ƠN CỨU CHUỘC NGANG QUA SỰ VÂNG PHỤC

ƠN CỨU CHUỘC NGANG QUA SỰ VÂNG PHỤC

 Jos. Vinc. Ngọc Biển

Hôm nay, cùng với toàn thể Giáo Hội hân hoan mừng trọng thể lễ Truyền Tin Thiên Chúa nhập thể.  Nói cách khác, hôm nay, chúng ta long trọng mừng biến cố Thiên Chúa chính thức thực hiện lời hứa cứu độ với nhân loại khi trao ban Con của Người xuống thế và nhập thể trong cung lòng Đức Trinh Nữ Maria.

Qua biến cố vĩ đại này, tinh thần phụng vụ hướng chúng ta về hai mẫu gương vâng phục của Đức Giêsu và Mẹ Maria, đồng thời cũng mời gọi mỗi người chúng ta noi gương Đức Giêsu và Mẹ Maria để sống sự vâng phục trong cuộc sống đạo hôm nay.

  1. Vâng phục để cứu độ

Khi nói đến sự vâng phục, chúng ta nhớ ngay đến đoạn Kinh Thánh mà thánh Phaolô đã viết trong thư gửi tín hữu Philípphê, ngài viết: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Pl 2, 6-7).

Sự vâng phục này là khởi đầu của nguồn ơn cứu độ, vì nếu Đức Giêsu không vâng phục Thiên Chúa để trở thành Đấng Emmanuen, nhằm cứu chuộc nhân loại tội lỗi, thì chắc chắn Thiên Chúa sẽ phải chọn con đường khác.  Tuy nhiên, con đường tự hủy mà Đức Giêsu đã chọn là con đường tuyệt vời nhất, bởi vì nó diễn tả trọn vẹn tình yêu của Thiên Chúa.  Điều này đã được thánh Gioan nhắc đến, ngài nói: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16).

Sự vâng lời của Đức Giêsu hoàn toàn được diễn ra trong tự do và tự nguyện, vì thế, Ngài đã nói: “Lạy Chúa, này con xin đến để thi hành thánh ý Chúa” (Tv 39, 8a – 9a); hay: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy” (Ga 4, 34).  Chính nhờ sự vâng phục tuyệt đối trong tự do này, mà Đức Giêsu trở thành nguồn ơn cứu độ đến muôn ngàn đời.  Tại sao vậy?  Thưa!  Bởi vì Ngài đã vâng lời và vâng lời cho đến chết, chết trên cây thập tự và đã chấp nhận đổ máu mình ra nhằm cứu chuộc con người.

Chính vì sự vâng phục này, mà nhân loại đón nhận được ơn cứu chuộc của Thiên Chúa ngang qua Đức Giêsu, Đấng vừa là Thiên Chúa thật, vừa là người thật.

  1. Vâng phục để đồng công cứu chuộc

Khi nói đến sự vâng phục của Đức Giêsu, chúng ta không thể không nói đến sự vâng phục của Đức Maria.  Mặc dù phụng vụ canh tân ngày nay không còn tập trung nơi Đức Maria như trước kia vào thời Trung Cổ.  Tuy nhiên, khi nói đến ơn cứu chuộc của Đức Giêsu nhờ sự vâng phục mà có, thì Giáo Hội cũng luôn đề cao sự cộng tác của Mẹ Maria trong công cuộc ấy cũng bằng chính sự vâng phục nơi Mẹ.

 Sự vâng phục của Mẹ Maria được đánh giá rất cao trọng, bởi vì khi Mẹ vâng phục thánh ý Thiên Chúa, kế hoạch riêng tư của Mẹ hoàn toàn sang trang và chuyển hướng khác, để nhường cho chương trình và ý định của Thiên Chúa trên toàn thể nhân loại.

Nói như thế, là vì Đức Mẹ ngay từ khi còn nhỏ đã khấn giữ mình đồng trinh để thuộc trọn về Chúa và phụng sự Người.  Tuy nhiên, Thiên Chúa lại có chương trình riêng cho người thiếu nữ Sion này, đó là muốn Mẹ nhận lời và cưu mang Con Thiên Chúa làm người để cứu chuộc nhân loại.

Biết được ý định ngàn đời của Thiên Chúa, nên sau khi đã nghe lời giải thích của sứ thần: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng tối cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa” (Lc 1, 35), Mẹ Maria đã mau mắn trong tự do để thưa lên với Thiên Chúa ngang qua sứ thần: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1, 38).  Nhờ hai tiếng xin vâng của Mẹ, nhân loại tràn đầy niềm hân hoan, vì từ nay, Con Thiên Chúa đã đến và ở với loài người.

Khi chọn Mẹ Maria, người thiếu nữ Sion để cộng tác với Thiên Chúa trong công trình cứu chuộc, Thiên Chúa đã khai mở một kỷ nguyên mới, thiết lập một dân tộc mới thay thế cho dân cũ đã bị cái chết bao phủ do tội bất tuân của Evà.  Từ nay, muôn đời sẽ khen Mẹ diễm phúc, vì từ cung lòng Mẹ đã cưu mang Đấng là Nguồn Ơn Cứu Độ, Nguồn Mạch Sự Sống.

Cũng chính lời xin vâng này, mà cuộc đời của Mẹ đã kết hiệp mật thiết với Đức Giêsu trọn vẹn.  Mẹ đã trở thành Đấng đồng công cứu chuộc với Con Chí Ái của mình.

  1. Người Kitô hữu sống tinh thần vâng phục

Sứ điệp Lời Chúa và tinh thần phụng vụ ngày lễ hôm nay mời gọi chúng ta hướng về Đức Giêsu và Mẹ Maria như là mẫu gương tuyệt hảo cho sự vâng phục trong đời sống đức tin hằng ngày của mỗi người. 

Nếu trước kia, nơi Đức Giêsu, Ngài đã tự nguyện trút bỏ vinh quang để vâng phục Thiên Chúa Cha qua việc đến trần gian trong thân phận là một con người nhằm cứu chuộc nhân loại; và nếu Mẹ Maria khi vâng lời Thiên Chúa và sẵn sàng để cho thánh ý của Người được thực hiện, thì đến lượt chúng ta, nếu muốn trở nên người môn đệ đích thực của Chúa trong lòng Giáo Hội hôm nay, thiết nghĩ con đường tự khiêm tự hạ và vâng phục trong lòng mến của Đức Giêsu và Mẹ Maria chính là lựa chọn của chúng ta.

Tuy nhiên, với sự yếu đuối của con người và với những trào lưu hiện sinh của nhân loại ngày nay, chúng ta rất khó có thể vâng phục, nhất là sự vâng phục của đức tin!

