XA MÀ GẦN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
“Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần!”.
“Những ngọn đồi phía trước thường được nhìn với những tiếng thở dài! Chúng trông dốc, cao và xa. Nhưng khi đến gần, chúng không thực sự quá dốc, đỉnh không quá cao, và đến đó cũng không quá xa. Những ngọn đồi phía trước thật ‘không khó’ hơn chúng ta nghĩ. Chúng ‘xa mà gần’ là thế!” – Douglas Malloch.
Kính thưa Anh Chị em,
Thật thú vị, những ngọn đồi tuy ‘xa mà gần’ của thi sĩ người Mỹ được sánh với Triều Đại Thiên Chúa vốn được Chúa Giêsu nói đến nhiều lần trong Tin Mừng. Nó không ở đâu xa, Triều Đại ấy chính là Ngài, ‘xa mà gần’. Ngài nói, “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần!”.
Triều Đại ấy ‘gần’ theo nghĩa kép. Trước hết, Chúa Giêsu sẽ trở lại trong vinh quang và làm mới lại mọi sự; như vậy, Vương Quốc vĩnh cửu của Ngài sẽ được thiết lập. Thứ hai, Triều Đại của Ngài rất ‘gần’ ở chỗ, chỉ cách chúng ta một lời cầu nguyện. Trong Kinh Lạy Cha, chúng ta cầu xin “Nước Cha trị đến”. Chúa Giêsu khao khát đến để thiết lập Vương Quốc của Ngài trong lòng chúng ta, miễn là chúng ta để Ngài đi vào.
Tiếc thay, chúng ta thường giữ khoảng cách với Ngài và do dự trong việc đón tiếp Ngài. Và như thế, Triều Đại Ngài hoá nên xa xôi. Chúng ta đọc Kinh Lạy Cha một cách hời hợt, và Ngài trở nên xa lạ khi tâm hồn chúng ta hướng về đâu đâu và bận tâm đến những thứ gì khác ngoài Ngài; hoặc cùng lắm, để cho Ngài lảng vảng trong tâm trí đang khi trái tim của chúng ta thì vẫn cửa đóng then cài. Bởi lẽ, chúng ta sợ phải thay đổi một điều gì đó khi có sự hiện diện của Ngài. Gần mà xa là thế!
Giá mà chúng ta biết được nỗi khát khao của Chúa Giêsu đến mức nào khi Ngài muốn đi vào linh hồn mỗi người! Được Ngài đi vào, có lẽ, mọi sự đã thay đổi và chúng ta đã nên thánh từ lâu. Hãy suy ngẫm về ước muốn của Thánh Tâm Chúa Giêsu đến với chúng ta và Ngài những muốn thiết lập Vương Quốc của Ngài trong cuộc đời mỗi người. Ngài khao khát được làm Vua linh hồn chúng ta, cai trị chúng ta trong sự hoà hợp với một tình yêu xót thương hoàn hảo. Hãy để Ngài đến và thiết lập Vương Quốc trong trái tim. Và như thế, Ngài không ở đâu xa, Ngài ở trong chính bạn và tôi, ‘xa mà gần’ là vậy!
Anh Chị em,
“Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần!”. Bạn và tôi chỉ cần nói, “Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến!”. Ngài đang chực sẵn ngoài cửa linh hồn mỗi người như Ngài đã nói, “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy!”. Chúa Giêsu có thể đến với chúng ta và chiếm lấy cuộc sống của chúng ta nếu chúng ta để Ngài tự do làm điều đó. Ngài là Vua toàn năng, có khả năng biến đổi chúng ta nên tạo vật mới; có thể mang lại sự bình an và hoà hợp hoàn hảo cho tâm hồn. Ngài có thể làm những điều vĩ đại và đẹp đẽ trong lòng chúng ta. Bạn và tôi chỉ cần nói một lời và ước ao như vậy thì Ngài nhất định sẽ đến. Ngài không ở đâu xa, Ngài ở gần, rất gần!
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa Giêsu, đừng để con nhìn những ngọn đồi phía trước với những tiếng thở dài. Cho con biết, Chúa ở gần con, cũng có thể xa con. Điều này tuỳ thuộc vào con!”, Amen.
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
From: KimBang Nguyen
Tại sao Hội Thánh Công giáo đòi các linh mục và Giám mục sống đời độc thân?-Cha Vương
HÃY CẦU NGUYỆN KHÔNG NGỪNG
Thánh Alphonso Ligouri là Đấng Sáng Lập Dòng Chúa Cứu Thế và cũng là tác giả của nhiều tác phẩm thiêng liêng đã cho rằng cầu nguyện có quyền năng vô cùng vì cầu nguyện làm thay đổi bộ mặt thế giới. Ngài nói: “Ai cầu nguyện thì sẽ được ơn cứu độ.”
