Như chỉ mới hôm qua – ký ức 30 tháng Tư 

Như một lớp áo mỏng che những vết thương vĩnh viễn không lành…

Như chỉ mới hôm qua – ký ức 30 tháng Tư 

Đan Viên

Những gì được kể trong bài viết này không chỉ là thảm kịch sau ngày “giải phóng”, mà phải nói đó là sự thảm khốc của BI KỊCH HẬU CHIẾN, khi mà dù tiếng súng đã ngưng nhưng những viên đạn vô hình vẫn “bắn giết” và “tử hình” không biết bao nhiêu nạn nhân. Các cuộc “thảm sát” sau 1975, không đầy xác người như những trận giao tranh ác liệt thời chiến, nhưng đã gieo rắc nỗi thống khổ cho hàng triệu gia đình và làm mất đi tuổi thơ của vô số đứa trẻ, như tác giả trong bài viết. Ký ức đối với những tâm hồn non nớt trước những gì chứng kiến sau ngày 30 Tháng Tư không chỉ là quá khứ. Nó là những vết thương vĩnh viễn không lành…

Bài viết này đã đoạt giải ba cuộc thi Như chỉ mới hôm qua – Ký ức 30-4 do Saigon Nhỏ tổ chức vào năm 2021. Xin mời đọc lại…

_________

Trong suốt nhiều năm tôi luôn nhớ về dĩa cơm gạo trắng ở chợ Ái Nghĩa hồi tôi 10 tuổi khi má dẫn đi thăm ba ở trại An Điềm. Trên tôi còn có bốn ông anh chẳng hiểu sao năm đó má lại dẫn mình tôi đi thăm ba. Tôi cũng là đứa con duy nhất trong bảy đứa được đi thăm ba trong suốt thời gian ba ở trại.

Đây là ba của tôi sao?

Trong trí nhớ của tôi, từ làng tôi phải đi bộ xuống Túy Loan rồi bắt xe đò lên Ái Nghĩa. Ở Ái Nghĩa đi qua sông bằng cano rồi mới đi tiếp bằng đường bộ. Ngủ lại đêm trên mấy sạp chợ Hà Nha. Sáng hôm sau tiếp tục đi bộ lên trại. Khi lên tới trại dưới má tôi cùng những gia đình thăm nuôi khác ngồi đợi được gọi tên, rồi lại đi bộ tiếp lên một khu trại khác, rồi lại đợi. Tôi chưa hết say xe, căng thẳng, sợ hãi. Mọi thứ đều có vẻ đe dọa. Rồi cũng tới lượt má tôi được gọi tên. Má dẫn tôi vô một dãy nhà dài.

Một dãy bàn bằng tre dài ngoằng theo gian nhà. Một tấm phên dựng chắn giữa bàn cao quá đầu người ngồi, cứ khoảng một mét lại chừa một ô nhỏ đủ nhìn thấy mặt người đối diện. Ở đó tôi thấy những người đàn bà ngồi vào trước những ô được chỉ. Phía bên kia cũng là người ngồi nhưng tôi không thấy hết được. Má cũng có một ô, giữ tôi đứng kế bên. Tôi nghe tiếng khóc nghẹn của đàn ông đàn bà… Tôi từng biết kiểu khóc này. Những đêm khuya tôi thường nghe má khóc vậy khi chợt tỉnh ngủ. Má biểu tôi nhìn vô ô vuông đó. Bên kia là gương mặt một người đàn ông lạ hoắc, ốm yếu, răng rụng rất nhiều. Tôi hoảng sợ.

Má biểu tôi, thưa ba đi. Tôi làm theo như cái máy. Sao người này lại là ba tôi? Chỗ ngồi của má là đầu dãy. Một cán bộ đang đứng ở đó quan sát mọi người. Có tiếng má tôi năn nỉ xin cho tôi được bước qua phía bên kia cho ba ôm tôi. Người cán bộ hơi chần chừ rồi cũng cho. Nhưng lúc đó tôi sợ, má giục mấy lần tôi mới rụt rè bước qua. Ba ôm tôi khóc không thành tiếng. Tôi sợ, không thấy quen thuộc với người mình vừa gọi ba. Người ba gầy xơ xác, bộ quần áo gần giống như kiểu pijama nhưng dày cộm, màu xám xám hay xanh gì đó. Một thứ mùi không chút thân thuộc, một nhân dáng xa lạ. Tôi gồng cứng người, sợ hãi.

Nhưng rồi tôi bắt đầu khóc khi hết cuộc thăm nuôi. Tôi khóc tức tưởi. Má chắc bận để tâm đâu đó nên chẳng thèm dỗ, chẳng thèm hỏi. Tôi tự khóc, tự nín. Khóc tức tưởi rồi nấc ư ử, rồi thôi. Tôi không biết vì sao mình khóc. Nhóm người cùng đi với má cũng trở ra. Họ thì thầm trò chuyện với nhau. Trẻ con im thin thít. Đi bộ xuống lại con đường cũ. Đến chợ Hà Nha, trời vẫn chưa tối hẳn nhưng về giờ này hết chuyến sang sông, người lớn quyết định ở lại sạp chợ một đêm nữa, sáng mai mới bắt xe về. Những người đàn bà chọn cái sạp lớn nhất để ngồi cùng và trò chuyện. Họ vẫn tiếp tục với giọng điệu cà rì cà rầm.

Những câu chuyện nghe như ác mộng

Trong số họ có người đã quen nhau từ lần thăm nuôi trước. Có người mới đi lần đầu. Có ba bốn đứa nhỏ cỡ tôi và lớn hơn. Má chỉ tôi leo lên cái sạp nhỏ kế bên. Đêm đó, trong giấc ngủ bị ngắt quãng mấy lần, tôi thấy một giấc mơ kinh hoàng. Giật mình mở mắt thấy vẫn đang ở trong câu chuyện của người lớn. Thì ra không phải mơ. Tôi nằm kế bên nghe người lớn kể chuyện rồi buồn ngủ thiếp đi, tỉnh dậy vẫn những người đàn bà ngồi đó kể chuyện. Họ không ngủ. Mấy lần như vậy cho tới khi trời sáng.

Đọng lại trong tôi là hình ảnh bà vợ ông tá nào đó bị cọp ăn khi đi thăm chồng mà đi lạc qua đường mòn trong núi, chỉ còn lại cái đầu rũ rượi tóc lăn bên vệ đường. Vùng Ba Khe nổi tiếng có cọp dữ. Họ còn kể có gia đình bản địa phước đức khi cọp vô tới tận sân nhà, cha mẹ đi làm chỉ có ba đứa trẻ ở nhà, chúng sợ quá trùm cái mền lại rồi vì sợ mà cứ kéo qua kéo lại cái mền. Con cọp đứng nhìn một hồi rồi bỏ đi. Những chuyện khác tôi chẳng hiểu gì nên cũng không nhớ rõ được.

Sáng hôm sau, má đón xe đò về lại Ái Nghĩa. Cả buổi không được ăn gì. Đêm hôm trước cũng chỉ có cái bánh sắn nhỏ (bột sắn khô nhồi rồi làm thành những cái bánh, luộc trong nước sôi cho đến khi bánh nổi là chín; món ăn thường trực của nhà tôi những năm sau 1975). Tôi đói quay quắt mà không dám kêu. Má dẫn tôi vô chợ Ái Nghĩa.

Tới trước hàng cơm trong chợ, má mua một dĩa cơm trắng, xin chan chút nước thịt, hai mẹ con cùng ăn. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi biết được trong chợ có hàng bán cơm. Dĩa cơm trắng trưa hôm đó cho đến tận bây giờ, với tôi, vẫn là cực phẩm nhân gian. Tôi chưa được ăn cơm trắng suốt mấy tháng rồi, toàn sắn với khoai. Hạt gạo Ái Nghĩa trắng muốt, thơm lừng, cũng không giống cơm tôi nấu khi nhà có gạo. Không còn sợ hãi, không có con cọp núi ăn thịt người, chỉ có dĩa cơm trắng và tôi.

Năm đó ba ở trại An Điềm được gần ba năm…

Những mộng mị kinh hoàng thỉnh thoảng vẫn trở lại với tôi. Cũng từ lần đi thăm ba về, tôi mắc chứng bị bóng đè. Nhiều lần ngộp trong những giấc mơ kỳ lạ khác. Và kể từ chuyến đi đó, mọi ký ức của tôi về ba, về gia đình mình trong bảy năm đầu đời bị xóa sạch, cho đến tận bây giờ. Không chỉ về ba, mà tất cả những gì của bảy năm đã bị khóa chặt, chôn vùi đâu đó, trừ một chuyện – chuyện duy nhất mà tôi nhớ, nhưng thật ra cái tôi còn nhớ cũng chỉ là cảm giác, không một nhân dáng rõ ràng nào.

Làm cách nào để thôi nghĩ về tháng Tư?

Trước khi Đà Nẵng thất thủ, má may cho tụi tôi những cái quần bằng vải gì dày như nhung, có hai lớp; mấy cái túi ở giữa hai lớp quần, má may cả nắp túi có nút gài. Má chuẩn bị cho mỗi cái quần một ít vàng, là tư trang của má, cùng với mảnh giấy ghi rõ tên cha mẹ, địa chỉ. Một đêm, ba đã dẫn cả nhà chạy ra biển. Má mặc cho tôi cái quần hai lớp má may vội đó. Tôi nhớ cảm giác nặng nề, nhột nhạt của cái quần kỳ cục. Tôi nhớ mùi biển đặc quánh đêm đó. Nhớ nỗi sợ hãi của tôi giữa những lời thì thầm của ba má. Nhưng rồi ba dẫn cả nhà về lại, cho tới cái đêm người ta đập cửa nhà lúc rạng sáng bắt ba dẫn đi…

Một ký ức duy nhất cho bảy năm. Bây giờ ở tuổi ngoài 50, không biết tôi có cơ hội nào lấy lại bảy năm thơ dại của mình, để biết mình đã từng có gì, để khớp được tâm trí tôi với lời kể của ba má, anh em. Tôi cũng muốn một lần đi lại con đường ngày ấy mà không có nỗi sợ hãi nào… Từ lúc đi thăm ba về tôi thường lấy mấy tấm hình còn sót lại của gia đình so sánh người đàn ông trung niên đẹp đẽ với ông già tôi gặp ở trại An Điềm. Làm gì có chuyện chỉ mấy năm mà có thể biến đổi một con người thành như vậy? Tôi hoài nghi, tôi cố lôi trong ký ức của mình ra hình hài người đàn ông trong bức ảnh. Nhưng hoàn toàn trống rỗng…

… Thêm mấy năm nữa ba được ra trại. Má tôi làm ở đồng sau, nghe có người bà con chạy vô kêu hình như là ba tôi về. Má quýnh quáng lao ra con đường cái xuyên qua làng. Ba tôi. Đúng là ba tôi. Nhiều người đã như tôi, không nhận ra ba. Con Út khóc thét khi ba đưa tay về phía nó. Ngày ba đi, nó chưa đầy ba tuổi. Đứa em kế tôi cũng sợ hãi nép vào người má. Nhiều tiếng khóc khác, của người lớn, sửng sốt và thương cảm. Ai đó đã chạy vội về nhà đong cho má tôi mấy lon gạo. Ai đó đã chạy ra vườn hái bông đu đủ đực và mấy trái non xuống cắt sẵn cho má (thứ mà má sau đó đã nấu để ba ăn giải rừng thiêng nước độc). Mọi người cứ hỗn loạn như vậy. Chỉ có tôi là… bình thường. Thậm chí ngay lúc đó tôi còn thấy mình vênh mặt lên vì không sợ ba – người ba duy nhất mà tôi nhớ được.

Sau này, từ trong những câu chuyện của gia đình tôi, câu chuyện của những gia đình khác đồng cảnh ngộ mà tôi đọc được, nỗi thống khổ sau 1975 có rất nhiều điểm chung, có rất nhiều thấu hiểu. Trong khi ông bà, cha mẹ chúng tôi trải qua những hỗn loạn đau thương của nước mất nhà tan thì chúng tôi – những đứa con của “ngụy quân-ngụy quyền” – trải qua những đau thương kiểu khác. Đà Nẵng, Kho Đạn, An Điềm, trại cải tạo, phóng thích, trình diện, lý lịch, đại học, hợp tác xã…, với tôi, những từ ngữ này mang một thứ âm thanh khác.

