
Hà Nam: Tự tử vì không đồng tình với phán quyết của toà án


Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
Tin Việt Nam, Tin Cộng Đồng

Bữa ăn của mẹ con chị Kiều!
Do Cty Huê Phong ở Gò Vấp nơi chị Nguyễn Thị Kiều làm công nhân giảm đơn hàng nên thu nhập của chị chỉ còn hơn 3,2 triệu đồng/tháng.
Sau khi trừ tiền nhà trọ, điện, nước hết 1,7 triệu, chị còn 1,5 triệu đồng để trang trải chi phí ăn uống.
Như vậy tổng chi cho ba bữa ăn sáng, trưa, tối của ba mẹ con chị không được quá 50.000 đồng!
Tương đương với một bát phở, cho cả ba người ăn, ba bữa trong ngày.
Ba mẹ con thống nhất mỗi ngày ăn uống không được quá 50.000 đồng.
Chị chia sẻ, thực đơn những ngày hậu dịch Covid-19 của ba mẹ thường trực “rau là rau”.
Chị cười: “5.000 đồng rau muống, 2 quả trứng chiên hoặc luộc, lấy nước rau làm canh. Vậy là xong một bữa”.
Bữa thịt gần đây nhất của ba mẹ con cách đây đã gần 1 tuần. “Tôi mua 40.000 đồng thịt gà về kho sả ớt, ăn cả ngày. Muốn có vị thịt heo thì mua 20.000 đồng da heo về phi tỏi ớt cũng ra một món.
Muốn có vị thịt bò thì mua 20.000 đồng bò viên hoặc gân bò về xào đậu ve. Sáng một gói mì tôm hoặc 5.000 đồng xôi” Tằn tiện như thế rồi bữa ăn bữa thèm cũng qua.
Chị Kiều quê Quảng Nam. Chị vào TP.HCM làm công nhân gần 20 năm. Chồng chị bỏ đi theo người khác khi đứa con gái nhỏ được 4 tuổi. Chị ở vậy gần 10 năm qua, một mình nuôi hai con.
Chị Kiều dù ở SG nhưng đã nghèo, nghèo quá rồi chứ k phải cận nghèo như những nhà ở Thanh Hóa nữa!
Tôi k biết anh chị thế nào chứ đưa tôi 50.000 đ để xoay xở 1 bữa cho 3 người thôi đã khó vô cùng tận chứ huống gì 3 bữa!
Người như chị Kiều những ngày này tôi nghĩ có lẽ không phải ít vì như chị nói “Dịch ập tới, ai cũng khổ hết, nên ba mẹ con cùng bảo nhau cố gắng thôi”. Riêng ở Huê Phong đã cắt giảm hơn 2000 lao động.
Còn tôi nghĩ, thôi thì cứ an ủi nhau ăn rau là sở thích như mấy đứa bé người Mông ăn ve sầu trên Đắk Lắk vậy!
Nguồn: Cuocsongantoan.vn
Fb Hà Phan

Tự ý sửa điểm bài thi, quan có công cũng bị xử tử
Ngô Sách Tuân (1648-1697) là người xã Tam Sơn, huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Tam Sơn, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh). Ông sinh ra trong một gia đình khoa bảng bậc nhất lúc bấy giờ. Bản thân gia đình Ngô Sách Tuân có cha và anh trai cùng đỗ tiến sĩ và làm quan to trong triều.
Ông đỗ tiến sĩ năm Bính Thìn (1676) đời Lê Hy Tông khi 29 tuổi, làm quan thời vua Lê Hy Tông và chúa Trịnh Căn, từng được thăng tới chức Hữu thị lang bộ Lại. Khi trấn giữ vùng Lạng Sơn, ông đã lập công lớn trong việc dùng mưu bắt được dư đảng nhà Mạc lẩn tránh tận Trung Quốc.
Nhưng chỉ vì một sai lầm trong việc chấm bài thi mà cuộc đời cũng như danh tiếng của ông đã tiêu tan thành bọt nước. Không những phải mất mạng, Ngô Sách Tuân còn để lại một “vết đen” trong lịch sử khoa bảng nước nhà.
Các thí sinh đi vào trường thi Nam Ðịnh (năm 1897), họ phải tự làm lều và đặt chõng để viết bài.