Nhà thơ Frances Morton đã nói về cầu nguyện như sau:
1. Lời cầu nguyện vào buổi sáng sẽ bảo đảm cho chúng ta một ngày đầy ơn lành.
2. Lời cầu nguyện vào buổi tối sẽ cho chúng ta một đêm nghỉ ngơi bình an.
3. Lời cầu nguyện khi chúng ta yếu đuối thì chắc chắn chúng ta có bàn tay mạnh mẽ của Chúa giúp đỡ.
4. Lời cầu nguyện khi chúng ta cô đơn thì Chúa sẽ đồng hành và giúp đỡ.
5. Lời cầu nguyện khi đau khổ thì sẽ được Chúa an ủi, ban bình an và nghỉ ngơi.
6. Lời cầu nguyện khi nghi ngờ thì Chúa sẽ an ủi và soi sáng và ban ơn đức tin cho chúng ta.
7. Lời cầu nguyện khi vui mừng thì sẽ gặt hái nhiều niềm vui và sự vui thỏa.
8. Lời cầu nguyện để cảm tạ lòng từ bi của Chúa thì chúng ta sẽ hạnh phúc trong mọi lúc.
9. Mỗi ngày, mỗi mùa và mỗi giờ, chúng ta cần cầu nguyện để được chúc phúc mỗi giây phút trong cuộc sống.
10. Không có linh hồn nào mà không cần ơn thánh Chúa và khi chúng ta cùng nhau kết hợp để cầu nguyện thì Chúa sẽ ban cho chúng ta những quyền năng vô biên.
From: Ngoc Bích & KimBang Nguyen
VƯƠN TẬN TRÙNG KHƠI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
“Hãy đi theo tôi!”.
“Những người tự mãn thường đạt điểm thấp trong các bài kiểm tra đo lường hạnh phúc. Hãy tìm một điều gì đó cao cả hơn; ‘một Ai đó’ vĩ đại hơn! Đừng chỉ hài lòng với những con cá quèn của ao đầm! Hãy vươn tận trùng khơi cho những gì vô biên hơn!” – Anon.
Kính thưa Anh Chị em,
“Hãy ‘vươn tận trùng khơi’ cho những gì vô biên hơn!”. Thật thú vị, ý tưởng của nhà tu đức trên được gặp lại qua Lời Chúa ngày lễ kính thánh Anrê tông đồ.
Trong cái nhìn của Thiên Chúa, mỗi người chúng ta luôn được nhắm tới cho một điều gì đó cao cả hơn, vĩ đại hơn, và cũng vĩnh cửu hơn. Không chỉ biển hồ Galilê, Chúa Giêsu muốn Anrê, các bạn chài của ông, và mỗi chúng ta ‘vươn tận trùng khơi’ bao la để “lưới người như lưới cá”. Ngoài biển hồ Galilê, còn có một đại dương bao la hơn, mênh mông hơn, có tên là “Thế Giới” đã vẫy gọi Anrê, đang vẫy gọi bạn và tôi. Bởi lẽ, thế giới chúng ta đang sống vẫn là một thế giới mà Thiên Chúa còn khá xa lạ, nếu không nói, một thế giới đang cố loại trừ Ngài.
Trong thư Rôma hôm nay, Phaolô viết, “Làm sao kêu cầu Đấng họ không tin? Làm sao tin Đấng họ không được nghe? Làm sao nghe, nếu không có ai rao giảng? Làm sao mà rao giảng, nếu không được sai đi?”. Như Anrê, chúng ta được sai đi từ ngày lãnh nhận Bí tích Rửa Tội; để rồi, cùng Anrê và bao chứng nhân mọi thời, chúng ta ‘vươn tận trùng khơi’ để “lưới người như lưới cá”. Thánh Vịnh đáp ca xác nhận sứ vụ lớn lao này, “Tiếng các ngài đã vang dội khắp hoàn cầu!”.
Và dẫu sứ vụ cao cả đến thế, ơn gọi đến với Anrê và các bạn chài xem ra vẫn không mấy ấn tượng. Chúa Giêsu không tỏ mình cho họ cách đặc biệt; thay vào đó, ngay trong nghề nghiệp của họ, Ngài gọi họ. Cũng thế, với mỗi người chúng ta, chính giữa cuộc sống thường nhật của mình, bạn và tôi khám phá Ngài. Ở đó, Ngài tỏ mình và làm cho tình yêu Ngài được cảm nhận trong mỗi trái tim; cũng ở đó, Ngài biến đổi từng trái tim.
Chúa Giêsu không nhìn các môn đệ về mặt thể chất nhưng về mặt tâm linh, không nhìn về ngoại hình nhưng ‘thấy sâu hơn’ tấm lòng. Ngài chọn họ trước tiên không phải vì họ là tông đồ nhưng vì họ có thể trở thành tông đồ; không vì con người thật của họ mà vì con người họ có thể trở thành. Ngài không từ chối những điều tốt đẹp chưa định hình, không chọn những gì họ có, những gì họ là; Ngài chọn những trái tim!
Anh Chị em,
“Hãy theo tôi!”. Đức Phanxicô nói, “Trên bờ hồ Galilê, một vùng đất không thể tin được, cộng đồng môn đệ Kitô đầu tiên ra đời. Ước gì sự hiểu biết về những khởi đầu này khơi dậy trong chúng ta ước muốn mang Lời, tình yêu và sự dịu dàng của Chúa Kitô đến mọi vùng ngoại vi, trong mọi bối cảnh, ngay cả những bối cảnh khó khăn và kháng cự nhất. Mọi không gian sinh hoạt của con người đều là những mảnh đất để gieo hạt Lời, chúng sẽ trổ sinh hoa trái cứu độ!”. Biết bao linh hồn đang ở tận trùng khơi. Đừng hài lòng với những con cá quèn, bạn được kêu gọi cho một điều gì đó cao cả hơn, ‘một Ai đó’ vĩ đại hơn, một biển lớn mất hút chân trời!
