httpv://www.youtube.com/watch?v=FHSKXtJGQi0
MỤC ĐÍCH CUỐI CÙNG CỦA CUỘC ĐỜI LÀ GÌ? – ĐC Phêrô Nguyễn Văn Khảm

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
Về Công Giáo và Phật Giáo cùng các tôn giáo khác
httpv://www.youtube.com/watch?v=FHSKXtJGQi0
MỤC ĐÍCH CUỐI CÙNG CỦA CUỘC ĐỜI LÀ GÌ? – ĐC Phêrô Nguyễn Văn Khảm
LÁ THƯ NGỎ GỬI BÀ GÓA NGHÈO
Lm Piô Ngô Phúc Hậu
Bà Đại Tâm kính mến!
Tôi là dân Galilê về thủ đô dự lễ. Tình cờ tôi thấy Thầy Giêsu ca tụng tấm lòng to lớn của bà. Vì thế tôi mạn phép đặt tên cho bà là Đại Tâm. Bà hiểu tôi rồi chứ. Bây giờ xin mời bà nghe tôi kể chuyện.
Ở ngoài Bắc, dân chúng say mê thầy Giêsu như một siêu sao. Người đi đến đâu, thì dân đeo theo tới đó. Người ta chen lấn nhau, để được Người đặt tay trị bệnh. Lắm lúc Người không còn thời giờ ăn uống và nghỉ ngơi. Có khi vừa ăn vừa giảng. Giảng mải mê đến mức độ ổ bánh mì cầm ở tay, mà lâu lắm mới cắn được một miếng. Khi nào đuối sức quá, thì Người phải trốn sang bên kia sông Giođan, hoặc lên tận miền cực Đông Bắc, vùng núi Hermon để nghỉ ngơi đôi chút.
Vừa về tới thủ đô, tôi vội vã đi tìm Thầy Giêsu. Tìm mãi chả thấy. Bỗng thấy Người ngồi trên bậc thềm. Rất đăm chiêu. Thấy người nghiêm nghị quá, tôi không dám lại gần, chỉ đứng xa xa mà chiêm ngưỡng. Người quan sát thiện nam tín nữ bỏ tiền vào thùng công đức. Dường như Ngài hiểu hết tâm tư của người dâng tiền.
Có những người Do Thái kiều từ nước ngoài trở về. Quanh năm họ sống trên mảnh đất của người ngoại. Hằng ngày họ giao tế với người không cắt bì. Họ giàu lắm, nhưng lương tâm họ không lúc nào mà không cắn rứt. Họ mang mặc cảm tội lỗi đầy mình. Hôm nay về quê hương, họ bỏ tiền vào thùng công đức thật nhiều, vừa có ý đền tội, vừa có ý khoe: khoe đạo đức; khoe giàu sang. Thầy Giêsu nhìn họ bằng nét mặt vô tư.
Có những bà mệnh phụ giàu sang: vòng vàng đeo rủng rỉnh; lại có vài cô hầu đi theo. Họ đứng bên thùng tiền, nói chuyện với nhau thật rôm rả, moi tiền trong bóp ra một cách chậm rãi, bỏ tiền vào thùng một cách trang trọng và nhiều lần. Khách bàng quan nhìn họ bằng cặp mắt thèm thuồng và kính trọng. Nét mặt của Thầy Giêsu cứ vô tư.
Có những chàng thanh niên tay này cầm ổ bánh mì, miệng nhai nhóp nhép; tay kia cầm đồng tiền bỏ vội vào thùng, rồi quay ngoắt một cái. Vừa chạy đi vừa cười toe toét, y như một trò chơi vô duyên. Không ai nói gì, vì đấy là chuyện bình thường. Thầy Giêsu cúi đầu, cắn môi tỏ vẻ buồn phiền.
Có một ông trung niên, khăn áo chỉnh tề, dõng dạc đi tới trước thùng tiền. Mọi người lui ra để nhường chỗ. Ông moi từ hầu bao ra bảy đồng tiền bóng láng, xếp một hàng ngay ngắn trên mặt thùng, rồi nhón từng đồng, nhẹ nhàng bỏ vào thùng. Bỏ xong đồng tiền thứ bảy, ông dang tay cầu nguyện một lúc lâu, rồi trang trọng lui gót. Mọi người cúi đầu chào. Ông mỉm cười, giơ tay vẫy chào. Thầy Giêsu xòe hai bàn tay bưng vội lấy mặt. Dường như Ngài thổn thức…
Có một người đàn bà rụt rè đi tới. Khăn áo lùng bùng, cũ kỹ, nhưng không tồi tàn. Bà cầm giữa hai ngón tay một đồng xu mỏng dính, nhét vào kẽ thùng công đức, rồi thẹn thùng rút lui. Thầy Giêsu đứng bật dậy, tập trung lập tức mười hai đệ tử đang đứng xớ rớ xung quanh đó. Người dang tay chỉ về phía người đàn bà đang lủi vào đám đông, phấn khởi tuyên bố: “Đó là người dâng cúng nhiều nhất. Người giàu có bỏ vào thùng nhiều tiền lắm, nhưng dù nhiều thì cũng chỉ là tiền lẻ trong sinh hoạt của gia đình thôi. Còn bà góa ấy tuy chỉ bỏ vào thùng một đồng xu thôi, nhưng đồng xu ấy là tất cả những giọt mồ hôi của một ngày tất bật lao động, là nồi cơm mỏi mắt trông chờ của một gia đình.”
