Tâm sự người về hưu

Van Pham

Tạo hóa tạo dựng nên muôn loài … Loài nào cũng thương yêu, chăm sóc và nuôi dưỡng con cái trưởng thành (trừ Tu Hú), rồi sau đó để chúng tự lập. Chúng vẫn tiếp tục sinh sôi nẩy nở thế hệ này tiếp diễn thế hệ khác.

Riêng con người tự ru ngủ mình bằng “tình thương con cháu” rồi ôm lấy chúng làm như không có mình chúng không khôn lớn được. Để rồi than van, kể khổ hoặc đời người chỉ biết quanh quẩn trong bốn bức tường & con với cháu?!

*****

Tâm sự người về hưu.

Ông Minh khi đi tị nạn tới Úc thì đã bốn mươi tuổi đời, cái tuổi mà theo người Âu Mỹ là cái tuổi khởi đầu cho công danh sự nghiệp nên cũng không muộn màng lắm đối với một kẻ tị nạn bắt đầu làm lại cuộc đời nơi xứ người như ông. Sau hai mươi lăm năm trời, một phần tư thế kỷ làm việc trả nợ công dân góp phần xây dựng nước Úc, ông về hưu lúc sáu mươi lăm, đúng tuổi hưu trí mà chính phủ đã quy định cho tất cả mọi người dân.

Trước ngày ông thôi việc, nhân viên làm lương tính sổ cho ông thấy ông còn dư tới 146 ngày sick leave (nghỉ bệnh) và ba tháng holiday cộng thêm long service leave (nghỉ thâm niên ba tháng) vị chi là sáu tháng. Theo lụât công đoàn, “sick leave” hằng năm không lấy thì kể như bỏ, chỉ có holiday mới được để dồn năm này qua năm nọ nghỉ chừng nào cũng được.

Vì vậy khi lãnh tiền hưu trí, ông không được lãnh khoản tiền sick leave, bạn bè tiếc hùi hụi cho ông, nói sao lúc đi làm ông không kiếm bệnh để nghỉ, bây giờ không lấy được đồng nào thiệt uổng. Ông Minh nói trời thương cho tôi không bị bệnh là có phước rồi, khi không khai bệnh lấy ngày nghỉ ở nhà chơi thấy quấy lương tâm quá, chừng nào bệnh thiệt hẳn hay. Một con người có bản tính ngay lành chân chỉ như ông vậy dĩ nhiên là không thích ăn không ngồi rồi bởi vì “nhàn cư vi” có ngày sẽ sinh “bất thiện”.

Do đó, trước khi nghỉ làm, ông cứ băn khoăn lo lắng cho thời gian sắp tới ở nhà không có việc gì làm chắc sẽ trở thành bất đắc chí buốn chán sanh tật họăc phát điên lên được. Ông đi kiếm mấy người quen đã về hưu trước mình hỏi thăm coi họ làm gì để đốt thời gian cho hết khoảng đời còn lại. Nghĩ cũng trớ trêu buồn cười thật. Người đi làm thì học hỏi kinh nghiệm là phải, đằng này về hưu cũng phải tìm người vấn kế thọ giáo để noi theo. Khổ thiệt!

Có người bày cho ông Minh đi làm việc thiện nguyện giúp đời tùy theo khả năng và sức khỏe của mình. Có người thì nói:

– Gắn cái internet chơi đi, rất hữu ích, mọi chuyện trên thế giới đều thu gọn trong đó, biết bao nhiêu chuyện cho mình học hỏi nghiên cứu. Còn không thì đi thư viện mượn sách về đọc, nếu có hứng thì dịch bài tiếng Anh gởi đăng báo cho vui. Ôi! Thiếu gì công chuyện, lo gì. Sợ là sợ làm biếng không chịu làm, chớ muốn làm thì biết bao chuyện để làm.

Có người lại cho ý:

– Ông từ trong bộ ra, đã rành rẽ đường đi nước bước như trong lòng bàn tay, hay là mở một văn phòng di trú tư làm chủ, “có ăn’’ lắm đó, nhất là ông được nhiều người biết đến, chắc người ta sẽ ủng hộ ông lắm.

Ông Minh cười lắc đầu nói:

– Tôi “có ăn’’ đủ quá rồi nên giờ đây muốn nghỉ. Nếu muốn làm thì tôi vẫn có thể làm tới bảy mươi. Big boss tôi hỏi mà tôi từ chối đây nè, tội gì lại đút đầu vô nữa cho thêm mệt. Tôi hòng ra khỏi chớ chẳng mong bước vào. Làm cho nhiều chết cũng có mang theo được đâu. Ở nhà hủ hỉ với vợ con cho ấm tuổi già. Từ khi qua Úc tới giờ tôi chưa có dẫn bả đi chơi đâu hết. Cứ lo làm không hà. Tội nghiệp bả cũng không đòi hỏi phàn nàn gì.

Tại tánh ông Minh hay lo xa sợ hờ như vậy chớ ông có hai thằng cháu ngọai, một thằng mới sanh và một thằng một tuổi rưởi. Rồi đây ông mặc sức mà bận rộn bù đầu thở không kịp chớ vợ con đâu dễ gì cho ông ở không mà ông sợ thất nghiệp.

Và cuối cùng thì ngày hưu cũng tới với ông. Ông gác bút, “sayonara” đồng nghiệp bạn bè một đi không trở lại. Về phụ bà xã babysit hai thằng cháu cho con cho rể đi làm. Tưởng đâu out of work thì sẽ có nhiều giờ rảnh rỗi lắm, ai dè nghỉ ở nhà rồi ông mới biết trong nhà ông cái gì cũng có nhưng kiếm không ra chữ “nhàn”.

Bây giờ ông bận tối mặt tối mũi vì công việc nhiều gấp mấy lúc đi làm. Ông chẳng khác nào một Mister Mom, rành sáu câu công việc chăm sóc baby như thay tã, cho bú, bồng bế, hát ru vv…

Mỗi khi cho bú xong bình sữa, ông còn biết ẵm đứng thằng nhỏ lên vuốt vuốt lưng cho tới khi nó ợ được một cái cho tiêu thì mới để nó xuống nằm chơi hay trườn, bò, lăn lết gì đó mặc sức chớ không “ợ” thì một hồi sau nó sẽ ọc sữa tùm lum.

Mỗi khi phải chở bà xã và hai thằng cháu ra ngoài đi shopping hay đi công chuyện, ông đều mặc cái quần cargo kaki sáu túi, hai túi trước, hai túi sau và hai túi hai bên đầu gối. Ông “cụ bị” nào là bình sữa, bình nước, “tù và’’ (núm vú cao su), khăn giấy, mobile phone, chìa khóa xe, chìa khóa nhà… Lung tung như là một anh biệt kích commando trong tư thế sẵn sàng ứng chiến. Có khác chăng là cảm tử quân người ta trang bị vũ khí súng ống, lựu đạn cay, hơi ngạt, dao găm, dây nhợ, vv… Còn ông thì trang bị baby stuff và toys đầy mình.

Người quen nào tình cờ gặp lại ông chắc không tránh khỏi ngạc nhiên lẫn buồn cười không ngờ ông “xuống đời” tới như vậy bởi vì:

Ngày nào cà vạt sơ mi

Bây giờ quần thợ kaki loàng xoàng

Ngày nào cặp táp đường hoàng

Bây giờ bao bị đẩy pram lè phè

Nhưng đối với ông thì ông rất happy với cái job giữ cháu này vì hồi xưa có con, ông bận đi làm suốt, không mấy khi có thời gian enjoy con cái như bây giờ. Về hưu có cháu, hằng ngày được theo dõi mọi biến chuyển của chúng từ tiếng cười tiếng nói bi bô tới những bước chân chập chững đầu tiên té lên té xuống. Hoặc đến khi bọn chúng lên ba lên bốn, ông thường xuyên phải chơi puzzle, leggo hay làm batman, superman, transformer đấu với bọn chúng, ông cảm thấy thích thú làm sao!