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, con thường tự mãn với những gì trong ao đầm. Cho con dám ‘vươn tận trùng khơi’, hầu có thể đánh bắt cho Chúa từ mẻ này đến mẻ khác, mẻ các linh hồn!”, Amen.
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
From: KimBang Nguyen
CHÚA KITÔ NHƯ LÀ VŨ TRỤ – Rev. Ron Rolheiser, OMI
Rev. Ron Rolheiser, OMI
Pierre Teilhard, một trong các cuộc đối thoại của ông với Bộ Tín điều về Đức tin ở Rôma, đã được hỏi: “Ông đang cố gắng làm điều gì?” Câu trả lời của ông như thế này: Tôi đang cố gắng viết một học thuyết Kitô học sao cho đủ lớn để bao gồm trọn vẹn Chúa Kitô vì Chúa Kitô không chỉ là Đấng cứu thế thiêng liêng được phái đến để cứu con người; Chúa Kitô còn là cấu trúc trong một vũ trụ thực thể, một con đường cứu rỗi cho chính trái đất.
Điều này có nghĩa là gì? Làm sao Chúa Kitô lại là một cấu trúc trong một tạo vật thực thể?
Có lẽ phần bị bỏ quên nhiều nhất trong hiểu biết của chúng ta về Chúa Kitô, mặc dù được giảng dạy rõ ràng trong Kinh Thánh, là ý niệm mầu nhiệm Chúa Kitô lớn hơn những gì chúng ta nhìn thấy hữu hình trong cuộc đời Chúa Giê-su và trong đời sống lịch sử của các giáo hội Ki-tô. Chúa Kitô đã là một phần của chính tạo vật thực thể và là trọn vẹn của sáng tạo đó. Như chúng ta thấy điều này được nói lên trong Thư gởi tín hữu thành Côlôxê: Khi mô tả thực tại Chúa Giê-su, tác giả viết: Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo, vì trong Người, muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình và vô hình.
Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người. Người có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Người. Người cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh; Người là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự Người đứng hàng đầu (Cl 1: 15-18).
Cũng vậy, trong thư gởi tín hữu Rôma, thánh Phaolô nói với chúng ta rằng cũng giống y như người phàm trần rên rỉ trong những giới hạn sinh tử của mình và khao khát được bất tử, tất cả các tạo vật thực thể đều như vậy. Trái đất cũng khao khát được cứu rỗi. Và mầu nhiệm Chúa Kitô là con đường dẫn tới bất tử, giống như đó là con đường dẫn tới cùng đích của chúng ta.
Mầu nhiệm Chúa Kitô rộng hơn, sâu hơn, và bao gồm nhiều hơn những gì có thể được nhìn thấy đơn thuần trong cuộc sống hữu hình của Chúa Giêsu và trong lịch sử hữu hình của các giáo hội Ki-tô. Cứ công nhận là, những gì chúng ta thấy một cách rõ ràng trong cuộc đời Chúa Giê-su và lịch sử các giáo hội là điều rất đáng quý và vinh dự. Các giáo hội Ki-tô (như Maria, mẹ Chúa Giêsu) là nơi mà Chúa bước vào thế giới này một cách rõ ràng, cụ thể, hữu hình, như trong quá trình lịch sử đã cho thấy.
Nhưng như Thánh Kinh và thần học Ki-tô khẳng định, mầu nhiệm Chúa Kitô bao gồm nhiều hơn những gì chúng ta có thể thấy một cách rõ ràng từ trong lịch sử. Nó còn bao gồm những gì mà Thư gởi tín hữu Côlôxê dạy, đó là bản thân tạo vật thực thể đã được tạo ra thông qua Chúa Kitô theo cách nào đó, rằng Chúa Kitô gắn kết chúng lại với nhau, và rằng Chúa Kitô ban cho nó một tương lai vĩnh viễn. Mầu nhiệm Chúa Kitô không chỉ là về việc cứu rỗi chúng ta, những người trên hành tinh này, mà còn về việc cứu lấy chính hành tinh này.
Đưa điều này vào cái hiểu của chúng ta sẽ đem lại những hệ quả lớn lao trong cách chúng ta hiểu hành tinh của mình lẫn cách hiểu các tôn giáo khác. Nếu mọi sự vật đều được sáng tạo thông qua Chúa Kitô và vì Chúa Kitô thì hành tinh trái đất chúng ta, và tất cả các tạo vật thực thể đều có giá trị trong tự thân mà không phải chỉ có giá trị trong mối liên hệ với chúng ta. Trái đất cũng là con của Chúa, không tự có ý thức như chúng ta, nhưng có những quyền chính đáng của nó và quyền được tôn trọng. Nói một cách đơn giản, trái đất không chỉ là một sân khấu để chúng ta diễn trên đó. Nó còn là một phần của mầu nhiệm Chúa Kitô và mầu nhiệm cứu rỗi. Chúng ta phải tôn trọng nó vì chính nó, mà không phải vì sức khỏe của chúng ta tùy thuộc vào sức khỏe của nó. Những gốc rễ sâu xa cho bất kỳ thuyết thần học-sinh thái nào nằm sâu hơn mối quan ngại thực tiễn về làm sao tiếp tục có đủ nguồn cung cấp không khí, nước và thức ăn tốt cho sức khỏe. Thiên nhiên cũng nằm bên trong mầu nhiệm của Chúa Kitô.
