Sau ngày 30-4-1975

Sau ngày 30-4-1975

Trần Gia Phụng

21-4-2020

Sau ngày 30-4-1975, Bắc Việt Nam (NVN) chủ trương tiêu diệt triệt để tiềm lực NVN về nhân lực, về kinh tế và về văn hóa nhằm củng cố việc cưỡng chiếm Nam Việt Nam (NVN) và chận đứng Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) có thể hồi sinh ở NVN.

1.- TIÊU DIỆT NHÂN LỰC VNCH

Trước khi tấn công Sài Gòn, Ban Bí thư Trung ương đảng Lao Động (đảng CS) từ Hà Nội đưa ra chỉ thị số 218/CT-TW ngày 18-4-1975, quy định chính sách đối với công chức và sĩ quan VNCH bị bắt như sau: “Đối với sĩ quan, tất cả đều phải tập trung giam giữ quản lý, giáo dục và lao động; sau nầy tùy sự tiến bộ của từng tên sẽ phân loại và sẽ có chính sách giải quyết cụ thể. Những người có chuyên môn kỹ thuật [kể cả lính và sĩ quan] mà ta cần thì có thể dùng vào từng việc trong một thời gian nhất định, nhưng phải cảnh giác và phải quản lý chặt chẽ, sau nầy tùy theo yêu cầu của ta và tùy theo sự tiến bộ của từng người mà có thể tuyển dụng vào làm ở các ngành ngoài quân đội. Đối với những phần tử ác ôn, tình báo, an ninh quân đội, sĩ quan tâm lý, bình định chiêu hồi, đầu sỏ đảng phái phản động trong quân đội, thì bất kể là lính, hạ sĩ quan hay sĩ quan, đều phải tập trung cải tạo dài hạn, giam giữ riêng ở nơi an toàn và quản lý chặt chẽ.” (Huy Đức, Bên thắng cuộc, I: Giải phóng, Los Angeles: Osin Book, 2012, tr. 39.)

Sau ngày 30-4-1975, nhà cầm quyền CS kêu gọi sĩ quan VNCH từ cấp thiếu úy trở lên, công chức cao cấp, và cán bộ chuyên viên VNCH ở các thành phố và các tỉnh thành từ Quảng Trị vào đến Cà Mau, trình diện và chuẩn bị lương thực, để học tập chính sách của “chính phủ cách mạng” trong ba ngày, hay một tuần hay một tháng tùy cấp bậc và tùy địa phương. Khi đại đa số sĩ quan, công chức VNCH trình diện (còn có một thiểu số người bỏ trốn), thì tất cả bị đưa đi giam giữ trong các trại tù gọi là trại học tập cải tạo trên các vùng rừng thiêng nước độc, không tuyên án và không thời hạn.

Theo bộ Encyclopedia of the Vietnam War, sau biến cố năm 1975, số lượng sĩ quan, công chức và cán bộ VNCH bị bỏ tù khoảng hơn 1,000,000 người trên tổng dân số NVN lúc đó khoảng 20 triệu người. Tất cả bị giam tại trên 150 trại giam; theo đó, khoảng 500,000 được thả về trong 3 tháng đầu; 200,000 bị giam từ 2 đến 4 năm; 250,000 bị giam ít nhất 5 năm, và năm 1983 (tức sau 8 năm) còn khoảng 60,000 người bị giữ lại.(Spencer C. Tucker, Encyclopedia of the Vietnam War, a Political, Social, and Military History, Vol. two, Santa Barbara, California: 1998, tr. 602.) Một tác giả trong nước cho biết rằng: “Ở Sài Gòn, 443,360 người ra trình diện, trong đó có hai mươi tám viên tướng, 362 đại tá, 1,806 trung tá, 3,978 thiếu tá, 39,304 sĩ quan cấp úy, 35,564 cảnh sát, 1,932 nhân viên tình báo các loại, 1,469 viên chức cao cấp trong chính quyền, 9,306 người trong các đảng phái được cách mạng coi là “phản động”. Chỉ 4,162 người phải truy bắt trong đó có một viên tướng và 281 sĩ quan cấp tá.” (Huy Đức, sđd. tr. 37.)

Trong số trên 1,000,000 người bị tù sau năm 1975, theo những cuộc nghiên cứu ở Hoa Kỳ và Âu Châu, có khoảng 165,000 nạn nhân đã từ trần trong các trại tù “cải tạo”. (Anh Do & Hieu Tran Phan, “Millions of lives changed forever with Saigon’s fall”, nhật báo Orange County Register, Chủ Nhật, 29-4-2001, phụ trang đặc biệt về ngày 30-4, tt. 2-3.)

2.- TIÊU DIỆT KINH TẾ VNCH

Song song với việc tiêu diệt nhân lực VNCH, CS tiêu diệt luôn tiềm lực kinh tế VNCH, để VNCH không thể hồi sinh. Đầu tiên, CS chiếm ngay số vàng của VNCH ở trong và ngoài nước. Ở trong nước, sau ngày 30-4-1975, từ đầu tháng 5-1975, CS kiểm kê 16 tấn vàng trong Ngân hàng Quốc gia ở Sài Gòn. (Google: Huỳnh Bửu Sơn “16 tấn vàng của Việt Nam Cộng Hòa”.) Lúc đó, CS tung tin thất thiệt rằng tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã đem số vàng nầy ra nước ngoài. Ở ngoài nước, trước ngày 30-4-1975, VNCH ký gởi 5,7 tấn vàng tại ngân hàng Bank fur Internationnalen Zahlung Sausgleih ở Thụy Sĩ. Số vàng được đưa qua Tiệp Khắc (lúc đó còn CS), và CSVN nhờ Tiệp Khắc bán để lấy ngoại tệ. (Wikipedia.)

Về mặt xã hội, CS áp dụng kế hoạch kinh tế mới, nói là để phân phối lại dân số sau chiến tranh, nhưng thực tế là nhắm mục đích phân tán dân thành phố, buộc dân những thành phố lớn, như Sài Gòn, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ đi về nông thôn, để cướp nhà cửa và tài sản của họ ở thành phố. Những gia đình có thân nhân bị bắt đi học tập cải tạo phải đi kinh tế mới, thì được hứa hẹn thân nhân sẽ được sớm trở về đoàn tụ gia đình. Những quân nhân, công chức, cán bộ chế độ VNCH nếu được thả ra từ các trại tù cải tạo, đều không được về ở các thành phố đã sinh sống trước đây, mà phải đi kinh tế mới. Những gia đình tư sản bị kiểm kê, dù là tư sản mại bản hay tư sản dân tộc, đều phải đi kinh tế mới. Mục đích của CS là trả thù, trù dập, cướp của, cướp nhà.

Khi đến vùng kinh tế mới, mỗi gia đình (CS gọi là hộ khẩu) được cấp 500m2 đất để sản xuất riêng. Ngoài ra, những người trong độ tuổi lao động, không đau ốm phải tham gia sản xuất trong hợp tác xã, làm công tính điểm và được trả lương theo số điểm. (Lâm Văn Bé, “Những biến động dân số Việt Nam”, tạp chí Truyền Thông, số 37-38, Montréal: 2010, tt. 132-133.)

Theo tài liệu trong nước: “Chỉ trong vòng vài năm, chúng ta [nhà cầm quyền CS] đã đưa được 1,300,000 người từ các nơi trong cả nước đến các vùng kinh tế mới và đã khai hoang, phục hóa được ngót một triệu hecta đất. Ủy ban nhân dân thành phố Sài Gòn vạch kế hoạch đưa trên trên một triệu đồng bào không trực tiếp lao động sản xuất đi xây dựng vùng kinh tế mới. Hơn một năm sau, đến tháng 6-1976, Sài Gòn đã tổ chức cho gần 30 vạn dân đi các vùng kinh tế mới, lập thành 94 xã, trong đó 82 xã ổn định về đất canh tác và thổ cư.” (Lê Mậu Hãn, Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư, Đại cương lịch sử Việt Nam, tập III, Hà Nội: Nxb. Giáo Dục, 2001, tr. 282.) Một thống kê khác cho thấy từ năm 1976 đến năm 2000 (25 năm), có 5 triệu người bị cưỡng bách di dân đi vùng kinh tế mới. (Lâm Văn Bé, bđd. tr. 134.)

Tuy nhiên, sau một thời gian ở vùng kinh tế mới, nhiều người kiếm cách trở về thành phố. Kế hoạch kinh tế mới không thành công, ngoài việc nhà nước CS cướp nhà cửa, tài sản các nạn nhân.

