Chuyến Vượt Biên Của Tôi – Thanh Nhàn

Nguồn: Tongphuochiep

Một chiếc ghe nhỏ chở người Việt vượt biên giữa đại dương, năm 1982

Tôi đến Vàm Láng vào một buổi chiều và được xuồng nhỏ chở ra biển. Tôi ra biển để chờ “cá lớn”. Theo lời người trong nhóm tổ chức thì “cá lớn” (ghe vượt biên) sẽ đến vào lúc mười một giờ tối nay. Tôi và hai người vượt biên khác ngồi trên xuồng chờ cho đến hơn một giờ sáng của ngày hôm sau mà vẫn chưa thấy tăm hơi của con “cá lớn” ở đâu.

Gần ba giờ sáng “cá lớn” vẫn chưa xuất hiện. Tôi bắt đầu nghĩ tới chuyện đón đò trở ngược về Mỹ Tho. Tôi chỉ sợ đổ bể, du kích chận ở bến đò xét hỏi giấy tờ và hỏi lý do tại sao xuống đây thì thật sự tôi không biết làm sao mà trả lời.

Trong lúc tôi ngỡ chuyến vượt biên nầy không thành, thì hơn ba giờ rưỡi sáng tôi nghe tiếng máy nổ xình xịch nho nhỏ từ rất xa của một chiếc ghe nào đó, tiếng máy nổ càng lúc càng gần. Chú chèo xuồng chở chúng tôi la lên: “cá lớn tới” rồi chú chụp vội lấy đèn pin phát tín hiệu chớp tắt ba lần, chiếc ghe vượt biên đã lộ rõ cũng phát tín hiệu đáp lại. Tôi mừng quá, xuồng tôi chèo nhanh cập vào “cá lớn”.

Tôi tưởng chỉ có một chiếc xuồng của tôi, vừa cập vào ghe tôi thấy bốn, năm chiếc xuồng nhỏ khác không biết từ đâu, xuất hiện từ lúc nào cũng ào ào cập vào. Tôi vịn thành ghe đu người phóng qua, chỉ trong vòng vài phút mọi người từ những xuồng nhỏ khác đã leo được lên ghe. Các xuồng vội vã rời đi, lúc đó đã gần bốn giờ sáng.

Đi được không bao lâu ghe tôi gặp sóng to, từng đợt sóng cao hai, ba thước đánh vào ghe, nâng ghe lên cao rồi hạ xuống thấp, chúng tôi bị say sóng ói mửa liên tục. Ghe tôi vật lộn với sóng gió cho đến chiều tối mới hết. Đêm đến, ánh trăng với một chút vầng khuyết của Mùng Chín âm lịch soi một màu vàng nhạt lung linh trên biển. Chỉ còn sáu ngày nữa là Tết Trung Thu. Tết Trung Thu năm nay có thêm người Việt lưu lạc nơi xứ người. Tôi tự hỏi tại sao quê hương tôi phải chịu cảnh phân ly – người vượt biên, kẻ tù đày?

Sau hơn một ngày trên ghe vượt biên, tôi không thấy đói nhưng rất khát. Chúng tôi được phát chút đỉnh cơm, nhưng phần nước rất hạn chế. Tôi nghe nói hầm chứa nước bị rỉ, nước còn rất ít. Đến chiều, ghe tôi ra tới hải phận quốc tế, một số người bắt đầu vứt bỏ giấy tờ liên quan đến Việt Nam xuống biển, tôi cũng vứt bỏ giấy chứng minh nhân dân của mình.

Tối hôm đó có vài ba chiếc tàu buôn đi qua, chúng tôi đem chăn mền ra đốt để tạo sự chú ý nhưng không có chiếc nào dừng lại để cứu giúp.

Ngày kế tiếp tôi rất khát, sau gần ba ngày vượt biên chúng tôi chỉ được uống nước tổng cộng vài ba lần, mỗi lần được một cốc nước nhỏ chỉ vài ba hớp nước, uống xong, mười lăm phút sau cái khát lại quay trở lại. Có cô gái nhỏ ngồi gần bên tôi lim dim ngủ, tôi thấy cô ta tự dưng đưa tay ra chụp một cái gì đó rồi giựt mình tỉnh dậy. Tôi hỏi: “em làm gì vậy?” Cô nói: “em nằm chiêm bao thấy khát nước quá, má em làm cho em một ly nước đá sữa đậu nành, em mừng quá đưa tay chụp định uống thì tỉnh dậy, uổng quá!” nói xong cô cười, tôi cũng cười.

Đến trưa ghe tôi bị hư máy, chủ ghe cho biết có đem theo máy sơ cua và sau hơn một giờ sửa chữa, thay máy, ghe tôi lại tiếp tục lên đường. Chiều hôm đó tôi được phát chút đỉnh cơm, mấy người trên ghe cho biết nước gần như đã cạn. Biển hôm đó không có sóng to, một điều kỳ thú là tôi thấy một đàn cá to hàng chục con, chúng bơi lội theo ghe tôi hơn nửa giờ rồi biến mất.

Buổi sáng ngày thứ tư của cuộc hành trình, vào khoảng chín giờ sáng, chúng tôi thấy một chiếc tàu ở rất xa, mọi người mừng rỡ đem ống nhòm ra nhìn xem tàu đó ra sao. Một điều tức cười là mắt thường thì nhìn thấy con tàu nhỏ xíu ở xa, mà nhìn trong ống nhòm thì con tàu lại biến mất. Không cần ống nhòm, ghe chúng tôi hướng theo con tàu phía trước mà rú ga chạy tới.

Chạy gần một tiếng rưỡi mới tới, lần đầu tiên trong đời tôi thấy một con tàu lớn như vậy. Tôi nghĩ đó là tàu Hải Quân của một quốc gia nào đó, nhưng càng lại gần thì càng không phải. Đâu có Hải Quân nước nào mà lính mặc xà rông ở trần trùng trục như đám người lố nhố trên tàu kia. Khi tới gần tôi thấy khoảng chục tên ở trần mặc xà rông, tên nào tên nấy nước da đen bóng, thân hình rắn chắc vạm vỡ. Thì ra đó là tàu đánh cá của một nước nào đó.

Khi ghe tôi còn cách tàu kia chừng năm mươi mét. Tôi thấy đám người bên tàu đó có sự thay đổi, hơn phân nửa chạy rút vào phòng trong, chỉ để lại ba, bốn người ở ngoài. Ghe tôi tiếp tục tiến tới. Còn cách hơn mười mét, bọn tôi đứng dậy, tay chỉ vào ngực mình rồi cùng la lên: “Việt Nam! Việt Nam” rồi có người nói tiếp: “refugee – người tị nạn” phía bên kia tôi nghe tiếng đáp lại: “Thái Lan! Thái Lan!”

Ghe tôi xáp tới, mũi ghe tôi đối diện với mũi tàu Thái. Vài người trên ghe tôi hỏi: “ai biết nói tiếng Anh?” Có hai người lên tiếng. Một chú trước là thông dịch viên cho quân đội Mỹ, còn một anh nữa biết nói tiếng Anh và có thời gian ngắn du học bên Thái Lan trước 1975. Một tấm ván dài dược bắc qua nối liền hai con tàu, hai “sứ giả” của ghe tôi bước qua tàu Thái. Chúng tôi ngồi dưới ghe hồi hộp chờ tin tức.

Năm, bảy phút sau, một trong hai người trở xuống ghe cho chúng tôi biết, chủ tàu là người Thái trắng, biết nói tiếng Anh, có vẻ học thức và hiền. Ông ta sẽ thỏa mãn yêu cầu của chúng tôi là cung cấp nước và sẵn sàng giúp đỡ về lương thực nếu cần. Sau khi giúp xác định vị trí của ghe chúng tôi trên biển, chủ tàu Thái cho biết chúng tôi chỉ còn cách bờ biển Mã Lai hơn hai ngày đường. Sau đó, họ thả vòi nước xuống, trong lúc vội vã chúng tôi không tìm được một can không nào đựng nước, ngoại trừ mấy can dầu đã cạn, nước được bơm vào mấy can dầu cạn đó. Khi uống nước tôi thấy chút ít vết dầu trong ly nước, uống vào có mùi dầu máy xông lên nhưng vì khát quá và không có cách nào khác, tôi uống một hơi mấy ly nước đầy, mấy người trên ghe tôi cũng vậy.

Thấy tàu Thái tử tế, ghe tôi muốn tặng vật lưu niệm cho họ mà không tìm ra thứ gì để tặng. Cuối cùng, chúng tôi tìm được nắp hộp của một chiếc hộp đựng bút học trò (chỉ có cái nắp không có cái hộp), nắp bằng gỗ, phần trên của nắp có mảnh gương soi mặt nhỏ, phía dưới là hình một cô gái Việt Nam mặc áo dài với mái tóc dài buông xõa, đầu cô đội nón lá che nghiêng và trên tay cầm một đóa hoa hồng. Phía sau nắp hộp, người thông dịch viết hàng chữ bằng tiếng Anh đại khái nói: “Người tị nạn Việt Nam chúng tôi thân tặng các anh để kỷ niệm ngày chúng ta gặp nhau”. Theo lời anh thông dịch, khi người chủ tàu Thái dịch câu đó ra tiếng Thái, đám ngư phủ Thái Lan đứng chung quanh vỗ tay reo hò ra vẻ thích thú lắm.

Chủ tàu Thái cũng cho chúng tôi biết là ba, bốn ngày nữa sẽ có bão. Ông ta giục chúng tôi đi nhanh. Cảm động nhất là lúc chia tay, toàn bộ người trên ghe tôi đều đứng dọc hai bên khoang ghe vẫy tay chào từ biệt. Bên kia tàu Thái, toàn bộ ngư phủ và chủ tàu đứng dọc trên boong tàu vẫy tay cho đến lúc ghe tôi đi thật xa.

Vào ngày thứ năm của cuộc hành trình, khoảng chín giờ sáng chúng tôi thấy có nhiều lưới và phao nhỏ nổi trên biển. Có một điều lạ là lúc đó chưa thấy đất liền mà tôi thấy chuồn chuồn ở đâu mà bay ra rất nhiều đến hàng ngàn con, chúng bay rất thấp chỉ cách mặt biển có một, hai mét và đậu trên những chiếc phao đó.

Khoảng ba giờ trưa, chúng tôi thấy đất liền xuất hiện ở phía xa. Sau đó, chúng tôi lại gặp một tàu đánh cá khác của Thái Lan, qua sự tiếp xúc họ cho biết ghe chúng tôi đang ở gần ranh giới lãnh hải của hai nước Thái Lan và Mã Lai.

Chúng tôi thật sự may mắn, bao nhiêu ghe, thuyền vượt biên của người Việt mình bị hải tặc Thái Lan cướp bóc, giết hại. Chúng tôi hai lần gặp tàu Thái Lan mà vẫn bình an vô sự.

Những người Việt vượt biên đến bờ biển Mã Lai

Đêm hôm đó gần mười hai giờ khuya, ghe chúng tôi theo con sông nhỏ nối liền với biển tiến vào đất Mã Lai. Lần đầu tiên sau gần sáu ngày lênh đênh trên biển, chúng tôi bước lên bờ. Đêm đó trăng sáng vằng vặc, chúng tôi bước lên bờ chập choạng, ngã nghiêng chân thấp chân cao, mặt đất dường như không chịu đứng yên mà nhấp nhô như sóng biển.

Tôi đặt chân xuống mà sợ chân mình không đụng đất, mỗi lần bước đi phải chầm chậm từ từ như sợ mình bước hụt. Mấy người đi kế bên tôi la lên: “tụi mình đang bị say đất”. Lần đầu tiên trong đời tôi nghe danh từ “say đất” và cũng là lần đầu tiên trong đời tôi mới biết được cảm giác “say đất” ra sao, hiện tượng đó kéo dài mấy phút sau đó mới trở lại bình thường.

Chúng tôi tìm một khoảng đất trống ngồi xuống, vài ba anh thanh niên háo hức cất bước tiến về khu nhà của dân địa phương ở phía xa. Một lúc khá lâu mấy anh trở về cho biết người dân địa phương để xe đạp, xe gắn máy ở phía sau nhà, không xe nào có khóa cả. Mấy anh còn cho biết có một quán nhỏ vẫn còn mở cửa, cô chủ quán người Mã Lai nói trọ trẹ được vài câu tiếng Việt. Trên vách quán có ghi ngày tháng và tên bằng tiếng Việt, chứng tỏ trước chúng tôi, ghe tàu vượt biên của người mình đã đến nơi đây. Mấy anh còn khoe được cô chủ quán cho uống “coca cola” mà không phải trả tiền.