Mấy chục năm rồi, trời Tháng Tư vẫn nhuốm màu ký ức thê lương. Thời gian và cuộc sống thường nhật, đôi khi chỉ như một lớp áo mỏng che đậy những vết thương vĩnh viễn không lành. Quá nhiều thứ đã mất. Quá nhiều tổn thương tiếp nối cho đến tận bây giờ. Có thứ vẫn còn phong kín thì làm cách nào để thôi nghĩ về tháng Tư…

WA, 4-2021

 YÊU THƯƠNG CHO ĐẾN CÙNG

 YÊU THƯƠNG CHO ĐẾN CÙNG

TGM. Ngô Quang Kiệt

Tin mừng theo thánh Gioan không tường thuật việc Chúa lập Bí tích Thánh Thể, nhưng lại tường thuật việc Chúa rửa chân.  Điều đó cho thấy việc rửa chân có một tầm vóc rất quan trọng.  Theo thánh Gioan việc rửa chân nói lên tình yêu đến tận cùng của Chúa Giêsu.  Chiêm ngắm việc Chúa rửa chân cho các Tông đồ, ta có thể thấy có 3 cuộc thanh tẩy.

Thanh tẩy thể lý.  Rửa chân là việc mỗi người phải làm hằng ngày.  Bàn chân là vị trí thấp nhất trong cơ thể nên dễ bị nhiễm bẩn và vì thế cần được rửa ráy nhiều nhất.  Nhưng cũng vì thế mà rửa chân là công việc tầm thường nhất, đây là công việc của người đầy tớ.  Hôm nay Chúa Giêsu tự nguyện đảm nhiệm công việc của đầy tớ.  Chúa bắt đầu bằng cởi áo choàng.  Áo choàng tượng trưng cho địa vị cao cả, cho phẩm giá con người.  Khi cởi áo choàng, Chúa cởi bỏ địa vị làm Chủ, làm Thầy, làm Chúa để làm đầy tớ cho các môn đệ.  Chúa lấy khăn thắt lưng.  Thắt lưng là thái độ của người lao động, buộc áo cho gọn gàng để việc phục vụ nhanh nhẹn hữu hiệu hơn.  Chúa bưng chậu nước.  Đây là thái độ của người đầy tớ phục vụ.  Và đến rửa chân cho từng môn đệ.  Rửa chân nói lên cử chỉ chăm sóc yêu thương.  Vì yêu thương nên khiêm nhường hạ mình chăm sóc phần thấp hèn nhất của cơ thể.

Tuy việc rửa chân có ý nghĩa yêu thương phục vụ, nhưng với Chúa Giêsu và trong bữa Tiệc Ly, việc rửa chân còn mang ý nghĩa cao sâu hơn vì nhằm thanh tẩy tâm hồn.

Thanh tẩy tâm hồn.  Khi nói với Phêrô: “Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu”, Chúa Giêsu có ý nói đến việc thanh tẩy tâm hồn các tông đồ khi rửa chân cho các ngài.  Bữa Tiệc ly là bữa tiệc Vượt Qua mới.  Để tham dự bữa tiệc Vượt Qua cũ, người Do Thái buộc phải tẩy rửa thân xác cho thanh sạch, dù trong tiệc Vượt Qua cũ, người Do Thái chỉ tưởng niệm một biến cố đã qua và ăn thịt con chiên một tuổi vô tì tích.  Vì thế khi tham dự tiệc Vượt Qua mới, ta càng cần thanh tẩy tâm hồn cho thanh sạch vì ta được gặp gỡ trực tiếp Chúa Giêsu Thánh Thể và được lãnh nhận Con Chiên Thiên Chúa vô cùng thánh thiện, vô cùng tinh tuyền.

Nhưng đi xa hơn nữa, Chúa còn muốn qua cuộc rửa chân này, thanh tẩy toàn diện cuộc đời các tông đồ.

Thanh tẩy cuộc sống.  Bữa Tiệc Ly tiên báo cái chết của Chúa.  Phép Thánh Thể là lễ hi sinh trên thánh giá.  Việc cởi áo tiên báo Chúa Giêsu sẽ bị lột áo.  Việc thắt lưng tiên báo Chúa bị bắt và bị giết.  Nước rửa tiên báo nước và máu từ cạnh sườn Chúa đổ xuống.  Thật vậy chẳng có nước nào thanh tẩy được con người nếu không phải là nước và máu tuôn ra từ Trái Tim của Chúa.  Cái chết của Chúa chính là phép rửa mà Chúa đã nói trước : “Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất” (Lc 12, 50).  Như thế, Chúa Giêsu dùng chính cái chết của mình để rửa chân cho các tông đồ, để thanh tẩy các tông đồ và để biến đổi đời sống của các ông.  Đây quả là một tình yêu cho đến tận cùng, yêu thương nên phục vụ đến hiến cả mạng sống.

Sau khi rửa chân cho các môn đệ, Chúa Giêsu mời gọi các ông: Như Thầy đã rửa chân cho anh em, anh em cũng hãy rửa chân cho nhau.  Để rửa chân, phải quì xuống.  Thế giới hôm nay tràn đầy sự kiêu hãnh, hợm mình và muốn chèn ép người khác để nâng mình lên.  Người môn đệ hãy noi gương Chúa từ bỏ chính mình, tự hạ mình, quì gối khiêm nhường phục vụ.  Để rửa chân, phải cởi bỏ áo ngoài.  Thế giới hôm nay muốn tô điểm mình bằng đủ mọi thứ hình thức vỏ bọc bên ngoài.  Người môn đệ phải theo gương Chúa cởi bỏ áo choàng, cởi bỏ hết những gì giả tạo bên ngoài, khiêm nhường sống với con người thực của mình.  Để rửa chân phải lấy khăn thắt lưng.  Thế giới hôm nay thường muốn trói buộc người khác và tự buông thả chính mình.  Người môn đệ Chúa hãy biết thắt lưng, tự chế bản thân.  Để chân sạch, phải lau sau khi rửa.  Thế giới hôm nay thường đổ lỗi cho người khác.  Người môn đệ hãy biết noi gương Chúa, lau sạch lỗi lầm của anh em, nhận lấy lỗi lầm của anh em và đeo vào thắt lưng, đảm nhận những yếu đuối của anh em.

Khi rửa chân, Chúa nói với thánh Phê rô : “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy.”  Lời này làm ta nhớ lại khi hai môn đệ Giacôbê và Gioan xin được ngồi bên tả và bên hữu, Chúa đã hỏi: “Các con có thể uống chén ta sắp uống và chịu phép rửa ta sắp chịu không?” (Mc 10, 38).  Hôm nay Chúa muốn rửa chân cho các tông đồ để các ngài được “chung phần với Chúa.”   Chung phần cao nhất là cùng uống chén Chúa sắp uống và chịu phép rửa Chúa sắp chịu nghĩa là cùng chết với Chúa, chết cho con người tội lỗi, chết cho đời sống xác thịt, chết cho trần gian, để sống một đời sống mới của con người mới thánh thiện, theo thần khí trong cuộc sống cho Nước Trời.

Chung phần như thế là một vinh dự lớn lao.  Chung phần như thế là được cộng tác với Chúa trong chương trình cứu độ thế giới.

TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

From: Langthangchieutim

Hà Nội, đồng minh ởm ờ của Washington

Hà Nội, đồng minh ởm ờ của Washington

Bởi  AdminTD

Jackhammer Nguyễn

10-4-2022

Ngày 7/4/2022 tại trụ sở Liên Hiệp quốc ở New York, Mỹ; Việt Nam đã bỏ phiếu chống lại việc loại Nga ra khỏi Hội đồng Nhân quyền của tổ chức này. Các cơ quan truyền thông Việt Nam dẫn lời ông Đặng Hoàng Giang, đại sứ Việt Nam tại Liên Hiệp quốc, rằng Việt Nam chống lại việc tàn sát dân thường, nhưng các thông tin phải được kiểm chứng. Báo chí Việt Nam không nói đến lá phiếu chống của Việt Nam.

Cùng ngày đó, đại sứ Mỹ tại Việt Nam, ông Marc Knapper, có mặt tại Cần Thơ để bàn về những kế hoạch bảo vệ môi trường tại vùng đồng bằng quan trọng này của Việt Nam. Tại đây ông cam kết sự ủng hộ của Mỹ với Việt Nam.

Một bên là âm thanh cuồng nộ của những hỏa tiễn Nga bắn vào trạm xe lửa Ukraine, giết chết 50 dân thường, trong đó có cả trẻ em, bên kia là những cái bắt tay thân mật giữa các viên chức Việt – Mỹ trong không gian oi ả, nhưng hãy còn yên bình của đồng bằng Cửu Long.

Không có gì diễn tả rõ ràng hơn cuộc hôn nhân thương mại Việt – Mỹ bằng những ngày đầu tháng Tư này. Bên kia bờ đại dương, tổng thống Biden gọi Putin là tên đồ tể (từ mà Hà Nội dùng gọi chế độ Polpot ở Cambodia trước đây), trong khi tại Cần Thơ, người đại diện cao nhất của Hoa Kỳ tại Việt Nam không hề nhắc tới nước Nga, mà thả hồn mình vào những cảm xúc cố tri với vùng sông Hậu.

Như vậy là sau khi Nga xâm lược Ukraine hơn một tháng, Hà Nội đã ba lần bỏ phiếu ngược lại với Washington. Lần đầu vào ngày 2-3-2022, Hà Nội bỏ phiếu trắng cho nghị quyết lên án cuộc xâm lược. Lần thứ hai, ngày 24-3-2022 Hà Nội cũng bỏ phiếu trắng cho nghị quyết kêu gọi Nga chấm dứt hành động xâm lược Ukraine, cũng như kêu gọi cộng đồng quốc tế tăng cường viện trợ nhân đạo cho Ukraine. Lần thứ ba, ngày 7-4-2022, Hà Nội bỏ phiếu chống lại chuyện trục xuất Moscow ra khỏi Hội đồng Nhân quyền.

Cả ba lần, Việt Nam bỏ phiếu giống hệt Trung Quốc, mà dư luận cho rằng Hà Nội đang đứng về phía Bắc Kinh và Moscow để chống Mỹ. Một số người dự đoán rằng, nếu có những lần bỏ phiếu sắp tới liên quan tới cuộc xâm lược của Nga ở Ukraine, Hà Nội cũng sẽ không dám bỏ phiếu ngược lại với Bắc Kinh.

Thế nhưng, phía Mỹ vẫn không có vẻ phiền trách gì Việt Nam cả. Trước cuộc xâm lăng, Mỹ làm ngơ cho Việt Nam mua vũ khí Nga, làm ngơ luôn những vi phạm nhân quyền bên trong Việt Nam, thế thì cũng không có gì lạ khi bây giờ Mỹ làm ngơ nốt thái độ của Việt Nam về chuyện Nga và nhân quyền.

Việt Nam là một hiểm địa trong cuộc đối đầu Mỹ –Trung hiện nay, với hơn 1000 km biên giới đất liền với Trung Quốc, một bờ biển dài hơn 3000 km ở biển Đông, và quan trọng hơn cả, Việt Nam là quốc gia hiểu rõ Trung Quốc nhất trên thế giới này.

Kể từ khi bắt đầu dính líu đến Việt Nam từ năm 1945, người Mỹ ngày càng hiểu Việt Nam hơn, và bây giờ chính là lúc áp dụng sự hiểu biết đó.

Tôi hoàn toàn đồng ý với sự so sánh của ông Khang Vu, một nhà quan sát người Việt ở Mỹ. Ông Khang Vu cho rằng, Mỹ xem quan hệ với Việt Nam hiện nay giống như Mỹ quan hệ với Trung Quốc sau khi cặp đôi Nixon – Kissinger đi đêm, rồi đi ngày với Bắc Kinh. Trước kia Mỹ liên minh không công khai với Trung Quốc để xé toạc Liên Xô cộng sản, nay Mỹ liên minh không công khai với Việt Nam để đối đầu với Trung Quốc.

Tùy vào mục tiêu toàn cầu của người Mỹ mà họ thay đổi các dự án của mình. Năm 1972, khi thấy cần thực hiện dự án chống Liên Xô với con bài Trung Quốc, người Mỹ bèn kết thúc dự án Việt Nam Cộng hòa. Có vẻ như hiện nay họ bắt đầu dự án mới trong đó Việt Nam là một phần rất quan trọng để chống Trung Quốc. Tương tự như vậy, dự án Afghanistan không còn cần thiết nữa, họ bỏ ngay, không đoái hoài gì đến hàng ngàn phương tiện vũ khí để lại vương vãi khắp nơi, cũng như năm 1973, sau khi rút khỏi miền Nam Việt Nam, họ để lại cả ngàn máy bay.