Nhiều khi chúng ta biện hộ cho việc bất tuân của mình bằng những chuyện như: vâng phục là mất tự do; vâng phục làm cho con người bị lệ thuộc.  Hiểu theo nghĩa tâm lý hay triết học thì thật đúng như vậy.  Tuy nhiên, hiểu theo nghĩa đức tin dưới ánh sang Lời Chúa thì không phải vậy, bởi vì: “Tự do đạt tới mức hoàn hảo khi quy hướng về Thiên Chúa, nguồn hạnh phúc của chúng ta.  Chỉ có tự do đích thực khi con người phục vụ cho điều thiện và công bằng.  Khi bất tuân ý Chúa và chọn điều ác, con người lạm dụng tự do và trở nên “nô lệ tội lỗi” (SGLHTCG. Số 1733).

Thực tế cho thấy, những ai trung thành với Chúa, người đó đạt tới đích trong sự viên mãn.  Những ai biết gắn bó cuộc đời của mình với Thiên Chúa trong sự vâng phục, cuộc sống của người ấy vui tươi bình an và hạnh phúc. 

Lạy Thiên Chúa toàn năng, chúng con tạ ơn Cha đã ban cho chúng con chính người Con Một duy nhất của Cha đến trần gian qua cung lòng Mẹ Maria, để chúng con được hưởng dồi dào ơn cứu chuộc của Đấng vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật.  Xin Cha ban cho chúng con biết noi gương Con Một Cha và Đức Trinh Nữ Maria để sẵn sàng hiến dâng cuộc đời của mình trong sự vâng phục nhằm cộng tác vào công trình cứu chuộc mà Thiên Chúa đang thực hiện trong thế giới hôm nay.  Amen!
 

Jos. Vinc. Ngọc Biển

NHỤC HÌNH CỦA THẬP GIÁ

NHỤC HÌNH CỦA THẬP GIÁ

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Khi Chúa Giêsu chảy mồ hôi máu ở vườn Giết-sê-ma-ni, Ngài đã xin Chúa Cha cất chén đắng này, chủ yếu Người không chùn bước trước viễn cảnh đau đớn thể xác tàn bạo.  Người chùn bước trước viễn cảnh một kiểu đau đớn cụ thể mà thông thường đa số sợ hơn là nỗi đau thể xác.  Khi Người hỏi Chúa Cha liệu có nhất thiết phải chết theo cách đó hay không, là Người không ám chỉ đến án tử hình.

Hình phạt đóng đinh trên thập giá do người La Mã chế ra có thêm một ý định khác.  Nó ấn định một án tử hình, giết một tội phạm, nhưng ngoài ra nó còn mục đích làm một số điều khác nữa.

Hình phạt đóng đinh trên thập giá nhằm gây ra nỗi đau thể xác cùng cực.  Vì vậy, người ta cố tình kéo dài quá trình này trong nhiều giờ đồng hồ và họ tính toán cẩn thận để cường độ đau đớn tăng dần nhưng không làm cho tội phạm bất tỉnh để dịu cơn đau khi bị đóng đinh.  Thực tế, đôi khi họ còn cho tội nhân uống rượu vang có trộn moóc-phin, không phải để làm dịu cơn đau, mà để không ngất xỉu vì quá đau, và như vậy họ phải tiếp tục chịu đựng cơn đau đớn đó lâu hơn.

Nhưng hình phạt đóng đinh trên thập giá còn có một ý định khác nữa, thậm chí còn ác độc hơn.  Đó là nhằm sỉ nhục tội nhân.  Ngoài những chuyện khác, tội nhân còn bị lột truồng trước khi bị treo lên thập giá, để bộ phận sinh dục phơi ra trước dân chúng.  Còn nữa, vào giây phút lìa đời, ruột gan của họ sẽ bung ra.  Rõ ràng hình phạt đóng đinh trên thập giá nhằm hạ nhục.

Chúng ta xưa nay có xu hướng xem nhẹ khía cạnh này, cả trong giáo huấn lẫn trong nghệ thuật.  Như Jurgens Moltmann nói, chúng ta đã trang trí cây thập giá với toàn hoa hồng, toàn những tấm khăn choàng thẩm mỹ và vô trùng.  Nhưng trường hợp của chúa Giê-su không phải như vậy.  Người bị lột truồng trước công chúng, thân thể người bị hạ nhục trước dân chúng.  Điều đó, bên cạnh những điều khác, là lý do hình phạt đóng đinh trên thập giá đã giáng một đòn chí mạng đối với các môn đệ và là lý do tại sao đa số các môn đệ bỏ Chúa Giêsu và phân tán khắp nơi sau sự kiện Chúa bị đóng đinh trên thập giá.  Đơn giản các môn đệ này không thấy có mối liên hệ nào giữa kiểu hạ nhục này với vinh quang, thần thánh và chiến thắng.

Một điểm thú vị là có một tương đồng rõ rệt giữa hình phạt đóng đinh trên thập giá gây ra cho cơ thể và những gì mà bản chất tự nhiên làm đối với cơ thể qua tuổi tác, bệnh ung thư, bệnh mất trí nhớ, AIDS, những căn bệnh như Parkinson, Lou Gehrig, Huntington, và những chứng bệnh khác làm hạ thấp con người trước khi cơ thể chết.  Chúng phơi bày ra trước mắt mọi người những gì dễ tổn thương nhất bên trong con người.  Chúng hạ nhục thân thể.

Tại sao vậy?  Đâu là mối liên hệ giữa loại đau đớn này và vinh quang ngày Chuá nhật Phục Sinh?  Tại sao, như Phúc âm nói, “trước hết phải chịu đau đớn mới vào vinh quang?”

Bởi vì, điều trớ trêu là, phải chịu bị nhục sâu thẳm nào đó tâm hồn mới có một tầm mức sâu sắc.  Bằng cách nào, và tại sao như vậy?  Không dễ dàng gì để biện giải một cách duy lý, nhưng chúng ta có thể hiểu được điều này thông qua trải nghiệm:

Hãy dũng cảm và trung thực tự đặt cho mình câu hỏi này: Những trải nghiệm nào trong cuộc đời đã làm cho tôi thành chín chắn?  Tôi dám nói rằng, trong hầu hết mọi trường hợp, những trải nghiệm làm bạn trở nên sâu sắc sẽ là những sự cố bạn cảm thấy bị nhục khi phải chấp nhận nó, một bất lực mà bạn không tự bảo vệ mình, một phỉ báng mà bạn không thể tự bào chữa, một lệch lạc của cơ thể hay trí óc đã khiến bạn bị tổn thương, một vụ việc tủi hổ từng xảy đến với bạn, hay một lỗi lầm nào đó bạn đã phạm và bị phơi bày ra trước mắt mọi người các mặt yếu của bạn.  Tất cả chúng ta, giống như chúa Giê-su, cách này cách khác, đều đã từng bị treo lên thập giá và bị hạ nhục trước công chúng.  Và bị hạ nhục ở mức độ nào thì chúng ta trở nên sâu sắc chính ở mức độ ấy.

