wozniak ở San Jose, đầy phòng của ông Jobs ờ Los Altos, California , rồi  lấn chiếm cả garage của cha mẹ ông Jobs. Chiếc máy điện toán cá nhân được hoàn thành, ông Steve lớn (Wozniak) là người thiết kế, viết thảo chương điện toán, và trực tiếp ráp nối với sự góp ý và giúp sức của ông Steve nhỏ (Jobs), được đặt tên là Apple 1. Nhưng việc bán chiếc máy ra thị trường và lập nên Công ty Điện toán Apple năm 1976 là ý của ông Steve nhỏ.  Ông Wozniak có đầu óc của một nhà phát minh, sự thông minh của một nhà toán học, nhưng người nhìn xa hơn và mang tham vọng đem kỹ thuật nâng cao đời sống nhân loại, nói theo cách của người Mỹ là “think outside the box”, là ông Jobs, người có tham vọng tạo thay đổi, tạo tiến bộ trong đời sống con người.

Steve Jobs and Steve Wozniak in the early 70s (Courtesy of  theguardian.com

Họ cùng là sáng lập viên của Công ty kỹ thuật Apple, cái tên đến từ thói quen thích ăn táo, và từng một thời đi giúp người ta hái táo từ một trang trại ở địa phương của ông Steve nhỏ.  Steve Jobs thích tên “Apple”(trong 4 cái tên cả hai ông Steve nghĩ là sẽ dùng làm tên gọi cho Công ty mới thành lập của mình) vì Apple là tên một loại trái cây, đơn giản, dễ nhớ, và sẽ được xếp trong mẫu tự A đầu tiên trong danh bạ điện thoại. 

Công ty có tên là Apple thì logo phải là một trái táo, nhưng hình vẽ trái táo được thu nhỏ lại hơi giống hình trái cà chua hay trái cherry. Táo phải là táo, rõ ràng và chính xác, không thể lẫn lộn với cà chua hay cherry được. Thế là logo mang hình trái táo bị cắn mất một miếng rất sắc gọn, để chắc chắn là không ai có thể lầm lẫn đó là trái cà chua.  Hầu hết mọi thứ đều là ý kiến của ông Jobs. Ông Wozniak chỉ tập trung vào kỹ thuật và các thảo chương điện toán.

Dĩ nhiên ông Jobs cũng phải làm luôn công việc marketing trong những ngày Apple, Inc. còn là một em bé sơ sinh, chưa ai biết đến. Ông đem sản phẩm đầu tay – máy computer cá nhân Apple 1 hãy còn thô sơ- ra tiếp cận người tiêu thụ bằng cách mở cửa garage nhà cha mẹ nuôi, mời vợ chồng nhà hàng xóm bên kia đường qua giới thiệu. Cũng trạc tuổi cha mẹ nuôi của Steve Jobs, ông bà cụ hàng xóm không biết Steve là:

” Chàng tuổi trẻ vốn dòng… nổi loạn,

xếp bút nghiên theo việc… phiêu lưu”

Ở nhà đối diện đã past được test dành cho các học sinh lớp 10 từ hồi còn là một cậu bé ở lớp 4. Họ lại càng không biết thiên tài còn “chiêu mộ” được một thiên tài khác (the other Steve- Wozniak) cùng chế tạo ra một cái máy điện toán cá nhân đầu tiên nên không chịu phí thì giờ bước qua bên kia đường.

Steve Jobs không phải là người chịu thất bại dễ dàng. Ông ngồi xuống bên cạnh hai người hàng xóm, khôn ngoan đánh đòn tâm lý vào cả ông lẫn bà:

 – Cái máy có thể giúp bác gái cùng những người thích nấu ăn giữ được tất cả recipes nấu ăn mà không cần phải dùng đến những tờ giấy viết tay sắp trong mấy cái hộp giấy. Vừa tiện lợi, vừa ngăn nắp khi cần tìm là có ngay.

– Cái máy có thể giúp bác trai theo dõi kết quả các trận đấu thể thao dễ dàng hơn và có thể giữ đầy đủ số liệu và sự nghiệp của từng cầu thủ hay từng đội mà bác yêu thích từ năm này qua năm khác mà không bao giờ bị lẫn lộn.

– Cái máy được đặt tên là Apple Computer.

Hai người hàng xóm trạc tuổi cha mẹ Steve nghe xuôi tai, mềm lòng cất bước sang garage nhà hàng xóm nghe hai ông Steve thay phiên nhau thuyết trình về cấu trúc của Apple 1 như đang thuyết trình trước các kỹ sư điện tử. Hai nhà phát minh trẻ hào hứng nói về công trình của mình và những ích lợi Apple 1 cung cấp cho đời sống hàng ngày. Ông bà hàng xóm nghe như là “vịt nghe sấm” nhưng mặt mày bà hớn hở vì tưởng tượng việc bếp núc của mình sẽ dễ dàng hơn, không phải dùng kính lúp săm soi tìm từng cái recipe chữ nhỏ lấm lem dầu mỡ. Ánh mắt ông rạng rỡ niềm vui khi hình dung ra cảnh sẽ “nói có sách mách có chứng” về các kết quả thi đấu thể thao mà không phải gân cổ lên to tiếng với các cổ động viên của đội tuyển đối phương.

Childhood family home of Steve Jobs on Crist Drive in Los Altos, California that served as the original site of Apple Computer. It’s  one of historic Los Altos sites in 2013. (Courtesy of mercurynews.com. October 29, 2013)

Và như thế, Apple 1 “ra mắt” người tiêu dùng không kèn, không trống, không ai biết ngoài hai người phát minh trong độ tuổi 20 và hai người hàng xóm đứng tuổi trong một cái garage cũ ở vùng Los Altos, miền Bắc California vào April Fools’ Day, tháng 4 năm 1976. Rất đơn giản nhưng không phải là chuyện “đang giỡn” của ngày April Fool’s Day – “cá tháng tư” – mà là ngày khai sinh của đại công ty Apple lẫy lừng khắp thế giới sau này.

Mặc dù không bán được Apple 1 cho ông bà hàng xóm ở nhà đối diện. Jobs học được bài học marketing thực tế và đã cùng Woz (tên gọi ông Steve lớn) bán được vài trăm computer Apple 1 cho các tiệm bán hàng quanh Mountain View, Los Altos, và Palo Alto bằng cách cổ điển như các em hướng đạo gõ cửa từng nhà bán bánh kẹo gây quỹ. Phát minh đầu tiên hãy còn thô sơ và nhiều khuyết điểm nhưng điều vui nhất và khá thành công là không có cái Apple 1 nào bị trả lại.

Phải đến lúc computer Apple 2 ra đời vào năm 1977 thì logo trái táo mới trở thành một biểu tượng chính thức luôn luôn xuất hiện trên các sản phẩm của Công ty. Logo đầu tiên là một trái táo với 6 màu sắc khác nhau, phản ảnh Apple 2 là máy điện toán cá nhân đầu tiên có thể in ra giấy với 6 màu sắc rõ nét.

Về sau, sau này, Apple 2, Lisa, Mac… hay các sản phẩm điện thoại càng ngày càng nhỏ và có đủ chức năng của máy chụp hình, computer, nối kết với Internet do Apple, Inc. sản xuất, logo vẫn là trái táo cắn dở nhưng nhỏ hơn và thường là màu đen hay màu bạc. Hình như trái táo cắn dở vẫn có hình thù như ngày đầu tiên nhưng màu sắc khác nhau và không còn rực rỡ màu sắc cầu vồng của thuở ban đầu vì “cha đẻ ra trái táo kỹ thuật” đã bắt đầu đi vào giai đoạn thứ ba trong chu kỳ “sinh. lão, bệnh, tử” của đời người vào đầu thế kỷ 21.

 

 

 

 

 

Logo các sản phẩm kỹ thuật của Cty Apple

Cũng vì bệnh ung thư, không còn sức khỏe để làm việc, ông Jobs phải nghỉ dài hạn. Thời gian đó, khi chưa phải là “thường trú nhân” của bệnh viện, ông có thì giờ thực hiện thú tiêu khiển của mình – đi bộ – quanh thành phố Palo Alto, nơi ông ở. Ông thường lái xe đến trường Stanford, lúc nào cũng “đóng bộ” trong  cái quần Jeans Levi’s bạc phếch và cái áo thun cổ cao màu đen, đi quanh quẩn trong campus của ngôi trường Đại học tư đẹp nổi tiếng cả thế giới. Lúc nào mệt, ông ngồi nghỉ trên những băng đá, có khi ngồi bệt dưới một bóng cây, đôi khi mắt nhắm lại tập trung thiền định trong thế giới tĩnh lặng của riêng ông. Sinh viên qua lại, thảng hoặc quan sát người đàn ông gầy yếu, xanh xao. Tuyệt nhiên không ai  nhìn ra đó là Steve Jobs.

Những lúc đó, ông nghĩ về cuộc đời, tự hỏi nếu ông được nuôi dưỡng trong một gia đình giàu có, dư dả để đóng học phí rất cao cho trường Đại học tư Reed College ở Oregon thì chắc là ông sẽ trở thành một nhà Toán học. Ông cũng nghĩ nếu khỏi bệnh, ông sẽ rút ngắn bớt giờ làm việc, thu xếp đi học lại, mặc dù có thể phải đi học dưới một cái tên khác để tránh bị chú ý và mất thì giờ không cần thiết như Steve Wozniak đã làm ở UC Berkeley hơn 20 năm trước.

Những tháng cuối đời, lúc đời sống chỉ còn tính bằng tuần trên mười đầu ngón tay, thân thể mất dần sinh lực, mong manh như một chiếc lá khô sắp lìa cành, thỉnh thoảng ông Jobs vẫn tự lái chiếc xe Mercedes thể thao hai cửa đi làm, đậu ở khu vực sát cửa vào cho người tàn tật mặc dù không có giấy phép.  Ông đi xe Mercedes không phải vì muốn chứng tỏ mình thành công, giàu có mà vì ông rất ngưỡng mộ nhà bác học người Đức Albert Einstein và mê luôn các loại xe do nước Đức sản xuất. Lúc đó, ông Jobs không còn sức khỏe để đi bộ những khoảng cách dài mà cũng có thể thiên tài cho là quy luật dành cho người bình thường không thể áp dụng với mình. Cái xe của ông không hề có bảng số xe từ cả chục năm nay. Vì ông vốn thích sống khép kín, để không ai có thể nhận ra mình.  Dĩ nhiên ông thừa thông minh (và dư tiền) cứ sáu tháng đổi xe một lần để có thể lái xe không có bảng số như luật định cho phép. Cẩn thận như thế, thêm vào đó, bệnh ung thư ở giai đoạn cuối tàn phá cơ thể thiên tài. Bề ngoài của ông Jobs suy sụp nhanh chóng. Ít người nhận ra đó là một khuôn mặt lớn, quen thuộc, một vài lần xuất hiện trên trang bìa các tạp chí khoa học và cả trên  bìa trước của tuần báo Time (thường chỉ in hình các lãnh tụ và các danh nhân trên thế giới).

Thế nên có lần khi ông vừa ra khỏi cửa văn phòng, đúng lúc một gia đình du khách đến chụp hình bên cạnh logo trái táo bị cắn mất một miếng ở cổng chính của trụ sở Công ty Apple ở Cupertino, miến Bắc California. Người cha trong gia đình thấy ông đi ngang qua, chìa cái iphone của mình ra, lịch sự yêu cầu:

–  Ông có thể vui lòng giúp chúng tôi chụp một cái hình cho cả gia đình không?

Rõ ràng là họ không nhận ra người đàn ông cao gầy, râu ria tua tủa, mắt trũng sâu trong cái áo thun cổ cao màu đen và chiếc quần jeans bạc màu có một vài lỗ rách là Steve Jobs.

Ông Jobs gật đầu, cầm cái iphone, điều chỉnh màn ảnh, lùi ra xa vài bước, ngắm nghía cẩn thận như một người thợ chụp hình dạo và bấm ngón tay cái khô khốc, thiếu sinh lực của mình lên màn ảnh, mỉm cười trao trả cái iphone có logo quả táo cho chủ nhân rồi lên xe rời Công tỵ Đó cũng là một trong những lần cuối ông Jobs đến Apple, Inc. và có dịp nhìn thấy một trong những đứa con tinh thần của mình đã góp phần làm thay đổi đời sống của con người.

Cả gia đình người du khách cùng hướng mắt vào tấm hình nhỏ trên iphone, trầm trồ khen người chụp hình chụp rất đẹp và rất rành cách sử dụng iphone, không biết là họ vừa có cơ may hiếm có được Giám đốc Apple, Inc. – người góp phần lớn trong việc sáng tạo tất cả các sản phẩm của Apple, kể cả cái iphone của họ, chụp cho họ một tấm hình có thể là đẹp nhất trong đời.

