Con người chỉ vĩ đại khi cầu nguyện

Con người chỉ vĩ đại khi cầu nguyện

Federic Ozanam, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Giáo Hội Pháp vào cuối thế kỷ 19 đã trải qua một cơn khủng hoảng Đức Tin trầm trọng lúc còn là một sinh viên đại học.

Một hôm, để tìm một chút thanh thản cho tâm hồn, anh bước vào một ngôi thánh đường cổ ở Paris  Đứng cuối Nhà Thờ, anh nhìn thấy một bóng đen đang quỳ cầu nguyện cách sốt sắng ở dãy ghế đầu. Đến gần, chàng sinh viên mới nhận ra người đang cầu nguyện ấy không ai khác hơn là nhà bác học Ampère.

Anh đứng lặng lẽ một lúc để theo dõi cử chỉ của nhà bác học. Và khi vừa đứng lên ra khỏi giáo đường, người sinh viên đã theo gót ông về cho đến phòng làm việc của ông.

Thấy chàng thanh niên đang đứng trước cửa phòng với dáng vẻ rụt rè, nhà bác học liền lên tiếng hỏi: “Anh bạn trẻ, anh cần gì đó? Tôi có thể giúp anh giải một bài toán vật lý nào không?”

Chàng thanh niên đáp một cách nhỏ nhẹ: “Thưa Thầy, con là một sinh viên khoa văn chương. Con dốt khoa học lắm, xin phép Thầy cho con hỏi một vấn đề liên quan đến Đức Tin!”

Nhà bác học mỉm cười cách khiêm tốn: “Anh lầm rồi, Đức Tin là môn yếu nhất của tôi. Nhưng nếu được giúp anh điều gì, tôi cũng cảm thấy hân hạnh lắm?”

Chàng sinh viên liền hỏi: “Thưa Thầy, có thể vừa là một bác học vĩ đại, vừa là một tín hữu cầu nguyện bình thường không?” Nhà bác học ngỡ ngàng trước câu hỏi của người sinh viên, và với đôi môi run rẩy đầy cảm xúc, ông trả lời:

“Con ơi, chúng ta chỉ vĩ đại khi chúng ta cầu nguyện mà thôi!”

&   &   &

Louis Pasteur – Nhà bác học thiên tài – Một tâm hồn khiêm tốn và cầu nguyện

Trên tuyến xe lửa đi về Paris, có một thanh niên trẻ ngồi cạnh một cụ già. Chỉ ít phút sau khi đoàn tàu chuyển bánh, cụ rút trong túi áo ra một cỗ tràng hạt và chìm đắm trong cầu nguyện. Người sinh viên quan sát cử chỉ của cụ già với vẻ bực bội.

Sau một hồi lâu, xem chừng không thể chịu nổi, anh ta mạnh dạn lên tiếng: “Thưa Ông, Ông vẫn còn tin vào những chuyện nhảm nhí thế à?”

Cụ già thản nhiên trả lời: “Đúng vậy, tôi vẫn tin. Còn cậu, cậu không tin sao?” Người thanh niên xấc xược trả lời: “Lúc nhỏ tôi có tin, nhưng bây giờ làm sao tôi có thể tin vào những chuyện nhảm nhí ấy được, bởi vì khoa học đã mở mắt cho tôi. Ông cứ tin tôi đi và hãy học hỏi những khám phá mới của khoa học, rồi Ông sẽ thấy rằng những gì Ông tin từ trước đến nay đều là những chuyện nhảm nhí hết.”

Cụ già nhỏ nhẹ hỏi người sinh viên: “Cậu vừa nói về những khám phá mới của khoa học, liệu cậu có thể giúp tôi hiểu được chúng không?” Người sinh viên nhanh nhẩu trả lời: “Ông cứ cho tôi địa chỉ, tôi sẽ gởi sách vở đến cho ông, rồi ông sẽ say mê đi vào thế giới phong phú của khoa học cho mà xem.”
 
Cụ già từ từ rút ra trong túi ra một tấm danh thiếp và trao cho người sinh viên. Đọc qua tấm danh thiếp, người sinh viên bỗng xấu hổ đến tái mặt và lặng lẽ rời sang toa khác. Bởi vì trên tấm danh thiếp ấy có ghi: Louis Pasteur, viện nghiên cứu khoa học Paris

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

Đời tôi sa mạc, ôi sa mạc,

Suy Tư Chúa nhật thứ 26 thường niên năm B 30/9/2018

(Mc 9: 38-43, 45, 47-48)

Khi ấy, ông Gioan nói với Đức Giêsu:

Thưa Thầy, chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta.” Đức Giê-su bảo: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta.

Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Ki-tô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.

Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn. Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một tay mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai tay mà phải sa hoả ngục, phải vào lửa không hề tắt. Nếu chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một chân mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai chân mà bị ném vào hoả ngục. Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì móc nó đi; thà chột mắt mà được vào Nước Thiên Chúa còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào hoả ngục, nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt.”

&   &   &

 “Đời tôi sa mạc, ôi sa mạc,”

“Hoa hết thơm rồi, rượu hết say”

(dẫn từ thơ Nguyễn Bính)

 Mai Tá lược dịch.

Mới có thế, mà sao nhà thơ đã than đời sa mạc, những gió lộng? Rất nhiều thời, nhà Đạo mình nào đã sầu bi chỉ một đời như các thánh hằng khẳng định ở bài đọc, rất hôm nay.

Bài đọc 1 hôm nay, sách Dân Số kể về trường hợp người khách lạ có nhắc đến Giavê Thiên Chúa, nhưng lại không thuộc giống giòng Do thái Chúa đã chọn. Cũng vậy, trình thuật thánh Máccô nay kể về đồ đệ phản đối Thày về người khách lạ không cùng nhóm môn đồ của Chúa, nhưng vẫn thành công kình chống ác thần, để khi hỏi Thày chuyện này, đã được biết:“Ai không chống ta là ủng hộ ta.”(Mc 9: 9-10)

Nhờ có Tin Mừng, ta mới biết Chúa là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Và, ta tin Hội-thánh là chốn miền qua đó ta lĩnh nhận Lời Ngài, cả đến bí tích và cuộc sống của Chúa nữa. Tuy nhiên, những ai không gia nhập Hội thánh hoặc không tin vào Hội thánh, sẽ ra sao? Ơn cứu độ có sẻ san cho người ngoài thánh hội không? Ai không biết đến Tin Mừng vì thất học, hoặc vì sống ở vùng xa xôi hẻo lánh, và những người tuy nắm rõ mọi sự nhưng không tin vào Hội rất thánh thì sao? Họ, có được cứu độ không?

            Thánh Âu Tinh xưa có nói: “Ta biết Hội thánh Chúa hiện thời ở đâu, nhưng lại không rõ nơi nào Hội thánh không hiện diện. Trên tàu ông Nô-ê có nhiều thú vật xin tị nạn, có loài chẳng thể nào thích nghi được với lối sống ở trên tàu, nhưng vẫn được cứu. Nơi giòng chảy bên mạn tàu, mọi loài cá đều sống rất tốt, tuy không tị nạn trên tàu Nô-ê và vẫn sống ngoài kế hoạch của Chúa khi Ngài dựng vũ trụ.”

Thật sự thì, Chúa yêu thương hết mọi loài, không trừ một ai. Chẳng ai bị rơi rớt sống bên ngoài con tim của Ngài hết. Chúa muốn mọi loài đều được cứu. Chính Ngài đã cho đi chính mình Ngài ngõ hầu mọi loài đều ở vào danh sách những kẻ được cứu độ. Và, Thần Khí Ngài vẫn quanh quẩn ở với mọi người, chứ không chỉ những người có chân trong Hội thánh, mà thôi.

Công Đồng Vatican 2 dạy ta biết tôn trọng tự do của mọi người. Và, ta được khuyên dạy hãy thương yêu hết mọi người; bởi, có thể họ cũng sẽ là những người giúp ta đến với Chúa, rất mai sau. Nói như thế, không có nghĩa bảo: tôn giáo nào cũng như tôn giáo nào. Tức, cũng ngang bằng và giống nhau. Nhưng, Hội thánh Chúa, mới là đường chính dẫn đến Chúa, tức con đường Chúa tặng ban ơn lành cứu rỗi để ta san sẻ cho mọi dân.

Thiên Chúa không ngừng tỏ cho biết Ngài là Đấng Toàn Năng Toàn Thiện với mọi loài. Riêng loài người, được thụ hưởng cái-gọi-là “Nhân chi sơ tính bản thiện” từ Đức Chúa, nên đó còn là bằng chứng nói lên việc Chúa là Đấng đối xử tốt với mọi người, mọi loài. Người Samaritanô nhân hậu khi xưa dám cứu giúp người bị nạn bên đuờng, là ví dụ cụ thể, để ta nhận ra lòng nhân lành của Đức Chúa, nơi mọi người. Và, Chúa thực hiện “tính bản thiện” cho con người còn là bằng cứ chứng minh cho mọi người thấy Ngài vẫn hiện diện nơi con người ở thế gian.

Trình thuật hôm nay, rõ ràng mô tả Chúa không nói: “Ai không cộng tác với ta là chống ta”, nhưng Ngài bảo: “Ai không chống ta tức ở với ta.” Vế đầu là chuyện mơ hồ, hoang tưởng. Vế sau, vượt thắng sự thờ ơ, ơ hờ và hãi sợ mọi người khác. Vì hãi sợ nên con người mới để nó xâm nhập đầu óc mình, để rồi mới lật ngược lập trường sống cá thể để cương quyết sống hài hoà với hết mọi người, bất kể người đó là ai? Sống thế nào? Họ có tử tế, dễ thương không? Và, việc cuối cùng dành cho mọi người là: mình có chọn sự hoang tưởng hoặc cải biến chính mình cách chín chắn, yêu thương không? Đó là phương cách giúp ta trở nên giống con trẻ, như Tin Mừng hằng khích lệ.