Ngày 10-9-1975, CS mở chiến dịch đánh “tư sản mại bản” (comprador) đợt 1. Theo CS, tư sản mại bản là những nhà đại tư bản trước năm 1975, chuyên xuất nhập cảng hoặc làm ăn buôn bán với người ngoại quốc, mà CS tố cáo giới nầy đã dựa vào thế lực nước ngoài để bóc lột dân chúng.

Ngày 22-9-1975, CS ra lệnh đổi tiền, 500 đồng tiền VNCH đổi lấy 1 đồng tiền Ngân hàng Việt Nam tức loại tiền mới của nhà cầm quyền CS. (Viện Kinh tế – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 45 năm kinh tế Việt Nam (1945-1990), Hà Nội: Nxb. Khoa Học Xã Hội, 1990, tr. 237.) Mỗi gia đình (hộ khẩu) được đổi tối đa 200 đồng mới. Tiền cũ còn dư phải gởi vào ngân hàng, rút ra và đổi từ từ.

Đây là một biện pháp nhằm cướp đoạt tài sản và làm nghèo dân chúng NVN. Lúc đó, xuất hiện câu ca dao: “Năm đồng đổi lấy một xu,/ Người khôn đi học [tập], thằng ngu làm thầy.” [Cộng sản đổi tiền lần thứ hai ngày 3-5-1978 và đổi tiền lần thứ ba ngày 14-9-1985. (Viện Kinh tế, sđd. tt. 237, 240.)]

Nhà nước CS mở chiến dịch đánh tư sản mại bản đợt 2 bắt đầu ngày 4-12-1975, nhắm vào những nhà tư sản nhỏ hơn, nhưng vẫn còn giàu có. Vào đầu năm 1978, CS mở chiến dịch đánh “tư sản dân tộc” do Đỗ Mười cầm đầu, gọi là “công tư hợp doanh”. Tư nhân phải đem cơ sở sản xuất hay kinh doanh riêng của tư nhân, vào hợp doanh với nhà nước. Tất cả doanh gia đều phải vào công tư hợp doanh (CTHD) mới được kinh doanh.

Nói là “công tư hợp doanh”, nhưng nhà nước không bỏ vốn, chỉ đứng ra quản lý, điều hành. Người chủ cũ (tư nhân) sẽ là một thành viên và lãnh lương theo quy định chức vụ hay cấp bậc. Nếu bị cất chức, chủ cũ xem như mất trắng tài sản của mình. Dân chúng mỉa mai gọi CTHD là “Của Tôi Họ Dành”.

Ở nông thôn thì CS thực hiện nền kinh tế chỉ huy nhanh chóng hơn, chủ trương “ruộng đất thuộc quyền sở hữu của toàn dân, nhưng do nhà nước quản lý.” Tất cả ruộng đất tư nhân đều bị quốc hữu hóa và nông dân, điền chủ đều phải vào hợp tác xã nông nghiệp hoàn toàn do cán bộ CS điều hành.

3.- TIÊU DIỆT VĂN HÓA MIỀN NAM

Chủ trương nhuộm đỏ toàn dân NVN, CS buộc toàn dân học tập chủ nghĩa CS. Cộng sản xóa bỏ nền văn hóa, giáo dục VNCH, bãi bỏ nền giáo dục nhân bản, dân tộc và khai phóng ở miền Nam, thay bằng nền giáo dục phục vụ chế độ và đảng CS, nhằm đào tạo những con người hồng hơn chuyên, mang tính đảng nhiều hơn chuyên môn, biết vâng lời đảng CS hơn là biết suy nghĩ. Học sinh phải học thuộc lòng “Năm điều” do Hồ Chí Minh đề ra là: “Yêu tổ quốc, yêu đồng bào. Học tập tốt, lao động tốt. Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt. Giữ gìn vệ sinh thật tốt. Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm.” Không có điều nào dạy trẻ em có hiếu với cha me, thương yêu anh chị em, lễ độ, nhân ái và tín nghĩa với mọi người, tức không dạy đức dục cho trẻ em, vì CS chủ trương vô gia đình, vô tổ quốc. Vào năm cuối trung học, học sinh phải học và thi tốt nghiệp môn chủ nghĩa CS, lý thuyết Mác-Lê, lịch sử đảng CS Việt và CS thế giới. Sau khi tốt nghiệp, môn học nầy chẳng ứng dụng được gì vào đời, nên học sinh không thích học, thầy giáo không thích dạy.

Dưới chế độ CS, không có tự do ngôn luận. Cộng sản kiểm soát toàn bộ các sinh hoạt văn hóa, điều khiển chặt chẽ ngành truyền thông, Báo chí đều do cơ quan đảng xuất bản. Cộng sản đốt hết sách báo NVN mà CS cho là đồi trụy, kiểm duyệt kỹ càng các tác phẩm nghiên cứu, văn chương, ca nhạc…

Về tôn giáo, CS chủ trương vô tôn giáo, và CS muốn tiêu diệt các tôn giáo nhưng không nổi, nên CS tìm cách kiểm soát, ngăn chận các sinh hoạt tôn giáo, hoạt động các tu sĩ, và lập ra các giáo hội quốc doanh do CS điều khiển, gây chia rẽ trong nội bộ các tôn giáo. Cộng sản không thể lập giáo hội Công giáo quốc doanh, cũng không ngăn chận được hoạt động các giáo sĩ, nên CS bí mật tìm cách phá hoại, khủng bố, và mua chuộc một số giáo sĩ. Với các hệ phái Tin Lành, các hội thánh riêng lẻ, độc lập, tự trị, hoạt động nhiều ở miền núi và cao nguyên vắng vẻ, nên CS theo dõi, hạn chế, uy hiếp hay bắt giam các giáo sĩ.

KẾT LUẬN

Đảng CS cưỡng chiếm được NVN, nhưng CS không chinh phục được lòng dân. Chủ trương tiêu diệt tiềm lực VNCH sau ngày 30-4-1975 nói chung là thất bại. Đúng như câu đồng dao dân chúng truyền tụng “Cộng Hòa chôn mà chưa chết”. Ngoại trừ việc CS chận đứng các lực lượng đối kháng, giữ vững chế độ CS, còn lại CS đều thay đổi theo VNCH. Đảng CS chỉ còn giữ cơ cấu độc tài đảng trị để duy trì quyền lực. Cũng đúng như dân chúng nói “Cộng sản chết mà chưa chôn”.

Trong khi đó, các trại tù cải tạo của CS không cải tạo được ai, mà chỉ gây thêm hận thù. Ra khỏi tù, ai cũng tìm cách vượt biên hoặc theo các chương trình ODP hay HO ra nước ngoài. Ra khỏi nước, người Việt tập hop thành những cộng đồng chống cộng. Ở trong nước, dầu bị CS kềm kẹp khắc nghiệt, vẫn xuất hiện nhiều nhà tranh đấu, đòi tự do dân chủ, chống CSVN, và chống mưu đồ xâm lăng của Tàu cộng.

Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 19-9-2018 ở Hòa Bình, tù nhân lương tâm Đào Quang Thực tuyên bố lời cuối cùng sau khi bị kết án 14 năm tù giam, 5 năm quản chế: “Tôi đấu tranh cho tự do dân chủ và quyền con người cho đất nước tôi. Tôi đấu tranh cho đất nước tôi được sống trong môi trường trong lành. Tôi không ân hận.” (http//www.facebook.com/VOATiengViet) (Đài phát thanh VOA ngày 19-9-2018).

Về kinh tế, chính sách kinh tế chỉ huy của CS không kích thích nổi sự phát triển kinh tế, nên đất nước suy sụp. Lo sợ dân chúng nổi dậy, năm 1986, CS bắt đầu “đổi mới” kinh tế, bãi bỏ kinh tế chỉ huy, trở lại nền kinh tế thị trường, nay do CS kiểm soát, gọi là kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Kinh tế chỉ huy là nền tảng của chủ nghĩa CS. Bãi bỏ kinh tế chỉ huy có nghĩa là chủ nghĩa CS hoàn toàn thất bại.

Về văn hóa, trước 30-4-1975, NVN vốn chủ trương văn hóa dân tộc cổ truyền, mở cửa đón nhận tinh hoa văn hóa thế giới. Sau năm 1975, CS truyền bá văn hóa Mac-xít, nhưng vô hiệu. Văn hóa cổ truyền vả tinh thần VNCH vẫn tiềm tàng trong dân chúng. Người BVN, kể cả toàn bộ cán bộ CS cao cấp, chuyển đổi hoàn toàn theo nếp sống văn minh và văn hóa NVN, ngoại trừ duy trì tổ chức độc tài CS.