Con nít ở xứ giàu có văn minh thật là sung sướng, hồi ông cỡ tuổi bọn chúng bây giờ, quê hương ông giặc giã chiến tranh triền miên, cái ăn còn khó lọ là cái chơi. Ông chỉ có một món đồ chơi duy nhứt là một con trâu được nắn bằng đất sét mà ông đã mừng rỡ đi khoe đầu trên xóm dưới cùng làng.

Khi bọn chúng tới tuổi đi học, ông lại thêm cái job đưa rước hai cháu đến trường. Job này có thời khóa biểu hẳn hoi đúng giờ đúng khắc nhất định cho nên ông càng alert như nhà binh.

Từ ngày bút gác việc thôi

Thân tôi như thể thiên lôi xuống trần

Sớm mai rửa mặt ra sân

Quơ qua quơ lại giãn gân tỉnh người

Rồi vô uống tách sữa tươi

Dông xe ra tiệm mua bao bánh mì

Qua nhà con gái liền khi

Đưa con đưa rể tức thì xuống ga

Chở hai thằng cháu về nhà

Bà cho ăn sáng ông đưa đến trường

Sau khi chở vợ shopping

Về nhà đọc báo xem tin nghe đài

Ăn trưa quấy quá sơ sài

Ra vườn thơ thẩn rồi vào nghỉ lưng

Độ hai giờ rưỡi khoảng chừng

Chạy đi rước cháu về trông tới chiều

Chờ khi điện thoại reo kêu

Ba ơi ra rước, con yêu tới rồi

Cơm chiều chuẩn bị xong xuôi

Cháu, cơm, con, rể về đầy một xe

Đó là mục chánh chủ đề

Còn bao nhiêu chuyện nhiêu khê bên lề

Ngày hơn chục bận đi, về

Chạy xuôi chạy ngược tứ bề gần xa

Lại thêm giúp vợ chuyện nhà

Để bà được chút gọi là xả hơi

Việc nhà là việc chẳng ngơi

Trăm công ngàn việc vừa vơi lại đầy

Giúp cho bà đỡ hao gầy

Kẻo bà đi trước còn ai sớm chiều….

Ngày tháng dần trôi, năm nay hai thằng cháu ngọai ông đã học lớp hai và lớp ba nên đi học về đứa nào cũng có homework (bài làm ở nhà). Ông Minh lại có cơ hội trở về nghề cũ là thầy giáo, dạy kèm hai cháu, chỉ khác là hồi xưa ông dạy lớp tú tài, bây giờ dạy con nít, nhất là hai thằng cháu cưng nên rất khó dạy vì bụt nhà không linh.

Mỗi lần kêu làm homework là ông cháu có cái màn kèo nài trả giá. Cháu thì xin chơi game một chút trước, còn ông thì nói làm bài trước rồi mới được chơi sau. Hai thằng cháu mè nheo mãi rốt cuộc bà phải làm trọng tài phân xử:

– Thôi mới đi học về mà bắt học nữa học sao vô. Cho tụi nó ăn snack (ăn lót bụng), uống nước, nghỉ ngơi coi TV nửa giờ rồi mới học. Học xong thì cho chơi game trong lúc chờ ba má tụi nó về.

Bọn nhỏ nghe vậy thì OK ngay nhưng cũng không bỏ được cái tật được cưng chìu dể ngươi cho nên vừa làm bài vừa chơi, lát lát vẽ bậy vẽ bạ lên giấy họăc khều móc rồi thụi nhau hay có khi làm biếng nằm dài trên bàn làm ông ngoại cứ phải la rầy không ngớt.

Suốt một buổi chiều từ 2 giờ rưỡi cho tới khi ba má bọn chúng về, ông Minh mệt bở hơi với tụi nhỏ; nhiều khi ông phải nhờ bà xã ông kèm một thằng phụ ông. Mà bà xã ông thì đa đoan công chuyện, buông cái này bắt cái kia không hở tay, vừa nấu nướng vừa dọn rửa lau chùi, rồi phải vô hộp sẵn cho con cháu take away mang về ăn chiều, lại phải vừa dòm chừng hai thằng nhỏ không biết lúc nào bọn nó nổi điên đánh nhau chí mạng. Thằng em thì cắc cớ hay chọc cho thằng anh đổ quạu rượt đánh xà ngầu cho đã nư, mà khổ nỗi hai thằng là võ sinh Karate nên nhiều lúc bà ngọai nhào vô can bị bọn nó xuất chiêu té nhào.

Chiều tối sau khi giao trả tụi nhỏ cho ba má chúng, về nhà ăn tối xong thì đã hơn tám giờ. Ông còn giúp bà xã ông hút bụi lau nhà, coi như vừa exersice cho tiêu cơm vừa làm sạch nhà cửa theo thói quen. Sau đó ông ra sau vườn đi tới đi lui nửa giờ tĩnh tâm cầu nguyện, trong lúc bà xã ông chạy đi tắm thì “lội” vô internet coi email. Cứ như vậy ngày này qua ngày nọ, ba cái tạp chí tiếng Anh như Time Magazine hay National Geographic ông đặt mua chất đống cao nghều nghệu mà còn không có thời giờ mở cái bao ra để coi cái tựa nữa nói chi tới chuyện dịch bài. Bây giờ thì ông mới thấy buồn cười cho sự lo lắng thái quá của ông trước kia.

Nỗi băn khoăn của ông trước kia đã có câu giải đáp và bao nhiêu dự tính thực hiện trước khi về hưu giờ đây đã không còn cần thiết hay ý nghĩa gì nữa mà quan trọng nhất đối với ông là hai thằng cháu ngọai yêu quý, niềm vui tuổi già. Không biết lớn lên chút nữa, rời khỏi vòng tay ông để theo chân bạn bè hay lăn vào đời sống, bọn chúng có còn biết tới ông không; nhưng chẳng hề gì, xưa nay nước mắt chảy xuôi, tình thương miễn được trao ra là đã mãn nguyện rồi. Có được đáp lại hay không cũng không cần thiết.

Ông giờ tuổi đã bảy mươi

Còn cháu chỉ mới tuổi mười mà thôi

Cách hơn nửa thế kỷ đời

Cháu cười răng ngọc ông cười răng long

Răng long chẳng phải răng rồng

Mà vì sắp rụng sắp xong kiếp này

Tóc xanh cháu dệt tương lai

Còn ông tóc trắng chờ ngày ra đi

Ra đi ông chẳng để gì

Chỉ mong hai cháu nhớ ghi một điều

Đừng nên tham lắm muốn nhiều

Hãy vui biết đủ những gì trời ban

Ông thương hai cháu vô vàn

Quý như bảo vật trời ban đời này

Đời ông công chức thẳng ngay

Làm lành tích đức để mai cháu nhờ

Cuộc đời hung hiểm không ngờ

Có cây phước đức sẵn chờ chở che

Dù mưa dù nắng không e

Tai qua nạn khỏi thuận ghe xuôi đường

Đời người biết mấy nhiễu nhương

Cầu cho hai cháu trọn đường bình an

“Bình an’’ lời Chúa chúc ban

Bình an thể xác bình an tinh thần

Bấy nhiêu đã đủ phước phần

Để mà vững bước vững tâm vào đời

Gia tài ông chỉ mấy lời

Dù bao phú quý ơn trời vẫn hơn

Bây giờ nếu có ai hỏi ông chớ “out of work” (hết việc làm) ở nhà có buồn chán không thì ông sẽ cười tít mắt nói rằng: “Có rảnh chút nào đâu mà buồn, lo mấy thằng cháu, chăm sóc vườn tược và phụ chút chuyện nhà với bà xã đã hết ngày, không có giờ nghỉ lấy đâu mà chán. Nếu mình đừng nghĩ đến mình nhiều quá mà hãy nghĩ tới những người thân của mình đang rất cần mình thì sẽ thấy mình cũng còn hữu dụng lắm chớ chưa phải “hết xài’’ đâu.

Ông cứ hưu trí đi rồi sẽ biết”.