Tuy thế, có người vẫn hỏi: là gì đi nữa, sống hoang tưởng hay có cải biến là sống ra sao, suốt một ngày? Cái đó còn tuỳ. Tuỳ người đi Đạo. Nhưng, câu trả lời có lẽ sẽ là: phải sống giản đơn, thuần thành, hiện thực. Không bận tâm đến những gì trừu tượng, đôi khi cũng lại hoang tưởng. Đừng cho rằng: cuộc sống là của chính mình, cho mình chứ không cho ai khác. Đừng mang trong người chỉ mỗi ảnh hình về chính mình hoặc về cung cách do mình tạo ra, cho cuộc sống. Đừng coi đó như hình thức “linh đạo” do mình sáng tạo, để mà sống.

Đã nhiều lần, người đi Đạo cũng đã nghe biết về thế giới cổ xưa có nền văn hoá Kitô-giáo, vẫn rất đẹp. Nhưng, đó không phải là con người mình. Cũng có người đi Đạo khác lại nghĩ rằng sự khôn ngoan nơi con người lan toả khắp mọi nơi; nó xâm nhập vào ảnh hình, ngẫu tượng, hình hài của những thời điểm rất khác biệt. Có người cứ liên tưởng về thế giới của thiền hành, không vọng tưởng, chẳng suy tư. Họ chỉ coi trọng tương quan với người khác, quyết xây dựng một thế giới khác thường, đặc biệt thôi.

Có người lại lập ra cho mình cung cách sống rất khác thường để rồi sủng ái, mến mộ đến độ nó trở thành hữu thể, rất dị biệt. Cũng chẳng nên phẩm bình tư duy và cung cách sống của bất cứ ai. Chẳng nên đặt khung hình để nhốt mình ở đó, mà sinh sống. Bởi tất cả vẫn ra như mù mờ, mới mẻ, đáng ta kinh ngạc. Đôi lúc có hơi nghiêm túc, nữa. Thế nên, cũng đừng quá nghiêm khắc với chính mình đến độ tự dẫn mình vào chốn tối mù, khó khăn, hoang tưởng. Nói như trình thuật thánh Máccô là nhủ rằng: hãy trở nên như con trẻ; hoặc như lông măng bay bổng qua hơi thở của Thiên Chúa.       

Khi biết rằng mình cũng lệ thuộc vào người khác. Cũng lĩnh nhận rất nhiều thứ, từ người khác, nên hãy cảm tạ họ. Và, hãy chỉ sống đời giản đơn như họ đang sống. Hãy vui hưởng cuộc sống giản đơn, như mọi người. Dù đôi lúc, mình cũng chẳng tin vào điều người nói về những điều họ tin tưởng. Trái lại, hãy cứ sống đơn sơ kiểu con trẻ, như hiện tại. Và, đừng bao giờ đặt nặng chuyện người khác có tin hay không vào mọi điều. Bởi khi sống đời giản đơn, rồi cũng sẽ nhận ra rằng có khi tính nghiêm nghị đến chết người cũng ảnh hưởng lên cuộc đời của chính mình. Dù, tính nghiêm túc ấy là do người của Hội thánh mang đến.

Sống nghiêm túc như người của Hội thánh, chưa hẳn là trở nên như con trẻ, theo đúng nghĩa. Bởi thế nên, cũng đừng rập khuôn đeo đuổi thuyết lý hoặc linh đạo kiểu “trẻ con”. Cũng đừng tìm cách sống ấu trĩ. Bởi, chẳng có ai cần phải làm như thế mới gọi là sống giản đơn. Tuy nhiên, nơi phần thâm sâu của mỗi người, vẫn còn đó tính “trẻ con”, rất ích kỷ. Thế nên, có lẽ cũng đừng tìm hiểu xem phần thâm sâu bên trong người mình là gì. Trong đời người, vẫn có người từng làm những chuyện như thế.

Có điều lạ, là: cả đến những người luôn tìm cách quan-trọng hoá, bi-đát-hoá mọi vấn đề trong đời, nhưng lại quên đi mỗi chuyện vui sống đời giản đơn với mọi người. Có sống giản đơn, mới thấy mọi chuyện trong đời đâu có gì cần phải ầm ĩ, bi đát đến như thế.  Chính vì vậy, cũng nên cười khẩy vào tất cả mọi sự, mọi chuyện tưởng chừng như ghê gớm ở trong đời.

Điều đưa ta trở về với sự thể biến cải khỏi sự vu vơ, mơ hồ, hoang tưởng ta đang suy và tưởng. Một sự thực rất dễ thấy, là: đừng quá ưu tư tạo cho mình tình huống “rối beng” để rồi không thể trở nên như con trẻ dám cười khẩy vào mọi sự. Trong lúc người lớn cứ tìm cách giáo dục con trẻ biết cách sống, thì trẻ con lại tìm cách tỏ cho người lớn biết cách để cười. Cười với hết mọi chuyện. Giả như, người người cứ ăn mặc quần áo với sắc mầu loè loẹt, không xứng hợp với tuổi tác, hoặc con người mình mà lại coi đó là chuyện tốt lành, há đó không phải là chuyện tiếu lâm chay/mặn quá đáng sao?

Trong kiếm tìm sự giản đơn để sống, cũng nên ngâm thêm lời thơ trên, rằng:

            “Đời tôi sa mạc, ôi sa mạc!

            Hoa hết thơm rồi, rượu hết say.

            Trăm sầu nghìn tủi, mình tôi chịu.

            Ba bốn năm rồi, nmăm sáu năm.”

            (Nguyễn Bính – Hoa Với Rượu)

Hoa rượu đời người, đâu sa mạc? Sa mạc đời, chỉ nơi người cứ đi tìm sự/vật rất khó để sống, có thế thôi. Hãy sống giản đơn như con trẻ, rồi sẽ vui vầy một đời, như Chúa dạy. Ngài dạy, ở nơi Tin Mừng rải khắp muôn nơi. Rất mọi thời.  

 Lm Kevin OShea DCCT biên soạn –

Mai Tá lược dịch.

Nếu, nếu một ngày không có em

Chuyện Phiếm đọc trong tuần 26 Thường niên năm B 30-9-2018

 “Nếu, nếu một ngày không có em”
Thì niềm cô đơn dài như năm tháng
Như mùa thu chết như lá thu rơi.”

(Khánh Băng – Nếu Một Ngày)

(1Côrinthô 13: 3-8)

Trần Ngọc Mười Hai

 Cứ coi là thế đi. Một ngày mà không có Em hoặc có Anh, thì ngày ấy sẽ chẳng là gì hết. Huống hồ, là tình yêu. Một ngày như thế, há nào như “mùa thu chết” hoặc cũng chỉ như ”lá thu rơithôiLá thu rơi ngày ấy, như tác giả nhạc bản “nếu một ngày” lại diễn tả thêm chữ “nếu” đầy tiếc nuối, mà rằng:

“Nếu, nếu ngày ấy mình đừng quen nhau
Thì ngày nay có đâu buồn đau
Những khi mình xa nhau có đâu buồn đau

Nhớ, nhớ một chiều em đến thăm
Ngoài trời mưa trời mưa không dứt
Con đường trơn ướt em đến thăm tôi
Nhớ, nhớ ngày ấy mình cầm tay nhau
Nhìn hạt mưa ướt mi
Ngày sau sẽ không còn mưa rơi, sẽ không còn mưa rơi

Thôi kỷ niệm ấy xin trả cho người
Vì ngày mai tôi sẽ xa rời kỷ niệm, đành xa rời mãi.
Trên, trên con đường sóng gió ra đi.
Vì làm trai tôi đành lỗi hẹn.
Những niềm tin sẽ không xa rời, sẽ không xa rời.

Nếu, nếu một ngày không có tôi.
Thì người yêu ơi đừng quên tôi nhé.
Xin đừng giận dỗi, xin hiểu cho tôi.
Nếu, nếu ngày ấy mình đừng yêu nhau
Thì ngày nay có đâu buồn đau
Những khi mình xa nhau có đâu buồn đau.”

(Khánh Băng – bđd) 

“Có đâu buồn đau”, lại cũng giống như trường-hợp của đấng bậc vị vọng nọ ở trời Tây, rất Nam Mỹ, từng thổ lộ về chuyện riêng tư của “ngài”, rằng:

Ngài linh mục người Brazil, Lm Antoine Teixeira đã có thư gửi Đức Phanxicô những lời sau đây: 

15 Tháng Chín, 2018

Kính gửi Đức Giáo hoàng Phanxicô,

Quả thật, ngài có lỗi! 

Đức Thánh cha có lỗi vì là một con người và không phải là một thiên thần! Đức Thánh Cha có lỗi vì khiêm tốn chấp nhận rằng mình đã sai lầm và cầu xin sự tha thứ cho chính mình và cho cả chúng con nữa. Trong khi điều này đối với nhiều người lại không thể chấp nhận được. 

Đức Thánh Cha có lỗi bởi vì ngài không muốn làm một vị thẩm phán, một con người của luật lệ, nhưng là một mẫu gương và nhân chứng của lòng thương xót. 

Đức Thánh Cha có lỗi vì đã từ bỏ truyền thống sống trong cung điện và chọn cuộc sống như những người bình thường.

 Đức Thánh Cha có lỗi vì đã khước từ sự xa hoa của [Vương cung Thánh đường] Thánh Gioan Latêranô và ưa thích viếng thăm sự nghèo khổ nơi những nhà tù, trại trẻ mồ côi, bệnh viện, vv. 