Trong chiến tranh, CS đưa ra chiêu bài chống Mỹ cứu nước. Nay CSVN lại rước Mỹ giúp nước. Ngày 3-2-1994, Hoa Kỳ bỏ cấm vận Việt Nam và bình thường hóa ngoại giao ngày 11-7-1995. Từ đó, các nước tư bản bắt đầu vào Việt Nam đầu tư. Tuy nhiên, do CS không có cán bộ đủ năng lực quản lý nền kinh tế thị trường, nên tham nhũng tràn lan khắp nước.

Trong thời gian nầy, ngành INTERNET xuất hiện đúng lúc, làm bộc phát thông tin trên mạng lưới toàn cầu. Những bài viết của người Việt trong và ngoài nước phô bày thực trạng độc tài đảng trị, lệ thuộc Tàu cộng, kinh tế yếu kém, bóc lột, tham nhũng, tệ nạn xã hội … đều được đưa lên internet.

Để duy trì quyền lực, CS duy trì độc đảng, độc quyền chính trị, văn hóa, truyền thông, với nền giáo dục phục vụ CS, và chỉ nới lỏng dần dần những luật lệ không quan trọng. Trộm cướp, đĩ điếm bộc phát, xã hội xáo trộn. Dân chúng không còn sợ nhà nước CS như trước, đua nhau khiếu kiện trên toàn quốc, và tham gia những cuộc biểu tình chống Trung Cộng đe dọa Biển Đông. Nhà cầm quyền CS đàn áp biểu tình, đàn áp tinh thần yêu nước của dân chúng, làm lộ rõ thêm bộ mặt phản quốc của CS.

Trong lúc đang khó khăn, thì thiên tai ập đến. Đồng bằng sông Cửu Long từ từ nhiễm mặn, khô cằn nứt nẻ. Vựa lúa của dân tộc bị đe dọa. Ngoài nước, cuộc thương chiến Hoa Kỳ-Trung Cộng từ 2018; dịch siêu vi khuẩn Vũ Hán (Trung Cộng) bùng phát đầu 2020, ảnh hưởng đến Việt Nam, vì kinh tế Việt Nam gắn liền với kinh tế Trung Cộng. Nếu tình trạng nầy kéo dài, Việt Nam có thể sẽ bị khủng hoảng trầm trọng.

Ngày nay, sau 45 năm thống trị Việt Nam, dầu CS tuyên truyền thế nào đi nữa, thì dân chúng cũng không còn tin tưởng CS. Kinh tế suy thoái, ngân quỹ cạn kiệt, nợ nần tràn ngập đến hồi phá sản, đàn anh Tàu Cộng liểng xiểng, ghế dựa của CSVN lung lay.

Trước khi Liên Xô sụp đổ năm 1991, CSVN đã nhảy trước tại hội nghị Thành Đô tháng 9-1990, bỏ Liên Xô chạy theo Trung Cộng để tự cứu. Ngày nay, Trung Cộng đang khó khăn lụn bại, và lâm nguy, không còn dựa hơi được nữa, là cơ hội để CSVN nhanh chân thoát Trung, nhảy thêm bước nữa.

Có hai tấm gương trước mắt: 1) Từ năm 1990, các nước Đông Âu vĩnh viễn từ bỏ các chế độ CS. Chỉ sau vài thập kỷ, các nước Đông Âu hầu như bắt kịp các nước Âu Mỹ. 2) Hiện nay, trong nước, sinh viên, học sinh Việt Nam du học nước ngoài, đều chọn du học các nước Âu Mỹ. Trên 38,000 du học sinh Hoa Kỳ. Đó là chưa kể du học Anh, Pháp, Nhật, Úc. Chỉ một số rất ít được học bỗng mới qua Trung Cộng. Tuổi trẻ rất sáng suốt. Chuyến tàu đổi mới do sinh viên cầm lái đã khởi động. Các toa dân chúng đã đầy ắp. Chỉ toa dành cho lãnh đạo CS còn trống. Thiên thời đã sẵn sàng. Cơ hội không phải dễ có.

Vậy lãnh đạo CSVN hãy can đảm nhanh chân theo con em mình kẻo trễ. Còn hơn là lú lẫn ôm mãi cái chủ nghĩa CS lỗi thời, giữ chút hư danh và quyền lợi, cản đường dân tộc, lại lệ thuộc bắc phương, bị bắt nạt trên Biển Đông. Lâu lâu, Trung Cộng ngứa tay tát tai vài cái giải trí. Thật nhục nhã mà vẫn ngậm miệng ăn tiền. Rồi sẽ có lúc không tránh khỏi số phận Nicolae Ceausescu (Romania) chập chờn đâu đó!

(Texas, tháng 4-2020)

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Cái Bình Thủy Nước Sôi & TBT (to be) Trần Quốc Vượng

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Cái Bình Thủy Nước Sôi & TBT (to be) Trần Quốc Vượng

Nguồn: RFA

Thứ Năm, 04/16/2020   tuongnangtien

Nếu bạn để chính phủ điều hành sa mạc Sahara, trong 5 năm chúng ta sẽ thiếu cát.

Milton Friedman

Tôi sống hơi dai, trải dài từ thế kỷ này qua thế kỷ khác nên đã có dịp đưa tiễn khá nhiều vật dụng tân kỳ (máy đánh chữ, máy fax, máy ảnh chụp phim, radio, akai cassette, DVD …) về nơi an nghỉ cuối cùng. Cứ tưởng như thế là tất cả đều đã mồ yên mả đẹp, và sẽ tiêu diêu nơi miền cực lạc nhưng thực tế lại không hẳn thế.

Bữa rồi, đang liếc mạng tôi chợt thấy loáng thoáng mấy từ (“các phích, bình thủy nước sôi”) trong một stt ngắn của FB Nguyễn Đình Bổn mà không khỏi ngạc nhiên:

Chuyện… không thể tin được tại một bệnh viện lớn nhứt miền Bắc! Bênh viện Bạch Mai, hiện đang là ổ dịch số một tại VN, và đang lây nhanh ra cộng đồng, dự báo những ngày tới sẽ bùng phát mạnh hơn. Nguyên nhân được cho là từ… các phích (bình thủy) nước sôi mà dân phải mua từ công ty Trường Sinh, mà công ty này cung cấp dịch vụ cho khoa Dinh dưỡng.Tôi thực sự không hiểu sao cái thời mà mọi cán bộ đều dùng cụm từ “chúng ta đang ở thời kỳ…4.0” mà cái bệnh viện số một la mã này vẫn… đun nước, rót vô bình để bán cho bệnh nhân theo cách 4.. thủ công như vậy?

Trời! Phích nước (thermos) hay còn gọi là bình thủy được phát minh từ năm 1892, và trở thành mặt hàng thương mại thông dụng trên toàn cầu từ đầu thế kỷ thứ XX lận. Đã hơn trăm năm qua rồi, bây giờ thì còn đào đâu ra được cái thứ đồ antique đó nữa – hả Giời?

Ở chỗ nào khác thì không biết, chớ ở miền Nam VN thì cái phích là một vật dụng  quen thuộc trong mọi gia đình cho tới khoảng giữa thập niên 1960. Đến thời điểm này thì không chỉ bếp điện mà cả bếp ga cũng đã tràn lan nhiều nơi. Nấu một ấm nước sôi chỉ cần vài phút đồng hồ thôi nên cái thermos đã trở thành demodée, và đã đi vào nghĩa địa lâu lắm rồi mà. Sao nó có thể lại đội mồ sống dậy (và sống hiên ngang) giữa một cái bệnh viện lớn nhất Hà Nội, vào Thế Kỷ XXI được vậy cà?

FB Nguyễn Đình Bổn cho biết thêm:

Nếu nằm viện, người nhà bệnh nhân sẽ phải đăng ký nhận nước sôi hàng ngày. Phải trả tiền “thế chân” 100.000 đồng/phích, mỗi lần thay nước 5.000 đồng. Ngày thay 1-2 lần. Nếu ra viện, trả lại phích thì lấy lại được tiền thế chân! Đây là bệnh viện lớn, luôn có bệnh nhân trên số ngàn, riêng việc này nhân lên là biết. Và cũng chính vì phải luân phiên đi tới đi lui đổi trả cho hàng ngàn người, các nhân viên công ty Trường Sinh một khi nhiễm bệnh sẽ trở thành con thoi, đi khắp các khoa, phòng, tiếp xúc mọi nơi.

Té rứa!