 

Tượng của Steve Jobs ở Budapest -Hungary-Science Park (Courtesy of GlobalPost. December 21, 2011)

Năm 2005, Steve Jobs được mời nói chuyện với cả ngàn sinh viên tốt nghiệp ở sân trường Stanford. Khác với những diễn giả khác ở các lễ ra trường luôn tô hồng cuộc đời trong con mắt vốn dĩ chỉ toàn màu hồng lạc quan và màu xanh hy vọng của các tân khoa, ông Jobs với kinh nghiệm cá nhân, với những điều học được từ giáo lý đạo Phật đã nói rất thẳng và rất thật:

– Bây giờ các bạn còn trẻ và là sức sống mới của xã hội nhưng một ngày nào đó, không xa, các bạn sẽ già và sẽ bị đào thải. Xin lỗi, nhận xét đó có vẽ bi quan nhưng đó là sự thật  Đời sống có giới hạn, đừng phí thời gian. Hãy làm những gì mình thích.

Lời nhắn nhủ khác thường đó như một loại thuốc đắng giã tật đã giúp rất nhiều sinh viên ra trường năm đó nhận ra mình muốn gì, can đảm bỏ con đường thảm đỏ bằng phẳng, thênh thang đã được cha mẹ trài sẵn để bước vào con đường riêng gập ghềnh, khúc khuỷu của mình. Có người vấp ngã, có người thành công nhưng tất cả đều hạnh phúc với lựa chọn của mình như hình ảnh chàng thanh niên Steve Jobs chưa đến 20 năm xưa, bỏ trường Đại học, cùng một người bạn thân  hăm hở vác ba lô đi vòng quanh Ấn Độ (quê hương của Đức Phật Thích Ca) tìm ra chữ “lặng” trong tâm, đóng góp rất nhiều trong các phát minh khoa học kỹ thuật cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21.

Thiên tài có một bộ óc xuất chúng, một tầm nhìn xa về kỹ thuật nhưng ông vẫn là một con người nên cũng có nhiều điểm yếu. Chẳng hạn, khi trở bệnh nặng, phải nằm ở Intensive Care Unit của bệnh viện Stanford, ông Jobs nổi tiếng khó chịu. Bệnh nhân Steve chỉ nghe lời và cộng tác với 3 người y tá trong mấy chục y tá giỏi nhất của bệnh viện. Ông yếu dần, phải đi bằng cái walker và phải cố gắng bằng tất cả sức lực và ý chí còn lại của mình. Những bước chân chập chững đầu đời ông được nâng đỡ bằng bàn tay của mẹ nuôi (bà Clara Jobs) ở sân sau ngôi nhà thời ấu thơ thuộc thành phố nhỏ Los Altos, miền Bắc California. Cuối đời ông lại tập đi với sự trợ lực của cái khung nhôm walker và sự khuyến khích của vợ (bà Laurene Powell) trong khu ICU của bệnh viện Stanford. Đó là lúc ông sắp đi hết vòng tròn sinh tử của đời người.

Thời trẻ có lần ông Jobs nghĩ đến chuyện xuất gia, đi tu và thành một nhà sư trong một ngôi chùa Phật giáo ở Nhật nhưng một vị thiền sư người Nhật mà ông hết lòng ngưỡng mộ đã khuyên ông đi theo con đường kỹ thuật có hiệu quả hơn là con đường tu hành. Cũng chính thiền sư Kobun Chino Otogawa (1938-2002), cố vấn tinh thần của ông Steve, là người tổ chức lễ cưới cho ông Steve và cô Laurene trong một buổi lễ nhỏ giữa núi rừng gần công viên quốc gia Yosemite năm 1991. Lễ cưới của một nhà tỷ phú trẻ, một thiên tài điện toán, không có khách mời, không có áo quần xênh xang, không có hoa lá muôn màu, chỉ có cô dâu và chú rể đứng nghiêm trang nghe những lời giảng về “duyên và nợ” của một thiền sư Phật giáo người Mỹ gốc Nhật hòa vào tiếng chim hót, tiếng suối reo của đất trời thiên nhiên.

Hình như Steve Jobs sinh ra để chỉ hòa hợp với công việc và các sáng tạo kỹ thuật, ông không hòa hợp với con người. Rất nhiều kỹ sư giỏi, có tài từ chối làm việc với ông vì họ không thể chịu được lối làm việc tuyệt đối hoàn hảo và lối nói thẳng chói tai, làm mất lòng người nghe của sáng lập viên công ty Apple.

Khi ông Jobs qua đời, có một vài người bạn trẻ ở độ tuổi ngoài 20 đã ngồi trong hàng ngũ sinh viên ở trường Đại học Stanford năm 2005, say mê nghe ông nói chuyện năm xưa, đặt những ngọn nến hình trái táo bên cạnh di ảnh của thiên tài, thầm cảm ơn ông giúp họ đủ tự tin đi trên con đường mình chọn.

 

Courtesy of artist Paresh Nath/ National Herald (India) — Courtesy of  artist Nik Scott/ Australia

Là một thiên tài về khoa học điện toán, là một thần tượng của cả triệu người mê các sản phẩm IPhone, IPod, IPad, ITunes (chữ I viết tắt cho chữ Internet), các notebook Mac (do chữ Macintosh viết ngắn lại) là một thần tượng của cà triệu em bé và cả rất nhiều, nhiều người lớn mê bộ phim hoạt họa “Toys Story” được thực hiện bằng graphic design trên computer Mac, ông Steve Jobs cũng có nhiều khuyết điểm như bất cứ ai khác. Dù vậy hình ảnh của trái táo đủ màu bị cắn mất một miếng trên các sản phẩm điện tử của thời các máy computers Apple hay trái táo màu đen nhạt hoặc màu bạc trên các loại IPhone, các máy nghe nhạc IPod nối kết được với Internet mãi mãi là một trong những đóng góp lớn nhất của khoa học cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21. Muốn hái hoa hồng nhiều khi người ta phải chịu rướm máu vì những cái gai nhọn trên cành. Mọi người có cơ hội làm việc trực tiếp với ông Jobs đều nhận ra điều đó.

     Courtesy of artist David Fitzsimmons/ Arizona Daily Star

Có rất nhiều điều chẳng bao giờ một người bình thường như chúng tôi có thể bắt chước ông Jobs hoặc có những chọn lựa như ông nhưng chắc chắn là chúng tôi sẽ theo gương ông, sẽ làm được “Simplicity and Focus” (sống đơn giản và tập trung) như thiên tài đã làm và đã yêu cầu tất cả cộng sự viên của mình làm theo.

          Courtesy of AZQuotes

Mỗi một lần lướt ngón tay trỏ trên màn ảnh Iphone tìm số phone hay một dữ liệu nào đó về một người thân quen, tôi vẫn nghĩ đến ông Steve thông minh với một đời sống không dài nhưng đủ để cho ông tạo được một chỗ đứng rất lớn trong lịch sử khoa học điện toán.

Jobs presenting the iPhone 4 in 2010

Mỗi một lần chọn mua những trái táo ngọt ngọt chua chua, đủ màu, tôi cũng sẽ nhớ đến Steve Jobs và trái táo cắn dở của ông.  Có đến gần cả chục loại táo đủ màu bán trong các chợ nhưng không hiểu tại sao loại táo xanh được trồng từ một tiểu bang Tây Bắc nước Mỹ có dán nhãn hiệu Washington với riêng tôi, vẫn gần với trái táo của Công ty Apple nhất . Có thể vì trái táo xanh gắn liền với  màu xanh tươi tốt, hy vọng của rừng thông bạt ngàn ở tiểu bang Oregon nơi ông Jobs đã học và mang thư pháp vào các máy computer của Apple tạo cho chúng ta nhiều kiểu chữ vừa đẹp, vừa rõ ràng. Có lẽ một người đạo Phật, ăn chay từ nhỏ như ông Steve rất thích ăn táo và các thực vật màu xanh. 

Món ăn ông Jobs thích nhất ngoài táo là cà rốt sống. Ông nhai cà rốt mà không cần đến một thứ nước chấm dressing nào như loài thỏ thưởng thức loại thực vật giòn tan màu vàng cam. Chuyện khó tin nhưng có thật là ở giữa một đất nước thừa mứa thức ăn như Mỹ, trong một thời gian rất dài, ông Jobs chỉ ăn táo và một vài loại rau quả mà không đụng đến thịt và các loại thực phẩm khác nên cho đến bây giờ chỉ có mỗi một trái cây duy nhất là trái táo được đi vào lịch sử khoa học kỹ thuật. Sau khi ông Steve qua đời, hẳn là nhiều “tín đồ” của những dụng cụ điện tử cá nhân sẽ thích ăn táo hơn.

Từng đặt chân đến rất nhiều nơi trên thế giới nhưng Steve Jobs luôn gắn bó đời mình với miền Bắc California. Ông sinh ra ở San Francisco, ấu thời và thiếu thời ở Los Altos, thời trung niên cho đến lúc lìa đời, ông sống ở Palo Alto trong một ngôi nhà cổ kính, nhiều cây mà thời sinh tiền, ông vẫn đi thiền hành bằng chân trần dưới những bóng cây.

Ông chọn nơi an nghỉ ngàn đời ở nghĩa trang tư Alta Mesa Memorial Park cũng thuộc thành phố Palo Alto, rất gần ngôi nhà Steve Jobs sống ở giai đoạn cuối đời (một ngôi nhà đơn giản như ý thích của ông). Steve Jobs muốn được an táng ở đây vì muốn được “làm hàng xóm” của những người ông từng ngưỡng mộ: nhà Sử học Thomas A. Bailey, người đồng sáng lập Công Ty Kỹ thuật Hewlett-Packard: David Packard, William Bradford Shockley Jr, người được giải Nobel Vật Lý năm 1956, Frederick Terman (một trong hai người góp phần tạo nên trung tâm kỹ thuật Silicon Valley của Mỹ và của cả thế giới).

Điều khác biệt duy nhất với “hàng xóm miên viễn” là theo ước nguyện của Steve Jobs, mộ bia của ông không khắc tên, để trống.

Để tưởng nhớ ông, Công Ty Apple đã cho xây một hội trường nằm dưới lòng đất (như người sáng lập Apple đã vĩnh viễn an nghỉ trong lòng đất) rộng 167 ngàn square foot (15,514 mét vuông) ở ngay trụ sở của Apple thuộc thành phố Cupertino. Hội trường, rạp hát này được đặt tên là Steve Jobs Theater có 921 ghế được xây dựng với kỹ thuật hiện đại, được khánh thành vào năm 2017, sáu năm sau khi Steve Jobs về với cát bụi.

In courtesy of www.fosterandpartners.com

***

Ngày được tin ông mất, tôi làm một bài thơ ngắn gởi đến rememberingsteve@apple.com  để góp phần tưởng nhớ nhà phát minh ngắn số:

One of the brightest stars of the world just fell.

But everything you did will be with us forever.

Your life doesn’t last long enough as expectation

But your achievement will be a lifetime motivation for youngsters.

Every time I work on my laptop, I’ll think of you.

Heaven will be opened for someone like you.

Surely you will be happy in a better place

Where there is no war, no killing, and illness.

RIP somewhere that is always calm and peaceful.

Million thanks for leaving behind a technical legacy.

Mong vô cùng một ngày nào đó, chúng ta sẽ có một David, Ted, Anthony, William… Nguyễn, Phạm, Lê, Huỳnh… ở Mỹ hay một Pierre, Daniel, Francois, Jean… Trần, Ngô, Đặng, Lý…  ở Pháp hay một Tuấn, Sơn, Minh, Nam… Bùi, Đoàn, Phan, Trương ở Việt Nam… đi tiếp được con đường ông Steve Jobs đã đi. Lúc đó chắc là bưởi Biên Hòa, chôm chôm Long Khánh, măng cụt Lái Thiêu hay nhãn lồng ở Huế sẽ có chỗ đứng trang trọng cạnh bên trái táo cắn dở mà ông Steve Jobs đã vĩnh viễn bỏ lại …

Nguyễn Trần Diệu Hương

(Bài này viết tháng 10 năm 2011, được hiệu đính lại tháng 10 năm 2021 để tưởng nhớ ông Steve Jobs, 10 năm sau ngày ông qua đời OCT 5- 2011)

From: TƯ-PHUNG

(Viết cho H4, H5 – Kính tặng các Thầy Cô dạy Toán thời Trung học của em) 

“XIN CHO CON ĐƯỢC THẤY!”

“XIN CHO CON ĐƯỢC THẤY!

 TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Ai trong chúng ta cũng dễ dàng cảm nhận được những thiệt thòi của người mù.  Họ không được nhìn thấy ánh sáng mặt trời.  Họ cũng không cảm nhận được niềm vui nỗi buồn nơi khuôn mặt những người thân.  Thế giới đối với họ là đêm tối trường kỳ.  Tin Mừng hôm nay nói đến một người mù đứng ăn xin tại cổng thành Giêricô.  Trong lúc Chúa Giêsu và các môn đệ từ trong thành đi ra, Người đã trông thấy, và, trước lời van xin của anh, Chúa đã chữa cho anh để anh có thể nhìn thấy như bao người khác.