Nhưng sự sâu sắc của tâm hồn lại theo nhiều cách khác nhau.  Sự sỉ nhục làm chúng ta sâu sắc, nhưng chúng ta có thể sâu sắc hơn về tính cách, về hiểu biết, về lòng độ lượng, vị tha, hay chúng ta cũng có thể phẫn uất, cay đắng, tìm cách trả thù và sát hại sâu sắc hơn.  Hình phạt đóng đinh trên thập giá của Chúa Giê-su đã làm trái tim của Chúa giãn nở hơn nhưng giãn nở trong niềm thương cảm, rộng lượng và vị tha.  Không phải ai cũng vậy.  Nhiều trong số những kẻ sát nhân hàng loạt cũng từng chịu sỉ nhục sâu sắc và điều đó cũng làm cho trái tim họ giãn nở ra nhưng trừ một điều là trong trường hợp của họ, sự sỉ nhục đã khiến họ sâu sắc hơn trong nỗi cay đắng, độc ác, và sát nhân.

Cách đây vài năm, tôi tham dự một khóa hội thảo hè ở Viện Đại học Notre Dame, nơi cộng đoàn Thánh Giá họp lại để làm lễ phong thánh cho vị sáng lập dòng.  Suy tư về linh đạo của người sáng lập, một thành viên của cộng đoàn Thánh Giá đã đưa ra thách thức này cho cộng đoàn của anh: Nếu anh sống trong bất kỳ một gia đình nào, sau bất kỳ một khoảng thời gian nào, đến một lúc nào đó, gia đình đó sẽ làm anh tổn thương, và làm anh tổn thương sâu sắc.  Nhưng, đây chính là điều quan trọng, cái cách mà anh xử sự với vết thương đó, một cách cay đắng hay với lòng vị tha, nó sẽ quyết định suốt cả phần đời sau đó của anh!

Khi bị phạt đóng đinh trên thập giá, Chúa Giê-su bị hạ nhục, bị phỉ báng, bị đối xử tàn nhẫn.  Nỗi đau này đã làm giãn trái tim Người ra một chiều sâu lớn lao.  Nhưng khoảng không gian mới giãn ra đó không chứa nỗi cay đắng và phẫn uất.  Nó chứa đầy lòng thương cảm và vị tha sâu sắc mà chúng ta vẫn chưa thể nào hiểu được trọn vẹn.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim

Thánh Ca : Kính Mừng Thánh Giuse – Năm Thánh Giuse 2021

httpv://www.youtube.com/watch?v=nsWLUbIDr94

Thánh Ca : Kính Mừng Thánh Giuse – Năm Thánh Giuse 2021

  Kính Mừng Thánh Giuse

19 tháng 3 Lễ Mừng Kính Thánh Giuse (Năm Thánh Giuse 2021)

Xin mời nghe Ca Đoàn “Tiếng Gọi Lòng Thương Xót” trình bày.

                        Kính Mừng Thánh Giuse

Xin Chúc Mừng Thánh Bổn Mạng đến quý cha & quý anh có tên thánh Giuse cùng quý vị Gia Trưởng.

Kính,

Phạm Trung

Ngôi Đền Kính “THÁNH CẢ GIUSE” giữa lòng Sài Gòn

Ngôi Đền Kính “THÁNH CẢ GIUSE” giữa lòng Sài Gòn

Tính cách của thánh Giuse đơn sơ, mộc mạc; các thánh sử cũng không ghi chép nhiều về ngài trong Tân Ước. Các địa điểm dành riêng để kính ngài cũng không nhiều. Nhưng ít ai biết ngay giữa trung tâm Sài Gòn nhộn nhịp, có một ngôi đền kính thánh nhân mà ngày ngày tín hữu từ khắp muôn nơi tìm đến dâng lời nguyện cầu.

Không gian yên bình

Tọa lạc tại số 69 đường Trường Chinh, phường 12, quận Tân Bình, gần ngã tư Bảy Hiền, Ðền Công Chính Thánh Giuse nằm khuất sau những dãy nhà bề thế bao quanh. Qua cánh cổng Tam quan, đập vào mắt mọi người là một ngôi đền được xây theo kiểu phương đình với những đường nét kiến trúc Việt truyền thống. Ngoài đền chính, trong khuôn viên còn có một quần thể kiến trúc được phối trí hài hòa. Từ cổng vào nếu nhìn sang bên phải là tượng đài Mẹ Vô Nhiễm, còn bên trái lần lượt là bức phù điêu các thánh tử đạo Việt Nam, tượng đài thánh Giuse với câu nhắn nhủ nằm phía dưới: “Hãy đến cùng Giuse”, và tượng đài chân phước Anrê hiển tu (Chân phước Anrê Bessette, 1845 – 1937) được đặt gần bậc thềm dẫn lên ngôi đền như người canh giữ. Cũng chính việc nằm lặng lẽ giữa khu dân cư, trong một khuôn viên không rộng, cảm nhận của những ai lần đầu đặt chân đến là vẻ ấm cúng, yên bình, như một khoảng lặng giữa sự sôi động của thành phố.

Ðền Công Chính Thánh Giuse do cha Giuse Maria Phạm Châu Diên (1914 – 2007) xây năm 1992, trùng tu lại vào năm 2006. Cha Giuse Maria Phạm Châu Diên đã qua đời, an nghỉ bên trong khuôn viên đền thánh, dưới chân tượng Chúa Thương Xót. Ngày đầu mới hình thành, nơi đây khá vắng vẻ vì vốn là nhà hưu dưỡng của các linh mục gốc Bùi Chu. Nhưng theo thời gian, bà con truyền tai nhau nên số người tìm đến kính viếng thánh Cả ngày một đông. Hiện nay, Ðền Công Chính trở thành nơi thu hút hàng chục ngàn tín hữu mỗi năm, trở thành nét độc đáo riêng biệt trong đời sống đạo của người giáo dân Sài Thành.