Từ đó rút ra những ý nghĩa lớn lao trong cách chúng ta nhìn nhận những tôn giáo khác. Là Ki-tô hữu, chúng ta cần nghiêm túc tiếp nhận lời dạy của Chúa Giêsu rằng Chúa Kitô chính là con đường (duy nhất) đưa tới cứu rỗi và không ai đi đến Chúa Cha mà không qua Chúa Kitô. Như vậy, những người không phải Ki-tô hữu và những con người có tấm lòng chân thực khác thì như thế nào, xét thực tế là vào bất kỳ thời điểm nào, 2/3 thế giới cũng đều không liên quan gì đến Chúa Giêsu hay giáo hội Ki-tô giáo lịch sử?
Trừ khi chúng ta hiểu được mầu nhiệm Chúa Kitô sâu sắc hơn và rộng hơn mức chúng ta có thể nhìn thấy rõ ràng và dựa vào lịch sử từ trước đến nay, thì tình thế khó khăn này chắc chắn sẽ dẫn chúng ta tới chỗ hoặc từ bỏ lời dạy của Chúa Giê-su về chuyện quy chuẩn hoặc đi đến thái độ loại trừ vốn đi ngược lại ý chí cứu rỗi phổ quát của Chúa. Nếu khi nói mầu nhiệm Chúa Kitô, chúng ta chỉ nói duy nhất đến Chúa Giêsu hữu hình và giáo hội hữu hình, thì chúng ta bị vướng trong thế lưỡng nan không lời giải đáp. Tuy nhiên, nếu khi nói mầu nhiệm Chúa Kitô là ý nói về mầu nhiệm việc Chúa tái sinh bên trong tạo vật thực thể, đã bắt đầu trong sự sáng tạo nguyên sơ, tiếp tục là linh hồn liên kết tạo vật thực thể này thành một chỉnh thể, và hiện diện ở đó vừa như là nguồn năng lượng thu hút tạo vật về phía Đấng sáng tạo ra nó vừa là sự hoàn thành tạo vật đó, thì tất cả mọi thứ đều liên quan đến Chúa Kitô, dù chúng có nhận ra điều đó hay không, và tất cả sự thờ phụng chân thực đều dẫn đến Chúa Cha, cho dù chúng ta có nhìn thấy điều đó hay không. Nói như Kenneth Cragg: Cần trọn thế giới để hiểu trọn Giê-su.
Rev. Ron Rolheiser, OMI
From: Ngọc Nga & KimBang Nguyen
THẾ GIỚI CẦN THIÊN CHÚA – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
Thế giới của chúng ta hiện nay, Đông cũng như Tây, đang mắc một căn bệnh trầm kha: đó là bệnh lãng quên Thiên Chúa. Không những chỉ lãng quên, mà con người còn chủ ý gạt bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời. Thỉnh thoáng chúng ta nghe những anh chị em Phật giáo nói đến “thời mạt pháp,” tức là thời mà quan điểm về luân lý của con người trở nên hỗn loạn. Họ không còn giảng dạy hoặc không tuân theo giáo pháp chân chính nữa. Khi gạt bỏ Thiên Chúa, hoặc gạt bỏ vai trò của tôn giáo nói chung, thế giới trở thành một mớ hỗn độn, luân thường đạo lý suy đồi. Con người sống vô cảm, thậm chí là hoang dã đối với đồng loại. Những vụ đại án vô cùng nghiêm trọng đã và đang xảy ra ở đất nước chúng ta cho thấy: một xã hội để được văn minh phát triển, chỉ có “pháp trị” thôi thì không đủ, mà còn cần đến “đức trị” nữa! Người ta có thể tìm thấy “đức trị” ở đâu? Thưa, không ở nơi các vĩ nhân, các triết gia và các lãnh đạo, mà là nơi thế giới tâm linh. Trong một xã hội chỉ quản lý và điều hành bằng luật pháp, con người dễ dàng gian dối, lừa đảo. Cần có Thượng Đế hay Thần Linh để kiểm soát hành vi tư tưởng của con người.
Trong bối cảnh thế giới như được diễn tả ở trên, chúng ta cùng bước vào Mùa Vọng. Mùa Vọng nhắc chúng ta về nhu cầu cần đến Thiên Chúa. Ngài là nền tảng của hòa bình đích thực, và là nguyên lý xây dựng tình liên đới giữa các dân tộc. Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI đã viết trong Thông điệp Về niềm hy vọng Ki-tô giáo (Spe Salvi – năm 2008) như sau: “Thiên Chúa là nền tảng của hy vọng: không phải bất cứ thần minh nào khác, nhưng chính là Thiên Chúa Đấng có một dung mạo loài người và đã yêu thương chúng ta đến cùng, mỗi người chúng ta và nhân loại trong tổng thể của nó. Nước Ngài không phải là một hình ảnh tưởng tượng đời sau, tọa lạc đâu đó trong tương lai mà chẳng bao giờ đến; nhưng Nước Ngài hiện diện bất cứ nơi nào Ngài được yêu thương và bất cứ khi nào tình yêu của Ngài đến được với chúng ta” (Số 31).