Mười hai đệ tử kiễng chân và rướn người để tìm người đàn bà ấy. Còn tôi thì ba chân bốn cẳng, rượt theo người đàn bà ấy. Người đàn bà ấy chính là bà đấy…
Tôi lặng lẽ và lẽo đẽo theo bà cho tới tận xóm ổ chuột. Bà chui vào căn chòi tồi tàn. Còn tôi thì đi từ đầu đến cuối xóm. Nhà nào tôi cũng vào, để điều tra lý lịch của bà. Tôi phải hiểu thật nhiều về bà, để hiểu thật nhiều về Thầy Giêsu của tôi.
Bà Đại Tâm kính mến!
Bây giờ bà đang lúi húi bên bếp lửa, trong cái chòi tồi tàn ở xóm ổ chuột. Còn tôi thì đang ngồi xếp bằng trên giường nệm của một nhà trọ. Tôi không muốn ăn, vì không thấy đói. Tôi không muốn ngủ, vì lòng trí tôi không chịu ngưng đọng. Tôi muốn nghĩ thật nhiều: nghĩ về Thầy Giêsu trong bối cảnh đại lễ tại thủ đô; nghĩ về bà, một người “Bần cư trung thị, vô nhân vấn” (người nghèo ở giữa chợ, chẳng ai thèm hỏi), thế mà lại được sư phụ Giêsu tôn vinh như một hoa hậu, như một siêu sao.
Ở ngoài Bắc dân chúng đeo theo Thầy Giêsu trùng trùng điệp điệp. Thế mà hôm nay về thủ đô tôi thấy Ngài ngồi thơ thẩn một mình. Ngài rảnh rỗi đến độ ngồi xem người ta bỏ tiền vào thùng. Quần chúng đi lại nườm nượp, đi qua ngay trước mặt Ngài, mà cứ phớt lờ như không biết. Tức quá, tôi mở ngay một cuộc điều tra. Ra ngoài phố, gặp ai tôi cũng hỏi. Hỏi từ ông kinh sư, đi đứng đàng hoàng như ông thiên triều, cho tới người hành khất ngồi co ro, dúm dó như con khỉ già sắp chết. Chừng đó tôi mới hiểu.
Sau sự cố Thầy Giêsu cho ông Ladarô chui ra từ hầm mộ, nơi ông được an táng đã bốn ngày, thì uy tín của Thầy bao trùm trên mọi tâm tư của toàn thể dân cư ở thủ đô Giêrusalem. Uy tín của Ngài lên cao bao nhiêu, thì uy quyền của thượng tế Caipha và Công nghị xuống thấp bấy nhiêu. Bị dồn vào chân tường, Caipha ra vạ tuyệt thông cho bất cứ ai tin theo Thầy Giêsu. Bị vạ tuyệt thông đồng nghĩa với bị truất quyền tín đồ và công dân Do Thái. Một nỗi sợ bao trùm. Mọi lương tâm áy náy. Thương Thầy Giêsu quá, nhưng lại sợ vạ tuyệt thông quá thể. Đành cắn răng, cúi mặt làm thinh.
Thầy Giêsu cô đơn giữa một rừng người hâm mộ. Chuyện ngược đời. Nhưng đời là thế và vẫn thế. Tức quá, tôi đi tìm Thầy Giêsu và phỏng vấn Ngài. Ngài không buồn không tủi, trả lời một cách bình thản: “Chúa Cha đã an bài hết rồi. Tôi sẽ bị bắt, bị hành hạ, bị giết. Nhưng ngày thứ ba tôi sẽ sống lại.” Tôi nghe Thầy tâm sự mà như vịt nghe sấm. Không dám hỏi, vì không muốn tỏ ra là mình dốt. Tôi để đấy, để ngẫm nghĩ từ từ. Sau chừng mười giây im lặng, tôi chuyển đề tài phỏng vấn sang hướng khác.
Tôi hỏi: “Tại sao một người đàn bà nghèo mạt chỉ bỏ vào thùng công đức một đồng xu quèn, mà Thầy hứng chí và ca tụng rùm beng làm chi vậy?” Thầy âu yếm nhìn tôi và tâm sự rất lâu. Giọng nói ôn tồn và ánh mắt trìu mến của Thầy làm tôi xúc động đến ứa lệ.