Đức Thánh Cha thật có lỗi! Đức Thánh cha ngừng hôn những đôi chân thơm tho của các vị hồng y, nhưng lại hôn bàn chân “bẩn thỉu” của những phạm nhân, phụ nữ, bệnh nhân, những tín đồ thuộc các tôn giáo khác, và những người “khác biệt”! 

Đức Thánh Cha đáng bị lên án vì đã mở cửa đón nhận những người tị nạn, và bởi trước những vấn đề đau buồn cần được giải đáp, ngài chỉ trả lời một cách đơn giản: “Tôi là ai mà dám phán xét?”

 Đức Thánh Cha đáng bị đày đọa vì thừa nhận sự yếu đuối của mình bằng cách xin chúng con cầu nguyện cho ngài, trong khi nhiều người yêu cầu Đức Thánh Cha phải giáo điều, bất khoan dung, và quan liêu.

 Kính thưa Đức Thánh Cha, ngài bị quy kết cho thật nhiều thứ tội, như “những phường phản bội,” “hạng bị dứt phép thông công,” và “kẻ lai căng,” những người nhờ Đức Thánh Cha đã tái khám phá khuôn mặt xinh đẹp của Chúa Kitô đầy dịu dàng và thương xót. 

Đức Thánh Cha có lỗi vì đã chỉ ra bản chất thực của sự việc và không ngừng nhắc nhở các giám mục rằng họ không phải là những mục tử ở sân bay, nhưng phải mang lấy “mùi chiên của họ.” 

Đức Thánh Cha có lỗi vì đã xé toạc những trang sử bất khoan dung và thứ luân lý khô khan, tàn nhẫn, và ban tặng chúng con vẻ đẹp của lòng từ bi, nhân hậu và sự chân thành.

Đức Thánh Cha có lỗi vì đã mở mắt chúng con, những người [tự cho mình] thông minh và lý lẽ, nhất là con mắt của trái tim. 

Đức Thánh Cha có lỗi vì muốn mang lấy thập giá của Giáo Hội thay vì mua vui cho những ánh mắt, bàng quan trước những nỗi đau và nước mắt của nhân loại thời đại chúng ta. 

Đức Thánh Cha có lỗi vì không chịu đựng những tội ác ghê tởm nhân danh Thiên Chúa và những người rao giảng về Chúa nhưng lại sống đối địch với Ngài. 

Đức Thánh Cha có lỗi vì do lòng thương xót, dám tìm kiếm sự thật và công lý, thay vì thinh lặng, giấu giếm, giảm thiểu hoặc bỏ qua.

 Đức Thánh Cha có lỗi vì không muốn một Giáo Hội của đặc quyền, lợi ích, và vinh quang, và dạy cho chúng con sức mạnh của việc phục vụ, sự giàu có của việc rửa chân, và sự vĩ đại của tinh thần đơn sơ. 

Đức Giáo hoàng Phanxicô, hãy để người ta đổ lỗi cho ngài những “tội ác” này. Đức Thánh Cha biết rằng bên cạnh ngài là vô số những anh chị em nam nữ không phải là thiên thần như ngài, nhưng là những người yếu đuối, những tội nhân, những người hy vọng Chúa Kitô gìn giữ chúng ta và cho chúng ta.

 Đức Thánh Cha nên nhớ rằng có một làn sóng rất lớn của những tâm hồn luôn cầu nguyện cho Ngài mọi giây phút; vì Đức Thánh Cha, họ sẵn sàng mạo hiểm cả mạng sống mình. Họ bước theo Đức Thánh Cha như đoàn chiên tin tưởng vào mục tử của họ.

 Chính Đức Kitô đã ủy thác nơi Đức Thánh Cha sứ mệnh chèo lái “con thuyền” Hội Thánh. Ngài sẽ ban thêm sức mạnh cho Đức Thánh Cha theo đuổi con đường “tội lỗi” này, con đường đã được thực hiện thật tốt trên thế giới và trong Giáo Hội.

 Kính thưa Đức Thánh Cha, cảm ơn ngài đã trở nên “tội lỗi” để làm cho Hội Thánh nên xinh đẹp như mong ước của Chúa Giêsu.” (Lm. GB. Cao Xuân Hưng, Gp. Vinh biên dịch từ bản tiếng Anh, Nguồn: http://www.cbcplaiko.org/2018/09/13/from-a-priest-in-brazil-to-the-pope/)

Chuyện đời thường hoặc riêng tư nhà Đạo của một linh mục, cũng na ná hơi bị giống chuyện của người ngoài, ở đời thường. Nói na ná, là bởi nó chỉ giống đôi chút khía cạnh nào đó, rất nho nhỏ. Na ná, như câu truyện kể cũng rất nhẹ như bên dưới:

“Truyện rằng:

 Anh nọ có lần được dịp nói khoác:

–Tôi được thấy có nhiều cái lạ lắm, nhưng lạ nhất là có một chiếc thuyền, dài không lấy gì mà đo cho xiết, có người thuở hai mươi tuổi đứng ở đằng mũi bắt đầu đi ra đằng lái, đi đến giữa cột buồm thì đã già, râu tóc bạc phơ, cứ thế đi, đến chết vẫn chưa tới lái. Trong làng cũng có một anh nói khoác nổi tiếng, nghe vậy liền kể ngay một câu chuyện:

 –Như thế đã lấy gì làm lạ! Tôi đi rừng thấy có một cây cao ghê gớm. Có một con chim đậu trên cành cây ấy, đánh rơi một hạt đa. Hạt đa rơi xuống lưng chừng gặp mưa, gặp bụi rồi nảy mầm, đâm rễ thành cây đa. Cây đa lớn lên, sinh hoa, kết quả, hạt đa ở cây đa đó lại rơi vãi ra, đâm chồi, nẩy lộc thành nhiều cây đa con, đa con cũng như cây đa mẹ lớn lên, sinh hoa kết quả, lại nẩy ra hàng đàn cây đa cháu. Cứ thế mãi cho đến khi rơi tới đất thì đã bảy đời tất cả.

Anh đi xa về, nghe thế gân cổ lên cãi:

 –Làm gì có cây cao thế! Chả ai tin được.

Anh kia cười ranh mãnh:

–Ấy không có cây cao như thế thì lấy đâu ra gỗ mà đóng chiếc thuyền của anh? (Truyện kể rút từ điện thư vi tính, mới đây thôi.)

Truyện vui vi tính, thật ra, nhiều lúc cũng chẳng ăn nhập đề tài được bàn luận hoặc kể lể. Thế nhưng, đã gọi là truyện kể để minh-họa đề tài mình đang nói hoặc sắp nói, thì “giữa hai hàng chữ” vẫn có ý-tưởng sao đó, có thể xảy ra ngay ở đây vào một lúc, giống thế thôi. Thật ra thì, có kể truyện vui, cũng chỉ cốt để đề tài triết-lý/thần-học được dễ chịu khi người kể cứ bỏ thì giờ ra mà tìm kiếm.

Thế đó, còn là tâm-trạng của bần đạo bầy tôi đây, hôm nay, những muốn đề-cập đến một thứ phiếm luận đạo đời, rất khô khan, thôi. Kể rồi, nay mời bạn/mời tôi, ta trở về với  ca-từ nhạc-bản làm nền ở trên mà đi vào đoạn kết, cho bớt phiền. Ca-từ lại cứ hát những lời rằng:

“Nếu, nếu một ngày không có tôi
Thì người yêu ơi đừng quên tôi nhé
Xin đừng giận dỗi, xin hiểu cho tôi

Nếu, nếu ngày ấy mình đừng yêu nhau
Thì ngày nay có đâu buồn đau
Những khi mình xa nhau có đâu buồn đau.”

(Khánh Băng – bđd)

“Một ngày, không có tôi”, và cả những người anh, người chị ở thế-trần này, lại sẽ giống như tình-huống rất đạo/đời, mà thôi. Tình-huống những một ngày như thế ấy, còn là và vẫn là những tình và huống rất căn-cơ như lời lẽ bậc thánh hiền từng thổ-lộ hôm trước, nay ta nghe lại mà rằng:

“Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp ra mà bố thí,

hay nộp cả thân xác mình để chịu thiêu đốt,

mà không có tình mến thương,

thì cũng chẳng ích lợi gì cho tôi.

Thương yêu, mến mộ luôn nhẫn nhục, hiền hậu,

không ghen tương,

không vênh vang,

không tự đắc,

không làm điều bất chính,

không tìm tư lợi,

không nóng giận,

không nuôi hận thù,

không mừng khi thấy sự gian ác,

nhưng vui khi thấy điều chân thật. 

Thương yêu, mến mộ tha thứ tất cả,

tin tưởng tất cả,

hy vọng tất cả,

chịu đựng tất cả.

Thương yêu, mến mộ như thế

không bao giờ lại mất đi.”

(1Côrinthô 13: 3-8)

“Không thể mất được”, đó là lời quả quyết như “đinh đóng cột”. Thứ quả quyết mà cả tôi lẫn bạn, cũng như mọi người vẫn cứ đưa ra cho mọi người biết, để còn tin. Và, khi đã tin rồi, sẽ không còn gì để thắc mắc nữa.

Thế đó, là lời thề của tôi và của bạn, của hất mọi người trong tương-quan đằm thắm rất yêu thương. Như thói thường cuộc đời người, xưa nay vẫn hoàn thế.

Thế đó, còn là ước hẹn của muôn người. Trên đường đời. 

Trần Ngọc Mười Hai  

Và những ước hẹn

Có tự bao giờ

Và bây giờ.