Thiên Chúa yêu thương nhân loại và Ngài luôn hiện diện giữa trần thế. Đức Giê-su là Ngôi Lời nhập thể làm người để ở với chúng ta. Người là bằng chứng sống động cho tình thương vô bờ của Thiên Chúa. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Đức Giê-su là niềm hy vọng của thế giới. Nơi bản thân và cuộc đời của Chúa Giê-su, Thiên Chúa đã đến viếng thăm con người và ở lại với họ, đem cho họ niềm vui và lòng thương xót của Ngài.
Sống tinh thần Mùa Vọng cách cụ thể, trước hết là cảm nhận nhu cầu cần thiết có Thiên Chúa. Con người cần Thiên Chúa như cây cần ánh mặt trời; như cá cần nước và như thân xác cần lương thực hằng ngày. Không có Thiên Chúa, thế gian sẽ thành bãi chiến trường, như chúng ta đã kinh nghiệm trong thực tế xã hội hiện nay. Ngôn sứ I-sai-a trong Bài đọc I đã nói lên niềm khát vọng của con người mong có Chúa: “Phải chi Ngài xé trời mà ngự xuống… Tất cả chúng con đã trở nên như người nhiễm uế, mọi việc lành của chúng con khác nào chiếc áo dơ…” Đó là tiếng rên xiết của cả nhân loại, mong ngóng Chúa đến để được giải thoát khỏi tình trạng đọa đầy đau khổ.
Sống tinh thần Mùa Vọng là vững tin vào Đức Giê-su, Đấng đã đến trong lịch sử và đang sống giữa chúng ta. Đức Giê-su là nguồn cậy trông và là mẫu mực lý tưởng của chúng ta. Con đường tiến tới hoàn thiện của chúng ta sẽ trở thành vô vọng, nếu không có Người trợ giúp. Thánh Phao-lô khuyên giáo dân Cô-rin-tô: “Anh em hãy nên vững chắc đến cùng, nhờ thế không ai có thể trách cứ được anh em trong ngày của Chúa chúng ta là Đức Giê-su.” Như thế, cuộc sống của chúng ta là những nỗ lực không ngừng để sống trung thành với Chúa Giê-su và được nên giống như người cách trọn vẹn.
Sau cùng, sống tinh thần Mùa Vọng là chu toàn bổn phận của mình trong cuộc sống cụ thể, đối với Chúa và đối với tha nhân. Mỗi người sinh ra ở đời đều có một sứ mạng. Chính Thiên Chúa là Đấng trao cho chúng ta sứ mạng ấy và Ngài kiểm soát chúng ta. Mỗi người đều phải chu toàn bổn phận mà Chúa trao. Hình ảnh một ông chủ trước khi đi xa trao cho các đầy tớ chăm sóc cơ nghiệp, diễn tả việc Thiên Chúa trao cho chúng ta sứ mạng phải hoàn thành. Chúng ta không biết lúc nào Ông Chủ về. Không biết lúc nào Chúa đến gọi chúng ta. Ở địa vị người đầy tớ hay người quản lý, chúng ta phải luôn tỉnh thức và trung thành. Đó là tinh thần sẵn sàng để có thể đón Chúa. Mỗi chúng ta đóng vai trò “người giữ cửa” để chờ đợi và đón chủ đi xa sẽ về lúc bất chợt. Người giữ cửa, không chỉ để đợi chủ, mà còn phải canh chừng để không cho những thù địch tấn công cướp phá gia nghiệp của chủ mình.
Maranatha, Amen, lạy Chúa Giê-su, xin ngự đến! Đó là lời cầu nguyện kết thúc toàn bộ Kinh Thánh (Kh 22,20). Đó cũng là niềm khát vọng của toàn thể vũ trụ. Đó là tâm tình đặc biệt của Ki-tô hữu, không chỉ trong Mùa Vọng, mà trong suốt cuộc đời, vì thế giới của chúng ta cần Thiên Chúa. Duy chỉ có Ngài là Đấng lấp đầy những khát vọng thâm sâu của chúng ta.
TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
From: Langthangchieutim
CÔ GÁI NGHÈO THƯƠNG CÁC LINH HỒN
Một thiếu nữ nghèo nhưng được học giáo lý từ ngày còn nhỏ. Bởi nhà nghèo nên cô phải đi ở mướn. Cô có thói quen tốt lành là tháng nào cũng xin lễ cho các linh hồn nơi luyện ngục.
Khi rời miền quê theo ông chủ lên ở tỉnh thành, cô cũng vẫn giữ thói quen đó. Hơn nữa chính cô còn đi dự lễ hợp lời cầu nguyện với linh mục chủ tế để cầu cho các linh hồn mau chóng được ra khỏi luyện ngục.