Rất chắc chắn, Việt Nam cộng sản đang nằm trong một dự án của Mỹ chống Bắc Kinh. Trong các dự án như vậy, Washington cũng đã từng không ngại ngùng sử dụng những chế độ độc tài, cũng như họ liên minh với Hà Nội hiện nay. Rõ ràng nhất là vào thời chiến tranh lạnh, Mỹ liên minh với các chế độ độc tài Nam Triều Tiên, Đài Loan, Bồ Đào Nha để chống cộng sản. Tại Nam Mỹ, Mỹ giúp nhà độc tài Pinochet lật đổ tổng thống dân cử Allende của Chile, để nhằm chặn đứng phong trào cánh tả tại lục địa này. Tất cả các chế độ này, theo tiêu chuẩn bên trong nước Mỹ về tự do ngôn luận, tự do bầu cử, … đều không thỏa mãn.

Hà Nội biết rõ như vậy. Trong cuộc chiến Ukraine hiện nay, Hà Nội chủ trương im lặng càng nhiều càng tốt, cực chẳng đã lắm họ mới bị bắt buộc phải xuất hiện ở diễn đàn Liên Hiệp quốc, khẽ khàng bỏ phiếu trắng và phiếu chống, phát biểu không nhắm tới quốc gia nào cả. Và dường như họ đã thành công, báo chí Mỹ không thấy họ đâu cả, thế là không bình luận gì về họ.

Bên cạnh đó họ nỗ lực “đi đêm”, họ nói với người Mỹ rằng, cả hai bên đâu cần mang danh chiến lược làm gì cho phiền, mà chỉ cần thực chất thôi. Không rõ ông thủ tướng Phạm Minh Chính khi gặp ngài tân đại sứ Knapper có nói điều gì quan trọng không, mà ông Knapper nói tại Cần Thơ rằng, Mỹ khẳng định sự cam kết của họ với vùng Ấn Độ – Thái Bình Dương.

Điều quan trọng hiện nay của Hà Nội là giữ cho việc đàn áp trong nước không tăng lên, không quá đáng đến mức đánh động các nhà lập pháp của Mỹ. May mắn cho họ là cũng chẳng còn bao nhiêu những nhân vật bất đồng chính kiến, hay các tổ chức đối lập nào gây cho họ lo ngại để mà đàn áp.

Nhưng không phải họ hoàn toàn thành công với kiểu quan hệ “đồng sàng dị mộng” đó với người Mỹ. Là quốc gia lớn hàng thứ nhì ở Đông Nam Á, chính sách ngoại giao ởm ờ, lặn sâu đó của họ là một chính sách thụ động, sẽ làm cho Việt Nam phí phạm vị trí địa chính trị đắc địa của mình. Họ đã để cho anh láng giềng Singapore bé nhỏ qua mặt, trong những động tác ngoại giao của nước này gần đây. Thủ tướng Singapore bất ngờ xuất hiện tại tòa Bạch Ốc, không cần đợi đến thượng đỉnh Mỹ-ASEAN, hiện vẫn chưa biết sắp xếp ra sao.

Hà Nội cũng không tự tin lắm đối với dư luận trong nước về hồ sơ Nga-Ukraine, vì dân chúng trong nước ngày càng chịu ảnh hưởng mạnh của truyền thông phương Tây, thông qua mạng xã hội, hay thậm chí là báo chí chính thống. Hà Nội đã không dám công bố với dân chúng Việt Nam rằng, họ chống lại việc trục xuất Nga ra khỏi Hội đồng Nhân quyền ở Liên Hiệp quốc.

Mà liệu dự án Việt Nam hiện nay của Mỹ có kéo dài hay không? Thiết nghĩ “đồng sàng dị mộng” chẳng có điều gì tốt đẹp, hơn nữa có một câu nói của người Việt xưa nay là “già néo đứt dây”!

Nói rằng Việt Nam là quan trọng với vị trí địa chiến lược của mình và kinh nghiệm Trung Quốc, điều đó đúng. Nhưng nói rằng Mỹ là một siêu cường, có nhiều khả năng, nhiều con bài trong tay, họ có thể thay đổi bất cứ lúc nào. Điều này đúng và đúng hơn điều kia.

Và Hà Nội có nghĩ tới khả năng Trung Quốc thay đổi chiến lược khi nhìn thấy đồng minh Nga Putin èo uột quá?

Khi ấy không khó để nghĩ tới chuyện Mỹ – Trung đề huề tại biển Đông.

Xin nhắc lại dự án Việt Nam Cộng hòa với một góc nhìn khác.

Khi Trung Quốc tấn công Hoàng Sa vào năm 1974, tàu chiến Mỹ ở gần đó im lặng, dù Việt Nam Cộng hòa vẫn là đồng minh. Lâu nay Hà Nội hay lấy kinh nghiệm đó để nói rằng không nên dính líu quá nhiều đến Mỹ để có thể bị bỏ rơi. Sự sụp đổ của chính phủ thân phương Tây của Afghanistan gần đây lại thêm một ví dụ nữa về góc nhìn này.

Xin hãy nhìn hai trường hợp đó từ một góc khác, rằng đó là hai đồng minh không hoàn hảo, với sự yếu kém về tổ chức, quân sự lẫn chính trị, hai đồng minh đó trở thành gánh nặng cho nước Mỹ khi họ chuyển đổi dự án.

Hãy so sánh với Đài Loan và Nam Hàn. Hai chế độ độc tài đã chuyển đổi sang dân chủ thành công, và họ trở thành hai đồng minh rất mạnh, san sẻ gánh nặng cho Mỹ. Hãy nhìn sự giúp sức của phương Tây cho Ukraine kể từ cuộc nổi dậy Maidan 2014, và cuộc chiến đấu hiện nay của quân Ukraine chống Nga xâm lăng. Sự hiệu quả của nền dân chủ Ukraine non trẻ rơi đúng vào bàn cờ chiến lược phương Tây.

Vụ rút quân ra khỏi Afghanistan và những chuyến đi “chuyển trục” tới tấp của Mỹ sang châu Á, nói rằng Mỹ không hề muốn cuộc xâm lăng Ukraine diễn ra, nhưng khi nó diễn ra thì họ giúp đỡ cật lực cho Kyiv, vì Ukraine là một nền dân chủ, và sẵn sàng làm đồng minh, không ỡm ờ, không lặn sâu.

Còn đồng minh ỡm ờ Việt Nam sẽ ra sao, khi một mặt bắt tay với Mỹ, trong khi hành động thì đứng về phía Trung Quốc? Hãy nhìn lại lịch sử sau chiến tranh năm 1975, Hà Nội đã chậm hơn Bắc Kinh trong việc bình thường hóa quan hệ với Washington, để rồi phải hứng chịu cuộc chiến biên giới với Trung Quốc, lẽ ra đã tránh được.

Vì sao lãnh đạo Tân Hoàng Minh vào lò?

Vì sao lãnh đạo Tân Hoàng Minh vào lò?

Dương Quốc Chính

6-4-2022

Hiện tại, tội danh mà nhóm lãnh đạo Tân Hoàng Minh (THM) bị khổ tố là “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Nghe thấy sai sai, vì chưa thấy có nạn nhân nào tố cáo cả! Mà công an thì lâu nay vẫn nói vậy mà chưa chắc vậy. Có thể họ bắt vì tội này, nhưng công bố tội khác, chuyện này khá phổ biến.

Mấy hôm nay mình theo dõi các động thái liên quan đến THM, thấy việc Ủy ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) hủy việc huy động khoảng 10 nghìn tỷ đồng qua việc bán trái phiếu của THM có điểm chưa rõ ràng. Có thể đằng sau đó còn nhiều chuyện KHÔNG TIỆN CÔNG KHAI.

Việc THM bán trái phiếu thì tương đối minh bạch, có các ngân hàng uy tín đứng ra thu xếp, tuy tập đoàn THM có đứng ra mua trái phiếu của công ty con, nhưng chỉ có 800 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng số 10 nghìn tỷ đồng, mà họ mua công khai, nên mình cho rằng đó không phải là hành động thổi giá trái phiếu kiểu anh Quyết còi thổi giá chứng khoán. Điều này cũng không có gì sai.

Hơn nữa, bên mua trái phiếu đều là các tổ chức, không có cá nhân, hiện tại báo chí mới tiết lộ tên các tổ chức đại diện mua chứ không tiết lộ chi tiết. Đại khái là các tổ chức tín dụng, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư… đứng ra mua trái phiếu này với lãi suất rất cao, cỡ 12%/năm.

Tất nhiên, lãi cao thì lắm ông lao vào đớp mồi, nhưng các tổ chức này đều là dạng có sỏi trong đầu, không hề dễ bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản, không như mấy ông đầu tư chứng khoán cỏ rả bị anh Quyết chăn. Nên cái tội LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN nghe thấy sai sai. Nhất là các ông trái chủ kia chưa thấy kiện cáo là bị lừa.

Mình dự là lý do là ở chỗ khác.

Một là có thể có một số tổ chức mua trái phiếu là của nhà nước, đại khái kiểu Viettinbank, Agribank… nên khi CA thấy THM đầu tư BĐS rủi ro thì chặn trước việc các tổ chức này mua trái phiếu để bị thất thoát tài sản nhà nước.

Lý do này cũng có thể đúng nhưng nó hơi ảo ở chỗ là các dự án mà THM công bố là sẽ dùng tiền huy động được để đầu tư có vẻ cũng khả thi. Như dự án ở Việt Hưng, Long Biên hay dự án Nam đường Đại Cồ Việt đều là đất trung tâm, cũng khó để thua lỗ. Hay siêu dự án ở Phú Quốc cũng không thấy ngay là lỗ to được. Chứng tỏ việc ngăn chặn nay có vẻ như cầm đèn chạy hơi nhanh hơn công nông. Chơi kiểu này là gián tiếp bóp chết THM, vì tiền huy động được đã được bơm vào dự án mà giờ bắt nôn ra thì đào đâu ra mà trả? Chắc phải bán dự án đi hoặc phá sản.

Lý do thứ hai thì có mùi thuyết âm mưu, nhưng không nhất thiết phải trái sự thật! Đó là việc THM có bán một lô trái phiếu 3.230 tỷ đồng nhưng lại KHÔNG CÔNG BỐ VIỆC DÙNG TIỀN ĐÓ LÀM GÌ, bên mua trái phiếu cũng ẨN DANH. Điều khuất tất nằm ở đây và có thể lý do chính để bắt, hay tội lừa đảo cũng ở chỗ này.

Vì những khuất tất trên, có thể dự đoán số tiền huy động được sẽ dùng làm việc khuất tất, ví dụ như để đầu tư cho anh nào đó chạy ghế, hay để abc các cái. Nhất là khi chính bên mua cũng ẩn danh nốt. Hay tiền của đồng chí nào gửi vào?!

Cơ quan công an chắc đã biết rồi nhưng có thể vì lý do tế nhị gì đó mà họ không công bố nên UBCKNN cũng chỉ nếu lý do rất chung chung là THM THÔNG TIN SAI SỰ THẬT. Còn CA thì đưa ra tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tiền huy động được không đúng mục đích. Còn công chúng thì không biết chỗ nào sai sự thật và lừa đảo ai, như thế nào?

Trong bối cảnh nước sôi lửa bỏng trước thềm hội nghị TƯ nên các đại gia bị hốt nhiều không có gì là lạ. Bây giờ đứng sau một quan chức thường sẽ có một số sân sau bơm tiền. Nên muốn để đồng chí nằm nằm im thì chỉ việc làm thịt con bò sữa của đồng chí đó là xong. Hết tiền là hết anh em! Danh sách đại gia, quan chức bị bắt chắc chưa dừng lại đâu. Còn hai tháng nữa cơ mà.

“Tuần Thánh” là ‘tuần vĩ đại’ vì là sự cao cả và thánh thiện của các mầu nhiệm mà ta cử hành trong những ngày đó.”

“Tuần Thánh” là ‘tuần vĩ đại’ vì là sự cao cả và thánh thiện của các mầu nhiệm mà ta cử hành trong những ngày đó.”