Chuyện bắt đầu từ tháng 7-1694, Ngô Sách Tuân tố cáo Tham tụng Lê Hy lên triều đình về chuyện ông này lén lút đưa người con là Lê Thuyên và học trò là Tô Hinh vốn không có năng lực vào quan trường. Sự việc được tấu trình lên nhưng nhà vua xét thấy không đủ bằng cớ để kết tội Lê Hy nên đã giáng chức Ngô Sách Tuân. Hai người giữ mối hiềm khích kể từ đó.
Sau này, khi Ngô Sách Tuân giữ chức Phó chủ khảo trường thi ở Thanh Hóa thì trước khi đi ông có đến yết kiến Lê Hy.
Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (quyển 34) chép lại nội dung câu chuyện này như sau:
Lê Hy bèn đem hình dáng giấy đóng quyển thi của các con mình cho Sách Tuân biết.
Nhưng, sau vì thấy quyển thi của các con Lê Hy không được xếp vào hạng trúng cách Sách Tuân muốn nhân dịp này xoá mối hiềm khích với Lê Hy, bèn lấy quyển thi của con Lê Hy đưa cho các quan giám khảo, bảo họ phê lấy đỗ.
Quan Đề điệu trường thi này là Phó đô ngự sử Ngô Hải biết chuyện, có thề với Sách Tuân là sẽ giấu kín việc này nhưng quan Tham chính Thanh Hóa là Phan Tự Cường phát giác được, tâu lên.
Triều đình giao cho các quan văn võ họp bàn, khép Ngô Sách Tuân vào tội giảo (bắt phải thắt cổ mà chết), Ngô Hải vì không biết lòng chính trực nên bị bãi chức, các quan giám khảo và phúc khảo đều bị phạt, còn Tự Cường được thăng chức Thiêm đô ngự sử.
Chép xong chuyện này, các sử gia thời Nguyễn đã có Lời cẩn án rất sắc sảo như sau:
Lê Hy làm Tể tướng một nước, thế mà gởi gắm con mình cho viên quan giữ việc chấm thi và Sách Tuân xu nịnh với riêng bậc đại thần mà mình nhận lời kí thác, đặt trong phép nước mà xét thì tội hai người như nhau, vậy mà chỉ mình Sách Tuân bị trị còn cha con Lê Hy thì không ai xét hỏi gì đến, như thế thì còn gọi là phép nước làm sao được nữa!
Phan Tự Cường biết hạch tội Sách Tuân mà không một lời nào đả động đến Lê Hy, thế thì so với người nịnh hót Lê Hy cũng chẳng hơn kém nhau bao nhiêu vậy. Tự Cường cũng cùng một loại với Sách Tuân mà thôi.
Có lời bình rằng:
Có mỗi một khoa thi Hương, kẻ đỗ cao nhất cũng chỉ là Cử nhân, vậy mà hỏng một cách thảm hại lại là bốn vị Tiến sĩ lừng danh: Lê Hy, Ngô Sách Tuân, Phan Tự Cường và Ngô Hải, nhục thay! Chư vị sử gia thời Nguyễn, sắc sảo thì quả là thật sắc sảo, song chừng như chư vị chỉ muốn mượn Lời cẩn án để kí thác chút tâm sự với thời cuộc đó thôi.
Tự cổ, búa rìu của phép nước vẫn giáng từ trên xuống, có đâu lại vung từ dưới lên, vung lên như thế, lỡ bay đầu Tể tướng, bay luôn đầu cả Chúa lẫn Vua, thiên hạ như gà con mất mẹ, biết nương tựa vào đâu. Vả chăng, vung lên lâu ngày quen tay thành tật, chư vị ngồi trong kinh thành, nhỡ bị họa lây thì lấy ai mà viết sử?
Kẻ hậu sinh này viết tới đây, ngẩn ngơ mà tình cờ dừng lại, ngắm mãi cái gì đen đen trong trang sử cũ, một lúc sau mới chợt nhận ra đó chính là xác Tiến sĩ Ngô Sách Tuân đang treo lủng lẳng, khô như một nét sổ của trang chữ Hán lạnh lùng. Mạo muội dịch ra quốc ngữ, lại nhìn kĩ lần nữa, thì chao ơi, cái xác treo lủng lẳng ấy bay vào trang đánh máy, chẳng khác gì cái dấu chấm than. Hóa ra, dấu chấm hết cuộc đời của Tiến sĩ Ngô Sách Tuân lại là dấu chấm than!