Nửa đời trả nợ công dân

Tháng năm còn lại đỡ đần cháu con

Một mai nằm xuống yên lòng

Gia đình xã hội không còn nợ ai… chán…!

Nước Mắt Chảy Xuôi – Lá Thư của Từ Uyên…

Van Pham

Nước Mắt Chảy Xuôi – Lá Thư của Từ Uyên…

Con gái của mẹ,

Mẹ biết rằng chả bao giờ con đọc lá thư này cả, thứ nhất là con không đọc được tiếng Việt, mà mẹ lại không thể viết cho con bằng tiếng Anh. Nhưng không hiểu sao có một cái gì nó thôi thúc mẹ là phải viết cho con như được nói chuyện với con trực tiếp.

Ðã lâu lắm rồi nhỉ, từ khi con tốt nghiệp ra trường trung học, hai mẹ con mình không còn được những buổi tối con cặm cụi học bài trong khi mẹ loay hoay với những việc trong nhà mà cả hai mẹ con mình đã suốt ngày bận rộn không dọn dẹp được .

Nhưng khi ấy con còn nhỏ, trong đầu óc mẹ nghĩ thế nhưng bây giờ nghĩ lại mới thấy mình nhầm. Giáo dục học đường ở bên này, mẹ không hiểu rằng đã tạo cho con thành một người tự lập cho dù con chưa đến tuổi trưởng thành.

Từ bao giờ, mẹ cũng không nhớ nữa, con đã có một thế giới riêng là căn buồng của con. Mà vì bận sinh kế suốt ngày, mẹ cũng ít khi ngó vào căn buồng ấy nên có lần mẹ vào tìm con, mẹ đã hết sức sửng sốt khi thấy sự vô trật tự trong cuộc sống của con. Sách vở lẫn lộn với quần áo trên giường, dưới sàn cùng mọi thứ vật dụng. Trong tủ treo áo quần thì như cả cái kho chứa đồ phế thải.

Phải mất vài phút mẹ mới định thần lại được, bỏ mất gần một buổi chiều để sắp xếp lại cho con.

Buổi tối, con về, mẹ ngồi yên ở phòng khách chờ phút giây con chạy ra ôm lấy mẹ mà cám ơn. Nhưng thật là một bất ngờ lớn lao mà mẹ chưa bao giờ tưởng tượng ra nổi.

Thay vì cám ơn, con đã tung cửa buồng ra nói khá lớn tiếng:

– “Mẹ làm mất hết trật tự trong buồng của con, bài vở của con mẹ để đâu hết rồi, mọi khi con vẫn để ở chân giường mà… Con xin mẹ từ nay mẹ đừng làm gì trong buồng của con cả. Con tự lo lấy được mà”. Rồi con bỏ vào buồng, im lìm suốt buổi tối hôm đó 

Con ơi, con có biết những giờ phút ấy mẹ đã phải trải qua những tâm trạng như thế nào không. Mẹ ân hận vì đã làm con không vui !

Mẹ buồn rầu vì con đã không hiểu cho lòng mẹ. Mẹ cô đơn vì không có ai chia sẻ nỗi buồn với mình. Mẹ lo lắng vì tính nết của con như thế thì khi lấy chồng, người chồng nào chịu cho nổi… Ðêm ấy mẹ đã ngủ trên ghế sa lông để thấm thía nỗi buồn của mẹ mà nào con cũng đâu có hay.

Thế mà cảnh sống ấy cũng qua mau trong sự chịu đựng của mẹ. Bây giờ con ra trường, có công ăn việc làm, con đi về thất thường, có khi bỏ mẹ vò võ chờ con đến cả tuần. Mẹ cũng chẳng dám hỏi con.

Ðến một ngày, hình như mẹ nhớ là ngày Mother’s Day, con mua một bó hoa hồng tươi về ôm lấy mẹ mà chúc mừng mẹ. Buổi chiều hôm ấy là ngày hạnh phúc nhất đời của mẹ. Mẹ cứ đi ra đi vào lóng ngóng chờ con mở cửa buồng để hỏi xem con thích ăn món gì mẹ sẽ nấu.

Nhưng tối đến con đã chải chuốt mở cửa buồng đi ra mời mẹ đi ăn tiệm. Lại một hạnh phúc bất ngờ khác đến. Mẹ như được bơi lội trong hạnh phúc đến độ không thay nổi bộ quần áo đẹp để đi với con.

Sau bữa ăn thịnh soạn với cá 8 món, con đã thản nhiên nói với mẹ rằng:

“Mẹ ơi bây giờ con phải đi làm việc suốt ngày mà mẹ thì già rồi, ở nhà một mình không có ai chăm sóc nên con đã xin cho mẹ được vào sống ở khu người già, có người trông nom hằng ngày. Mẹ không phải lo gì cả. Ðến bữa có người dọn cho ăn. Ðau ốm có y tá săn sóc. Cuối tuần con sẽ về thăm mẹ , mẹ nhé ”

Bể hạnh phúc đã vỡ tan. Những bong bóng hạnh phúc chỉ còn ảo mờ như những bọt xà bông trong chậu tắm. Nó đã phản chiếu muôn mầu và vỡ ngay sau đó.

Trong lòng mẹ chợt vẳng nghe lại được câu nói của bà ngoại xưa đã nói với mẹ: “Nước mắt chảy xuôi , con ạ.” …

ĐẠO HIẾU CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO VÀ NHỮNG HIỂU LẦM

Nguyễn Ngọc Thương 

ĐẠO HIẾU CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO VÀ NHỮNG HIỂU LẦM

Tôi còn nhớ hồi nhỏ một bạn học đã nói với tôi: “Bọn bây theo đạo là bỏ ông bà”. Thực sự lúc đó tôi chẳng hiểu tại sao đứa bạn lại nói như vậy, nó lấy ở đâu ra câu nói mà tôi, và hình như cả nó, cũng không hiểu hết ý nghĩa. Lúc đó tôi chẳng biết phải trả lời bạn như thế nào.

Khi lớn lên tôi lại nhiều lần gặp câu tương tự trong sách vở hay trong một số người quen không cùng tôn giáo. Ngay đến bây giờ, khi đã là một linh mục quản xứ, thỉnh thoảng tôi lại gặp câu nói đó. Một anh lương dân và một chị theo Công Giáo muốn kết hôn với nhau đến gặp để tiến hành các nghi thức kết hôn theo quy định của Công Giáo, anh tâm sự: Tôi cũng muốn theo đạo để vợ chồng cùng tôn giáo, để sống hạnh phúc và để nuôi dạy con cái trong môi trường tôn giáo, nhưng tôi là con trai trưởng, tôi theo đạo thì bỏ ông bà tổ tiên, sợ mang tiếng bất hiếu!…

Như vậy theo Công Giáo là bỏ tổ tiên thật sao? Là bất hiếu thật sao?

Xin thưa: Điều đó không đúng! Đó là một hiểu lầm mang tính lịch sử, nó đã được tuyên truyền từ nhiều đời nay.

Công Giáo chúng tôi hiếu kính với tổ tiên nhưng theo một cách khác. Chúng tôi tôn thờ Chúa và cậy dựa vào Ngài, là Đấng có thể cứu rỗi chúng tôi và ông bà tổ tiên chúng tôi.

Trong 10 Điều Răn Chúa dạy, 3 điều đầu dạy về tương quan giữa tín hữu với Chúa, 7 điều sau dạy về tương quan giữa người với nhau. Trong đó, điều Thứ Bốn, tức là đứng đầu trong 7 điều, dạy rằng: “Ngươi phải thảo kính cha mẹ”. Như vậy, vi phạm đạo hiếu là một trọng tội đối với người Công Giáo.