Nếu người mù thể lý đã thiệt thòi như thế, thì người mù thiêng liêng lại còn thiệt thòi hơn.  Đức Thánh Cha Benêđitô XVI đã trả lời câu hỏi của nhà báo người Đức, ông Peter Seewald: “Ai chỉ biết tin vào những gì mắt trông thấy, thì người đó mù.”  Vị Giáo Hoàng người Đức còn diễn giải thêm về khẳng định này: “bởi vì người đó đã tự hạn chế mình vào một khoảng chân trời hạn hẹp, và không còn nhìn ra được cái cơ bản nữa.  Có ai thấy được trí khôn mình đâu.  Chính những cái quan trọng nền tảng ta không thể thấy thuần bằng mắt” (Thiên Chúa và Trần thế, Tr 23).

Trở lại với bài Tin Mừng hôm nay, thánh sử Mác-cô diễn tả anh mù như một người bị gạt ra bên lề xã hội: anh là một kẻ ăn xin, ngồi bên vệ đường.  Khi anh cố gào lên để có ý cho vị Ngôn sứ có tên là Giêsu nghe thấy, thì bị người ta mắng át đi, bởi anh chẳng là gì trong một đám đông ồn ào náo nhiệt.  Anh chỉ là một chấm nhỏ li ti trong bức tranh “chợ đời.”  Tuy vậy, cũng dưới ngòi bút của thánh Mác-cô, anh mù này lại có một cái nhìn sáng suốt.  Trong đám đông hỗn độn ấy, anh nhận ra vị Ngôn sứ đang đi ngang qua là con vua Đavít, điều mà không mấy người trong đám đông hỗn độn ấy nhận ra.  “Con vua Đavít là một danh xưng mà truyền thống Do Thái vẫn sử dụng để diễn tả Đấng Messia.

Thì ra, những người có con mắt sáng trong đám đông hôm ấy ở cổng thành Giêricô lại không nhìn thấy sứ mạng của Đức Giêsu.  Hơn thế nữa, họ còn đầy thành kiến và khinh thường đối với người mù ăn mày bên vệ đường.  Một cách nào đó, họ là những “người mù,” vì họ chỉ công nhận những gì mà họ nhìn thấy bằng con mắt thể lý.  Thánh Mác-cô kể lại hai phép lạ Chúa chữa người mù.  Trường hợp thứ nhất ở chương 8, câu 22 đến câu 26.  Người được chữa lành là người mù ở Bết-sai-đa.  Phép lạ chữa người mù lần thứ nhất đi liền với những lời cảnh báo phải thận trọng đối với men Pharisiêu và men Hêrôđê.  Chắc chắn thánh Mác-cô muốn khẳng định với chúng ta: quan niệm lầm lạc và ngây thơ trước những cám dỗ chính là một tình trạng mù thiêng liêng nguy hiểm.  Nếu chúng ta đọc trình thuật Chúa Giêsu chữa người mù bẩm sinh trong Tin Mừng Thánh Gioan thì sẽ thấy ngoạn mục hơn nữa (x. Ga 9,1-41).  Người này mù về thể lý, nhưng tinh thần lại hết sức tinh tường và khôn ngoan.

“Lòng tin của anh đã cứu anh!”  Đức tin là điều kiện cần thiết để được hưởng phép lạ.  Đức tin cũng mở mắt để chúng ta nhìn thấy những điều kỳ diệu Chúa đã và đang làm trong lịch sử cũng như trong đời sống cá nhân của mỗi chúng ta.  Tác giả Thánh vịnh 125 mời chúng ta hãy nhận ra những điều kỳ diệu ấy trong biến cố Thiên Chúa giải phóng dân Israen khỏi ách nô lệ Babylon, đưa người Do Thái về với quê hương xứ sở.  Đó cũng là sứ điệp hy vọng mà ngôn sứ Giêrêmia gửi đến cho người Do Thái lưu đày: “Này Ta sẽ đưa chúng từ đất Bắc trở về, quy tụ chúng lại từ tận cùng cõi đất…  Chúng trở về nước mắt tuôn rơi, Ta sẽ an ủi và dẫn đưa chúng tới dòng nước, qua con đường thẳng băng, trên đó chúng không còn vấp ngã,” Lời của vị ngôn sứ như một tiếng thét vui mừng trước những điều kỳ diệu Thiên Chúa sẽ thực hiện vì yêu thương dân Ngài.  Sau những năm tháng lưu đầy đau khổ nhục nhằn, Thiên Chúa sẽ giải phóng dân Ngài.  Những người tha hương sẽ được về với quê cha đất tổ.  Trong số đó, có cả những người đui mù, què quặt và bệnh tật (Bài đọc I).

Khi chiêm ngưỡng những kỳ công của Chúa, người tín hữu được mời gọi kể lại hay loan báo những điều tốt lành Chúa đã làm.  Người mù ở thành Giêricô, sau khi được Chúa cho sáng mắt, đã đi theo Chúa.  Cuộc đời anh từ nay đã sang trang.  Trước đây, anh ước ao được sáng mắt để có cuộc sống như mọi người.  Nay, khi mắt đã sáng, anh quyết tâm đi theo Chúa Giêsu.  Anh nhận Người là lý tưởng của đời anh.  Anh đã trở thành môn đệ của Người.  Chúa nhật hôm nay là Chúa nhật cầu nguyện cho công cuộc truyền giáo, hay còn gọi là Khánh nhật truyền giáo.  Chúng ta hãy ý thức bổn phận loan báo Tin Mừng của người tín hữu.  Truyền giáo là sứ mạng của Giáo Hội.  Truyền giáo cũng là sứ mạng của mỗi người tín hữu.  Truyền giáo không phải chỉ là những thừa sai lên đường đến những xứ sở xa xôi, cũng không chỉ là những nhà giảng thuyết uyên thâm lỗi lạc, mà còn là những nghĩa cử sẻ chia, những tâm tình thân ái mà chúng ta dành cho nhau trong cuộc sống thường ngày.

“Xin cho con được thấy!”  Đó là lời van xin của anh mù, đang ngồi ăn xin bên vệ đường, lối vào thành Giêricô.  Đó cũng là lời cầu xin của chúng ta để nhận ra tình thương của Ngài đang ấp ủ đồng hành chúng ta trong cuộc lữ hành trần thế.  Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót.  Ngài tha thứ mọi tội lỗi của chúng ta.  Chúa Giêsu là thày Thượng tế vĩnh viễn theo phẩm hàm Menkisêđê sẽ chuyển cầu cho chúng ta trước tòa Chúa Cha (Bài đọc II).

“Đời người giống như việc đi đường vậy, một bên là gian khổ, một bên là cảnh đẹp.  Ánh mắt bạn phóng được đến đâu, đó chính là cảnh giới của cuộc đời bạn.  Nếu thường xuyên nhìn thấy những người ưu tú hơn mình, điều đó cho thấy bạn đang trên đường lên dốc; Còn nếu thường xuyên nhìn thấy những người không bằng mình, điều đó cho thấy bạn đang xuống dốc và người khác đang phải cố gắng để lên dốc.  Thay vì oán thán, thà thay đổi cách nghĩ, mọi chuyện sẽ bớt nặng nề đi rất nhiều!” (Sưu tầm)

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

Ta cần nên ”chết thử” một lần…

Ta cần nên ”chết thử” một lần…

   Chuyện mô tả một người giả vờ chết sau khi uống một ly nước lọc, mà người nhà tưởng ông đã uống thuốc độc để quyên sinh. Ðã hơn nửa thế kỷ qua, tôi không còn nhớ tác giả mô tả nhân vật chính trong vở kịch giả chết như thế nào và có sự phụ giúp của ai không, nhưng trong khi chờ tẩm liệm, ông được nghe và biết con cái, bà con và bạn bè của ông nói về ông và đối xử với ông như thế nào!

Bạn cứ thử tưởng tượng ra khi đã nằm trong quan tài ở nhà quàn rồi, mà bạn có thể nghe những người đến viếng, bề ngoài thắp nén nhang kính cẩn viếng bạn, nhưng sau đó lại đàn đúm chê, khen bạn hết lời, hay đứa con bất hiếu đang toan tính chi ly chia phần phí tổn tang lễ sau này cho anh em ra sao, và lăm le để ý đến cái nhà, cái xe, trương mục trong ngân hàng của bạn và rồi đây sẽ gửi người vợ già của bạn vào nhà dưỡng lão nào?

Giá người ta có thể chết thử một lần rồi sống lại thì sướng biết mấy? Bạn sẽ biết có bao nhiêu trang báo chia buồn, sẽ có bao nhiêu tràng hoa viếng, bao nhiêu người tiễn chân bạn đến mộ phần. Sẽ có bao nhiêu người vui mừng khi nghe tin bạn qua đời, và sẽ có những ai thương yêu thật sự, bàng hoàng, tiếc nuối về sự ra đi của bạn. Thế giới này không còn sự hiện hữu của bạn có thay đổi gì không?

Nhưng người ta chỉ có thể chết một lần, nên mọi điều xẩy ra sau cái chết, vui buồn, xấu tốt, bạn không thể nào biết được, nếu chết là hết. Thôi như thế cũng hay! Nếu biết những gì xẩy ra sau cái chết của bạn, có hai điều xẩy ra, một là bạn muốn chết phứt đi cho xong, hai là lại yêu cuộc sống này hơn. Tôi nghĩ là bạn sẽ chọn điều thứ hai, vì dầu sao cuộc sống này cũng không đến nỗi nào đáng ghét.

– Một văn phòng dịch vụ ở Hán Thành, Nam Hàn có sáng kiến là sẽ tạo cơ hội cho khách hàng qua một lần chết thử, để thấy cảm giác nó ra sao, cũng như quan niệm về sự sống có gì thay đổi, khi bạn, coi như từ cõi chết, sống trở lại, dở nắp hòm ngồi dậy. Ông Ha Yu-soo, 62 tuổi là một người khách hàng của dịch vụ chết thử. Ông mặc một bộ quốc phục dành cho người chết khi tẩm liệm, nằm thẳng trong quan tài chiếc quan tài chật hẹp, ông không cảm thấy điều gì khác lạ thay đổi, cho đến khi nắp quan tài được đóng lại và nghe tiếng búa gõ trên nắp hòm. Trong bóng tối vây tỏa, lặng câm, ông cảm thấy sợ hãi vô cùng, tưởng như mình đã chết thật. Những giây phút trong bóng tối dày đặc đó, những ý nghĩ chết chóc ập đến, và bao nhiêu ý nghĩ hiện lên trong đầu óc ông. Nhưng may, ông đã trấn an mình: “Ðây chỉ là một sự chết giả mà thôi!” Lạy trời, đẹp đẽ biết bao khi ta vẫn còn sống! Từ “phút chết” trong bóng tối bước ra ngoài ánh sáng của sự sống, trong tâm hồn ông đã có một sự thay đổi lớn.

Ban tổ chức khóa học chết thử, cho biết, kinh nghiệm về cảm giác sắp chết sẽ mang lại ý nghĩa về sự sống cho tất cả mọi người, bất kể họ già hay trẻ, thuộc tầng lớp nào trong xã hội.

Sau khi chết thử, những người này cảm thấy sự sống đáng quý hơn, những người chung quanh mình đáng yêu hơn, tha thứ mọi lỗi lầm của kẻ khác. Ðiều này cũng như sau khi thoát chết trong một tai nạn thảm khốc nào đó, con người trở nên hiền lương, bỏ mọi sự tham lam, cố chấp hẹp hòi, và mở rộng tấm lòng hơn đối với tha nhân.

Nhiều người đã thay đổi sau khi họ thoát chết từ vụ tháp đôi ở New York hay từ vụ Tsunami mới đây của nước Nhật. Chúng ta sẽ ôm hôn mọi người, xem cái tôi từ nay là hạt cát, chúng ta sẽ không còn kẻ thù, không còn ai để ghét bỏ. Ngoài đường phố sáng nay sao thấy ai mặt mày cũng trung hậu, dễ thương, chúng ta muốn chào hỏi với cả thiên hạ, bắt tay mọi người và la lớn ở góc phố như một thằng điên: “Tôi vẫn còn sống! Tôi yêu thương hết thảy mọi người!”

Khi nằm trong quan tài “chết thử” có thể người ta sẽ nghĩ đến những việc lâu nay chưa làm, những món tiền chưa tiêu hết, những điều chưa nói với ai đó. Trước khi chết, bạn sẽ viết thư cho ai, để lại chúc thư như thế nào, nói những lời trăn trối ra sao? Một người trước khi chết thử đã viết cho con: “Ngay cả khi cha không còn trên cõi đời này, mong các con hãy hòa thuận và đối xử với nhau tử tế hơn!” Một bệnh nhân ung thư đang ở vào thời kỳ cuối cùng, cho biết, việc trải nghiệm cái chết thử làm bà cảm thấy thương yêu hơn đối với những người xung quanh. Bà hứa “sẽ từ bỏ thói tham lam, ích kỷ với chồng và yêu con cái nhiều hơn”.