Sau khi mọi người đã trở về đầy đủ, chúng tôi gom lá dừa khô lại để đốt. Mọi người quây quần chung quanh đám lửa nhỏ trò chuyện, một cô ngồi kế bên tôi khe khẽ hát:

Chiều nay sương khói lên khơi
Thùy dương rũ bóng tơi bời
Làn mây hồng pha ráng trời
Sóng Đà Giang thuyền qua xứ người…

Nghe cô hát thật buồn, nhất là trong hoàn cảnh nầy. Nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác nhạc phẩm “Thuyền Viễn Xứ” vào năm 1952 khi đất nước chưa phân đôi. “Thuyền Viễn Xứ” thời đó bất quá tới một nơi nào đó ở cuối sông Hồng, hoặc xa xôi lắm là đến tận cùng của dòng sông Cửu Long, vẫn còn đâu đó trên đất Việt. “Thuyền Viễn Xứ” của chúng tôi bây giờ đi xa diệu vợi, vượt qua một đại dương bao la đến những bến bờ xa lạ và giao tiếp với những người không cùng màu da, ngôn ngữ, bỏ lại đằng sau một nước Việt Nam yêu dấu ngàn đời…

Chúng tôi ở đó chơi cho đến gần hai giờ sáng, rồi lại xuống ghe nhổ neo đi tiếp. Chúng tôi dự định cho ghe chạy dọc theo bờ biển Mã Lai để đến Singapore.

Khoảng chín giờ sáng của ngày thứ sáu của cuộc hành trình, ghe chúng tôi chạy cách bờ biển Mã Lai không tới một cây số và càng lúc càng tiến lại gần bờ. Trên đường tiến sát vào bờ biển Mã Lai tôi thấy vài ba chú cá heo bơi lội nô đùa trên sóng nước.

Bờ biển Mã Lai thật đẹp, từng bãi cát trắng chạy dài, chạy dọc theo bờ biển là những ngọn đồi con nho nhỏ. Mỗi một ngọn đồi có một màu sắc riêng biệt, có ngọn đồi phủ toàn một màu vàng của hoa, có ngọn đồi phủ một màu xanh của cây lá, và có ngọn đồi tím ngắt một màu nổi bật trên nền cát trắng.

Có lúc ghe tôi chạy qua một bãi biển có nhiều dừa, tôi thấy mấy cô gái Mã Lai với đôi mắt to đen, áo quần thướt tha, tay cầm dù che nắng đi dạo trông thật dễ thương.

Gần mười một giờ, có nhiều người mặc thường phục và quân phục đứng trên bờ, họ ngoắc tay ra dấu cho chúng tôi tấp ghe vào, chúng tôi lắc đầu tiếp tục đi. Vài phút sau, một chiếc ca nô từ bờ phóng ra đuổi theo ghe chúng tôi, trên đó có một ông mặc thường phục và một người lính Mã Lai, họ nhảy lên ghe yêu cầu chúng tôi phải tấp ghe vào bờ, lúc đầu chúng tôi không chịu nhưng thấy họ cương quyết, chúng tôi đành phải chịu phép.

Ghe vào bờ rồi, tôi thấy gia đình người chủ ghe mang theo nồi niêu, xoong chảo và gần nửa bao gạo – đó là số gạo trên ghe chúng tôi còn sót lại sau sáu ngày lênh đênh trên biển. Mọi người bước lên bờ rồi chỉ còn ghe tôi nằm trơ trội, cô độc sát bờ. Tôi hỏi mấy người đi bên cạnh: “vậy ghe mình tính sao?” một người trả lời: “người Mã sẽ kéo ghe mình ra biển rồi đánh chìm”.

Chúng tôi – tổng cộng 45 người, đi bộ theo hai người Mã Lai tới một vườn dừa thì thấy có sáu, bảy người lính Mã hiện diện ở đó từ lúc nào, họ hỏi ai là người đại diện ghe và muốn chúng tôi cung cấp danh sách bao gồm tên tuổi, giới tính, nghề nghiệp của tất cả người trên ghe và đưa cho họ. Thế là hai người thông dịch viên của ghe lại bận rộn cầm giấy bút đến hỏi từng người. Sau đó, mấy người lính Mã căng dây thành hình chữ nhật giữa bốn gốc dừa và bảo chúng tôi vào trong đó ngồi.

Trại tị nạn ở đảo Bidong

Chúng tôi ngồi đó chờ đợi, không biết kế tiếp mình sẽ đi về đâu. Xế trưa có hai chiếc xe buýt của hội Trăng lưỡi liềm đỏ Mã Lai tiến vào, họ ra dấu cho chúng tôi lên xe. Tôi bước lên xe tìm chỗ ngồi, lòng thầm hỏi không biết xe nầy sẽ đưa chúng tôi đến nơi nào?

Xe chở chúng tôi chạy qua những thị trấn, làng mạc Mã Lai. Đường xá ở đây được tráng nhựa, hệ thống cầu đường khá tốt. Hơn một giờ sau, xe tấp vào một khu trại có đề chữ “Marang Transit Camp (Trại chuyển tiếp Marang)”. Xe dừng lại, tôi thấy có nhiều người tiến lại gần xe, rồi nghe loáng thoáng có tiếng nói như là tiếng Việt. Bọn tôi trên xe nhao nhao hỏi: “Việt Nam phải không?” mấy người đứng phía dưới cùng trả lời: “Việt Nam”. Tôi mừng quá, tôi cứ tưởng vượt biên, rời khỏi nước không còn có cơ hội gặp lại người Việt mình nữa. Những người đứng dưới xe là những người vượt biên vừa tới trại nầy vào tối hôm qua.

Trại chuyển tiếp Marang cách trại tị nạn Sungei Besi hơn 430 cây số và cách đảo Bidong hơn 45 cây số. Đây là nơi tất cả người tị nạn Việt Nam khi đặt chân đến Mã Lai đều phải đến đó ở một, hai ngày chờ tàu chở ra đảo Bidong để làm thủ tục định cư, và ngược lại, những người tị nạn từ đảo Bidong trên đường tới trại tị nạn Sungei Besi – tọa lạc ở ngoại ô thủ đô Kuala Lumpur, để chờ chuyến bay đi định cư ở nước thứ ba hoặc được tiếp tục phỏng vấn bởi phái đoàn các nước – đặc biệt là phái đoàn Mỹ, cho việc định cư của mình đều tới trại chuyển tiếp Marang ở đó ít nhất một đêm để chờ xe buýt chở đi.

Bọn tôi xuống xe, có người hướng dẫn vào một tòa nhà lớn có nhiều giường đôi hai tầng. Tôi chọn một chiếc giường ở tầng dưới và đặt túi xách đựng quần áo của mình xuống. Mấy người trên ghe tôi cũng vậy, mỗi người chiếm cứ một giường. Sau đó tụi tôi tìm nơi tắm rửa. Trại có hai dãy phòng tắm riêng biệt dành cho nam và nữ.

Sau hơn sáu ngày phong trần, tôi mặc có mỗi một bộ đồ, kể từ lúc bước xuống đò Vàm Láng để vượt biên, chưa được tắm rửa lần nào, giờ đây được xả nước tắm thoải mái để gội rửa bụi “vượt biên”. Không thể nào diễn tả được cảm xúc vui sướng của tôi lúc bấy giờ, nhất là thấy mình đã an toàn đến bến bờ tự do. Mới hơn bảy ngày trước còn ở Việt Nam với bao lo âu, buồn phiền mà bây giờ đã đặt chân đến Mã Lai – vùng đất ước mơ của bao người Việt Nam ôm mộng vượt biên lúc bấy giờ. Tắm xong bước ra ngoài mà tôi ngỡ mình đang nằm mơ.

Chiều hôm đó sau khi ăn uống xong xuôi, tiết mục kế tiếp mà tôi chờ đợi mấy ngày qua là… được ngủ. Sáu đêm ngủ ngồi, tôi gần như không ngủ. Gần bảy giờ tối, tôi leo lên giường làm một giấc thẳng cẳng cho tới ngày hôm sau.

Những người Việt tị nạn trên đảo Bidong, Mã Lai

Gần mười giờ sáng ngày hôm sau có người vỗ vai đánh thức tôi dậy, một anh đi cùng ghe cho tôi biết một giờ trưa hôm nay sẽ có tàu đưa chúng tôi ra Bidong. Anh ta nói: “ông làm gì mà ngủ say như chết vậy? Hồi hôm mấy bà, mấy cô la oai oái làm mọi người thức dậy”. Tôi hỏi: “sao mấy bà, mấy cô la?”, anh ta cho biết, lợi dụng lúc mấy cô đang ngủ, một vài tên lính Mã Lai có ý định sờ mó, sàm sỡ làm mấy cô la lên, mấy bà ngủ gần đó không biết ất giáp gì nghe mấy cô la, mấy bả cũng la làm đám đàn ông mình tỉnh giấc ngồi dậy, mấy tên lính Mã Lai thấy thế sợ quá biến mất. Anh ta còn cười cười nói: “may cho ông đó, ông mà là mấy cô mà ngủ kiểu nầy là tụi nó vác ông chạy vô rừng là tan nát đời hoa”, nói xong anh ta phá ra cười.

Chúng tôi ở trại chuyển tiếp Marang vỏn vẹn chỉ có một ngày. Một giờ trưa ngày hôm đó, xe buýt của hội Trăng lưỡi liềm đỏ Mã Lai đến chở chúng tôi ra bến tàu. Tới nơi, chúng tôi được hướng dẫn xuống một con tàu mang tên Blue Dart mà người tị nạn chúng tôi vẫn thường gọi đùa, tàu đó là tàu “bi đát”. Gần một giờ sau chúng tôi đã có mặt ở Bidong – hòn đảo “thiên đường” của người Việt Nam tị nạn Cộng sản, bắt đầu cho một cuộc sống lưu vong nơi xứ người.

Thanh Nhàn

Nguồn: https://saigonnhonews.com/muon-neo-duong-doi/chuyen-vuot-bien-cua-toi/

Chiếm miền Nam, cướp cả tên trường!(RFA)

Báo Tiếng Dân

Blog RFA

Gió Bấc

Sau tháng Tư đen, không chỉ Sài Gòn mà hầu hết những ngôi trường học tiếng tăm, có truyền thống lịch sử lâu đời đều bị cướp tên.

Đường lối “hòa hợp hòa giải dân tộc” được thực thi nghiệt ngã đến độ hàng trăm trường phổ thông tư thục Bồ Đề, Thánh Mẫu của các Phật giáo, Thiên Chúa giáo khắp các tỉnh thành miền Nam đều “tự nguyện” giải thể, hiến tặng hoặc cho nhà nước mượn không có ngày hoàn trả. Các Viện đại học tư như Vạn Hạnh, Minh Đức, Hòa Hảo…. cũng cùng chung số phận.

Rộng lớn nhất là các trường trung tiểu học công lập đươc xem là loại chiến lợi phẩm và chính quyền quân quản, tùy tiện thay tên đổi họ theo ý thích, theo quan điểm chính trị mà không hề xem xét các yếu tố giáo dục, tâm lý xã hội, giá trị nhân văn.

Việc đặt tên trường ở thời VNCH hướng đến giá trị giáo dục, cho các học sinh noi gương tiền nhân trong học tập, tạo ra bản sắc của hiệu đoàn. Tên trường không chỉ danh xưng mà bao hàm những giá trị hiệu đoàn tiếp nối nhau qua nhiều năm tháng. Tên trường là niềm tự hào, yêu thương của mỗi thành viên, là hoài niệm hồi ức khi đã xa trường.

Các tên trường thường là những danh nhân lịch sử gắn với giá trị văn hóa và hoàn toàn phi chính trị. Không có quan chức, tướng lãnh nào dù là tử trận hay đương chức được đặt tên trường học. Không có trường Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu hay Đỗ Cao Trí, Nguyễn Viết Thanh…. Chỉ có Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Thái Học, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh…

Ấy mà sau tháng Tư đen những cái tên trường đã bị nhuộm đỏ.

Thử điểm qua một số ngôi trường lớn của Sài Gòn. Trường trung học đầu tiên của cả miền Nam từ thời Pháp thuộc đã được Việt hóa với tên Petrus Ký, nhà bác học, người chuẩn hóa và phổ cập chữ Quốc Ngữ, bị thay bằng Lê Hồng Phong, một lãnh tụ cộng sản học hành lèm bèm chủ nghĩa Mác Lê, không có chút đóng góp nào cho giáo dục.