CẦU NGUYỆN – HƠI THỞ CỦA ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU

CẦU NGUYỆN – HƠI THỞ CỦA ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU

 Cuộc sống luôn đặt con người vào những suy tư bất tận về ý nghĩa cuộc đời và các mối tương quan.  Những tâm tư sâu thẳm của con người, những vấn nạn gai góc cuộc đời, những trăn trở bế tắc về cuộc sống thường đưa đẩy người ta đến một hành vi đặc thù, điều mà người ta quen gọi là “cầu nguyện”.  Phải chăng cầu nguyện giúp họ giải quyết được tất cả những gì người ta cần?  Một tác giả thiêng liêng sau những trải nghiệm của mình về đời sống nội tâm đã phải thừa nhận rằng “Cầu nguyện là nhịp cầu nối kết cuộc sống vô thức với cuộc sống ý thức.  Cầu nguyện liên kết tâm trí ta với tâm hồn ta, ý chí với những đam mê của ta, khối óc với cái bụng ta.”[1]  Quả thế, cầu nguyện thực sự đưa ta đến một cảnh vực sâu xa hơn, là sống tương quan với Thượng Đế.  Kitô giáo mang trong mình mạc khải tuyệt hảo về cầu nguyện: sống tương quan thiết thân với Thiên Chúa.

Người ta thật khó có thể tìm ra một tôn giáo nào mà cầu nguyện không đóng một vai trò gì trong đời sống của họ.  Cầu nguyện được coi là mối dây liên kết giữa họ và Đấng Siêu Việt mà họ đang hướng tới.  Đối với người Kitô hữu, đời sống cầu nguyện được ví như hơi thở của cuộc sống hay là dòng máu chuyển lưu trong cơ thể.  Cầu nguyện là cách thế để hiện thực hoá tất cả chân lý đức tin đầy phong phú mà họ được lãnh nhận.  Sống trong tâm tình cầu nguyện là sống mật thiết với Thiên Chúa và được lớn lên trong tương quan với Người.  Vì thế, cầu nguyện không chỉ dừng lại ở nơi mình nhưng còn trải rộng mình ra với mọi chiều kích, mọi mối tương quan của cuộc sống.  Tương quan cốt yếu là với Thiên Chúa, Đấng đã thông chia cho con người tất cả và mời gọi họ đi vào mầu nhiệm của chính Người.  Dĩ nhiên, tác giả thiêng liêng đã dẫn trên đây không dừng lại ở khía cạnh tâm lý đơn thuần của con người, dẫu rằng đời sống con người nói chung và tinh thần của con người nói riêng gắn liền với niềm tin tôn giáo.  Quả thế: “Cầu nguyện là cách để cho Thần Khí trao ban sự sống xuyên thấu mọi ngóc ngách của hữu thể ta.  Cầu nguyện là công cụ Thiên Chúa dùng để làm cho ta nên toàn diện, hợp nhất và bình an.”  Như vậy, vai trò cầu nguyện là điều không còn bàn cãi.

“Địa hạt” của đời sống cầu nguyện là gì?  Đây là những câu hỏi thường nảy sinh trong những người đi vào đời sống cầu nguyện.  Lẽ thường, người ta đến với Thiên Chúa để nài xin những điều thuộc nhu cầu hiện tại của mình.  Nhưng vấn đề đặt ra là có hay không việc chúng ta đã quá thực dụng trong đời sống cầu nguyện?  Ít nhiều điều này gây nên bối rối khi ta đến với Thiên Chúa.  Dĩ nhiên, những điều rất thiết yếu đối với cuộc sống của họ là phần nào nói lên sự cậy dựa vào Thiên Chúa.  Nhưng nếu bản chất cầu nguyện là một sự thông truyền bản tính của Thiên Chúa cho ta, thì hành vi cầu nguyện cũng phải xuất phát từ chính con tim khát khao Ngài để trở nên giống Ngài.  Và vì thế, khi đi vào tương quan với Chúa trong cầu nguyện, những điều mà ta ao ước cũng nên thiện hảo hơn vì nhu cầu của ta liên kết với sự lôi cuốn của Người.  Vươn lên cùng Thiên Chúa trong cầu nguyện giúp kéo ta ra khỏi những bận tâm về chính mình, khuyến khích ta rời bỏ vùng đất quen thuộc, thách thức ta bước vào một thế giới mới, thế giới không thể bị gồm tóm trong những ranh giới nhỏ bé của tâm trí và tâm hồn ta.  Vì vậy, cầu nguyện, một mặt, là một cuộc phiêu lưu trong Thế giới của Thiên Chúa rộng lớn bát ngát vô tận, đầy thú vị và mới mẻ đang chờ đợi ta khám phá.  Chính trong sự kết hợp thâm sâu với Người, ta không chỉ được mạc khải để biết thêm về Thiên Chúa nhưng về chính mình nữa.  Mặc khác, bước vào một vùng đất rộng hơn với những trải nghiệm mới có nghĩa là đi vào mối tương quan sâu xa với Thiên Chúa với con người mới.  Khi đấy, việc cầu nguyện của ta cũng trở nên phong phú và dồi dào hơn.  Như vậy, “địa hạt” của cầu nguyện hay giới hạn của việc cầu xin không còn dừng lại ở những nhu cầu riêng ta nữa, nhưng trải rộng ra mọi chiều kích, mọi mối tương quan và mọi nhu cầu thiết thực khác.  “Địa hạt” của đời sống cầu nguyện sẽ là không biên giới.

Ở lại trong Đức Giêsu, đó là tất cả ý nghĩa của việc cầu nguyện (x. Ga 15).  Khẳng định này khởi đi từ kinh nghiệm kết hợp mật thiết với con người Đức Giêsu và cầu xin Người với bản tính Thiên Chúa hiện diện.  Lời cầu nguyện đích thực bao giờ cũng ôm trọn thế giới này chứ không phải chỉ nơi ta đang sống.  Quả vậy, hàng ngày chúng ta đối diện với biết bao những vấn đề mang tính nhân sinh mà thường là những nan đề (khủng bố, bất công…).  Tuy nhiên, chúng sẽ trở nên vô cùng nặng nề nếu như ta chỉ tìm sự an toàn cho mình mà không để cho Đức Kitô đi vào trong đó.  Cơ sở của điều này chính là sự nhập thể và nhập thế của Đức Giêsu – Con Thiên Chúa một cách trọn vẹn.  Người đã trải qua kiếp sống nhân sinh với những quy luật của một con người vì thế, Người đồng cảm với từng người và với những ưu tư trong cuộc sống.  Như vậy, cầu nguyện là kết hợp đời sống của mình với đời sống và giáo huấn của Đức Giêsu, chính là việc đi vào tương quan mật thiết với Thiên Chúa là Cha.  Vì Đức Giêsu một mặt mạc khải cho ta về Cha, mặt khác, Người chia sẻ cho ta kinh nghiệm gặp gỡ và sống tương quan với Người.

Kiếp sống làm người không ai có thể đứng ngoài kinh nghiệm về những ưu tư và trăn trở của cuộc sống hàng ngày trong các mối liên hệ của đời sống.  Sống tương quan với Thiên Chúa trong cầu nguyện có thể không làm giảm đi những khó nhọc thể xác và những vấn nạn của cuộc đời.  Tuy nhiên, sức mạnh vạn năng của cầu nguyện chính là được kết hợp với Thiên Chúa ngang qua tất cả những biến cố, biến những đau khổ và vấn nạn ấy trở nên những trải nghiệm có ý nghĩa trong cuộc đời.  Cầu nguyện giúp ta đi vào những biến cố với tâm thế của lòng cậy trông và tín thác vào Thiên Chúa Quan Phòng, Đấng luôn yêu thương và chăm sóc từng người.  “Địa hạt” của Người không phải giới hạn chỉ trong sự hạn hẹp của những nhu cầu trước mắt, nhưng đi xa hơn; Ngài mời gọi con người kết hiệp với Ngài trong vinh quang thực sự và bình an vĩnh cửu.  Cuộc sống của con người sẽ phong nhiêu là điều mà cầu nguyện (một đời sống thân thiết với Chúa) sẽ hứa hẹn.  Hãy cầu nguyện với cả con người mình, xuất phát từ trái tim chân thành, cởi mở… điều kỳ diệu của cuộc sống sẽ đến.

Joseph Trần Ngọc Huynh S.J

[1] Henry M.Nouwen.

From Langthangchieutim

NẾU

Nga Nguyễn shared a post.
Image may contain: 1 person, sitting
TÌNH YÊU – ÁNH SÁNG VÀ SỰ THẬT

NẾU

Nếu Chúa không ban cho con của cải,
xin hãy cho con lòng trông cậy.

Nếu Chúa không cho con thành công,
xin hãy cho con ý chí mạnh mẽ để tiếp nhận thất bại.

Nếu Chúa không cho con sức khoẻ,
xin hãy cho con ân sủng Đức Tin.

Nếu con có làm ai tổn thuơng,
xin ban cho con sức mạnh để xin lỗi họ.

Nếu có ai làm cho con tổn thuơng,
xin cho con lòng độ luợng và sức mạnh để tha lỗi cho họ.

Martin Pistorius, một thanh niên bị hôn mê trong 12 năm đã được hồi phục nhờ niềm tin vào Chúa, nghị lực bản thân và tình yêu thương gia đình

Martin Pistorius, một thanh niên bị hôn mê trong 12 năm đã được hồi phục nhờ niềm tin vào Chúa, nghị lực bản thân và tình yêu thương gia đình

Martin Pistouris, người Nam Phi, 43 tuổi, đã chịu một hội chứng đóng băng trong suốt 12 năm. Phần lớn thời gian anh có ý thức, nhưng không có khả năng giao tiếp. Anh kể lại một chứng từ đau xót mà anh đã trải qua trong suốt những năm đau khổ này.

