VIỆT NAM CẦN CÓ CHIẾN LƯỢC MỚI SAU KHỦNG HOẢNG ĐẠI DỊCH VIRUS VŨ HÁN

Nguyen Ngoc Chu
VIỆT NAM CẦN CÓ CHIẾN LƯỢC MỚI SAU KHỦNG HOẢNG ĐẠI DỊCH VIRUS VŨ HÁN

I. DỊCH VIRUS VŨ HÁN KÉO THEO SỰ THAY ĐỔI CHIẾN LƯỢC TRÊN TOÀN CẦU

1. Dịch virus corona đến từ Vũ Hán (gọi tắt là virus Vũ Hán) đã mang đến cho toàn thể loài người những thiệt hại kinh hoàng. Nặng nhất là Hoa Kỳ và châu Âu. Các cường quốc lớn, ngoài quê hương virus Vũ Hán, như Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Ý, Đức, Nhật đều bị tổn thất nặng nề.

2. Dịch virus Vũ Hán cảnh báo cho cả thế giới biết thế nào là nguy hiểm của chiến tranh sinh học. Nguy hiểm cho mọi cường quốc, kể cả siêu cường.

3. Bởi thế, Hoa Kỳ và các cường quốc khác, cùng nhiều nước trên thế giới sẽ thay đổi chiến lược sau đại dịch virus Vũ Hán.

II. NHỮNG THAY ĐỔI CHIẾN LƯỢC CĂN BẢN CỦA CÁC CƯỜNG QUỐC

1. Thay đổi nhận thức về mối nguy hại của chiến tranh sinh học

Như đã đề cập ở phần trên, dịch virus Vũ Hán đã thức tỉnh toàn thế giới, nhất là các cường quốc, về phạm vi thảm họa của chiến tranh sinh học. Trong đó, siêu cường có thể bị gục ngã dễ dàng trước một đối thủ nhỏ bé. Từ đó dẫn đến thay đổi tương quan, thay đổi chiến lược ở mọi quốc gia.

2. Thay đổi toàn diện quan hệ của các cường quốc đối với Trung Quốc

Hoa Kỳ và các cường quốc ở châu Âu như Anh, Pháp, Đức, và các khu vực khác như Nhật, Canada, Úc sẽ có những thay đổi căn bản trong quan hệ với Trung Quốc. Điều này diễn ra trước hết do bởi cách hành xử của Trung Quốc từ vị thế của Trung Quốc.

Quá trình xảy ra thảm họa dịch virus Vũ Hán đồng thời đã phơi bày hành vi và mưu toan của nhà cầm quyền Trung Quốc trong chiến lược chiếm đoạt quyền thống trị thế giới. Dịch virus Vũ Hán đã cho Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Đức, Nhật thấy chính quyền Trung Quốc hiện nay nguy hiểm như thế nào – ngoài cả những dự đoán táo bạo nhất của các nước này.

Lợi ích kinh tế mà Hoa Kỳ và châu Âu đặt vào thị trường mênh mông nhất thế giới gồm 1,4 tỷ dân Trung Quốc đã không mang lại những lợi ích mong đợi. Ngược lại, mang đến cho các cường quốc Tây Âu những quả đắng chí mạng.

Họ bị đánh cắp công nghệ hạt nhân, tàu vũ trụ. Họ bị mất tất cả các bản quyền hàng hóa, từ sản phẩm gia dụng cho đến ô tô và tàu bay. Trong hoàn cảnh đại dịch thì họ còn bị phụ thuộc vào Trung Quốc cả đến những chiếc khẩu trang.

Trong khi tàu sân bay Thedore Roosevelt của Hoa Kỳ và hàng không mẫu hạm duy nhất của Pháp là Charles de Gaulle bị tê liệt vì virus Vũ Hán thì các chiến thuyền của Trung Quốc lại nghênh ngang đe dọa các nước láng giềng ở biển Đông Nam Á. Sự lớn mạnh của Trung Quốc nguy hiểm như thế nào khi nó đặt dưới quyền của những kẻ đầy tham vọng ở Bắc Kinh. Sự lớn mạnh của Trung Quốc nguy hiểm đến mức độ nào khi các vũ khí hủy diệt hàng loạt rơi vào tay những kẻ điên loạn tham tàn. Sự tham tàn của các bạo chúa Trung Hoa không có sự so sánh trên toàn thế giới trong suốt lịch sử nhân loại.

Trung Quốc không biết sợ ai. Trung Quốc khiêu chiến cả với Đức và Úc ngay chính trên đất của các quốc gia này. Trung Quốc có gan làm bẽ mặt tất cả. Máy bay Canada sang Trung Quốc nhận hàng phải cất cánh về không, mà không thể được đậu thêm vài giờ đồng hồ để chờ lấy hàng.

Trung Quốc biết đâm những nhát dao trước bụng và sau lưng đối thủ. Trung Quốc biết đi đêm với từng cá nhân, từng bản hãng. Vì sao Bill Gates và hãng xe Volkswagen chấp nhận quảng cáo cho đường lưỡi bò? Vì sao Huawei lại cung cấp được mạng 5G cho châu Âu? Trung Quốc đang chia rẽ giữa các cường quốc. Trung Quốc đang chia rẽ trong mỗi cường quốc.

Trung Quốc biết “đầu thai” từ trong bụng đối thủ. Cài cắm gián điệp không chỉ trong thiết bị mà bằng hàng triệu người Hoa di cư. Từ hàng chục vạn du học sinh cho đến hàng vạn phụ nữ sinh đẻ trên đất bản quốc để trở thành công dân nước sở tại. Trung Quốc đang “đầu thai” vào Hoa Kỳ và các các quốc gia khác để có “Tiểu Trung Quốc” trong mỗi quốc gia trên thế giới.

Trung Quốc quyền lực đến mức đã có thể tác động lên cả tranh cử tổng thống Hoa Kỳ. Không phải bằng con đường tin tặc. Mà bằng chính “Tiểu Trung Quốc” trong Hoa Kỳ. Mà bằng chính người Hoa Kỳ làm việc cho Trung Quốc.

Giờ đây thì Hoa Kỳ và châu Âu đã thức tỉnh. Xác định lại đối tượng Trung Quốc, Hoa Kỳ và các cường quốc Tây Âu sẽ thay đổi toàn diện quan hệ với Trung Quốc. Về quốc phòng, về kinh tế, về ngoại giao, về luật pháp quốc tế, về bố trí lực lượng – tất cả sẽ chuyển sang một khung trời mới.

3. Mặt trận toàn cầu chống Trung Quốc

Kết quả của sự thay đổi toàn diện của Hoa Kỳ và các cường quốc Tây Âu trong quan hệ với Trung Quốc còn là sự ra đời một “Liên minh không chữ ký” chống lại Trung Quốc trên toàn cầu. Ngoại trừ lục địa Phi châu, các cường quốc ở các châu lục Á Úc sẽ sẽ là thành viên rường cột của “Liên minh không chữ ký” này. Trung Quốc sẽ phải đối phó với nhiều cơn sóng thần từ khắp thế giới sau đại dịch virus Vũ Hán.

4. Sự thay đổi của chính Trung Quốc

Sau đại dịch Vũ Hán, Trung Quốc sẽ có những thay đổi căn bản về chiến lược nội bộ và chiến lược đối ngoại. Những thay đổi này bắt nguồn từ lộ chân tướng Trung Quốc trong con mắt thế giới, từ sự thay đổi trong nội bộ Trung Quốc, từ sự thay đổi của quốc tế đối với Trung Quốc, và từ sự điều chỉnh mục tiêu của Trung Quốc.

Tập Cận Bình đã xác nhận hết thời “dấu mình” của Đặng Tiểu Bình mà vươn lên xưng bá thế giới. Tập dự kiến Trung Quốc thay thế Hoa Kỳ ở vị trí lãnh đạo thế giới vào năm 2049. Nhưng Tập không đợi được đến năm 2049. Quỹ thời gian của Tập đã làm Tập nóng lòng khởi sự sớm hơn dự kiến. Đó là nước cờ đối nội để kéo dài vĩnh viễn sự thống trị của Tập ở Trung Quốc trước khi Trung Quốc bước vào ngôi vị số 1 thế giới. Tập muốn “vĩ đại” hơn cả Mao.

Tập sẽ vùng lên kháng cự dữ dội. Đó là sự kháng cự dãy chết. Cuối cùng, kết quả của nhiều cơn giãy chết là sự sụp đổ của chính quyền cộng sản tại Trung Quốc.

III. VÀ ĐỐI SÁCH CỦA VIỆT NAM

1. Đây là cơ hội quý hiếm để Việt Nam bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, không bị mất thêm đảo cùng lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế ở Biển Đông Nam Á.

Chưa bao giờ trên thế giới các cường quốc lại cùng hợp lực đối phó với Trung Quốc như bây giờ. Trung Quốc sẽ phải căng mình trên nhiều mặt trận. Vì thế Trung Quốc sẽ yếu đi ở mỗi mặt trận.

Nhưng sự dãy chết của Trung Quốc sẽ làm cho Trung Quốc hung hăng hơn ở Biển Đông Nam Á. Vì đây là nơi Trung Quốc xem là lợi ích cốt lõi. Trung Quốc sẽ hành động mạnh hơn khi Hoa Kỳ và châu Âu đang chưa thoát ra khỏi đại dịch. Những hành động vừa qua của Trung Quốc ở Biển Đông Nam Á khẳng định các toan tính mới của Trung Quốc.