Ðó chỉ mới là chuyện “chết thử!”. Còn như, bằng cách nào đó bạn biết rằng chỉ còn 24 giờ đồng hồ nữa thôi, bạn sẽ thở hơi thở cuối cùng, giã từ cuộc đời đẹp đẽ này, thì bạn sẽ làm gì, suy nghĩ ra sao, đối xử với mọi người như thế nào? Trong trương mục ngân hàng, bạn có nửa triệu đồng chưa tiêu hết, bạn sẽ phân bố như thế nào, cho ai? Bạn chưa kịp nói với ai một lời xin lỗi, chưa kịp nói với ai một lời yêu thương. Trong sự hối hả của chút thời gian còn lại, bạn hối tiếc những gì, ân hận điều chi? Có những người trong gian trá, lừa lọc kiếm đồng tiền bất chính, để trở nên giàu có, có những kẻ đạp lên đầu người khác để tìm chỗ tiến thân cho mình, tiền của, danh vọng nào có thể mang theo?

Không, cũng như những người chết khác, bạn sẽ ra đi tay không? Chỉ còn 24 tiếng đồng hồ ngắn ngủi nữa thôi, dù có vội vàng, chúng ta cũng không làm kịp những điều chưa làm, sửa đổi kịp những điều lầm lỗi. Ðó là trường hợp chỉ một mình bạn ra đi. Những nhà tiên tri trên thế giới này loan báo về một ngày tận thế, dù đã sai nhiều lần và nói đi nói lại nhiều lần, đến nỗi những lời tiên tri đã trở thành một trò bịp nhảm nhí, nhưng phần tôi, tôi vẫn tin sẽ có ngày như thế.

Chúng ta đã thấy cảnh tượng bình địa ở Hiroshima và Nagasaki vào tháng 8-1945, khi hai quả bom nguyên tử rơi xuống đã giết khoảng 210, 000 người. Trận sóng thần tồi tệ nhất trong lịch sử được ghi nhận là tại Ấn Ðộ Ðương vào năm 2004 đã gây cảnh hoang tàn và giết chết 230,000 người ở 11 quốc gia. Tsunami ở Nhật năm 2011 làm thiệt mạng hơn 20,000 người và những quang cảnh chúng ta thấy ở miền Bắc nước Nhật không khác gì một bãi rác khổng lồ. Ðó chính là hình ảnh cho ta thấy trước những gì sẻ xẩy ra trong ngày tận thế.

Ðến một ngày nào đó quả đất này sẽ nổ tung hay tất cả các băng sơn ở Bắc Băng Dương sẽ tan rã, nhận chìm địa cầu này dưới hai mươi thước nước. Sẽ không còn một sinh vật nào trên trái đất này nữa! Nếu có một ngày như thế sẽ đến ngay ngày mai đây thôi, liệu chúng ta có sống được một ngày tốt hơn, ngay thẳng hơn, tử tế với đồng loại của chúng ta hay không? Không cần phải chết thử, mỗi người chúng ta đều phải đến một ngày chết thật!

Sáng sớm vào hộp thư nhận được một lá thư chứa câu truyện trên đây…chợt nhận ra bấy lâu mình sống quá cố chấp…luôn giữ lại những đối xử tệ của tha nhân đối với mình mà không bao giờ muốn “buông” dù chẳng biết để làm gì….đúng thật là niết bàn hay địa ngục cũng do chính mỗi người cảm vời ra rồi tự đày ải mình ngay khi còn sống….Biết thế nhưng sự tổn thương và vết thương vẫn còn đó và không lành lặn đôi khi làm mình yếu đuối…
– Bây giờ giả thử chỉ còn một ngày để sống….tôi muốn nói với mọi người tôi đã từng yêu thương, đã từng bạn bè rồi sau đó không là bạn bè nữa….rằng tôi yêu những cái tốt đẹp từng có và tôi sẽ quên hết những gì còn lại….Tôi luôn cầu mong hạnh phúc đến với mọi người trong cuộc sống vốn vô cùng mong manh ngắn ngủi này, hãy tận hưởng tận hiến khi xây dựng nó…cuộc sống của các bạn ấy mà….

– Hãy cứ là loài người không hiểu được ý nghĩa thật sự ngôn ngữ của loài chim…chỉ thấy mỗi giọng chim hót lên đều là những nốt nhạc, những bản nhạc yêu đời từ bình minh đến đêm tối…

NGỌN SÓNG MÙ

Biển ngàn năm sóng vỗ
Nước tìm về đại dương
Rồi quên mình, tha phương
Sóng vô thường, lãng đãng.

Đời rêu phong năm tháng

Mưa, nắng phủ quanh hồn
Sóng chưa lúc mỏi, chồn..
Trên lối về tay trắng.

Phút đi hoang dừng lặng

Ngắm biển chiều phôi pha,
Thấy dã tràng nho nhỏ
Chết khô vì.. thiết tha…

Mượn thân từ cát bụi

Xây mộng đời thiên thu.
Sóng tan thành giọt lệ
Bên cõi bờ thực, hư.

Chiều lao xao sóng vỗ

Hoát nhiên nghe sóng cười
Tử sinh loang từ độ
Với vọng tình rong chơi!

Như Nhiên – TT Tuệ

” Gate gate paragate parasamgate bodhi svaha ….”

Con gái làm nghề nail, bán hàng online thì học vấn thấp?

Con gái làm nghề nail, bán hàng online thì học vấn thấp?

Bởi  AdminTD

 Mai Bá Kiếm

23-10-2021

Trong chương trình “Có hẹn lúc 22 giờ”, các nghệ sĩ khách mời cùng bàn luận về chủ đề: “Học thức có ảnh hưởng gì tới hạnh phúc gia đình không?”. Đạo diễn Lê Hoàng đã gây tranh cãi với phát ngôn gây sốc “Con gái làm nghề nail, bán hàng online thì học vấn thấp“.

Ngoài đạo diễn, Lê Hoàng còn viết tiểu phẩm châm biếm trên Tuổi Trẻ Cười, Làng Cười rất sắc sảo, thâm thúy. Tuy nhiên, khi Lê Hoàng tham gia một chương trình bá láp, thì khó kìm chế được lời ba sàm.

“Học thức có ảnh hưởng gì tới hạnh phúc gia đình không?” là đề tài tâm lý xã hội học cần được điều tra, nghiên cứu, phân tích, thống kê như một Case Study ở trường đại học. Hơn nữa, đây là đề tài rất tế nhị, vì “mẫu chọn lọc” là “cặp vợ chồng chênh lệch xa về học vấn”. Liệu “mẫu” có chịu chia sẻ chân thành, khi người phỏng vấn hỏi chuyện rất riêng tư (Personal Question)?

Đề tài “hàn lâm” vậy mà giao cho hai anh đạo diễn và diễn viên bàn luận, nên chỉ gói gọn một “mẫu” trong giới nghệ sĩ mà họ chỉ biết và nhận định bằng cảm tính, không mang tính đại diện!

Lê Hoàng chia sẻ anh biết trong giới nghệ sĩ có rất nhiều nữ diễn viên lúc chưa nổi tiếng cũng kết hôn với những người chồng bình thường, thậm chí có người cưới luôn anh chàng “hậu đài”. Tuy nhiên, khi cô nghệ sĩ này nổi tiếng thì lập tức ly hôn với chồng vì lúc này họ lại không chấp nhận được một người chồng học thức kém và cũng có rất nhiều trường hợp ngược lại.

Lê Hoàng vừa phân biệt giai cấp vừa kỳ thị trình độ giữa diễn viên và “hậu đài”, mặc định “chồng bình thường” (không phải là giới nghệ sĩ) và “hậu đài” là học thức kém!

Từ não trạng kỳ thị giai cấp, Lê Hoàng không kìm chế, kỳ thị nam nữ bằng câu: “Con gái làm nghề nail, bán hàng online thì học vấn thấp”.

Lê Hoàng mặc định diễn viên học thức cao, có lẽ do họ tốt nghiệp từ các trường sân khấu, nghệ thuật. Nhưng Lê Hoàng không biết, trước năm 1975, các nghệ sĩ thành danh ở miền Nam không có ai học thức cao, trừ Tấn Tài (là giáo viên trường Thoại Ngọc Hầu, An Giang, năm 1959, bỏ trường trốn theo đoàn hát của bầu Ba Bản) nhưng không phải vốn sống và kiến thức của họ thấp!

Điển hình là nghệ sĩ Phùng Há (1911-2009), bà chỉ học một thời gian ngắn ở bậc tiểu học, nhưng bà thành đào hạng nhất miền Nam từ cuối thập niên 1920, và trở thành giảng viên Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ từ thời Ngô Đình Diệm. Năm 1966, sau khi đi diễn giao lưu văn hóa ở Pháp về, bà trả lời Đài Phát thanh Sài Gòn. Bà nói giọng Nam bộ, nhưng sang sảng, câu chữ khúc chiết, văn hoa, phát âm /s/ của chữ S nghe rất sang. Đặc biệt, trải nghiệm của bà về văn hóa Pháp y như một trí thức thực thụ. Học vấn và kiến thức chưa chắc tương đồng, TS Đoàn Hương là một minh chứng!

Năm 2020, Bộ LĐ&TBXH công bố có khoảng 200.000 thạc sĩ, cử nhân không có việc làm, phải chạy Grab, shipper, bán hàng online! Lê Hoàng đừng quơ đũa cả nắm! “Con gái làm nail, bán online thì học vấn thấp” không thể dùng như tam đoạn luận của Aristote.

Thời Chó Má- Tưởng Năng Tiến

Thời Chó Má- Tưởng Năng Tiến

Tập thơ Hoa Địa Ngục của Nguyễn Chí Thiện tuy mỏng nhưng có nhiều câu dễ nhớ, và rất khó quên :

Miếng thịt lợn chao ôi là vĩ đại
Miếng thịt bò lại vĩ đại bằng hai
Chanh, muối, cam, đường, lạc, đỗ, gạo, khoai…
Tất cả những gì người có thể nhai
Đảng mó tới tự nhiên thành vĩ đại

Riêng thịt chó thì Đảng không “mó” tới nên được mua bán khắp nơi mà không bị “các cơ quan chức năng” phiền hà hay sách nhiễu gì ráoTô Hoài tán tụng :

“Thịt chó luộc ngon nhất phải kể lối nấu cách thủy: thịt chó hấp. Các nhà điệu nghệ cắt nghĩa: nấu hấp, nước thịt ngọt được hãm lại không tiết ra được nước xuýt. Nhiều nơi ở Hà Đông không cắt tiết chó, mà dìm chó xuống nước cũng là để hãm tiết lại trong con chó. Ở Thái Bình, bỏ thịt vào nồi đất rồi trát kín bùn, chất rơm đốt. Bên Đông Anh ngoại thành hấp cách thủy vừa nhẹ nhàng mà nục thịt…br />br /> Xuân Diệu vốn coi thịt chó bổ và rẻ hơn cả các thứ thịt. Mỗi tuần anh ăn đều hai bữa, nhưng không đánh chén ở quán. Chỉ mua về nhà làm. Nhưng cái gánh thịt chó sống ở cuối chợ Hàng Da mà nhà thơ đã là khách hàng đều đặn cũng chỉ là một cô gái ở Thanh Trì lên, thịt chó bỏ vào bị, đeo trên vai – có lẽ để tránh thuế, mà cũng hôm có hôm không. (Chuyện Cũ Hà Nội, nxb Kim Đồng: 2020)

Thôi thì cứ xà vào hàng quán cho nó chắc ăn. Lúc nào cũng sẵn, và bao giờ cũng ngon lành cành đào cả :

“Hà Nội có một nhân vật đã đi vào lịch sử của… thịt chó: Me sừ Lâm Mặt Đỏ – ở phố Châu Long. Sở dĩ ông có cái hỗn danh ấy vì ông là chủ một quán thịt chó. Khách tới ăn, ai cũng quí mến ông và người nào cũng mời ông cụng ly. Thành thử mặt ông lúc nào cũng đỏ gay như mặt trời. Các món ăn của quán ông đều được giới đả cẩu tung hô vạn tuế: nhất là món dồi chó và xáo chân chó. Vâng, chân chó được ninh nhừ tới mức những cái gân của nó mềm ra chẩy nhựa, đến nỗi sau khi nó đã trôi qua cổ họng mà dư vị vẫn còn đọng lại trên đầu lưỡi” ( Phan Nghị. “Thử Tản Mạn Về nghệ Thuật Ắn Thịt Chó”. Ngày Nay, 15 Jun 2003: B3).