Tương tự, trường nữ trung học đầu tiên mang tên Gia Long, vị vua thống nhất đất nước, khai hóa học thuật cho Nam Kỳ, bị gán vào tên Nguyễn Thị Minh Khai, công lao lớn nhất là phát động cuộc khởi nghĩa đẫm máu ở Nam Kỳ.

Nữ sinh trường Gia Long. Nguồn: gialong.org

Trường trung học đầu tiên của Lục tỉnh là Phan Thanh Giản Cần Thơ, vị Tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ, chủ biên nhiều bộ sử, địa chí trong triều Nguyễn, bị thay bằng Châu Văn Liêm, cũng một cán bộ cộng sản chuyên kích động nổi loạn.

Trường Tống Phước Hiệp mang tên vị quan Trấn Thủ Vĩnh Long thời mở cõi bị thay bằng tên Lưu Văn Liệt, một học sinh lớp 10 bị tuyên truyền sách động, mang lựu đạn vào quán bar gây án vào lúc đông người.

Những cái tên được nhà cầm quyền sính sử dụng để đặt cho trường học thường là hình tượng những tên khủng bố có thật hoặc do tưởng tượng như Võ Thị Sáu, Lê Văn Tám, Mai Thi Non….

Theo nhà thơ Nguyễn Duy, Võ Thị Sáu là cô bé thất học, tâm thần bị kích động, đi ném lựu đạn giết một quan chức hành chính địa phương. Theo giáo sư Phan Huy Lê, Lê Văn Tám thiếu nhi lấy thân làm đuốc sống đốt kho xăng Nhà Bè là sản phẩm tưởng tượng của sử gia cộng sản Trần Huy Liệu. Mai Thị Non cũng là một nữ sinh bị lừa mang mìn hẹn giờ trong cặp sách vào đồn lính, mìn nổ sớm trước giờ, Non chết mà không giết được ai.

Những hình tượng mà chính quyền cộng sản áp đặt vào đầu óc non nớt của học trò không khác chi hành vi của những kẻ khủng bố đánh bom liều chết, bị cả thế giới loài người lên án. Chỉ khác chăng là bọn đánh bom liều chết hướng đến dân tộc khác, quân đội nước ngoài, còn các chiến sĩ cộng sản anh hùng nhà ta liều chết với những người Việt, ngay trên miền Nam ruột thịt của mình.

Không thể thống kê hết tên trường ở các địa phương Miền Nam được dán nhãn bằng tên gọi là anh hùng nhưng thực tế là những tấm gương khủng bố: Hồ Thị Kỷ, Phan Ngọc Hiển…

Thử hỏi tại sao suốt chiều dài lịch sử của Miền Nam ngay từ thời Pháp thuộc đến hai nền cộng hòa, học sinh có bãi khóa, có biểu tình nhưng không có khái niệm “bạo lực học đường” diễn ra hàng ngày như trong thời đại Hồ Chí Minh ‘rực rỡ tên vàng’ hiện nay? Ấn tượng từ tấm gương Võ Thị Sáu, Lê Văn Tám … những bài học về chủ nghĩa anh hùng cách mạng tất yếu sinh ra bạo lực học đường, bạo lực xã hội và cả gia đình. Đưa tấm gương khủng bố lên tên trường học, dạy trẻ con bắn giết mà không tạo ra những băng đảng khủng bố mới là chuyện lạ.

Một sự thay đổi tên trường hết sức tùy tiện khác là đổi theo sự thay đổi đia danh hành chính. Tỉnh Kiến Tường trước 1975 có trung học Kiến Tường, sau 1975, tỉnh Kiến Tường trở thành Huyện Mộc Hóa và Trung Học Kiến Tường cũng bị đổi tên theo. Ở Gò Công trước 75 có trường trung học Hòa Tân, sau 1975 Gò Công bị hạ xuống thành huyện và trường Hòa Tân bị đổi tên thành Tân Tây. Cứ như vậy có nhiều ngôi trường bị đổi đi đổi lại nhiều lần.

Với miền Nam, ngôi trường không chỉ thể chỉ xem xét cơ học là cái nhà để cho người ta ngồi học nhồi nhét kiến thức, tranh giành mảnh bằng. Trường học là không gian sống học tập, yêu thương, sáng tạo của tuổi hoa niên đẹp đẻ nhất đời người. Đó là tình cảm bạn bè, thầy trò sáng trong vun đắp từ từng giờ chơi, tiết học, kết nối các thành viên thành khối hiệu đoàn.

Tùy theo từng trường họ có thể tạo ra bản sắc văn hóa riêng, một truyền thống riêng. Trường nữ trung học Trưng Vương Sài Gòn được giao nhiệm vụ dẫn đầu đoàn diễu hành trong lễ kỷ niệm Hai Bà Trưng hàng năm, đã sáng tạo ra những nhạc cảnh Đêm Mê Linh, Đêm Lam Sơn hoành tráng. Những nữ sinh Trưng Vương trưởng thành theo nghề sư phạm, đã gieo mầm các nhạc cảnh này cho khắp miền Nam. Trường Võ Trường Toản nổi tiếng tổ chức ấn hành nội san học đường khơi dậy phong trào sáng tác học sinh. Trường khác có thế mạnh thể thao, võ thuật.

Ngôi trường, mùa hè, mùa thi đã trở thành đề tài của biết bao tác phẩm thi ca, văn học làm nao lòng người và vẫn còn sức sống sau hơn 60 -70 năm tuổi. Đó là: “Ngựa chứng trong sân trường”, “Vòng tay học trò”, “Trường cũ tình xưa”, “Nỗi buồn hoa phượng”, “Ngày xưa Hoàng Thị”….

Trong điều kiện ấy, tên trường không chỉ là tên gọi hành chính mà hàm chứa kỷ niệm, tình cảm gắn bó suốt cả đời người. Trong hồi ký chiến tranh Về Kontum, trung tá Pháo binh Nhảy Dù kể lại câu chuyện khó khăn tưởng chừng bất khả thi khi phối hợp với Không quân bốc cánh quân Bravo của tiểu đoàn 9 Dù trong rừng gần căn cứ Võ Định về Kontum. Đơn vị này đang bị một đại đơn vị quân Bắc Việt bám sát, lưới lửa phòng không dày đặc, hợp đoàn trực thăng nhiều lần tiếp cận nhưng không thể đáp được. Biết tính khí của sĩ quan chỉ huy hợp đoàn trực thăng quý trọng tình nghĩa với trường cũ Chu Văn An, ông Lạc phải nói dối là “Đường – Đại úy Dù chỉ huy cảnh quân Bravo – cũng học Chu Văn An sau mình hai khóa! Rán cứu nó!” Nghe đến thằng em Chu Văn An, viên sĩ quan không quân đã liều chết đưa hợp đoàn trực thăng bốc toàn bộ cánh Bravo hơn 200 quân của Tiểu Đoàn 9 về Kontum không sót một người. (1)

Không chỉ tình cảm bạn bè cùng trường, tình thầy trò, và đồng nghiệp cùng trường cũng rất sâu dày. Báo chí Việt Nam còn đăng câu chuyện thầy Nguyễn Hữu Hệ từng dạy ở ba trường Trung học Kiến Tường, Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức và Marie Curie, lớn tuổi vẫn sống độc thân, được các cựu học sinh cả ba trường thường xuyên thăm viếng. Được tin thầy bệnh tâm thầ,n cả ba nhóm đến thăm, nuôi bệnh, thì phát hiện ra cô osin đã lừa thầy sang tên ngôi nhà cho cô ấy cùng với toàn bộ số tiền vài trăm triệu mà họ đã quyên góp hỗ trợ thầy. Ba nhóm cựu học sinh phải cử người rước thầy về nhà riêng nuôi dưỡng, tìm kiếm người thân con cháu của thầy và kiện cáo đòi lại căn nhà. Họ tự điều tra, có đầy đủ bằng chứng vụ lừa đảo nhưng công an, tòa án cứ làm lơ. (2)

Đó không phải là câu chuyện cá biệt về tình cũ trường xưa mà trong bối cảnh đau thương của miền Nam bị giải phóng, đất nước bị thống nhất vào tay bên thắng cuộc, trường cũ bị xóa tên, người miền Nam bị ly tán tha hương khắp nơi trên thế giới họ vẫn kết nối nhau trong những hội đoàn cựu học sinh và đều có website riêng. Một số trường có bề dày truyền thống như Trung học Chu Văn An, Võ Trường Toản, lại có nhiều hội đoàn ở nhiều quốc gia, châu lục khác nhau. Cá biệt trường Petrus Ký có đến 10 hội đoàn Ái hữu Petrus Trương Vĩnh Ký ở bắc Mỹ, nam Mỹ, Canada, Âu, Úc, Việt Nam (3)

Ở tỉnh đồng bằng, Trường Tống Phước Hiệp có hội Ái hữu Cựu học sinh Tống Phước Hiệp (4).

Kiến Tường là tỉnh mới lập trong vùng Đồng Tháp Mười heo hút, chỉ hơn 10 năm đã bị xoá tên nhưng các cựu học sinh Kiến Tường vẫn lập hội nối hai đầu cầu Việt – Mỹ và sinh hoạt rất mạnh mẽ (5).

Hầu hết các hội đoàn này đều hoạt động sôi nổi, quan hệ gặp gỡ, tương thân tương ái, chia sẻ kiến thức, sáng tác, hồi ức kỷ niệm ….

Nhiều thành viên của các hội đoàn là những người thành đạt, có kiến thức, có vai trò nhất định trong xã hội, là những nguồn lực khả dĩ có thể hỗ trợ các thế hệ nối tiếp ở ngôi trường cũ, tình cảm nhiệt huyết của họ cũng không thiếu. Nhưng rất tiếc, trường cũ bị xóa tên, đổi tên, ngôi trường bây giờ không còn là trường của họ. Mối liên hệ thương yêu đã bị cắt đứt thành nỗi đau từ năm 1975 nên họ khó có lý do, động lực để quay lại ngôi trường. Họ thừa nhiệt tình để tìm kiếm, thăm hỏi hỗ trợ nhau dù khoảng cách địa lý rất xa đến nửa vòng trái đất, nhưng hầu hết đều đóng khung sự chia sẻ, tương thân trong các thành viên trước 1975.

Việc xóa tên, đổi tên trường của chính quyền cộng sản không chỉ phá hủy không gian văn hóa đẹp của nền giáo dục miền Nam, cướp đi ký ức đẹp của các cựu học sinh miền Nam mà còn phá hủy mối dây liên hệ, tước đi cơ hội tiếp nhận sự hỗ trợ từ thế hệ học sinh trước đây với thế hệ ngày nay.

_______

Chú thích:

1- https://danviet.vn/bi-an-lao-vo-su-ban-nha-6-ty-gia-700-trieuky-2-chau-gai-la-ai-7777712475.htm

2- https://www.youtube.com/watch?v=ygp5XR97O_M&t=366s

3- http://www.petrusky.de/index.php/lienkethoidoan

4- https://tongphuochiep-vinhlong.com/2017/07/hoat-dong-cua-ho%CC%A3i-ai-hu%CC%83u-chs-tong-phuoc-hie%CC%A3p/

5- https://trunghockientuong.com/

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Tuẫn tiết

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

28/04/2023

Bên Thắng Cuộc phát hành cuối năm 2012, và được bỉnh bút Nguyễn Hùng (BBC) liệt kê là một trong “mười chuyện nổi bật” nhất trong năm. Cùng lúc, biên tập viên Mặc Lâm (RFA) cũng nhận xét rằng “cuốn sách đang gây sôi nổi cho cư dân mạng cả trong và ngoài nước” và đã khiến cho “người đọc ngỡ ngàng” vì “cái nhìn” của tác giả – một người sinh trưởng “từ bên kia” chiến tuyến:

“Trong chương 1, Ba mươi Tháng Tư, Huy Đức đặt một tiểu tựa khiến người đọc ngỡ ngàng. Họ ngỡ ngàng vì biết tác giả là người trưởng thành từ bên kia nhưng dùng hai chữ Tuẫn Tiết đặt cho câu chuyện của các tướng lãnh bên này tự kết liễu đời mình trong ngày chế độ sụp đổ.

Các tướng lãnh như Lê Văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ hay Đại tá Đặng Sĩ Vinh lần lượt kết liễu đời mình trước sự chứng kiến của thuộc hạ hay vợ con dưới cái nhìn của Huy Đức là một sự tuẫn tiết…

Một điểm quan trọng nữa, Huy Đức viết: ‘Nhưng đấy vẫn chưa phải là những phát súng cuối cùng của cuộc chiến tranh. Nhiều quân nhân vô danh vẫn tìm đến cái chết trong những ngày sau đó.”