Tổng hợp theo bài viết “Dấu chấm hết cuộc đời Ngô Sách Tuân”
Theo Việt sử giai thoại của Nguyễn Khắc Thuần
Đăng tại tạp chí Quê Hương Online (quehuongonline.vn)
Con người mất nhân phẩm – Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê
Năm 1975 đa số cán bộ, công nhân viên ở Bắc vào thăm gia đình, họ hàng ở trong Nam, còn giữ chút thể diện “cách mạng”, bà con trong này tặng họ gì thì họ nhận, chứ không đòi; về sau họ không còn giữ kẽ nữa, tặng họ một thì họ xin hai, không tặng họ cũng đòi, khiến một ông bạn tôi bực mình, nhất định đóng cửa không tiếp một người bà con, bạn bè nào ở Bắc vào nữa.
Gởi họ mang ra giùm một cuốn sách tặng một người ở Hà nội, họ giữ lại 5-6 tháng, vợ chồng con cái, bạn bè coi cho hết lượt, sách nhàu rồi, họ mới đem lại cho người nhận sách; có khi họ lấy luôn, nhắc họ, họ bảo thất lạc, để kiếm. Mà ba người nhận được sách thì chỉ có một người cảm ơn tôi.
Một nhà văn đất Bắc làm cho một tờ báo nọ nhờ một nhà văn trong Nam viết bài, hứa sẽ trả bao nhiêu đó. Viết rồi, đưa họ, họ đăng, nhưng kí tên của họ rồi đưa cho nhà văn trong Nam nửa số tiền nhuận bút thôi, còn họ giữ lại một nửa. Vừa ăn cắp văn, vừa ăn chặn tiền. Chưa bao giờ miền Nam có bọn cầm bút bẩn thỉu như vậy. Một bạn học giả của tôi ở Bắc khuyên tôi đừng giao bản thảo của tôi cho ai hết, không tin ai được cả, họ sẽ đạo văn.
Thời Pháp thuộc, không bao giờ nhân viên bưu chính ăn cắp đồ trong các bưu kiện. Thời Nguyễn Văn Thiệu thỉnh thoảng có một vụ ăn cắp nhưng nhỏ thôi. Từ bốn năm nay ở khắp miền Nam, cứ 10 bưu kiện ở ngoại quốc gởi về thì có 6-7 bưu kiện bị ăn cắp hoặc đánh tráo vài ba món, thường là dược liệu và vải. Kêu nài thì nhân viên bưu chính bảo: “Không nhận thì thôi; có muốn khiếu nại thì cứ làm đơn đi”. Không ai buồn khiếu nại cả vì cả năm chưa có kết quả, mà nếu có thì số bồi thường không bõ. Cho nên chúng tha hồ ăn cắp, ăn cướp một cách trắng trợn. Trắng trợn nhất là chúng lấy trộm tất cả bưu kiện trong một kho, như ở Long xuyên năm 1981; nếu là kho lớn thì chúng đốt kho như ở Tân Sơn Nhất hai năm trước.
Nhơ nhớp nhất là vụ một cán bộ nọ vào hàng phó giám đốc, mưu mô với vợ, làm bộ tổ chức vượt biên cho vợ chồng con cái một đứa cháu ruột, bác sĩ ở Sài Gòn, nhận mấy chục lượng vàng của cháu (và sáu chục lượng vàng của gia đình bên vợ đứa cháu đó nữa vì họ cũng muốn vượt biên), rồi lừa gạt người ta, tố cáo với công an bắt hết cả nhóm trên mười người khi họ ra Vũng Tàu chờ ghe đưa ra khơi. Ða số cán bộ ở Nam đã tư bản hóa rồi, một xã hội chủ nghĩa xã hội mà như vậy thì chủ nghĩa đó chỉ còn cái tên thôi.