Đài kính Thánh Giuse trong khuôn viên Đền thánh – ảnh: Đình Quý

Ðể phục vụ lượng người đông đảo hằng năm cũng như chương trình mục vụ xuyên suốt tại đền, một ấn tượng không thể bỏ qua chính là những anh chị em tình nguyện viên. Ðền thánh không phải như các giáo xứ hay giáo họ nên không có giáo dân hiện hữu, tín hữu phụ giúp là từ những xứ cận kề hay nơi khác đến, nhưng tất cả đều với tinh thần nhiệt huyết và hăng say, chọn việc phục vụ làm niềm vui cho bản thân. “Hiện giúp tại đây cũng mười mấy người, trong đó túc trực thường xuyên có 5 anh em. Tuy nhiên cứ đến Chúa nhật hay dịp lễ trọng thì không cần nhắc mọi người cũng tự động tới đông đủ. Ðông người xúm tay lại giúp mọi công việc lẹ làng hơn”, ông Giuse Nguyễn Ðức Bảo, giáo dân xứ Hà Ðông, hạt Xóm Mới nói.

Nơi Lắng Đọng Tâm Hồn

Mỗi ngày tại đền đều có thánh lễ, cha Giuse Trịnh Văn Thậm Giám đốc Ðền Công Chính cho biết, thánh lễ diễn ra lúc 8 giờ sáng, Chúa nhật có thêm một lễ lúc 4 giờ chiều. Mỗi lễ như vậy có khoảng 200 tín hữu tham dự. Riêng trong ngày thứ Tư, ngày dành riêng để kính Thánh Giuse thì Ðền thánh đón tiếp lượt người đông hơn, và ngày này cũng có thêm một lễ chiều lúc 4g45. Ngoài ra, theo ghi nhận của chúng tôi, rải rác trong ngày từ sáng đền chiều tối luôn có khá đông người tìm đến cầu nguyện.

ĐềnCôngChính ThánhGiuse vớinhữngđường nétkiếntrúc Việt truyền thống –
ảnh: Đình Quý

Ðến với Ðền thánh, các tín hữu đều mang tâm tình mến yêu, lời tạ ơn, cùng cả những khấn xin, nguyện cầu. Bà Trịnh Bích Thùy, giáo dân xứ Tân Phú vẫn thường hay ghé qua để xin sự hòa thuận trong gia đình như tấm gương Thánh Gia xưa. Cũng vì yêu mến thánh nhân nên hai người con trai bà đều chọn tên thánh Giuse và luôn phó thác trong tay thánh bổn mạng. “Tối nào trong giờ kinh chung, chúng tôi đều đọc kinh Ông Thánh Giuse để dâng lên ngài những tâm tình”, bà Thùy cho biết thêm. Với người trẻ thì khi đến với thánh Cả, họ mang theo những suy nghĩ rất thật, như trong câu chuyện với chúng tôi, chị Bùi Thị Hoa (xứ Chí Hòa) bộc bạch, bản thân vẫn luôn nguyện cầu để sau này lập gia đình có được một người chồng gương mẫu, biết sẻ chia và xây dựng tổ ấm như gương ngài.

Tìm về đây, ngoài giáo dân trong Tổng Giáo phận còn có không ít bà con từ những vùng miền khác. Ngày ghé viếng, chúng tôi gặp đoàn hành hương đến từ giáo phận Phát Diệm. Trong thời gian lưu trú nhà người quen để hôm sau đến hành hương tại Tắc Sậy – nơi có mộ cha Trương Bửu Diệp – khi nghe biết về Ðền Công Chính, cả đoàn đã tìm tới. “Ðây cũng là lần đầu tôi đến một nơi tôn kính thánh Giuse, cảm giác thú vị và thật thiêng liêng”, bà Thu – thành viên của đoàn chia sẻ. Riêng những tín hữu mang tên thánh Giuse thì họ đến khấn xin để cố gắng noi theo gương sống của thánh bổn mạng để sống lương thiện, cần cù trong lao động và cả sự kính thờ Thiên Chúa.

Như vậy mới thấy, dù không có nhiều đền đài, điểm hành hương tôn kính, nhưng trong đời sống đạo của người Kitô hữu, cha nuôi Ðức Giêsu luôn có một vị trí trang trọng, gần gũi với mọi gia đình Công giáo. Và Ðền Công Chính là nơi góp phần lan tỏa lòng mến mộ thánh Giuse đến gần hơn với nhiều người.

ÐÌNH QUÝ

From: KittyThiênKim & KimBằng Nguyen

THÁNH GIUSE NGƯỜI ĐI TRONG ĐÊM ĐEN

THÁNH GIUSE NGƯỜI ĐI TRONG ĐÊM ĐEN 

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Trong các bức tranh vẽ thánh Giuse, tôi thích nhất bức tranh vẽ thánh Giuse đưa Đức Mẹ và Chúa Giêsu trốn sang Ai cập.  Bầu trời đen thẫm.  Một vài tia chớp loé lên ở cuối chân trời vừa soi đường cho Thánh gia, vừa báo hiệu cơn giông bão sắp tới.  Đức Maria bồng Chúa Giêsu ngồi trên lưng lừa.  Thánh Giuse dắt lừa.  Cả người cả lừa như lẩn vào màn đêm.  Bức tranh không chỉ đẹp ở nét vẽ gợi cảm, mà còn đẹp về ý nghĩa.  Ngắm bức tranh, tôi thấy hiện lên cả cuộc đời thánh Giuse: một đời bước đi trong đêm tối.

Thánh Giuse đã đi trong đêm tối đức tin.  Ngài đã sống chung với Đức Maria và Đức Giêsu, những con người của huyền nhiệm.  Một người bình thường đã là một thế giới huyền bí.  Một con người của huyền nhiệm lại càng sâu xa bí ẩn hơn bội phần.  Đi bên những huyền nhiệm cũng như đi trong đêm tối.

Thánh Giuse không hiểu gì hết.  Không hiểu mà vẫn phải đón nhận.  Không hiểu mà vẫn phải tin, phải yêu.  Không hiểu mà vẫn phải đồng hành cho đến mãn đời.  Thánh Giuse giống như người lính canh được cấp trên trao cho một chiếc hộp đóng kín.  Người lính canh chỉ có nhiệm vụ canh giữ mà không được phép mở ra.  Trong hộp có gì?  Có thể là một kho tàng quý giá.  Nhưng cũng có thể là chiếc hộp rỗng không.  Không biết.  Nhưng vẫn phải canh giữ.