Bây giờ tôi mới biết Thầy yêu người nghèo da diết. Thầy sống nghèo như người nghèo và với người nghèo để chia sẻ kiếp sống lầm than của họ. Thầy tự đồng hóa với họ để dạy loài người một bài học: yêu người nghèo là yêu Chúa, khinh dể người nghèo là xúc phạm đến Chúa. Ngài quyết tâm nâng đạo yêu người lên ngang tầm với đạo yêu Chúa. Ngài kể lại cho tôi nghe dụ ngôn “Ngày thẩm phán cuối cùng.”
Con Người ngự trên ngai phán với người lương thiện rằng: “Hãy đến thừa hưởng Vương Quốc đã dọn sẵn cho các ngươi từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc…” Mọi người lương thiện đều trợn mắt lên tỏ vẻ bỡ ngỡ cực kỳ: “Chúa ơi, có bao giờ chúng con thấy Chúa đói mà cho ăn, thấy Chúa khát mà cho uống đâu…” Đức Vua từ trên ngai vui sướng dang tay, niềm nở giải thích ngay tức thời: “Ta bảo thật: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta, thì là làm cho chính Ta.” Người lành kéo nhau vào thiên đàng vừa đi vừa bỡ ngỡ nhìn nhau.
Sau đó Đức Vua dòm sang bên trái, gay gắt phán với bọn ác nhân rằng: “Hỡi quân bị nguyền rủa, hãy cút đi mà vào lò lửa đời đời dành sẵn cho Ác Quỷ. Ngày xưa Ta đói mà không cho ăn; Ta khát mà không cho uống…” Hàng ngàn cánh tay vung lên phản đối ầm ĩ: “Chúng tôi có thấy Chúa bao giờ đâu mà Chúa bảo chúng tôi không cho Chúa ăn, không cho Chúa uống…?” Chúa nghiêm nghị trả lời: “Ta bảo thật các ngươi, mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những kẻ nhỏ nhất đây, thì là đã không làm cho Ta…” Bọn ác nhân khóc òa lên một cách tuyệt vọng.
Bà Đại Tâm ơi, sau khi Thầy Giêsu ngỏ bày hết nỗi lòng của Ngài đối với người nghèo, Ngài xúc động nhắc đến bà, quý mến bà như cục vàng trong hũ, như ngàn hoa trên rừng Xuân. Chỉ vì cái tấm lòng của bà: cao quý quá, chân thành quá. Đối với Thầy Giêsu, cái tâm ấy là tuyệt vời. Cái tâm ấy mà ẩn chứa trong thân phận nghèo khổ như bà, thì là trên tuyệt vời.
Bà Đại Tâm ơi! Mừng cho bà!
Lm Piô Ngô Phúc Hậu
From: Langthangchieutim
httpv://www.youtube.com/watch?v=1elC8Pkibks
httpv://www.youtube.com/watch?v=mVl7GB79e7g
TẦM QUAN TRỌNG CỦA THA THỨ – Lm Matthew Nguyễn Khắc Hy
httpv://www.youtube.com/watch?v=88IWsKAXr0U
Make Christianity Great As Always is at Giáo xứ Phường Đúc – Huế.
{Những người vô danh chết vì Đạo Chúa}
Ở sâu trong thôn Thượng Bốn làng Dương Xuân Thượng và Dương Xuân Hạ, thành phố Huế, ít có ai biết ngôi mộ của Mười Hai Ông Cỏ (những người vô danh chết vì đạo Chúa).
Các vua chúa Việt Nam thời xưa nuôi rất nhiều voi, vì voi là loài dễ thuần hóa và thông minh trong chiến đấu. Vào triều vua Gia Long (1802), ở xã Nguyệt Biều, Thừa Thiên có cơ sở dụ voi, và 3 xưởng voi ở xã Phú Xuân và Dương Xuân. Vào thời này các giáo dân bị kết án “Tả Đạo“ (theo đạo Gia tô hay đạo Thiên Chúa ngày nay) đều được đưa về đây bứt cỏ nuôi voi (hay còn gọi là án thảo tượng).
Vào đời Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (1691 – 1725), có 26 lính ngự lâm quân (21 nam và 5 nữ) không chịu bỏ đạo, bị kết án thảo tượng và khắc tự ở trán, mang xích ở chân và cổ. Trong đó có ông Cai Pho người Thợ Đúc bị bắt năm 1714.
Đời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738 – 1765), theo Đức Cha Lefebvre Từ (nay là Thánh tử đạo Việt Nam) có hai chủng sinh bị kết án và có ông Đamianô quê ở Thợ Đúc.
Đời Huệ Vương Nguyễn Phúc Thuần (1765 – 1777), Cha Pigneau người coi xứ đạo lúc bấy giờ cho hay có 30 người bị án này hơn 20 năm. Theo cha Pigneau có 3 giáo dân từ Nha Trang ra Huế chịu án thảo tượng, có một chủng sinh chết vì chịu đựng không nổi.