Chào một ngày mới thánh thiện và an vui.  Hôm nay Giáo Hội bước vào Tuần Thánh. Theo nhận định của Thánh Gioan Kim khẩu: “Tuần Thánh là ‘tuần vĩ đại’ không phải vì nó có nhiều ngày hơn các tuần lễ khác, hay vì những ngày trong tuần gồm nhiều giờ hơn; nhưng là vì sự cao cả và thánh thiện của các mầu nhiệm mà ta cử hành trong những ngày đó.” Mến chúc bạn và tất cả mọi người Tuần Thánh thật sốt sắng, dồi dào ơn thánh Chúa nhé. Nhớ cầu nguyện cho nhau, nhất là cho những người mới qua đời.

Cha Vương

Thứ 2: 11/04/2022

MỞ ĐẦU: Lạy Đức Mẹ, xin Mẹ lấy lòng thương xót mà cầu nguyện cho chúng con được nhờ công nghiệp Đức Chúa Giêsu cùng nhờ công nghiệp Đức Mẹ, cho được khỏi tội lỗi chúng con đã phạm, cùng những hình phạt chúng con đáng phải chịu.

Xin Đức Mẹ phù hộ cho chúng con làm việc này nên, cho được những phép ân xá Hội Thánh ban cho kẻ làm việc kính những sự thương khó Đức Mẹ. (Nêu ra ý chỉ cầu xin….)

LƯỠI GƯƠM THỨ BA: Cả gia đình hân hoan cùng với mọi người trẩy hội đền thờ dự lễ vượt qua, niềm vui tan biến, thay vào đó là nỗi buồn, lo lắng, âu sầu ập đến với Mẹ, khi Mẹ lạc mất Con Yêu . Để rồi Mẹ vội vã tìm con trong vất vả, lắng lo, buồn phiền “Sau ba ngày, hai ông bà mới tìm thấy con trong Đền Thờ, đang ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi” (Lc.2,46). Khi ngắm sự ấy, thì nguyện một kinh Lạy Cha, một kinh Kính Mừng.  Xin Đức Mẹ cầu cho chúng con chớ còn đi đàng tội lỗi, mà bỏ mất nghĩa cùng Đức Chúa Giêsu nữa.  Amen.

+ Kinh Lạy Cha 

+ Kinh Kính Mừng

CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ Maria! Con đường đi theo Chúa là con đường khổ giá, con đường gánh chịu những vết thương từ bỏ ý riêng, hy sinh, phục vụ vì tình yêu dành cho Chúa và cho nhau, Mẹ đã đi trọn con đường đó, qua đời sống Mẹ sống kết hiệp mật thiết với Chúa.

Xin Mẹ dẫn con đến với Chúa, để tạ lỗi với Chúa vì sự thờ ơ, thoái thác bước theo con đường Chúa đã vạch sẵn cho con.

Xin Mẹ giúp con biết noi gương Mẹ, luôn sống kết hiệp mật thiết với Chúa qua đời sống cầu nguyện, đặc biệt là kết hiệp với Chúa nơi bí tích Thánh Thể. Nhờ đó mà con mới có sức mạnh đi tron con đường Chúa đã hoạch định cho con.

Mẹ đã gánh chịu những vết thương lòng của khổ đau, thử thách, buồn phiền, xin Mẹ nâng đỡ con, an ủi con và tất cả mọi người đang mang trong tâm những buồn khổ, xin đồng hành với con và mọi người trong những lúc gặp gian nan và thử thách trong cuộc sống này. Amen

Đùng một cái… ngày 30 tháng 4…- Muôn Nẻo Đường Đời

Đùng một cái… ngày 30 tháng 4…

Thiên Di

Cảnh chạy giặc trên Quốc lộ Một của người dân khi quân Bắc Việt tiến sát vào Sài Gòn (ảnh: Nik Wheeler/Corbis via Getty Images)

Muôn Nẻo Đường Đời

Tháng Tư, nỗi ám ảnh đối với không ít người. Nhắc lại ký ức Tháng Tư không phải để gây thêm hận thù. Nhắc lại những gì đã xảy ra là một trách nhiệm lịch sử.

Có ai còn nhớ tháng Tư không?

bom rơi đạn nổ,vợ khóc chồng!!!

trẻ thơ ngơ ngác không cơm cháo,

quần áo tả tơi nhuốm máu hồng!!!

Ky Tran

_____________

Đùng một cái….. ngày 30 tháng 4…

Thiên Di

Với lứa chúng tôi, bây giờ đã 60, Hè 1975 luôn gợi nhớ một nỗi buồn da diết, một mùa hè bi tráng trong cuộc đời mỗi người Sài Gòn. 46 năm kể từ ngày đó – 30 tháng 4 năm 1975 – nửa thế kỷ vật đổi sao dời, bao lớp người ra đi, bao lớp người kế tiếp, bao nhiêu điều muốn nói, bao tâm tư ẩn tàng…

Ngày đó, chúng tôi 15 tuổi học lớp 9 – lứa tuổi hoa xuân đầy nhiệt huyết, niềm tin và căng tràn sức sống được nuôi dưỡng bởi mộng đẹp sẽ góp sức xây đời cho một ngày mai Việt Nam huy hoàng – thì đùng một cái: Thay đổi, thay đổi hoàn toàn, thay đổi đến tận bây giờ.

Thế hệ chúng tôi – với bao người nay thành đạt nơi trời Âu, Mỹ, Úc; hoặc nhẫn nhục an phận ở Việt Nam, hoặc bỏ thân nơi muôn trùng sóng vỗ xa khơi – là thế hệ vàng thuở đó. Từ năm 1970 trở về sau, cùng với nền kinh tế miền Nam đang đà khởi sắc, nền giáo dục cũng được đổi mới theo hướng khai phóng và sáng tạo. Học sinh được tăng cường ngoại ngữ Anh, Pháp và trui rèn theo hướng giáo dục toàn diện. Mọi cấp lớp được khuyến khích thi đua học sinh giỏi, lớp giỏi, trường giỏi; thầy cô giỏi được các trường mời về dạy với lương cao, nhiều ưu đãi; học sinh giỏi thi đậu Tú tài II hạng bình trở lên có nhiều cơ hội du học tại Nhật, Mỹ, Tây Đức…, và nếu đậu hạng ưu, tối ưu thì dễ dàng tìm được học bổng. Một viễn cảnh bừng sáng thì bỗng dưng – sau ngày định mệnh mùa Hè năm đó – trở thành một thế hệ tan tác, tan đàn xẻ nghé, trong buổi giao thời bi kịch của lịch sử.

Trường Lasan Taberd của chúng tôi, cùng với các trường danh tiếng khác, là nơi cho “ra lò” bao người ưu tú cho xã hội. Trường vừa tổ chức thành công kỷ niệm 100 năm thành lập vào năm trước thì năm sau biến cố 30-4-1975 ập đến. Giữa tháng 6 năm 1975, Taberd “bị” trở thành “tụ điểm” tập trung các sĩ quan và công chức chế độ cũ để đi “học tập cải tạo 10 ngày”; nhưng rồi thì tùy theo cấp bậc và khối ngành làm việc mà chỉ được “trở về nhà” sau ba năm, năm năm, 10 năm, 15 năm, 17 năm, 20 năm hoặc không bao giờ về vì đã bỏ thân nơi miền sơn lam chướng khí.

Sáng ngày 8 tháng 4, tụi tôi đang học trong lớp ở dãy lầu 4 phía đường Hai Bà Trưng thì nghe hai tiếng nổ rất lớn gây rung rinh cửa sổ lớp học. Học sinh chui vội xuống dưới bàn, tưởng đâu là pháo kích; 10 phút sau, nghe tiếng đạn rốc két bắn ì ì rồi yên lặng trở lại.

Chiều về, đọc báo mới biết là Dinh Độc Lập bị bỏ bom. Sau buổi học đó, trường cho toàn thể học sinh nghỉ hè sớm. Từ ngày đó, trong vòng ba tuần, mọi việc biến chuyển nhanh, sốc, xoay vần ào ào: tin rút lui, “di tản chiến thuật”, thương vong…, tất cả được báo về không phải hàng ngày mà là hàng giờ; rồi biểu tình ì xèo, râm ran tin đảo chánh, tin Mỹ giảm viện trợ rồi sau đó cắt luôn; ông Thiệu từ chức ngày 21 tháng 4, ông Hương lên thay đến 28 tháng 4 thì giao lại cho ông Minh; các gia đình giàu có, thế lực thì bán tháo đồ đạc nhà cửa tài sản để chạy chọt có được vé di tản bằng tàu, bằng máy bay. Mọi thứ xoay mòng mòng, cho đến cái ngày định mệnh 30 tháng 4…

Thật tình mà nói: Ban đầu, tâm trạng chung của người dân Sài Gòn trong buổi trưa hôm 30 tháng 4 ấy là nhẹ nhõm – không phải vui mừng vì bên này thắng, bên kia thua; dân Sài Gòn không bao giờ có tâm thế đó – mà là cảm giác nhẹ nỗi lo khi đất nước hết chiến tranh loạn lạc, bom đạn không còn gào thét, xóm làng không còn tan hoang, máu không còn đổ, xương không còn chất chồng… Tuy nhiên, niềm vui “thơ ngây” đó đã nhanh chóng tắt ngóm!

Thất vọng đầu tiên là – lạ quá – thằng cha Tư Đảng, đạp xe ba bánh đổ nước mướn, tự dưng khoác súng AK nhảy ra làm trưởng công an; cha Ba Lùn hớt tóc dạo giờ là trưởng ấp; cha Năm Nông chột mắt bán bong bóng dạo bây giờ là chủ tịch phường. Sao kỳ vậy! Cấp chỉ huy phải là người có ăn học, có uy tín chứ; sao lại “tùm lum” như vậy. Nhưng rồi những cái tùm lum lại trở thành chuyện bình thường, rất nhiều… Sau khi “gom” được “ngụy quân, ngụy quyền” đi “học tập cải tạo” vào tháng 6 năm 1975; bắt đầu tới “cải tạo văn hóa, tư tưởng”: các chiến dịch tịch thu văn hóa phẩm, đốt sách, thiêu hủy bất cứ cái gì thuộc về “văn hóa đồi trụy”. Sách truyện thiếu nhi như Tuổi Hoa, Tin Tin, Xì Trum… thậm chí cả con tem, cũng không thoát nạn. Hàng vạn bản nhạc, băng nhạc, sách báo, nhiều tác phẩm xưa hiếm, tượng đài, điêu khắc…, tất cả đều bị xé, đốt, đập bỏ!

Người dân chòm xóm được khuyến khích theo dõi, rình mò nhau để “báo cáo” chính quyền. Cái lối quái dị ấy gọi là “an ninh nhân dân”, là nâng cao tinh thần “cảnh giác cách mạng”. Nghe đài BBC là một tội lỗi. Nhà có người “vượt biên” thì bị “báo cáo” để “xóa hộ khẩu” hoặc để “niêm phong” tài sản. Hàng tuần họp tổ dân phố để nghe chỉ thị và phê bình nhau, để nhận sổ gạo và tem phiếu nhu yếu phẩm. Họ hàng bà con muốn đi lại thăm nhau ở tỉnh khác phải xin “giấy phép đi đường”. Công an có quyền bất chợt khám xét nhà nửa đêm nếu có nghi ngờ hoặc bị tố cáo điều gì đó. Rồi đến các cú “nốc ao” kinh tế:

– 11 tháng 9-1975: Chiến dịch đánh tư sản X1, thực tế là đánh vào các cư dân thành thị, tịch thu tài sản, buộc những cư dân này phải đi “kinh tế mới”.

– 22 tháng 9-1975: Đổi tiền – 1 đồng mới bằng 500 đồng cũ.

– Tháng 11-1975: Không còn hai miền, mọi thứ đều rặp theo chính sách luật lệ của miền Bắc.

Năm đó, 1978, chúng tôi học lớp 12. Ngày 26 tháng 3, chiến dịch đánh tư sản khốc liệt nhất mang tên X3 giáng xuống mọi nhà. Quốc Hùng – hiện ở Long Beach, Los Angeles – là thằng bạn thân ngồi kế tôi ở dãy bàn cuối, vào lớp mà mắt đỏ hoe: Nhà nó – chỉ là một cửa hàng nhỏ ở chợ Trần Chánh Chiếu – bị “đánh” tư sản, tịch thu sản nghiệp, bị “xúc” đi “kinh tế mới”. Ông già của Hùng nằm “xụi” ở nhà bà con, do đứt mạch máu não vì tức giận. Cuối Hè năm đó, Hùng vượt biên; ba Hùng vẫn nằm một chỗ và chỉ chịu nhắm mắt ra đi ba tháng sau đó, ngay khi nhận được tín vật là sợi dây chuyền bạc Hùng gởi về, cho biết đã đến đảo ở Mã Lai.