Thánh Giuse đã đi trong đêm tối im lặng.  Ngài đi trong sự im lặng của Đức Maria, người bạn yêu quý.  Trước những mầu nhiệm cao cả, Đức Maria đã lặng thinh không nói.  Ngài đi trong sự im lặng của Chúa Giêsu.  Thiên Chúa làm người vẫn là một mầu nhiệm ẩn dấu và Chúa Giêsu không hề hé lộ thân phận.  Ngài đi trong sự im lặng của Thiên Chúa.  Thiên Chúa không bao giờ trực tiếp nói với Ngài.  Chỉ có vài lần.  Mà chỉ là những tiếng vọng mơ hồ, giữa đêm khuya, trong giấc ngủ.  Vẫn là ngôn ngữ của im lặng.  Im lặng đáng sợ.  Nhất là khi phải đối đầu với nguy hiểm, với nghi ngờ, với những vấn đề hệ trọng của đời sống.  Im lặng khó hiểu khi những gì thân thiết nhất trong đời lại trở nên bí ẩn, cách xa.  Im lặng nguy hiểm.  Nó có thể đốn ngã thân cổ thụ, làm chao đảo những niềm tin vững mạnh nhất.  Ngài đi trong im lặng của chính mình.  Trong cả bốn Phúc Âm, không thấy ghi lại lời nói nào của thánh Giuse.  Ngài bước đi trong âm thầm lặng lẽ.

Thánh Giuse đã đi trong đêm tối lãng quên.  Ngài bị lãng quên trong làng quê nhỏ bé, trong thân phận nghèo hèn của bác thợ mộc.  Người ta không bao giờ nhắc đến Ngài.  Nếu có nhắc đến, cũng chỉ để chê bai, dè bỉu, để hạ thấp thân phận của Chúa Giêsu : “Giêsu con của bác Giuse thợ mộc tầm thường ấy mà.  Có làm gì nên chuyện.”  Ngài bị lãng quên vì luôn luôn ở phía sau, luôn luôn chìm trong bóng tối.

Phúc Âm kể về Đức Maria.  Sách Tông Đồ Công Vụ kể về Đức Maria.  Nhưng từ khi Chúa Giêsu khôn lớn không ai nói gì về Thánh Giuse nữa.  Ngài chìm vào đêm tối quên lãng.  Ngài luôn luôn đóng vai phụ, như hình ảnh dắt lừa đi trong đêm tối.

Thánh Giuse đã đi trong đêm tối thử thách.  Thân phận nghèo hèn.  Sống trong im lặng và lãng quên, nhưng những thử thách Ngài phải đương đầu lại rất cam go.  Rất hiền lành, nhưng phải đương đầu với Hêrôđê hung hãn.  Mình giữ mình chưa xong, lại phải che chở cho một hài nhi sơ sinh và một sản phụ yếu ớt.  Nhưng những thử thách, khốn khó về thể lý dù cam go thế nào cũng còn chịu được.  Những thử thách đức tin mới thật là khủng khiếp.  Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa ư?  Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa ư?  Thật khó mà chấp nhận được.  Sao Con Thiên Chúa quyền uy dường ấy lại bé nhỏ yếu ớt thế này?  Sao Vua Trời vinh hiển lại phải trốn chạy một ông vua trần thế.  Các thử thách làm cho đêm tối càng đen hơn, càng dầy hơn, càng sâu hơn.

Tuy đêm có đen, tuy chân có mỏi, tuy lòng có xao xuyến nhưng Thánh Giuse vẫn bước đi.  Tuy thử thách có nặng nề, Thánh Giuse vẫn chiến đấu.  Cha Teilhard de Chardin nói: người chiến đấu giống như người bơi lội ngoài biển ban đêm.  “Ban đêm, người bơi lội vùng vẫy trong làn nước biển có chất lân tinh, làm ánh sáng loé lên chung quanh mình.”

Thánh Giuse đã chiến đấu.  Những chiến đấu mạnh mẽ cũng làm loé lên chung quanh Ngài những làn ánh sáng soi bước chân Ngài đi.

Đi trong đêm tối đức tin, Ngài có ngọn lửa đức mến soi đường.  Đêm đen lắm, nhưng Ngài cứ yêu mến Chúa, cứ gắn bó với Chúa, và cứ bước đi với Chúa.

Trong đêm tối im lặng, Ngài đốt lên trong tâm hồn ngọn đèn thao thức, lắng nghe, đón chờ.  Niềm thao thức khiến tâm hồn Ngài nhạy bén như một phím đàn mỏng.  Lời Chúa chỉ thoáng nhẹ như làn gió thoảng, phím đàn đã rung lên.  Ý Chúa chỉ mờ ảo trong giấc mơ, Ngài đã đọc được và mau mắn thi hành.

Trong đêm tối lãng quên, Ngài có đèn khiêm nhường dẫn lối.  Khiêm nhường chìm vào quên lãng.  Khiêm nhường phục vụ, khiêm nhường sâu thẳm.  Ngài có cùng tâm tình như Thánh Gioan Tẩy Giả: “Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi.”

Trong đêm tối thử thách, Ngài thắp lên ngọn đèn tin yêu phó thác. Tin vững vàng vào Lời Chúa.  Hoàn toàn phó thác cho Chúa.  Để Chúa dẫn đường qua đêm đen mù mịt.

Lạy Thánh Giuse, con cũng đang đi trong đêm đen.  Xin hãy thắp lên trong con những ngọn đèn của Thánh Cả, soi đường cho con đi đến nơi bình an.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

From: Langthangchieutim

KHẲNG ĐỊNH CỦA MỌI KHẲNG ĐỊNH

KHẲNG ĐỊNH CỦA MỌI KHẲNG ĐỊNH

“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một,

để ai tin vào Con của Người thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời” (Ga 3, 16).

Kính thưa Anh Chị em,

Có thể nói, phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay nổi bật với khẳng định của Chúa Giêsu, “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời”. Đây là một ‘khẳng định của mọi khẳng định’; vì lẽ, “Ga 3, 16” là Tin Mừng rút gọn như muốn hét lên, như muốn thổ lộ những lời dỗ dành ngon ngọt hầu rót vào tim con người một sứ điệp duy nhất: Thiên Chúa quá yêu thương nó.

Có đến bốn chân lý căn bản mà chúng ta có thể rút ra với sự soi sáng của Lời Chúa hôm nay.Trước hết, “Thiên Chúa đã yêu thế gian”. Thiên Chúa yêu con người; chúng ta biết điều này nhưng sẽ không bao giờ hiểu hết chiều kích sâu thẳm trong tình yêu của Người. Người là Cha yêu thương chúng ta bằng một tình yêu lớn lao và trọn vẹn, một tình yêu trổi vượt hơn bất cứ tình yêu nào mà chúng ta có thể trải nghiệm trong đời. Tình yêu của Người thật hoàn hảo; đó là tình yêu của một Thiên Chúa từ bi, khoan dung và nhẫn nại. Sách Sử Biên Niên hôm nay viết: “Trong những ngày ấy, tất cả những đầu mục tư tế và dân chúng đều bất trung”; nhưng “Chúa là Thiên Chúa tổ phụ họ, đã luôn luôn đêm ngày sai sứ giả đến với họ, vì Người thương xót dân và đền thờ của Người”.