Mãi đến bốn mươi sáu năm sau, độc giả của nhật báo Người Việt – số phát hành vào hôm 6/12/2021 – mới có dịp biết đến tên tuổi của một số “quân nhân vô danh” này qua bài viết (“Những Anh Hùng Tuẫn Tiết Trong Ngày Tàn Cuộc Chiến Tại Việt Nam”) của ký giả Vann Phan :

“Ngoài ‘Ngũ Hổ Tướng’ ra, còn có các sĩ quan khác cùng các hạ sĩ quan trong Quân Lực VNCH và Cảnh Sát Quốc Gia đã chọn cái chết để đền nợ nước trước, trong và sau ngày 30 Tháng Tư, thay vì đầu hàng quân Cộng Sản…

Còn một số quân nhân thuộc nhiều binh chủng khác nhau trong Quân Lực VNCH thì đã tự sát tập thể để khỏi rơi vào tay quân địch, bằng cách cùng nhau mở lựu đạn hoặc đồng loạt nổ súng vào đầu nhau trong biến cố 30 Tháng Tư, 1975, thật vô cùng bi tráng.”

Nỗi “bi tráng vô cùng” này đã được nhà văn Cao Xuân Huy ghi nhận bằng đôi mắt ráo hoảnh, cùng những câu chữ trần trụi và khô khốc:

Lại có rất nhiều người tự tử. Bây giờ họ không tự tử từng người, từng cá nhân mà họ tự tử tập thể. Không rủ, không hẹn và hầu như họ đều không quen biết nhau trước hoặc có quen biết đi nữa, bạn bè đi nữa họ cũng không thể nhận ra nhau trước khi cùng chết với nhau một lúc. Dòng người chúng tôi đang chạy, một người tách ra ngồi lại trên cát, một người khác cũng tách dòng người ra ngồi chung, người thứ ba, người thứ tư, người thứ năm nhập bọn, họ ngồi tụm với nhau thành một vòng tròn nhỏ, một quả lựu đạn nổ bung ở giữa.”

Cựu quân nhân Nguyễn Hữu Luyện bình luận: “Khi một binh nhì kê súng vào đầu mình để bóp cò, người ấy chỉ có một nguyên nhân uất hận được bộc lộ qua khí phách của quân nhân QLVNCH. Do đó, hành động tự sát của anh binh nhì nói lên cái khí phách tột đỉnh và tấm lòng son sắt vô song …”

Khí phách cùng tấm lòng sắt son của những người lính trận – buồn thay – vẫn thường bị lãng quên, nhất là khi họ thuộc bên thua cuộc:

“… những người lính chết trận và mất tích ở phía VNCH, chính thể đã sụp đổ vào tháng 4/1975, ít được biết tới và nhiều lúc đã trở thành đề tài cấm kỵ tại Việt Nam thời hậu chiến. Bị chính quyền mới ghẻ lạnh, đồng minh Mỹ lãng quên, các quân nhân VNCH tử trận chỉ được người thân, đồng đội cũ tưởng nhớ và kiếm tìm.” (Bùi Thư. “Hành Trình Tìm Hài Cốt Lính VNCH: 39 Năm, Anh Em Nằm Dưới Nền Đất Lạnh.” BBC – 28.04.2020)

Ở vào hoàn cảnh của những kẻ thuộc phe bại trận thì việc thu nhặt hài cốt hay tìm kiếm những nấm mồ vô thừa nhận của bạn đồng đội – tất nhiên – chả dễ dàng chi, và cũng không mấy khi có được kết quả như mong đợi. Tuy thế, thỉnh thoảng, vẫn có những sự kiện ấm lòng :

  • Ngày 19 tháng 4 năm 2022, FB Dominic Pham cho biết thêm một tin vui: “Người dân Vũng Liêm, Tam Bình, Vĩnh Long đã đào được hài cốt người lính VNCH, với tấm thẻ bài: Nguyễn Văn Hài SQ 50/680.585LM A RH+. Hài cốt của anh đã được đưa vào Chùa. Xin vui lòng gọi 038 663 3049, 093 284 8449 để biết thêm chi tiết.”
  • Hôm 15 tháng 03 năm 2022 , trên trang FB Tìm Hài Cốt Chiến Sĩ VNCHcũng cho biết một tin mừng khác, đã được thực hiện từ 10 năm trước. Xin lược thuật :

Ngày 19-08-2011, ba cựu quân nhân VNCH đã đến Thị Xã Bà Rịa-Vũng Tàu vì nghe nơi đây có bốn ngôi mộ không bia của đồng đội, nằm trong vườn nhà ông Hai Lì – một cán bộ địa phương… Ông Hai Lì kể:

 “Tôi là dân Gia Đình Cách Mạng, mấy Ông Rằn Ri này gan lì lắm, mấy Ổng chống đến cùng dù có lệnh đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh 30-04-1975, mấy Ổng chiến đấu cho đến trưa 01-05-1975 rồi cùng nhau tự sát và chính tôi là người chôn cất mấy Ổng, giấy tờ từng Ông tôi bỏ vào một cái hộp chôn theo các Ông.”

 Công việc bốc mộ được tiến hành, tất cả mọi người cùng hồi hộp chờ đợi từ nhát cuốc đầu tiên chạm vào ngôi mộ, sau đó hé lộ dần những hình hài của Các Anh đã chôn vùi nơi đây hơn 36 năm dài đằng đẵng…không Quan Tài, mà cũng chẳng có PONCHO bọc xác, chẳng còn gì với cát bụi thời gian, ngoài những mảnh xương tàn, quần áo đã mục nát …

 Chúng tôi cố tìm những mảnh giấy tờ đã được chôn theo Các Anh sau khi đã lượm lặt từng khúc xương còn sót lại, rồi cho vào từng hũ sành, ghi tên Các Anh, gởi vào Chùa và cầu xin cho Các Anh được siêu thoát khỏi chốn dương trần đầy khổ đau, tủi nhục này và điều mong muốn mãnh liệt nhất là thân nhân Các Anh sớm tìm gặp lại Các Anh sau bao năm dài vắng bặt tin tức…

Tất cả mọi người cùng ứa lệ mừng vui khi tìm được những tấm thẻ bài, giấy tờ, tên tuổi Các Anh …và đây là những vị Anh Hùng của chúng ta:

  • Ngôi mộ thứ nhất: Có Thẻ Bài tên TRƯƠNG VI CỬ SQ: 75/115.815.
  • Ngôi Mộ thứ hai: có Thẻ Bài tên VÕ QUANG HẰNG SQ: 68/123.320.
  • Ngôi Mộ thứ ba: (gồm có 02 người) trong đó Một Vô Danh không Thẻ Bài. Người có Thẻ Bài tên: TRẦN VĂN HÀ SQ: 67/824.827.

Sau khi Bốc mộ xong, chúng tôi đã đem 04 hũ cốt gởi Chùa Báo Ân. Địa chỉ: Khu Công Nhân, Thị Trấn Ngãi Giao, huyện Châu Đức, Bà Rịa-Vũng Tàu. Còn các Di Vật và giấy tờ liên quan kể trên, chúng tôi nhờ MĐ Đẹp giữ. Nếu tình cờ Quý Vị nào hoặc ai đọc được tin tức này hoặc cần biết thêm chi tiết cụ thể, xin vui lòng liên lạc theo số Phone, dưới đây: Nguyễn Văn Thành ĐT: 01645462458 hay

Lê Văn Đẹp ĐT: 01684118839.

Dù không phải là kẻ vô thần, tôi là một người vô đạo (hay khô đạo) bất kể đạo gì! Tuy thế, những dòng thông tin muộn màng (ghi trên) về bạn đồng đội vẫn khiến cho tôi cảm thấy có đôi chút an tâm và vô cùng an ủi.

Xin cảm ơn Trời, Đất, Chúa, Phật, Thánh Thần… Xin cảm ơn tất cả mọi người đã không ngại công khó, đã lập đài tưởng niệm, đã cải táng, đã lập mộ (cùng khói nhang ấm áp) cho những kẻ thuộc bên thất trận – dù chúng tôi đã không chu toàn được trách nhiệm bảo quốc an dân.

Tưởng Năng Tiến

Hưng Nguyên và Nghệ An

Báo Tiếng Dân

Thái Hạo

Trong vụ án cô giáo Lê Thị Dung đang làm rúng động dư luận cả nước, có những tình tiết đặc biệt quan trọng liên quan trực tiếp đến việc bắt giữ và kết tội bà. Đó là lá đơn tố cáo của bà trước khi bị bắt, chứ không phải chỉ là những khiếu nại đối với án kỷ luật bà như báo chí đã đưa tin.

Xin nhắc lại một chút về những việc xung quanh án kỷ luật này. Ban đầu là Sở GD Nghệ An “tuyển dụng chui” rồi đẩy người về cho Trung tâm, trong khi nơi này đã đủ giáo viên, và ép giám đốc (cô Dung) phải nhận người. Cô không ký hợp đồng không thời hạn, và rồi sau đó bị kỷ luật. Án kỷ luật ấy không có cơ sở, cô Dung khiếu nại, UBND tỉnh Nghê An thừa nhận cô Dung đúng, nhưng lạ thay, án kỷ luật vẫn không bị thu hồi. Cô Dung tiếp tục khiếu nại.

Đến ngày 16 tháng 9 năm 2021, thì cô giáo Lê Thị Dung đã làm đơn tố cáo Ban thường trực huyện ủy Hưng Nguyên nhiệm kỳ 2015-2020 về nhiều nội dung, gửi lên Bí thư tỉnh ủy Nghệ An.

Phải chăng đây chính là lý do trực tiếp và quan trọng nhất dẫn đến việc bà bị bắt và kết án 5 năm tù giam, chứ không phải là vấn đề của số tiền gần 45 triệu đồng “thất thoát” trong 6 năm kia?

Tại sao nói như thế? Căn cứ vào lời tự bào chữa tại tòa của cô Lê Thị Dung sau khi cả 2 luật sư của cô đều đã bị đuổi ra khỏi phòng xét xử, dư luận khó mà nghĩ khác được. Cụ thể, cô Dung nói: “Có người nói tôi rút đơn đi [chính là lá đơn tố cáo nói trên], không có là lệnh bắt này! Như vậy, ngay từ đầu đã có sự xây dựng để kết tội. Trước xét xử cũng tiếp tục hỏi và định mức án cho tôi là 5 năm. Đã xét xử đâu, đã biết đúng sai đâu nhưng vẫn mức án bỏ túi 5 năm! Căn cứ buộc tội thì không đúng pháp luật, trình tự tố tụng sai phạm từ đầu đến cuối, nhưng vẫn bất chấp luật, vẫn kết tội… Khủng khiếp quá” (Trích lời tự bào chữa của bị cáo Lê Thị Dung tại tòa án Hưng Nguyên – Nghệ An).

Chính vì nhiều lý do của cuộc sống cá nhân và những áp lực này (không phải chỉ từ cấp huyện), cô Dung đã rút đơn tố cáo. Nhưng, chỉ khoảng 1 tuần sau khi rút đơn thì cô Dung bị bắt và bị giam hơn 1 năm trời cho đến cuối tháng Tư này thì bị đưa ra xét xử và bị kết án 5 năm tù bằng một phiên tòa có nhiều tình tiết làm dậy sóng như đã thấy.

Phải chăng, từ những gì đã thấy, việc kêu oan cho cô Dung khó mà có kết quả nếu chỉ khu biệt lại và luẩn quẩn trong phạm vi các cấp chính quyền tỉnh Nghệ An?

Lời bàn: Mọi người Việt Nam đều là tù nhân dự khuyết ngay cả đang là đảng viên.!

VĂN HÓA XHCN HAY TÔI KHÔNG TIN ĐƯỢC!

– Tôi tin được không khi cán bộ đội  chống ma tuý  là trùm  buôn bán  ma tuý?

– Tôi tin được không  khi sĩ quan cao cấp công an  chống cờ bạc  lại là  trùm cờ bạc ?

– Tôi tin được không  khi một  thượng toạ chức sắc của  Phật giáo  lại không hiểu gì  đạo Phật?

– Tôi tin được không  khi  Bộ trưởng Giáo dục  lại là  kẻ đạo văn và xài bằng giả ?