Sống dưới chế độ cộng sản, con người hóa ra có hai mặt như Sakharov đã nói: chỉ giữa người thân mới để lộ mặt thật, còn thì phải đeo mặt nạ; luôn luôn phải đề phòng bạn bè, láng giềng, có khi cả người trong nhà nữa. Người ta tính cứ 5 người thì có 1 người kiểm soát từng ngôn ngữ, hành vi của 4 người kia. Ngay một phó viện trưởng cũng làm việc điểm chỉ đó mà bạn trong viện không hay. Dĩ nhiên kẻ kiểm soát đó lại bị người khác kiểm soát lại. Ở Nga thời Staline như vậy, ở Bắc những năm 1954-1960 cũng gần như vậy; ở Nam đỡ hơn vì đa số người trong này không chịu làm thứ mật thám chìm đó.
Nạn làm tiền, tống tiền lan tràn khắp các ngành, cả trong ngành cứu nhân độ thế và ngành tống táng. Ðể cho bác sĩ ngụy đủ sống mà khỏi vượt biên, chính phủ năm 1980 cho phép họ ngoài giờ làm việc được khám bệnh ở nhà và định cho họ số tiền thù lao là 1 đồng ở Sài Gòn, 0.8 đồng ở tỉnh. Nhưng ở Long Xuyên bác sĩ nào cũng thu của bệnh nhân 10 đồng. Có kẻ ra một cái toa cần 9 thứ thuốc toàn đắt tiền, trị đủ các bệnh: tim, phổi, gan, thận, bao tử… cho một bà lão suy nhược, rồi bảo lại mua của một tên buôn lậu đồng lõa với họ. Tính ra toa đó mua cho đủ thì mất cả triệu đồng cũ (2.000 đồng mới). Một số bác sĩ không làm tiền cách đó, không ra toa mà bắt bệnh nhân mỗi ngày lại để các ông ấy cho thuốc và chích cho, và phải trả các ông ấy từ 60 đồng đến 100 đồng mỗi lần. Năm 1981, tiền thù lao từ 10 đồng đã hạ xuống còn 5 đồng, có lẽ vì bác sĩ làm riêng khá đông, cạnh tranh nhau. Và tháng 7-1981 có lệnh không cho bác sĩ công làm tư tại nhà nữa, mà muốn làm tư thì lại dưỡng đường làm ngoài giờ làm việc. Chưa thấy ai theo.
Bệnh nhân lỡ mà chết thì bị hàng xăng tống tiền: quốc doanh định giá 45 đồng kể cả một bịch thuốc lá và 4 thước vải thô, nhưng tang gia phải trả 400 đồng thì xăng mới được ghép lại kĩ, khỏi trống hổng trống hoảng với 8 cây đinh đóng hờ. Rồi tới nhà đòn cũng đầu cơ: hạ huyệt xong, phủ qua một lớp đất cho bằng mặt, muốn có cái mồ cho ra mồ thì phải đưa thêm vài trăm đồng nữa. Nếu đem thiêu mà cứ nộp đúng lệ thì xương ống, xương hông bị ném riêng vào một chỗ, chứ không thiêu hết. Ai nỡ để cha mẹ mình què!
Tất cả chỉ tại cái lệ chính phủ định giá, định lương rẻ quá không đủ cho dân sống, dân phải xoay sở lấy, bóc lột lẫn nhau. Cổ kim chưa có một xã hội nào phi lí như vậy. Vì biết mình phi lí nên chính quyền làm ngơ cho bác sĩ làm ăn, cho phép các giáo viên ngụy dạy thêm tại nhà.
Nói cho ngay, thời nào trong xã hội cũng có một số người lương thiện. Và ông Phạm Văn Ðồng đã nhận rằng thời này hạng đó thiệt thòi nhất. Tôi được biết một hai cán bộ trung cấp liêm khiết, chịu nghèo, nuôi heo thêm, chứ không tham nhũng. Gia đình họ phải ăn rau muống; quần áo thì vá đụp; có thể nói họ nghèo như các nông dân nghèo nhất thời xưa.
Tóm lại sau 5 năm chúng ta không thấy chút tiến bộ nào cả mà chỉ thấy sự chia rẽ trong xã hội, sự tan rã trong gia đình, sự sa đọa của con người, sự suy sụp của kinh tế.
Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê (Tập 3)
Đăng lại từ Diễn Đàn Thế Kỷ (Diendantheky.net)
• Nguyễn Hiến Lê
•
• Xí nghiệp quốc doanh nào cũng lỗ nặng. Người ta không hề tính sản xuất một hóa phẩm phí tổn mất bao nhiêu, bán ra được bao nhiêu, lời hay lỗ. Cứ việc sản xuất, lỗ cũng không sao, bán không được thì bắt dân tiêu thụ hoặc đổ đi.
Một kĩ sư ở Nga về đã trên mười năm, năm 1967 vào tham quan các xí nghiệp lớn miền Nam bảo tôi rằng cảm tưởng đầu tiên và mạnh nhất của ông ta là các xí nghiệp này chú trọng đến cái “profit” (lời) quá. Ông ta không hiểu nổi đó là một điều tự nhiên. Một cơ quan xuất bản, một tờ báo của chính quyền có lỗ cũng không sao, vì công việc đó có mục đích giáo dục quần chúng, không có tính cách thương mãi. Nhưng sản xuất một món hàng để xuất khẩu mà không tính lời, lỗ thì kinh tế làm sao đứng vững được.
Ngay như một tổ hợp vận tải trong nước mà lỗ hoài thì cũng phải dẹp tiệm, vì hết vốn, không có tiền mua xe mới để thay thế xe cũ.
Từ bia, nước ngọt, đến tôm cá, đồ hộp như khóm, màn trúc, quần áo may sẵn, đồ sơn mài… bất kì món gì, mới đầu phẩm còn kha khá, sau cứ mỗi ngày một tệ, bị ngoại quốc gởi trả về. Bia, nước ngọt có hồi bị trả về nhiều quá, bán cho công nhân viên không hết, tung ra bán cho dân, nhà nào cũng có một tuần lễ được mua một hai lần; kì cục nhất là đường thì thiếu cho dân dùng mà nước ngọt thì dân tha hồ uống.
Tôi hỏi một người bà con ở Hà Nội, họ bảo ở Bắc cũng vậy: công nghiệp mỗi ngày một xuống dốc. Những năm đầu (1955-1960), xe đạp chế tạo còn tốt, bây giờ tồi quá, dùng chưa đầy sáu tháng đã hư một vài bộ phận, lốp đã bể. Xe đạp là thứ cần thiết nhất, phổ thông nhất trong nước, mà như vậy thì những máy móc khác mới ra sao?
“Vua lốp” Nguyễn Văn Chẩn, một trong những cá nhân nổi bật với nhiều lần vào tù ra tội thời bấy giờ. (Ảnh bổ sung – Ảnh qua tienphong.vn)
Nguyên nhân rất nhiều: quản lí dở, thiếu kĩ thuật gia giỏi – những kĩ sư giỏi không được dùng hoặc phải ở dưới quyền một kẻ dốt, có tuổi đảng cao hơn; chương trình, kế hoạch không bao giờ thực hiện được đúng vì thiếu nguyên liệu, nhiên liệu, thiếu đủ thứ; vì các cơ quan không phối trí với nhau, chèn ép nhau là khác; vì chính sách làm chủ tập thể, máy móc không ai săn sóc, vật liệu không ai tiếc, tha hồ phí phạm, nhiều khi ăn cắp nữa; không có tinh thần trách nhiệm, ai cũng làm việc tà tà; lương ít quá, không đủ sống, mà siêng năng cũng chẳng được lợi gì, sáu năm mới lên một bực, lương tháng thêm mười đồng, mua được hai tô phở hay một kí đường.
Ngoài Bắc có câu: Làm thì đói, nói thì no, bò thì sướng, bướng thì chết.
Trong Nam lại thêm câu rằng: Làm cho lắm tắm không quần thay, làm lai rai ngày thay ba bộ.
Ðảng cộng sản là đảng của vô sản, của thợ thuyền, mà công nhân trong các xưởng tinh thần như vậy đó.
Lại còn cái này nữa: sở nào có việc nhờ sở khác giúp, muốn mau được việc, phải hối lộ sở đó; ngay sở công an cũng bị làm tiền. Việc thanh toán tiền nong giữa các sở với nhau rất bê bối! Sở thiếu nợ ỳ ra không chịu trả, sở chủ nợ không thu được, thiếu tiền, phải tạm ngưng hoạt động. Kiện ai?