Thứ hai, “Đã ban Con Một”. Tình yêu Chúa Cha thể hiện qua việc tặng trao Con Một là Chúa Giêsu Kitô cho thế gian. Con Một có nghĩa là tất cả đối với Cha; quà tặng Giêsu được ban, nghĩa là Chúa Cha ban cho chúng ta tất cả; qua đó, Thiên Chúa ban sự sống thần linh cho chúng ta. Thư Êphêsô hôm nay nói, “Thiên Chúa là Đấng giàu lòng từ bi, vì lòng yêu thương cao cả, Người đã yêu thương chúng ta, đến nỗi khi tội lỗi làm cho chúng ta chết, thì Người làm cho sống lại trong Đức Kitô”.

Thứ ba, “Để ai tin vào Con của Người”. Phản ứng thích hợp duy nhất chúng ta có thể thực hiện đối với quà tặng Giêsu chính là tin. Tin vào quyền năng biến đổi của việc đón nhận Giêsu vào đời sống mình; tin rằng, quà tặng Giêsu mang đến vô vàn ân phúc; Thánh Phaolô nói, “Trong Ngài, chúng ta lãnh nhận từ ơn này đến ơn khác”; nhất là ân sủng của Thánh Thần vốn biến đổi để chúng ta nên thánh mỗi ngày. Đón nhận Con Thiên Chúa đi vào cuộc đời mình, chúng ta tin tưởng vào sứ mệnh của Ngài, lắng nghe Lời Ngài, sống Lời Ngài và nên giống Ngài.

Thứ tư, “Không phải hư mất, nhưng được sống đời đời”. Kết quả của việc đón nhận Chúa Giêsu và dâng mạng sống mình cho Ngài là chúng ta trở nên một tạo vật mới; sống sự sống mới trong Ngài; không còn chết trong tội lỗi nhưng sống đời sống vĩnh cửu không chỉ mai ngày nhưng ngay hôm nay. Như thế, để được rỗi, không cách nào khác ngoài việc tin nhận Chúa Con. Chúng ta nhận biết, tin yêu, chấp nhận và đón nhận sự thật này như một ‘khẳng định của mọi khẳng định’.

Lần đầu tiên, Tin Mừng du nhập vào Nhật nhờ một phần Thánh Kinh trôi dạt vào bờ, được một bậc vị vọng vớt lên, ông tò mò đọc; sau đó, ông được tặng một cuốn Thánh Kinh và được các nhà truyền giáo hướng dẫn; Tin Mừng đã đến Nhật như thế! Khi hoàng hậu Hàn Quốc mất đi đứa con nhỏ của mình, một nữ tỳ đã nói với bà về thiên đàng, nơi đứa trẻ đã đi, và Đấng Cứu Độ sẽ đưa bà đến đó; Tin Mừng đến Hàn Quốc bởi một nô tỳ! Sự thành công của việc truyền giáo ở Telugu, Ấn Độ, phụ thuộc một phần vào John Cloud, một kỹ sư xây kênh đào trong thời kỳ đói kém, tạo việc làm cho hàng ngàn người lao động mà ông đã rao giảng hàng ngày với vỏn vẹn một câu “Ga 3, 16”, “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời”. Kết quả là 10.000 người đã được rửa tội trong một năm!

Anh Chị em,

Những ngày Mùa Chay, chúng ta đọc lại và thưởng thức từng lời, từng chữ khẳng định này, “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi hư mất, nhưng được sống đời đời”. Đây là toàn bộ lẽ thật về một Thiên Chúa yêu thương ngàn đời, Đấng không bỏ lỡ một cơ hội nào mà không yêu, không cứu, không xót thương. Một điều Người mong chờ chúng ta, là nhìn lên Thánh Giá, nơi Con của Người bị treo lên, mà tin rằng Người hằng yêu thương, mãi mãi yêu thương, một ‘khẳng định của mọi khẳng định’ không bao giờ phai nhoà.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin gia tăng tình yêu và niềm tin của con vào Chúa, hầu con không hư mất nhưng được sống đời đời, vì đó là một ‘khẳng định của mọi khẳng định’ Chúa hứa”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: minhanhhue06 & NguyenNThu

image.png

ĐỨC TIN, HOÀI NGHI, ĐÊM TỐI, VÀ TRƯỞNG THÀNH

ĐỨC TIN, HOÀI NGHI, ĐÊM TỐI, VÀ TRƯỞNG THÀNH

 Rev. Ron Rolheiser, OMI – J.B. Thái Hòa chuyển dịch

Trong một quyển sách nói về cầu nguyện chiêm niệm, Thomas Keating chia sẻ với chúng ta một chuyện mà cha nhiều lần nhắc đến khi linh hướng.  Người ta chạy đến với cha, chia sẻ rằng họ từng có một ý thức ấm áp và chắc chắn về Thiên Chúa trong cuộc đời mình, nhưng lại than với cha là hiện nay tất cả những ấm áp và xác quyết đó đã biến mất, và khiến cho họ phải đấu tranh với niềm tin, đấu tranh để cầu nguyện được như xưa.  Họ cảm nhận một cảm thức mất mát sâu sắc và lúc nào vấn đề của họ cũng là: Có chuyện gì với con thế này?”  Câu trả lời của cha Keating là: “Chúa có chuyện với con đó.”

Về căn bản, câu trả lời của Cha là: Dù bạn đau đớn, vẫn có một sự gì đó rất đúng với bạn.  Bạn đã qua thời tân tòng, đã qua các giai đoạn học đạo ban đầu cần có, và bây giờ bạn đang đi vào một đức tin, không phải bớt đi, nhưng là sâu sắc hơn.  Hơn nữa, sự sụt giảm lửa mến đó đưa bạn đến một sự trưởng thành chín chắn sâu đậm hơn.  Vậy nên, những gì bạn hỏi đúng ra là thế này: “Tôi từng khá chắc chắn về lòng đạo của mình, và cũng chắc chắn là nó có phần nào kiêu căng và phán xét.  Tôi cảm thấy tôi hiểu được Thiên Chúa và đạo, và tôi nhìn vào thế giới với đôi chút khinh thị.  Rồi đức tin tôi đi xuống, và cả những tin chắc của tôi nữa, giờ đây tôi thấy mình bớt chắc chắn về bản thân đi nhiều, biết khiêm nhượng, cảm thông và bớt phán xét đi nhiều.  Chuyện gì thế này?”