– Tôi tin được không  khi  Bộ trưởng y tế  lại là  chỗ dựa lưng  cho bọn buôn thuốc dỏm giá cao?

– Tôi tin được không  khi một  tổng biên tập tờ báo  lớn miệng luôn mồm yêu nước, thương dân, sống chết với đồng bào, gắn bó với đảng, ray rứt với hiện tình đất nước, sau khi  thu vén được món tiền to  liền đem hết vợ con, cháu chắt chuồn qua Mỹ, mua nhà, sắm xe, mở công ty?

– Tôi tin được không  những cán  bộ lương chẳng bao nhiêu  mà xây nhà hàng trăm tỷ,  con học  nước ngoài, vợ toàn xài hàng hiệu,  rượu uống  một chai hàng chục triệu?

– Tôi tin được không  khi những  quan chức ngành giáo dục  khắp nơi trên đất nước  bán chỗ dạy  học cho các giáo viên với giá hàng trăm triệu?

– Tôi tin được không  những  cán bộ, nhân viên  có nhiệm vụ giữ rừng  lại là những tên lâm tặc  phá rừng?

– Tôi tin được không những cán bộ giữ cánh cửa biên giới  lại  là những kẻ buôn lậu hoặc tiếp tay  cho buôn lậu mang những chất độc giết người vào cho nhân dân tiêu thụ đầu độc người dùng?

– Tôi tin được không những  cán bộ thanh tra, lực lượng chống tham nhũng  lại là  những kẻ tham nhũng  kinh khiếp nhất?

– Tôi tin được không những  tổng biên tập báo , những  nhà báo chống tiêu cực  lại là  thành viên thân cận với những quan chức tham ô, hối lộ, những doanh nghiệp vi phạm nghiêm trọng, những đám xã hội đen, những tập đoàn mafia.

– Tôi tin được không khi những  cảnh sát giao thông  không làm đúng chức trách của mình là giữ gìn và điều tiết giao thông  mà chỉ  đi thu tiền mãi lộ?

– Tôi tin được không  khi  những lãnh đạo hôm qua còn hò hét quốc kế dân sinh  hô hào  phong trào yêu nước, chống tội phạm…  hôm nay đã là kẻ phạm tội  đứng trước vành móng ngựa?

– Tôi tin được không  khi  lãnh đạo giáo dục  bắt các cô giáo phải đi  hầu rượu  quan chức như gái bia ôm?

– Tôi tin được không  khi  bệnh nhân vào cấp cứu  với bệnh trạng thập tử nhất sinh, muốn được thăm khám  phải đóng đủ tiền  thì các cán bộ y tế mới cho phép tiến hành cứu người?

– Tôi tin được không  khi  bệnh nhân  phải nằm bốn người trên một giường và  bộ trưởng y tế  khi đến thăm lại  lấy làm ngạc nhiên  với tình trạng quá tải ấy?

– Tôi tin được không  khi hàng ngàn Tiến sĩ không rành về lãnh vực mình được cấp bằng, cũng chẳng biết một ngoại ngữ nào và gần 60% là quan chức hoặc công chức. Người ta  còn có dự án  tiêu chuẩn hoá Tiến sĩ  xuống tận cấp phường.  Muốn có bằng, họ phải tốn tiền hàng trăm triệu cho đến tiền tỷ?

– Tôi tin được không  khi biết rằng  đa số thực phẩm  đều có chứa chất độc nhưng  rồi cũng phải tiêu thụ nó  để tiếp tục sống dù biết đó là con đường ngắn nhất đi đến nghĩa trang ?

– Tôi tin được không  khi  những người viết sử  có thể lãng quên những anh hùng liệt sĩ của cuộc chiến tranh chống xâm lược phương Bắc,  bóp méo lịch sử  vì sợ mất lòng kẻ thù ?

– Tôi tin được không  khi  người lãnh đạo cao cấp nhất của quân đội  lại ra lệnh cho chiến sĩ của mình  không được nổ súng  khi kẻ thù chiếm đảo để biến họ thành những tấm bia cho quân xâm lược tập bắn ?

– Tôi tin được không  trong thời đại này  người ta có thể đưa hết  con cháu, bà con xa gần, sui gia, dâu rể  ra làm quan, nắm hết chức vụ quan trọng  trong địa phương mình phụ trách ?

– Tôi tin được không  khi  người ta có thể đăng tin cung cấp luận án tốt nghiệp, bán bằng giả  trên mạng xã hội với địa chỉ và số điện thoại rõ ràng. Và đa số cán bộ đều sử dụng loại bằng này. Trong lúc  hàng ngàn sinh viên tốt nghiệp chính quy  phải thất nghiệp, lái xe ôm ?

– Tôi tin được không  khi có thứ  chính quyền đi cướp đất của dân, mua đất của dân  giá rẻ mạt, không mua được thì cưỡng chế, sau đó  bán lại  cho doanh nghiệp với giá gấp trăm lần để bỏ túi ?

– Tôi tin được không  khi người ta  bị bắt  vào đồn công an  sau đó  bị chết vì lý do tự tử bằng sợi dây thun ?

– Tôi tin được không  khi có  những người đảng viên , đang làm quan chức lại  đã, đang và sẽ  có trong mình cái thẻ xanh sẵn sàng định cư ở ngoại quốc ?

– Tôi tin được không  những  người cộng sản  lại giàu có và ăn chơi, tiêu xài gấp trăm lần những tài phiệt tư bản. Họ  vung tiền  khiến cho những đại gia tư bản phải xanh mặt. Ca sĩ, diễn viên nổi tiếng thế giới phải cúi đầu?

– Tôi tin được không  khi có  những vùng  mưa chưa tới, bão chưa qua mà lãnh đạo địa phương  đã ngồi lại làm báo cáo thiệt hại ?…

***

Trong xã hội Việt Nam ngày nay,  còn vô số điều tương tự, không thể tin được  mà “vưỡn” phải tin đấy Em à!

From: TRUONG LE

Bí mật lịch sử tháng 4 năm 1975: Trung Quốc định tung lính Dù nhảy xuống Biên Hòa chặn Bắc Việt?

Những bức ảnh lịch sử về ngày chiến thắng 30/4/1975

George Jay Veith: Ông Nguyễn Xuân Phong cho biết vào những ngày cuối của cuộc chiến, cả phía Bắc Việt và Trung Quốc đã liên lạc với ông.

Phía Bắc Việt bắn tin cho ông, cho đại diện của Pháp (tướng Paul Vanuxem,) và một số nhân vật khác, rằng nếu ông Dương Văn Minh không được đưa lên nắm quyền trước ngày 26/4/1975, họ sẽ san bằng Sài Gòn bằng hai mươi ngàn viên đạn pháo.

Còn phía Trung Quốc cũng cho người đến gặp ông để đưa ra một kế hoạch can thiệp quân sự nhằm ngăn chặn Bắc Việt chiếm Miền Nam Việt Nam. Mục đích của Trung Quốc là ngăn chặn một Việt Nam thống nhất.

Kế hoạch của Trung Quốc, theo lời kể của ông Phong, là trước hết xây dựng một liên minh giữa chính quyền VNCH và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (CMLTCHMNVN). Sau khi có liên minh này, Tổng thống Dương Văn Minh sẽ đưa ra lời thỉnh cầu quốc tế giúp đỡ. Nhân cơ hội đó, Pháp sẽ hồi đáp bằng cách đưa vào Miền Nam Việt Nam một “lực lượng quốc tế” với danh nghĩa bảo vệ chính phủ mới, nhưng trong cái gọi là “lực lượng quốc tế” này sẽ có “hai Sư đoàn lính Dù của Trung Cộng.” Hai sư đoàn Dù này sẽ được thả xuống Biên Hòa.

#RFAVietnamese #vietnamwar #VNCH #trungquoc #nguyenxuanphong

RFA.ORG

Bí mật lịch sử tháng 4 năm 1975: Trung Quốc định tung lính Dù nhảy xuống Biên Hòa chặn Bắc Việt?

Theo WilsonCenter.org

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, một đồng minh lâu năm của Bắc Việt Nam, có thể đã tìm cách tạo ra một miền Nam Việt Nam trung lập vào năm 1975 và phủ nhận chiến thắng mà Hà Nội đã tìm kiếm từ lâu.

Tiết lộ này được rút ra từ hơn một thập kỷ phỏng vấn và trao đổi email mà tôi đã thực hiện với Nguyễn Xuân Phong trước khi ông qua đời vào tháng 7 năm 2017. Phong từng là phó đoàn đàm phán của Việt Nam Cộng hòa tại Paris từ năm 1968 đến năm 1975, và ông tuyên bố đã tiếp xúc với Trung Cộng để cứu Miền Nam Việt Nam.

Hơn 30 năm qua, ông Phong không kể với ai về sứ mệnh cứu nước bí mật cuối cùng của mình. Mặc dù không có bằng chứng tài liệu trực tiếp nào được đưa ra để chứng minh cho tuyên bố của Phong, nhưng bằng chứng cấp ba đáng kể dường như chứng minh cho lời giải thích của anh ta. Nếu đúng, câu chuyện hấp dẫn này sẽ đảo ngược lịch sử được chấp nhận về những ngày cuối cùng của cuộc chiến.

Không lâu trước chuyến đi lịch sử của Henry Kissinger đến Bắc Kinh vào tháng 7 năm 1971, Phong đã được mời tham dự tiệc chiêu đãi tại đại sứ quán Miến Điện ở Paris. Ở đó, Phong được giới thiệu với một quan chức Trung Quốc từ văn phòng của Chu Ân Lai, người muốn gặp Phong. Người đàn ông kết thúc cuộc thảo luận của họ bằng nhận xét, “Tổng thống Thiệu có biết ai là bạn và thù thực sự của mình không?”

Theo Phong, nhiều thông điệp từ phía Trung Quốc đã được chuyển cho ông để tìm cách thiết lập một cuộc đối thoại với Thiệu, nhưng tổng thống Nam Việt Nam đã không trả lời.

Bắc Việt Nam đã phát động một cuộc tấn công khác vào tháng 3 năm 1975 và nhanh chóng phá vỡ hệ thống phòng thủ của Nam Việt Nam. Đến cuối tháng 4, quân đội Cộng sản áp sát Sài Gòn, và Thiệu từ chức để nhường quyền cho phó tổng thống Trần Văn Hương.

Chính phủ Pháp mạnh mẽ đề nghị Hương từ chức để ủng hộ Dương Văn Minh, cựu tướng lãnh đạo cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm năm 1963. Pháp đề nghị thành lập một chính phủ liên hiệp với Chính phủ Cách mạng Lâm thời (PRG), Mặt trận Cộng sản tổ chức ở miền Nam Việt Nam, và đứng đầu là Minh sẽ ngăn chặn cuộc tấn công của Hà Nội. Phong và Hương là bạn cũ, Hương triệu Phong vào Sài Gòn để bàn bạc xem lời đề nghị này có thật không.

Duong Van Minh Stock Photos and Pictures | Getty Images

Khi Phong bay vào Sài Gòn, anh ta tuyên bố đã mang theo một thông điệp bí mật từ người Trung Quốc. Đến nơi, Phong lập tức đến gặp Hương. Vì đã biết vị tổng thống ốm yếu trong nhiều năm, ông khẳng định không có hy vọng đàm phán khi ông vẫn còn tại vị. Ngày hôm sau, Hương triệu tập đại hội để bắt đầu quá trình chuyển giao quyền lực cho Minh. Phong không đề cập đến thông điệp mà anh ta mang theo, vì anh ta biết rằng sự kiện kích hoạt đề xuất này là để Minh lên nắm quyền và chấp nhận liên minh với PRG.

Vài ngày sau, Phong gặp bạn thân của Minh, cựu tướng Trần Văn Đôn, và một đại diện của PRG để thảo luận về khả năng thành lập chính phủ liên hiệp. Trần Ngọc Liêng, một điệp viên bí mật của Cộng sản, có mặt với tư cách là đại diện của Minh. Phong thông báo một cách tế nhị với quan chức PRG tại cuộc họp này rằng Pháp và các nước khác sẽ giúp đỡ chính phủ mới, nhưng anh ta cố tình mơ hồ về điều này có nghĩa là gì. Đây là nỗ lực duy nhất của Phong để chuyển giao tên lửa nổ của mình.

Phong đã mang thông điệp gì?