Như vậy trong 3 đời chúa, thì đời Minh Vương, các vị bị khắc tự “Tả Đạo” ở trán, hai đời chúa sau thì mang miếng gỗ hoặc đồng ghi “Tả Đạo”, chân và cổ mang xích, suốt ngày họ phải chèo đò, vào tận núi để bứt cỏ và bị lính hạch sách đủ điều như cỏ xấu, cỏ bứt không đủ số lượng. Trong thời gian thụ án này, các tù nhân đều vui vẻ sống đạo một cách sốt sắng. Các thừa sai thời bấy giờ thương cảm cũng kêu gọi các giáo dân đi bứt cỏ giúp hoặc góp tiền thuê người bứt cỏ.
Đặc biệt có những trường hợp, quan trên tha không buộc phải mang xích nhưng họ từ chối, hoặc tạo cơ hội để họ trốn nhưng họ cũng không làm vì họ sợ bị hiểu lầm và làm ô danh đạo.
Trong số người bị án thảo tượng thì họ Thợ Đúc có hai vị: ông Câu Pho và ông Đamianô. Hiện nay theo ghi chép, có 12 vị bị án này tại Thợ Đúc được an táng ở sâu trong thôn Thượng Bốn. Dù hữu danh hay vô danh, hy vọng các Ngài đang được hưởng Nhan Thiên Chúa.
Vào năm 1999, Đức Tổng Giám mục Stêphanô đã giao cho Cha sở xứ Thợ Đúc tôn tạo lại mộ Mười Hai Ông Cỏ một cách xứng đáng và tôn nghiêm.




Lễ vật cao quý
Linh mục Inhaxiô Trần Ngà
(Suy niệm Tin mừng Mác-cô (12, 41-44) trích đọc vào Chúa nhật 32 thường niên)
Một ông lão nghèo bước vào nhà một người quyền quý gõ cửa xin ăn. Chủ nhà nhìn ông với vẻ mặt khinh khỉnh, miễn cưỡng rút túi lấy 100.000 đồng, ném vào ông và nói: “Tiền nè!” rồi bực bội quay vào nhà.
Dù đây là một số tiền đáng kể đối với lão ăn xin, nhưng nhìn thái độ hách dịch của người cho, ông cảm thấy cay đắng và oán hận. Ông quay mặt ra đi không thèm lấy.
Ông sang nhà bên cạnh, một căn nhà đơn sơ nghèo nàn, có một bé gái chạy ra, cầm 1.000 đồng với cả hai tay, miệng tươi cười vui vẻ, thưa với ông: “Cháu không có gì nhiều, xin ông nhận lấy thảo.”
Ông lão nhận lấy món quà nhỏ bé của cô gái nhỏ với tấm lòng hân hoan. Ông chưa bao giờ nhận được món quà quý báu đến thế, một món quà nhỏ nhưng được gói ghém với rất nhiều yêu thương.
Của cho không lớn, nhưng cho với tấm lòng yêu thương trìu mến, với thái độ trân trọng, thì giá trị của nó tăng lên cả trăm lần.
Khi Chúa Giê-su quan sát những người bỏ tiền dâng cúng cho đền thờ, Ngài thấy có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền, cũng có một bà goá nghèo bỏ vào hòm tiền hai đồng xu nhỏ, nhưng đó là tất cả những gì bà có để nuôi thân.
Lễ vật của bà tuy bé mọn nhưng gói ghém rất nhiều tình yêu. Chính vì thế, Chúa Giê-su cho rằng bà goá nầy đã dâng cho Thiên Chúa nhiều hơn tất cả những người khác.
Thiên Chúa là Đấng vô cùng giàu có, Ngài chẳng thiếu của gì. Điều Ngài chờ đợi nơi chúng ta là tấm lòng yêu mến. Vì thế, chúng ta hãy dâng cho Ngài những công việc nhỏ bé hằng ngày, được thực hiện với nhiều yêu thương.
Làm việc nhỏ với một tình yêu lớn
Mẹ thánh Tê-rê-xa Calcutta không chủ trương làm những công việc to lớn, nhưng thường xuyên làm những việc nhỏ với tình yêu lớn. Mẹ nói: “Chúng ta không thể làm những việc lớn lao, nhưng chúng ta có thể làm những việc nhỏ với tình yêu lớn lao.”
Trong bức thư gửi cho đấng đáng kính là cố Hồng y Fx. Nguyễn Văn Thuận, mẹ Tê-rê-xa viết: “Điều đáng kể không phải là số lượng công việc ta làm, nhưng là mức độ yêu thương mà ta đặt vào trong mỗi công việc.”
Đúng thế, dù làm được cả chục việc lớn để mưu cầu danh lợi… cũng không bằng làm một việc nhỏ bé chỉ vì lòng mến Chúa yêu người.