Việt Nam, vì thế, phải mạnh mẽ hơn ở Biển Đông Nam Á. Trung Quốc yếu hơn nhiều so với những gì họ phô trương.

2. Đây cũng là thời cơ quý hiếm để Việt Nam dứt bỏ sự phụ thuộc vào Trung Quốc, để trở thành một quốc gia thực sự độc lập tự chủ, trọn vẹn cả chính trị lẫn kinh tế.

Thoát khỏi sự phụ thuộc vào Trung Quốc về kinh tế, sẽ đưa nền kinh tế Việt Nam lên một đẳng cấp mới. Thoát khỏi sự phụ thuộc chính trị vào Trung Quốc, sẽ đẩy Việt Nam vào một giai tầng chính trị quý tộc hơn.

Sự kết thúc của chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là thời khắc mở ra kỷ nguyên hạnh phúc cho cả nhân dân Trung Quốc lẫn nhân dân Việt Nam.

3. Việt Nam không thể đứng ngoài dòng chảy lớn của nhân loại. Việt Nam phải hòa nhập vào dòng chảy lớn của nhân loại để thịnh vượng hơn, hùng cường hơn, và giữ vị thế xứng đáng hơn.

4. Vì thế, Việt Nam phải có một chiến lược hoàn toàn mới phù hợp với hoàn cảnh mới của thế giới.

5. Hiện nay lãnh đạo Việt Nam từ cấp tỉnh thành cho đến cấp trung ương đều đang quá bận rộn cho nhân sự Đại hội 13. Người thì lo vào ‘Trung ương’. Người thì lo ở lại ‘Trung ương’. Người thì lo vào ‘Bộ Chính Trị’. Người thì nghĩ về ‘Tứ trụ’. Ai cũng muốn bước thêm một bậc.

Cho nên, tất cả chưa để tâm nhìn thấy sự thay đổi chấn động của thế giới ở phía trước mà có đối sách.

Nhưng sau Đại hội 13, thì hy vọng dàn lãnh đạo mới sẽ có những đối sách sáng suốt phù hợp với tình hình thế giới mới.

IV. LỜI NHẮN

1. Đây không phải là thời của Marx Engel Lenin Stalin. Đây cũng không còn là thời của Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình. Đây đang là thời của Donald Trump, Tập Cận Bình, Putin. Lấy Marx với Lenin ra để đối chọi với Dolald Trump, Tập Cận Bình và Putin là vi phạm tiên đề. Vì cả Dolald Trump, lẫn Tập Cận Bình, lẫn Putin – không ai đếm xỉa đến Marx và Lenin trên bàn cờ của mình.

2. Việt Nam hãy quên các quân cờ cũ đi. Hãy chơi bàn cờ mới với các quân cờ mới.

Image may contain: 1 person, suit
Image may contain: one or more people and closeup

45 năm chính sách “triệt người”

45 năm chính sách “triệt người”

April 24, 2020

Giáo sư Lê Xuân Khoa, cựu phó Viện trưởng Viện Đại Học Sài Gòn (Ảnh: Uyên Nguyên)

MẠNH KIM

Trong hồi ký Viết trên gác bút, nhà văn Nguyễn Thụy Long (cháu ruột nhà văn Nguyễn Bá Học, người nổi tiếng với câu “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”), kể lại thảm cảnh một vụ tịch thu sách năm 1975 sau khi chính quyền mới tiếp quản Sài Gòn: “Một cửa hiệu chuyên cho thuê truyện tại đường Huỳnh Quang Tiên bên cạnh nhà thờ Ba Chuông tại Phú Nhuận phát nổ khi đoàn thu gom sách mang băng đỏ xâm nhập tiệm. Ông chủ nhà sách mời tất cả vào nhà. Rồi một trái lựu đạn nổ. Chuyện xảy ra không ai ngờ. Đương nhiên là có đổ máu… Cả chủ tiệm cũng mạng vong”…

Câu chuyện ông chủ hiệu sách uất ức thà chết còn hơn nhìn “băng đỏ” gom và ném sách đi đốt chỉ là một trong những bi kịch của miền Nam sau 1975. Không chỉ đốt sách, con người cũng bị triệt, đến tận cùng. Nhà văn, nhà báo, nhà giáo, bác sĩ, kỹ sư… đều bị tống đi học tập cải tạo. Miền Nam không chỉ đột nhiên rơi vào tình trạng thống khổ cùng cực mà còn chứng kiến những cảnh không thể tưởng tượng: phu nhân đại tá đi bán rong, vợ giáo sư buôn vỉa hè, thầy giáo mưu sinh bằng xích lô, ký giả chạy xe lam, con sĩ quan xếp hàng mua từng ký gạo…

Những hình ảnh đã đột ngột làm biến dạng miền Nam sau 1975. Những câu chuyện trải dài theo ký ức và nghe (tưởng chừng) “phi thực tế” đến nỗi những thế hệ sau này khi được kể nghĩ chắc hẳn là chuyện bịa. Đã có cả trăm quyển sách viết về những câu chuyện này, từ đi tù cải tạo đến vượt biên bỏ mạng. Nhắc lại không phải “đào xới” chuyện cũ. Để thấy rằng, “di sản” 1975 đến giờ vẫn tiếp tục còn sau 45 năm. Chính sách triệt tiêu con người sau 1975 vẫn tồn tại. Đó mới là điều cần nói.

Trong số “đối tượng” hứng chịu sự trả thù vô lý và nghiệt ngã có những trí thức đỉnh cao mà trí tuệ họ xứng đáng đại diện cho dân tộc Việt. Có lẽ không gương mặt nào trong Bộ Chính trị hoặc nhân vật nào trong “nội các” hiện tại có thể so với những bậc trí thức VNCH về trình độ lẫn nhân cách. Điều đáng tiếc nhất là một số trí thức này đã phải “trả giá” cho lòng yêu nước, chỉ bởi họ quá yêu nước, khi họ chọn ở lại mà không đi nước ngoài sau 1975, với niềm tin ngây thơ vào chế độ mới và với nhiệt tâm đóng góp tái thiết sau chiến tranh. Quê hương, với họ, là nước nhà; là đất nước và mái nhà.

GS Nguyễn Duy Xuân (trái) và GS Phạm Hoàng Hộ

Sinh năm 1929 tại Cần Thơ, giáo sư Phạm Hoàng Hộ có bằng Cử nhân khoa học, thủ khoa Thực Vật học, Paris; bằng Cao học Vạn Vật học, Paris; bằng Thạc sĩ/Agrégé Vạn vật học; bằng Tiến sĩ Khoa học/Vạn vật học, Paris. Giáo sư Hộ từng là giám đốc Hải học viện Nha Trang; Khoa trưởng Đại học Sư phạm Sài Gòn; Tổng trưởng Quốc gia Giáo dục; Viện trưởng sáng lập Viện Đại học Cần Thơ… Ông cũng là Hội viên Hội Thực vật học Pháp; Hội viện Hội Tảo học Quốc tế; Hội viện Hội Viện trưởng Đại học Quốc tế; Cố vấn Môi sinh Uỷ ban Quốc Tế Sông Mekong… Giáo sư Hộ chính là người vận động cho bằng được việc thành lập ngôi trường đại học đầu tiên ở miền Tây vào giữa thập niên 1960. Đó là Viện Đại học Cần Thơ, nơi canh nông trở thành môn khoa học chính quy được đào tạo như một chuyên ngành đại học.

Sau 9 năm sống dưới chế độ mới, giáo sư Hộ, từ khát vọng, trở nên thất vọng. Môi trường giáo dục bị thay đổi hoàn toàn. Nó bị cào xé rách nát để thay bằng chiếc áo thô đính băng đỏ. Ý nghĩa và triết lý giáo dục khai phóng bị vất xó. Theo lời kể của bác sĩ Ngô Thế Vinh, năm 1977, giáo sư Hộ phải học lớp chính trị 18 tháng về “chủ nghĩa xã hội khoa học”. Không chấp nhận chương trình giáo dục bị “đảng hóa”, giáo sư Hộ phản đối quyết liệt. Cuối cùng, năm 1984, khi được Chính phủ Pháp mời sang thỉnh giảng, giáo sư Hộ quyết định ở lại Paris. Tại Pháp, ông vùi mình vào Viện Bảo Tàng Thiên nhiên Quốc gia Paris (thuộc hệ thống Đại học Sorbonne), miệt mài làm việc suốt sáu năm, bổ túc cho công trình Cây Cỏ Việt Nam của ông – một công trình đồ sộ có giá trị đến mức giới thực vật học thế giới phải nghiêng mình ngưỡng mộ.

Nhắc đến giáo sư Hộ, không thể không nhắc đến giáo sư Nguyễn Duy Xuân. Không như giáo sư Hộ, giáo sư Xuân có số phận cay nghiệt gấp nhiều lần. Từng được giáo sư Hộ mời về Viện Đại học Cần Thơ thay mình ở ghế viện trưởng, giáo sư Xuân tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế tại Đại học Vanderbilt-Hoa Kỳ. Giáo sư Xuân cũng là vị Tổng trưởng Bộ Văn hóa Giáo dục cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa. Một bài báo trên Thanh Niên (28-4-2015) nhắc lại: “Theo giáo sư Võ Tòng Xuân, trước ngày 30-4-1975, những người nào có chức sắc ở Viện Đại học Cần Thơ đều được cấp một tấm giấy coi như giấy thông hành để ra nước ngoài khi có biến cố. Với chức vụ tương đương bộ trưởng, giáo sư Nguyễn Duy Xuân có thể ra nước ngoài bất cứ lúc nào nếu muốn nhưng ông vẫn ở lại Việt Nam”.