Chúng tôi vẫn xây lăng mộ, vẫn niệm hương và cầu nguyện cho ông bà vào các ngày dỗ, lễ Tết. Chúng tôi cầu nguyện cho tổ tiên trong Thánh lễ hằng ngày. Ngày Mồng Hai Tết, chúng tôi dâng lễ để kính nhớ cho ông bà tổ tiên. Mỗi năm cả Giáo Hội dành riêng tháng 11 để cầu nguyện và nhớ về ông bà tổ tiên cũng như những người đã qua đời. Trong tháng này, chúng tôi thường viếng phần mộ ông bà, niệm hương và chăm sóc mộ phần. Chúng tôi được khuyến khích làm việc lành, việc bác ái, giúp đỡ người khó nghèo… trong tháng 11 này để tích đức góp công dâng cho tổ tiên ông bà.

Khi có người qua đời, chúng tôi tập trung cầu nguyện, dâng lễ và tổ chức đưa tiễn về nơi an nghỉ. Người Công Giáo chúng tôi tôn trọng thân xác, dù nó đã chết, vì chúng tôi tin nó sẽ được phục sinh. Bạn có thể đến thăm một nghĩa trang của người Công Giáo để biết đạo hiếu đã được thể hiện sống động như thế nào.

Tôi không có ý so sánh hơn thua khi mô tả những cách thực hành của chúng tôi để báo hiếu với tổ tiên. Tôi muốn khẳng định rằng: Nói theo đạo bỏ tổ tiên là không đúng. Người Công Giáo vẫn rất coi trọng đạo hiếu nhưng cách thực hành có khác mà thôi.

(LM Anthanh Linhgiang)

Ảnh: internet

Lễ vật cao quý  

Lễ vật cao quý

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà  

(Suy niệm Tin mừng Mác-cô (12, 41-44) trích đọc vào Chúa nhật 32 thường niên)

Một ông lão nghèo bước vào nhà một người quyền quý gõ cửa xin ăn. Chủ nhà nhìn ông với vẻ mặt khinh khỉnh, miễn cưỡng rút túi lấy 100.000 đồng, ném vào ông và nói: “Tiền nè!” rồi bực bội quay vào nhà.

Dù đây là một số tiền đáng kể đối với lão ăn xin, nhưng nhìn thái độ hách dịch của người cho, ông cảm thấy cay đắng và oán hận. Ông quay mặt ra đi không thèm lấy.

Ông sang nhà bên cạnh, một căn nhà đơn sơ nghèo nàn, có một bé gái chạy ra, cầm 1.000 đồng với cả hai tay, miệng tươi cười vui vẻ, thưa với ông: “Cháu không có gì nhiều, xin ông nhận lấy thảo.”

Ông lão nhận lấy món quà nhỏ bé của cô gái nhỏ với tấm lòng hân hoan. Ông chưa bao giờ nhận được món quà quý báu đến thế, một món quà nhỏ nhưng được gói ghém với rất nhiều yêu thương.

Của cho không lớn, nhưng cho với tấm lòng yêu thương trìu mến, với thái độ trân trọng, thì giá trị của nó tăng lên cả trăm lần.

Khi Chúa Giê-su quan sát những người bỏ tiền dâng cúng cho đền thờ, Ngài thấy có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền, cũng có một bà goá nghèo bỏ vào hòm tiền hai đồng xu nhỏ, nhưng đó là tất cả những gì bà có để nuôi thân.

Lễ vật của bà tuy bé mọn nhưng gói ghém rất nhiều tình yêu. Chính vì thế, Chúa Giê-su cho rằng bà goá nầy đã dâng cho Thiên Chúa nhiều hơn tất cả những người khác.

Thiên Chúa là Đấng vô cùng giàu có, Ngài chẳng thiếu của gì. Điều Ngài chờ đợi nơi chúng ta là tấm lòng yêu mến. Vì thế, chúng ta hãy dâng cho Ngài những công việc nhỏ bé hằng ngày, được thực hiện với nhiều yêu thương.

Làm việc nhỏ với một tình yêu lớn  

Mẹ thánh Tê-rê-xa Calcutta không chủ trương làm những công việc to lớn, nhưng thường xuyên làm những việc nhỏ với tình yêu lớn. Mẹ nói: “Chúng ta không thể làm những việc lớn lao, nhưng chúng ta có thể làm những việc nhỏ với tình yêu lớn lao.”

Trong bức thư gửi cho đấng đáng kính là cố Hồng y Fx. Nguyễn Văn Thuận, mẹ Tê-rê-xa viết: “Điều đáng kể không phải là số lượng công việc ta làm, nhưng là mức độ yêu thương mà ta đặt vào trong mỗi công việc.”

Đúng thế, dù làm được cả chục việc lớn để mưu cầu danh lợi… cũng không bằng làm một việc nhỏ bé chỉ vì lòng mến Chúa yêu người.

Thánh Phao-lô dạy: “Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi” (I Cr 13, 3).

Cảm hứng từ bức thư trên đây của mẹ Tê-rê-xa Calcutta, đấng đáng kính Fx Nguyễn Văn Thuận quyết tâm “thực hiện từng công việc nhỏ bé hằng ngày, từng cuộc tiếp xúc hằng ngày với tình yêu lớn” và biến những phút sống hiện tại thành những giây phút đẹp nhất cuộc đời. Ngài viết: “Tôi quyết sống từng giây phút hiện tại và đong đầy tình thương vào đó” (Trích: “Năm chiếc bánh và hai con cá”).

Lạy Chúa Giê-su,

Chúng con biết lấy gì dâng lại cho Chúa, để đền đáp muôn vàn ân huệ Chúa thương ban? Không lẽ chúng con liên tiếp nhận ơn Chúa ban mà không biết báo đền?

Xin cho chúng con mỗi ngày dâng cho Chúa một hy sinh nhỏ bé, nhưng được thực hiện với nhiều yêu thương; đó là lễ vật cao đẹp làm vui lòng Chúa hơn hết. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà  

(Nếu muốn đọc những bài suy niệm khác, vui lòng vào website:  https://nguonvui.net    )

TIN MỪNG Mác-cô 12, 41-44

Đức Giê-su ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rô-ma. Đức Giê-su liền gọi các môn đệ lại và nói: “Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình.”

From: ngocnga_12& NguyenNThu

CÁC TỔNG THỐNG MỸ KHÔNG XÂY LĂNG TẨM, CHỈ XÂY THƯ VIỆN

Nguyễn Xuân Diện 

CÁC TỔNG THỐNG MỸ KHÔNG XÂY LĂNG TẨM, CHỈ XÂY THƯ VIỆN

Nguyễn Thị Bích Hậu

Sau khi chết đi, các TT Mỹ phần lớn đều có những mộ phần khiêm tốn và bé nhỏ. Nhưng hiện nay có 13 ông TT Mỹ (kể cả mấy ông còn sống) đã có mỗi ông một công trình to lớn và rộng rãi cho hậu thế. Đó là thư viện tổng thống.

Các thư viện tổng thống Mỹ, mang tên từng ông, bắt đầu từ Thư viện TT Franklin Delano Roosevelt vào năm 1939 và gần đây nhất là George W. Bush (Bush con). Các thư viện này sẽ chứa đựng sách vở, tài liệu, tư liệu, các hiện vật có liên quan tới từng tổng thống cho người dân có thể tham quan, học hỏi, nghỉ ngơi.

Tất cả hiện vật do TT hiến tặng. Đất xây thư viện có thể của chính TT tặng luôn hay của các tư nhân tặng. Và tiền xây thì do tiền của các ông từ việc viết sách, thuyết trình cùng người dân và các tư nhân tự quyên góp. Diện tích của các thư viện này có thể rộng từ vài ha hoặc vài chục ha.

Điều rất hay là sau khi xây dựng xong, các tổ chức tư nhân đứng ra làm thư viện sẽ chuyển giao toàn bộ thư viện cho NARA là Cơ quan lưu trữ hồ sơ quốc gia Mỹ vận hành và bảo trì. Túm lại là dân quý ông TT nào thì cùng ổng quyên góp tiền làm thư viện cho ổng. Xong rồi thì sung công.

Các thư viện này không chỉ là nơi tham quan, học hỏi cho người dân, mà còn là địa điểm du lịch nổi tiếng trong vùng. Vì nó xây ở quê của các TT Mỹ, thành thử nên xây một cái thư viện TT xong rồi mà dân vùng đó có cơ kiếm tiền từ du khách.