Rứa mới biết không phải mọi thứ cổ lỗ đều bị thiên hạ vứt vào thùng rác. Hoá ra đời không thiếu chi những người hoài cổ hay hiếu cổ, chứ chả riêng gì Bà Huyện Thanh Quan. Thường Trực Ban Bí Thư (& TBT to be) Trần Quốc Vượng là một người như thế.

Ngày 9-03-2020 vừa qua, nhân vật này thay mặt bộ chính trị, ban hành kết luận “tiếp tục thực hiện Nghị quyết T.Ư 5 khóa IX về đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, hợp tác xã.” Ông khiến cho lắm người hốt hoảng, và trong cơn hoảng hốt không ít kẻ đã “lỡ lời” xúc phạm đến những vị lãnh đạo cấp cao:

 Phạm Minh Vũ: “Thế hệ Vượng, một thế hệ vứt đi!”

 Ngô Trường An: “Đ* móa! Kinh tế tập thể thì đã từng thực hiện hàng chục năm rồi, dân từng đói rã họng rồi, đổi mới gì nữa mấy cha? Cướp thì nói cướp đi. Chiêu này xưa rồi Diễm!”

Mạc Văn Trang: “Cái kinh tế tập thể là thiết yếu theo nghị quyết của Bộ Chính trị làm cho nhiều người rất là sợ hãi. Bởi vì cái chữ ‘kinh tế tập thể, hợp tác xã’ ở Việt Nam diễn ra từ năm 1960 cho đến những năm 1986. Trong gần 30 năm, nó khủng khiếp quá. Người ta nghĩ rằng hợp tác xã, kinh tế tập thể là khủng khiếp lắm, vì kết quả đã làm cho toàn dân phải đói.”

Nguyễn Tiến Dân: “Bế tắc về Lý luận, tất yếu, sẽ thất bại trên thực tế. Mọi giải pháp ‘hay ho’ nhất đã được đưa ra từ cái bọn ngạo mạn, tự mạo nhận là ‘đỉnh cao trí tuệ của nhân loại’. Trong đó, có cả ‘người giời’ Phú Trọng. Giờ, thất bại toàn tập, đành phải quay trở về với cái máng lợn sứt vậy.”

Phạm Thành :“Cái hợp tác xã, sau gần 30 năm tồn tại, đến cứt nát cũng không còn để phân phối, nếu năm 1986 mà không bỏ nó đi, không cho nông dân mượn lại đất để sản xuất thì 1/3 người dân Việt Nam đã phải bỏ mạng vì đói ăn, rách mặc rồi. Trần Quốc Vượng, tên cộng sản lại giống độc ác.”

Lê Công Định:“Đảng cầm quyền Việt Nam vẫn đang điều hành nền kinh tế hiện đại bằng tư duy của các lãnh tụ Cộng sản thuộc thế hệ hơn 100 năm trước.”

Ơ hay! Thế cái thremos không đã từng xuất hiện cả trăm năm trước à? Trăm năm sau nó vẫn sống hùng (sống mạnh) ngay giữa Thủ Đô Của Lương Tâm Nhân Loại, và vẫn có vai trò tích cực đấy thôi! Đồ cổ nếu biết xử dụng đúng cách thì vẫn hữu dụng như thường. Phải đặt mọi thứ – từ cái Nghị quyết T.Ư cho đến cái thermos – trong bối cảnh của nó thì mới hiểu được mọi chuyện một cách ngọn ngành!

 Ai chả biết là đặt những máy lọc nước nóng/lạnh là chuyện rất đơn giản và tiện lợi nhưng làm thế thì mất đi một nguồn lợi đáng kể cho rất nhiều người. Tương tự, mô hình kinh tế tập thể/hợp tác xã tuy không hiệu quả nhưng mức lại quả thì rất hấp dẫn, và chả gây thiệt hại cho ai cả:

Chục tỉ chứ ngàn tỉ khó đòi cũng chả khiến ai phải chịu trách nhiệm gì ráo trọi, và vì cha chung nên cũng chả ai buồn khóc. Chủ trương “phát triển kinh tế tập thể/hợp tác xã” tuy sẽ lại đưa kinh tế quốc gia vào cái vòng (bần cùng) lẩn quẩn nhưng cũng sẽ giúp cho xã hội toàn trị ổn định như thời xa xưa cũ.

Với kiểu cơ cở hạ tầng kiểm soát toàn tập này thì mới có thể ngang nhiên xếp sẵn ghế ngồi (trên đầu thiên hạ) trước khi bầu bán và “các anh ở trên” mới có thể tiếp tục múa gậy vườn hoang (“hiến pháp đứng sau cương lĩnh của đảng” , “bộ công an hiệp đồng với quân đội góp phần bảo vệ đảng bảo vệ chế độ”) mà không bị chúng vả cho vỡ mồm ra.

Tiện lợi mọi mặt và mọi đường như thế nên với bất cứ đồng chí lãnh đạo nào thì “phát triển kinh tế tập thể” cũng đều là “xu thế tất yếu” cả, chứ chả riêng chi Tổng Bí Thư (to be) Trần Quốc Vượng. Dưới chế độ toàn trị hiện nay ở Việt Nam thì con chó nào mà không ăn cứt!

VNTB – Dư luận viên: Từ “chuyên gia bút chiến” đến bị coi là bò đỏ (kỳ 2)

VIETNAMTHOIBAO.ORG

VNTB – Dư luận viên: Từ “chuyên gia bút chiến” đến bị coi là bò đỏ (kỳ 2)

Kỳ 1: Dư luận viên: Từ “chuyên gia bút chiến” đến bị coi là bò đỏ Nguyễn Tường Thuỵ (VNTB) – Nhiệm vụ của lược lượng 47 và DLV là tương tự nhau, tức là cùng đấu tranh với “thế lực thù địch” và bảo vệ chế độ. Hai lự…

4 nhân vật dân sự xuất sắc của Việt Nam Cộng Hòa có thể bạn chưa biết

 

4 nhân vật dân sự xuất sắc của Việt Nam Cộng Hòa có thể bạn chưa biết

 
Đồ họa: Luật Khoa.

Đồ họa: Luật Khoa.

Thật vậy, ngay sau cuộc đảo chánh Ngô Đình Diệm năm 1963, hầu hết những cái tên đáng kể trên chính trường miền Nam Việt Nam đều có xuất thân nhà binh. Từ Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Dương Văn Minh cho đến Trần Thiện Khiêm, Lê Minh Đảo hay Nguyễn Khánh.

Việc tập trung vào những nhân vật này làm cho bức tranh về chính trị Việt Nam Cộng hòa có phần không hoàn chỉnh. Nhấn mạnh quá nhiều vào các nhóm quân sự kiểm soát chính quyền khiến góc nhìn về chính thể và môi trường chính trị của nền cộng hòa miền Nam Việt Nam có phần không lành mạnh, dễ bị bóp méo. Từ đó, bài viết, tư liệu dành cho các lãnh đạo dân sự thật sự của Việt Nam Cộng hòa cũng không còn bao nhiêu. 

Dưới đây là bốn cái tên bạn có thể cân nhắc cho các đối thoại chính trị mới mẻ hơn về Việt Nam Cộng hòa.  

Giáo sư Nguyễn Văn Bông 

Nguyễn Văn Bông từng là một cái tên đầy triển vọng của chính trường miền Nam. Ông không được mấy ai ngày nay ở Việt Nam biết đến. Nếu không có một bài báo chính thống trên tờ Dân Việt phát hành hồi năm 2011 kể về chuyện biệt động thành đã ám sát ông vào năm 1971 thì có lẽ càng ít người biết đến ông hơn nữa.

Sinh năm 1929 tại Gò Công, Tiền Giang trong một gia đình thị dân nghèo, Nguyễn Văn Bông khác biệt với hầu hết các chính trị gia có tiếng của Việt Nam Cộng hòa, vốn đều xuất thân từ các gia đình danh thế, không tư bản thì cũng đại điền chủ. Thông tin về đời tư và tuổi trẻ của Nguyễn Văn Bông hiện nay rất hiếm, và đa phần chỉ còn có thể tìm thấy trong quyển hồi ký “Autumn Cloud: Vietnam War Widow to American Activist”. Quyển này do chính bà Lê Thị Thu Vân, vợ của ông Bông viết, nên có thể xem là một văn bản đáng tham khảo.

Ông bà Giáo sư Nguyễn Văn Bông và các con - Sài Gòn 1964. Ảnh: VOA/Chưa rõ nguồn.
Ông bà Giáo sư Nguyễn Văn Bông và các con – Sài Gòn 1964. Ảnh: VOA/Chưa rõ nguồn.