Thánh Phao-lô dạy: “Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi” (I Cr 13, 3).
Cảm hứng từ bức thư trên đây của mẹ Tê-rê-xa Calcutta, đấng đáng kính Fx Nguyễn Văn Thuận quyết tâm “thực hiện từng công việc nhỏ bé hằng ngày, từng cuộc tiếp xúc hằng ngày với tình yêu lớn” và biến những phút sống hiện tại thành những giây phút đẹp nhất cuộc đời. Ngài viết: “Tôi quyết sống từng giây phút hiện tại và đong đầy tình thương vào đó” (Trích: “Năm chiếc bánh và hai con cá”).
Lạy Chúa Giê-su,
Chúng con biết lấy gì dâng lại cho Chúa, để đền đáp muôn vàn ân huệ Chúa thương ban? Không lẽ chúng con liên tiếp nhận ơn Chúa ban mà không biết báo đền?
Xin cho chúng con mỗi ngày dâng cho Chúa một hy sinh nhỏ bé, nhưng được thực hiện với nhiều yêu thương; đó là lễ vật cao đẹp làm vui lòng Chúa hơn hết. Amen.
Linh mục Inhaxiô Trần Ngà
(Nếu muốn đọc những bài suy niệm khác, vui lòng vào website: https://nguonvui.net )
TIN MỪNG Mác-cô 12, 41-44
Đức Giê-su ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rô-ma. Đức Giê-su liền gọi các môn đệ lại và nói: “Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình.”
From: ngocnga_12& NguyenNThu
httpv://www.youtube.com/watch?v=1CV_DN1c70I
Gạt bùn luyện tội | BG Lễ cầu cho các linh hồn | Cha Phạm Quang Hồng
httpv://www.youtube.com/watch?v=WHpzmg0jil8
QUÊN LÃNG người đã chết là bắt họ CHẾT THÊM MỘT LẦN NỮA |Lm Phêrô Nguyễn Bá Quốc Linh
02.11.21 THỨ BA TUẦN 31 TN
TIN MỪNG GIOAN 6,37-40
“CHÍNH LÚC CHẾT ĐI, LÀ KHI VUI SỐNG MUÔN ĐỜI”
“Tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời.” (Ga 6,40)
Suy niệm: Chúng ta thường nói “sinh ký tử quy”: sống ở đời này chỉ là “tạm trú”, chết là về cõi vĩnh hằng. Nhưng cõi vĩnh hằng là gì, đó mới là điều quan trọng.
Chắc một điều là không ai mong chết rồi phải đi về một “cõi âm” im lìm lạnh lẽo, cõi mà “cô hồn các đẳng” sống vật vờ vất vưởng.
Chúa Giêsu dạy chúng ta cõi vĩnh hằng ấy là cõi sống hạnh phúc tròn đầy và vĩnh viễn dành cho những ai tin vào Ngài, là Đấng đã chết để đền bù tội lỗi chúng ta và đã sống lại để dẫn đưa chúng ta vào sự sống đó.
Chính vì tin như thế mà thánh Phanxicô Átxidi đã ca lên rằng: “Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”.
Mời Bạn CHIA SẺ: Giáo Hội dành cả tháng 11 hằng năm để cầu nguyện cho “các đẳng linh hồn” trong đó có ông bà tổ tiên, thân bằng quyến thuộc chúng ta đã qua đời đang phải chịu thanh luyện chưa được hưởng hạnh phúc tròn đầy ở cõi vĩnh hằng.
Chúng ta còn đang sống ở chốn dương thế này, nhờ lòng tin vào Chúa Giêsu Kitô và nhờ tham dự thánh lễ, cầu nguyện, làm việc bác ái hy sinh, có thể chuyển cầu cho các vị sớm được hưởng
Nhiều người lương dân vẫn quan niệm rằng “đi đạo Công giáo là bỏ ông bỏ bà.” Việc kính nhớ, cầu nguyện cho ông bà tổ tiên trong Tháng Các Đẳng này có thể giúp xoá đi sự hiểu lầm đó không? Bằng cách nào?
Sống Lời Chúa: Viếng nhà thờ hoặc nghĩa trang cầu nguyện theo ý Giáo hội để chuyển cầu cho các đẳng linh hồn.
Cầu nguyện: Đọc một Kinh Vực Sâu cầu cho các đẳng linh hồn.
GPLONGXUYEN
NGUỒN NƯỚC MẮT
ĐGM Gioan B. Bùi Tuần
Trí nhớ của tôi lưu giữ nhiều hình ảnh. Trong số đó, có một thứ hình ảnh rất thầm lặng, nhưng thường gây trong tôi nhiều cảm xúc và suy nghĩ. Thứ hình ảnh đó là các nghĩa trang.
Tôi đã viếng nhiều nghĩa trang. Tại Việt Nam, tại Ý, tại Đức, tại Pháp, tại Nga, tại Vaticăng.