Martin Pistouris, người Nam Phi, 43 tuổi, đã chịu một hội chứng đóng băng trong suốt 12 năm. Phần lớn thời gian anh có ý thức, nhưng không có khả năng giao tiếp. Anh kể lại một chứng từ đau xót mà anh đã trải qua trong suốt những năm đau khổ này: được nhìn thấy, được nghe, được yêu.

Tình yêu đã cứu sống Martin Pistorius

Lúc 12 tuổi Martin bắt đầu thường xuyên than đau họng và chứng mệt mỏi mãn tính. Cha anh là ông Rodney và mẹ anh là bà Joan đưa anh đi tới nhiều bác sĩ, nhưng các bác sĩ không chuẩn đoán được bệnh. Sau đó anh không thể cử động và nói chuyện, không thể nhận ra những người xung quanh. Anh rơi vào hôn mê. Theo cha mẹ anh thì anh có thể chết bởi vì não không còn hoạt động nữa. Anh ở trong tình trạng đời sống thực vật, không còn hy vọng nào.

Ông Rodney và bà Joan sắp xếp nhà cửa để đón Martin về nhà. Họ muốn anh có một cuộc sống tiện nghi hơn có thể trong thời gian chờ chết. Đó là một thử thách rất khó khăn đối với cha mẹ anh. Thỉnh thoảng bà Joan trải qua những lúc khủng hoảng chán nản; vì thế vào một ngày, bà thì thầm vào tai con trai: «Mẹ hy vọng con mau ra đi». Bà tưởng rằng con trai không thể nghe được điều đó. Nhưng Martin càng ngày càng hiểu những gì cha mẹ làm cho anh: cử chỉ chăm sóc, âu yếm, lời nói yêu thương hay mệt mõi, chán nản…Anh chia sẻ sau khi được phục hồi: «ba năm sống đời sống thực vật, tôi bắt đầu tỉnh dậy. Tôi ý thức được mọi thứ như người bình thường”.

Anh thật sốc, khi nhận thức rằng mình bị đóng băng trong một thân xác cứng đơ cho đến hết cuộc đời. Anh nhận thấy mình không thể giao tiếp với người khác. Vậy là anh không được để ý và được yêu mến. Anh nói: “Tôi không thể cử động và cũng không nói được. Tôi không thể làm được dấu hiệu nào, âm thanh nào để  mọi người hiểu rằng tôi đã ý thức được”.

Để chiến đấu sự trầm cảm, người thanh niên quyết định dồn tất cả nghị lực tinh thần. Anh xây dựng một thế giới riêng, thế giới của những giấc mơ. Anh cảm tưởng mình là một cậu con trai-ma. Không ai để ý đến anh, không ai nhìn thấy anh. Anh trải qua thời kỳ vừa phải điều chỉnh lại giờ giấc vừa quan sát những chuyển động của những bóng tối xuyên qua các bộ phận. Anh xác định vị trí những tiếng ồn, đọc lại nhịp sống của một ngày. Anh cũng thử phục hồi sự kiểm soát của não bộ.

Anh thay đổi suy nghĩ một cách tích cực, cố gắng để đem lại niềm vui cho cha mẹ, người đã phải vất vả đau khổ vì anh. Từng bước một, anh bắt đầu giao tiếp với sự giúp đỡ của một nhân viên y tế và sự hỗ trợ yêu thương không ngừng của người mẹ. Cuộc sống của anh lại một lần nữa ở bước ngoặt. Anh bắt đầu cảm thấy hữu ích. Cuối cùng, anh có thể chứng tỏ cho gia đình và những người thân thấy anh đang hiện diện, anh đang sống. Anh có thể giao tiếp được với gia đình. Mẹ của Martin đã được tái sinh với anh, bà đi từ tuyệt vọng đến việc đồng hành liên tục với con trai. Anh bắt đầu phục hồi chức năng và sớm tỏ lộ tài năng về tin học và đề nghị làm việc tại trung tâm mà anh đã lui tới trong 12 năm hôn mê, anh bày tỏ: «trở nên hữu ích là điều quan trọng nhất đối với tôi»

Nguồn hỗ trợ thực sự trong giai đoạn bị đóng băng, như anh chia sẻ: “người duy nhất tôi thực sự có thể nói chuyện là Chúa. Ngài không phải là một phần của thế giới tưởng tượng của tôi, Ngài là thật, một sự hiện diện bên trong và bên ngoài tôi”. Chính điều này đã cho anh sức mạnh, đến nỗi trong nỗi đau khổ mà anh được yêu cầu chết, luôn xãy ra một điều gì đó đẹp bất ngờ: một người lạ đến gặp anh và coi anh ta là một người có ý thức, một tiếng kêu đau đớn nhờ đó Martin cảm nhận “rằng có một nơi trên thế giới dành cho mình”.

Đối với Martin tình yêu lớn hơn tất cả. Anh đã gặp được tình yêu với Chelsea, người đã luôn động viên khuyến khích anh. Anh thấy trước cuộc sống đối với anh thất khó khăn, «nhưng tình yêu lớn hơn tất cả» vị hôn thê của anh trả lời anh như thế. Họ đã cưới nhau vài tháng sau đó. Trong lễ cưới Martin xin đọc bài ca về Đức ái của Thánh Phaolô: «Hiện nay đức tin, đức cậy và đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến». (1Cr 13, 1-13)

Anh chia sẻ với một sự xác tín: “Cuộc sống của tôi tràn ngập ba điều này, nhưng hôm nay, tôi biết rằng tình yêu thật sự cao trọng nhất. Tôi đã từng trải với tư cách là một đứa con trai, một thanh niên trưởng thành, một người đàn ông. Với tư cách là con trai, anh trai, cháu trai và người bạn. Tôi đã thấy sợi dây liên hệ giữa con người. Tôi biết rằng chính tình yêu đã cho phép tôi vượt qua những bóng tối của cuộc sống «đời sống thực vật của tôi».

Khi được mời làm chứng cho sự “tái sinh” của mình, anh chia sẻ rằng chúng ta phải thường xuyên nhớ rằng vấn đề khuyết tật thực sự không phải là vấn đề chính, chúng chỉ là rào cản thể lý nhưng tinh thần là quan trọng vì “nếu bạn không mong đợi để thành công, sau đó bạn sẽ không bao giờ làm gì được. Đây là bí mật liên tục của mỗi bước. Đó là một mối quan hệ, một tình yêu luôn cứu rỗi tôi”. (Aleteia13-4- 2018)

Ngọc Yến 

Radio Vatican

VÌ SAO TÔI TIN VÀO THIÊN CHÚA

VÌ SAO TÔI TIN VÀO THIÊN CHÚA

 Một số tác giả tôi yêu thích là những người theo thuyết bất khả tri, những người chân thành và dũng cảm đối diện cuộc đời mà không có đức tin vào một Thiên Chúa của mình.  Hầu như họ đều khắc kỷ, những người bình an với việc có lẽ Thiên Chúa không tồn tại và có lẽ chết là hết.  Tôi thấy được điều này nơi James Hillman, một người mà tôi vô cùng ngưỡng mộ, và là người có rất nhiều điều để dạy cho các tín hữu về ý nghĩa của việc lắng nghe và tôn trọng linh hồn con người. 

Nhưng có một điều tôi không ngưỡng mộ nơi các nhà khắc kỷ bất khả tri. Dù họ dũng cảm đối diện với giả định rằng Thiên Chúa không tồn tại và chết là hết, nhưng họ lại không có cùng dũng cảm đó để đặt ra chất vấn về chuyện nếu Thiên Chúa tồn tại, và chết không phải là hết thì sẽ thế nào.  Nếu như có Thiên Chúa và nếu giáo lý của đức tin chúng ta đúng thì sao?  Họ cũng cần phải đối diện với chất vấn đó nữa.

Tôi tin rằng Thiên Chúa tồn tại, không phải bởi tôi chưa từng có chút nghi ngờ, cũng không phải bởi tôi được nuôi dạy trong đức tin với những người đã làm chứng sâu đậm cho chân lý của đức tin đó, cũng không phải bởi đại đa số nhân loại trên hành tinh này tin vào Thiên Chúa.  Tôi tin rằng một Thiên Chúa của lòng mình tồn tại vì những lý do mà tôi không thể nói rõ được: là sự tốt lành của các thánh, một hạt giống không bao giờ phôi phai trong lòng tôi, biểu hiện của đức tin trong cảm nghiệm của riêng tôi, lòng dũng cảm của các bậc tử đạo xuyên suốt dòng lịch sử, chiều sâu thăm thẳm trong giáo huấn của Chúa Giêsu, những thấu suốt sâu sắc trong các tôn giáo khác, trải nghiệm thần nghiệm của vô số người, nhận thức của chúng ta về mối liên kết với cộng đoàn các thánh và những người thân yêu đã qua đời, những lời chứng chung và riêng của hàng trăm người đã chết lâm sàng rồi được sống lại, những chuyện chúng ta trực cảm vượt ngoài mọi lý luận lô-gích, vòng tuần hoàn hồi sinh trong cuộc đời chúng ta, chiến thắng của sự thật và sự thiện trong suốt lịch sử, sự thật rằng hy vọng không bao giờ chết, sự cưỡng bách không nguôi trong chúng ta muốn được hòa giải với người khác trước khi chết, chiều sâu vô tận của trái tim con người, và việc các nhà vô thần và bất khả tri trực cảm rằng có thể điều này cũng hợp lý.  Tất cả cho tôi thấy sự hiện hữu của một Thiên Chúa sống động của tôi.