Nguyễn Văn Bông tốt nghiệp loại ưu cấp cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ tại trường đại học danh tiếng của Pháp Sorbonne Université, chuyên ngành công pháp và sau đó là luật học. Ông trở về Việt Nam vào đầu năm 1963 và trước tiên tham gia vào hoạt động giảng dạy tại Học viện Quốc gia Hành chánh, trung tâm đào tạo nhân viên công quyền cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Trong quá trình giảng dạy, tầm nhìn của ông thu hút được đông đảo sự ủng hộ của sinh viên, và trở thành nền tảng cho các hoạt động chính trị của ông sau này. 

Cuối năm 1963, chính quyền hậu Ngô Đình Diệm quyết định bổ nhiệm ông làm Viện trưởng Học viện này. 

Đến năm 1968, khi cả miền Nam Việt Nam chuẩn bị cho đợt tổng tuyển cử đầu tiên của nền Đệ nhị Cộng hòa, Nguyễn Văn Bông thành lập Phong trào Quốc gia Cấp tiến (Progressive National Movement), với sự hậu thuẫn chính trị đông đảo từ sinh viên, công chức và giới trí thức miền Nam Việt Nam. 

Quan điểm chính trị của phong trào thì còn nhiều tranh cãi, song cũng thể hiện được tính độc lập của phong trào này. 

Một số ghi nhận ngắn như của New York Times thì cho rằng phong trào ủng hộ chính phủ đương quyền của Nguyễn Văn Thiệu, nhìn chung có thể vì Nguyễn Văn Bông có thái độ chính trị chống Cộng khá rõ ràng. Một số tài liệu khác, như trong Di cảo cố Giáo sư Nguyễn Văn Bông ghi nhận lại, thì đường lối mà ông Bông đặt ra là gầy dựng một chính quyền nhân dân phổ quát và dân chủ, hạn chế và từ từ đi đến triệt tiêu chính quyền quân quản đang tồn tại ở miền Nam Việt Nam. Vậy nên cũng có thể xếp phong trào vào nhóm đối lập. 

GS Nguyễn Văn Bông (phía trước) GS Nguyễn Văn Tương,(bên phải) và GS Tạ Văn Tài đên trao bằng Tiến sĩ cho một sinh viên Trường Luật. Ảnh: VOA/Chưa rõ nguồn.

Dù không trực tiếp tham gia tranh cử năm 1968 – 1969, Phong trào Quốc gia Cấp tiến phát triển mạnh mẽ và trở thành một thế lực chính trị đáng nể. Đây là lần đầu tiên một phe nhóm chính trị có ảnh hưởng tại miền Nam Việt Nam không lệ thuộc quá nhiều vào tôn giáo, vùng miền hay là di sản kế thừa từ các chính đảng già cỗi từ thời kháng Pháp. 

Thành công của phong trào khiến sau đó Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu mời Nguyễn Văn Bông làm thủ tướng cho nội các mới. Tại thời điểm này, sau khi thực hiện thành công chính sách “Người cày có ruộng”, Nguyễn Văn Thiệu đang mong muốn mở rộng nền tảng hậu thuẫn và tính chính danh cho chính quyền mới, dần dần dân sự hóa và ổn định môi trường chính trị Việt Nam Cộng hòa. 

Đây cũng là lý do Việt Cộng ám sát ông vào cuối năm 1971, lúc ông chỉ mới 42 tuổi. 

Một số tác phẩm mà giáo sư Nguyễn Văn Bông để lại có thể kể đến tham luận “Đảng phái và Đối lập chính trị”, và đặc biệt nhất là quyển “Luật Hiến pháp và Chính trị học” – sách gối đầu giường một thời của sinh viên Học viện Quốc gia Hành chánh VNCH, hiện đã được trang Pro&Contra của nhà văn Phạm Thị Hoài số hóa

Bộ trưởng Cao Văn Thân 

Sinh năm 1934, Cao Văn Thân là Bộ trưởng Bộ Cải cách Đất đai và Phát triển Nông nghiệp dưới thời Nguyễn Văn Thiệu. Ông gần như “tàng hình” trong sử sách chiến tranh Việt Nam, một phần vì bị lấn át bởi thông tin của giới tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa, một phần vì giới cầm quyền đương đại của Đảng Cộng sản Việt Nam tránh nói về các lãnh đạo dân sự của “Ngụy quyền”. Vì lẽ này, rất khó để thu thập đầy đủ thông tin về thân thế và lịch sử hoạt động chính trị của ông.

May mắn là trong các tài liệu rải rác tìm được, chúng ta có thể thấy dấu ấn của Cao Văn Thân trong các thành công bước đầu của chính quyền dân sự miền Nam Việt Nam. Cụ thể, Cao Văn Thân thi thoảng được báo chí phương Tây nhắc đến như là kiến trúc sư trưởng của chính sách “Người cày có ruộng” (Lands to the Tillers), cùng những nỗ lực không mệt mỏi của ông trong việc thi hành thành công chính sách quan trọng này. 

Ông Cao Văn Thân. Ảnh: Amazon.

Trong nghiên cứu có tên “Âm vang Đệ nhị Cộng hòa miền Nam Việt Nam” (Voices from the Second Republic of South Vietnam) của Giáo sư K. W. Taylor thuộc Đại học Cornell – sử gia hàng đầu về Việt Nam của Hoa Kỳ, Cao Văn Thân được ghi nhận là một trong những lứa lãnh đạo đời đầu được đào tạo luật lẫn kinh tế tại Hoa Kỳ, thay thế cho nhóm “cây đa cây đề” gốc Pháp trước đó. 

Ông cũng được khen ngợi là bộ óc sáng giá nhất trong nội các của Nguyễn Văn Thiệu thời kỳ bấy giờ. Hệ thống nhân sự, chương trình đào tạo và tiến trình thực hiện “Người cày có ruộng” là do ông chuẩn bị và soạn thảo trong gần nửa năm. Các chương trình phát triển như tăng cường xuất khẩu nông sản, bảo vệ an ninh lương thực, thử nghiệm giống lúa mới cũng như mô hình sản xuất 5 năm… đều do ông đề xướng và chịu trách nhiệm

Không phải là một nhà nghiên cứu, nhưng ông Thân có để lại quyển Agrarian reform in Vietnam, được xuất bản dưới sự bảo trợ của Hội đồng Đối ngoại Việt Nam Cộng hòa. Hiện quyển này còn có thể được tìm thấy trong Thư viện Quốc gia Australia. 

Theo thông tin hồi năm 2016 từ đài VOA, Bộ trưởng Cao Văn Thân sinh sống cùng gia đình tại Canada. Tuy vậy, gần đây báo Người Việt ở Mỹ có đăng một số cáo phó nói rằng ông qua đời ngày 14/4/2020 ở Montreal, Canada.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy

Nguyễn Ngọc Huy là một nhân vật chính trị gốc gác dân sự khác bị bỏ quên trong lịch sử chiến tranh Việt Nam. Ông là bạn đồng chí với giáo sư Nguyễn Văn Bông từ lúc là sinh viên học tập tại Pháp, và cũng là tác giả của quyển Di cảo cố Giáo sư Nguyễn Văn Bông.

Có thể gọi ông Nguyễn Ngọc Huy là một nhà nghiên cứu đi làm chính trị, do khối lượng bài viết và các công trình nghiên cứu đồ sộ của ông. Đáng tiếc là hầu hết chúng đều rơi vào lãng quên. 

Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy (giữa) và ông Nguyễn Cao Kỳ (phải). Ảnh: virtual-saigon.net.

Giáo sư Huy sinh năm 1924, tại Sài Gòn – Chợ Lớn, gốc ở Biên Hòa. Ông gia nhập Đảng Đại Việt Quốc dân Đảng thuộc xứ bộ Nam kỳ từ khi còn khá trẻ và tiếp tục trung thành với chính đảng này cho đến tận cuối thập niên 60, dù trải qua nhiều lần bị chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp và phải đi tị nạn chính trị

Sau khi lấy bằng Tiến sĩ Chính trị học ở Pháp vào năm 1963, ông trở về Việt Nam và cùng giảng dạy với GS Nguyễn Văn Bông tại Học viện Quốc gia Hành chánh, và trở thành một nhân vật lãnh đạo chủ chốt của Phong trào Quốc gia Cấp tiến. Cũng trong năm 1969, ông tự mình lập Đảng Tân Đại Việt và trở thành nhân vật chính trị đối lập với chính quyền quân quản. 