Tôi đến viếng các nghĩa trang, chủ ý để suy gẫm, cầu nguyện, và cũng để tìm cảm nghiệm. Có thứ cảm nghiệm chỉ tìm được ở nghĩa trang. Tôi đã nghĩ như vậy và đã làm như vậy, khi tôi viết luận án: “Đau khổ của tình yêu.”
Đã có những cảm nghiệm độc đáo in rất sâu vào lòng tôi từ các nghĩa trang. Đặc biệt là từ những dòng nước mắt ở nghĩa trang.
Có những nước mắt của tình yêu dạt dào.
Có những nước mắt của nỗi buồn, nhung nhớ.
Có những nước mắt của lòng hối hận khôn nguôi.
Có những nước mắt của tấm lòng tha thứ muộn màng.
Có những nước mắt của ân tình, hiếu nghĩa.
Có những nước mắt của niềm tin sâu sắc mong chờ.
Khi đi sâu hơn một chút giữa các dòng nước mắt, tôi có thể cảm nghiệm được một số khám phá quan trọng:
Khám phá ra những chân lý nhân sinh.
Khám phá ra những hy vọng ứu độ.
Khám phá ra chính mình.
Khám phá ra chân lý
Những nước mắt ở nghĩa trang là những tiễn biệt thân thiết. Tiễn biệt người đã chết, người vĩnh viễn ra đi. Sự chết là một sự thật không cần bàn tới. Nhưng đó lại là một chân lý cực kỳ quan trọng.
Bất cứ ai, rồi cũng phải chết. Cái chết đáng sợ. Nhưng đáng sợ hơn lại là cái gì đàng sau cái chết. Đáng sợ, vì nó quá bất ngờ. Biết đâu, trong số mồ mả, cũng có những hồn vì thế mà đang khóc ròng rã đêm ngày.
Ở đây, tôi chỉ xin trích dẫn một đoạn Phúc Âm: “Có một ông nhà giàu nọ, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại có một người nghèo khó tên là Ladarô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu đó. Anh thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rơi xuống mà ăn cho đỡ đói. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta.
Thế rồi, người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Apraham.
Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn. Dưới địa ngục, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Apraham ở trên đàng xa, và thấy Ladarô trong lòng tổ phụ. Bấy giờ ông ta kêu lên: Lạy tổ phụ Apraham, xin thương xót con, xin sai anh Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát, vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm.
Ông Apraham đáp: Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con đã nhận phần phước của con rồi. Còn Ladarô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ Ladarô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ. Hơn nữa, giữa chúng ta đây và con đã có một vực thẳm quá lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được” (Lc 16,19-26).
Với dụ ngôn trên, Chúa dạy ta những chân lý quan trọng. Ai cũng phải chết. Nhưng sự Chúa đánh giá từng người sau khi chết thường vượt quá sự con người suy nghĩ. Người phú hộ đó sống đời này được đầy đủ, sung sướng, an nhàn, xét mình chẳng thấy gì là xúc phạm Chúa, chẳng thấy gì là làm hại ai. Nhưng người phú hộ đó đã bị rơi vào hoả ngục. Chỉ vì sống thiếu thương cảm, thiếu liên đới, thiếu chia sẻ, thiếu xót thương. Trái lại, người ăn mày kia đã được lên thiên đàng. Vì dù bị chìm trong cảnh khổ, anh đã sống nêu gương về đức khiêm nhường, hiền lành và chân thật. Không được người dư dật chia sẻ, anh phải sống đói khổ, nhưng anh vẫn chia sẻ với mấy con chó đói ăn.
Nhờ ơn Chúa, những sự thực như trên đã được nhiều người nhận ra một cách sâu sắc trong những dòng nước mắt tại nghĩa trang. Những chân lý đó đã thay đổi đời họ.
Ngoài ra, biết bao người nằm trong nghĩa trang và khóc tại nghĩa trang cũng đã tìm được hy vọng cuộc đời qua một ngả khác.
Khám phá ra hy vọng
Không thiếu trường hợp, tôi đã chứng kiến những cuộc trở về. Họ đã trở về từ những dòng nước mắt của một người nào đó. Người đó cầu nguyện cho họ. Người đó khóc với họ thay vì nói với họ.
Một lúc bất ngờ, lời Chúa Giêsu phán xưa trở thành chuyện đời họ. Chúa an ủi họ rằng: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc. Người đau ốm mới cần. Hãy về học biết ý nghĩa của câu này: Cha muốn lòng nhân, chứ đâu cần của lễ. Vì Cha đến, không để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9,12-13).
Những lời dịu dàng đó đã đi sâu vào lòng họ. Cõi lòng vốn đóng kín, khoá chặt, chất chứa những u uất, thất vọng, nay mở ra để hy vọng tràn vào.