Ông nói, người Trung Quốc rất muốn PRG nắm quyền thông qua công thức của Pháp là liên minh với Minh để ngăn chặn sự tiếp quản của Bắc Việt. Sau khi một liên minh được thành lập, Minh sẽ đưa ra lời kêu gọi giúp đỡ. Người Pháp sẽ đáp lại rằng một lực lượng quốc tế sẽ vào Nam Việt Nam để bảo vệ chính phủ mới. “Sức mạnh” ban đầu, như Phong gọi, sẽ là “hai sư đoàn Dù Trung Quốc vào Biên Hòa.” Bắc Kinh yêu cầu bốn ngày để sắp xếp quân đội của họ và đưa họ đến căn cứ không quân. Phong giải thích suy nghĩ của họ:

“Bắc Kinh không thể trực tiếp đứng ra làm công việc này, nhưng họ cho mọi người biết rằng họ… để cho người Pháp làm việc này! Vì chính trị quốc tế… Bắc Kinh không thể trắng trợn can thiệp quân sự vào miền Nam Việt Nam. Pháp cần phải kháng cáo lên một ít quốc gia tham gia vào một ‘lực lượng quốc tế’ (với Pháp đóng vai trò mũi nhọn) để cho phép Bắc Kinh can thiệp. Một số vấn đề mà Bắc Kinh phải đối mặt vào thời điểm đó: Số lượng lực lượng quân sự Trung Quốc nên được triển khai, và thời gian sẽ là bao lâu? Họ phải ở lại miền Nam Việt Nam để ngăn chặn và đàn áp quân đội Bắc Việt?nhưng họ nghĩ rằng từ ba đến sáu tháng sẽ là khoảng thời gian tối đa mà họ có thể tham gia… vì họ không muốn bị buộc tội chiếm đóng miền Nam Việt Nam bằng quân sự.”[Tôi]

Tại sao Trung Quốc lại can thiệp bằng quân sự để cản trở chiến thắng của Bắc Việt Nam, đặc biệt là sau nhiều năm ủng hộ Hà Nội?

Trung Quốc muốn một miền Nam Việt Nam trung lập để tránh bị bao vây bởi một hiệp ước Moscow-Hà Nội tiềm tàng. Nayan Chanda, phóng viên có uy tín cao của Tạp chí Kinh tế Viễn Đông , đã trình bày chi tiết về nỗi khiếp sợ của Trung Quốc đối với một Việt Nam thống nhất. Ông viết rằng Bắc Kinh đã “kiên định tuân theo chính sách duy trì bằng tất cả các phương tiện có được một Đông Dương bị chia cắt không có các cường quốc lớn. Những phương tiện này bao gồm ngoại giao thầm lặng, thuyết phục trợ giúp kinh tế và tất nhiên là sử dụng sức mạnh quân sự”.

Nếu Phong là người đưa thư duy nhất mang thông điệp này, anh ta có thể dễ dàng bị sa thải. Anh ấy đã không. Tướng Pháp đã nghỉ hưu Paul Vanuxem mang một thông điệp tương tự như của Phong. Vanuxem đã biết Thiệu và các sĩ quan cao cấp khác của quân đội Việt Nam từ Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Ông thỉnh thoảng đến thăm Thiệu trong nhiều năm và đã trở lại Việt Nam trong những ngày cuối cùng của miền Nam Việt Nam với tư cách là phóng viên của tuần báo Pháp Carrefour .

Vanuxem đã xuất bản một cuốn sách mỏng vào năm 1976 kể chi tiết về những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Ông ghi rằng ông đã đến Dinh Độc Lập vào ngày 30 tháng 4 để nói chuyện với Minh. Trong khi ám chỉ cuộc gặp gỡ của mình trong cuốn sách của mình, nói rằng “tất cả tâm trí đều tê liệt vì sợ hãi và không có khả năng tiếp nhận những lời đề nghị được đưa ra sau đó và lẽ ra có thể cứu vãn được mọi thứ,” ông đã bỏ qua những chi tiết quan trọng.

Có nhiều nhân chứng trực tiếp xác nhận rằng Vanuxem đã nói chuyện với Minh và chuyển một thông điệp tương tự như của Phong. Trong khi những người đàn ông này thuật lại những phiên bản khác nhau của cuộc trò chuyện, tất cả đều ở trong phòng, và một số là điệp viên Cộng sản bí mật. Chuẩn tướng QLVNCH Nguyễn Hữu Hạnh đã cung cấp tiết lộ đầu tiên vào năm 1981 trong một cuộc phỏng vấn được ghi lại cho loạt phim PBS Việt Nam: Lịch sử truyền hình . Hạnh, người mà Minh gọi là đã nghỉ hưu, là một điệp viên thâm nhập lâu năm của Cộng sản. Anh đã ở với Minh trong Dinh Độc Lập vào ngày 30 tháng 4. Hạnh kể lại rằng

“Điều đầu tiên Vanuxem nói là anh ấy vừa đến từ Paris. Trước khi anh ấy đến, anh ấy đã gặp nhiều nhân vật, bao gồm cả các thành viên của đại sứ quán [Bắc Kinh]. Anh ấy đề nghị Minh tuyên bố rằng anh ấy sẽ rời bỏ người Mỹ và sẽ đến phía Trung Quốc, theo ông, nếu ta làm như vậy, Trung Quốc sẽ gây sức ép lên Hà Nội để Hà Nội phải ngừng bắn ở miền Nam Việt Nam, sau khi suy nghĩ kỹ, Minh đã từ chối đề nghị này và khi Vanuxem cầu xin Minh kéo dài thời gian ngừng bắn. toàn bộ sự việc trong 24 giờ nữa, người sau cũng bác bỏ ý kiến ​​đó. Sau khi Vanuxem rời đi, chúng tôi đã thông báo về việc chuyển giao quyền lực.” 

Nguyễn Văn Điệp, bộ trưởng kinh tế Nam Việt Nam và cũng là một tay gián điệp ngầm, tại cuộc họp, đồng ý rằng “Vanuxem đã đến gặp Minh để cố gắng động viên và thuyết phục Minh rằng tình hình vẫn chưa vô vọng. Vanuxem đến ngay sau khi Tướng Minh ghi âm xong lời tuyên bố đầu hàng.” Sau khi Minh nói với anh ta rằng tình hình là vô vọng, Vanuxem trả lời rằng “Không phải là vô vọng. Tôi đã sắp xếp cho việc này ở Paris. Tôi yêu cầu bạn công khai yêu cầu Quốc gia C [Trung Quốc] bảo vệ bạn.” Vanuxem yêu cầu Minh cầm cự trong ba ngày, nhưng Minh từ chối.

Lý Quí Chung, người được Minh bổ nhiệm làm bộ trưởng thông tin, xác nhận rằng:

“Vanuxem nói muốn hiến kế với Minh để cứu vãn tình thế vô vọng mà chế độ Sài Gòn đang gặp phải. Vanuxem nói rằng Minh nên lên tiếng để kêu gọi một nước hùng mạnh can thiệp, và rằng nếu chính quyền miền Nam Việt Nam đưa ra yêu cầu chính thức nước hùng mạnh này sẽ can thiệp ngay thôi, Minh cười chua xót và nói, tôi cám ơn ý tốt của ông, nhưng cả đời tôi đã làm tay sai cho Pháp rồi lại làm tay sai cho Mỹ, thế là đủ rồi. Tôi không muốn làm tay sai nữa.” 

Vanuxem có thể tự mình thực hiện nỗ lực này không? Gia đình của Vanuxem không tin rằng chính phủ Pháp sẽ sử dụng anh ta như một người đưa tin. Họ cho rằng việc ông tham gia vào cuộc đảo chính thất bại của quân đội Pháp vào tháng 4 năm 1961 đã khiến ông trở thành kẻ bị chính phủ Pháp coi thường. Giả sử rằng tình trạng bị coi thường của Vanuxem với chính phủ Pháp vẫn còn nguyên vẹn, thì có thể nghi ngờ rằng ông ta đang mang một thông điệp từ chính phủ Pháp, đặc biệt là khi chính phủ này có đại sứ riêng tại Sài Gòn.

Điều dường như có nhiều khả năng hơn là người Trung Quốc đã tìm kiếm một sứ giả khác ngoài Phong. Phong là một nhà ngoại giao dân sự, trong khi Vanuxem có quan hệ mật thiết với các tướng lĩnh QLVNCH, và ông ta có một lịch sử lâu dài ủng hộ nền cộng hòa. Ông sẽ là phái viên hoàn hảo để thuyết phục các tướng lĩnh chống cộng của QLVNCH chấp nhận sự giúp đỡ của Trung Quốc và Pháp, đặc biệt là một đề nghị táo bạo như thế này. Hơn nữa, với tư cách là một người chuyển phát nhanh đơn độc, anh ta cũng có thể bị từ chối nếu cần thiết.

Nhờ có gián điệp trong cuộc gặp với Minh, Hà Nội biết được đề nghị của Vanuxem. Vào dịp kỷ niệm 10 năm ngày Sài Gòn sụp đổ, Hà Nội cuối cùng đã thừa nhận nỗ lực can thiệp của Trung Quốc. Một quan chức tuyên bố rằng:

“Nhà cầm quyền Trung Quốc ấp ủ một âm mưu cực kỳ thâm độc. Như Dương Văn Minh, chủ tịch cuối cùng của chế độ bù nhìn đã tiết lộ: Sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, qua trung gian của Vanuxem… Trung Quốc yêu cầu Minh tiếp tục chiến đấu ít nhất 24 giờ nữa để có đủ thời gian tuyên bố tách khỏi Mỹ và liên minh với Trung Quốc, sau đó Trung Quốc sẽ gây sức ép, kể cả việc đưa quân vào Việt Nam để chấm dứt các hành động thù địch có lợi cho Trung Quốc.” 

Người Trung Quốc cũng được cho là đã tiếp cận cựu phó tổng thống Nam Việt Nam Nguyễn Cao Kỳ. Trong một cuộc phỏng vấn với William Buckley trên Firing Line vào tháng 9 năm 1975, Kỳ tuyên bố rằng vào khoảng cuối năm 1972, các đặc vụ Trung Quốc đã đến nhà ông ở Sài Gòn. Kỳ cho biết họ yêu cầu ông lật đổ Thiệu và “tuyên bố Nam Việt Nam trung lập, không đứng về phía Nga hay Mỹ.” Nếu anh ấy làm vậy, “người Trung Quốc sẽ ủng hộ bạn vì chúng tôi đã gặp rắc rối ở biên giới phía bắc với người Nga. Chúng tôi không muốn thấy sườn phía nam của chúng tôi bị vệ tinh Nga chiếm đóng”.

Kỳ nhắc lại câu chuyện này trong một bài phát biểu vào tháng 12 năm 1975 tại Mỹ, tuyên bố rằng “một nhóm đặc vụ Trung Quốc đã đến nhà ông ta… và đề xuất một cuộc đảo chính do Trung Quốc hỗ trợ để lật đổ Thiệu.” Tuy nhiên, tại sao Kỳ không bao giờ đề cập đến sự cố này trong cả hai cuốn sách của mình, đó là điều đáng lo ngại.

Việc Vanuxem đưa ra tuyên bố dường như không thể chối cãi. Liệu thông tin của anh ấy hay của Phong có thực sự là ý định thực sự của Trung Quốc hay không vẫn chưa được giải quyết. Đây có thể là một màn khói ngoại giao khác? Thành lập một chính phủ liên hiệp để lật đổ Thiệu trong những ngày cuối cùng chắc chắn là mưu đồ của Hà Nội. Hoàng Đức Nhã, phụ tá thân cận của Thiệu, tin là như vậy. Ông xác nhận rằng đại sứ Pháp đã nói với ông, như một phần trong lời cầu xin để ông Nhạ trở thành thủ tướng mới, rằng “Trung Quốc sẽ đưa một số sư đoàn đến để ngăn chặn Bắc Việt.” Nha nghi ngờ đây là một mánh khóe của Trung Cộng để bán đứng họ trong một chính phủ liên hiệp. [x] Với tất cả các thủ đoạn ngoại giao để loại bỏ Thiệu, ý tưởng này không thể bị giảm giá trị.

Mai Thanh Hải: ĐỜI THƯỜNG TRONG DINH ĐỘC LẬP, NGÀY 30-4-1975

Vanuxem qua đời năm 1979, hành động của ông ta vẫn chưa được kiểm tra, trong khi Phong chưa bao giờ thảo luận về khả năng ông ta bị lợi dụng. Hơn nữa, trong khi Hà Nội rõ ràng đã chấp nhận câu chuyện về Vanuxem, nó không thể được xác nhận nếu không có bằng chứng tài liệu hoặc sự thừa nhận chính thức của chính phủ Trung Quốc hoặc Pháp. Liệu Trung Quốc và Pháp, mỗi bên vì lợi ích quốc gia của mình, có thông đồng với nhau để tạo ra một miền Nam Việt Nam trung lập và phủ nhận chiến thắng mà Hà Nội đã tìm kiếm từ lâu hay không vẫn còn là một khả năng hấp dẫn, nhưng hiện tại, điều đó vẫn là bí mật lớn cuối cùng của Chiến tranh Việt Nam.