Thế đó, tưởng hết chiến tranh thì xã hội bình yên, nhưng không. Sau chiến tranh, cuộc sống mọi nơi còn thê lương hơn thời còn đạn bom khốc liệt. Vào lớp mỗi ngày hổng biết đứa nào còn, đứa nào “dọt”; bo bo, khoai lang, khoai mì nhiều hơn gạo trong các bữa ăn; thuốc chữa bệnh thì có “xuyên tâm liên” thay cho trụ sinh, kháng sinh; ngoài đường thì chỉ thấy đi bộ và xe đạp. Tội nhất là các gia đình có người thân bị “đi học tập cải tạo” – phải bán dần của cải ít ỏi còn lại để sống qua ngày…

Mọi việc bắt đầu được “bên thắng cuộc” nhìn nhận ra sai lầm vào năm 1986 – 11 năm sau khi “thắng cuộc”. Cuộc sống chuyển biến tích cực dần từ năm 1994, sau khi Mỹ gỡ cấm vận và nhất là khi quan hệ ngoại giao với Mỹ trở lại bình thường từ tháng 7 năm 1995. Hơn 20 năm cho một cuộc chiến (1954-1975) với hàng triệu người chết, đất nước hoang tàn; thêm 20 năm cho dâu bể điêu tàn (1975-1995) cùng hàng chục vạn người bỏ mạng, xã hội lầm than! Bao nhiêu buồn vui, tủi hờn. Triệu người vui lẫn triệu người buồn. Những nỗi buồn không nguôi! Đúng là mệnh nước nổi trôi! Ai khóc, ai cười?

Mơ ước chấm dứt “20 năm nội chiến từng ngày” để cùng nhau “dựng lại người, dựng lại nhà”; nào có được như Mẹ Việt Nam mong đợi:

… Ta cùng lên đường đi xây lại tình thương

Lòng mẹ ta xưa kia bao la như Thái Bình Dương

Những đứa con là sông mừng hôm nay xóa hết căm hờn

Mượn phù sa đắp trên điêu tàn lòng nhân ái lên nụ hồng…

(Dựng lại nhà, dựng lại người – Trịnh Công Sơn)

Hận thù và hằn học, cao ngạo và đố kỵ “thắng-thua”, u mê và cố chấp… đã ngăn cách trăm sông con không cùng về hân hoan trong vòng ôm của biển mẹ, non nửa thế kỷ qua, và cho đến bao giờ?

Chợt nhớ lại kết thúc nội chiến Hoa Kỳ năm 1865, cũng tháng Tư, giữa đội quân thắng trận miền Bắc do tướng Grant chỉ huy và đội quân thua trận miền Nam do tướng Lee thủ lĩnh. Một cuộc đầu hàng kiêu hùng và một bên thắng cuộc quân tử, cao thượng: Ngay sau khi chiến tranh chấm dứt, hoàn toàn không có tù binh, ai về nhà đó, cùng xây dựng lại quê hương. Đẹp tuyệt! Sự hùng cường của nước Mỹ khởi nguồn từ tinh thần nhân văn và hành xử nhân bản.

Gì thì gì, cần có mơ ước và phải nuôi dưỡng ước mơ về một ngày mai tươi sáng trên đất Việt và cho dân Việt. Cái đúng, cái đạo nghĩa, cái cao đẹp, cái chân lý rồi sẽ lên ngôi, dù rằng muộn!

… Hãy chúc ngày mai sáng trời tự do

Nước non thanh bình, muôn người hạnh phúc chan hòa…

(Ly rượu mừng, Phạm Đình Chương)

* Trường Lasan Taberd nay là trường chuyên Trần Đại Nghĩa; cổng chính 53 Nguyễn Du hướng ra Nhà Thờ Đức Bà, cổng sau đường Gia Long (nay là Lý Tự Trọng), bên hông là đường Hai Bà Trưng.   

MÌNH HẸN NHAU NHÁ BẠN.

 Kimtrong Lam SONG NHƯ LVC

MÌNH HẸN NHAU NHÁ BẠN.

Mai tôi về bạn bè ơi gặp lại

Nhìn lấy nhau xem mất còn những ai

Khi dịch đến mấy năm rồi không gặp

Đời buồn tênh đầy ắp chuyện bi hài…

Cà phê quán xưa kia mình hò hẹn

Vẫn vậy thôi chiếc ghế ngồi đã quen

Khói thuốc loang quyện vào thành kỷ niệm

Lời cho nhau bất kể chuyện sang hèn…

Hết tăng một tăng hai còn chờ đợi

Già bứt gân nên phải cố mà chơi

Mai mốt chết sẽ không còn hối tiếc

Bia bọt đầy nốc cạn tình chơi vơi…

Thương nhớ lắm bạn bè xưa rất cũ

Đời không dài cũng có lúc vào thu

Như chiếc lá lìa cành về nguồn cội

Cuộc hành trình hứa hẹn chuyến xa du…

Liverpool.11-4-2022.

Song Như.

Vladimir Putin và Viktor Orban

Vladimir Putin và Viktor Orban

11/04/2022

Viktor Orban chịu khuất phục Vladimir Putin cũng dễ hiểu; giống như học trò phục thầy.

Khi nào dân Nga, dân Hungary được thi hành các quyền đó, các ông Vladimir Putin và Viktor Orban sẽ hết chỗ.

Nói những điều dối trá trắng trợn là cố ý sỉ nhục người nghe. Đó cũng là một cách thử thách xem người kia đã chịu khuất phục mình hay chưa. Sử Ký Tư Mã Thiên, Tần Thủy Hoàng bản kỷ, kể chuyện “chỉ lộc vi mã.” Thời Trần Nhị Thế, Thừa tướng Triệu Cao nói muốn dâng vua con ngựa, nhưng sai đem đến một con hươu. Ông vua lắc đầu, bảo con ngựa làm gì có sừng! Triệu Cao chỉ con hươu hỏi các đại thần; nhiều người công nhận đó chính là một con ngựa. Nhị Thế chịu thua.

Thứ Tư tuần trước, Tổng thống Nga Vladimir Putin gọi điện thoại chúc mừng Tổng thống Hungary Viktor Orban, mới thắng cử lần nữa. Theo báo The Moscow Times, trong cuộc điện đàm ông Putin đã tố cáo chính phủ Ukraine gây hấn một cách “thô bạo và trâng tráo” bằng cách bịa đặt ra hình ảnh những xác chết ở Bucha sau khi quân Nga rút đi.

Không ai có thể “bịa đặt” được hai hố chôn tập thể với 320 thi hài đã sình thối rải rác trên đường trong một hai ngày sau khi quân Ukraine chiếm lại được Bucha. Phóng viên báo The Economist kể sau khi đi một vòng kiểm chứng trở về quần áo còn thấy mùi.

The Moscow Times không cho biết ông Orban phản ứng thế nào khi nghe ông Putin nói dối trắng trợn. Có lẽ ông Orban không phản đối, như mấy ông quan Tần nghe Triệu Cao “chỉ hươu nói ngựa.”

Viktor Orban chịu khuất phục Vladimir Putin cũng dễ hiểu; giống như học trò phục thầy. Orban làm tổng thống Hungary 10 năm sau khi Putin lên ngôi ở Nga; đã học được ông thầy các mánh khóe củng cố địa vị độc tài. Orban học được đủ các ngón nghề. Nắm lấy các cơ sở truyền thông công và tư để kiểm soát dư luận. Các đại gia chịu làm tay sai được thả cho làm giàu, trúng những mối thầu lớn; rồi mua hết các báo, đài lớn của tư nhân. Từ đó nói cùng một luận điệu như các báo, đài chính phủ. Dối trá, vu cáo, dựng lên những mối đe dọa từ bên ngoài khiến dân sợ hãi cầu mong một lãnh tụ anh minh đứng ra cứu nước. Thay đổi hiến pháp và luật bầu cử để bảo đảm phe đảng của mình chiếm được nhiều ghế nhất trong quốc hội. Trấn áp những người đối lập để ngoài mình ra dân không còn thấy ai để lựa chọn. Dùng tài sản quốc gia để ban phát ân huệ.

Trước ngày bỏ phiếu ông Orban đã gia tăng trợ cấp cho người già về hưu. Ông ra lệnh cấm tăng giá thực phẩm và thuốc men, cắt thuế cho những người lợi tức thấp, chuyện lạm phát đang tăng lên 8.3% và ngân sách khiếm hụt sẽ tính sau. Ông đe dọa dân chúng rằng nếu phe đối lập thắng họ sẽ kết thân với Cộng Đồng Âu châu hơn, sẽ ủng hộ Ukraine mạnh hơn. Nếu muốn Hungary không bị lôi cuốn vào chiến tranh thì hãy bỏ phiếu cho đảng Fidesz!

Những biện pháp mua chuộc lòng dân và các lời đe dọa đó giúp Fidesz thêm phiếu, nhưng Viktor Orban đã tin chắc sẽ thắng vì trong các năm qua đã dùng nhiều thủ đoạn tinh vi để thao túng các cuộc bầu cử. Đảng đã Fidesz được 53% số phiếu, nhưng chiếm 135 ghế, hai phần ba số ghế trong quốc hội, phần lớn nhờ những đơn vị ở nông thôn! Phe đối lập chiếm 35% nhưng chỉ được 56 ghế. Các luật lệ về bầu cử được ban hành trong 10 năm qua giúp Fidesz chiếm địa vị này.

Trước ngày bầu cử, nhật báo The New York Times kể chuyện ở trong ngôi làng Kispalad nhỏ bé, nằm phía Đông Bắc, giáp giới Ukraine. Năm 2014, ông xã trưởng thuộc đảng Fidesz đang lo bị thất cử. Ông mời bà Jozsefne Sanko đến nói chuyện. Bà chuyên nghề hái dưa, khi có việc làm, khi không. Ông xã trưởng nói với bà rằng xã có thể sắp xếp để cả gia đình bà có việc làm chắc chắn. Ông chỉ yêu cầu bà ký tên xác nhận 135 người đang sống trong nhà bà, họ sẽ là cử tri, có quyền bỏ phiếu. Những người đó là dân Ukraine, không sao. Con trai bà, Adam Sanko, nói với nhà báo, “Ở đây không có việc làm. Cho nên mẹ tôi đã chịu ký những tờ giấy chứng nhận đó.”

Đến ngày bỏ phiếu, các “cử tri” đã qua bỏ phiếu vì họ có địa chỉ ở Hungary. Họ đi bằng xe hơi, xe đạp hay xe buýt, bỏ phiếu xong lại về nước. Phương pháp dùng “cử tri du khách” này rất thịnh hành ở các vùng quê Hungary.

Trước ngày dân Hungary bỏ phiếu lãnh tụ đối lập Peter Mari-Zay đã được đảng Xanh, đảng Xã hội, đảng Thiên Chúa Giáo Bảo Thủ, tất cả sáu đảng ủng hộ. Nhưng ông Mari-Zay chỉ được lên truyền hình công cộng vận động dân chúng một lần duy nhất, trong 5 phút! Còn đảng cầm quyền thì được đề cao quanh năm suốt tháng. Ông mỉa mai nói cám ơn chính phủ, trong bốn năm trời, đã cho phép ông được nói 5 phút.

Bà Klara Dobrev, một đại biểu của Hungary trong quốc hội Âu châu tố cáo: “Gian lận bầu cử không phải chỉ bắt đầu lúc 7 giờ sáng khi phòng phiếu mở cửa. Nó đã diễn ra từ bao nhiêu năm rồi!” Các báo, đài công cộng do tiền thuế của người dân nuôi dưỡng chứ không phải tiền của đảng Fidesz. Bà Dobrev lên án: “Sử dụng tài nguyên chung của quốc gia để tuyên truyền cho một đảng chính trị là cái gì? Rõ ràng là gian lận bầu cử.”

Những lãnh tụ độc tài kiểu Vladimir Putin và Viktor Orban coi tài sản quốc gia như của riêng mình. Họ ban phát ân huệ cho phe đảng bằng các chức vụ trong các doanh nghiệp nhà nước. Họ ưu đãi cho đàn em khai thác tài nguyên quốc gia, rừng, biển, quặng mỏ. Họ dùng tất cả các cơ quan truyền thông nhà nước để quảng cáo cho chính mình và đảng mình. Mỗi chế độ độc tài đều là một “chế độ ăn cướp.”