Họ cảm thấy mình được xót thương, được yêu thương. Họ sám hối. Họ cảm thấy mình được tha thứ. Và chính họ cũng dễ dàng tha thứ. Một sự bình an lạ lùng trùm phủ tâm hồn họ. Họ ra đi bình an trong sự tin tưởng phó thác tuyệt đối ở Chúa giàu lòng thương xót. Họ khóc vì xúc động, đây là những dòng nước mắt đầy tình cảm tạ.
Những người chứng kiến cũng không cầm được nước mắt. Những dòng nước mắt ấy không nói nên lời, nhưng ngọt ngào niềm hy vọng cứu độ.
Khám phá ra chính mình
Tại những nghĩa trang, thấy người ta khóc, nhất là khi chính mình khóc, tôi như nghe được tiếng Chúa Giêsu nói: Cha thương con, Cha thương mọi người. Cùng với lời Chúa trao ban tình yêu, tôi khám phá ra chính mình tôi, với những vết thương, với những tang tóc đau buồn. Khám phá ra chính mình trong sự thực trần trụi.
Khám phá để giúp trút bỏ những cái nhìn ảo. Nhìn ảo về mình. Nhìn ảo về những công việc của mình. Nhìn ảo về người khác. Nhìn ảo về cuộc đời.
Để cũng nhận ra rằng: dù với những yếu đuối, tội lỗi, mong manh, tôi vẫn được Chúa gọi với tình xót thương:
Gọi hãy cảm thương.
Gọi hãy chia sẻ.
Gọi hãy trở về.
Gọi hãy hiến dâng.
Gọi hãy cầu nguyện và đền tạ.
Gọi hãy sám hối và tín thác.
Gọi hãy vượt qua sự chết và mọi nghĩa trang, để bay vào cõi phúc đời đời.
Ơn gọi đó sẽ thực hiện được, miễn là tôi biết nhờ ơn Chúa, ở lại trong tình Chúa yêu thương. Như lời Chúa kêu gọi: “Hãy ở lại trong Cha, như Cha ở lại trong các con” (Ga 15,4).
ĐGM Gioan B. Bùi Tuần
From: Langthangchieutim
Hôm 28 tháng 10, Tòa Ân Giải Tối Cao đã công bố sắc lệnh sau đây. Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.
SẮC LỆNH
Sau khi đã lắng nghe những lời yêu cầu khác nhau nhận được gần đây từ nhiều Mục Tử Thánh Thiện của Giáo hội, liên quan đến tình trạng đại dịch đang tiếp diễn, Tòa Ân Giải Tối Cao xác nhận và mở rộng đến trọn tháng 11 năm 2021, tất cả các lợi ích thiêng liêng đã được ban cấp vào ngày 22 tháng 10 năm 2020, thông qua Sắc Lệnh số 791/20/I, theo đó, do đại dịch “Covid-19”, những Ơn Toàn Xá cho các tín hữu đã qua đời đã được gia hạn trong suốt tháng 11 năm 2020.
Từ sự quảng đại vừa được lặp lại của Giáo hội, các tín hữu chắc chắn sẽ thu được những ý định lành thánh và sức mạnh thiêng liêng để hướng dẫn cuộc sống của họ theo đòi buộc Tin Mừng, trong sự hiệp thông hiếu thảo và sùng kính đối với Đức Thánh Cha, là nền tảng hữu hình và là Mục tử của Giáo Hội Công Giáo.
Sắc lệnh này có hiệu lực trong suốt tháng 11, bất kể các quy định trái ngược.
Ban hành từ Rôma, tại Trụ sở của Tòa Ân Giải Tối Cao, ngày 27 tháng 10 năm 2021.
+ Đức Hồng Y Mauro Piacenza
Chánh Tòa Ân Giải Tối Cao
Đức ông Krzysztof Nykiel
Nhiếp chính
Source:Holy See Press Office
Phụ lục: Sắc Lệnh số 791/20/I của Tòa Ân Giải Tối Cao
Ngày 23 tháng 10, Tòa Ân Giải Tối Cao đã công bố sắc lệnh sau.
Nguyên bản tiếng Ý có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.
Năm nay, trong tình huống khẩn cấp hiện tại do đại dịch “COVID-19”, các ơn Toàn Xá cho các tín hữu đã qua đời sẽ được kéo dài trong cả tháng 11, cùng với việc điều chỉnh các việc đạo đức và các điều kiện để bảo đảm an toàn cho các tín hữu.