Chúa muốn thử lòng cô gái nghèo bằng một cơn bệnh. Không những cô đau đớn bởi bệnh, mà cô còn bị mất luôn việc làm và tiêu xài hết cả món tiền nhỏ đã dành dụm được.
Khi khỏi bệnh, trong túi cô chỉ còn một đồng bạc cuối cùng. Làm sao bây giờ? Cô ngửa mặt cầu xin Chúa ban cho một chỗ làm khác. Nghe nói có một nhà cuối phố muốn tìm người ở mướn, cô liền tìm đến xin việc làm. Khi đi được nửa đường, gặp nhà thờ, cô vào để kính viếng Chúa.
Cô nhớ lại cả tháng nay không được dự lễ, nên nảy ra ý định lấy đồng bạc cuối cùng để xin lễ cầu nguyện cho các linh hồn, nhưng bụng đói quá làm sao chịu được. Cuối cùng cô vào phòng mặc áo lễ với niềm tin “Chúa biết mọi sự, bởi vinh Danh Chúa, Chúa không bỏ con”. Cô đã xin một lễ cầu cho linh hồn nơi luyện ngục, rồi cô sốt sắng tham dự Thánh lễ đó.
Dự lễ xong cô tiếp tục đi về cuối phố, phó thác tương lai cho Chúa. Đang khi cô lủi thủi bước đi thì một thanh niên dáng vẻ xanh xao đi ngược chiều. Gặp cô, chàng hỏi:
– Có phải cô đang đi tìm việc làm không? Cô cứ đến nhà đường này, số này, vào tìm bà này… bà ta sẽ nhận cô và sẽ cư xử tử tế với cô.
Nói xong chàng biến đâu mất, cô chưa kịp cám ơn chàng. Tìm đến đúng đường và đúng số nhà, cô ấn chuông cổng. Một cô gái khác đã bị bà chủ đuổi, sắp phải ra đi, vẻ tức giận càu nhàu ra mở cổng nói xẵng:
– Vào mà gõ cửa, bà ta sẽ mở cho! Rồi cô ta xách gói đồ của mình đi thẳng ra phố.
Bà chủ nhà nghe tiếng gõ cửa, ra mở và thấy cô thiếu nữ nghèo, bà hỏi ai chỉ cho mà biết đường tới đây xin việc. Cô thật thà kể lại tình cảnh. Thấy chuyện hay hay, bà bảo cô kể lại từ đầu, kể xong cô nhìn bức ảnh trên tường reo lên:
– A! Thưa bà, chính anh này bảo con tìm đến nhà bà.
Bà chủ nhà rất xúc động thấy cô nhà nghèo có lòng thương các linh hồn , đã bỏ ra đồng bạc cuối cùng để xin lễ, và như có sức thúc giục, bà ôm chầm lấy cô, nói trong nghẹn ngào:
– Con ơi, con không phải là người làm mướn của ta nữa, con là con ta. Chính con trai ta đã chỉ cho con tới đây, nó chết 2 năm nay rồi, và con đã cứu nó. Ta tin rằng nó về chỉ lối cho con. Từ nay hai chúng ta sẽ hợp nhau cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục chóng lên Thiên đàng.
_____________
(Sưu tầm)
Tháng 11, Cầu Nguyện cho Các Linh Hồn
Bạn và tôi, chúng ta có làm việc lành phúc đức, hy sinh cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục đang đợi chờ chúng ta không?
From: Ngọc Nga & KimBang Nguyen
Ai được lãnh Bí tích Truyền Chức Thánh?-Cha Vương
NHỮNG LỜI CHIÊM NIỆM THEN CHỐT – Rev. Ron Rolheiser, OMI
Rev. Ron Rolheiser, OMI
Gần đây tôi có dự một buổi ở Hội Suy niệm trong Ý thức, với James Finley là diễn giả chính. Ông là chuyên gia trong lãnh vực này. Ông đã có gần bốn mươi năm kinh nghiệm chuyên gia trị liệu, là diễn giả được nhiều nơi mời, đã viết nhiều và sâu sắc về chủ đề chiêm niệm, và khi còn trẻ có theo học mấy năm với Thomas Merton. Ông biết mình nói gì.
Tôi muốn chia sẻ ở đây vài tư tưởng sáng suốt của ông bằng cách sắp đặt những câu then chốt, mỗi câu, khi đứng riêng tự nó đã có một giá trị, nhưng khi phối với nhau, cũng thể hiện một vài ánh sáng trên bản chất Thiên Chúa, bản chất chiêm niệm và các đấu tranh của chúng ta trong đức tin cũng như chiêm niệm.
Đây là một vài quan điểm của Finley:
Các nhà thần nghiệm là chứng nhân cho bản chất thiêng liêng hoàn hảo của hiện hữu con người, cho sự việc, rằng chúng ta được yêu thương vô bờ và được tồn tại nhờ tình yêu, có những lúc chúng ta thoáng thấy và cảm nghiệm điều này trong đời mình. Nhà thần nghiệm là người đã được biến đổi nhờ trải nghiệm đó.
Chúng ta lo lắng là do không cảm nhận được tình yêu của Chúa ở trong lòng mình.