Tại sao những quốc gia đã có các hiến pháp dân chủ có thể đưa các thủ lãnh độc tài lên như vậy? Chúng ta không quên rằng nước Pháp đã thiết lập chế độ dân chủ nhiều lần trong lịch sử, rồi quay trở lại vương chế, có lúc còn suy tôn một hoàng đế mang tên Napoleon, hai lần. Adolf Hitler lần đầu lên cầm quyền cũng vì được dân Đức bầu dưới chế độ Cộng Hòa. Napoleon và Hitler còn mất công sửa đổi bản hiến pháp trước khi cai trị chuyên chế. Nhiều tay lãnh tụ khác không mất thời giờ như vậy. Họ củng cố địa vị độc tài bằng cách thao túng chế độ trong khuôn khổ của bản hiến pháp.

Cần phải phân biệt hai khái niệm Dân Chủ và Tự Do. Thể chế Dân Chủ chỉ là một cái khung nhà, cái vỏ bọc bên ngoài. Nội dung căn bản là Tự Do. Khi nào một chính quyền bắt đầu cấm đoán quyền tự do của người dân, tất cả phải thấy đó là một dấu hiệu báo động. Vladimir Putin và Viktor Orban đã gậm nhấm dần dần các quyền tự do của dân Nga và dân Hungary từ khi lên nắm quyền. Hai quyền quan trọng nhất là tự do báo chí và tự do hội họp.

Bắt bỏ tù một nhà báo, các nhà chính trị đối lập. Triệt hạ một đài truyền hình bằng cách gây khó khăn cho công ty chủ nhân trong các hoạt động kinh doanh khác; để sau cùng thương lượng cho phe đảng mình mua lại. Đàn áp các cuộc biểu tình. Ngăn cản các hội đoàn trong xã hội công dân. Đó đều là những tiếng chuông báo nguy.

Mất tự do thì không còn dân chủ. Vậy trong khuôn khổ ngôi nhà hiến pháp dân chủ, cái gì có thể giúp bảo vệ các quyền tự do? Thể thức phân quyền có thể vẽ ra coi rất đẹp, nhưng chưa đủ. Các lãnh tụ độc tài biết cách thao túng cả ba ngành hành pháp, lập pháp, và tư pháp.

Yếu tố quan trọng nhất trong các bản hiến pháp dân chủ không phải chỉ là phân quyền mà là đặt ra các định chế nhằm giới hạn quyền hành của những chức vụ nắm quyền. Giới hạn bằng luật pháp chưa đủ, còn phải giới hạn bằng dư luận và phản ứng của người dân nữa. Do đó, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp cần tôn trọng nhất. Khi nào dân Nga, dân Hungary được thi hành các quyền đó, các ông Vladimir Putin và Viktor Orban sẽ hết chỗ.

AI LÀ THỦ PHẠM TRONG CÁC VỤ HỌC SINH TỰ TỬ?

Lê Vi

AI LÀ THỦ PHẠM TRONG CÁC VỤ HỌC SINH TỰ TỬ?

Nhìn những em bé không được khen dưới đây, tôi đã từng nói, thủ phạm giết người chính là ngành giáo dục.

Ai cũng biết, trên đất nước này không phải là lần đầu diễn ra chuyện học sinh rơi vào trầm cảm và tự sát. Dự luận nhạy cảm với vấn đề này mới bàn tán xôn xao, trong khi thật ngạc nhiên, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các nhà làm Chương trình và Sách giáo khoa lại hoàn toàn vô cảm. Họ xem việc học sinh nhảy lầu, nhảy sông tự tử không liên quan đến mình. Dư luận có chửi thì có lẽ “chắc chúng trừ mình ra!”.

Mà báo chí hình như có định hướng dư luận, rằng áp lực đẩy trẻ em tự sát chính là phụ huynh, thậm chí đẩy lỗi cho trẻ em dại dột, có cô giáo còn quy tội những em bé đã chết đó là bất hiếu với mẹ cha, đáng bị hành hình dưới địa ngục, như Phật giáo Bắc tông mô tả.

Cứ tình hình này, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các nhà làm Chương trình và Sách giáo khoa an tâm và hứng thú với các cuộc cải cách giáo dục liên miên tiêu tốn số tiền ngàn tỉ, còn trẻ em thì “sống chết mặc bay”!

Họ nói, áp lực là tất yếu. Không áp lực thì học sinh sao chịu học? Và áp lực cũng là thử thách để trẻ em trưởng thành. Họ không nghĩ áp lực đẩy người ta vào cái chết là tội ác. Một em bé bị một chương trình và sách giáo khoa vượt tiềm năng của nó đè lên cả tuổi thơ của nó, khác gì bắt nó vác một tảng đá gấp trăm lần sức chịu đựng của nó, nó không bị đè bẹp bởi cái tảng đá đó mới là lạ. Ở lần trước, trong một bài viết về em sinh viên năm nhất nhảy sông, tôi bảo cứ nhìn vào 5 phẩm chất, 10 năng lực chuyên môn cốt lõi mà ông Nguyễn Minh Thuyết và cộng sự đưa ra biến trẻ em thành nhà chính trị, nhà đạo đức mẫu mực, chuyên môn gì cũng biết, tôi cũng muốn tự sát huống hồ là trẻ con. Mách cho các nhà giáo dục Việt Nam biết, những nền giáo dục tiên tiến xem thử thách trong trường học giống như thử thách trong trò chơi, trẻ em vượt qua thử thách một cách hứng thú chứ không có chuyện gây áp lực cho trẻ loạn não, trầm cảm và hết muốn sống như Việt Nam.

Phụ huynh vì kì vọng con em mình, vì bệnh thành tích ư? Vậy 5 phẩm chất, 10 năng lực chuyên môn là kì vọng của ai? Ai là kẻ đòi 90 đến 100% trẻ phải giỏi đều các môn mới có tấm bằng vào đời? Con ác quỷ nào đã kì vọng và đặt ra tiêu chuẩn và chỉ tiêu đó để phụ huynh gây áp lực lên con trẻ? Tôi khẳng định, trong hoàn cảnh như giáo dục hiện nay, không ai gây áp lực trực tiếp lên con trẻ thì chính con trẻ cũng tự thấy bị áp lực nặng nề.

Tôi cứ nhìn vào hình ảnh các thầy cô khoe sau những buổi lễ tổng kết năm học, nếu là các em bé không có giấy khen, tôi cũng đã hết muốn sống!

Thời tôi đi học, mỗi lớp được khen chỉ có 3 bạn theo xếp hạng: Nhất, Nhì, Ba. Số còn lại không được khen là số đông, sẽ nhìn gương ba bạn kia mà có động lực phấn đấu. Không được khen sẽ không tự kỉ mà tự hào về bạn và phấn đấu bằng bạn. Nhưng từ sau những cuộc cải cách, giáo dục Việt Nam đã lộn ngược, gần như cả lớp được khen, còn lại một vài bạn không được khen. Một thiểu số bị coi thường, bị mắng nhiếc, nếu không thì thiểu số đó cũng tự thấy nhục mà hết muốn sống.

Một em tự sát đã tạo hiệu ứng nhiều em tự sát theo, kể cả đó là học sinh giỏi, từng được khen. Vì những học sinh giỏi đó, sau những áp lực học hành thi cử để có thành tích, đến lúc tự thấy cuộc đời của chúng vô nghĩa vì không biết học để làm gì, để sống cho ai.

Phải chăng Bộ Giáo dục và Đào tạo, những nhà cải cách như Nguyễn Minh Thuyết, Đỗ Ngọc Thống cho rằng, số lượng học sinh tự sát chỉ là thiểu số trong hàng chục triệu trẻ em Việt Nam, tức là không đáng kể, không đáng để quan tâm?

Có người nói, trẻ em tự tìm đường chết như vậy là chết vô nghĩa. Tôi thì cho rằng, không có gì là vô nghĩa cả, nhất là cái chết, càng có ý nghĩa. Nó thức tỉnh lương tri của các bậc phụ huynh, các nhà giáo, và đến lúc cần thiết phải lên tiếng mạnh mẽ đòi Bộ Giáo dục và Đào tạo phải giảm tải Chương trình và Sách giáo khoa cho trẻ em. Học là niềm vui, hứng thú chứ không phải học để làm miếng mồi cho đám cá mập buôn máu có tên là nhà giáo.

Chu Mộng Long

NGƯỜI TRỘM LÀNH, ANH LÀ AI?

Make Christianity Great As Always

NGƯỜI TRỘM LÀNH, ANH LÀ AI?

Khi đọc các trình thuật Tin Mừng về Cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu, không ít người đã xuýt xoa hay thậm chí là ghen tị với số phận của “người trộm lành”: cả đời ngập trong tội lỗi, lại đen đủi để bị bắt và xử tử, vậy mà trong chính những phút cuối cùng của cuộc đời lại được cho vào Thiên Đàng. Thế nhưng, câu chuyện về người trộm lành mà các thánh sử kể lại cho chúng ta có đơn giản và hiển nhiên như vậy không? Thật ra, anh ta là ai? đã làm gì? câu chuyện về anh đã được đưa vào các bản văn Tin Mừng như thế nào? và nhất là, cuộc đối thoại giữa anh và Chúa Giêsu dạy cho chúng ta điều gì? Ta hãy cùng nhau đi vào các bản văn Kinh Thánh để thử tìm hiểu về những vấn nạn thú vị này…

1.THẾ LÀ ĐÃ ỨNG NGHIỆM

Khoảng 700 năm trước Chúa Giáng Sinh, được Thần Khí thúc đẩy, ngôn sứ Isaia đã tuyên sấm những lời được ghi lại trong bản văn thường được biết đến như là Bài ca Thứ Tư về Người Tôi Trung sau đây:

“Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội,

bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm;

người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an,

đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành…

Người đã bị chôn cất giữa BỌN ÁC ÔN

bị mai táng với người giàu có, dù đã chẳng làm chi tàn bạo

và miệng không hề nói chuyện điêu ngoa” (Is 53, 5.9).

Để rồi tám thế kỉ sau đó, sách Tin Mừng được viết đầu tiên vào khoảng năm 65 của thánh Marcô và sách Tin Mừng được viết thứ hai vào khoảng năm 80 của thánh Matthêu đã tường thuật lại cho chúng ta khung cảnh cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu trên đồi Golgotha:

“Bên cạnh Người, chúng còn đóng đinh HAI TÊN CƯỚP, một đứa bên phải, một đứa bên trái. Thế là ứng nghiệm lời Kinh Thánh: Người bị liệt vào hạng những tên phạm pháp” (Mc 15, 27-28).

“Cùng bị đóng đinh với Người, có HAI TÊN CƯỚP, một tên bên phải, một tên bên trái” (Mt 27, 38).

Đối chiếu các bản văn, ta có thể thấy là lời tuyên sấm của ngôn sứ Isaia về Người Tôi Trung “bị chôn cất (chịu chết) giữa bọn ác ôn” dường đã được ứng nghiệm trong cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu? Dựa và những phân tích của Đức Nguyên Giáo Hoàng Benedict XVI trong cuốn Đức Giêsu thành Nazareth (tập 2) về trình thuật Cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu, chúng ta hãy thử tìm hiểu sâu hơn về việc “bọn ác ôn” theo lời Isaia cụ thể là những ai, và “hai tên cướp” theo trình thuật của các thánh sử có nhân thân chính xác là như thế nào.

2.QUANH CON THÚ DỮ BỦA VÂY (x. Tv 22, 13)

Chúng ta hãy cùng đọc lại bản trình thuật của Mt:

“Kẻ qua người lại đều nhục mạ Người, vừa lắc đầu vừa nói: “Mi là kẻ phá được Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, hãy cứu lấy mình đi! Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào! ” Các thượng tế, kinh sư và kỳ mục cũng chế giễu Người mà nói: “Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình. Hắn là Vua Ít-ra-en! Hắn cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, chúng ta tin hắn liền! Hắn cậy vào Thiên Chúa, thì bây giờ Người cứu hắn đi, nếu quả thật Người thương hắn! Vì hắn đã nói: “Ta là Con Thiên Chúa! ” Cả những tên cướp cùng bị đóng đinh với Người cũng sỉ vả Người như thế” (Mt 27, 35-44).