Thư viện Tổng thống Bill Clinton tại thành phố Little Rock, tiểu bang Ankansas, đã tạo nên một làn sóng đầu tư phát triển khu vực xung quanh, với hàng loạt cửa hàng, nhà hàng, chợ, các dự án đầu tư mới trị giá hàng tỉ USD phục vụ nhu cầu của du khách đến tham quan thư viện. Thư viện của ông rất to, rộng vài chục ha, có cả công viên sinh thái với sông nước, ao hồ, rừng cây rất đẹp, du khách rất ưa thích.

Phần nhiều các TT dân sự sẽ đặt mộ phần của mình trong khuôn viên thư viện vì là muốn về quê. (Vì các TT xuất thân quân nhân sẽ có mộ phần trong Nghĩa trang quốc gia Arlington). Nhưng dù ở đâu thì công thức vẫn là một cái bia đá be bé trong một diện tích nhỏ tí chừng vài m2. Nhưng được cái là dân chúng sau khi đi chơi và thăm thú thư viện, du ngoạn thả cửa thì tới nghiêng mình chào các cụ chút xíu, gọi là con cháu cám ơn vì đã cho thưởng thức một nơi hay ho.

Các thư viện này cũng có nguyên tắc là rất trung thành với sự thật. Ví dụ thư viện của TT Nixon có khu trưng bày ấn tượng về vụ tai tiếng Watergate, thư viện của TT Clinton có trưng bày và tư liệu rõ ràng về vụ bê bối tình dục Monica Lewinsky. Nói chung ra khá vui.

Thư viện của các TT Mỹ là bằng chứng cho thấy sau khi rời tột đỉnh quyền lực, các TT minh bạch mọi thông tin, mọi công việc các ông từng làm để hậu thế học hỏi, đánh giá, rút kinh nghiệm, và đem lại nguồn lợi lộc cho dân về du lịch, về kinh tế. Vì thế tên tuổi của họ sẽ được nhớ tới mãi mãi.

Những gì văn minh ta nên học hỏi và làm theo để dân ta có lợi các bạn ạ.

24-9-2018

Ảnh: Một thư viện tổng thống.

May be an image of outdoors and tree

Thánh Martinô Porres

Thánh Martinô Porres

Mến chào, hôm nay 3/11 Giáo hội mừng kính Thánh Martinô Porres—1579-1639 (St. Martin de Porres) Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy. 

Cha Vương

Thư 3: 03/11/2020

  Thánh Martin sinh ngày 09 tháng 12 năm 1579 tại Peru, Lima. Ngài là đứa con bất hợp pháp của một nhà quý tộc Tây Ban Nha ở Lima, Peru và một phụ nữ Panama. Martin giống mẹ nên có nước da ngăm ngăm, và điều này làm cha ngài khó chịu, do đó mãi tám năm sau ông mới chịu nhận Martin là con.

Sau khi sinh đứa thứ hai, ông bỏ rơi gia đình. Martin lớn lên trong cảnh nghèo nàn, thuộc giai cấp bần cùng của xã hội Lima. Lúc 12 tuổi, mẹ ngài cho theo học nghề cắt tóc và giải phẫu, nên ngoài việc cắt tóc, ngài còn biết cách lấy máu (sự chữa trị rất phổ thông thời ấy), biết chăm sóc vết thương và biết chích thuốc.

Sau vài năm hành nghề, Martin xin vào dòng Ða Minh làm “người giúp việc,” vì ngài cảm thấy không xứng đáng để làm thầy dòng. Sau chín năm, gương mẫu đời sống cầu nguyện và hãm mình, bác ái và khiêm nhường của ngài khiến cộng đoàn phải yêu cầu ngài khấn trọn.

Ngài cầu nguyện hằng đêm và sống khắc khổ; công việc hàng ngày của ngài là chăm sóc bệnh nhân và người nghèo. Ngài coi mọi người như nhau, bất kể mầu da, sắc tộc hay địa vị xã hội. Ngài là cột trụ trong việc thành lập cô nhi viện, chăm sóc người nô lệ từ Phi Châu và trông coi việc bố thí của nhà dòng. Ngài trở nên nổi tiếng trong nhà dòng cũng như ngoài thành phố, dù đó là vấn đề “chăn màn, quần áo, đèn nến, bánh kẹo, phép lạ hay lời cầu nguyện!” Khi nhà dòng bị nợ quá nhiều, ngài nói với cha bề trên, “Con chỉ là một đứa con lai nghèo hèn. Cha hãy bán con đi. Con là sở hữu của nhà dòng. Hãy bán con đi để trả nợ.”

     Ngoài những công việc hàng ngày như nấu ăn, giặt giũ và chăm sóc bệnh nhân, Thiên Chúa còn ban cho ngài những ơn sủng đặc biệt: được xuất thần bay bổng trên không, căn phòng rực sáng khi ngài cầu nguyện, ơn lưỡng tại (ở hai nơi cùng một lúc), ơn hiểu biết cách lạ lùng, ơn chữa bệnh và chế ngự các thú vật cách tài tình. Lòng bác ái của ngài còn nới rộng đến các thú vật ở ngoài đồng hay chó mèo trong phố và ngay cả chuột bọ trong bếp.

      Nhiều tu sĩ thời ấy coi ngài như vị linh hướng, nhưng ngài vẫn tự coi mình là “người nô lệ nghèo hèn.” Ngài còn là bạn của Thánh Rosa ở Lima. Ngài qua đời ngày 3 tháng 11 năm 1639. Tất cả dân chúng thành phố Lima, từ vị Phó vương đến những người ăn xin đều sững sốt và buồn bã khi nghe tin ngài từ trần. 

     Ngài được Đức Giáo Hoàng Pius IX tôn phong Chân Phúc năm 1873. Thủ tục phong thánh rất chậm chạp, mãi cho đến ngày 19 tháng 5 năm 1962 Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII mới tuyên phong thầy Martin lên hàng hiển thánh và là vị thánh da đen đầu tiên của Châu Mỹ, quan thầy của những người tranh đấu cho công bình xã hội.

     Lạy Thánh Martino rất khiêm nhường, lòng thương yêu nồng nhiệt của Người chẳng những che chở các anh em túng nghèo, mà lại cả những thú vật ngoài đồng, thật là gương huy hoàng của đức bác ái, chúng tôi kính mừng và cầu khấn Người. Từ tòa cao Người ngự, xin đoái thương nhậm lời anh em túng nghèo kêu xin, để chúng tôi được bắt chước nhân đức Người mà yên vui trong địa vị Chúa đã đặt, và được mạnh mẽ, can đảm vác Thánh Giá theo chân Chúa Cứu Thế và Mẹ Sầu Bi, sau hết được về nước Thiên Ðàng. Vì công nghiệp Chúa Giêsu Kitô là Chúa chúng tôi – Amen.

(Kinh Thánh Martinô Porres)

SÁCH GIÁO KHOA NGÀY XƯA

Lương Văn Can

SÁCH GIÁO KHOA NGÀY XƯA

– Vũ Đức Sao Biển –

‘Ngày xưa’ ở đây có nghĩa là thời tôi còn dạy trung học, cách đây đã gần nửa thế kỷ. Tôi viết chỉ nhằm giới thiệu một cách làm sách giáo khoa ở bậc trung học của một môn: môn triết học lớp đệ nhất.

Mục đích của bài này chỉ là để các nhà làm giáo dục, các nhà giáo, các em học sinh và phụ huynh tham khảo một cách làm và sử dụng sách giáo khoa mà thôi.