Tôi tin Thiên Chúa hiện hữu vì đức tin thành sự, ít nhất là thành sự đến mức độ của chúng ta.  Sự hiện hữu của Thiên Chúa tự chứng minh đến mức độ mà chúng ta đón nhận một cách nghiêm túc và sống cuộc đời mình dựa trên điều đó.  Nói đơn giản, chúng ta hạnh phúc và bình an đến mức độ chúng ta liều mình sống đức tin, một cách rõ ràng hay không chút nghi hoặc gì.  Những người hạnh phúc nhất mà tôi biết cũng là những người đáng kính, dễ thương, vị tha, và quảng đại nhất tôi biết.  Đây không phải tình cờ. 

Leon Bloy từng nói rằng trong đời chỉ có một nỗi buồn thực sự, đó là không được làm thánh.  Chúng ta thấy trong câu chuyện về chàng thanh niên giàu có trong Tin mừng đã từ chối lời mời của Chúa Giêsu muốn anh sống đức tin sâu sắc hơn.  Anh đã buồn rầu bỏ đi.  Dĩ nhiên, làm một vị thánh và sống buồn bã, không phải là chuyện trắng hay đen, cả hai đều có những mức độ.  Nhưng trong chuyện này có sự nối tiếp.  Chúng ta hạnh phúc hay buồn bã cũng tương xứng với mức độ chúng ta thành tín hay bất tín với những gì là độc nhất, là chân, thiện, mỹ.  Tôi biết rõ điều này trong đời mình.  Tôi hạnh phúc và bình an đến mức độ tôi đón nhận đức tin cách nghiêm túc và sống đức tin trong thành tín, càng thành tín tôi càng thấy bình an, và ngược lại.

Trong tất cả chuyện này, còn có một “luật nghiệp quả” nói cụ thể là vũ trụ trả lại cho chúng ta chính xác những gì chúng ta cho nó.  Như Chúa Giêsu đã nói, “Anh em đong bằng đấu nào sẽ được đong lại bằng đấu ấy.”  Những gì chúng ta thở ra, đến cuối cùng chính là những gì chúng ta hít vào.  Nếu chúng ta thở ra ích kỷ thì sẽ hít vào ích kỷ, nếu chúng ta thở ra cay đắng thì sẽ gặp đắng cay, nếu chúng ta thở ra tình yêu, nhân từ và tha thứ thì chúng ta sẽ nhận lại cùng mức độ đó.  Cuộc sống và vũ trụ của chúng ta có một cơ cấu yêu thương và công bằng thâm sâu, tự nhiên và không thể bàn cãi đã được viết sẵn, một cơ cấu chỉ có thể được viết nên bởi một trí tuệ thần thiêng sống động và một tâm hồn yêu thương.

Dĩ nhiên, không điều nào trong những điều này chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa với những bằng chứng theo kiểu khoa học hay toán học, nhưng đâu thể tìm được Thiên Chúa bằng một thí nghiệm kinh nghiệm luận, một phương trình toán học hay một tam đoạn luận triết học. 

Chúng ta tìm thấy Thiên Chúa, rõ ràng và dứt khoát, nơi một đời sống quên mình, nhân từ, chân thành và tốt lành.  Điều này có thể có trong tôn giáo hay ngoài tôn giáo.Thầy dòng Biển Đức người Bỉ, Benoit Standaert, đã nói rằng khôn ngoan là ba sự thêm một.  Khôn ngoan là tôn trọng tri thức, tôn trọng sự chân thật và vẻ đẹp, tôn trọng mầu nhiệm.  Và điều thứ tư, khôn ngoan là tôn trọng một Đấng nào đó. 

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: suyniemhangngay1& ThuNNguyen

Không Hiểu… và Sợ

Không Hiểu… và Sợ

Mc 9, 30-37

“Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại.”

 “vì Người đang dạy các môn đệ rằng :”

Thưa Thầy Giêsu, những lời Thầy dạy xa xôi mù mịt quá

nên Thầy có dạy vài lần nữa thì các ông cũng “không hiểu” vì trong tâm trí lòng dạ các ông còn đang “đang say men chiến thắng”,

các các ông đã chứng kiến bao việc Thầy làm quá là hiển hách,

bao lời nói của Thầy làm cho các ông kinh sư và Pharisêu câm họng,

bao điều Thầy giảng dậy làm cho dân chúng há mồm trợn mắtngỡ ngàng ngạc nhiên

Thầy mà làm vua thì đất nước Do thái sẽ trở nên siêu cường quốc, chẳng đất nước nào dám hó hé và chẳng có sức mạnh nào địch nổi.

Vậy các điều Thầy dạy,các ông môn đệ “không hiểu” thì có gì ngạc nhiên đâu.

Tại sao các ông “sợ” nhỉ ?

Có phải Thầy lại “mắng” cho là “ngu muội, ngu tối” (Mc 6,52 ; 7,18) không ?

Có phải biết mình đầu óc bã đậu ruột đặc như bí mà đâm ra sợ không ?

Có phải cái “nội lực” trong Thầy mạnh quá làm thành khoảng cách nên sợ không ?

Có phải sợ Thầy không cho ngồi trên ghế cao bên tả bên hữu để cai trị trong “vương quốc” của Thầy không ?

Có phải sợ bị Thầy đuổi về không cho đi tu ý quên không cho đi theo Thầy nữa không ?

Tin Mừng ông Mác-cô cứ thẳng thừng như thế đấy. Đã không hiểu lại còn cộng sợ nữa thì thành ra “cần lù” (cù lần).

Thế mà thực tế Thầy lại dùng đến những kẻ “cù lần” nhỉ ?

“Tình yêu không biết đến sợ hãi ; trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liền với hình phạt và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo” (1Ga 4,18)

“Ai tiếp đón một em nhỏ”

người ta hay nghĩ đến em nhỏ với dáng vẻ bên ngoài như đẹp đẽ dễ thương, hồn nhiên đơn sơ thật thà, dễ bảo dễ dạy, biết vâng lời cha mẹ, chưa biết phạm tội, luôn luôn kính trọng người trên…

Nếu Tin Mừng cũng chỉ dạy bảo người ta giống trẻ nhỏ như thế thì có gì là độc đáo đâu, mà có tập sống trở lại cái thuở trẻ thơ thì cũng chỉ là ngây thơ… cụ, ngô ngố cả đám đấy thôi.

Nhưng là tiếp đón một người đói không có gì ăn, tiếp đón một người nghèo không có nhà cửa ẩn mình, không có quần áo che thân bị rét mướt…

những con người bị lệ thuộc như một đứa trẻ phải nương tựa vào cha mẹ vì nó không có khả năng đáp ứng được những nhu cầu cần thiết của bản thân nó.

“Vì danh Thầy”.

Nhiều người hiểu lầm vì danh Thầy nên vẫn cứ tuyên bố rằng tôi tha thứ cho nó là vì Chúa, nếu không vì Chúa thì tao đập vỡ sọ. Nói chung là tôi làm công làm phúc cho người ta vì Chúa…

Ôh ! một thứ “lạc đạo” buồn cười thật !

Người được tha thứ hay cho ăn cho mặc cũng chẳng vui vẻ gì vì họ lấy danh Chúa ra mà lập công cho mình thôi. Họ tha thứ như một kẻ cả, đứng ở trên để ban phát xuống.

Có khi nào yêu như Chúa yêu không ?

Có khi nào có tình yêu nhưng-không (vô điều kiện)  không ?

Có khi nào có tình yêu dâng hiến chính bản thân mình không ?

Có khi nào cho đi mà không tính toán hay vụ lợi không ?

Vì danh Thầy là trả lời những câu hỏi này đấy. Có vì danh Thầy như thế thì khi tiếp đón “người nhỏ” mới là tiếp đón chính Thầy và tiếp đón Thầy là tiếp đón chính Cha của Thầy.

“Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”.

Qua cuộc tử nạn của Đức Giêsu thì Ngài đã cho các ông thấy :

phục vụ là dâng hiến chính bản thân mình và Ngài đến trần gian giống như một trẻ nhỏ, lệ thuộc vào gia đình khi còn nhỏ…

ba năm đi rao giảng thì lệ thuộc vào người ta, họ có vui vẻ đó nhận hay từ chối… và kết thúc cuộc đời là hoàn toàn phó nộp trong tay người đời.

Một bản án bất công như chiên con bị đem đi xén lông, làm thịt…không rên la trách cứ.

 Tóm lại : Tất cả mọi chuyện kể trên chỉ được giải đáp khi diễn tiến Thầy Giêsu bị bắt, bị trói, bị đánh đòn, bị khạc nhổ vào mặt, bị đội mạo gai, bị vác thập giá… bị treo trên cây thập tự chết tất tưởi “và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại”.

Người đã tỏ mình ra cho các ông nhiều nơi nhiều cách nhiều lần khác nhau và từ đó… các ông mới À ra ! tức là đến lúc các ông thôi “không hiểu” nữa vì nay lòng dạ tâm trí đã bừng mở ra rồi.

Và cũng từ đây các ông đã trở nên những chứng nhân hùng hồn sống động và sẵn sàng hiến dâng chính mạng sống mình, bước theo con đường Thầy Giêsu đã đi.

Chẳng sợ “con ma” nào cả !

“Hỡi những kẻ ngoại tình, các người không biết rằng : yêu thế gian là ghét Thiên Chúa sao ?

Vậy ai muốn là bạn của thế gian thì tự coi mình là thù địch của Thiên Chúa”.

OTC

“Nguồn thơ ứa mãi hai hàng lệ,”

Suy Tư Chúa nhật thứ 25 thường niên năm B 23/9/2018

(Mc 9: 30-37)

Đức Giêsu và các môn đệ ra khỏi đó, đi băng qua miền Galilê. Nhưng Đức Giêsu không muốn cho ai biết, vì Người đang dạy các môn đệ rằng: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại.” Nhưng các ông không hiểu lời đó, và các ông sợ không dám hỏi lại Người. 