Một nền giáo dục dối trá toàn diện-Trần Mạnh Hảo

Báo Tiếng Dân

Trần Mạnh Hảo

Một chế độ tốt đẹp bao giờ cũng có một nền giáo dục tốt đẹp và ngược lại. Hiện nay, nền giáo dục của nước ta là một nền giáo dục không hề tốt đẹp khi nó đã bỏ hẳn dạy môn Văn là môn dạy làm người.

Hầu hết cán bộ trong xã hội Việt Nam hiện nay từ huyện, tỉnh đến Trung Ương nếu chỉ có đồng lương, dù là lương chủ tịch nước cũng không thể cho con cái “tị nạn giáo dục” – tức là cho con du học ở các nước tư bản giàu có như Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Úc, Nhật, Singapore được… Thế mà lạ thay, hầu hết các vị lãnh đạo to nhất từ trung ương xuống tỉnh huyện đều cho con đi du học bên Mỹ, mua nhà bên Mỹ, hoặc du học bên Anh, bên Đức, bên Úc…Trong khi vẫn lớn tiếng lên án chủ nghĩa tư bản xấu xa đang giãy chết! Mặt khác, chưa thấy vị lãnh đạo nào, ông quan to nào ở nước ta cho con du học sang các thiên đường cộng sản như Trung Quốc, Cuba, Bắc Triều Tiên, Venezuela là sao, thưa các vị?

Chính sự chọn lựa nền giáo dục của các nước tư bản giàu có cho con sang du học, rồi mua nhà cho con, chuyển dần tài sản sang các nước tư bản giãy chết của các ông to trong nước như ông cựu bí thư Hà Tĩnh tên Cự … đã mách bảo chúng ta rằng Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Úc, Nhật… có nền giáo dục tốt đẹp nhất thế giới! Và nói cho công bằng, xã hội của họ ưu việt hơn xã hội ta.

Nhìn vào nền giáo dục của xã hội ta hôm nay, trừ các ông to nhất ở cao quá không thấy, ai ai cũng biết nền giáo dục Việt Nam đã xuống cấp tới mức không còn có thể xấu xa hơn nữa.

Một nền giáo dục bỏ hẳn dạy môn văn hơn 20 năm nay để dạy một môn NGỮ VĂN đểu, một môn học thuần lý trí: Nghiên cứu quy luật khoa học khách quan của ngôn ngữ văn học. Bỏ dạy môn Văn – một môn học của tâm hồn, của tình cảm rung động trước cái đẹp tiếng nói và chữ viết con người, cho phép chủ quan được tham gia bằng xúc cảm, bằng rung động con tim trước cái hay cái đẹp của ngôn ngữ và hình tượng văn học. Bỏ hẳn tâm hồn con em ta ra ngoài nền giáo dục là bộ giáo dục, là nhà nước, là đảng cầm quyền đã bỏ hẳn tính nhân văn của giáo dục. Một nền giáo dục bị tha hóa tận cùng, xấu xa tận cùng mới bỏ, không dạy môn văn.

Một nền giáo dục mà ngay bộ trưởng giáo dục như Nguyễn Thiện Nhân, Phùng Xuân Nhạ… cũng khai gian, khai láo học vị tiến sĩ, có phải là nền giáo dục tốt không?

Một nền giáo dục mà hầu hết học vị tiến sĩ là học vị phong bì. Học hàm PGS và GS cũng là học hàm phong bì tức là học vị và học hàm mua bằng tiền, thì có xấu xa hay tốt đẹp thưa quý vị?

Một nền giáo dục dối trá toàn diện. Chính ông Nguyễn Thiện Nhân đã khẳng định nền giáo dục chỉ chạy theo thành tích của ta là nền giáo dục dối trá.

Một người ngọng, dứt khoát không được tuyển vào ngành giáo dục. Trong khi bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ là người ngọng, phỏng có nước nào như nước ta không?

Một nền giáo dục cho phép nữ sinh sư phạm chỉ được làm điếm ba lần, làm điếm lần thứ tư là bị đuổi học, đuổi dạy… như một chỉ thị của ông Phùng Xuân Nhạ, thì đó là nền giáo dục quá xấu xa.

Một nền giáo dục trao trọng trách soạn sách giáo khoa văn, chủ biên sách giáo khoa văn cho các vị giáo sư quá dốt nát như: Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Lộc, Trần Đình Sử, Nguyễn Minh Thuyết, Đỗ Ngọc Thống… chắc chắn không phải là nền giáo dục tốt đẹp.

Một nền giáo dục cho Nhà xuất bản GIÁO DỤC mỗi năm soạn lại SGK, in lại sách giáo khoa, in toàn các loại sách bậy bạ đi kèm sách giáo khoa, bắt cha mẹ học sinh nghèo phải sạt nghiệp vì mua quá nhiều sách đọc thêm, sách tham khảo… Nhà xuất bản Giáo Dục làm tiền một cách phi pháp, khiến các em bé từ mẫu giáo phải oằn lưng cõng cả núi sách giáo khoa, sách tham khảo trên lưng. Một bộ GD& ĐT dùng NXB của mình làm tiền như một bộ đi buôn, không có nước nào làm khổ nhân dân mình như Bộ Giáo dục Việt Nam!

Có thể kể ra vô vàn tội lỗi của nền giáo dục, của Bộ Giáo dục Việt Nam đã phạm với nhân dân của mình, có cảm tưởng như Bộ này lấy ngu dân làm mục đích giáo dục vậy!

GÓC NHÌN CỦA CỰU TỔNG THỐNG Nelson Mandela 

Học Giả Thái Bá Tân.

Trên cổng một trường nọ
Ở Nam Phi, người ta
Khắc câu nói nổi tiếng
Của Nelson Mandela.

“Muốn hủy diệt một nước,
Không cần bom hạt nhân.
Tên lửa và đại bác,
Tàu chiến cũng không cần.

Chỉ cần ngành giáo dục
Của nước ấy suy đồi.
Chuẩn thấp, chất lượng thấp
Gian lận điểm và rồi

Các bác sĩ nước ấy
Sẽ giết chết bệnh nhân,
Và các nhà chính trị
Hoang phí tiền của dân.

Mua bằng, gian lận điểm,
Kỹ sư, nhà mới xây
Nứt lún hoặc sụp đổ,
Hoặc thẩm thấu suốt ngày.

Cũng vì lý do ấy,
Trong tay các quan tòa
Công lý bị bóp méo,
Gây hậu quả xót xa.

Khi giáo dục xuống cấp,
Trí thức thành lưu manh.
Tôn giáo sẽ xung đột.
Đất nước sẽ chiến tranh.

Vì vậy, để sụp đổ
Ngành giáo dục nước nhà,
Tức là tự cho phép
Sụp đổ một quốc gia.

Lyndon B. Johnson và tình trạng leo thang chiến tranh Việt Nam (1964-1967) (Phần 2)

Báo Tiếng Dân

Đỗ Kim Thêm

Tiếp theo phần 1

Trong khi các lực lượng bộ binh Mỹ chưa ghi nhận thành tích chiến thắng nào, thì  Mặt trận GPMN liên tục chiếm được nhiều vùng tại nông thôn và chính phủ VNCH cho biết là chỉ còn khả năng kiểm soát tại Sài Gòn và nhiều thành phố lớn khác.

Gây lo âu cho Johnson trong giai đoạn này không phải chỉ có tiền tuyến Việt mà còn hậu phương Mỹ. Mike Mansfield và Goerg McGovern, hai tiếng nói quan trọng thuộc đảng Dân chủ, đòi hỏi phải tìm một giải pháp đàm phán.

Ngay cả Tổng thư Ký Liên Hiệp Quốc U Thant và Thủ tướng Canada Lester Pearson cũng lên tiếng Mỹ phải giải thích mục tiêu theo đuổi chiến tranh, kết thúc không chiến và kêu gọi đàm phán.

Giới truyền thông Washington trước đây nhiệt tình ủng hộ cho Johnson, nay cũng chuyển hướng khi số lượng thương vong của binh sĩ Mỹ lên cao. New York Times, Boston Globe và Newsweeks đồng loạt nêu việc xem lại ý nghĩa tham chiến, nhưng không đòi hỏi triệt để là Mỹ phải rút quân.

Các phong trào phản chiến lần lượt ra đời cùng với lập luận là việc tham chiến không phản ảnh được ý nghĩa giá trị chiến lược hay dân chủ cho nước Mỹ.

Để đáp ứng tình thế  ngày càng sôi bỏng, trong một bài diễn văn đọc tại Đại học Johns Hopkins, Baltimore ngày 7 tháng 4, Johnson thông báo sẳn sàng thương thuyết với Hà Nội và đề ra một phương thức viện trợ kinh tế theo mô hình Great Society với ngân khoản 1 tỷ đô la cho các nước Đông Nam Á. Đến tháng 5, để bày tỏ thiện chí, Johnson ra lệnh ngưng oanh kích trong năm ngày để yêu cầu CSBV đàm phán.

Dù lòng thành tín muốn kết thúc chiến cuộc không thể nghi ngờ, nhưng thực ra, Johnson không có một chiến lược cụ thể cho tiến trình hay một tương nhượng cho đối phương. Giống như các bậc tiền nhiệm, Johnson chỉ đề cao việc tôn trọng quyền toàn vẹn lãnh thổ của VNCH và không chấp nhận sự hiện diện của MTGPMN tại miền Nam.

Ngược lại với mọi dự đoán của Johnson, tháng 5 năm 1965, để đáp trả, CSBV kiên quyết không chấp nhận hoà đàm, mà lý do chính là đang nhận được nhiều viện trợ quân sự của Liên Xô và Trung Quốc, vì tin là chiến thắng quân sự đã gần kề, nên cũng bác bỏ áp lực đàm phán của Liên Xô.

Để gây tiếng vang với công luận, Hà Nội cũng đề nghị bốn điểm đối nghịch: Mỹ rút quân khỏi miền Nam không điều kiện, chấm dứt oanh tạc miền Bắc, thành lập một chính phủ liên hiệp tại miền Nam với các thành phần yêu chuộng hoà bình và thống nhất đất nước.

Thái độ hiếu hoà của Johnson làm cho giới phản chiến dịu giọng, và đầu tháng 5, Quốc hội thuận chi 700 triệu đô la để yểm trợ cho các cuộc hành quân tại miền Nam.

Hầu hết chính giới tại Washington như Wheeler, McNamara, Rostow, Rush, Westmoreland và các tướng lãnh tại Ngũ Giác Đài cùng đi đến một nhận định chung là, đã đến lúc tình thế không thể đảo ngược; Mỹ phải quyết định táo bạo bằng cách mở rộng không kích, tăng cường quân số bộ binh và bổ sung nhiều chiến lược khác, cho dù phải chấp nhận nhiều hậu quả nghiêm trọng hơn.

Chỉ có Taylor đành im lặng và tìm cách thích ứng trong khi Ball tiếp tục cảnh cáo thiệt hại của Mỹ càng trở nên khó lường đoán.

Tháng 6 năm 1965, việc leo thang thực sự bắt đầu khi Johnson ra lệnh gởi thêm 50.000 quân. Cuối năm 1965, quân số Mỹ lên đến 184.000; cuối năm 1967 là 485.000.

Việc tăng quân liên tục làm cho công luận và Quốc hội phản ứng mạnh. Vô số các khuyến nghị của chính giới và truyền thông hay công luận đều bị Johnson bác bỏ. Điển hình là Henry Cabot Lodge (1902-1985) đã lên tiếng: “Tại sao gởi một số lượng lớn quân đến Việt Nam mà không một lời giải thích?”

Trong năm 1967, cục diện chiến trường thay đổi khi tương quan lực lượng của hai phía không còn cân xứng, nghiêng hẳn về phía Mỹ và VNCH.

Ngoài hơn nửa triệu quân Mỹ đang hiện diện, QLVNCH có trên 660.000 quân, miền Nam còn có 50.000 binh sĩ Nam Hàn và một số lượng của các quốc gia thân hữu khác là Philippines (2061), Úc (50.000) và Tân Tây Lan (356) hợp tác.