Không chỉ không được trọng vọng, giáo sư Xuân còn bị tống đi tù, bị giam tại trại Hà-Nam-Ninh. Cuối cùng, năm 1986, giáo sư Xuân bỏ mạng chốn thâm sơn cùng cốc. Nhắc lại điều này, bác sĩ Ngô Thế Vinh không giấu được chua xót: “Tôi không thể không tự hỏi nếu không có 11 năm giam hãm đầy đọa độc ác và vô ích của những người cộng sản thắng cuộc, nếu giáo sư Nguyễn Duy Xuân, một tiến sĩ kinh tế tài ba và giàu lòng yêu nước, vẫn tiếp tục ở lại xây dựng Viện Đại học Cần Thơ với nhịp độ 1966-1975 thì không biết Viện Đại học Cần Thơ và ĐBSCL sẽ phát triển và tiến xa tới đâu”…

(Ảnh: Uyên Nguyên)

Sẽ phát triển và tiến xa tới đâu, nếu Việt Nam sau 1975 trân trọng trí tuệ và tài năng của các trí thức như giáo sư Phạm Hoàng Hộ, giáo sư Nguyễn Duy Xuân, giáo sư Lê Xuân Khoa, cụ Bùi Diễm, bác sĩ Ngô Thế Vinh, giáo sư Nguyễn Tiến Hưng, giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, ông Đỗ Văn Thảo (cựu Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng Quốc Gia; bị đi “cải tạo”), giáo sư Vũ Quốc Thông (Khoa trưởng Đại học Luật khoa Sài Gòn, cũng bị đi tù)?… Sẽ còn phát triển và tiến xa tới đâu, nếu chế độ đang cai trị – luôn dễ bị “kích động” một cách thái quá cái gọi là “tự hào dân tộc” – biết dùng hiền tài, để sự tự hào có phần đóng góp của những trí thức đỉnh cao và trí thức đúng nghĩa? Trí thức chân chính là những người không chỉ “thể hiện” lòng yêu nước bằng ngôn từ. Họ là những người không bao giờ ngưng bồn chồn lo lắng cho sự tụt hậu nước nhà cùng sự lấn át ngoại bang.

Trong bài viết trên tờ Một Thế Giới ngày 2-2-2017, tác giả Lê Học Lãnh Vân thuật lại tâm sự của giáo sư Phạm Hoàng Hộ trong một lần gặp ông tại Pháp giữa thập niên 1980: “Nhiều người Trung Quốc từ đại lục và cả từ Đài Loan, Singapore đã đến tìm học các bộ sưu tập thực vật Đông Dương của Pháp. Tôi không biết họ có chủ trương gì đó không. Tài nguyên nước mình, mình phải biết. Mình không biết mà người ta biết thì người ta xài hết của dân mình. Lãnh vực nào cũng vậy riết rồi người ta áp chế mình, ăn trên ngồi trước còn mình cắm đầu dưới đất, tiếng là có độc lập mà còn thua hồi thuộc Pháp!”…

Bác sĩ Ngô Thế Vinh (Ảnh: Quảng Pháp)

Cách đây hai năm, khi nghe giáo sư Lê Xuân Khoa vừa trải qua ca phẫu thuật ngặt nghèo, tôi đã vào viện thăm. Ông nằm giữa đống dây nhợ gắn quanh gần như kín người. Không thể nói vì miệng mũi còn vướng ống, ông ra hiệu cho cô con gái lấy tấm bảng. Ông viết, chỉ một câu, nhưng nghe nặng trịch, mỗi chữ như một nhát búa: “Tôi lo mất nước về tay Tàu rồi”. Và ông rươm rướm. Nằm trên giường bệnh, thập tử nhất sinh, ông chẳng nghĩ gì khác ngoài quê hương. Ông không lo gì khác ngoài cái lo “mất nước”, về sự lệ thuộc gần như toàn diện của Việt Nam với Trung Quốc. Bao nhiêu người trong hệ thống lãnh đạo Việt Nam hiện tại có thể bị đánh thức lòng tự ti dân tộc bởi nhát búa lương tri của một vị trí thức gần 90 tuổi như giáo sư Lê Xuân Khoa?

Chưa ai thống kê cho thấy hiện có bao nhiêu trí thức kiều bào vang danh nước ngoài nhưng không được mời về hoặc họ không buồn về. Thậm chí có những người bị cấm về, dù hệ thống tuyên truyền chế độ luôn ra rả về sự “trân trọng đón chào” trí thức hải ngoại. Một số trí thức đã quyết định không về. Họ không tin và họ có đủ bằng chứng để không tin nhà cầm quyền. Khi những Nguyễn Quang A, Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Chu Hảo… còn là “thành phần phản động” thì không ai còn ngây thơ để ngộ nhận sự “thành thật” của nhà cầm quyền đối với trí thức. 45 năm sau 1975, chế độ cai trị vẫn tiếp tục chính sách “triệt người”, “triệt” cả chính người của họ. Trí thức muốn đóng góp và xây dựng nhằm thay đổi chính sách đã và sẽ không có cơ hội.  

Một trong những trí thức mà khi tiếp xúc, tôi luôn nhìn thấy sự nhiệt tình dữ dội của ông dành cho nước nhà. Nói chuyện với ông có cảm giác như đang ngồi trước một sinh viên tràn đầy nhiệt huyết, dù ông đã gần 80 tuổi. Đó là bác sĩ Ngô Thế Vinh. Ông là một trong những người Việt Nam luôn nặng tình với miền Tây, với đồng bằng sông Cửu Long, một cách bền bỉ, dù quê quán ông ở Hà Nội. Ông là tác giả quyển khảo cứu Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng. Ông cũng là tác giả quyển Mekong, dòng sông nghẽn mạch… Việt Nam không chỉ có dòng Mekong nghẽn mạch. Việt Nam đang bị nghẽn cả dòng trí tuệ của các bậc trí thức minh tuệ-hùng tâm.

Ai là Ngụy? – Ngô Trường An

Ai là Ngụy? – Ngô Trường An

Ai là Ngụy? – Ngô Trường An

 

Anh bạn cùng quê vô Bà Rịa dạy học từ thời bao cấp. Hôm qua anh về quê và vợ chồng anh ghé đến nhà thăm tôi. Ngồi nói chuyện, bất giác anh nhìn lên bàn thờ cha tôi và hỏi:

– Ba mày hồi trước là ngụy quân hay ngụy quyền vậy?.

Tôi hỏi:

– Ngụy quân là sao? Ngụy quyền là sao?

Anh ngạc nhiên:

– Ơ, mày không biết à? Ngụy quyền là người làm trong chính quyền ngụy, ngụy quân là lính trong chính quyền ngụy. Có thế mà không biết à?

Tôi lắc đầu trả lời:

Cha tui chỉ là một công chức của chính phủ Miền Nam thôi, chứ ổng có theo Cộng Sản đâu mà ngụy quân với ngụy quyền!.

Anh đưa mắt nhìn sang vợ rồi ngước mặt lên trần nhà cười lớn:

– Mày nói cái gì thế? Ngụy là chính phủ Miền Nam đó! Những người làm việc cho Miền Nam là ngụy quyền, ai đi lính là ngụy quân. Hiểu chưa?.

 

Tôi nghiêm mặt:

– Anh nói bậy! Anh có hiểu nghĩa tính từ NGỤY là gì không? Theo wikipedia, ngụy, có nghĩa là sự giả tạo, ví dụ như: Ngụy trang, ngụy tạo, ngụy biện, ngụy quân tử… Riêng về ngụy quyền là để ám chỉ một chính quyền do soán đoạt mà có (soán đoạt cũng có nghĩa là cướp) hoặc do quân xâm lược nước ngoài dựng lên để làm tay sai cho nó trong quá trình xâm lược. Vậy thì chính quyền của ông Ngô Đình Diệm ăn cướp từ chính quyền nào mà anh gọi là ngụy? Và chính quyền Miền Nam làm tay sai cho ai mà anh gọi là ngụy?.

 

Anh đừng nghĩ rằng, chính phủ VNCH là tay sai của Mỹ nha? Không đâu! Quân, dân, cán, chính Miền Nam chiến đấu để bảo vệ lãnh thổ tổ quốc của họ. Mỹ cũng có nghĩa vụ ngăn chặn làn sóng đỏ cộng sản tiến sâu vào phương nam. Do đó, họ viện trợ cho miền Nam Việt Nam và cùng quân dân miền Nam chiến đấu chống Cộng Sản bành trướng. Việt Nam Cộng Hòa nhận viện trợ của Mỹ, họ xem Mỹ là đồng minh cùng chung chiến hào, chứ chưa bao giờ nhận Mỹ là anh em, hay bạn vàng. Trong tất cả các khẩu hiệu, báo chí, thơ ca, âm nhạc… người Miền Nam chưa bao giờ ca ngợi Mỹ, tung hô chính phủ Mỹ… Và, tổng thống Ngô Đình Diệm là người phản đối Mỹ đưa quân sang tham chiến ở Miền Nam. Vậy thì, làm sao có thể gọi chính quyền Miền Nam là ngụy? Anh nói đi!

 

Anh chồng đưa mắt nhìn chị vợ, chị ta nghiêng người lên tiếng:

– Xưa nay em nghe người ta nói chính quyền cũ là ngụy quyền Sài Gòn, và bọn em cũng cứ thế mà gọi chứ cũng không nghĩ ngợi hay tìm hiểu gì. Vậy là, theo anh, dùng từ ngụy quân – ngụy quyền là không đúng phải hôn?