Quyền của ngân hàng rất lớn. Cơ quan nào thu được bao nhiêu tiền cũng phải nộp ngân hàng, cần rút ra bao nhiêu cũng phải xin ngân hàng; mà ngân hàng có thể từ chối không phát hoặc lấy cớ là không đủ ngân khoản nên chưa phát. Vì vậy cơ quan nào cũng làm thân với ngân hàng, mua quà cáp tặng nhân viên ngân hàng, đãi đằng họ… Xứ nào, thời nào mà chẳng vậy: kẻ giữ tiền mới thực sự làm chủ.
Các công ti công tư hợp doanh cũng lỗ vì công với tư rất khó hợp tác với nhau: công làm chủ thì tư tà tà, mà công thì quản lí rất dở, kĩ thuật rất kém, nghi kị tư, bao nhiêu quyền lợi, ôm lấy trọn.
Công ti hợp doanh chỉ đứng được ít năm rồi cũng phải đóng cửa vì chính phủ cho số lời ít quá, thu thuế nặng quá, nhất là vì thiếu nguyên liệu, nhiên liệu. Như Công ti Giấy Bảo Lộc (trong đó tôi có ít cổ phần nhờ xin rút được tiền ngân hàng để giúp trong việc sản xuất) hoạt động được hai năm thì miền Bảo Lộc bị hạn chế điện, mỗi ngày máy chỉ chạy được 4 giờ buổi tối; rồi thiếu tre để làm bột giấy; chính phủ tự ý tăng giá tre bán cho công ti mà không cho tăng giá giấy bán cho chính phủ, rốt cuộc công ti lỗ nặng, phải tặng hết tài sản cho chính phủ (tôi cũng đã tặng cổ phần của tôi, trị giá hai triệu đồng cũ).
Các tổ hợp làm tiểu công nghệ của tư nhân như tổ hợp làm màn trúc, tranh sơn mài, đan áo, thêu, may áo… lây lất sống được là may, đa số phải ngưng hoạt động vì xuất khẩu không được, bán trong nước cũng không được.
Một ông bạn tôi mới cho hay chính quyền đã phải nhận rằng mức sản xuất của mình lúc này kém quá, có ngành chỉ được 5% ngành nào phát triển nhất cũng chỉ được 30% khả năng thôi. Thế thì biết đời kiếp nào mới xây dựng xong xã hội chủ nghĩa?
Ðã không sản xuất mà còn phá tài nguyên trong nước: phá rừng thông trên núi, rừng phi lao ở bờ biển, phá cả vườn cao su để lấy củi (bán ở Sài Gòn), dùng mìn và đồ rà điện để bắt cá lớn cá nhỏ trong sông rạch (cá linh còn nhỏ bằng đầu đũa mà đã bắt để bán ở Long Xuyên), bắn thú và chim, không có luật gì ngăn cấm cả. Làm chủ tập thể, nên không ai cấm ai được. Do đó nước mình trước kia tự hào là tiền rừng bạc bể mà nay đứng vào hàng mười nước nghèo nhất thế giới, có người nói hàng áp chót trên thế giới nữa. Lợi tức trung bình mỗi năm tính theo đầu người thì được 50 Mĩ kim, hai phần trăm của Nhật.
Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê (Tập 3)
Đăng lại từ Diễn Đàn Thế Kỷ (Diendantheky.net)

M.TRITHUCVN.NET
Lo đóng tiền chống ngập nha.
Vừa ngập vừa bị mất tiền !!!
Dấu chấm hỏi dành cho người CSVN
Nguyễn Ngọc Già (Danlambao) – Lương Hữu Phước – người đàn ông ngoại ngũ tuần đã nhảy lầu tự tử vào chiều 29 tháng Năm năm 2020 vì cho rằng bị oan ức, sau khi tòa án tỉnh Bình Phước do bà Lê Hồng Hạnh làm chủ tọa phiên phúc thẩm – vào sáng 29 tháng Năm năm 2020 – tuyên án 3 năm tù giam về tội “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Mức án được giữ đúng như trong phiên sơ thẩm.