Phân phối chương trình trung học ngày xưa mô phỏng chương trình giáo dục của người Pháp. Người ta nghĩ rằng học sinh ở Pháp học thế nào thì học sinh VN cùng lứa tuổi và cùng cấp học cũng nên học như vậy. Vì vậy, học sinh VN sau 11 năm học đã thi đậu tấm bằng tú tài 1 (baccalauréat 1) thì bắt buộc phải chốt lại toàn bộ kiến thức về các khoa học đã được học trước đó để dọn mình lên lớp đệ nhất, học thi tú tài 2 (baccalauréat 2). Lớp đệ nhất (tương đương lớp 12 ngày nay) không học môn văn nữa mà phải học môn triết. Triết học được định nghĩa là khoa học của các khoa học (La philosophie est science des sciences).

Giáo trình triết học lớp đệ nhất gồm 3 hoặc 4 môn tùy theo phân ban. Môn tâm lý học học về thế giới tâm lý, nội quan, ngoại quan, ý thức, vô thức, tâm phân học, cảm xúc, đam mê, liên tưởng, tập quán, tưởng tượng… nhằm giúp cho học sinh “vệ sinh tinh thần” tâm hồn mình. Môn đạo đức học học về hành vi đạo đức, ý thức đạo đức, công bằng, bác ái, bổn phận, trách nhiệm… nhằm giúp học sinh biết thương yêu, biết chịu trách nhiệm về những hành vi của mình. Môn luận lý học học về các nguyên tắc căn bản của lý trí, các phương pháp tổng hợp, phân tích, diễn dịch, triết lý toán học, triết lý khoa học tự nhiên… Nó nhằm giúp cho học sinh đắc thủ phương pháp lý luận thuần lý. Ba môn này dạy ở các ban A (vạn vật, lý, hóa), B (toán, lý, hóa), C (triết học, Anh, Pháp) và D (triết học, ngoại ngữ, cổ ngữ Latin). Riêng hai ban C và D học thêm 12 tiết siêu hình học; nội dung gồm thuyết tiến hóa, vấn đề linh hồn, tôn giáo, đa thần giáo… Bất cứ vấn đề nào của bốn môn trên, học sinh cũng phải học cách lý luận đi từ chính đề (thèse), qua phản đề (antithèse) rồi đi tới hợp đề (synthèse).

Bộ Giáo dục chế độ cũ không in sách giáo khoa. Mỗi nhà giáo ra trường phải biết mình dạy môn gì, cấp lớp nào, môn ấy gồm những nội dung nào, phương pháp soạn bài ra sao. Phần viết sách giáo khoa được giao cho các nhà giáo đang thực sự dạy trung học, chỉ yêu cầu sách giáo khoa phải có tính phổ quát, bám sát các nội dung cần giảng dạy. Thí dụ sách giáo khoa triết lớp đệ nhất phải bám sát các nội dung mà chúng tôi vừa giới thiệu và câu định nghĩa “Triết học là khoa học của các khoa học”. Tác giả nào viết sách giáo khoa không hay, khó hiểu, dài dòng thì tự bị thị trường đào thải. Sách giáo khoa nào xem ra có vẻ đắt tiền mà kiến thức không có gì mới (so với sách khác) thì thị trường cũng tự nhiên đào thải. Chính cái tinh thần tự do sáng tạo ấy đã khuyến khích công việc viết sách giáo khoa phát triển.

Bản thảo những quyển sách giáo khoa sẽ được nộp lên cho Nha Tu thư duyệt, xem có phù hợp với lứa tuổi, cấp học, đầy đủ nội dung theo yêu cầu không. Nếu không có vấn đề gì, họ đồng ý cho nhà xuất bản hoặc tác giả in và in bao nhiêu bản cũng được. Tất cả sách giáo khoa chỉ được phép bán cho học sinh theo hệ thống thị trường; nghiêm cấm tình trạng gửi sách của mình qua trường khác, tỉnh khác nhờ bạn đồng nghiệp bán giúp. Đó là nguyên tắc “ai mua sách cứ ra hiệu sách”. Ngày ấy, không có tình trạng lu bu đưa sách vào trường bán; mua sách của người này, không mua sách của người kia. Nhà giáo viết sách giáo khoa chỉ có một cạnh tranh duy nhất là cạnh tranh về chất lượng.

Học sinh nào thông minh, chăm chỉ có quyền không mua sách giáo khoa, chỉ học theo bài thầy giảng trên lớp. Sách tham khảo cho học sinh chỉ tập trung trong ba môn toán, lý và hóa; chủ yếu nhắm vào các lớp thi. Đó là những đề toán, lý, hóa ra trong các kỳ thi tú tài 2 ở Pháp và các nước thuộc khối Pháp ngữ.

Ngày ấy, giáo sư triết (tên gọi của nền giáo dục cũ) rất hiếm và thiếu. Từ năm 1970, các trường đại học sư phạm không đào tạo giáo sư triết nữa. Đại khái, những thành phố lớn như Sài Gòn, Cần Thơ, Đà Nẵng, Huế… có hai, ba hoặc bốn vị. Mỗi tỉnh còn lại chỉ có một người. Người ấy phải tốt nghiệp chuyên ngành triết; có nhiệm vụ dạy môn triết chính ở trường công lập (ăn lương); ngoài ra còn có nghĩa vụ phải đi thỉnh giảng ở các trường tư thục, Bồ Đề, bán công trong tỉnh (hưởng tiền thỉnh giảng). Ai không làm tròn nhiệm vụ dạy chính và nghĩa vụ thỉnh giảng phải chịu kỷ luật. Thí dụ tỉnh Bạc Liêu chỉ có một mình tôi, dạy ở trung học công lập 6 lớp (24 giờ); thỉnh giảng trường bán công 2 lớp (8 giờ), trường Bồ Đề 2 lớp (8 giờ). Cộng lại, mỗi tuần tôi dạy 40 giờ, “quần thảo” cả sáng, chiều và tối.

Nhà giáo nào không có nhã hứng viết sách giáo khoa triết, có thể bảo học sinh ra hiệu sách chọn mua sách của các tác giả khác về học. Từ năm 1970, các nhà giáo viết sách giáo khoa triết cho bậc trung học có thể kể đến: linh mục Cao Văn Luận (Huế), ông Trần Văn Hiến Minh (Huế), ông Nguyên Sa (nhà thơ Trần Bích Lan – Văn Hiến, Sài Gòn), ông Vĩnh Đễ (Gia Long – Sài Gòn), tôi – Vũ Đức Sao Biển (Trung học Bạc Liêu) … Học sinh có toàn quyền chọn mua sách giáo khoa triết của bất cứ ai; miễn là phải học, phải hiểu và… thi đậu. Nhà giáo không được đứng ra bán sách của mình và không được buộc học sinh phải mua sách của mình.

Bộ sách giáo khoa của tôi viết năm 1972 tại Bạc Liêu có tên là Triết học toàn thư, gồm 3 quyển tâm lý học, đạo đức học và luận lý học. Học sinh tỉnh Bạc Liêu và vài tỉnh lân cận cũng thường dùng quyển sách này. 39 năm sau (2011), Nhà xuất bản Trẻ đã cho dọn lại bộ sách này ngắn gọn hơn, dễ hiểu hơn và in ra với cái tựa đề mới Hướng đến chân thiện mỹ – triết lý dành cho tuổi thanh niên. Quyển sách được các bạn thanh niên mua đọc và thích bởi nội dung của nó rất mềm mại, chẳng có gì là “cứng” như sách giáo khoa cả. Có thể gọi quyển sách giáo khoa này là quyển sách đầu tay của đời tôi.

Bạn hỏi, một quyển sách giáo khoa hình thành từ những cơ sở nào? Thứ nhất, nó là một sự hiện thực hóa những cái “toa căn bản” mà người sinh viên sư phạm đã được học trong trường đại học sư phạm. Thứ hai, nó là một sự phong phú hóa những nội dung cứng mà Nha Tu thư yêu cầu nhà giáo phải giảng dạy trong từng cấp lớp, từng lứa tuổi. Thứ ba – mà điều này rất quan trọng – nó phải tích lũy được những kinh nghiệm của nhà giáo khi lập thang điểm và chấm thi bộ môn cấp quốc gia của nhà giáo. Ngày ấy, toàn bộ bài thi của văn bằng tú tài 1 và tú tài 2 từ Quảng Trị tới Cà Mau phải tập trung về Sài Gòn chấm. Tất cả bài thi đều cắt phách; nhà giáo không biết mình chấm bài của thí sinh trường nào, tỉnh nào.