– Từ ngữ thì nó không sai, nếu dùng nó để ám chỉ cho chính quyền Miền Nam thì sai, nhưng để chỉ cho chính quyền Miền Bắc thì hoàn toàn đúng!

Anh bạn nghe tui nói vậy liền trợn mắt lên hỏi:

– Sao? Mầy nói chính quyền này là ngụy à?

 

– Không! Tôi chỉ dựa trên định nghĩa của wikipedia mà nhận xét. Ngụy quyền, có nghĩa rằng chính quyền đó có do cướp của nhà nước khác. Anh là giáo viên, chẳng lẽ anh không biết ông Hồ Chí Minh lãnh đạo đảng Cộng Sản cướp chính quyền từ tay Thủ Tướng Trần Trọng Kim? Như vậy, chính quyền hôm nay được thừa kế từ đời ông Hồ cướp từ tay người khác chứ còn gì nữa?.

 

Anh có biết, ông Lê Duẩn tuyên bố: “Ta đánh Mỹ đây là đánh cho Liên Sô, TQ, đánh cho các nước XHCN anh em…” quân đội mà đi đánh thuê tùm lum như vậy có phải là ngụy quân không?

Nếu chính phủ của ông Hồ là chính phủ của nhân dân Miền Bắc, mắc mớ chi treo hình ông Mác, ông Lê-nin, ông Mao… ở chốn nghị trường? Mắc mớ chi đưa ra chủ trương quyết đi theo con đường mà TQ đã chọn? Mắc mớ chi in chữ TQ trên đồng tiền lưu hành ở Miền Bắc? Và mắc mớ chi in hình quốc kỳ TQ trên con tem mang quốc hiệu nước VNDCCH???

 

Anh nói đi! Anh sống ở Miền Nam cũng gần 20 năm, anh có thấy chính quyền Miền Nam làm những điều như Miền Bắc vậy không mà anh nói chính phủ Miền Nam là ngụy?

– Mầy… phản động!

– Ôi trời! Nảy giờ nói chuyện với anh tui tưởng anh là con người biết đúng, biết sai. Không ngờ, anh như con Vẹt. Người ta nói ngụy thì anh nói ngụy, người ta hô phản động thì anh hô phản động… cứ lặp theo lời thiên hạ như thế thì cái đầu chỉ để đội nón thôi sao?

 

Thấy tình hình căng thẳng, chị vợ vội nắm tay chồng đứng dậy chào tui.

Tôi cũng đứng lên cúi gập người tiễn khách:

– Vâng, xin chào anh chị. Cầu chúc anh chị nhiều sức khỏe!


Ngô Trường An

TỘI CỦA ÔNG VŨ HUY HOÀNG, TỘI CỦA ÔNG LÊ THANH HẢI VÀ TỘI CỦA THẦY GIÁO NGUYỄN NĂNG TĨNH?

Tho Nguyen and 2 others shared a post.
Image may contain: 3 people, people sitting, people standing and indoor
Image may contain: 1 person
Image may contain: 1 person
Image may contain: one or more people, people standing and outdoor
Nguyen Ngoc ChuFollow

TỘI CỦA ÔNG VŨ HUY HOÀNG, TỘI CỦA ÔNG LÊ THANH HẢI VÀ TỘI CỦA THẦY GIÁO NGUYỄN NĂNG TĨNH?

1. Trong lịch sử nước ta, chưa bao giờ có nhiều án oan như bây giờ.

Ông Nguyễn Thanh Chấn thoát nạn tù chung thân sau hơn 10 năm tù oan (29/8/2003-4/11/2013) nhờ hung thủ ra tự thú. Mẹ tử tù Hồ Duy Hải (bị tù từ 21/3/ 2008) kêu oan suốt 12 năm cho con, rung động cả đất nước, mà vẫn chưa được minh oan. Vụ án bác sĩ Hoàng Công Lương. Vụ án Đặng Văn Hiến. Hàng ngàn hộ dân oan ở Thủ Thiêm. Không kể xiết. Nhà văn Phạm Lưu Vũ viết trong bài “Khóc Tố Như”:

Ngày xưa oan chỉ một nhà
Ngày nay muôn dặm đều là dân oan!

2. Điều khác biệt so với mọi thời là nguyên nhân dẫn đến án oan. Nhiều vụ án oan không phải do sai lầm trong xét xử, mà là do cố tình xử sai. Cố tình xử sai do bị sai khiến bởi quyền lực. Cố tình xử sai vì bị mua chuộc bởi đồng tiền.

Chưa bao giờ có nhiều “án bỏ túi” như bây giờ. Chưa bao giờ nhân cách của các quan tòa bị thấp kém như hiện nay. Những ai từng liên quan đến các vụ kiện thì mới thấm hiểu được một phần sự nhơ nhớp của các quan toà đương đại.

3. Đừng nói rằng vơ đũa cả nắm. Có ai chỉ ra được quan tòa nào không chịu khuất phục bởi quyền lực? Không bị mua chuộc bởi đồng tiền? Hãy nêu ra một cái tên?

4. Ngày 20/4/2020 Tòa án cấp cao Hà Nội đã y án Tòa án sơ thẩm Nghệ An ngày 15/11/2019, xử Thầy Giáo Nguyễn Năng Tĩnh 11 năm tù giam và 5 năm quản chế về tội danh: “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

5. Thầy Nguyễn Năng Tĩnh là giảng viên âm nhạc trường Cao Đẳng Văn Hóa và Nghệ Thuật Nghệ An. Thầy thể hiện chính kiến một cách ôn hòa. Thầy tham gia biểu tình chống Forrmosa. Thầy tham gia biểu tình bảo vệ biển đảo. Thầy chống cho Trung Quốc thuê đất.Thầy dạy học trò hát bài hát “Trả lại cho dân”. Không thể vì những điều đó mà lại kết án Thầy Nguyễn Năng Tĩnh đến 11 năm tù giam. Đây chắc chắn là một vụ án oan.

6. Ông Vũ Huy Hoàng cựu Bộ trưởng Bộ Công Thương (2007-2016) đã phá nát nền kinh tế Việt Nam với các dự án thua lỗ lên đến hàng trăm ngàn tỷ đồng. Tội của ông Vũ Huy Hoàng là tội “Phá Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”.

Vậy mà ông Vũ Huy Hoàng chỉ bị xóa tư cách “Nguyên bộ trưởng bộ Công Thương”, cách chức “ Bí thư Ban cán sự Đảng bộ Công Thương 2011-2016” – là những chức của quá khứ, không có thực. Ông Vũ Huy Hoàng không phải chịu một ngày tù nào.

7. Ông Lê Thanh Hải cựu Bí thư Thành ủy TPHCM (2006-2016) gây tội tày đình, mang tai họa cho hàng chục ngàn dân oan Thủ Thiêm, làm thiệt hại cho nhà nước hàng trăm ngàn tỷ đồng, mà cũng chỉ bị cách cái chức không tồn tại là “Bí thư Thành ủy HCM nhiệm kỳ 2010-2015”.

Tội của ông Lê Thanh Hải là tội “ Phá Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”. Vậy mà ông Lê Thanh Hải chưa phải chịu một ngày tù nào.

8. So với ông Vũ Huy Hoàng và ông Lê Thanh Hải mới thấy rõ mức độ oan trái của Thầy Nguyễn Năng Tĩnh.

Đừng nói rằng “mọi sự so sánh là khập khiễng”. Vì các tội, dù theo điều khoản nào, cuối cùng cũng quy về các hình phạt mà nặng nhất là tù giam và tử hình.

Với nhân dân, không ai thấy Thầy Nguyễn Năng Tĩnh có hại. Họ chỉ thấy những người như ông Vũ Huy Hoàng, ông Lê Thanh Hải mới là nguy hại.

9. Làm thầy giáo mà không thể hiện được chính kiến của mình thì không thể đứng lớp, vì không có khả năng dạy cho học trò sự tự do thể hiện chính kiến. Có tự do thể hiện chính kiến thì mới có sáng tạo mà sinh ra phát minh. Tự do thể hiện chính kiến là thần cốt của tự do học thuật. Tự do học thuật là mục tiêu thiêng liêng của mọi sự học. Không thể bày tỏ chính kiến thì mọi sự học đều đi đến lịm tắt.

Nghề giáo thiêng liêng – được tôn làm thầy – chính là nhờ đã truyền dạy cho học trò sự tự do tư duy. Nhờ đó nhân loại mới không ngừng sáng tạo. Nhờ đó dân tộc mới độc lập tự chủ. Nhờ đó con người mới không bị khuất phục.

10. Tòa Giám đốc thẩm hãy sáng suốt trả lại công bằng cho Thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh.

Bỏ tù người thầy vì bày tỏ chính kiến là toan tính triệt đường nghề giáo. Tư tưởng của nhà giáo không thể giam cầm. Khí phách của nhà giáo không thể khuất phục.

Hãy nghe những lời nói của Thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh trong cuối phiên Sơ thẩm 15/11/2019:

“…Tôi khát khao một đất nước tự do, dân chủ.
Tôi lo lắng cho vận mệnh đất nước và dân tộc; lo lắng cho môi trường sống của nhân dân bị đầu độc.
Tôi không thể vô cảm và cam tâm trước nguy cơ mất chủ quyền quốc gia, trước mối đe doạ xâm lăng của Trung Quốc.
Dù mức án có cao đến đâu, 10 năm, 20 năm, kể cả tử hình, tôi cũng không thay đổi chính kiến”.