May cho đám chó Việt Nam là thời gian cũng như thời thế không đứng về phía Đảng nên chế độ bao cấp buộc phải cáo chung. Từ đây, Nhà Nước thôi quan tâm đến “gạo/muối/chanh/đường” nên dân tình cũng đỡ, và “những quán thịt chó cũng thưa dần” – theo nhận xét của nhà văn Võ Đắc Danh :

“Năm 1986, lần đầu tiên ra Hà Nội, ngỡ ngàng trước ‘trái tim của tổ quốc’…  Hình ảnh mấy anh bán thịt chó dạo … thật là ấn tượng… Mấy chàng ta đi bộ, rong ruổi khắp phố phường, miệng hô to: thịt cầy, thịt cầy…

Khách, có khi từ trong nhà gọi ra, anh ta cân, chặt, xong rồi đi. Nhưng gặp khách nhậu ở vỉa hè, công viên thì anh ta phải phục vụ tại chỗ, nghĩa là anh ta trải tờ báo ra, lấy thịt chó, cân, dao thớt chặt, rồi nào là mắm tôm, nào rau, nào riềng, nào rượu… thành một mâm nhậu để phục vụ khách cho đến khi tàn tiệc.

Nghĩ mà thương dân mình, cái thời đói khát, cái thời kinh tế quốc doanh, không được tự do buôn bán từ cọng rau con cá đừng nói chi tới quán xá, nhà hàng. Có lẽ lúc bấy giờ chỉ có thịt chó là nhà nước không quản lý nên nó không chỉ là mồi nhậu mà còn là một món ăn trong bữa cơm gia đình để lấp vào khoảng thiếu thịt.

Đến khi thị trường mở cửa, người dân được mở quán thì làng chó Nhật Tân bùng phát, có lúc tiêu thụ đến 25 tấn thịt chó một ngày. Những toa xe lửa đầy chó từ trong Nam chở ra, nạn trộm chó bắt đầu xuất hiện…

Bây giờ thì những quán thịt chó đã thưa dần, cũng có thể do thực phẩm, cao lương mỹ vị ngày càng phong phú, nhưng cũng có thể bởi thị trường tự do làm cho thịt chó bão hòa, con người đã thừa… chất chó.”

Nói thế nghe e hơi quá đắng cay và cũng rất dễ mất lòng những người hơi nhậy cảm. Tôi (trộm) nghĩ khác – đỡ chua chát hơn – rằng không phải vì thiên hạ “đã thừa chất chó” mà vì nét nhân văn bắt đầu nẩy mầm trở lại, sau rất nhiều năm chết giấc (hay chết ngất) trong lòng cách mạng!

Chả những hàng quán thịt chó thưa dần mà tình cảm (cũng như thái độ) của người dân tộc Việt cũng thay đổi hẳn, văn minh hơn thấy rõ :

Báo chí phương Tây, có lẽ, cũng chưa bao giờ có những mẩu tin khiến độc giả “xót xa” và “bật khóc” thế đâu!     

               

Ngay sau đó, cả Ta lẫn Tây đều bàng hoàng và phẫn nộ khi biết tin những con vàng/con vện theo chủ trên đường về quê (trong những ngày dịch bệnh vừa qua) đã bị chính quyền địa phương “thảm sát” – theo như nguyên văn cách dùng từ của thông tín viên  Bùi Thư, trên trang BBC, xem được vào hôm 11 tháng 10 năm 2021:

“Từ cuối tuần qua, câu chuyện đàn chó 15 con của một cặp vợ chồng đem về quê tránh dịch nhưng bị chính quyền Cà Mau tiêu hủy đã gây xôn xao dư luận tại Việt Nam và quốc tế. Theo các bác sĩ và luật sư, có cách thức khác để giải quyết vấn đề này mà vẫn giữ được an toàn cho cộng đồng về mặt dịch tễ hơn là tiêu hủy một lúc cả đàn chó.

Vụ việc không chỉ gây phẫn nộ trong một phần dư luận Việt Nam mà đã thành tin quốc tế, được các báo Hong Kong, Thái Lan, Malaysia và một hãng thông tấn của Đức đăng tải.

Các trang mạng xã hội tiếng Anh những giờ qua cũng có nhiều người chia sẻ tin ‘Vietnam brutally killed 15 dogs’, hoặc ‘15 innocent dogs got beaten to death in Vietnam’ …

Trước đó, trả lời BBC News Tiếng Việt, Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn từ Đại học New South Wales, Australia cho biết Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nói rõ rằng chó không lây truyền SARS-CoV-2 cho người.

Theo Giáo sư Tuấn, ông rất sốc và không thể nào tưởng tượng một vụ việc như vậy lại xảy ra. Theo ông, nếu như ở Australia, thì người ra quyết định tiêu diệt 15 con chó này chắc chắn sẽ bị truy tố ra toà và bị phạt rất nặng.”

Giáo sư Nguyễn Khắc Mai cũng “sốc” không kém :

“Chuyện này không nên coi là chuyện vặt, rồi cứ để lâu cứt trâu hóa bùn, như bao chuỵện sai trái trước đây. Nếu lần này lại chỉ làm qua quýt thì hóa ra Cộng sản Việt còn kém xa cách hành xử của Tào Tháo mấy ngàn năm trước. Ông Trọng, ông Chính, ông Huệ, ông Phúc không nên cho đây là chuyện vặt. Tôi nghĩ nếu mong chính quyền được lâu dài thì đừng coi thường những việc nhỏ.”

Có lẽ, chả ai mong đợi hay hy vọng là “chính quyền” này “được lâu dài” cả  – kể luôn những ông lãnh đạo: Trọng, Chính, Huệ, Phúc … Được lúc nào hay lúc đó thôi. Tuy thế, bao giờ mà cái nhà nước (thổ tả) hiện hành vẫn còn tồn tại ở Việt Nam thì nó vẫn còn là lực cản đáng kể cho mọi diễn biến tâm lý hướng thượng ở đất nước này.

Tưởng Năng Tiến
10/2021

Lê Văn, biên tập viên kỳ cựu của VOA, qua đời ở tuổi 84

VOA Tiếng Việt 

Lê Văn, biên tập viên kỳ cựu của ban Việt ngữ Đài Tiếng nói Hoa Kỳ với giọng nói thân thuộc với hàng triệu thính giả Việt Nam suốt nhiều thập niên, qua đời ngày thứ Bảy, 23 tháng 10, thọ 84 tuổi.

Ông ra đi thanh thản trong giấc ngủ và sau hai năm mắc bệnh ung thư, vợ của ông cho biết. Bà không cho biết thêm chi tiết về bệnh tình của chồng.

Làm việc cho VOA từ năm 1964 đến khi về hưu vào năm 2002, ông được các đồng nghiệp thuộc mọi thế hệ kính trọng về tác phong chuyên nghiệp và vốn hiểu biết sâu rộng, và được thính giả gần xa tin tưởng và quý mến về những thông tin mà ông đem tới cho họ.

Ông được xem là một trong những tượng đài trong lĩnh vực phát thanh tin tức tiếng Việt ở Mỹ. Với kinh nghiệm gần 40 năm trước micro, ông là một trong những tiếng nói tiêu biểu nhất của ban Việt ngữ, mang đến cho thính giả những tin tức mới nhất và đáng tin cậy nhất từ những thời khắc nóng bỏng của Chiến tranh Việt Nam cũng như khơi lên hy vọng cho những người dưới đáy vực tuyệt vọng trong những năm hậu chiến.

Trong những phát biểu cuối cùng của ông trước khi qua đời, ông trò chuyện với VOA về những kỷ niệm đáng nhớ của ông trong lúc tác nghiệp, nêu bật sức lan tỏa và tác động to lớn từ những chương trình phát thanh của ông.

“Sau năm 1975, mỗi một lần tôi có dịp lên sân khấu phát biểu về một điều gì đó thì đến khi tôi đi xuống rất nhiều người tới nói với tôi rằng là ông Lê Văn, tôi xin phép cho tôi ôm ông một cái,” ông nói trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 9.

“Tôi mới bảo ủa tại sao có người muốn tới đây ôm mình một cái, thì họ mới nói là bởi vì hồi xưa tôi ở Việt Nam tôi nghe ông nói về những chương trình ở bên Mỹ này giúp cho người Việt có cơ hội thoát khỏi chế độ cộng sản và đi ra nước ngoài, thì cái điều đó khiến chúng tôi nức lòng phấn khởi bởi vì đã có lúc nhiều người trong bọn chúng tôi, những người đi tù cải tạo thất vọng muốn tự tử.

“Nhưng mà đến khi tôi nghe ông loan tin về những chương trình của chính phủ Mỹ thương thuyết với Việt Nam để đưa những người trước kia từng cộng tác với Mỹ, từng làm việc cho các cơ quan của Mỹ hay là những người muốn được sang thế giới tự do thì có thể ra đi theo những chương trình mới đó, lúc đó chúng tôi nhớ có những tin tức như vậy mà chúng tôi sống sót, chúng tôi bỏ ý định tự tử đi.

“Đấy là cái tác động tâm lý lớn nhất và nó cũng là một niềm an ủi đối với tôi bởi mình đã đem đến cho đồng bào những tin tức mà họ rất mong muốn, họ rất cần được biết.”

‘Tiếng nói’ của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ

Những người từng làm việc với Lê Văn nói họ mãi biết ơn ông về sự giúp đỡ mà họ từng nhận được từ ông. Ông được mô tả là một ký giả tài năng luôn hết lòng với công việc và tận tâm hướng dẫn những đồng nghiệp ít kinh nghiệm hơn.

Cựu phát thanh viên Lan Phương, nhân viên của VOA Tiếng Việt từ năm 1986 đến năm 2012, nói đến giờ này bà vẫn xem Lê Văn như một người anh cả trong gia đình. Bà nói những chỉ dẫn của ông trong tư cách chủ biên là những bài học quý giá đầu tiên khi bà bắt đầu sự nghiệp của mình.

“Trong vấn đề dịch thuật, khi mình dịch tin bác ấy chỉ dẫn cho mình sửa đổi làm sao cho thoát ý. Trong những bài phóng sự mình viết, bởi vì mình không có thì giờ nhiều cho bài viết để phát thanh, bác ấy luôn luôn hướng dẫn viết làm sao cho nó cô đọng, súc tích, đầy đủ và phải trong một thời lượng cho phép. Bác ấy chỉ dẫn từng chút từng chút một,” bà chia sẻ.

Đó cũng là những nhận xét của nhà báo Nguyễn Văn Khanh, cựu giám đốc ban Việt ngữ Đài Á Châu Tự do. Ông từng được Lê Văn tuyển mộ và làm việc tại ban Việt ngữ của VOA trong những năm 1990. Đến giờ ông vẫn nhận mình là học trò của ông.

“Anh ấy bắt tôi phải ngồi xuống, đưa cái bài tôi biết và bảo rằng cái chỗ này thêm một dấu phẩy, chỗ kia phải thêm một dấu chấm. Những điều nhỏ nhoi như thế đã khiến tôi học hỏi được rất nhiều từ anh,” nhà báo kỳ cựu này chia sẻ.

“Ông ấy rất bình tĩnh khi ông ấy ngồi trước micro. Điểm đó tôi tập mãi mà không được. Điểm thứ nhì là giọng nói của ông ấy rất đặc biệt, một giọng nói rất là dịu dàng. Kể cả những lúc ông phải đưa ra những lời lẽ đầy cương quyết thì ông cũng vẫn rất là dịu dàng, không chỉ với anh em chúng tôi mà với cả khán giả của đài VOA trong suốt bao nhiêu năm trời.”

“Có thể nói ông thầy tôi là ‘tiếng nói’ của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ.”

Lê Văn tên thật là Lê Lai. Ông sinh ngày 28 tháng 4 năm 1937 ở Nam Định. Ông lấy bằng cử nhân luật và văn chương sau khi di cư vào miền Nam năm 1954. Năm 1961, ông sang Mỹ học cao học lấy bằng thạc sĩ về Khoa học Chính trị tại Đại học Georgetown ở thủ đô Washington. Sau khi về hưu, ông dọn về sinh sống ở thành phố Houston bang Texas cho đến khi qua đời.

Người thân và bạn bè cho biết ông là người có tính tình nồng hậu, ấm áp, biết tận hưởng cuộc sống. Ông đặc biệt am hiểu về rượu vang và đã viết một cuốn sách về nó.

Gia đình dự định tổ chức tang lễ cho ông vào ngày 12 tháng 11 ở Houston và sau đó sẽ hỏa thiêu. Tro cốt của ông sẽ được an táng tại bang Virginia, nơi ông từng sống phần lớn cuộc đời khi ông làm việc tại VOA.

“Chồng tôi có nhắn nói lại với VOA rằng ông ấy rất cảm ơn ân tình của tất cả thính giả mọi nơi,” bà Lê Văn nói trong niềm xúc động nghẹn ngào.