Tại sao chúng ta mất quá nhiều giờ để tách mình ra khỏi gia tài phong phú của cuộc sống mình, như thử mình là người ngoài cuộc, đứng bên ngoài căn nhà nhìn vào qua cửa sổ? Hoặc tệ hơn, tại sao chúng ta ở trong nhà nhưng lại rơi vào trạng thái tâm thần, nghĩ mình đang sống ở ngoài? Chúng ta phải làm gì để tỉnh khỏi cơn mê này trước khi từ giã cuộc đời?
Đời sống chúng ta thường xuyên chịu áp lực, do đó nhiệm vụ mãi mãi sẽ là: Giữa cuộc sống đầy áp lực của mình, làm sao chúng ta tặng cho mình một tình yêu, để tình yêu đó ôm trọn chúng ta? Chúng ta không thể tạo ra giây phút ân sủng, nhưng có thể làm để đặt mình vào vị thế mà ở đó, chúng ta ít kháng cự nhất, để từ đó giây phút ân sủng đó có thể chiếm trọn chúng ta.
Suy niệm trong ý thức không khó tìm, nhưng đừng chạy trốn nó mới là chuyện khó.
Suy niệm trong ý thức là thấy sự việc theo bản chất của nó. Là nghỉ ngơi trong Chúa. Đi sâu vào suy niệm trong ý thức là ngồi như “đứa trẻ chưa biết gì,” trong một khoảng thời gian “vô niệm.”
Khi ngồi yên chúng ta học được an bình. Chiêm niệm tùy thuộc vào lòng trung tín. Nếu bạn trung thành với việc bạn làm, thì việc bạn làm sẽ trung thành với bạn.
Có một vài nguyên tắc đơn giản cho việc thực hành chiêm niệm. Ngồi yên. Ngồi thẳng. Nhắm hay khép hờ mắt. Thở chậm sâu tự nhiên. Để tay thoải mái. Rồi sẵn sàng, mở rộng lòng, và tỉnh thức: Đừng bám cũng như đừng loại bất kỳ điều gì đến trong suy nghĩ của bạn. Khi một suy nghĩ xuất hiện, cứ để nó xuất hiện, nếu nó kéo dài, cứ để nó kéo dài, nếu nó qua đi, cứ để nó qua đi, nhưng đừng để ý nghĩ đó kéo bạn theo. Cử động chầm chậm và nhẹ nhàng trong khi cầu nguyện – đừng thô bạo với sự yên bình của cơ thể.
Một bài tập nên theo: Vào phòng ngay trước khi mặt trời lặn, lý do duy nhất là để được ở đó với Chúa khi hoàng hôn xuống. Đừng vướng bận bất kỳ việc gì trong đầu trừ việc nhìn ráng chiều. Ngồi đúng một giờ trọn. Ngồi trong sức mạnh tối thượng của buổi cuối ngày. Ngồi trong sự tuân phục triệt để ánh sáng chập choạng. Bạn sẽ biết được cô tịch.
Những người thường xuyên cầu nguyện thì không cầu nguyện giỏi… nhưng họ trở nên người nhờ cậy Thiên Chúa để làm cho lời cầu nguyện của họ được nên tốt. Và những người thường xuyên cầu nguyện, sẽ như tất cả những người khác, tiếp tục trải nghiệm nỗi buồn và cái chết, nhưng nỗi buồn và cái chết không còn là bạo chúa hành hạ họ.
Có một sự khác biệt giữa “dịu ngọt” tâm hồn và “an ủi” tâm hồn. “Dịu ngọt” là cảm giác tốt đẹp khi cầu nguyện, “an ủi” là cảm nhận tâm hồn bạn được mở rộng (và vì thế có thể đau khổ).
Tôi trích lại đây lời của Gabriel Marcel: Chúng ta biết mình yêu ai đó khi thoáng thấy nơi người đó một điều gì quá đẹp đến có thể chết được.
Còn thánh Têrêxa Avila nói:
Khi bạn chạm đến mức cao nhất của trưởng thành nhân bản, bạn sẽ chỉ có một câu hỏi: Tôi sẽ có ích đến đâu.
Tình yêu nghĩa là hai người ngồi trong phòng và nói chuyện với nhau. Dù cả hai đều chẳng biết nói gì, nhưng đều nhận biết nhau.
Tại sao Phật tử nói về “vô niệm” khi nói đến quan niệm về Thượng đế? Họ nói như vậy để nhắc đến sự tối đơn giản của Thượng đế, nghĩa là một Thượng đế có trước tất cả mọi dấu hiệu nhận biết về Ngài. “Vô niệm” là đứng trước sự khôn tả thấu của Thiên Chúa, hoàn toàn bị chiếm trọn bởi một sự quá trọn vẹn.
Làm sao chúng ta có thể giúp đỡ cho những ai đang đau khổ, nếu chúng ta cảm thấy mình bất lực không làm được chuyện đó? Khi người ta chia sẻ sự yếu đuối mong manh và nỗi đau của mình với người biết lắng nghe thật sự, thì chính người lắng nghe đang hé mở “viên ngọc quý” trong chính tâm hồn họ.
Và vẫn còn nữa:
Lòng quảng đại của Đấng Vô Hạn là vô hạn. Giữa những chuyện khác, lời này có nghĩa chúng ta phải trao ban chính mình cho một sự chính truyền quảng đại.