Các nhà giáo ở đâu? Các luật sư ở đâu?

XỔ SỐ KIẾN THIẾT VIỆT NAM – SỰ THẬT VỀ SỨC TÀN PHÁ KINHTẾ ĐẤT NƯỚC VÀ ĐẨY DÂN NGHÈO VÀO ĐƯỜNG CÙNG.

Image may contain: text

Ngô Thị Thứ

XỔ SỐ KIẾN THIẾT VIỆT NAM _ SỰ THẬT VỀ SỨC TÀN PHÁ KINHTẾ ĐẤT NƯỚC VÀ ĐẨY DÂN NGHÈO VÀO ĐƯỜNG CÙNG.

Ở tất cả các nước trên thế giới, xổ số chỉ là một hoạt động để dân dùng số tiền lẻ sau khi thanh toán các hoá đơn mua hàng tại siêu thị, cửa hàng…, nó góp phần đem lại niềm vui may rủi trong xã hội mỗi tháng một lần.
Ở Việt Nam họ vận dụng xổ số hoàn toàn khác một cách có ý đồ không trong sáng đem đến những tác hại khủng khiếp cho xã hội và con người, đặc biệt là dân nghèo.

Tôi xin dẫn chứng khái quát những tác hại như sau :

1_ Người phát hành vé số : Ở Việt Nam mỗi tỉnh đều có cơ quan phát hành vé số, không giống hầu hết các nước trên thế giới, toàn quốc chỉ có một. Điều này cứ tính nhân sự điều hành có hưởng lương thì nó gấp nhiều chục lần so với các nước khác. Đặt biệt trong chế độ độc đảng như Việt Nam, sự tiêu cực của người tổ chức là không thể nào tránh khỏi. ( Đã có nhiều Cty xổ số bị phát hiện và truy tố).

2_ Người bán vé số : Tại các nước khác không có người bán vé số kiểu Việt Nam, họ chỉ giao cho các thủ quỹ siêu thị, cửa hàng bán cho người mua khi thối lại tiền thừa nếu khách hàng đồng ý hoắc yêu cầu.
Ở Việt Nam, toàn quốc có hàng trăm ngàn, thậm chí hàng triệu người bán vé số. Điều này đem đến tác hại gì?

_ Đất nước mất hàng trăm ngàn, hàng triệu người chỉ làm công việc trung gian phân phối vé, không lao động tạo ra của cãi vật chất, do đó không đóng góp gì cho phát triển đất nước. Bản thân người bán vé số làm sao có thể khá lên được, nghèo càng nghèo hơn từ đời cha mẹ đến đời con, cứ thế nối tiếp.

_Người mua vé số : Chắc chắn là những người nghèo, thu nhập thấp, họ mua để cầu may đổi đời. Và các bạn biết đấy, với xác suất trúng rất thấp, cộng với tiêu cực của các Cty xổ số, việc trúng số cũng không khác gì mò kim đáy biển. Từ đó người nghèo khổ sẽ càng nghèo khổ hơn.

3_ Từ vé số, xã hội phát sinh ra số đề và bao nhiêu tiêu cực cờ bạc kèm theo, tạo ra một xã hội tiêu cực, lôi kéo cán bộ bảo kê, côn đồ bảo kê cho các cơ sở cờ bạc trá hình….

4_ Việc người bán vé số tràn ngập, nhất là ở các khu vực thị trấn, thị xã, đường phố, họ mời mọc, lôi kéo, van nài tạo mất mỹ quan phố phường và làm phiền lòng, bực mình người bị mời mọc mua vé.

5_ Toàn xã hội, số tiền thu hút đầu tư may rủi có tính cờ bạc vào hoạt động không tạo ra của cãi vật chất hay sinh lợi này rất cao, đã thế còn tốn biết bao nhiêu tiền lương để chi cho số lượng nhân viên không hề nhỏ trong toàn quốc,tính ra là một con số khủng khiếp!

Rất, rất nhiều điều không tốt xung quanh việc làm quái gở này mà tôi không có thời gian để nói hết.

Viết để các bạn đọc suy ngẫm chứ không mong sẽ có tác động tích cực lên guồng máy quản lý đất nước của xã hội này!

https://www.facebook.com/100026306618778/posts/524077995145750/

VÙNG CẤM CỦA BÁO CHÍ SẢN

Image may contain: text
No photo description available.
Hoang Le Thanh is with Phan Thị Hồng.

VÙNG CẤM CỦA BÁO CHÍ SẢN

Pham Doan Trang
Phạm Đoan Trang

Nhìn cảnh tuyên giáo rối rít xua báo chí viết bài “đấu tranh” với Trung Quốc xoay quanh vấn đề chủ quyền và Công hàm Phạm Văn Đồng mà bật cười.

Ban đầu, tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc là chủ đề cấm kỵ với báo chí cách mạng. Năm 2001, khi tôi làm một mẩu tin nhỏ xíu (dịch từ Washington Times) về việc Trung Quốc đưa tàu chiến đến gần quần đảo Trường Sa, ban biên tập lấy hết can đảm mới cho tồn tại một câu cuối bài: Đây là khu vực có tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Malaysia, Brunei và Việt Nam. (Ba chữ “và Việt Nam” đặt cuối câu nữa mới ghê chứ!).

7-8 năm sau đó, báo chí Việt Nam mới dám rón rén nhắc đến vấn đề Trường Sa-Hoàng Sa. Tháng 12/2007, VietNamNet bị đánh tả tơi vì bài viết “Sức mạnh đồng thuận Việt Nam: Nhìn từ Hoàng Sa -Trường Sa”. Người viết không để tên thật, và bài viết thực ra khá nhạt với những bình luận chung chung, không có gì mới. Thế mà cũng khiến ban biên tập một phen phải giải trình lên xuống trước tuyên giáo.

Đầu năm 2009, ấn bản báo xuân Tết Kỷ Sửu của tạp chí Du Lịch bị đình bản ba tháng ngay sát trước Tết vì “tội” không tuân thủ sứ mệnh “tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước” và đã “kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước”. Lý do chủ yếu là vì Du Lịch đã đăng bài “Tản mạn với đảo xa” của nhà báo Trung Bảo, trong đó ca ngợi những người biểu tình là yêu nước (chứ lại không phải là “đối tượng gây rối trật tự công cộng” như tuyên giáo và công an vẫn cố vẽ).

Từ lúc bị cấm tiệt nói về tranh chấp chủ quyền, cho tới lúc báo chí ọ ẹ nói được hai từ Hoàng Sa-Trường Sa, đã là hàng năm trời, với bao nhiêu nhà báo bị kỷ luật, mất việc, bao nhiêu nhân viên tòa soạn (không phải người làm báo) phải vạ lây, “chết oan”.

* * *

Ấy thế mà vẫn chưa phải là đã phá được vùng cấm đâu. Bao nhiêu năm qua, 5 tiếng “Công hàm Phạm Văn Đồng” vẫn là một trong các chủ đề cấm kỵ (bất thành văn) với báo chí.

Ở đây ta mới thấy rõ cái lố bịch của bộ máy tuyên giáo và công an trị: Chúng chỉ thích những sự thật nào làm đẹp lòng chúng. Với những sự thật cay đắng, có thể bất lợi cho chúng, chúng chọn cách lờ tịt đi, không nhắc đến, và bắt toàn xã hội – nhất là báo chí và giới nghiên cứu – phải câm miệng theo.

Ngay cả lúc buộc phải đấu tranh, phản bác, chúng cũng muốn mọi sự đấu tranh, phản bác phải theo đúng ý chúng, theo định hướng. Nói chung, chúng vẫn không cho ai nhắc tới vấn đề chính.

Thật lố bịch, vì làm sao có thể phản biện một thứ như Công hàm Phạm Văn Đồng mà lại không nhắc đến nó?

Tương tự, làm sao có thể đưa vấn đề tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc ra Tòa án Quốc tế nếu… không được phép biết hai nhà nước cộng sản này đã từng ký kết, thỏa thuận những gì với nhau?

Nguồn: Nhà báo Phạm Đoan Trang
https://www.facebook.com/pham.doan.trang/posts/10158549224063322

Ảnh 2: Bút Sử: Báo “Nhân Dân”, 1958, đăng tin “Công hàm” do Phạm Văn Đồng … (hon-viet.co.uk)
https://hon-viet.co.uk/ButSu_BaoNhanDan1958DAngTinCongHamDo…

Ước vọng cuối đời của các Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa và con cái họ!

RFA.ORG

Ước vọng cuối đời của các Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa và con cái họ!

Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc tròn 45 năm. Đài RFA gửi đến quý thính giả chia sẻ của một vài gia đình Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa, là thành phần chịu nhiều thiệt thòi suốt hơn 4 thập niên qua tại Việt Nam. 

ĂN ĐƯỢC THÌ ĂN, TỘI GÌ KHÔNG ĂN !

Image may contain: 1 person, standing and suit

Ngô Thị Thứ

Nguyen Ngoc Duc

ĂN ĐƯỢC THÌ ĂN, TỘI GÌ KHÔNG ĂN !

Câu nói trên quá đúng cho hiện trạng nước ta ! Đúng một cách đau đớn, xót xa.

Trong khi người nghèo xếp hàng cả cây số, chờ cả ngày để có vài ký gạo ăn trong mùa dịch bệnh, thì có kẻ ăn cả hàng tỷ đồng ngon ơ, không cần chờ đợi, xếp hàng. Vụ “ăn” thiết bị y tế chống dịch tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) Hà Nội có thể nói là một tội ác !