Ngoài các thành tựu chính trị mà ông gắn chung tên tuổi với GS Bông, GS Huy cũng cho thấy sức viết và khả năng đóng góp vượt trội về mặt tri thức – học thuật của mình cho phong trào dân chủ tại Việt Nam. 

GS Huy có một lượng kiến thức đáng nể về văn hóa và chính trị Trung Hoa, giúp ông có một cái nhìn đặc biệt hơn về địa chính trị, vai trò của văn hóa, chủ nghĩa dân tộc và tương lai của Việt Nam giữa hai làn đạn Chiến tranh lạnh. Một số tác phẩm của ông về Trung Quốc và văn hóa Đông phương có thể kể đến Đề tài người ưu tú trong tư tưởng chánh trị Trung quốc cổ thời, hay “Lễ trong tư tưởng chánh trị Trung Quốc cổ thời”. 

Trong quyển New Perceptions of the Vietnam War, do Tiến sĩ Nathalie Huynh Chau Nguyen làm chủ bút [Giáo sư của Trung tâm Úc học Quốc gia (National Centre for Australian Studies) của Đại học Monash, và là một trong những sử gia tiếng tăm nhất thế giới về chiến tranh Việt Nam], người ta nhận định Nguyễn Ngọc Huy là một trong những chiến lược gia lớn trong lịch sử Việt Nam đương đại, dù ông không có cơ hội biến chúng thành sự thật. 

Nguyễn Ngọc Huy là chủ bút của tờ nguyệt san Cấp tiến với hàng loạt các bài viết sắc sảo về tình hình chính trị miền Nam Việt Nam. Ông cũng là tác giả của tác phẩm “Sự tồn vong của một quốc gia” (Survival of a Nation). Tác phẩm này được ca ngợi là có thể hóa giải nhiều vấn đề của chính quyền miền Nam Việt Nam, và những cuộc đảo chính chống Ngô Đình Diệm dẫn đến sự thống trị của giới tướng lĩnh trong chính trường cũng sẽ không xảy ra nếu các nguyên tắc quản trị Việt Nam đặc trưng của ông được thừa nhận. Đáng tiếc là hiện nay chưa thể tìm ra bản thảo gốc đầy đủ của tác phẩm này. 

Sau 1975, GS Huy tị nạn ở Hoa Kỳ, và tiếp tục hoạt động đấu tranh dân chủ của mình với kỳ vọng có thể trở về Việt Nam và thúc đẩy các phong trào dân chủ bên trong Việt Nam. Tuy nhiên, ông mất sớm vào năm 1990. Quyển “The tradition of human rights in China and Vietnam, do ông cùng GS Stephen B. Young chấp bút, hiện vẫn còn được lưu hành. 

Nhà báo Từ Chung 

Từ Chung là biên tập viên, là cây bút của tạp chí Chính Luận, một trong những tờ báo độc lập được đón đọc và nể trọng nhất miền Nam Việt Nam thời điểm bấy giờ. 

Cũng như Bộ trưởng Cao Văn Thân, thông tin về thân thế và lịch sử hoạt động của Từ Chung gần như là không tồn tại. Tản mạn trong một vài bài viết trên mạng, như của Hoàng Hải Thủy nói về hai tờ Ngôn luận và Chính luận, Từ Chung có được nhắc đến như là thư ký của tờ báo, từng du học tại Thụy Sĩ. Nhưng còn thông tin về thân thế của ông thì gần như không có. 

Riêng tạp chí Chính Luận thì được bàn khá chi tiết trong nghiên cứu của tác giả Tran Nu Anh có tên  South Vietnamese Identity, American Intervention, and the Newspaper Chính Luận, đăng tải trên tạp chí khoa học Journal of Vietnamese Studies của Đại học California. Được thành lập vào năm 1963, và vận hành cho đến tận khi Sài Gòn thất thủ, Chính Luận là tờ tạp chí tồn tại lâu đời nhất và là tờ báo được đọc nhiều nhất. Trong năm 1974, tạp chí phát hành được hơn 13.000 bản mỗi ngày, cao nhất trong các báo miền Nam Việt Nam. 

Một trang báo Chính luận. Ảnh: sachhiem.net.
Một trang báo Chính luận. Ảnh: sachhiem.net.

Như nghiên cứu chỉ ra, tờ Chính Luận là diễn đàn lớn nhất bàn luận về danh tính Việt Nam giữa “cơn bão” văn hóa Mỹ và tiền Mỹ. Các bài viết đặt ra những câu hỏi về danh tính người Việt, vai trò của người Mỹ, rồi cả hình ảnh và vai trò của người phụ nữ trong sự giao thoa giữa phương Đông và phương Tây.

Song đồng thời, đây cũng là tờ báo hiếm hoi dành thời gian chỉ trích những sai lầm của chính phủ Việt Nam Cộng hòa lẫn hành vi khủng bố thường trực của phe Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam (hay Việt Cộng). 

Sự trỗi dậy của tờ báo phần lớn nhờ vào tầm nhìn và chủ trương của ông Đặng Văn Sung, một dân biểu có tiếng, và hoạt động quản trị của thư ký – biên tập viên Từ Chung. 

Cuối năm 1965, sau nhiều loạt bài chỉ trích hành vi tấn công dân thường và các hoạt động quân sự không phù hợp của phe Việt Cộng, Đặng Văn Sung và Từ Chung nhận tối hậu thư của phe này: một là im lặng – hai là chết. 

Vài ngày sau khi nhận được tối hậu thư, Từ Chung thay mặt tòa soạn viết thư trả lời phe Việt Cộng đăng trên Chính Luận. Theo ghi nhận của Vietnam Information Notes do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lưu trữ, Từ Chung khẳng định rằng Chính Luận là một tờ báo trung lập và từng vạch trần tất cả sai phạm của mọi bên trong chính trường miền Nam, song duy chỉ có Việt Cộng là đưa ra kiểu đe dọa vô pháp như vậy. Ông khẳng định: Các anh có thể giết chúng tôi, nhưng tinh thần của chúng tôi sẽ còn sống mãi. 

Ngày 30 tháng 12 năm 1965, sau hai năm quản lý tờ báo, Từ Chung bị Việt Cộng (nhiều khả năng là biệt động Sài Gòn) bắn chết ngay trước cửa nhà ông bằng bốn phát đạn.

Hết chiến tranh sao phải dạy “đả đảo”, “căm thù”?

Hết chiến tranh sao phải dạy “đả đảo”, “căm thù”?

Võ Ngọc Ánh

18-4-2020

Trước chiến tranh cha thoát ly đi làm du kích. Con về vùng tản cư tìm sự an toàn, được học hành.

Từng đêm con tránh đạn cha pháo kích từ trên núi xuống, trong căn cứ ra. Cũng lại qua màn đêm cha mò về bắn giết trong vùng tản cư. Nơi những người dân đang ngày đêm bảo vệ, dạy dỗ con. Nơi con cùng gia đình đang tìm sự an toàn.

Đâu chỉ pháo kích, phá đồn, cha còn phá cầu, phá đường, phá trường, phá tất cả những gì bên này cố gắng xây dựng lên để có một cuộc sống được bình thường.

Vì vậy, nơi con ở, dân gọi hành động của những người như cha là “giặc”.

Trường con học đêm qua vừa bị cha pháo kích. Tường đổ. Mái sập. Bàn ghế gãy chỏng chơ. Nơi con vẫn nhận được bữa ăn lót dạ mỗi buổi đến trường. Con vẫn được khen, được thưởng, có bảng danh dự hằng tháng.

Cha có biết không?! Đầu tháng 3/1974, những người phe cha đã pháo kích vào trường tiểu học Cai Lậy, tại thị trấn Cai Lậy, tỉnh Định Tường (nay là Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang).

Ngôi trường đó đâu có may mắn như trường con học. Khi vụ pháo kích làm hơn 30 người chết và gấp đôi con số đó bị thương. Trong đó có nhiều bạn cùng học sinh, đồng tuổi như con cha à!

***

Khi chiến thắng, cha bắt con phải quên điều Mỹ – Ngụy dạy về tinh thần nhân văn, tự do, dân chủ và lấp vào đó bằng “khí thế cách mạng”. Cha dạy con từ nay phải biết “Đả đảo Mỹ – Ngụy”, “Đời đời căm thù”.

Cha ơi, thật không dễ “đả đảo”, “căm thù” những người, chính quyền đã từng cưu mang, giúp con tránh đạn, dạy con học, trao cho con sự an toàn, cho con không phải chịu cảnh đói.