Lê Văn, biên tập viên kỳ cựu của VOA, qua đời ở tuổi 84
VOATIENGVIET.COM

Lê Văn, biên tập viên kỳ cựu của VOA, qua đời ở tuổi 84

Lê Văn, biên tập viên kỳ cựu của ban Việt ngữ Đài Tiếng nói Hoa Kỳ v

Hồng ân tuyệt vời  

Hồng ân tuyệt vời  

(Suy niệm Tin mừng Mác-cô (Mc 10, 46-52) trích đọc vào Chúa nhật 30 thường niên)  

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà  

Người mù hành khất thành Giê-ri-khô có lòng khao khát thoát mù cách mãnh liệt. Vì thế, khi nghe biết có Chúa Giê-su đi ngang qua, anh liền van xin lớn tiếng: “Lạy ông Giê-su, con vua Đa-vít, xin hãy thương xót tôi.” Dù người qua kẻ lại quát mắng anh im đi nhưng không gì có thể dập tắt được ngọn lửa khao khát bừng lên mãnh liệt trong lòng, nên anh càng van xin to hơn: “Lạy ông Giê-su, con vua Đa-vít, xin hãy thương xót tôi!”  

Thế rồi, khi được biết Chúa Giê-su cho vời mình đến, anh vui mừng đến độ vứt cả áo choàng, vứt cả bị, gậy để đến với Chúa Giê-su. Chúa Giê-su hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Anh mau mắn thưa ngay: “Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy.”  

Cầu được ước thấy, ánh sáng đã bừng lên cho anh. Anh được thấy Chúa Giê-su, thấy mọi người chung quanh, thấy thế giới rực rỡ muôn màu. Hạnh phúc dâng ngập tâm hồn, anh vui mừng khôn xiết. Thiết tưởng trên đời không có hạnh phúc nào lớn hơn.  

Hạnh phúc được khai mở con mắt tâm hồn  

Sau một thời gian dài sống trong tăm tối, u buồn, lầm than, khốn khổ… thì người mù thành Giê-ri-khô mới có diễm phúc được Chúa Giê-su mở mắt cho thấy những sự vật trên đời.  

Còn chúng ta, chúng ta được may mắn triệu lần hơn, vì ngay từ lúc ấu thơ, sau khi chào đời chẳng bao lâu, chúng ta có thể nhìn thấy khuôn mặt thân yêu của cha mẹ anh chị em họ hàng, thấy được bầu trời huy hoàng rực rỡ, thấy được muôn kỳ quan rất tuyệt vời trong vũ trụ…  

Bên cạnh hồng phúc nầy, chúng ta còn được hạnh phúc lớn hơn, đó là được Chúa khai mở con mắt tâm hồn để nhận biết có một người Cha đầy quyền năng và rất nhân từ hằng yêu thương ta là Thiên Chúa Cha; nhận biết Chúa Giê-su là Đấng yêu thương ta đến nỗi gánh lấy tội lỗi và nộp mình chịu chết thay cho ta, nhờ đó, chúng ta được thoát khỏi án phạt đời đời và được lên thiên đàng vinh hiển; nhận biết Chúa Thánh Thần là Thầy dạy tuyệt vời ban tặng cho chúng ta những điều khôn ngoan Ngài mang từ trời xuống; nhận biết mình có quê thật là thiên đàng mà Chúa đã sắm sẵn cho chúng ta từ thuở tạo thiên lập địa…  

Được Chúa Cha mở mắt cho thấy những sự thật tuyệt vời nầy là một hồng ân vô cùng lớn lao, không gì sánh được.  

Chúa Giê-su cho rằng đây là hồng phúc rất cao quý mà ngay cả những vị ngôn sứ vĩ đại thời xưa như I-sai-a, Ê-li-a, Giê-rê-mi-a… hay các vị vua danh tiếng như Đa-vít, Sa-lô-mon… cũng không nhận được. Ngài nói: “Phúc thay mắt nào được thấy những điều các con xem thấy; vì chưng Ta bảo các con: có nhiều vị ngôn sứ và vua chúa đã muốn thấy những điều các con thấy, mà chẳng được thấy, muốn nghe những điều các con nghe, mà đã chẳng được nghe” (Lc 10, 24).  

Hồng ân nầy lớn lao đến nỗi Chúa Giê-su tỏ ra hân hoan vui sướng và cất lời tạ ơn Chúa Cha đã ưu ái ban tặng cho chúng ta. Ngài thưa với Chúa Cha: “Lạy Cha là Chúa tể trời đất, Con xin ngợi khen Cha, vì  

 đã giấu không cho những người thông thái khôn ngoan biết những điều nầy, nhưng đã tỏ cho những người bé mọn” (Lc 10, 21).  

Lạy Chúa Giê-su,  

Chúng con cảm tạ Chúa đã ban cho chúng con đôi mắt phần xác để nhìn ngắm những điều kỳ diệu trên đời và nhất là Chúa đã rộng thương mở mắt tâm hồn để chúng con nhận biết những sự thật tuyệt vời về Thiên Chúa, về cuộc sống đời sau.  

Xin cho chúng con sống xứng đáng với hồng ân Chúa ban và cố gắng dẫn đưa nhiều người đến với Chúa để họ cũng được Chúa ban cho diễm phúc nầy. Amen.  

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà  

Muốn xem bài cũ hơn, xin mời click vào đây  =>  https://nguonvui.net    

Tin mừng Mác-cô 10, 46-52  

46 Đức Giê-su và các môn đệ đến thành Giê-ri-khô. Khi Đức Giê-su cùng với các môn đệ và một đám người khá đông ra khỏi thành Giê-ri-khô, thì có một người mù đang ngồi ăn xin bên vệ đường, tên anh ta là Ba-ti-mê, con ông Ti-mê.47 Vừa nghe nói đó là Đức Giê-su Na-da-rét, anh ta bắt đầu kêu lên rằng: “Lạy ông Giê-su, Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi! “48 Nhiều người quát nạt bảo anh ta im đi, nhưng anh ta càng kêu lớn tiếng: “Lạy Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi! “49 Đức Giê-su đứng lại và nói: “Gọi anh ta lại đây! ” Người ta gọi anh mù và bảo: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy! “50 Anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giê-su.51 Người hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh? ” Anh mù đáp: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.”52 Người nói: Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh! ” Tức khắc, anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi.  

From: ngocnga_12& NguyenNThu

Câu Chuyện Thầy Lang: Khác biệt giữa Stroke và Heart Attack

 Câu Chuyện Thầy Lang: Khác biệt giữa Stroke và Heart Attack

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Stroke tiếng Việt gọi là Đột Quỵ hoặcTai Biến Mạch Máu Não, còn Heart Attack là Cơn Đau Tim. Hai bệnh có một số điểm giống và khác nhau đôi khi cũng khó mà phân biệt.

-Cả hai đều gây ra do sự gián đoạn cung cấp máu cho mỗi bộ phận là não và tim
-Cả hai đều cần được cấp cứu tức thì vì hậu quả của bệnh tùy thuộc vào điều trị sớm hay muộn.
-Triệu chứng của hai bệnh đều khác nhau.

Nhận diện và nhớ được sự khác biệt về dấu hiệu báo động sự xuất hiện giữa hai bệnh đôi khi cũng gây bối rối cho nhiều người. Xin cùng tìm hiểu về hai bệnh này.

Trước hết, xin nhấn mạnh là các tế bào trong cơ thể hoạt động được đều nhờ chất dinh dưỡng và dưỡng khí do dòng máu cung cấp. Gián đoạn sự cung cấp này sẽ đưa tới rối loạn chức năng cho bộ phận đó rồi cho toàn cơ thể. Não bộ và tim là hai bộ phận chủ chốt của cơ thể và rất nhậy cảm với sự thiếu cung cấp nguồn nhiên liệu để hoạt động, dù sự gián đoạn chỉ trong vài phút đồng hồ.

Stroke là gì?
Stroke là một cơn yếu ớt bất chợt ở một phía của cơ thể gây ra do sự gián đoạn lưu hành máu tới một phần nào đó của não. Ngưng cung cấp máu có thể là do ở trên não có một cục máu làm tắc nghẽn ( 85%)  hoặc do một mạch máu bị đứt rách. Không có máu, tế bào não chết liền nếu không được cấp cứu. Mỗi phút không điều trị đưa tới hủy hoại cho 1.9 triệu tế bào não, 7.5 miles sợi thần kinh và 14 tỷ điểm giao liên kết hợp thần kinh.

Báo cáo y học của American Heart diễn tả sự tổn thương tế bào não khi không được điều trị với sự hóa già của cơ quan này như sau: Cứ một giây không điều trị não già đi gần 8 giờ, mỗi phút không điều trị, não già gần 3 tuần lễ, chậm điều trị 1 giờ, não già đi 3.6 năm và nếu không chữa, não già đi 36 năm. Mà não đã hóa già hết hoạt động thì hậu quả tai hại sẽ vô lường, vĩnh viễn.

Coi vậy thì cấp cứu điều trị Stroke quan hệ như thế nào.Cho tới nay, đột quỵ được coi là đệ tam sát thủ đối với con người, sau bệnh tim và ung thư và là đệ nhất nguyên nhân gây ra tàn phế cơ thể, đệ nhị hung thủ gây tàn phế thần kinh, sau bệnh Alzheimer.Bên Hoa Kỳ, hàng năm có tới trên dưới 700,000 người bị stroke với gần 200,000 tử vong.Sống sót thì cứ một trong sáu người cần chăm sóc tại các cơ sở lâu dài; ba trong bốn người giảm khả năng làm việc. Kinh hoàng như vậy mà dường như nhiều người vẫn chưa biết rõ về bệnh cũng như chưa chịu áp dụng các phương thức phòng ngừa để bệnh không đến với mình.

Những dấu hiệu báo trước

Dấu hiệu tùy thuộc nguyên nhân gây tai biến, vùng não và số lượng tế bào bị tổn thương. Ðiểm đặc biệt của dấu hiệu báo động là một số những “Ðột Nhiên”.
-Ðột nhiên thấy yếu một bên cơ thể như mặt, tay hoặc chân là dấu hiệu sớm nhất và thông thường nhất; rồi:
-Ðột nhiên thấy tê dại trên mặt, cánh tay hoặc chân ở một nửa thân người;
-Ðột nhiên thấy bối rối, nói lơ lớ khó khăn hoặc không hiểu người khác nói gì;
-Ðột nhiên có khó khăn nhìn bằng một hoặc cả hai con mắt;
-Ðột nhiên chóng mặt, đi đứng không vững, mất thăng bằng;
-Ðột nhiên thấy nhức đầu như búa bổ mà không rõ nguyên nhân.
Không phải tất cả các dấu hiệu này đều xẩy ra trong mỗi tai biến. Nhưng nếu thấy một vài trong những dấu hiệu đó là phải kêu cấp cứu, tới nhà thương ngay. Ðây là trường hợp khẩn cấp, trễ phút nào nguy hiểm gia tăng với phút đó.

Y giới đưa ra trắc nghiệm gọi tắt là FAST để sớm phát hiện stroke:
F = Face: yêu cầu họ cười, coi xem một bên mặt có méo, môi xệ.
A =Arm: yêu cầu dơ 2 tay lên cao, coi xem một tay có yếu suội thõng xuống.
S =Speech: yêu cầu nhắc lại một câu nói, coi xem dọng nói có ngọng lớ, nhắc lại có đúng
T=Time có nghĩa thời gian điều trị là quan trọng, cần hành động kêu 911 cấp cứu ngay.
Nếu áp dụng trắc nghiệm này thì đôi khi người thường cũng dễ dàng thấy stroke đang xuất hiện.

Ngoài ra, tùy theo não trái hoặc phải bị tổn thương mà triệu chứng khác nhau đôi chút.

a-Ðột quỵ ở não trái hay phải đều đưa tới suy yếu hoặc tê liệt của phần cơ thể phía đối diện cộng thêm mắt mở rộng hoặc môi xệ xuống;

b-Ðột quỵ não trái gây ra rối loạn về ngôn ngữ ảnh hưởng tới việc phát ra và hiểu lời nói  kể cả đọc và viết. Lý do là trung tâm kiểm soát ngôn ngữ thường nằm bên não trái. Nạn nhân cũng có rối loạn về trí nhớ, một chút rối loạn hành vi, chậm chạp và dè dặt hơn.

c-Tổn thương não phải: Ngoài tê liệt nửa thân phía trái, bệnh nhân còn bị mất trí nhớ, hành vi hấp tấp, không suy nghĩ, kém nhận xét về không gian, hay bị xúc động, buồn rầu và chỉ để ý tới sự việc xẩy ra mé phải cơ thể. Chẳng hạn bệnh nhân không thấy có người tới ở phía trái hoặc bỏ quên thực phẩm trên phần đĩa bên trái.