Nhà giáo dạy môn nào thì chấm thi môn ấy. Trong quá trình lập thang điểm và chấm thi, các nhà giáo cùng bộ môn trao đổi, học hỏi lẫn nhau về kinh nghiệm để điều chỉnh cách dạy và cách viết sách giáo khoa của mình. Ai dạy hay dở ra sao; ai viết sách giáo khoa hay dở ra sao đều có thể tự đo lại năng lực của mình khi ráp phách lên mâm điểm cho thí sinh. Chuyện điều chỉnh là tự nhà giáo lo. Ngành giáo dục không tập trung nhà giáo bộ môn lại để tập huấn hay học chuyên môn gì cả.

Đối với học sinh, động cơ mục đích học rất rõ ràng. Họ phải học và thi đậu bằng tú tài 2 mới mong vào đại học, tiếp tục con đường học tập. Em nào có hoàn cảnh ngặt nghèo, đậu tú tài 2 có thể xin việc làm, kể cả làm nhà giáo dạy từ lớp đệ tứ trở xuống ở các trường tư thục. Nữ sinh rớt tú tài 2 cũng chưa sao nhưng nam sinh rớt thì thật khốn đốn bởi sẽ bị bắt lính ngay. Đậu tú tài 1 có thể đi Thủ Đức ra chuẩn úy nhưng rớt thì phải đi trung sĩ! Có thơ làm chứng như vầy “Rớt tú tài, anh đi trung sĩ/Em về nhà lấy Mỹ nuôi con/Khi nào yên chuyện nước non/Anh về, anh có Mỹ con anh bồng”. Người thanh niên nào không muốn… bồng nhầm Mỹ con thì phải ra sức học.

Chuyện học triết, dạy triết và viết sách giáo khoa triết trở thành một vốn liếng quý giá đối với riêng tôi. Tôi thẩm thấu được nhiều thứ khoa học trên đời. Tôi tự rèn luyện những kỹ năng lý luận thuần lý. Tôi đã dùng các thứ đắc thủ được để sau này làm một nhà báo. Chưa được học một giờ nào về nghiệp vụ báo chí, tôi chỉ nhờ có “nội công” đa dạng và “chiêu thức” khinh linh để viết báo mà thôi.

– Vũ Đức Sao Biển –

Nợ Một Lời Xin Lỗi

Van Pham

BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ BÙI BẢO TRÚC TUY ĐÃ CŨ NHƯNG VẪN RẤT HỢP THỜI ĐỂ NHẮC NHỞ CHÚNG TA MỘT THỜI SỐNG NHƯ CON VẬT BỞI LŨ THÚ KÉO RA TỪ RỪNG SÂU, HANG THẲM…

***

Nợ Một Lời Xin Lỗi

Bùi Bảo Trúc

Tháng các Đẳng Linh Hồn / Xin mời suy gẫm:

“xem mình có nợ ai, Một lời Xin Lỗi”

Trước khi ” đã muộn màng!

Tính tới nay, bốn mươi hai năm đã qua. Gần một nửa thế kỷ, thời gian đủ dài để nhìn lại những sai sót, những lầm lẫn, những chuyện không hay đã xẩy ra để tránh lập lại, và ít nhất là nhận lỗi, để đưa ra một lời xin lỗi. Mặc dù lời xin lỗi đó có muộn màng, có quá muộn màng đi chăng nữa. Tôi rất thích cách nói này của tiếng Anh: tôi nợ anh một lời xin lỗi, I owe you an apology. Khi mắc hay thiếu nợ thì phải trả, không có chuyện bỏ qua được.

*****

Ngay sau khi những chiếc T-54 chạy vào thành phố Sài Gòn, ủi sập một cánh cổng và cầy nát thảm cỏ của dinh Độc Lập (một cách không cần thiết), thì cái việc không hay đó cũng bắt đầu.

Trong cuốn Giải Phóng (1976) của Tiziano Terzani, một nhà báo người Ý, viết về ngày 30 tháng Tư năm 1975, có một bức ảnh đen trắng chụp một nữ du kích đứng tại góc đường Tự Do và Lê Lợi, có thể là trong ngày đầu tiên khi quân đội miền Bắc tiến vào kiểm soát thủ đô miền Nam. Người nữ du kích mặc quần áo đen, khăn rằn, mặt mũi vẩu viu, vẫn chưa hoàn hồn, vẻ kinh ngạc còn nguyên trong ánh mắt. Cảnh Sài Gòn đã tạo ra nét hoảng hốt đó.

Người Sài Gòn sau những kinh hoàng đầu tiên, đã kéo nhau ra đường tung hô những thay đổi, ngây thơ tưởng như làm như thế, họ sẽ được những bánh sắt xe tăng đối xử tử tế, nhẹ nhàng hơn. Những hình ảnh chụp cảnh đốt sách báo ở ngoài đường, hay cảnh tham dự cuộc diễn hành của quân “giải phóng” người ta thấy nhiều phụ nữ mặc những chiếc áo dài đẹp để mừng đoàn quân chiến thắng”.

Nhưng chỉ vài ba ngày sau đó, cái ngây thơ đó đã bị dội cho những chậu nước lạnh buốt và tàn nhẫn. Nói là tàn nhẫn thì cũng vẫn còn là nhẹ. Phe chiến thắng quay lại đưa ra những đối xử tàn bạo ngay sau đó. Những kiểu ăn mặc của người Sài Gòn bị chiếu cố lập tức. Ở đầu đường, góc phố, các thanh niên bị chặn lại, những mái tóc bị những nhát kéo nham nhở làm cho ngắn đi, những chiếc quần ống hơi chật bị cắt cho rộng ra để có thể lọt một cái chai.

Thời trang cách mạng, bưng biền không chấp nhận kiểu ăn mặc như thế. Những chiếc quần jeans biến mất vào trong những góc tủ quần áo hay chạy ra chợ trời cùng với những kiểu quần áo “đồi trụy” tàn dư của Mỹ Ngụy phản động.

Về phía phụ nữ thì những chiếc áo dài cũng ngừng xuất hiện. Những chiếc không hoa lá, mầu mè sặc sỡ thì với mấy nhát kéo để làm cho mất đi những nét thời trang bay bướm của những ngày trước khi bưng biền tiến vào. Hai chục năm Hà Nội nhem nhuốc áo cánh, quần vải thô không thể chốc lát điều chỉnh để có lại được cảm quan nghệ thuật trong lãnh vực ăn mặc. Cách ăn mặc của phụ nữ Sài Gòn chắc chắn làm cho những người như cô nữ du kích vừa từ bưng vào thành phố không vui.

Thế nên phải dẹp cái thứ thời trang không thích hợp với lối ăn mặc của cách mạng. Kiểu ăn mặc đó là kiểu đồi trụy. Cái đẹp cách mạng không có lối ăn mặc như thế. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, những chiếc áo dài mini của tuổi trẻ Sài Gòn, những kiểu áo đẹp thầm kín chững chạc hơn, vai raglan, không eo cũng biến mất …

Sài Gòn đi rất chậm buổi chiều

Cánh tay tà áo sát vòng eo…

Guốc cao gót nhỏ mây vào gót

Áo lụa trăng mềm bay xuống thơ… (Nguyên Sa)

Nhưng rồi cũng không lâu sau đó, những chiếc áo dài “đồi trụy” thấy dần dần xuất hiện trở lại. Chúng được mua ở chợ trời của những người chủ của chúng để giải quyết những cơn túng quẫn của trận phá sản kinh tế diễn ra ở miền Nam.

Những chiếc áo ấy được đem ra Bắc, được đem ướm vào những hính hài thô kệch, và bỗng biến những nét thô kệch ấy giảm đi ít nhiều. Những chiếc áo đó được đem ra mặc, và từ từ xuất hiện nhiều hơn khi người ta thấy chúng giúp làm bớt đi những nét quê kệch của người mặc. Chúng được dùng làm kiểu mẫu để đo may và cắt những chiếc áo mới.