Quan sát bản văn của Mt, ta thấy có ba nhóm người đã cất tiếng chế nhạo Chúa Giêsu khi Ngài bị treo trên cây Thập Giá. Thứ nhất là những ‘kẻ qua người lại’, tức là những người đi đường. Họ nhại lại những lời Chúa đã từng nói về Đền Thờ: “Ê, mi là kẻ phá Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, có giỏi thì xuống khỏi thập giá mà cứu mình đi!” (Mc 15, 29-30). Những người nhục mạ Chúa muốn cho Người thấm thía đến độ cay đắng về sự dường như bất lực trên Thập Giá của Người, nó đã cho thấy cái tâm lý “đổ lỗi cho nạn nhân” khá dễ có của người đời đối với những kẻ sa cơ lỡ vận. Hành động của họ đồng thời cũng làm gợi nhớ lại cơn cám dỗ của ma quỷ năm xưa: ‘Hãy sử dụng quyền năng của ông đi, hãy cứu lấy mình đi, hãy dùng tới bạo lực đi’.

Nhóm chế nhạo thứ hai là những người đã đi theo ra từ dinh tổng trấn Philatô và đứng trên đồi Golgotha trong suốt buổi hành hình, mà theo Mc là gồm các thượng tế và kinh sư, tức là các thành viên của hội đồng Sanhedrin; Mt thêm ‘các kỳ mục’ (Mt 27, 41) còn Tin Mừng theo thánh Luca (Lc), Tin Mừng thứ ba, được viết vào khoảng năm 90, bổ sung cả ‘lính tráng’ (Lc 23, 36) vào nhóm này. Và hoá ra, những lời bọn họ đã buông ra trong chiều ngày hôm đó lại ứng với những lời đã được viết ra khoảng 150 năm trước đó trong sách Khôn Ngoan:

“Nếu tên công chính là con Thiên Chúa,

hẳn Người sẽ phù hộ và cứu nó khỏi tay địch thù.

Ta hãy hạ nhục và tra tấn nó,

để biết nó hiền hoà làm sao,

và thử xem nó nhẫn nhục đến mức nào” (Kn 2, 12-13.17-20).

Dù chính những người chế nhạo không ý thức được, nhưng bằng những lời độc địa nhắm vào Chúa Giêsu, quả thực họ đã làm cho ứng nghiệm những lời được viết ra trong sách Khôn Ngoan, qua đó xác nhận Chúa Giêsu chính là Người Công Chính được Cựu Ước nói đến. Như vậy, chính ngay trong lúc hoàn toàn bất lực, Chúa Giêsu đã tự mạc khải Người chính là Con đích thực của Thiên Chúa, chính ngay trong lúc chịu nhạo báng, mà bản tính Thần Linh Tối Cao của Người được xác nhận. Và cũng như Người đã không bị cám dỗ nhảy từ trên nóc Đền Thờ xuống đất như ma quỷ thách thức, giờ đây, Người cũng dửng dưng trước cám dỗ vì Người biết rõ là Thiên Chúa sẽ cứu Người, nhưng với một cách khác hẳn loài người có thể tưởng tượng.

Tiếp tục với nhóm người chế giễu thứ ba, ta có thể thấy họ trong cả ba bản văn Mc, Mt, và Lc (tuy nhiên ở Lc có một khác biệt khá quan trọng mà ta sẽ phân tích sau). Họ là những người cùng bị đóng đinh với Chúa Giêsu, những người mà Lc gọi là “gian phi”, còn Mt và Mc gọi là “kẻ cướp”, cùng một từ mà Tin Mừng theo thánh Gioan, Tin Mừng được viết muộn nhất, vào quãng năm 100, dùng để gọi Barabas; còn chính Ga thì chỉ nói về họ là “hai người khác nữa” (Ga 19, 18). Bản văn của Ga không hề đề cập gì đến lời nói hay hành động của hai người này, nhưng bản văn của Mc và Mt cho thấy hai tên cướp đã “nhục mạ” (Mc 15, 32) và “sỉ vả” (Mt 27, 44) Chúa Giêsu. Như vậy, với việc các thánh sử đều nhất trí tường thuật lại rằng Chúa Giêsu đã bị rất nhiều người khiêu khích, nhạo báng và sỉ vả cách độc địa trong những giờ phút cuối cùng, quả thực đã ứng nghiệm sấm ngôn của ngôn sứ Isaia về việc Người Tôi Trung phải chịu cảnh “bị chôn cất (chịu chết) giữa bọn ác ôn”.

Thế nhưng, về hai tên cướp cùng chịu đóng đinh với Chúa Giêsu, các thánh sử thật ra đã không đưa ra những trình thuật hoàn toàn giống nhau về họ. Chúng ta hãy thử cùng nhau tìm hiểu sâu hơn về hai nhân vật này, xem họ là ai, tại sao lại xuất hiện ở đồi Gongotha, và những biểu hiện của họ khi bị treo hai bên Chúa Giêsu có thể được lý giải như thế nào?

3.NHỮNG KẺ ĐỤC NƯỚC KHUẤY TRỜI

Dựa vào danh từ “tên cướp” mà Mc và Mt dùng để gọi hai người này, ta có thể ngay lập tức cho rằng họ có thể là những tên cướp đường ác ôn thường tấn công và cướp bóc các khách bộ hành trên những con đường vắng vẻ của các miền đồi núi xung quanh Jerusalem mà Chúa Giêsu đã có lần đề cập đến trong dụ ngôn Người Samaria nhân hậu của Người. Nhưng thuật ngữ “tên cướp”, trong hoàn cảnh chính trị ngày xưa ở xứ Palestine, có thể mang thêm một ý nghĩa đặc biệt khác, tương đương với một chiến sĩ cách mạng, tức muốn chỉ về thành viên của nhóm Zelot. Theo hướng nghĩa này, hoàn toàn có thể cho là hai người này là đồng bọn với Barabas, được Ga gọi là “tên cướp”, đã tham gia vào một cuộc nổi dậy (Mc 15, 7) và bị tố cáo là đã giết người (Lc 23, 19), và thường được các nhà chú giải đồng tình xem như là một Zelot. Không thấy các Tin Mừng nói gì về một cuộc xử khác diễn ra cùng ngày ở dinh tổng trấn, nên có thể là hai người này đã bị bắt và tuyên án tử hình trước đó ít lâu, và rất có thể là cùng một lần với Barabas, nhưng được giam giữ để thi hành án vào ngày áp lễ Vượt Qua, thời điểm mà người Do Thái hành hương về Jerusalem để dự lễ, như một động thái răn đe và khủng bố mà chính quyền chiếm đóng Rome dành cho cư dân bản địa.

Nếu quả thực hai người này là những Zelot và cùng một toán với Barabas, sẽ khá hợp lý để giải thích cho việc tại sao họ lại tỏ ra giận dữ và hùa theo đám đông trên đồi Golgotha để nhục mạ và sỉ vả Chúa Giêsu. Bởi lẽ, dù không liên quan gì, nhưng để ép tổng trấn Philatô tuyên án tử hình, các thành viên Sanhedrin đã cố khoác vào Chúa Giêsu cái tội danh chính trị là Người đã “sách động dân tộc chúng tôi, và ngăn cản dân chúng nộp thuế cho hoàng đế Xê-da, lại còn xưng mình là Mê-si-a, là Vua nữa” (Lc 23, 2), rồi sau đó lại ép Pilatus thả Barabas để đem Chúa Giêsu xử tử thế vào. Như ta có thể suy ra, nếu không phải là hai tên cướp đường bình thường mà lại là hai chiến sĩ nổi dậy chống lại ách đô hộ Rome, họ có thể tự xem mình như những anh hùng dân tộc, và buổi hành hình ngày áp lễ Vượt Qua trước toàn thể dân chúng đó là ngày mà sự nghiệp của họ đạt tới đỉnh cao “không thành công thì cũng thành nhân”. Thế nên, khi thấy thay cho vị thủ lĩnh Barabas, giờ đây họ lại bị chết treo hai bên cái ông Giêsu này, người mà có thể họ đã nghe phong thanh là đã thực sự bị kết án vì những lý do không liên quan gì tới chính trị, hẳn nhiên là họ sẽ thấy phẫn nộ. Đã vậy, tổng trấn Philatô lại còn đổ thêm dầu vào lửa khi cho treo trên đầu Chúa Giêsu tấm bảng viết dòng chữ “Giê-su Na-da-rét, Vua dân Do-thái” (Ga 19, 19), điều khiến cho họ cảm thấy như mình đã bị chơi xỏ: vinh quang mà họ chấp nhận đổi bằng xương máu đang bị người ta đem ra làm nhục.

Ta có thể đẩy suy đoán của mình tới bước cuối cùng, là dù không liên quan gì cũng không thù ghét gì với Chúa Giêsu trước đó, nhưng giận cá chém thớt, hai người họ đã quay qua đổ lên đầu Người những đắng cay và giận dữ chất chứa trong lòng họ. Và có lẽ vì không biết gì mấy về Người trước đó, họ đã cứ thế lặp lại những lời chế nhạo và chửi rủa mà họ đã nghe được từ các thành viên Sanhedrin và những người qua đường. Quang cảnh ngày hôm đó ở đồi Golgotha cho thấy quả thực sự dữ có thể lan nhanh như một đám cháy rừng, nhất là nếu như khu rừng đó thường ngày đã bị làm cho khô cằn bởi nông cạn và nhỏ nhen, bởi đố kỵ và thù ghét, bởi bạo lực và cuồng nộ.

4.KẺ BÊN TẢ THEO ĐÀNG TẢ, KẺ BÊN HỮU THEO ĐÀNG HỮU

Đến đây, chắc hẳn một câu hỏi đã trồi lên, thậm chí là chọc vào tâm trí người đọc: vậy thì người trộm lành quen thuộc ở đâu? Đây, anh ấy ở đây. Trong bốn sách Tin Mừng, Lc là Tin Mừng duy nhất kể về một người trộm lành được treo bên phải Chúa Giêsu trong cái ngày bi thương trên đồi Golgotha năm ấy. Chúng ta hãy cùng nhau đọc lại xem thánh nhân đã viết những gì:

“Có hai tên gian phi cũng bị điệu đi hành quyết cùng với Người. Khi đến nơi gọi là “Đồi Sọ”, họ đóng đinh Người vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian phi, một tên bên phải, một tên bên trái… Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người: “Ông không phải là Đấng Ki-tô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với! ” Nhưng tên kia mắng nó: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái! ” Rồi anh ta thưa với Đức Giê-su: “Ông Giê-su ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi! ” Và Người nói với anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23, 32-33. 39-43).

Như vậy, theo thánh Luca, không phải cả hai người cùng chịu đóng đinh với Chúa Giêsu đều chế nhạo Người, mà một trong hai người dường như đã nhận thức được mầu nhiệm trong người đang cùng chịu hành hình với mình. Anh đã nhìn, đã nghe và nhận ra rằng loại tội mà Người bị kết án thật khác biệt. Có lẽ anh còn nhận ra gương mặt Thiên Chúa nơi người đang cùng chịu đóng đinh với anh. Anh là người duy nhất trong bốn Tin Mừng đã gọi đích danh Chúa Giêsu: “Ông Giê-su ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi! ” (Lc 23, 42). Trên thập giá, anh đã hiểu được, chính con người không có bất cứ quyền lực nào này lại là Vua đích thực, là Đấng mà Israel mong đợi, và anh ao ước từ việc bị treo cùng Người trên đồi Golgotha, anh sẽ được ở cùng Người trong vinh quang.

Câu trả lời của Chúa Giêsu dành cho anh vượt quá xa lời cầu xin của anh. Thay vì hứa hẹn với anh một giao ước vu vơ sẽ được thực hiện trong một tương lai bất định nào đó, như cách mà các chính trị gia thường đưa ra cho đám đông dân chúng, Người đã nói với anh: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23, 43). Theo Đức Nguyên Giáo hoàng Biển Đức XVI, “câu nói này mang đầy bí nhiệm, nhưng giúp chúng ta thấy một điều chắc chắn: Chúa Giêsu biết rõ, Người sẽ trực tiếp đi vào trong sự hiệp thông với Cha, nên Người có thể hứa ‘Thiên Đàng’ ngay ‘hôm nay. Người biết Người sẽ lại dẫn con người vào vườn địa đàng, nơi mà họ đã bị đuổi ra ngoài, nhưng từ nay, trong sự hiệp thông với Thiên Chúa, con người sẽ tìm được ơn cứu độ đích thực”.