Sau đó, Đức Giêsu và các môn đệ đến thành Caphácnaum. Khi về tới nhà, Đức Giêsu hỏi các ông: “Dọc đường, anh em đã bàn tán điều gì vậy?” Các ông làm thinh, vì khi đi đường, các ông đã cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả. Rồi Đức Giêsu ngồi xuống, gọi Nhóm Mười Hai lại mà nói: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người.” Kế đó, Người đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy.”

 &   &   &

“Nguồn thơ ứa mãi hai hàng lệ,”

“Tờ giấy hoa tiên cũng ướt mèm”

(dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

 

Thơ ứa lệ, tờ giấy cũng ướt mèm. Giấy hoa tiên, nhạc láng ứa nguồn thơ, ở trình thuật. Trình thuật, thánh Máccô nay ghi, là ghi về nguồn thơ trổi điệu thướt tha có Lời Chúa nhắn nhủ đàn con bé bỏng tin vào Chúa vẫn lưu lạc chốn gian trần, nay còn nhớ. Nhớ, bài đọc rút từ sách Dân Số nói về vị ngôn sứ không thuộc đám dân con được chọn nhưng lời lẽ của vị ấy lại được Chúa chấp nhận.

Tin Mừng thánh Máccô, nay cũng nói đến lời lẽ tông đồ chiến đấu chống thần dữ xấu xa, đạt kết quả. Nhưng, trên đường đến Caphanaum các ngài cứ tranh luận xem ai lớn ai nhỏ, ở Nước Trời. Thời Chúa sống, cụm từ “bé nhỏ” là để chỉ kẻ nghèo hèn, túng bấn rất khó khăn.

Ở đây nữa, thánh Máccô vẫn mong đợi người đọc trở nên nhỏ bé, khó nghèo. Với thánh nhân, trừ phi con người nên nhỏ bé/khó nghèo, bằng không cũng chẳng được Chúa cứu độ. Nói như thế, thánh nhân không chỉ khuyên người đọc cứ ra tay bố thí kẻ nghèo đói thôi, nhưng còn khuyên răn mọi người hãy nguyện cầu nhiều cho họ.

Điều thánh nhân nhấn mạnh, chỉ là: mọi người hãy sống khiêm nhu/nghèo túng nhưng nghèo cách thanh tao, sảng khoái. Thánh nhân thừa biết rằng, trên thực tế, mọi người khó có thể sống thực điều đó nếu không sẵn sàng cho đi. Cho, cả vào khi đã khó nghèo đến độ không còn gì để cho nữa. Tuy nhiên, trên thực tế, người đời thường chỉ muốn có và có thêm thôi. Ở đây nữa, thánh sử tập trung nhấn mạnh vào nét đẹp của trẻ bé nhỏ dù bé em tuy đã nghèo và cũng hèn nhưng vẫn cho. Cho, tất cả những gì mình có để người khác sống vui.

Điều này xem ra khá nghịch thường. Bởi, một khi đã nghèo hèn/túng kém, ta không còn muốn cho đi, mà chỉ có thể gia nhập nhóm người nghèo yếu ấy mà thôi. Và khi đã nghèo rồi, ta không còn sở hữu thứ gì để cho đi hết. Lúc đó, cũng chẳng còn sợ một ai hay điều gì sẽ sở hữu chính mình. Khi đó, cũng chẳng còn lo sợ sẽ trở thành vật sở hữu hoặc khí cụ của một ai. Chẳng còn lo ngại người nào toan tính bóc lột mình thêm nữa. Điều này nghe chói tai, nhưng rất thật.

Nghèo, là cảnh tình của người chẳng còn gì để cho những thứ mà người giàu chỉ muốn rút rỉa hoặc chiếm hữu. Thế nên, người người gọi họ là trẻ bé/khó nghèo, rất túng thiếu. Tệ hơn nữa, trẻ bé rất nghèo là người bị bỏ bê ở xó xỉnh, cô đơn, vò võ chẳng ai ỏ ê. Chẳng ai muốn quan hệ với, nếu có cũng lạnh nhạt. Tự thân, người nghèo chẳng muốn quan hệ với người giàu sang, phú quý nên vẫn nghèo. Càng nghèo hơn, khi mọi người biết rõ cảnh tình của họ có khác nên làm ngơ. Đây là sự thể bất tương xứng giữa người giàu và kẻ nghèo hèn, bé nhỏ.

Và, đó còn là điều cho thấy trẻ bé/khó nghèo vẫn cống hiến/sẻ san với người bị coi là khùng điên luôn tìm cách tham gia giới nghèo để trở thành một trong những người như họ. Và, đó là sự tồi tệ mà chẳng ai muốn kiếm tìm do hãi sợ. Sợ, rơi vào tình cảnh chẳng ai ưa. Sợ, vì chẳng ai muốn đến gần.

Tin Mừng hôm nay kể về Đấng Thánh Hiền vượt trội nỗi hãi sợ tương tự. Và, Ngài dám tham gia giới trẻ bé/cùng khổ từng bị người khác bỏ rơi, chê bai. Ngài là Đấng Thánh, con người bằng xương bằng thịt, dám thực hiện cuộc sống khó nghèo như trẻ bé vẫn chui rúc ở hang cùng ngõ hẻm ở đâu đó, chẳng ai đoái hoài, ỏ ê.

Trình thuật thánh Máccô nay tô đậm sắc màu và ảnh hình về “trẻ bé” nhằm diễn tả ý tưởng về cảnh tình nghèo hèn, túng thiếu rất truân chuyên. Thánh nhân tả sự kiện Chúa chịu trở thành kẻ thấp hèn như thế là vì con người. Ngài dám choàng tay ôm kẻ bé bỏng/nghèo hèn để nói cho người lớn biết họ phải trở thành người như thế mới có thể gia nhập Nước Trời. Trở nên bé nhỏ là biến đổi thành kẻ đói nghèo và bất xứng cả trong cung cách ăn nói, lẫn lề lối đối sự. Cái nghèo của “trẻ bé” tuy rất nghèo nhưng vẫn sáng như ban ngày. Sáng lộ ra bên ngoài, nhưng nào ai biết đến.

Tin Mừng thánh Máccô, chỉ cho xuất hiện duy nhất một nhân vật nhỏ bé vào hôm ấy. Bé nhỏ thế, mà chẳng có được người đi kèm để ngó ngàng, giùm giúp hết mọi sự. Với thánh sử, trẻ bé đây là kẻ vẫn khóc than kêu gào một tương tác cho đúng mức, mà đời thường ít thấy xảy đến. Thường ở đời, không dễ gì xảy ra tình huống rất như thế.

Lẽ thường ở đời, người người đều tỏ cho thấy mình phải tự cáng đáng đời mình. Tự lo cho mình mà chẳng cần đấng bậc ở trên cao ngó ngàng, giùm giúp. Mọi người cứ phải tái tạo thế giới mới để sống chung. Bởi, bên trong mỗi con người vẫn có lực đẩy xuất tự bên trong cho biết tất cả đều xứng hợp. Ở đời thường, người người phải dùng kính hiển vi mới thấy được thế giới mình sống sẽ là trường đời nhiễu nhương nhưng vẫn làm được điều mình muốn làm. Nếu làm chưa xong, chưa được lại sẽ làm mãi suốt cuộc đời. Luôn khởi động, để có thể cải tân việc mình muốn ngõ hầu tạo tương lai tươi sáng ngay khi đó. Trở nên trẻ bé, sẽ không thế. Không như sự thể vốn là tình thế của cuộc đời.

Thời ấu thơ của trẻ bé/nghèo hèn tuy tương tác không xứng hợp với đời thường nhưng vẫn lệ thuộc vào nhau để giúp lẫn nhau, đó mới lạ. Trẻ bé/khó nghèo không tương tác với người ngoài nhóm, nhưng vẫn xả thân với người dám sống như mình. Trẻ bé/khó nghèo mọi mặt, là người biết rõ tên gọi của trò chơi ở đời. Tuy bé/nghèo, họ vẫn giúp người khác tiến tới. Vẫn phát triển kỹ năng san sẻ để trao cho nhau kinh nghiệm tạo tự do cần có. Tự do thuộc về nhau. Tự do sẻ san, giúp đỡ rất rõ.

Có một sẻ san/tương tác khác mà đám trẻ bé/khó nghèo vẫn biết đến, là: Chúa gần gũi họ. Ở giữa họ. Ngài là câu đáp trả xứng hợp với lời nguyện cầu của họ ở bất cứ đâu. Ngài ở với họ, vì Ngài đã chọn cho Ngài lối sống tự do rất sẻ san. Ngài quyết như thế, là để ai không biết nguyện cầu vẫn có thể sống cuộc sống liên lỉ nguyện cầu. Cầu, bằng cuộc sống bé bỏng/hèn kém của mình. Nguyện, bằng sự hiệp thông với Đức Chúa cũng khó nghèo như mình. Ngài tỏ hiện nơi trẻ bé/khó nghèo qua động tác giúp đỡ nhau sống như Chúa dạy, cũng luôn nghèo.

Người đời nhìn sự việc, có thể vẫn chưa tin vào lối suy tư thần học, được như thế. Bởi, thần học khó lòng giúp con người tin tưởng chỉ phân nửa việc Chúa dạy mình sống. Thế nên, mới có chuyện Chúa nhập thể làm người để trở nên nghèo kém, sống rất nghèo. Thế nên, mỗi khi người người quan tâm đến kẻ bé/nghèo, sẽ chẳng cần đến thần học nào khác ngoài việc quan tâm sờ chạm chính Chúa. Xem như thế, Chúa có nhập thể cũng chỉ để sống giữa họ, và với họ. Ngài luôn yêu cầu đồ đệ sống như thế, mới xứng đáng làm dân con của Ngài.