Không để cho Thiên Chúa biết mình là giữ quá nhiều chuyện cho riêng mình!
Với Thiên Chúa, chỉ một chút chân thành là đi được cả một con đường dài!
Rev. Ron Rolheiser, OMI
From: Ngọc Nga & KimBang Nguyen
Vì sao ta ghét nhau? – Lm GB Phương Đình Toại
RẤT ỦI AN – Lm. Minh Anh, Tgp.Hue
Lm. Minh Anh, Tgp. Hue
“Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết!”.
Kính thưa Anh Chị em,
Những ngày cuối năm phụng vụ, Lời Chúa nói đến sự tàn phá và mất mát! Bài đọc Đaniel nói đến sự chia cắt giữa các quốc gia; Tin Mừng nói đến sự sụp đổ của Giêrusalem và các hiện tượng dữ. Nhưng qua đó, ‘rất ủi an’, Chúa Giêsu dạy chúng ta, “Đừng sợ!”.
Giấc mơ của Nabucôđônôsor được Đaniel giải thích, tiên báo sự chia cắt lãnh thổ các nước; và sau đó, “Đức Chúa Trời sẽ lập một vương quốc không bao giờ bị tiêu diệt, vương quốc ấy không bị giao cho một dân khác… đến muôn đời nó sẽ đứng vững”. Đaniel đang nói tiên tri về một Vương Quốc mới mà Đức Kitô, Con Thiên Chúa sẽ thiết lập. Để từ đó, thần dân Ngài có thể “Muôn ngàn đời ca tụng suy tôn” như tâm tình Thánh Vịnh đáp ca.
Với bài Tin Mừng, Chúa Giêsu nói về số phận mai ngày của Giêrusalem, một trong bảy kỳ quan thế giới vào thời Ngài, “Sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào!”. Theo nghĩa đen, điều này đã xảy ra năm 70. Ngài còn nói đến các hỗn loạn: tiên tri giả, chiến tranh, động đất, nạn đói và ôn dịch, với “Những hiện tượng kinh khủng và điềm lạ lớn lao từ trời”. Tại sao Chúa Giêsu nói tiên tri về những điều này?
“Cuộc sống không phải là một bát anh đào!”. Trước bao biến động, Kitô hữu dễ bị cám dỗ để sợ hãi, tức giận hay tuyệt vọng. Chúa Giêsu không cố ý làm chúng ta sợ hãi, cũng không muốn ai trở nên lầm lạc khi những sự việc đó xảy ra. Ngài nói, “Coi chừng kẻo bị lừa gạt!”, và “Đừng sợ!”. Thế giới hôm nay tỏ ra hỗn loạn, lừa dối, lạm dụng, tai tiếng, xung đột và những thứ tương tự hơn bao giờ hết; cũng thế, những mâu thuẫn gia đình, bất ổn dân sự hoặc thậm chí, chia rẽ trong Hội Thánh trở nên gay gắt. ‘Rất ủi an!’, Chúa Giêsu muốn chúng ta cố giữ lấy bình an và tuyệt đối tin cậy vào Ngài giữa bao hỗn mang.
Một người cha và đứa con gái đang đi dạo giữa một thảo nguyên bát ngát. Bỗng từ xa, một đám cháy bùng lên, trời nổi gió. Người cha nhận ra rằng, lửa sẽ sớm nuốt chửng hai cha con. Ông lập tức chạy quanh, gom cỏ khô và phóng hoả đốt cháy một góc thảo nguyên. Lửa đến, hai cha con đã ở trong phần đất đã cháy. Cô gái kết sức hoảng sợ, nhưng người cha trấn an, “Đừng sợ, lửa không thể đến được. Chúng ta đang ở trong vùng an toàn!”.
Anh Chị em,
“Chúng ta đang ở trong vùng an toàn!”. Trước bao bi thảm và tàn phá, thái độ của Kitô hữu là biết mình “đang ở trong vùng an toàn!”. Lý do, Thiên Chúa ở cùng chúng ta; và điều này giúp chúng ta không bị choáng ngợp bởi các biến cố. Theo Đức Phanxicô, “Đó là thời điểm để làm chứng, chúng ta không thể tiếp tục làm nô lệ cho sợ hãi và lo lắng; thay vào đó, được kêu gọi gắn kết với lịch sử, ngăn chặn sức mạnh huỷ diệt của sự dữ, với niềm tin rằng, hành động tốt lành của Thiên Chúa luôn đi kèm với sự dịu dàng quan phòng ‘rất ủi an’ của Ngài. Đây là dấu hiệu hùng hồn cho thấy Vương Quốc của Thiên Chúa đang đến gần, tức là hiện thực hoá thế giới như Ngài mong muốn. Chính Ngài, Đấng nắm giữ mọi sự tồn tại, cũng là Đấng biết rõ mục đích cuối cùng của mọi sự và các biến động!”.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, đừng để con choáng ngợp trước các biến cố. Và ngay cả ngày tận thế của con có ập xuống, cái chết, con vẫn biết mình đang ở trong vùng an toàn!”, Amen.
Lm. Minh Anh, Tgp. Hue
From: KimBang Nguyen