Cha chiến thắng rồi, nhiều ngày con đến trường nhưng không phải học. Thay vào đó con phải cầm cờ đi bộ dọc theo con đường chính ở xã, ở huyện hô vang: “Đả đảo Mỹ – Ngụy”, căm thù người từng cưu mang con và tung hô đảng của cha, lãnh tụ của cha.

Cha bảo, đó là nhiệm vụ chính trị của thời đại mới – thời đại XHCN con phải làm.

Chiến thắng rồi, phe cha xây dựng lên không biết bao nhiêu tượng đài của “khí thế cách mạng” chỉa súng, vung gươm, tượng mạo hung hăng, mặt đầy sát khí… vào lòng người. Cha bảo, đó là những tượng đài giáo dục cách mạng.

Liệu con có thể trở thành người tốt bởi phải học, nuôi dưỡng sự căm thù, nhìn cảnh bạo lực qua các tượng đài mỗi khi ra đường không cha?!

Cha mở ra cái thời, dân trong làng, trong xã đi làm không phải được tính lương, hiệu suất lao động, mà tính bằng điểm, sự có mặt. Để rồi đâu chỉ có cơm độn, con còn phải tập ăn bo bo.

Con đói hơn. Quần áo con rách nhiều hơn. Cả xã hội miền Nam mọi thứ trở nên thiếu thốn hơn thời chiến tranh con sống cha à!

Con lại phải hô cho chính mình:

“Đả đảo Mỹ – Ngụy ăn gạo bao.

Hoan hô bác Hồ ăn ‘lúa điểm’.”.

Ăn ‘lúa điểm’ – “liếm đũa”, đó là thực tế phe cha mang lại.

Con hôm nay chẳng còn trẻ để xuống đường xuống đường hô “đả đảo”, “căm thù”, nhưng nhìn những bảng đỏ, bang rôn ăn mừng chiến thắng lòng con đau thắt khi dân tộc này vẫn đầy chia rẽ cha à!

“NGẠO NGHỄ” VIỆT NAM

 
No photo description available.
Hoang Le Thanh

“NGẠO NGHỄ” VIỆT NAM

Một nửa sự thật không phải là sự thật.

Tin giả:

“Việt Nam điều máy bay đưa công dân ở Italia về nước tránh dịch Covid-19”.

Hôm nay, báo chí Việt Nam đưa tin Việt Nam điều máy bay đưa công dân ở Italia về nước tránh dịch Covid-19.

Tuy nhiên, qua tra cứu Kiểm Tin xác nhận rằng tập đoàn dầu khí ENI của Italia đã thuê máy bay của Vietnam Airlines để đưa các công dân Italia về nước, và hỗ trợ đưa công dân Việt Nam về Việt Nam ở chiều bay ngược lại mà không lấy phí.

Nguồn: Kiểm Tin

Khi các giám đốc công an bảo kê cho tội phạm… | Tiếng Dân

 

BAOTIENGDAN.COM

Khi các giám đốc công an bảo kê cho tội phạm…

Bởi  AdminTD

Thu Hà

15-4-2020

Không phải đến tận bây giờ mà từ 20 năm trước, vào những năm 2000, nạn “bảo kê” cho giang hồ, du đãng, đã gây chấn động Việt Nam. Vụ án “Năm Cam và đồng bọn” là một điển hình.

Hai ông Ủy viên Trung ương Đảng là Bùi Quốc Huy và Trần Mai Hạnh dính phốt. Góp mặt trong “danh sách đen” chạy án, bao che, bỏ lọt tội phạm, ngoài Thứ trưởng Bộ Công an, Viện phó VKS Tối cao, còn có các sĩ quan cấp tá, anh hùng Lực lượng Vũ trang, thủ trưởng cơ qua điều tra. Cho nên, dân lành không chết mới lạ.

Lực lượng công an đã trở thành nỗi khiếp đảm, kinh hoàng đối với người dân trên cả nước, phần vì luật lệ đã dành cho các cơ quan chức năng quyền hạn quá lớn. Gần như toàn bộ hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá… của gần trăm triệu dân trong nước, lẫn hàng triệu kiều bào đều nằm trong tay của lực lượng này.

Ở mỗi tỉnh, thành, giám đốc công an đều nằm trong Thường vụ tỉnh (thành) uỷ. Bí thư, dù là Ủy viên Trung ương Đảng, cũng “ớn” giám đốc công an, nói chi tới cấp UBND, vì theo ngành dọc, “sếp đại” của công an, lại là Ủy viên Bộ Chính trị.

Ông giám đốc công an làm gì, bí thư tỉnh đều biết cả và ngược lại. Cho nên, họ luôn là “cặp đôi hoàn hảo” đoàn kết với nhau, để đôi bên cùng có lợi. Từ đó, giám đốc công an trở thành trùm của các ông trùm, bảo kê cho “thế giới ngầm”.

Thiếu tướng Bùi Quốc Huy (sinh năm 1945) mất chức thứ trưởng, ra khỏi BCH Trung ương Đảng, lãnh án 5 năm tù, bởi do bảo kê cho giới xã hội đen thành Hồ như Năm Cam, Hồ Viết Sử… thời ông ta làm giám đốc Sở Công an.

Sau vụ án Năm Cam chấn động cả nước, ngỡ các giám đốc công an sẽ “nhờn”, nhưng không, họ còn táo bạo, tinh vi hơn, ăn dày hơn và ngồi xổm trên luật pháp.

***

Còn nhớ, năm 2012, Lê Bá Huy, doanh nhân Đà Nẵng, còn có biệt danh “Huy máy nổ”, đã lừa đảo chiếm đoạt của bà P.T quê Vũng Tàu, có tập đoàn ở TP HCM, số tiền 20 tỷ đồng và 500 lượng vàng SJC. Năm 2013, bà P.T ra tận Đà Nẵng gởi đơn cho công an, đòi tiền, nhưng Huy lánh mặt.

Trong khi đó, tại Đà Nẵng, Lê Bá Huy là trùm buôn bán máy nổ, xe đạp điện Trung Quốc. Huy kinh doanh hệ thống nhà hàng khách sạn SamDi, ông chủ của cafe Không gian xưa – đầu tư lên đến 650 tỷ đồng.

Tại khu nhà hàng – cafe Không Gian Xưa, bà T từ Sài Gòn ra tố cáo với Công an quận Thanh Khê (Đà Nẵng) về việc Huy “máy nổ” giựt nợ bà nhiều tỉ đồng, còn cho nhân viên bảo vệ đánh khi bà đến đòi nợ. Ảnh chụp tháng 11/2013. Nguồn: HC/ Infonet

Công an TP HCM đã khởi tố vụ án từ 2015, nhưng rồi “chìm xuồng” cho đến nay.

Ngày 1/11/2014, Lê Bá Huy bị cô N.T.M.Y, sinh năm 1993, trú tại phường Hòa Khê, quận Thanh Khê, Đà Nẵng, tố cáo hiếp dâm với đầy đủ tang chứng, vật chứng. Kết cục, vụ án không được khởi tố, thiếu nữ bị cướp đời con gái, còn đại gia Huy thì… bình an vô sự.

Cô Y, nạn nhân bị hiếp dâm, với đơn tố cáo dài 3 trang, nhưng vụ án bị chìm xuồng. Photo Courtesy

Người dân Đà Nẵng đều biết, người bao che, bảo kê cho Lê Bá Huy, chính là Đại tá Nguyễn Văn Sơn, sinh năm 1961, giám đốc CA Đà Nẵng 2010-2015. Nay ông Sơn đã lên Trung tướng, Thứ trưởng Bộ công an.

Giang hồ xầm xì, tại quê nhà Hoà Tiến, “em kết nghĩa” Lê Bá Huy làm tặng đại tá Sơn một căn nhà gỗ kiểu xưa ba gian, trị giá gần 50 tỷ đồng.

Thời của Nguyễn Văn Sơn, một “suất” vào công an, con em của sĩ quan trong ngành, đã “chung” không dưới 10.000 đô; người ngoài, thì… giá khủng.

***

Những năm gần đây, sự gắn kết giữa “xã hội đen” và “xã hội đỏ” công khai, trở thành nỗi kinh hoàng cho người dân lương thiện. Bọn giang hồ, du đãng có mặt hầu hết các lĩnh vực kinh doanh, sản xuất, thương mại dịch vụ, bất động sản… đến buôn ma tuý, cho vay nặng lãi, đòi nợ thuê, chém mướn.