Nhiều vị từng sống giống như thế. Và nhờ đó, tất cả chúng ta mới được tặng ban chứng cứ hiển nhiên rằng: Thiên Chúa vẫn hiện diện nơi Đức Giêsu, Ngài chưa từng xa rời đường lối cũ Ngài chủ trương. Bởi, Ngài vẫn sống giống trẻ bé/khó nghèo. Ngài là kẻ nghèo bằng xương bằng thịt mà người đời không biết đến. Dù, người đời có gọi trẻ bé/khó nghèo là kẻ sống lề đường xó chợ, nhưng thật sự họ là người tốt lành hơn ai hết dám nói lên điều Chúa muốn nói, muốn trở nên trẻ bé/khó nghèo, hãy nhìn vào cung cách Con Thiên Chúa đã sống và vẫn sống như lời Ngài khuyên dạy.

Về lại câu hỏi vẫn đặt ra, là: “Ta phải làm gì để có được cuộc sống đích thực, ở đây bây giờ?” Có lẽ câu trả lời hay nhất, là: hãy quên đi chủ từ “tôi” hoặc “ta đây”. Bởi, còn xưng hô như thế là còn giàu sang nên mới đặt câu hỏi tương tự. Thật sự, thì câu hỏi đúng ra phải thế này: “Là trẻ bé/khó nghèo và bất tương xứng, làm sao ở với nhau cho phải phép hầu chung bước. Để rồi, từ đó khám phá ra tương quan cần thiết để cho đi chính con người mình. Cho, tương quan mật thiết giữa Cha và Con ở mọi thời?

Đó, là lời dẫn và đại ý của nền thần học giáo lý tóm gọn ở trình thuật thánh Máccô, hôm nay. Trong tâm tình cảm nghiệm điều này, ta cũng nên về với thi ca ở đời từng ngâm vang câu hát:

“Chiều xưa khúc nhạc nóng ran lên,

Không có ai đi để lỗi thuyền.

Nguồn thơ ứa mãi hai hàng lệ,”

Tờ giấy hoa tiên cũng ướt mèm.” (Hàn Mặc Tử – Buồn Ở Đây)

Nhạc buồn, nguồn thơ úa giấy hoa tiên, vần còn đó ghi nhớ lời Chúa nói. Chúa vẫn nói và vẫn gọi mọi người hãy trở nên trẻ bé, rất khó nghèo. Bé/nghèo, theo nghĩa “ướt mèm hai hàng lệ” để tham gia nhóm người chung sống, ở đây. Bây giờ.                        

 Lm Kevin OShea DCCT biên soạn –

Mai Tá lược dịch.

NỀN VĂN MINH MỚI

NỀN VĂN MINH MỚI

 Vào năm 2000, hàng tỷ người trên thế giới say mê theo dõi những cuộc tranh tài giữa các vận động viên hàng đầu của hành tinh trong Đại hội Olympic Sydney.  Điểm đặc biệt của Olympic cuối cùng của thiên niên kỷ này là có sự tham dự của các vận động viên phụ nữ.  Đây là một điểm son không của riêng Olympic mà của cả nhân loại.  Điều đó chứng tỏ phụ nữ đang được trân trọng.  Càng ngày vị trí của người phụ nữ càng được nâng cao.  Nữ giới đang đi vào bình đẳng với nam giới trên hầu hết mọi lãnh vực.  Thế giới đang đi vào một nền văn minh mới mà Đức Giêsu tha thiết truyền dạy cho các môn đệ trong bài Tin Mừng hôm nay. 

Thời xa xưa, khi còn sống hoang dã, con người ta đối xử với nhau thật tàn nhẫn.  Người ta tranh giành thực phẩm.  Người ta tranh chấp đất đai.  Tất cả đều theo định luật cạnh tranh sinh tồn.  Trong cuộc cạnh tranh thì dĩ nhiên mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé.

Khi con người đã biết tổ chức thành xã hội, sự cạnh tranh được định chế hóa trong giai cấp, quyền chức.  Người có quyền có chức bao giờ cũng được lợi.  Người dân đen thấp cổ bé miệng bao giờ cũng phải chịu thiệt thòi.  Người nghèo không được có tiếng nói.  Chính vì thế, ai cũng cố gắng vượt lên trên người khác hoặc bằng tiền bạc hoặc bằng chức quyền.  Ai cũng muốn làm người đứng đầu.  Ai cũng muốn làm lớn.  Vì thế luôn luôn có sự cạnh tranh ngôi thứ.  Trong cuộc cạnh tranh, người ta nhìn nhau như đối thủ cần phải chà đạp, cần phải loại trừ.

Hôm nay, khi thấy các môn đệ có dấu hiệu ham hố chức quyền, cạnh tranh ngôi thứ, Đức Giêsu đã nhân cơ hội dạy cho các ông biết tinh thần mới mà người môn đệ trong Nước Thiên Chúa phải có.  Đó là: “Ai muốn làm đầu, thì phải làm người rốt hết và làm tôi tớ mọi người.”

Đây thật là một cuộc cách mạng.  Vị trí trong xã hội bị đảo lộn.  Người đứng đầu không còn phải để ra lệnh, nhưng để phục vụ.  Người làm lớn không còn ăn trên ngồi trốc, nhưng chọn chỗ hèn mọn nhất.  Người bé nhỏ nhất trở nên người lớn nhất.  Người yếu đuối nhất trở nên người được trọng vọng nhất.

Đây là một cuộc cách mạng không đổ máu.  Vì người đứng đầu trở thành người phục vụ không phải vì ép buộc nhưng do tự nguyện.  Vì người làm lớn xuống chỗ hèn mọn nhất không buồn sầu nhưng trong niềm vui.  Thế giới biến đổi không do những đấu tranh giành quyền lợi, nhưng do người có quyền tự nguyện từ bỏ đặc quyền đặc lợi.

Với lời dạy dỗ ấy, Đức Giêsu đã mở ra một nền văn minh mới.  Trong nền văn minh mới này, người ta không còn nhìn nhau như những đối thủ phải loại trừ trong cuộc cạnh tranh.  Người ta nhìn nhau như những người anh em phải yêu thương nâng đỡ.  Sẽ không còn tranh giành.  Sẽ không còn xâu xé, chà đạp nhau.  Sẽ chỉ có yêu thương.  Sẽ chỉ có quan tâm nâng đỡ.  Người mạnh sẽ quan tâm dắt dìu người yếu.  Người lớn sẽ cúi xuống bồng bế người bé.  Chức quyền là để phục vụ lợi ích của mọi người.  Địa vị chỉ là sự phân công hợp lý.  Mỗi người một việc vì lợi ích của tập thể.

Để làm gương cho ta, chính Đức Giêsu đã tự hạ mình trước.  Là Thiên Chúa, nhưng Người đã tự nguyện trở nên người phàm.  Là Đấng cầm quyền, nhưng Người đã tự nguyện vâng lời.  Là thầy nhưng Người đã tự nguyện phục vụ môn đệ.  Là người lãnh đạo, nhưng Đức Giêsu không đòi hỏi đặc quyền đặc lợi, trái lại Người sẵn sàng hiến mạng sống để cứu chuộc nhân loại.

Người đã hóa thân làm một con người bé nhỏ, nghèo túng, hèn yếu nhất.  Để từ nay, ai đón tiếp một người bé nhỏ nhất là đón tiếp chính Người.  Ai giúp đỡ một người yếu hèn nhất là giúp đỡ chính Người.  Ai yêu mến một người nghèo túng nhất là yêu mến chính Người.

Với sự hạ mình của Người, số phận con người từ nay thay đổi tận gốc rễ.  Người bé nhỏ trở thành đối tượng được quan tâm phục vụ.  Người yếu đuối được nâng niu chăm sóc.  Người nghèo hèn được kính trọng yêu thương.  Vì họ đã trở thành hình ảnh của chính Thiên Chúa.

Từ nay, nhân loại đi vào một nền văn minh mới, nền văn minh của tình thương.  Nhân loại không còn tranh chấp nhau, nhưng trở nên anh em đoàn kết thương yêu nhau.  Sức khỏe, của cải, chức quyền không phải là những phương tiện để chà đạp, nhưng là những phương tiện phục vụ.  Lãnh đạo không còn là một quyền lợi, nhưng trở thành một nhiệm vụ nặng nề vì phải quan tâm phục vụ mọi người.

Suy gẫm Lời Chúa dạy hôm nay hẳn phải khiến ta giật mình lo lắng.  Không những ta không đi vào con đường Chúa đã vạch ra, mà rất nhiều khi còn chống lại Lời Chúa dạy bảo.  Ta vẫn nuôi những tham vọng thống trị người khác.  Ta vẫn muốn chiếm giữ những địa vị quan trọng.  Ta vẫn coi thường những người bé nhỏ, hèn yếu.  Ta đang đi ngược trở lại thời tiền sử.  Ta đang đi ngược lại con đường Chúa đã đi.

Hôm nay Chúa mời gọi ta hãy trở lại con đường của Chúa.  Hãy tự nguyện trở thành người bé nhỏ khiêm nhường.  Hãy biết nâng dậy những số phận hẩm hiu.  Hãy biết kính trọng những mảnh đời nghiệt ngã.  Hãy góp phần xây dựng nền văn minh mới, trong đó những người yếu đuối như phụ nữ và trẻ em được quan tâm và được kính trọng.

Lạy Trái Tim Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường, xin uốn lòng con nên giống Trái Tim Chúa.

ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

From Langthangchieutim