Hỏi như thế, thì cũng là câu trả lời.  Rõ ràng người đó đang tiến tới, chứ không phải thụt lùi.

Mất mát cũng là một bước.  Christina Crawford đã viết những dòng này, mô tả hành trình đau đớn của cô qua bóng tối để đến với sự chín chắn sâu đậm hơn. Để được cứu, trước hết, chúng ta phải nhận ra rằng, chúng ta đã lầm đường lạc lối, và thường thì cuộc sống chúng ta bị hụt hẫng để chúng ta nhận ra được điều này.”  Đôi khi, không có thuốc nào chữa chứng kiêu căng và tự phụ cho bằng một sự mất mát đầy đau đớn những xác quyết của mình về các ý niệm bản thân về Thiên Chúa, đức tin, và lòng đạo.

Thánh Gioan Thánh Giá đã nhận định rằng một đức tin lòng đạo sâu sắc bắt đầu khi chúng ta nỗ lực để hiểu, nhưng là bằng không hiểu hơn là hiểu.  Nhưng đây có thể là một cảm nghiệm rất bối rối và đau đớn, khiến nảy sinh cảm giác: Chuyện gì thế này?

Một động năng đầy hiếu kỳ và nghịch lý nằm ở đàng sau câu tự vấn này.  Chúng ta có khuynh hướng nhầm lẫn đức tin với năng lực của chúng ta trong việc vẽ lên một khái niệm về Thiên Chúa và hình dung sự hiện hữu của Ngài.  Hơn nữa, chúng ta nghĩ đức tin của mình mạnh nhất vào những lúc chúng ta có những cảm giác xúc động trước những tưởng tượng của chúng ta về Thiên Chúa.  Đức tin của chúng ta cảm thấy mạnh mẽ nhất khi được nâng đỡ và thổi bùng nhờ những cảm giác sốt mến đó.

Các ngòi bút thiêng liêng sẽ cho chúng ta biết rằng giai đoạn thiết tha này là một giai đoạn tốt trong đức tin, nhưng là một giai đoạn ban đầu, một cảm nghiệm chung khi chúng ta còn là những người mới theo đạo.  Cảm nghiệm thế này nâng đỡ đức tin.  Trong các giai đoạn đầu của cuộc lữ hành lòng đạo, thường có những hình dung và cảm giác mạnh mẽ đầy xúc động về Thiên Chúa.  Ở giai đoạn này, mối liên hệ giữa chúng ta với Thiên Chúa cũng tương tự như mối quan hệ của cặp vợ chồng trong tuần trăng mật.

Trong tuần trăng mật, bạn có những cảm xúc mạnh mẽ và một sự chắc chắn nhất định về tình yêu của mình, nhưng rồi bạn sẽ về nhà.  Tuần trăng mật là một giai đoạn ban đầu, một món quà giá trị, nhưng là sự sẽ tan biến đi sau khi làm đủ phần của mình.  Một tuần trăng mật không phải là cả cuộc hôn nhân, dù người ta thường nhầm lẫn như thế.  Với đức tin cũng vậy, các hình dung tưởng tượng mạnh mẽ về Thiên Chúa không phải là đức tin, dù người ta thường nhầm lẫn như thế.

Các hình ảnh tưởng tượng và cảm xúc mạnh mẽ về Thiên Chúa, đến cuối cùng, chỉ là những hình dung.  Tuyệt vời, nhưng hình tượng thì vẫn là hình tượng.  Một hình ảnh không phải là thực tế.  Một hình tượng có thể đẹp và hữu ích giúp chúng ta hướng theo đường đúng đắn, nhưng khi nhầm lẫn hình tượng này với thực tế, thì nó trở thành một ngẫu tượng.

Vì lý do này, mà các ngòi bút thiêng liêng bảo chúng ta rằng, đến những thời điểm nhất định trong hành trình thiêng liêng của chúng ta, Thiên Chúa “lấy đi” sự tin chắc, tước mất của chúng ta những nồng ấm, những cảm giác trong đức tin.  Thiên Chúa làm thế chính là để chúng ta không thể biến các hình dung thành ngẫu tượng, để chúng ta không thể biến cảm nghiệm về đức tin thành mục đích cho chính đức tin, trong khi đức tin chính là một cuộc gặp gỡ hiện thực và nhân thể Thiên Chúa.

Các nhà thần nghiệm như Gioan Thánh Giá đã gọi cảm nghiệm tưởng như mất đức tin này là “đêm tối của linh hồn.”  Điều này mô tả cảm nghiệm khi chúng ta từng cảm nhận sự hiện diện của Thiên Chúa một cách ấm áp và chắc chắn, nhưng bây giờ chúng ta cảm thấy như Thiên Chúa không hiện hữu, và chúng ta bị rơi vào hoài nghi.  Đây là những gì Chúa Giêsu đã cảm nghiệm trên thập giá, và cũng là những gì Mẹ Teresa viết trong nhật ký của mình.

Và dù đêm tối tâm hồn đó có gây nhiều hoang mang, nhưng nó cũng có thể làm cho chúng ta trưởng thành.  Nó có thể giúp chúng ta ra khỏi sự kiêu căng, phán xét, ra khỏi tình trạng tân tòng, để trở nên những con người khiêm nhượng, cảm thông, sống trong một đám mây vô định, hiểu bằng cách không hiểu, hơn là hiểu, lạc lối nhưng được ơn ích trong một bóng đêm mà chúng ta không thể vận dụng hay điều khiển, để đến cuối cùng chúng ta được đẩy mạnh vào đức tin, đức cậy và đức mến đích thực.

Rev. Ron Rolheiser, OMI – J.B. Thái Hòa chuyển dịch

From: Langthangchieutim

KHÁM TỔNG QUÁT

KHÁM TỔNG QUÁT

Trầm Thiên Thu

 Sách Lê-vi, chương 13, đề cập 22 lần động từ “khám” – trong đó có 1 lần “tái khám.”  Đó là nói tới bệnh phong hủi ở con người.

 Sinh, Lão, Bệnh, Tử là “chuỗi khổ” của kiếp người.  Trong đó, Bệnh là thứ cần được chữa lành.  Điều đó cũng ngầm hiểu rằng sự sống vô cùng quan trọng.  Và dù cho có chữa khỏi bệnh nào đó thì rồi cũng chẳng ai thoát khỏi “cửa tử”, y học có tiến bộ tới đâu thì cũng phải “bó tay”, chịu thua vô điều kiện.