Cho đến khi tin ông Phước nhảy lầu được lan truyền nhanh chóng trên mạng xã hội, dư luận mới ngỡ ngàng và bàng hoàng về số phận một người đàn ông, vốn chịu nhiều đau khổ trước đó, với một cuộc đời bất hạnh bị dòng đời xô dạt theo cái chết của người con gái…
Trôi từ Long An, ông Phước cùng 2 người chị dạt về Đồng Xoài, mua được mấy mẫu đất trong suối Bàu Năng, cuối cùng mảnh rẫy của ba chị em cũng bị thu hồi không một đồng đền bù!
Có lẽ Lương Hữu Phước đã chọn cho mình một cách ứng xử ẩn nhẫn nhất, cốt chỉ mong được sống một cuộc đời bình lặng, sau những dập vùi!
Lương Hữu Phước – một người đàn ông bình thường – không ai biết tới ngoài vài người bạn cũng bình thường nốt – lại trở thành đại diện cho nỗi oan ức của người Việt Nam – bằng cái chết bi thảm trong một vụ án thật… đơn giản (!)
Dấy lên trong suy nghĩ của người đời, lại là chi tiết “được tại ngoại” suốt 3 năm qua, để giấc sáng của phiên phúc thẩm nghe tuyên án, rồi giờ chiều cùng ngày, Lương Hữu Phước chọn ngay trụ sở tòa Bình Phước để nhảy lầu, không phải một nơi nào khác…
Có lẽ suốt 3 năm tại ngoại, sự việc người bạn chết cũng dần phai nhạt trong tâm trí Lương Hữu Phước – bởi vốn dĩ ngay cả luật sư cũng xác định, lỗi không phải của ông?
Có lẽ cũng vì thế, người ta có thể hiểu được tâm trạng của Lương Hữu Phước – một tâm trạng của người đinh ninh mình vô tội?
Có lẽ cũng vì thế, Lương Hữu Phước sốc nặng với lời tuyên án lạnh lùng từ bà thẩm phán Lê Hồng Hạnh?
Có lẽ cũng vì thế, trước khi nhảy lầu tự vẫn, ông Phước đã viết trên facebook cá nhân: “Nếu cái chết của tôi làm thức tỉnh nền tư pháp tỉnh Bình Phước thì cũng đáng lắm chớ!”?
Ba năm tù giam không phải là thời gian quá dài cho một cuộc đời, tại sao hành động nông nổi vậy?
Ba năm tù giam để đánh đổi cả một sinh mạng là điều dại dột?
Biết bao nhiêu người oan khiên gấp trăm lần, người ta vẫn không chọn cái chết, tại sao Lương Hữu Phước chọn?
Hồ Duy Hải – một thanh niên vô tội bị kết án tử hình vẫn thiết tha sống kia mà?
Tại sao Lương Hữu Phước không sống để đi đòi công lý?
Cái chết của Lương Hữu Phước “đáng” cho những ai và cho điều gì?
Người ta không kịp hỏi hay ông Phước chưa kịp nói trong tâm trạng tuyệt vọng tột độ vào lúc đó?
Bất giác, những câu nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bỗng vang lên:
Người nằm co như loài thú khi mùa đông về
Người nằm yên không kêu than buốt xương da mình
Từng tiếng người, nhiều tiếng người gọi hoài giữa đêm
Người nằm co như loài thú trong rừng sương mù
Người nằm yên không kêu than chết trên căn phần…
Dáng người đàn ông nằm chết cong queo như dấu chấm hỏi…
Quá nhiều dấu chấm hỏi từ cái chết của Lương Hữu Phước nhưng có lẽ người dân Việt Nam không cần câu trả lời từ “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”?
Và một dấu chấm hỏi cuối cùng, hỏi thay giùm Lương Hữu Phước:
Cái chết mang hình dấu chấm hỏi của người đàn ông bình thường, tội nghiệp đó, có bao giờ người Cộng Sản Việt Nam hồi đáp bằng lương tri và lương tâm làm người?