Mặc dù hàng loạt tổng giám đốc, giám đốc, trưởng phòng, cán bộ… liên quan đến vụ này đã bị bắt. Nhưng câu hỏi là đã hết chưa những đường dây tội ác như vậy ? Vì Vụ “ăn” này không thể một mình ông giám đốc CDC Nguyễn Nhật Cảm làm được, mà là cả một đường dây, từ tài chính-kế toán, đến công ty vật tư và bộ phận định giá. Vì làm sao một hệ thống xét nghiệm coronavirus giá thị trường chưa tới 4 tỷ, nhưng trung tâm Kiểm soát bệnh tật này có thể mua hơn 7 tỷ ?

Trong mấy tháng qua, để đối phó nhanh với dịch Covid-19, nhà cầm quyền cho phép các cơ sở y tế chỉ định thầu, thay vì đấu thầu, để mua các trang thiết bị, hóa chất, vật tư y tế. Thế là các cơ sở y tế này đã lợi dụng để thiết lập các đường dây nâng giá lên gấp đôi, cho đúng với lề thói nước ta “ăn được thì ăn, tội gì không ăn”.

Đường dây “ăn” thiết bị y tế chống dịch ở CDC Hà Nội không phải là duy nhất. Chắc chắn còn nhiều đường dây khác. Virus corona không có khả năng lây nhiễm ở Việt Nam. Vì nó đã bị một con virus khác khống chế. Đó là virus tham nhũng và hủ hóa. Con virus này đã lây nhiễm cả guồng máy cai trị, ổ dịch lớn nhất là đảng cộng sản Việt Nam (CSVN).

Cách đây mấy hôm, tôi vừa đọc vừa cười muốn té. Báo chí loan tin một cách long trọng là Tổng cục Thuế vừa ban hành văn bản số 1199 bắt buộc toàn thể cán bộ làm cho ngành thuế phải làm “giấy cam kết không tham nhũng”. Hình như các ông bộ trưởng Nguyễn Bắc Son, Trương Minh Tuấn cũng đã từng làm giấy cam kết như vậy.

Hiện nay ông Phạm Văn Đồng đang được dư luận đề cập đến, vì ông là người ký công hàm bán nước năm 1958. Tôi nhớ cuối đời của ông, khi trung ương đảng CSVN muốn phát động một chiến dịch tận diệt tham nhũng trong guồng máy đảng và chính quyền, ông Đồng nói “Nhà đã dột từ nóc dột xuống. Nay Đảng muốn tận diệt tham nhũng, thì chỉ có cách tự cắt cổ mình mà thôi”. Tiếc rằng tôi không lưu và không tìm lại được nguồn báo chí về lời tuyên bố này. Nhưng vì bị ấn tượng bởi lời tuyên bố đó, nên tôi vẫn lưu lại trong trí nhớ.

Ông Phạm Văn Đồng có nói như vậy hay không, không quan trọng. Vì thật sự nạn tham nhũng ở nước ta đúng là “Nhà đã dột từ nóc dột xuống”. Ông Nguyễn Phú Trong muốn “đốt lò chống tham nhũng”, thì chắc phải đốt cả guồng máy cai trị hiện nay, thì may ra, Việt Nam mới hết tham nhũng.

https://www.facebook.com/100000298997773/posts/3231433286876606/

Khả năng mất Trường Sa vào tay TQ đã rõ!

Image may contain: one or more people and text
Image may contain: one or more people and text
Image may contain: 1 person, standing
Image may contain: 4 people, people standing, outdoor and text
Image may contain: 3 people, including Hoa Kim Ngo, text
Ngô Thị Thứ is with Hoàng Bùi.

Nguyễn Như Phong

Khả năng mất Trường Sa vào tay TQ đã rõ!

Tôi đọc dòng tin này trên một tờ báo lớn, rất lớn của ta mà thấy buồn vô hạn.
“Sáng 20-4, tại thành phố Hải Phòng, biên đội tàu Cảnh sát biển 8004 và 8003 thuộc Hải đoàn 11, Bộ tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1 rời bến lên đường thực hiện nhiệm vụ kiểm tra liên hợp nghề cá trong vùng đánh cá chung Vịnh Bắc Bộ giữa lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam và Cảnh sát biển Trung Quốc lần thứ nhất năm 2020.”

Thế đấy, trong lúc TQ ngang ngược kiện Vn ra LHQ là chiếm đảo, là…là…và phải rút khỏi ngay các đảo ở khu vực quần đảo Trường Sa; trong lúc họ ngang nhiên đặt tên quận cho mấy bãi đá ở Trường Sa mà họ chiếm đóng trái phép mấy năm qua, trong lúc họ ngang nhiên kéo tàu thăm dò địa chấn vào khu vực đặ quyền kinh tế của ta…thì lại vẫn có những hoạt động mang tính “hữu hảo” như dòng tin trên.

Với những gì TQ đã làm và đang làm, thì chưa biết chừng, một ngày xấu trời nào đó, LHQ sẽ yêu cầu ” VN rút khỏi Trường Sa” – Điều này rất có thể xảy ra, bởi lẽ LHQ bây giờ cũng chỉ là sân chơi của các nước lớn, và khi cần phục vụ cho lợi ích của họ, thì LHQ cũng chả là cái quái gì?

TQ có nhiều tiền, rất nhiều tiền… nên họ có thể mua được tất cả, dám đổi trắng thay đen, dám dùng tiền bịt miệng thiên hạ…

Còn chúng ta, gần 30 năm nay, vấn cứ bám víu vào 16 chữ vàng, bám víu vào ” đồng chí 4 tốt” và cứ hy vọng ” đồng chí” sẽ không cư xử quá tệ với nhau…Chúng ta đã cố gắng nhẫn nhịn…nhẫn nhịn đến mức thành ra hèn…!
Kiện TQ ra tòa án quốc tế thì không dám?

Thậm chí tàu nó đâm chìm tàu cá của dân ta, vẫn cứ nói ” tàu lạ”???
Rồi hạn chế tuyên truyền về chiến tranh 1979, không dám nhắc đến một cách mạnh mẽ, công khai các ký ức đau thương của những năm tháng chiến tranh biên giới…

Không dám đưa sự thật quan hệ Việt Nam -TQ vào sách dạy học… hay nói một cách trần trụi là chính ta tự ” bưng bít sự thật”

Và đau đớn nhất là chúng ta lệ thuộc vào TQ quá nhiều về kinh tế…Lệ thuộc đến mức không còn lối thoát.

Chỉ cần họ đóng cửa biên giới ít ngày, làm chậm thủ tục xuất khẩu hàng nông sản thực phẩm là đã loạn cả rồi…Và quan chức thì chỉ còn nước đi van lạy họ để xuất khẩu được thanh long, dưa hấu…

Sẽ không ai cứu VN một khi TQ tấn công chiếm toàn bộ Trường Sa. ( Dĩ nhiên, cũng có những tuyên bố kiểu …quan ngại”)…Ai đó nghĩ Mỹ sẽ đưa tàu chiến, máy bay ” bảo vệ” ta, đó là suy nghĩ vớ vẩn! Lịch sử đã chứng minh : Mỹ chỉ lo bảo vệ lợi ích của họ, và sẵn sàng bán đứng tất cả, sẵn sàng thỏa hiệp vì lợi ích của họ…Mà chính Mỹ đã ” giúp” TQ chiếm Hoàng Sa, giúp TQ xâm lược Vn, chính Mỹ đã thỏa hiệp với TQ để ném bom miền Bắc vào năm 1972…
Cho nên, nếu TQ dùng vũ lực chiếm Trường Sa, sẽ không ai bảo vệ VN ở LHQ đâu, một khi TQ dùng tiền mua LHQ…

Cho nên, chỉ có cách là tự ta cứu ta… Mà cách cứu đầu tiên là : Phải có những chính sách để thúc đẩy sản xuất trong nước, tự ta làm được những sản phẩm phục vụ một cách cơ bản cho sự phát triển kinh tế. Chỉ có thế, ta mới có thể ” chơi” với TQ một cách sòng phẳng.

Còn như vẫn phải phụ thuộc vào họ từng cái kim, sợi chỉ, từng con ốc vít…thì đừng bao giờ nói đến ” độc lập” một cách thực sự.

Còn người Việt Nam, nếu ai đó nói ” Tôi yêu nước” thì điều đầu tiên cần thể hiện lòng yêu nước là : Đừng tham mua hàng Tàu; hãy dùng hàng do ta sản xuất.

Những phát hiện mới chung quanh tấm bản đồ của Matteo Ricci

No photo description available.
No photo description available.
No photo description available.

Hoang Le Thanh is with Phan Thị Hồng.

Tập Cận Bình nói cái gọi là Tây Sa, Nam Sa là lãnh thổ của ông cố nội 100 đời nhà nó để lại.

Hãy đợi đấy !.

Phuc Dinh Kim
Đinh Kim Phúc

Nhà Nghiên cứu Biển Đông.

Những phát hiện mới chung quanh tấm bản đồ của Matteo Ricci

Một tấm bản đồ thế giới có tuổi đời hơn 400 năm, vừa được trưng bày tại thư viện Quốc hội Mỹ.

Báo China Daily cho biết, Matteo Ricci ‒ một nhà truyền giáo, người Italy ‒ vẽ tấm bản đồ vào năm 1602 theo yêu cầu của vua Minh Thần Tông. Nó là một trong hai bản sao còn được giữ ở trạng thái tốt. Một người sưu tầm tại Nhật Bản đã giữ nó trong nhiều năm trước khi bán cho Quỹ James Ford Bell vào tháng 10 năm 2009 với giá 1 triệu USD. Với mức giá đó, nó trở thành tấm bản đồ đắt giá thứ hai từng được bán. Do đây là một trong những bản đồ quý và dễ hư hại nên nó đã được in lên 6 tờ giấy gạo cỡ lớn.