 Mùa Chay không chỉ là lúc thuận tiện để kiểm tra tổng quát về sức khỏe tâm linh, mà còn là Mùa Cứu Thương.  Mùa này không phải cố giành sự sống của thân xác – phần thể lý, mà cố giành sự sống linh hồn – phần tâm linh.  Trước tiên, có lẽ chúng ta cần đến Khoa Tai-Mũi-Họng để kiểm tra.  Trong sách Châm Ngôn 6:12-19, Thiên Chúa cảnh báo về Miệng, Lưỡi, Mắt, Tay, Chân, Tim và Óc (mưu tính).  Các cơ phận đó có vẻ đơn giản mà lại rất phức tạp!

 Khám tổng quát để biết chi tiết.  Biết chi tiết nào trục trặc thì chữa trị ngay bằng biệt dược cầu nguyện, sám hối và đền tội.  Tất nhiên cũng phải “ăn kiêng” để việc điều trị thêm hiệu quả.  Về thể lý, đó là kiêng cữ một số thực phẩm nào đó; về tâm linh, đó là việc ăn chay và hãm mình.  Bỏ cái nhỏ để được cái to, bỏ cái đời thường (hạ cấp) để được cái diễm phúc (cao cấp).

 Bệnh thể lý có thể chữa khỏi hoặc không thể khỏi, nhưng bệnh tâm linh chắc chắn được chữa lành nhờ Thần Y Giêsu.  Đây là một số câu Kinh Thánh cho chúng ta biết về hiệu quả của việc điều trị tại Nhà Thương Thiên Chúa:

 

1. Chúa tha cho ngươi muôn ngàn tội lỗi, thương chữa lành các bệnh tật ngươi.  Cứu ngươi khỏi chôn vùi đáy huyệt, bao bọc ngươi bằng ân nghĩa với lượng hải hà, ban cho đời ngươi chứa chan hạnh phúc, khiến tuổi xuân ngươi mạnh mẽ tựa chim bằng (Tv 103:3-5).

 

2. Người chữa trị bao cõi lòng tan vỡ, những vết thương, băng bó cho lành (Tv 147:3).

 

3. Ta sẽ mang lại cho nó một phương thuốc điều trị, sẽ chữa lành, sẽ tỏ cho chúng thấy một cảnh thái bình và một nền an ninh lâu dài (Gr 33:6).

 

4. Người gây thương tích, cũng chính Người băng bó, đánh bầm dập xong, lại ra tay chữa lành (G 5:18).

 

5. Tất cả những kẻ tiêu diệt ngươi sẽ bị tiêu diệt, mọi kẻ thù ngươi sẽ phải đi đày.  Mọi kẻ bóc lột ngươi sẽ bị bóc lột, và mọi kẻ cướp phá ngươi, Ta sẽ để cho bị cướp phá.  Phải, Ta sẽ phục thuốc cho ngươi, các thương tích của ngươi, Ta sẽ chữa lành vì người ta gọi ngươi là “Thành bị ruồng rẫy”, “Sion đó, kẻ chẳng được ai lo” (Gr 30:16-17).

 

6. Đức Giêsu đi khắp miền Galilê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân (Mt 4:23).

 

7. Đức Giêsu ngó quanh để nhìn người phụ nữ (bị băng huyết mười hai năm) đã làm điều đó (sờ vào áo Ngài).  Bà này sợ phát run lên, vì biết cái gì đã xảy đến cho mình.  Bà đến phủ phục trước mặt Người, và nói hết sự thật với Người.  Người nói với bà ta: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con.  Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh” (Mc 5:32-34).

 

8. Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính.  Vì Người phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành (1 Pr 2:24).

 

9. Ai trong anh em đau yếu ư?  Người ấy hãy mời các kỳ mục của Hội Thánh đến; họ sẽ cầu nguyện cho người ấy, sau khi xức dầu nhân danh Chúa.  Lời cầu nguyện do lòng tin sẽ cứu người bệnh; người ấy được Chúa nâng dậy, và nếu người ấy đã phạm tội, thì sẽ được Chúa thứ tha.  Anh em hãy thú tội với nhau và cầu nguyện cho nhau để được cứu thoát.  Vì lời cầu xin tha thiết của người công chính rất có hiệu lực (Gc 5:14-16).

 

10. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ.  Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất (Kh 21:4).

 Khám tổng quát và biết bệnh rồi thì phải điều trị ngay, càng sớm càng tốt.  Kinh Thánh xác định: “Người công chính phải có lòng nhân ái” (Kn 12:19).  Chính Thiên Chúa kê toa cho mỗi chúng ta: “Hãy trở về với Đức Chúa và từ bỏ tội lỗi, hãy cầu khẩn trước nhan Người và giảm bớt dịp tội.  Hãy đoạn tuyệt với gian ác, trở về cùng Đấng Tối Cao, và cực lực gớm ghét mọi điều ghê tởm” (Hc 17:25-26).

 Với người phụ nữ ngoại tình (Ga 8:2-11), loại “bệnh” mà chúng ta thường coi như chứng nan y, dạng ung thư bất trị, thế mà Thần Y Giêsu chữa khỏi ngay chỉ bằng một liều thuốc đơn giản: “Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!” (Ga 8:11).

 Thần Dược thật tuyệt vời biết bao!  Thần Dược đó là “thương tình tha thứ.”  Loại biệt dược này vừa rẻ vừa hay.  Rẻ vì không tốn phí tức giận, ghen ghét, thù hận.  Hay là có hiệu quả mau chóng.

 Nhà Thương Thiên Chúa là bệnh viện đa khoa, nhưng vẫn chuyên trị bất cứ chứng bệnh nào – kể cả các chứng nan y.  Hãy an tâm đến khám, hoàn toàn miễn phí cho mọi người – dù nghèo hay giàu.  Chỉ cần một chút “chi phí tùy tâm” là lòng thành tín (chân thành và tin tưởng).  Thế thôi!  Bệnh viện đa khoa nhưng có vô số “phòng khám tư” là Bí tích Hòa Giải, sau đó sẽ được bồi bổ bằng Bí tích Thánh Thể.

 Nhà Thương Thiên Chúa tiếp nhận mọi bệnh nhân, dù nặng hay nhẹ.  Thời gian làm việc suốt ngày suốt đêm (24/7).  Hãy đến mau, đặc biệt trong Mùa Cứu Thương này: Mùa Chay.

Đêm Mùa Chay, 10-3-2019

Trầm Thiên Thu

Đêm Mùa Chay, 10-3-2019