Tòa Ân Giải Tối Cao này đã nhận được không ít những lời thỉnh cầu của các Mục tử Thiêng liêng, những vị đã yêu cầu rằng năm nay, vì đại dịch “COVID-19”, các việc đạo đức theo tiêu chuẩn của Sách Cẩm nang Ân xá (điều 29, triệt 1) để nhận lãnh các ơn Toàn Xá nhường cho các linh hồn trong Luyện Ngục, nên có sự điều chỉnh. Do đó, Tòa Ân Giải Tối Cao, theo sự ủy nhiệm đặc biệt của Đức Thánh Cha Phanxicô, sẵn sàng thiết lập và quyết định rằng trong năm nay, để tránh các cuộc tụ tập ở những nơi không được phép:
a.- Ơn Toàn xá dành cho những người đến viếng một nghĩa trang và cầu nguyện cho người đã khuất dù chỉ trong trí, như đã được quy định trong Cẩm nang trong mỗi ngày từ ngày 1 đến ngày 8 tháng 11, có thể được chuyển sang các ngày khác trong cùng tháng cho đến cuối tháng. Những ngày như thế, do các tín hữu tự do lựa chọn, cũng không cần kế tiếp nhau;
b. – Ơn Toàn xá ngày 2 tháng 11, được thiết lập nhân dịp Lễ Cầu Cho Các Tín Hữu Đã Qua Đời, dành cho tất cả những ai sốt sắng đến thăm một Nhà thờ hoặc một Nhà Nguyện và đọc ở đó “Kinh Lạy Cha” và “Kinh Tin Kính”, có thể được chuyển sang Chúa Nhật trước hoặc Chúa Nhật sau hoặc sang ngày Lễ Trọng Kính Các Thánh Nam Nữ, và cũng có thể chuyển sang một ngày khác trong tháng 11, do các tín hữu tự do lựa chọn.
Những người già, người bệnh và tất cả những người vì lý do nghiêm trọng không thể rời khỏi nhà mình, do những hạn chế được áp đặt bởi các cơ quan có thẩm quyền trong thời gian xảy ra đại dịch, nhằm tránh việc tụ tập đông đảo các tín hữu ở những nơi linh thiêng, sẽ có thể nhận được Ơn Toàn Xá. Điều kiện để nhận được Ơn Toàn Xá là họ hiệp nhất về mặt tinh thần với tất cả các tín hữu khác, hoàn toàn từ bỏ tội lỗi và có ý định tuân thủ càng sớm càng tốt ba điều kiện thông thường là Xưng tội, Rước lễ và Cầu nguyện theo Ý Đức Thánh Cha. Họ được khuyến khích cầu nguyện trước tượng ảnh Chúa Giêsu, Đức Trinh Nữ Maria, đọc những kinh nguyện sốt sắng dành cho người chết, ví dụ như Kinh Sáng và Kinh Chiều từ Sách Thần Vụ dành cho người quá cố, Chuỗi Mân Côi, Kinh Lòng Thương Xót Chúa, những kinh nguyện khác cho những người thân yêu nhất đã qua đời của các tín hữu hoặc dành thời gian để suy gẫm một trong những đoạn Phúc âm được đề nghị trong Phụng vụ dành Người Quá Cố, hoặc thực hiện công việc của lòng thương xót, dâng lên Chúa những nỗi đau và những khó khăn của cuộc đời họ.
Để giúp anh chị em có thể dễ dàng nhận được ân sủng hơn nhờ lòng bác ái mục vụ của các mục tử, Tòa Ân Giải Tối Cao này chân thành cầu nguyện xin cho tất cả các linh mục với các năng quyền phù hợp, có thể quảng đại hy sinh một cách đặc biệt để cử hành Bí Tích Hòa Giải và trao Mình Thánh Chúa cho các bệnh nhân.
Tuy nhiên, liên quan đến các điều kiện thiêng liêng để được lãnh nhận Ơn Toàn xá một cách đầy đủ, xin nhắc nhở mọi người hãy dựa vào những chỉ dẫn đã được ban hành trong Ghi chú “Về Bí Tích Hòa Giải trong hoàn cảnh đại dịch hiện nay”, do Tòa Ân Giải Tối Cao ban hành ngày 19 tháng 3 năm 2020.
Cuối cùng, để các linh hồn trong Luyện ngục được giúp đỡ nhờ lời chuyển cầu của các tín hữu và đặc biệt là nhờ Hy tế trên Bàn thờ, là điều đẹp lòng Thiên Chúa (xem Conc. Tr. Sess. XXV, decr. De Purgatorio), tất cả các linh mục đều được nhiệt liệt mời gọi cử hành Thánh Lễ ba lần trong ngày Lễ Cầu Cho Các Tín Hữu Đã Qua Đời, như trong chuẩn mực của Tông Hiến “Incruentum Altaris”, do Đức Giáo Hoàng đáng kính Bênêđictô XV ban hành vào ngày 10 tháng 8 năm 1915.
Sắc lệnh này có hiệu lực trong suốt tháng 11, bất chấp mọi quy định ngược lại.
Ban hành tại Rôma, từ trụ sở của Tòa Ân Giải Tối Cao, vào ngày 22 tháng 10 năm 2020, Lễ Nhớ Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.
+ Đức Hồng Y Maurus Piacenza
Chánh Tòa Ân Giải Tối Cao
Đức Ông Krzysztof Nykiel
Nhiếp chính
28/Oct/2021