Điều trị
Điều trị stroke tùy theo bị máu cục hoặc đứt động mạch.
Máu cục thì thuốc loãng máu như aspirin là ưu tiên rồi tới heparin… Aspirin cần được dùng trong vòng 3 giờ sau tai biến.
Còn stroke do đứt mạch máu thì cần giải phẫu để sửa chỗ đứt và giảm áp lực của máu tràn đè lên tế bào não. Aspirin không được dùng vì sẽ làm máu loãng, chẩy nhiều hơn.
Sau giai đoạn cấp cứu, bệnh nhân được tiếp tục điều trị tại Trung tâm Phục hồi Chức năng, để lấy lại các chức năng đã mất hoặc suy yếu gây ra do sự thiếu nuôi dưỡng tế bào não.
Tóm lại, Tai biến Động mạch não là một tai nạn trầm trọng, cần được cấp cứu tức thì để cứu vãn sự sinh tồn của tế bào thần kinh.  Nhiều nhà chuyên môn coi tai biến này nguy hiểm như Cơn Suy Tim heart attack, và gọi là Brain Attack.
Tai biến có thể viếng thăm bất cứ ai, không kể tuổi tác, nam nữ, giầu nghèo.

Heart Attack là gì?

Tim là bộ phận thiết yếu trong việc nuôi dưỡng toàn bộ tế bào trong cơ thể. Hằng ngày, tim liên tục làm việc suốt 24 giờ để bơm một khối lượng hơn 7000 lít máu. Ðể hoàn thành công việc này, tim cần oxy và chất dinh dưỡng do động mạch vành (Coronary Artery) cung cấp.

Vì nhiều lý do khác nhau, mặt trong của động mạch vành bị các mảng chất béo bám vào, làm cho động mạch trở nên cứng và hẹp, máu lưu thông giảm đi. Một máu cục có thể thành hình và gây tắc nghẽn hoàn toàn sự lưu hành của máu. Tế bào tim không nhận được chất dinh dưỡng và oxy, sẽ bị hủy hoại Ðó là sự nhồi máu cơ tim (myocardial infarction). Thời gian thiếu máu càng lâu thì sự hủy hoại của tế bào tim càng lan rộng và cơn đau tim càng trầm trọng hơn.

Ðôi khi, cơn đau tim cũng xảy ra khi động mạch vành co thắt tạm thời làm cho lưu lượng máu tới tim giảm đi. Các cơn co thắt tạm thời này có thể gây ra do căng thẳng tâm thần, tiếp xúc với thời tiết lạnh, khói thuốc lá hoặc khi sử dụng vài loại thuốc như bạch phiến…

Tại Hoa Kỳ, mỗi năm có khoảng 1,5 triệu người bị Cơn Đau Tim  với hậu quả là gần 500,000 trường hợp tử vong. Hơn một nửa số tử vong này xảy ra 1 giờ sau cơn đau và trước khi bệnh nhân tới bệnh viện. Ngoài ra đã bị Heart attack cũng thường đưa tới Stroke.
Cơn đau tim là một trường hợp khẩn cấp, cần được điều trị tức thì. Mỗi giây phút trì hoãn là giây phút dẫn tới “thập tử nhất sinh” cho người bệnh. May mắn là cơn đau tim có thể điều trị được và các nguy cơ gây ra cơn đau tim có thể đối phó, thay đổi để phòng ngừa căn bệnh hiểm nghèo này.

Những dấu hiệu báo trước Cơn ÐauTim
Có một số dấu hiệu báo trước sự xuất hiện của cơn đau tim:
a-Cảm giác khó chịu, đau đè như có vật nặng ép trên ngực, kéo dài tới mấy phút rồi mất đi, nhưng có thể tái xuất hiện. Cơn đau có thể nhè nhẹ vừa phải tới đau không chịu được.
b-Cảm giác đau từ ngực chạy lên vai, cổ hoặc lan ra cánh tay; đầu ngón tay cảm thấy tê tê..
c-Choáng váng, muốn xỉu, đổ mồ hôi, buồn nôn, khó thở.
d-Lo sợ, nóng nẩy, bồn chồn.
đ-Da xanh nhợt.
e-Nhịp tim nhanh, không đều.
Nếu cảm thấy một trong những dấu hiệu này thì phải kêu cấp cứu ngay.
Nên lưu ý là phụ nữ có thể có các dấu hiệu khác hoặc không rõ ràng như nam giới. Họ có thể cảm thấy đau ở bụng, cho là bị ợ chua với da ẩm ướt hoặc mệt mỏi bất thường. Mà không ngờ là có thể đang bị heart attack.

Ðiều trị
Ngay khi cảm thấy có dấu hiệu bị cơn đau tim, bệnh nhân cần phải kêu số điện thoại cấp cứu để được đưa đi khám bệnh và điều trị càng sớm càng tốt. Ðiều trị sớm có thề ngăn ngừa hoặc giới hạn sự hư hao của tế bào tim và giảm được tử vong cho người bệnh.

Trên đường chuyên trở bệnh nhân tới bệnh viện, nhân viên cấp cứu đã có thể bắt đầu sự chữa trị với phương tiện sẵn có trong xe cấp cứu. Họ thường xuyên liên lạc trực tiếp với bác sĩ tại bệnh viện để thông báo tình trạng người bệnh và tham khảo ý kiến về cách thức đối phó với cơn đau tim. Họ có thể cho bệnh nhân thở oxy, dùng thuốc giảm đau tim nitroglycerin, morphine. Họ cũng sử dụng máy cấp cứu tim khi nhịp tim rối loạn, tạm ngưng…

Tới nhà thương, bệnh nhân được đưa vào phòng cấp cứu tim trang bị đầy đủ dụng cụ, và dược phẩm. Các bác sĩ sẽ hành động ngay để phục hồi sự lưu hành máu tới tim, giảm thiểu tổn thương cho các tế bào và liên tục theo dõi tình trạng bệnh.

Thuốc gây tan cục huyết được dùng trong vòng 1 giờ kể từ khi bắt đầu có dấu hiệu của cơn đau tim.
Thuốc loại nitrate để giúp động mạch bớt co thắt và giảm cơn đau trước ngực.
Thuốc chống đông máu đề làm máu loãng, tránh đóng cục trong lòng động mạch.
Thuốc viên aspirin để ngăn ngừa tiều cầu kết tụ với nhau…

Ngoài ra còn các dược phẩm giúp hạ huyết áp, giảm sức căng của động mạch, nhờ đó tim làm việc nhẹ nhàng hơn; thuốc điều hòa nhịp tim; thuốc an thần giảm đau. Bệnh nhân liên tục được hít thở oxy…

Thời gian điều trị tại bệnh việc tùy thuộc tình trạng nặng hay nhẹ của bệnh, sự đáp ứng với các phương thức chữa trị,  thường thường là năm, sáu ngày nếu không có biến chứng.

Trước khi xuất viện, bệnh nhân được hướng dẫn về cách thức chăm sóc và dùng thuốc, về chế độ dinh dưỡng, về nếp sống, về sự vận động cơ thể với chương trình vật lý trị liệu, phục hồi chức năng của tim. Bệnh nhân sẽ hiểu rõ nên vận động như thế nào để tăng cường sức mạnh của cơ thể mà không gây ra rủi ro cho trái tim, hiểu rõ về bệnh tim của mình và biết cách đối phó với các khó khăn trong đời sống hằng ngày để tránh cơn đau tim tái phát.

Kết luận

Dù là Cơn Đau Tim hoặc Đột Quỵ, cả hai bệnh đều là “thậm cấp chí nguy”, cần được điều trị tại bệnh viện tức thì. Nhận biết và nhập tâm các dấu hiệu báo động sự xuất hiện của Đột Quỵ và Cơn Đau Tim là việc cần thiết để cứu vớt sự sống.

Kính chúc mọi sự bình an.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

From: NguyenNThu

LỢI ÍCH KHI BẠN ĐỌC KINH MÂN CÔI HẰNG NGÀY

LỢI ÍCH KHI BẠN ĐỌC KINH MÂN CÔI HẰNG NGÀY

Tác giả: Ruth Baker, Hv. Quốc Dũng s.j., dịch

Nếu bạn cảm thấy khó khi đọc kinh Mân Côi, hay không dễ dàng duy trì việc ấy hằng ngày, bảy điều bất ngờ dưới đây ắt hẳn sẽ là những động lực tích cực.

  1. Bạn trở nên bớt ích kỷ hơn

Rõ ràng là khi yêu ai đó hay một điều gì đó với trọn cả con tim, bạn cảm thấy rất say mê và biết phải tương tác thế nào với ‘kẻ ấy.’  Thế nhưng, đôi khi khỏa lấp trọn vẹn những đòi hỏi của tình yêu ấy quả là điều không hề dễ dàng.  Đó là điều mà tôi cảm nhận được về việc đọc kinh Mân Côi.  Tôi yêu kinh Mân Côi và nhận chân kinh Mân Côi như một món quà vốn được trao tặng nhưng không.  Tôi thực sự tin tưởng vào sức mạnh của kinh Mân Côi.  Nhưng dành thời gian cho việc cầu nguyện với kinh Mân Côi ư?  Điều đó đòi hỏi tôi phải hy sinh và cho đi một khoảng thời gian, hay năng lượng vốn lẽ ra là dành để đầu tư cho chính mình.  Bởi vậy, cầu nguyện với kinh Mân Côi giúp chúng ta tái quy hướng về Chúa Kitô, Đấng giải thoát chúng ta thoát khỏi tình trạng tội lỗi và lòng yêu mình, và là người thầy kiên nhẫn dạy chúng ta biết cách kiềm chế những đòi hỏi ích kỷ của bản thân.

  1. Bạn trở nên có kỷ luật hơn

Càng cầu nguyện với kinh Mân Côi, bạn càng muốn cầu nguyện nhiều hơn nữa.  Ơn ban này có được hệ tại ở những lần bạn vật lộn để cho tâm trí mình hoàn toàn thinh lặng và tập trung; tuy cảm thấy mệt mỏi nhưng bạn vẫn cố gắng duy trì việc cầu nguyện, hoặc tắt điện thoại để lần hạt trước khi đi ngủ.  Những hành vi kỷ luật như thế ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống của bạn.  Kỷ luật cũng giống như tập thể dục, bạn không thể nào trở thành vận động viên marathon trong lần chạy đầu tiên.  Nhưng bạn có thể xây dựng nó từng chút một theo thời gian.  Kinh Mân Côi giúp bạn thực hiện những bước đi bé nhỏ đó để hướng đến việc chọn Chúa là ưu tiên hàng đầu trong cuộc đời của bạn.  Ngay cả những ngày khi tình cảm hay tinh thần của bạn đang xuống dốc, việc đọc Kinh Mân Côi sẽ giúp vực dậy tâm hồn đang sầu não ấy, và nó cũng là một cách tuyệt vời để giữ lòng trung thành, làm tròn bổn phận với Chúa và với Đức Mẹ, và tuân theo một “quy tắc nhỏ” trong ngày của bạn.

  1. Đức Mẹ sẽ vén mở những điều sâu nhiệm

Chắc rằng lúc còn nhỏ người ta thường nói sơ sài về kinh Mân Côi, hay đôi lúc người trên ép buộc bạn phải cầu nguyện theo cách mà họ cảm thấy đó hẳn là cách thức thánh thiện nhất.  Bạn cảm thấy chán nản, và chẳng thể hiểu nổi làm thế nào mà việc cầu nguyện bằng ‘chuỗi hạt’ ấy có thể mang lại điều gì tốt đẹp hoặc siêu việt, ngay cả khi bạn tin vào kết quả hiệu nghiệm đầy uy lực của nó.  Nhưng thực ra, khi cầu nguyện với kinh Mân Côi thường xuyên và chân thành, những chiều sâu tiềm ẩn vốn có ấy sẽ được vén mở.  Có lẽ, đó là một cái nhìn sâu sắc về một lĩnh vực trong cuộc sống mà bạn đang gặp khó khăn.  Đôi khi bạn cảm thấy mình đang hiện diện với Chúa Giêsu trong một khoảnh khắc nào đó trong cuộc đời của Ngài.  Đó cũng có thể là kinh nghiệm diễn ra thâm sâu trong lời cầu nguyện mà bạn cảm thấy mình thực sự ở đó trong khoảnh khắc của chính Mầu nhiệm.  Ắt hẳn luôn có điều gì đó mới mẻ cần được khám phá và luôn có điều gì đó tốt đẹp cần được tiết lộ.

  1. Bạn có nhiều can đảm hơn

Khi bạn bắt đầu đặt trọn niềm tin tưởng, cuộc sống, thậm chí là cả con tim của mình vào tay Đức Mẹ qua chuỗi kinh Mân Côi, bạn sẽ bắt đầu hiểu Đức Mẹ là người thực tế, đơn giản và tuyệt vời như thế nào.  Mẹ chỉ muốn dẫn chúng ta đến với Chúa Giê-su, Mẹ yêu chúng ta rất nhiều với sự dịu dàng thực sự của một người mẹ tuyệt hảo, đến nỗi Mẹ được vinh dự lớn lao khi chúng ta trao phó những vấn đề của chúng ta cho Mẹ.  Những tâm hồn biết chạy đến với Mẹ để kêu xin Mẹ cứu giúp và tin tưởng rằng Mẹ sẽ nhận lời thì trong lòng họ sẽ cháy bùng ngọn lửa của lòng can đảm.  Bạn sẽ có biết bao can đảm khi biết rằng Mẹ đang ở ngay bên!  Thánh Maximilian Kolbe nói: “Tôi nhìn thấy Mẹ Maria ở khắp mọi nơi và tôi không thấy vấn đề khó khăn nào cả.