Năm 2018, đại tá “tiến sĩ” Lê Văn Tam, sinh năm 1959, giám đốc CA Đà Nẵng, kế nhiệm Nguyễn Văn Sơn, bảo kê cho Vũ “nhôm”. Thông tin ông Tam được Vũ tặng biệt thự trăm tỷ, lan truyền khắp Đà Nẵng.

Thiếu tướng Trần Kỳ Rơi, sinh năm 1958, Giám đốc CA Đắk Lắk, được cho là trùm “bán lon, bán ghế” trong lực lượng, bao che bọn khai thác, buôn gỗ lậu, bảo kê, giang hồ chuyên thu “hụi chết”, “làm luật” với nông dân trồng tiêu, cà phê…

Nhìn cơ ngơi biệt thự toàn đồ gỗ trị giá ngàn tỷ và đưa con gái Trần Thuý Hằng, từ nhân viên ngân hàng sang, đeo lon Thượng uý, Đội trưởng chống buôn lậu, phòng Cảnh sát kinh tế, đủ thấy quyền lực của ông ta thế nào.

Năm 2019, đại tá Huỳnh Tiến Mạnh giám đốc Công an Đồng Nai để lại một “vết nhơ” đáng hổ thẹn. Xuất thân từ Trưởng phòng CSGT, nhờ “chung đủ” cho Thiếu tướng Nguyễn Văn Khánh, Mạnh được Khánh chọn làm người kế nhiệm chức vụ giám đốc công an tỉnh từ năm 2015. Suốt 5 năm trên ghế “ông trùm”, Huỳnh Tiến Mạnh gây quá nhiều tội lỗi và tai tiếng.

Cặp vợ chồng đại tá Huỳnh Tiến Mạnh – phu nhân Nguyễn Thị Hồng, đã làm những việc động trời ở Đồng Nai: Bảo kê cho bọn giang hồ, du đãng; thu tóm bất động sản, cho vay nặng lãi; lập hệ thống mãi lộ, mua bán chức quyền, trù dập cán bộ…

Đỉnh điểm, ngày 12/6/2019, hàng trăm giang hồ xăm trổ do Giang “36” và Tuấn “nhóc” cầm đầu, đã tấn công các sĩ quan công an TP Biên Hoà và giam họ tại chỗ trong xe hàng giờ. Lực lượng “đầu gấu” ấy là đệ tử của vợ chồng Huỳnh Tiến Mạnh.

Đại tá Huỳnh Tiến Mạnh, từng là trùm bảo kê ở Đồng Nai. Ảnh trên mạng

Tội danh, sai phạm của Huỳnh Tiến Mạnh và vợ, lẽ ra phải bị khởi tố hình sự, chứ không phải chỉ là kỷ luật đảng và mất ghế giám đốc, rồi nghỉ hưu. Sự kiện Huỳnh Tiến Mạnh hạ cánh an toàn, gây phẫn nộ và nhức nhối ngay trong ngành công an Đồng Nai, lẫn dư luận xã hội.

Mới đây, vụ án vợ chồng Đường Nhuệ ở Thái Bình, lộ ra “mặt thật” của nhiều vấn nạn. Xã hội đen lộng hành, “đội lốt” doanh nhân, hà hiếp dân, cướp của, thu tóm đất đai, đòi nợ thuê, cho vay nặng lãi, đánh người ngay tại đồn công an… xảy ra giữa thanh thiên bạch nhật, vô hiệu hóa cả hệ thống chính trị ở tỉnh Thái Bình.

Người dân Thái Bình rên xiết gần hai mươi năm qua, trước tệ nạn lộng hành của “xã hội đen”, họ khiếp sợ khi những người đại diện pháp luật lại đi bảo kê cho chúng. Dân kêu cứu vô vọng, tội phạm không bị khởi tố trong suốt nhiều năm, trách nhiệm không chỉ ở công an, mà cả các cấp uỷ, chính quyền và đoàn thể ở tỉnh này.

Bốn đời giám đốc Sở Công an đỡ đầu cho “xã hội đen” ở Thái Bình, gồm:

– Trần Văn Vệ, từ năm 2004- 2010

– Trần Xuân Tuyết, từ năm 2010- 2014

– Lê Đình Nhường, từ năm 2014-2016

– Nguyễn Văn Minh, từ năm 2016-2019

Ba đời Bí thư Tỉnh ủy phải chịu trách nhiệm liên đới, gồm:

– Trần Cẩm Tú, từ năm 2011-2015

– Phạm Văn Sinh, từ năm 2015-2018

– Nguyễn Hồng Diên, từ năm 2018 đến nay.

Bọn bất lương chẳng từ thủ đoạn kiếm tiền nào, không chỉ riêng ở Thái Bình. Đi khắp 63 tỉnh thành, sẽ nghe những câu chuyện “kinh khủng” về những ông thần cầm “thanh gươm và lá chắn” này.

Nhân quả, công lý, đền tội… là khái niệm giễu cợt với bọn tội phạm. Ở triều đại cộng sản, bất công luôn ở mức cao nhất. Công lý hoặc nhân quả là thứ mà ai đó cao hơn Năm Cam, Vũ “nhôm”, Đường Nhuệ tạo ra và hoàn toàn thao túng được. Họ tạo ra thang bậc giang hồ trắng trợn và đê tiện, tạo ra những hung thần nhởn nhơ trên phố.

Thứ công lý tuỳ tiện ấy, có thể ập lên đầu ai vì bất cứ lý do gì. Các giang hồ thật sự đang ở trong bóng tối, mặc vest đẹp, nâng rượu vang và nghĩ về việc chọn lại màu sơn cho thành phố tội lỗi của chúng. Còn nhân dân, như mọi khi, vẫn là một cục đất sét, họ thích nặn như thế nào thì cũng phải chịu.

Ai đã tạo ra cặp vợ chồng giang hồ trọc phú Đường Nhuệ ở Thái Bình này?

Rất nhiều tội phạm, lưu manh, giang hồ vô học, nhờ bảo kê, “ngủ một đêm thức dậy”, hoá thân thành doanh nhân thành đạt, vua biết mặt, chúa biết tên. Số ấy nhiều, kể không hết.

Nếu không có Phạm Quý Ngọ nhận 2 triệu đô la, thì kẻ bị truy nã “giết người và tàng trữ vũ khí” đã mọt gông trong tù, làm gì trở thành Chủ tịch HĐQT Tổng cty DHC Group, Lê Minh Đức hôm nay.

Không có ông Ngọ cứu, Trần Văn Vệ đã mất chức từ thuở Đại tá, Giám đốc Công an, đừng mơ hàm Trung tướng ở Bộ Công an.

Không có Trần Đại Quang, thì không có Vũ “nhôm” lẫn Út “trọc”. Không có Lê Đình Nhường, thì không có Đường Nhuệ. Thế mà ông Nhường vẫn leo đến Thiếu tướng, Phó chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội.

***

Năm năm một nhiệm kỳ, hệ thống chính trị lại cho ra các “trùm của những ông trùm” tại mỗi địa phương. Những Vũ “nhôm”, Út “trọc”, Đường Nhuệ… khác, lại xuất hiện. Vây cánh giang hồ của “đại ca” thất thời, sẽ bị trừng phạt để ghi điểm.

Nhân dân lại vô tư, hả hê, trút bỏ phẫn uất của ngày hôm qua, để rồi sau đó tiếp tục tự nguyện làm những con lừa cho chế độ.

Nhìn lũ du côn đang “chăn dân”, tự nhiên, thấy thương những chàng trai Thái Bình nói riêng, miền Bắc nói chung, đã phải ra đi ở tuổi mới đôi mươi. Họ vĩnh viễn nằm lại ở chiến trường miền Nam, bởi tham vọng của những kẻ điên rồ trong cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn năm xưa.

Khi các giám đốc công an bảo kê cho tội phạm… | Tiếng Dân

Khi các giám đốc công an bảo kê cho tội phạm… Bởi AdminTD – 15/04/2020 Thu Hà 15-4-2020 Không phải đến tận bây giờ mà từ 20 năm trước, vào những năm 2000, nạn “bảo kê” cho giang hồ, du đãng, đã gây chấn động Việt Nam. Vụ án “Năm Cam…

Hình ảnh …đau lòng!

Image may contain: one or more people, tree, child, sky, shoes and outdoor

Đinh Nguyên Kha

Dân ta đi cày đóng thuế để nuôi đảng bấy lâu nay, khi có biến cố thì chúng để dân ta lê lết ngoài đường dầm mưa dãi nắng để xin lại vài kg gạo của họ như vầy sao? Thật nhục nhã cho cái thiên đường xã hội chủ nghĩa mà chúng luôn rêu rao.