02.06.2020
Tôi tưởng mình đọc nhầm nhưng không, hoàn toàn là sự thật khi Thanh niên thông tin “Giá dịch vụ chống ngập trên địa bàn TP.HCM được đề xuất là 3.668 đồng/m2/tháng đang gây nhiều tranh cãi. Bởi xã hội hóa đồng nghĩa với việc người dân TP sẽ phải đóng phí chống ngập”!
À thì ra ngập ngang ngực, ngập tràn lan, ngập ngút ngàn, ngập như sông… là tại dân chứ không phải ông Trời hay ông A bà C hoặc quản lý tồi!
Vì tại dân nên họ dự tính dân phải đóng phí chống ngập. Có lẽ họ nghĩ đã vô số phí rồi thì thêm 1 vài loại phí nữa cũng chẳng chết ai!
KTS Ngô Viết Nam Sơn khẳng định tác nhân gây ngập k phải tại dân mà ” do phát triển thiếu bền vững, đô thị hóa tràn lan, nhà cao tầng bạ đâu “cắm” đấy, thiếu không gian dành cho nước và không nâng cấp hạ tầng. Bằng chứng là có rất nhiều khu vực như “rốn ngập” Nguyễn Hữu Cảnh, trước đây không ngập. Từ khi hàng loạt dự án, cao ốc mọc lên thì vừa mưa đã ngập. Mặt khác, việc các dự án được “cắm” vô tội vạ, bê tông hóa toàn TP gây ngập là hệ quả của việc buông lỏng quản lý trong cấp phép quy hoạch, xây dựng.
Nhưng 1 số vị thì lại k nghĩ thế, họ nhấm nháy rằng phải dựa trên nguyên tắc thu đủ bù chi, nếu ngân sách k đáp ứng được thì thu thêm!
Giàng ơi! cứ chi k đủ thì lại thu cho đủ à?
Và họ còn bảo rằng so với nước ABCD nào đó thì dân SG mới đóng 10% thuế bảo vệ môi trường vào tiền nước, quá thấp chứ ở các nước ấy thuế phí gấp 2,3 lần giá nước sạch!
Vẫn như mọi khi, dường như họ lờ đi rằng dân mình nghèo bỏ bu, sao k so thu nhập đầu người?
Nhưng quan trọng hơn cả là từ chục năm nay đã bao lần các ông ấy hứa cần X đồng thì năm Y sẽ hết ngập, để rồi đổ vào đấy hàng chục ngàn tỷ mà vẫn chưa biết năm Z sẽ ngụp lặn thế nào?
Nhưng cái đích to nhất là thu phí nước ngập thần thánh lại bắt đầu đưa ra thăm dò để có phản ứng gì thì lại xem xét rồi tìm cách rập rình chen vào… Hãi quá!
– Hà Phan


Giả sử đóng rồi, Việt Cộng có bảo đảm hết ngập không? 100% là không. Tại sao? Trong quản trị quốc gia nói chung cũng như quản trị hành chánh nói riêng, LÒNG TIN là đòn bẫy lớn nhất cho 1 nhà cầm quyền. LÒNG TIN của người dân Việt Nam dành cho người dân Việt Cộng đã khô cạn từ lâu!
Diễm Thi
Dù rất khổ sở với tình trạng nước ngập triền miên sau mỗi cơn mưa lớn nhưng khi nghe đóng tiền chống ngập, người dân thành phố vẫn không đồng tình vì nhiều lý do. Cô Trần Kim Tuyết nêu ý kiến của mình:
“Bắt người dân đóng tiền chống ngập đó thì em sẽ không đóng vì nhà nước phải có trách nhiệm. Trách nhiệm của nhà nước thì mấy ổng phải tự giải quyết với nhau chứ. Nước ngập ngoài đường sao lại bắt dân đóng? Dân đã đóng đủ thứ tiền rồi. Mấy ổng thu, mấy ổng ăn thì mấy ổng phải chi ra để chống ngập. Không thể bắt dân đóng vì nhà nước thu đủ thứ tiền, từ tiền cầu đường, tiền cầu cống…cái gì cũng thu.”
Cô Tuyết cho biết đóng bao nhiêu loại phí mà không khí vẫn ô nhiễm, đường vẫn kẹt xe nên cô không tin chính quyền sẽ giải quyết được nạn nước ngập.