  1. Một ngày sống của bạn sẽ bình an hơn

Có người nói rằng: “Kinh Mân Côi làm cho cả ngày của tôi bình an hơn, giống như Đức Maria luôn sẵn sàng trợ giúp tôi khi phải đối diện với những điều tồi tệ.  Mọi sự sẽ trở nên dễ dàng hơn.  Tôi ý thức hơn về sự hiện diện của Chúa.”  Cầu nguyện với kinh Mân Côi không làm đau khổ biến mất, nhưng nó cung cấp cho bạn một vũ khí mạnh mẽ hơn để chiến đấu.

  1. Bạn có thêm nhận thức trước khoảnh khắc bị cám dỗ

Một trong 20 mầu nhiệm của kinh Mân Côi là: “tiêu diệt sự ác, giảm thiểu tội lỗi và đánh bại gian tà.”  Theo kinh nghiệm của tôi, khi thường xuyên lần chuỗi mân côi, tôi nhận ra khoảnh khắc trước khi phạm tội chậm lại.  Điều này muốn nói rằng, nếu tôi muốn trì hoãn hoặc buôn chuyện chẳng hạn, tôi không chủ động làm điều đó.  Tôi nhận ra rằng những hành động đó bắt đầu bằng một cuộc trò chuyện trong đầu.  Tôi nhận thức rõ hơn về sự cám dỗ trước khi hành động, và có nhiều thời gian hơn để tôi cân nhắc xem liệu tôi có muốn thực sự làm điều đó hay không.  Và khi lần hạt Mân Côi, tôi bắt đầu nhìn cuộc đời mình qua lăng kính được hiệp thông với Chúa, và tôi bắt đầu thấy những gì Ngài muốn cho tôi là tốt và tôi cũng muốn điều đó.

  1. Bạn bắt đầu đi vào mầu nhiệm Nhập Thể

Sức mạnh của chuỗi hạt nằm ở sự đơn giản.  Nó đơn giản đến mức có vẻ ngớ ngẩn đối với những con người thông thái.  Vì vậy, chúng ta thường nghĩ rằng chúng ta cần phải tìm ra các giải pháp phức tạp, thông minh, kiểu khoa học đột phá để giải quyết các vấn đề phức tạp, thông minh, tầm cỡ khoa học cao siêu của chúng ta.  Chúng ta hãy nhìn sâu vào tới cùng tận của các vấn đề và tự hỏi làm thế nào chúng ta có thể tìm ra giải pháp cho vết thương lớn như vậy.  Chúng ta không cần những điều ấy.  Thiên Chúa đến thế gian như một trẻ thơ bé nhỏ, yếu ớt và bơ vơ được sinh ra trong cảnh nghèo khó.  Kinh Mân Côi, đơn giản đến mức có thể được cầu nguyện trong mọi hoàn cảnh, là vũ khí cầu nguyện mạnh mẽ nhất mà chúng ta có.

Không có vấn đề gì, dù khó khăn đến đâu, dù là trần thế hay trên hết là thiêng liêng, trong đời sống cá nhân của mỗi người chúng ta, của gia đình chúng ta… mà Kinh Mân Côi không thể giải quyết được.”  Nữ tu Lucia Fatima.

Đó là bảy ơn ban cho chúng ta đến từ việc thường xuyên đọc kinh Mân Côi, nhưng còn vô số ơn nữa! Ơn thứ tám của bạn là gì?  Hãy chia sẻ với chúng tôi trong phần bình luận bên dưới nhé!

Nguyên tác: 7 Surprising Things That Happen When You Pray the Rosary More Often

Tác giả: Ruth Baker

Hv. Quốc Dũng s.j., dịch

Nguồnhttps://dongten.net

From: Langthangchieutim

THẦN KINH!

THẦN KINH!

Đang chạy vòng vòng tìm nhà người thợ khoan giếng thì gặp ông bạn cũ. Sau khi biết mình có nhu cầu khoan giếng, lão nói:

– Ông khoan làm gì cho tốn tiền? Nhà tôi đang có 2 cái đấy, cái nào nước cũng tốt cả, ông qua lấy 1 cái về dùng!

– Haahaa ha! Ông cũng biết đùa nhỉ!

– Đùa gì, tôi cho thật chớ không đùa đâu!

– Ông khùng quá đi! Tôi làm sao đem được cái giếng ấy về mà ông cho?

– Ủa, thế sao nhà nước mình xuất khẩu bất động sản qua tận Châu Âu, Trung Đông được, mà cái giếng của tôi cách nhà ông non cây số ông không đem về được? Giếng của tôi cũng thuộc diện bất động sản chứ gì?

– Ông bì nhà nước với tôi sao được!

– Thế nhà nước mình được lãnh đạo bởi…. những Thần Đèn à?

– Thần kinh chứ Thần Đèn cmg!

Fb Ngô Trường An

May be an image of text that says 'Tiênphong I NHỊP SỐNG PHƯƠNG NAM Chuyển Việt Nam sẽ sớm 'xuất khẩu' bất động sản sang châu Âu và Trung Đông 21/10/2021 08:00'

Khi về già, điều hối tiếc cuối cùng trong đời là gì?

Bang Uong

Khi về già, điều hối tiếc cuối cùng trong đời là gì?

Thời trẻ, chúng ta thường gặp rất nhiều cám dỗ, thậm chí là cạm bẫy, khi tỉnh ngộ thì có thể đã tóc bạc, da mồi và nhận ra rằng cả đời không làm nên trò trống gì.

Khi về già, bạn hối tiếc điều gì nhất trong cuộc đời?

Năm điều hối tiếc hàng đầu từ số liệu thống kê toàn cầu như sau:

Vị trí thứ nhất: 92% hối tiếc vì đã không làm việc chăm chỉ khi còn trẻ

Trẻ khỏe không nỗ lực, già cả sầu bi suông, quãng thời gian tươi đẹp của tuổi trẻ trôi qua quá nhanh.

Thời trẻ, chúng ta thường gặp rất nhiều cám dỗ, thậm chí là cạm bẫy, khi tỉnh ngộ thì có thể đã tóc bạc, da mồi và nhận ra rằng cả đời không làm nên trò trống gì.

Hầu hết mọi người đều tuân theo thái độ sống phù hợp với đám đông. Khi người khác học thì họ cũng học, người khác làm việc thì họ cũng làm việc, người khác giải trí tiêu khiển thì họ cũng giải trí tiêu khiển. Đương nhiên, người ta được thế nào thì họ cũng không thể nhận được nhiều hơn.

Nếu muốn có được thứ mà người khác không thể có được thì chúng ta cần phải trả một cái giá mà người khác không muốn trả, đặc biệt là khi chúng ta còn trẻ.

Vì vậy, nhân lúc chúng ta còn thời gian, tinh thần và sức lực để nỗ lực, hãy nhanh chóng lập kế hoạch thiết thực, sau đó bắt đầu tiến lên từng bước theo kế hoạch này, kiên trì đi đến cuối cùng, không gì lay chuyển nổi, thì đích đến chính là một phong cảnh hoàn toàn khác biệt.

Trẻ khỏe không nỗ lực, già cả sầu bi suông. (Ảnh: Pixabay)

Vị trí thứ hai: 73% hối hận vì đã chọn sai nghề nghiệp khi còn trẻ

Ba sinh viên đại học được chỉ định làm việc cùng lúc trong một cơ quan. Một năm sau, một người chuyển sang công ty khác vì không muốn nhìn mặt sếp suốt ngày. Hai người còn lại không động tâm, và yên ổn đều đặn những ngày sáng 8 giờ làm chiều 5 giờ về.

Lại một năm sau, một sinh viên khác quyết định nghỉ việc, lao vào thương trường lập nghiệp mở nhà hàng. Cậu sinh viên còn lại kia vẫn bất động tâm, nhìn hai người bạn học của mình vất vả trong nhà máy, nhà hàng, cậu lại càng đắc ý về cuộc sống ổn định của mình.

Vài năm sau, ba người bạn cũ có dịp tụ tập. Người chuyển công ty đó đã lên chức giám đốc nhà máy, người mở nhà hàng trở thành triệu phú, còn người ở lại thì vẫn đang tiêu hao quãng thời gian trai tráng ít ỏi còn lại của mình trong tiếng la mắng của sếp.

Nhiều người khi chọn nghề hay khởi nghiệp, yếu tố đầu tiên họ cân nhắc là thu nhập ổn định và cuộc sống ổn định, thoải mái và e dè trước những cơ hội thử thách. Không có áp lực thì tự nhiên sẽ thiếu động lực, không có động lực thì tiềm năng sẽ bị chôn vùi.

Các thầy thuốc Đông y thường nói rằng, chỉ cần nhìn sắc mặt có thể đoán được lục phủ ngũ tạng của một người khoẻ mạnh hay không, chẳng hạn như nước da nhợt nhạt, da sạm đen… đều có liên quan đến một cơ quan nhất định trong cơ thể.

Không có động lực thì tiềm năng sẽ bị chôn vùi. (Pxfuel)

Vị trí thứ ba: 62% hối hận về việc giáo dục con cái không đúng cách

Con cái là sự tiếp nối cuộc sống, tiếp nối niềm hy vọng của cuộc đời, nhiều người có thể sẵn sàng chịu đựng mọi đau đớn, oan ức, làm mọi thứ vì con cái.

Nhưng mong con thành rồng, thành phượng có thể chỉ là mong ước tốt đẹp đơn phương của cha mẹ. Đối với con cái mà nói, có thể chúng chỉ muốn là một đứa trẻ bình thường đơn thuần và hạnh phúc. Nhiều bậc cha mẹ đã dùng đến sự ép buộc, giám sát, thậm chí dùng đòn roi để ép con mình phát triển theo con đường riêng mà họ đã vạch ra.

Nhưng cuối cùng, hầu hết các bậc cha mẹ đều phải cảm thấy thất vọng khi đối diện với thực tế. Chí có một số rất nhỏ những trường hợp được gọi là “thành đạt”, nhưng họ cũng than thở rằng, bao năm qua con cái của họ đã phải chịu vất vả khổ cực quá nhiều, chúng đã không được tận hưởng niềm vui và ánh nắng của tuổi thơ và tuổi thiếu niên.

Khi đứa trẻ đã hối hận và xấu hổ về hành vi của mình, thì không nên chỉ trích và đổ lỗi cho chúng nữa.

Hầu hết các bậc cha mẹ đều phải cảm thấy thất vọng khi đối diện với thực tế. (Ảnh: Shutterstock)

Vị trí thứ tư: 57% hối tiếc vì đã không trân quý người bạn đời của mình

Có say mới biết rượu nồng, có yêu mới biết tình thâm.

Những thứ thuộc về tình cảm, khi có nó mà không biết trân quý thì khi mất rồi mới thấy nó quý báu nhường nào.

Có hai thứ mà con người sẽ không bao giờ phát minh ra, một là nước quên tình, hai là thuốc hối hận.

Khi còn trẻ không biết nâng niu, quan tâm và thấu hiểu, đến khi về già, hối hận thì cũng đã muộn rồi.

Vị trí thứ năm: 45% người hối hận vì đã không đối xử tốt với cơ thể bản thân

Rất nhiều người trước tuổi 60 đã đánh đổi sức khỏe của mình để lấy mọi thứ, rồi sau tuổi 60 lại đánh đổi mọi thứ để lấy sức khỏe.

Trên đời không có gì quan trọng hơn sức khỏe, không có thân thể khỏe mạnh thì dẫu có tài sản tỷ đô cũng chẳng để làm gì.

Nắm được bí quyết dưỡng sinh sẽ hiểu được cách thức vận hành của cơ thể, từ đó thấu hiểu được nguyên do vì sao sức khoẻ suy yếu và cách phòng tránh chúng.

Trên đời không có gì quan trọng hơn sức khỏe. (Shutterstock)

Lý do tại sao chúng ta hâm mộ tuổi trẻ là khi chúng ta còn trẻ, chúng ta có thể hối lỗi và sửa lỗi bất cứ lúc nào, một khi chúng ta bước vào tuổi già, rất nhiều thứ đã trở thành kết cục đã định.

Vì vậy, khi còn trẻ, cần nỗ lực học hành, vui vẻ nhân đôi, đừng để đến khi tuổi cao sức yếu mới thở ngắn than dài: mọi việc đã bỏ lỡ mất rồi.

Hoàng Mai

Theo Visiontimes

From: Bang Uong