Những chiếc áo dài từ đó dần dần không còn bị coi là đồi trụy nữa. Cán bộ nhà nước quay sang mặc chúng trong các dịp lễ lạc, tiếp tân và vợ của các lãnh tụ cũng diện chúng trong những chuyến xuất ngoại với chồng. Hết vợ Trương Tấn Sang lại đến vợ Ba Ếch… mụ nào cũng lôi những chiếc áo may theo kiểu áo dài của thời “đồi trụy Mỹ Ngụy”, nhưng không thấy một con khỉ đột nào đòi cắt hai vạt trước sau như hồi năm 1975 nữa.

Những cuộc trình diễn thời trang ở trong nước cũng đem trình diễn toàn những chiếc áo dài từng có lúc bị coi là đồi trụy và thiếu cách mạng tính, không tượng trưng cho nét đẹp bưng biền, giải phóng… Bọn ngợm từng xúc phạm, mạ lị, bôi bẩn những chiếc áo dài phải xin lỗi những chiếc áo dài mới phải.

Nhưng có lẽ cũng chẳng cần tới lời xin lỗi của một bọn quen trò nhổ rồi lại liếm nữa. Cứ lôi những chiếc áo dài đồi trụy ra mặc cũng đã là tự chúng nó chửi cha chúng nó lên rồi.

Những chiếc áo dài đều biết điều đó!

Ta tìm gì trong cuộc sống?

Ta tìm gì trong cuộc sống?

Lm. Anmai, CSsR

Câu hỏi xem chừng chả có gì hay và cũng có thể gọi là câu hỏi vô duyên !

Tìm gì ư ? Tìm cơm áo gạo tiền. Thế mà cũng hỏi.

Thật vậy ! Trừ những đứa trẻ hay những học sinh – sinh viên, người lớn hay gọi là người trưởng thành lao đầu vào tìm tiền. Đơn giản có tiền mới trang trải cho cuộc sống cũng như đáp ứng nhu cầu cho cá nhân, cho gia đình.

Và rồi trong cuộc sống, người nghèo thì tìm sao cho đủ ăn đủ mặc. Người quá nghèo thì chắc có lẽ chỉ cần có cái ăn còn cái mặc thì ai cho gì mặc đó. Còn người giàu có thì lại muốn tìm thêm để sắm cái này, mua cái kia sao cho bằng chị bằng em.

Người giàu xem chừng ít ai biết đủ khi họ lao vào “cuộc chơi”. Có khi bất chấp sức khỏe, có khi không giành cho thời gian nghỉ mà lao đầu vào tìm tiền. Có những người tìm tiền bất cứ giá nào và bất chấp mọi thủ đoạn.

Trong cuộc sống, như định mệnh : người giàu kẻ nghèo ! Người giàu ở nhà cao cửa rộng, có xe và những thứ đắt tiền. Người nghèo thì chắc chỉ cần 4 bức vách và mái nhà để che thân.

Tất cả cùng lớn lên, cùng sống, cùng phát triển. Kèm theo sự tăng trưởng trong cuộc sống thì thời gian như cuốn lại, tuổi tác như già ra và cái chết như cận kề vì bệnh tật hay tuổi cao sức kém.

Cuối cùng, tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, màu da, địa vị, sắc đẹp, giàu sang phú quý hay nghèo hèn … tất cả đều phải chết.

Tôi vẫn có thói quen thăm mộ Mẹ, phòng hài cốt có tro bụi của Cha. Mỗi lần đến đó, hình ảnh thân thương lại tràn về. Những người nằm quanh đó cũng như cha mẹ. Những nhà giàu thì mộ được xây to hơn người khác nhưng bên dưới cũng chỉ là xác đất vật hèn mà thôi.

Nhìn những nấm mộ ở nghĩa trang, nhìn những chiếc hủ cốt tại phòng Chờ Phục Sinh … ta thấy được điều gì ? Xin thưa ta thấy được dúm tro tàn hay bộ xương khô của những người nằm đó. Và thử hỏi, cuối đời họ mang theo được gì khi đến trước mộ phần.

Trước mộ phần, người thân ta đó chứ ! Trước mộ phần, người quen ta đó chứ ! Trước mộ phần, bè bạn ta đó chứ ! Trong những người đó, khi sinh thời có khi là một giám mục, một linh mục, một doanh nhân giàu có, một đại gia thành đạt … nhưng giờ còn nữa đâu. Phần ta, ngày sau ta cũng như họ không hơn không kém. Ta cũng được vùi sâu trong lòng đất hay được thiêu đốt thành dúm tro tàn.

Cuộc đời là vậy đó để rồi ta tìm gì nữa ?

Vẫn là con người, lệ thuộc trong định luật của con người để rồi con người tìm kế sinh nhai. Thế nhưng rồi chả lẽ con người cũng như con chim con chiện đi tìm kế sinh nhai xong rồi chết hay sao ? Con người đâu như con vật kia rằng thì là chết là hết. Với những người có đạo, với những người có tín ngưỡng vào xác loài người sẽ sống lại e rằng không dừng lại ở cái chuyện tìm kế sinh nhai nhưng lại là đi tìm cái cửa đàng sau cửa chết.

Kinh nghiệm còn đó và có đó nhưng dường như ít ai thuộc cho lắm để rồi con người ta lao đầu vào tìm đủ mọi cách sao cho mình được giàu sang phú quý và có những người không ngần ngại tranh giành với cha, với mẹ và với anh chị em mình để thừa hưởng vài đồng bạc lẻ hay mảnh đất hay cùng lắm là căn nhà. Và rồi họ quên rằng sau khi họ tranh giành như vậy liệu rằng cuộc đời của họ có bình an hay như là những của cải đó mang theo đến mộ phần cùng với họ. Khi chợp mắt khép mi rồi thì tất cả danh vọng, tiền tài, lụa là gấm vóc đều để lại.

Tôi vẫn hình dung tương lai ở phía trước trong phần mộ hay trong nhà hài cốt. Bon chen cho lắm, cày cho thật sâu và thật lâu nhưng cuối cùng chỉ là dúm tro tàn mà thôi.

Ý thức như vậy cùng với suy nghĩ có thể ngày hôm nay là ngày cuối cùng cho sự sống để lòng được thanh thản hơn. Kèm theo đó là câu mà mình tự hỏi rằng cả cuộc đời mình đi tìm cái gì để cho dễ sống.

Nếu như ai nào đó nghĩ và tin rằng cuộc đời này là mãi mãi, trần gian này là vinh phúc thì cứ mãi đi tìm theo tự do của họ. Còn nếu ai xác tín và chân nhận rằng cuộc đời này chỉ là cõi tạm hay là kiếp phù du thì ta sẽ có con đường sống thanh tao nhàn nhã với những vật lộn kiếp sống.

Cứ mỗi lần đi vào thăm làng đồng bào thiểu số là mỗi một lần ta tự hỏi cũng như trả lời cho thái độ sống của ta. Người trong buôn họ nghèo lắm, họ khó khăn lắm nhưng sao lòng của họ thật bình an. Đơn giản vì rằng họ không có nhu cầu cao trong cuộc sống cũng như họ thấy đủ nên lòng cứ bình an.

Nói như thế không phải ta thụ động hay buông xuôi. Nghĩ như thế không phải là ta để cho đời trôi như cánh bèo nhưng là để ta ý thức về cái cùng đích của đời ta cũng như ta mang theo gì được đến với mộ phần.

Ngày mỗi ngày, ta lại xin Chúa cho ta ơn bình an trong cuộc sống. Ngày lại ngày ta xin Chúa cho ta luôn ý thức rằng ta đủ trong mọi hoàn cảnh để ta được mãi bình an.

Lm. Anmai, CSsR

Nhờ DNA, một ông tìm được mẹ Việt và cha Mỹ sau 50 năm