Vậy, điều gì đã khiến thánh Luca đưa trình thuật về người trộm lành vào bản văn Tin Mừng của ngài? Việc cho rằng có một tên trộm lành đã được Thiên Chúa thương xót có khiến Lc mâu thuẫn với hai bản văn Mt và Mc? Trình thuật về tên Trộm Lành liệu có phải là một sáng tác văn chương của riêng Lc không? Ta hãy cùng nhau thử suy luận một chút về vấn đề này.

5.CÁC LỜI CHỨNG BỔ KHUYẾT CHO NHAU

Chìa khóa để giải vấn nạn xem ra khó hiểu này, hóa ra có thể lại nằm ở trình thuật cuộc Khổ Nạn của Tim Mừng thứ tư. Chúng ta hãy cùng nhau lắng nghe thánh Gioan kể lại:

“Chính Người vác lấy thập giá đi ra, đến nơi gọi là Cái Sọ, tiếng Híp-ri là Gôn-gô-tha; tại đó, họ đóng đinh Người vào thập giá, đồng thời cũng đóng đinh hai người khác nữa, mỗi người một bên, còn Đức Giê-su thì ở giữa… Đứng gần thập giá Đức Giê-su, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà Ma-ri-a Mác-đa-la” (Ga 19, 17-18.25).

Như vậy, khác với hai trình thuật ở Mc 15, 40 và Mt 27, 55-56, trong đó Maria Magdalena và một vài phụ nữ được nêu đích danh khác chỉ ”đứng nhìn từ đằng xa”, Ga lại ghi nhận là Maria Magdalena, Maria vợ ông Cleopad, Đức Maria mẹ Chúa Giêsu và người môn đệ Chúa yêu, có thể là chính thánh Gioan, đã tiến sát tới ngay dưới chân Thánh Giá để nghe những lời trăn trối cuối cùng của Chúa Giêsu. Điều này có giá trị gì đây? Ta biết rằng đa số các nhà chú giải đều cho là hai chương 1 và 2 của Lc, những chương chứa đựng những trình thuật duy nhất trong bốn Tin Mừng về biến cố Truyền Tin và những kỉ niệm thơ ấu của Chúa Giêsu, đến từ một nguồn riêng, mà rất có thể là những trao đổi cá nhân của thánh Luca với Đức Maria. Vậy thì từ đó, ta cũng có thể suy luận khá hợp lý rằng câu chuyện về người trộm lành của Lc cũng đã đến từ nguồn của Đức Maria. Có thể Mẹ đã đứng kề bên Thánh Giá, và đã nghe được những lời đối thoại thân thương giữa Chúa Giêsu và người trộm lành, rồi thuật lại cho thánh Luca để ngài đưa câu chuyện này vào trong Tin Mừng thứ ba.

Đến đây, sau khi đã đối chiếu bốn bản văn Tin Mừng về hai người tử tội bị treo hai bên Chúa Giêsu trong chiều Golgotha năm ấy, ta có thể lờ mờ nhận ra cái đặc tính “thống nhất trong khác biệt” của các bản văn Tin Mừng: có những chuyện có ở đây mà không có ở kia, có những chuyện sai khác chút ít giữa các bản văn, và có những trình thuật xem ra như mâu thuẫn với nhau. Giải thích thế nào đây? Học giả hàng đầu về Kinh Thánh là Rudolf Schnackenburg cho rằng: “Các tác giả Tin Mừng không dùng những truyền thống riêng lẻ để ghép lại bức chân dung của Đức Giêsu chung với nhau. Đúng hơn, họ đã bắt đầu với một bức chân dung chung của Đức Giêsu và kết nhập những câu chuyện riêng lẻ như những minh họa đức tin của họ. Họ không muốn tạo ra một bức tranh khảm, nhưng phát họa một bức chân dung có tính tổng thể, trong đó lời nói, những phép lạ, những hoạt động công khai và những chỉ thị cho các môn đệ của Đức Giêsu chảy chung với nhau vào trong một tổng thể hiệp nhất. Bức chân dung đó cho ta một cái nhìn vào trong mầu nhiệm cá nhân của Đức Giêsu, dĩ nhiên là một Đấng mà bản thể Ngài là vô phương dò thấu, chỉ được mạc khải như một mầu nhiệm và chợt nắm bắt bởi đức tin.”

Như vậy, chúng ta đã cùng nhau tìm hiểu đôi nét về người trộm lành qua các trình thuật của bốn thánh sử, nhưng để cho việc tìm hiểu của ta được trọn vẹn, ta đừng chỉ dừng lại ở việc xác thực thân thế của người trộm lành mà hãy cùng nhau suy ngẫm thêm về hành động và lời nói của ông khi bị treo bên cạnh Chúa Giêsu. Nó là một sự kiện ngẫu nhiên và nhỏ nhặt hay là một biến cố nằm trong sự quan phòng của Thiên Chúa?

6.MỘT CHỨNG NHÂN CHO LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA

Về người Trộm Lành, khi phân tích các dụ ngôn trong Lc như ‘Người Samaria nhân hậu’ (Lc 10, 29-37), ‘Người cha nhân hậu’ (Lc 15, 11-32), ‘Người Pharisêu và người thu thuế lên Đền Thờ’ (Lc 18, 9-14), một vài người đã muốn xem anh như là bằng chứng xác nhận về Lòng Thương Xót bao la đến độ gần như vô lý của Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã mạc khải qua các dụ ngôn. Nhưng ngoài điều đó ra, anh còn là điều gì khác nữa không? Dựa vào các bản văn Kinh Thánh, ta sẽ thấy, hóa ra người Trộm Lành còn là kết quả ứng nghiệm lời tiên báo của chính Chúa Giêsu và một số bản văn ngôn sứ khác trong Cựu Ước.

Như ta đã biết, thánh nữ Maria Magdalena, người được Chúa Giêsu trừ cho bảy quỷ, đã được Mc, Mt và Ga nên đích danh trong số những chứng nhân cho cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu, cũng chính bà đã được cả bốn tác giả Tin Mừng đồng thanh tuyên bố là người đầu tiên chứng kiến biến cố Ngôi Mộ Trống và loan báo tin mừng Chúa Phục Sinh. Chính thánh nữ, liên kết với ơn cứu độ của người Trộm Lành, đã làm cho ứng nghiệm lời tiên báo trước đó của Chúa Giêsu phán với các thượng tế và kỳ mục khi Người giảng dạy trong Đền Thờ: “Tôi bảo thật các ông: những người tội lỗi (thu thuế) và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông” (Mt 21, 31).

Cũng như vậy, trong các bản văn Cựu Ước, bên cạnh các đoạn cho thấy sự công thẳng và nghiêm minh của Thiên Chúa, cũng có những đoạn cho thấy Lòng Thương Xót vô bờ bến của Người, như đoạn trích trong sách ngôn sứ Hôsê (viết vào khoảng năm 700BC) sau đây:

“Chẳng lẽ Ta lại vui thích vì kẻ gian ác phải chết,

Ta lại không muốn cho nó từ bỏ đường lối của nó mà được sống sao?

Quả thật, Ta không vui thích gì về cái chết của kẻ phải chết

– sấm ngôn của ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng

Vậy hãy trở lại và hãy sống” (Ed 18, 23.32).

Như đã thấy trong các sấm ngôn Cựu Ước cũng như trong những dụ ngôn và tuyên bố minh nhiên của chính Chúa Giêsu, việc người Trộm Lành nhận được Ơn Cứu Độ không phải đến từ một phút ngẫu hứng của Chúa Giêsu mà là sự chín muồi Thánh Ý ngàn đời của Chúa Cha. Hiểu thấu bài học đức tin mà trình thuật về người trộm lành mang lại, Đức Nguyên Giáo hoàng Biển Đức XVI đã tuyên bố: “Trong lịch sử đạo đức Kitô giáo, người Trộm Lành trở thành hình ảnh của hi vọng – sự an ủi chắc chắn và lòng nhân từ của Thiên Chúa có thể đến với chúng ta trong giây phút cuối cùng. Chúng ta tin chắc rằng, dù là sau một cuộc đời lầm lạc, lời cầu nguyện van xin Lòng Thương Xót nhân hậu của Thiên Chúa, sẽ không bao giờ hóa ra vô ích”.

Thực vậy, trong suốt thời gian ba năm đi rao giảng, Chúa Giêsu đã không ngừng nhắc lại rằng Thiên Chúa ban Ơn Cứu Độ như một món quà tuyệt đối cho không, Người đã đến trần gian “không phải để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mc 2,17 – Mt 9, 13 – Lc 5, 32). Để rồi, trong chính giờ phút quyết liệt nhất của đời Người, khi Người sắp lìa thế gian mà về cùng Cha, Chúa Giêsu đã chứng thực một cách rõ ràng đến độ không thể nghi ngờ gì nữa về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Với người Trộm Lành ấy, người đã nhận biết rằng mình “chịu như thế này là đáng” (Lc 23, 41) và chẳng còn biết trông cậy vào đâu ngoại trừ lòng phó thác khiêm cung mà cương quyết vào Chúa Giêsu, thì Chúa Giêsu đã phán với anh: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23, 43). Với lời phán truyền này của Ngôi Lời, thử hỏi ai còn dám nghi ngờ gì nữa về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, và ai còn dám dem công đức của mình ra khoe khoang nữa?

7.TỘI NHÂN HỠI MAU QUAY ĐẦU TRỞ LẠI (Tb 13, 8)

Ở hướng ngược lại, về phần người Trộm Lành, tôi cho rằng anh không phải là kẻ ăn may vĩ đại, vì như lời của Đức Giáo Hoàng Phanxicô: “Thiên Chúa không bao giờ chán tha thứ, chỉ có chúng ta chán xin Chúa tha thứ. Vì Ngài là Thiên Chúa, Ngài giàu Lòng Thương Xót, và vì Thương Xót là căn tính tiên quyết của Thiên Chúa. Danh Ngài là Thương Xót… Điều cần thiết là chúng ta phải xin ơn nhận ra mình là người có tội. Càng nhận thức mình đang túng quẫn, càng cảm thấy hổ thẹn và tủi nhục, chúng ta càng sớm cảm nhận được vòng ôm dịu dàng của Chúa”. Chắc hẳn, trong cuộc đời lấm lem tội lỗi của anh, không ít lần người Trộm Lành đã đau khổ về những yếu đuối và lầm lỗi của mình. Và quả thực, có lẽ chính nhờ vậy mà khi Ơn Chúa gõ cửa lòng anh, đúng lúc anh đang ngắm nhìn cảnh tượng Chúa Giêsu bị treo trên Thánh Giá, anh đã thực lòng sám hối ăn năn, và đã được nhận Ơn Cứu Độ. Vậy nên, ở điểm này, cần phải nói rõ hơn về những người nghĩ rằng họ có thể tiếp tục yên tâm sống trong nẻo đường gian tà lươn lẹo và tự nhủ rằng thế nào rồi họ cũng sẽ làm được một cú quay đầu vĩ đại như anh Trộm Lành, rằng: có thể họ chưa lường hết được sức mạnh của sự dữ và sự yếu mềm của ý chí con người đâu. Bởi lẽ, thử hỏi nếu một người không liên lỉ giục lòng ăn năn sám hối tội lỗi mình và siêng năng lãnh nhận ơn chữa lành trong Bí tích Hoà Giải, thì lấy gì để có thể dám chắc rằng người đó vào giờ phút cuối đời lại vẫn có thể dẹp bỏ sự kiêu ngạo và hư hỏng lâu năm của mình để mở miệng kêu xin lòng thương xót của Thiên Chúa, hay là họ sẽ tiếp tục đi hết con đường chai cứng của tội lỗi và sẽ mãi mãi lánh mặt Thiên Chúa?

Lạc Vũ Thái Bình

Huế, 4-2022

Thư mục tài liệu tham khảo

  1. Kinh Thánh (ấn bản 2011), Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ dịch, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2019.

2.ĐGH Benedict XVI, Đức Giêsu thành Nazareth (tập 2), Nguyễn Văn Trinh dịch, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2011.

3.ĐGH Phanxicô, Danh Ngài là Thương Xót, Thái Thuận Hoà dịch, Nxb Hồng Đức, 2016.

4.Rudolf Schnackenburg, Đức Giêsu trong các Tin Mừng, Nguyễn Luật Khoa dịch, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2009.