Theo hãng tin AP, tấm bản đồ có kích thước 3,65 m x 1,52 m. Chất liệu của tấm bản đồ này được làm bằng giấy hồ ‒ một loại chất liệu được sử dụng rất phổ biến ở Trung Quốc vào thế kỷ XVII.

Nó biểu thị nhiều khu vực trên thế giới bằng hình vẽ và lời chú giải. Ricci đề tên nhiều nước tại châu Mỹ, như Chih-Li (Chile), Wa-ti-ma-la (Guatemala) và Ka-na-ta (Canada). Bang Florida của Mỹ được mô tả là “vùng đất của các bông hoa”. Châu Phi được chú thích là “nơi có dãy núi cao nhất và dòng sông dài nhất thế giới”.

Ford W. Bell ‒ một trong những người quản lý Quỹ James Ford Bell ‒ nói với tờ Pittsburgh Tribune Review rằng bản đồ được trưng bày trong thư viện Quốc hội Mỹ là một trong số hai bản đồ cổ có chất lượng tốt nhất.

“Ricci là một nhà truyền giáo cực kỳ thông thái. Ông đặt Trung Quốc vào trung tâm của thế giới mới để ghi nhận sự quan trọng của đất nước này. Tất nhiên, Ricci là người phương Tây đầu tiên tới Bắc Kinh. Người Trung Quốc kính trọng Ricci và khi mất ông được chôn tại Trung Quốc”.

Không có bất kỳ phiên bản nào của tấm bản đồ Ricci được tìm thấy tại Trung Quốc. Hãng tin AP cho biết thêm, chỉ có vài bản sao chép được lưu giữ trong các thư viện của Toà thánh Vatican và các nhà sưu tầm ở Pháp, Nhật Bản.

Theo kế hoạch tấm bản đồ của Matteo Ricci cũng sẽ được số hoá để đưa lên mạng.

Matteo Ricci (1552 – 1610)

Matteo Ricci sinh năm 1552 tại Macerata, ông bắt đầu học thần học và luật tại trường Thiên Chúa Giáo Roma. Năm 1577, ông đăng ký trở thành thành viên của một đoàn thám hiểm tới Ấn Độ và chuyến đi bắt đầu từ tháng 3 năm 1578 từ Lisboa, Bồ Đào Nha. Ông tới Goa, một thuộc địa của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ, vào tháng 9 năm 1578 và bốn năm sau đó được đưa tới Trung Quốc.

Năm 1582, Ricci bắt đầu học về ngôn ngữ và phong tục Trung Quốc tại Ma Cao, một trạm giao thương của Bồ Đào Nha ở miền Nam Trung Hoa, và trở thành một học giả phương Tây hiếm có đã học được văn bản chữ viết cổ điển của Trung Quốc. Năm sau, 1583, thì Ricci bắt đầu du thám vào sâu đại lục, nhờ chuyến thăm tới Triệu Khánh thuộc Quảng Đông, từ lời mời của Tổng trấn Triệu Khánh thời đó là Wang P’an, người đã nghe về tài toán học và vẽ bản đồ của Ricci. Ông ở đó từ năm 1583 tới năm 1589 trước khi phải rời đi sau khi bị trấn tổng mới nơi này trục xuất. Chính tại Triệu Khánh, Ricci đã vẽ bản đồ thế giới đầu tiên bằng tiếng Hoa.

Trong các chuyến du hành sau đó, Ricci tới Nam Kinh và Nam Xương năm 1595, Thông Châu năm 1598 và sau đó tới Bắc Kinh lần đầu tiên vào ngày 7 tháng 9 năm 1598. Tuy nhiên, do cuộc chiến tranh Nhật Bản – Triều Tiên vào thời điểm đó nên ông không được thăm cung điện hoàng gia. Sau hai tháng chờ đợi, Ricci rời Bắc Kinh để tới Nam Kinh và rồi dừng chân tại Tô Châu thuộc tỉnh Giang Tô.

Năm 1601, Ricci trở lại Bắc Kinh, tuy lần đầu ông không được diện kiến hoàng đế Trung Hoa nhưng sau khi tặng hoàng đế chiếc đồng hồ rung chuông, Ricci cuối cùng cũng được phép tận tay trao món quà cho hoàng đế Minh Thần Tông tại cung điện và Ricci cũng chính là người phương Tây đầu tiên được mời vào Tử Cấm Thành của Trung Quốc.

Dù cho Ricci được quyền tự do vào Tử Cấm Thành nhưng ông lại không được gặp mặt Minh Thần Tông, nhưng bù lại ông được Minh Thần Tông trao cho chức vụ Tổng giám mục về Thiên chúa Giáo tại Trung Quốc. Nhờ đó mà Ricci có cơ hội được gặp nhiều quan chức cũng như các nhân vật hàng đầu về văn hoá tại Bắc Kinh thời đó.

Ricci học rất nhiều về lịch sử và văn hoá Trung Hoa và ông cũng là người phương Tây đầu tiên tìm hiểu về cộng đồng người Do Thái ở Trung Hoa. Ông từng được liên hệ riêng bởi một thành viên của cộng đồng dân Do Thái tại Bắc Kinh vào năm 1605. Dù không bao giờ gặp mặt cộng đồng này ở Hà Nam một cách chính thức nhưng Ricci cũng gửi một người truyền giáo tới đó ba năm sau vào năm 1608, đây là một trong rất nhiều nhiệm vụ được uỷ quyền bởi Giáo hội.

Ricci sống tại Trung Quốc cho tới khi ông qua đời ngày 11 tháng 5 năm 1610 tại Bắc Kinh.

Trong tấm bản đồ này, các chú thích được ghi bằng hai ngôn ngữ: tiếng Hán và tiếng Nhật, tại phần lãnh thổ Việt Nam ngày nay đã được ghi chú, phần ghi chú này rất quan trọng.

Dòng chữ Hán được ghi chú trên vùng biển Đông này có nghĩa là:

“Thanh danh văn vật [triều] Đại Minh thịnh vượng, nhiều nước trong bốn biển ‒ ở khoảng 15 độ đến 42 độ ‒ đều đến triều cống. [bức] tổng đồ này [chỉ] diễn tả chung về núi, sông, tỉnh, đạo. Không thể vẽ tường tận cụ thể như [sách] Nhất Thống chí, Tỉnh chí ghi chép”.

Và 4 chữ [hàng dọc] đọc là: Vạn Lý Trường Sa.

Dòng chữ Hán được ghi chú trên vùng Biển Đông có một điểm tồn nghi cần được các nhà ngôn ngữ học phân tích. Bởi vì nếu ghi chú này do người Nhật chú thêm vào bản màu chép lại của Ricci thì có thể hiểu là :

“Đại Minh nghe rằng các nước bốn bể chung quanh từ 15 độ đến 42 độ, … đều giàu có và tất cả đều là nước triều cống. Bản đồ tổng quát nầy giản lược không ghi các tỉnh, đạo, núi, sông, … không thể chép hết chi tiết tỏ tường như Đại Minh Nhất Thống Chí, Tỉnh chí”.

Điều này có thể hợp lý bởi trong bản gốc bản đồ thế giới của Matteo Ricci, tại khu vực biển Đông của Việt Nam ngày nay không có một ghi chú nào cả !

Điểm thứ nhất:

Chúng ta cần đặc biệt chú ý, Ricci đã sáng tác tấm bản đồ thế giới đầu tiên bằng chữ Hán theo bản đồ được vẽ ở Châu Âu, hiện nay tấm bản đồ nầy đã thất lạc. Viên quan nhà Minh tên là Lý Chi Tảo (李之藻) đã dày công vẽ lại thành “phiên bản Lý Chi Tảo” với tên gọi là “Khôn Dư vạn Quốc toàn đồ”.

Bản đồ “Khôn Dư vạn Quốc toàn đồ” hiện lưu trữ tại viện bảo tàng tỉnh Miyagi (Nhật Bản) là 1 trong hơn 20 tấm được xác nhận nơi lưu trữ. Nhiều địa danh, chú thích được tu chỉnh, viết so với bản gốc của Lý Chi Tảo, có thể được vẽ lại sau năm 1664 tại Nhật Bản.

Trong thời kỳ Nhật Bản “bế môn tỏa cảng” (1793-1858), phiên bản nầy đã được du nhập vào Nhật Bản, gây ảnh hưởng lớn đến nhận thức thế giới của người Nhật trong thời Edo (1603-1868). Nguyên tác là bản vẽ một màu nhưng phiên bản (vẽ trên gỗ) sang Nhật Bản được sao lại và được tô thành nhiều màu, và một phần địa danh được sửa lại, vì vậy trong bản đồ phổ biến hiện nay có những địa danh phiên âm theo tiếng Nhật (Katakana).

Tại Nhật Bản hiện nay, bản khắc trên gỗ có 6 tấm nhưng phiên bản nầy chỉ có 2 tấm đông-tây và có 3 nơi hiện đang lưu trữ: Thư viện Đại học Tohoku, Viện Bảo tàng tỉnh Miyagi và Viện Bảo tàng Kyoto. Tấm một màu được in lại từ bản khắc gỗ gồm 6 tấm ghép lại được cho là gần với bản gốc Lý Chi Tảo vẽ. Những tấm tô màu có nhiều điểm khác tấm một màu. Đặc biệt ở tấm màu có vẽ quần đảo Vạn Lý Trường Sa (万里長沙) còn tấm một màu thì không và cũng không có những chữ phiên âm (Katakana). Điều nầy có thể hiểu được là bản đồ khắc lại tại Nhật Bản đã được thêm vào 4 chữ “Vạn Lý Trường Sa” cùng với những chữ phiên âm và vài phần chú khác nữa.

Điểm đặc biệt thứ hai:

Là bản đồ của Ricci khi đi vào Nhật Bản không chỉ có phiên bản của Lý Chi Tảo mà nó có đến 16 phiên bản khác nhau và những ghi chú trên bản đồ phiên bản này cũng không giống nhau. Nhưng bản đồ của Ricci được sao chép nhiều lần này đã cung cấp cho mọi người lúc bấy giờ một thế giới quan mới, có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng và học thuật.

Trong bản của Lý Chi Tảo vẽ lại bản gốc của Matteo Ricci không có 4 chữ “Vạn Lý Trường Sa” là điều nên lưu ý hơn cả, chứng tỏ thời Nhà Minh đã không nhận thức được quần đảo nầy là thuộc về mình hoặc không biết đến sự tồn tại trong phần lãnh thổ của Trung Quốc thời bấy giờ. Hơn thế nữa người Nhật vẽ thêm “Vạn Lý Trường Sa” cho thấy trong nhận thức của người Nhật nầy thì dãy đảo “Vạn Lý Trường Sa” nằm rải rác trên biển Đông, dọc theo Chiêm Thành (Lâm Ấp) nơi có nhiều thuyền buôn qua lại mà trong thời kỳ nầy loại thuyền “Shuninsen” (Chu ấn thuyền) tấp nập đến Phố Hiến, Hội An, Chiêm Thành, … mua bán (trầm hương, sừng tê giác, yến sào, gốm sứ, …) kéo dài trong gần 40 năm mà thị xã Hội An với phố cổ Nhật Bản ngày nay là một bằng chứng.

Cũng có một điểm đáng chú ý khác nữa là lần đầu tiên vùng biển giữa Triều Tiên và Nhật Bản được ghi là biển Nhật Bản (Nhật Bản Hải) có lẽ vì là phiên bản lưu hành tại Nhật Bản nên đã được thêm vào?

Điều đáng lưu ý là theo bản đồ của Ricci (bản do Nhật Bản vẽ lại) vùng biển dọc theo bờ của lục địa Trung Quốc, nằm dưới dãy đảo nước Nhật Bản được ghi là ”Đại Minh Hải” chứ không phải là biển Trung Hoa hay Nam Trung Hoa và trong Đại Minh Hải nầy không bao gồm vùng biển Đông ngày nay và những hòn đảo trong khu vực này chứng tỏ nhà Minh lúc bấy giờ đã không xem biển Đông và những đảo ấy là của mình.

Như vậy, tấm bản đồ này được Matteo Ricci hoàn thành vào đầu thế kỷ XVII trong lúc bối cảnh lịch sử Việt Nam lúc bấy giờ như thế nào ?

Ở đây, cần nhắc lại quá trình Nam tiến trong lịch sử Việt Nam.

Năm 1471 khi đi đánh Champa, lấy được kinh đô Vijaya, Lê Thánh Tông có ý dừng lại, chia làm cương vực ở đó. Mặc dù bấy giờ như ta đã biết, vương triều Vijaya đã suy mà Đại Việt thì đang trong thời thịnh trị. Nhà Lê không muốn và chắc chắn cũng sẽ không nghĩ tới việc cố thôn tính một quốc gia khác mà chỉ mong sự yên ổn lâu dài trên biên giới phía Nam.

Vua Lê thân chinh, theo như tuyên bố, là vì Champa đã quấy nhiễu biên giới, cũng vì một quan niệm là “Đại Chiêm và Cổ Luỹ trước là đất của ta, gần đây bị mất về nước Chiêm Thành, nên lấy lại được hết, sai các ngươi trấn thủ”. Vua đã lấy cả vùng Vijaya nay là Bình Định liền một dải với Cổ Luỹ để có địa giới tự nhiên hiểm trở ở phía Nam là đèo Cù Mông, lập nên đạo Quảng Nam, nhằm thực hiện ý định đó. Trong cuộc hành quân này, quân Đại Việt còn vượt qua đèo Cù Mông, tiến tới núi Bia Đá (Thạch Bi).

“Núi này có một chi, đến bờ biển thành hai, … có một khối đá lớn, quay đầu về phía đông như hình người, … (Vua Lê) sai mài vách núi dựng bia đá để chia địa giới với Chiêm Thành”.

Với ý định tạo nên sự yên ổn lâu dài ở phía Nam, vua Lê cắt phần đất ven biển từ đèo Cù Mông tới đèo Cả (hay Đại Lãnh) lập nên một nước riêng gọi là nước Hoa Anh. Lấy lại phần thượng nguyên ở phía tây Hoa Anh – vùng Che Reo để lập nước Nam Bàn. Như vậy, Chiêm Thành ngăn cách hẳn với Đại Việt bằng hai nước, tuy nhỏ nhưng cũng là tấm đệm từ miền núi ra đến biển.

Đầu thế kỉ XVI, nhà Lê suy yếu, tiếp đến việc Mạc Đăng Dung cướp ngôi (1527), rồi đến việc họ Trịnh làm Chúa, nắm quyền và việc Nguyễn Hoàng xin vào trấn thủ phương Nam để tránh tị hiềm.

Lúc đầu (năm 1558), Nguyễn Hoàng được nhận trấn thủ Thuận Hoá (gồm Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế ngày nay), tiếp đó lại xin được giao thêm quyền trấn thủ Quảng Nam (từ Quảng Nam đến Bình Định ngày nay – năm 1570).

Ngay khi vừa nhận thêm quyền trấn thủ Quảng Nam, Nguyễn Hoàng đã cử Lương Văn Chính làm Tri huyện Tuy Viễn (một trong hai huyện của tỉnh Bình Định, giáp giới Hoa Anh) và giao nhiệm vụ giữ yên phía Nam.

Năm 1578, Lương Văn Chính cầm quân tiến vào Hoa Anh, vây và hạ thành An Nghiệp – thành kiên cố và đồ sộ nhất trong lịch sử Chiêm Thành, đẩy họ về cương giới cũ ở phía Nam đèo Cả. Vua Chiêm Thành, theo niên giám là Po At (1553 – 1579), có lẽ đã bị chết trong thời điểm này. Trận đánh chỉ mới nhằm lập lại trật tự cũ, tuy nhiên Lương Văn Chính cũng đã tiến thêm một bước trong việc đưa dân lưu tán vào khai khẩn miền đất này, rải rác từ phía Nam đèo Cù Mông đến đồng bằng sông Đà Diễn.

Trong khoảng 10 năm cuối thế kỉ XVI và đầu thế kỉ XVII, Chiêm Thành lại lấn đất Hoa Anh, giết và đuổi những người nông dân Việt vào cư trú khai khẩn miền đất này. Năm 1611, Nguyễn Hoàng sai Nguyễn Phong làm tướng, đem quân vào đánh lại, Chiêm Thành bị thua, vua là Po Nit (1603 – 1613) phải bỏ Hoa Anh rút quân về phía Nam đèo Cả. Lần này họ Nguyễn đã lấy hẳn đất Hoa Anh, lập ra một phủ mới là phủ Phú Yên, gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa, lập dinh Phú Yên, đóng quân để phòng giữ. Lương Văn Chính đươc cử làm tham tướng dinh Trấn Biên, sau đó là dinh Phú Yên.

Như vậy, với việc lập phủ và dinh Phú Yên, chúa Nguyễn muốn xác lập hẳn quyền cai trị của mình trên một miền đất đã có sự góp sức khai khẩn của nông dân Việt trong mấy chục năm, muốn chấm dứt sự tranh chấp trên một vùng đệm để có thể yên tâm đối phó với cuộc chiến tranh chinh phạt của chúa Trịnh, một thử thách quyết liệt không thể tránh khỏi đối với chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

Xác định lại thời điểm lịch sử kể trên để thấy rằng, vào năm 1602 (năm mà Matteo Ricci hoàn thành tấm bản đồ của mình), Vạn Lý Trường Sa không thuộc về lãnh thổ của nhà Minh.

Cũng từ nội dung được ghi chú tại khu vực biển Đông trên tấm bản đồ này đã cho chúng ta thấy rằng tư tưởng Hoa Di (Đại Hán) là truyền thống của các triều đại Trung Quốc (Hán, Đường, Tống, Minh, …) từ ngàn xưa.

Còn tên Vạn Lý Trường Sa đầu tiên xuất hiện vào năm nào và ai là tác giả ? Đây tiếp tục là nhiệm vụ của các học giả chuyên nghiên cứu về các vấn đề của Biển Đông.

Nhìn lại quá trình hoạt động của Matteo Ricci ở Trung Quốc và vai trò của ông đối với triều Minh lúc bấy giờ, tấm bản đồ thế giới mà Matteo Ricci đã vẽ sẽ là một điều lý thú cho những ai nghiên cứu mối quan hệ quốc tế giữa các quốc gia Đông Nam Á và các quốc gia Đông Bắc Á với “Thiên triều” trong thế kỷ XVI – XVII.

Nguồn: FB Đinh Kim Phúc Phuc Dinh Kim
https://www.facebook.com/phuc.dinhkim.7/posts/2647000188852947