Có mặt trên chiến trường miền Nam ước khoảng trên 200.000 binh sĩ miền Bắc và 80.000 quân MTGPMN. Nhưng dị biệt về binh pháp là vấn đề chính.

CSBV chủ yếu vẫn dựa vào du kích chiến của Mao Trạch Đông và lấy nông dân tại nông thôn làm cơ sở. Thực ra, CSBV cũng không thể thay đổi chiến lược này trong toàn diện, trong khi các tỉnh đồng bằng miền Tây Nam bộ có nhiều thuận lợi về địa hình và nhân sự; ngược lại, các tỉnh miền Đông và ven biển miền Trung là không thích hợp.

Dù thất thế về quân số và hoả lực, nhưng tinh thần chiến đấu của cán binh Cộng sản lên cao độ với nhiều lý do.

Nhìn chung, bất chấp số lượng thương vong rất lớn là sức mạnh tinh thần. CSBV tin là nhiều người Việt sẽ chiến đấu kiên cường hơn người Mỹ và sẳn sàng chết nhiều hơn người Mỹ.

Hai “trận chiến long trời lở đất” Điện Biên Phủ và Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975 là bằng chứng không ai quan tâm các con số tổn thất.

Tướng Westmoreland từng nhận định, thành công trong trận Điện Biên Phủ không phải là một bài học chiến lược quý giá để cho các tướng lãnh các nước phương Tây noi theo, kể cả ông cũng cho việc sát quân là không phù hợp. Cho đến nay, chưa có nơi nào trên thế giới áp dụng  kinh nghiệm này.

Trong lịch sử chiến tranh thế giới, chưa có tổn thất của phe thắng trận nào mà nặng nề và thảm khốc hơn phe thua trận như tại Việt Nam (1 triệu 1 cho CSBV so với 330 ngàn của VNCH).

Không nêu cao vai trò đấu tranh giai cấp để bảo vệ quyền lợi công nhân như các xã hội công nghiệp phương Tây; ngược lại, Bắc Việt tuyên truyền rằng Mỹ xâm lược tàn bạo, làm cho nhân dân miền Nam nghèo đói tận cùng và đang rên xiết, và trông chờ Giải phóng quân miền Bắc đến giải cứu. Lập luận này trở thành dụng cụ tuyên truyền hữu hiệu; tấm gương hào hùng chống thực dân Pháp  là một chứng minh lịch sử, đấu tranh giải phóng dân tộc bắt đầu có lý do để biện minh, nhất là khi không quân Mỹ ném bom gây ra hình ảnh bi thương cho đất nước.

Hơn thế, lập luận chống Mỹ xâm lăng có thể thuyết phục được cả các thành phần trước đây thuộc loại lưng chừng: nông dân và một phần thị dân như sinh viên và trí thức, nhất là tự do đấu tranh ngoại vận của thành phần “ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng sản”, lên tiếng hỗ trợ gây được nhiều tiếng vang nhờ có các phong trào phản chiến tại phương Tây tiếp sức.

Các tài liệu về sau hé lộ rằng, có khoảng 310.000 quân Trung Quốc lo bảo vệ miền Bắc, nhưng không có một cuộc thảo luận công khai hay hình thức chống đối nào trong chính giới hay dân chúng về sự hiện diện này, vì CSBV kiểm soát tuyệt đối lĩnh vực truyền thông ngoại vận và quốc nội, đó một lợi thế của miền Bắc; trong khi miền Nam không có và còn thất bại nặng nề trong đấu tranh phát huy chính nghĩa quốc gia, từ nông thôn cho đến hải ngoại, khi so với  hơn 485.000 lính Mỹ đồn trú tại miền Nam.

Đối sách của Mỹ là một thất bại thảm hại mà việc sử dụng vũ khí hoá học là điển hình. Phá huỷ các căn cứ quân sự của MTGPMN bằng bom Napalm và hoá học cũng có nghĩa là hủy diệt môi trường sống cho nông dân.

Nhiều khu vực rộng lớn được Mỹ quy định thành khu oanh kích tự do (free fire zones)  trong khi một số khu rừng rậm tại một số tỉnh được chính quyền xem là Indian country, nghĩa là trong các cuộc hành quân truy tìm và tận diệt (search and destroy) các binh sĩ Mỹ và VNCH có quyền bắn tự do những gì còn lay động.

Các binh pháp của Mỹ đã thành công trong Đệ nhị Thế chiến và tại Triều Tiên được Tướng Westmoreland đem ra áp dụng đều không kết quả như mong đợi mà sự khác biệt ở đây là phân công  Mỹ-Việt:

Sau khi binh sĩ Mỹ truy lùng, diệt dịch và tái chiếm, QLVNCH đảm trách công việc bình định nông thôn. Đại sứ Taylor đã cảnh báo là các binh sĩ VNCH không có khả năng đấu tranh chính trị để gây thiện cảm với nông dân trong lâu dài. Đó là nhiệm vụ mà về sau lực lượng Cán bộ Xây dựng Nông thôn thành hình và đảm trách.

Cuộc chiến không còn để thu phục nhân tâm, mà thành tích chiến thắng chỉ dựa trên việc đếm xác đối phương, một thất bại về tâm lý chiến, nhưng Mỹ và VNCH cần đến các thống kê để phô trương trước truyền thông và công luận hơn bao giờ hết.

Hậu quả

Việc Mỹ hoá chiến tranh gây nhiều bất mãn cho chính giới. Cuối năm 1965,  McNamara cho là chiến thắng quân sự khó khả thi và phải tìm cách đàm phán. Năm 1967, ông kiên quyết phải chấm dứt không kích để tránh các nguy cơ lan rộng. Mâu thuẩn với Johnson và Westmoreland không thể hoà giải; cuối cùng, đến tháng 12 năm 1967, ông chấp nhận chức vụ mới là lãnh đạo Ngân hàng Thế giới và Clark M. Clifford thay ông làm Bộ trưởng Quốc phòng. Cũng trong tâm trạng này, George Ball và McGeorg Bundy rời khỏi nội các Johnson.

Ngoài khó khăn về nhân sự, Johnson cũng cố tìm cách để thương thuyết với Hà Nội, không phải chỉ trong các cuộc vận động chính thức, mà còn qua các sáng kiến tư nhân của các nhà ngoại giao tên tuổi từ các nước Anh, Pháp, Ý, Ba Lan và Liên Xô. Tất cả đều không đem lại kết quả vì bị Hà Nội cự tuyệt.

Nhìn chung, các chiến thuật đàm phán trong ngắn hạn của Hà Nội cũng như Mỹ không khác nhau.

Hà Nội, dù là ngỏ ý đàm phán, nhưng không có thái độ nghiêm chỉnh, mục tiêu là kéo dài cho đến khi nào Hoa Kỳ kiệt sức hoặc do các phản đối của dân chúng Mỹ đến độ phải quay lưng từ bỏ VNCH.

Ngoài ra, Hà Nội cũng muốn lo giữ thể diện là chính. Kinh nghiệm lịch sử đàm phán lại có một lý do khác: hai lần thất bại thương thuyết, một trong năm 1946, lúc cuối Đệ nhất Thế chiến, và một trong năm 1954, lúc cuối chiến tranh Đông Dương. Đó là lý do tại sao Hà Nội không muốn thất bại lần thứ ba.

Lý do chọn giải pháp quân sự ưu tiên vì  viện trợ còn dồi dào và vẫn chờ tin vui chiến trường.

Còn Mỹ? Thái độ của Mỹ cũng không chân thành hơn. Trong cả hai trận tuyến đàm phán và chiến trường, tình hình chung là bế tắc.

Đến cuối tháng 9 năm 1967, Johnson quyết định chuyển hướng sang phương thức mới mang tên “San Antonio”, nghĩa là, Mỹ đề nghị ngưng ném bom và chấp nhận vai trò của MTGPMN trong việc tái thiết hậu chiến, nếu Hà Nội nghiêm chỉnh thương thuyết.

Thực ra, Mỹ ước tính rằng sẽ đánh bại MTGPMN cả về chính trị lẫn quân sự. Dù tôn trọng VNCH là một chính phủ độc lập về hình thức; Mỹ tìm cách để cho VNCH càng lệ thuộc nhiều hơn về mọi mặt.

Còn hai trận tuyến tại hậu phương Mỹ mà Johnson phải lo đối phó là Quốc Hội, truyền thông và công luận phản chiến.

Trước Quốc hội, Johnson phải tìm ngân sách bổ sung để tài trợ cho cuộc chiến được kéo dài. Trong năm 1967, kinh phí quốc phòng đã lên đến đỉnh là 20,3 tỷ đô la, tương đương với công chi cho chương trình Great Society.

Tình trạng khiếm hụt ngân sách khoảng 28 tỷ đô la bắt buộc Johnson phải lo tăng thuế và kiểm soát công chi nghiêm nhặt hơn. Johnson phải lo đương đầu là cán cân thanh toán bất quân bình, đồng đô la mất giá và lãi xuất tăng nhanh.

Cuối cùng, Johnson đạt được giải pháp thoả hiệp với Quốc hội, đồng ý tăng thuế và giảm chi cho chương trình Great Society khoảng 6 tỷ đô la.

Kết luận

Sau khi nhậm chức, Johnson tự hào là “bảo đảm vị trí của mình trong lịch sử Hoa Kỳ với tư cách là người thừa kế hàng đầu của Roosevelt“.

Trong chính sách đối nội, với Luật về Dân Quyền năm 1964 và Đạo luật Quyền Bầu cử năm 1965, Johnson cải thiện được những sai lầm trong di sản của Roosevelt.

Ngược lại, các biện pháp để tạo ra một nhà nước lo phúc lợi cho dân chúng trong hoàn cảnh tham chiến tại Việt Nam là nghịch lý. Johnson cũng gặp thất bại qua biện pháp Medicare. Kết quả là cơ sở vững chắc của đảng Dân chủ tại miền Nam chạy theo đảng Cộng hòa.

Trong chính sách đối ngoại, Johnson quyết tâm tiếp nối truyền thống của Roosevelt khi cho cả hai tình hình thế giới trước đây và Việt Nam hiện nay là tương đồng. Khi Roosevelt lo đối đầu với Hitler thì phản ứng của Johnson trong việc CSBV xâm lăng miền Nam là khác hẳn. Thực ra, nhận định chung của Johnson là sai lầm: Việt Nam khác với Đức và đã kết thúc trong bi kịch khác.

Đến cuối năm 1967, chiến tranh Việt Nam còn kéo dài triền miên trong khi các giải pháp hoàn toàn lâm vào cảnh bế tắc. Chuyển biến quan trọng nhất là mặt trận truyền thông và công luận phản chiến đã không còn ủng hộ cho Mỹ tiếp tục tham chiến và việc kêu gọi rút quân trở nên khẩn thiết hơn.

Do hoạt động của các phong trào phản chiến lên cao điểm, năm 1968 trở thành một năm kinh hoàng cho Johnson khi mọi sinh hoạt công quyền bị tê liệt và khi CSBV đồng loạt tiến hành cuộc chiến Tết Mậu Thân toàn dân miền Nam phải sống trong đau thương.

Cả hai tác động chiến lược này đã đưa đến việc Mỹ ký kết Hiệp định Paris 1973 và sự sụp đổ của VNCH vào năm 1975.

Johnson ra đi vào ngày 22 tháng 1 năm 1973 nên không chứng kiến hồi kết cuộc của bi kịch Việt Nam.

______

Các diễn tiến từ năm 1968 xin xem tiếp các bài: Công luận và truyền thông phản chiến Mỹ làm miền Nam sụp đổ? Chiến cuộc Tết Mậu Thân,  Richard Nixon, Henry Kissinger và Sự Sụp Đổ Của Miền Nam

Lyndon B. Johnson và tình trạng leo thang chiến tranh Việt Nam (1964-1967) (Phần 1)

Báo Tiếng Dân

Đỗ Kim Thêm

Tổng thống Lyndon B. Johnson công du Việt Nam bên cạnh Tướng William Westmoreland, Trung tướng Nguyễn văn Thiệu và Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ. Nguồn: Yoichi Okamoto

Bối cảnh

Lyndon Baines Johnson (1908-1973) xuất thân là một nhà giáo ở Texas, tham gia đảng Dân chủ và lần lượt đảm nhận chức vụ dân biểu quốc hội (1937- 1949), Thượng nghị sĩ (1949-1961) và Phó tổng thống từ năm (1961-1963).

Khác với Kennedy, Johnson không toả sáng được một phong cách trí thức hay quý tộc hay một tài năng nổi bật nào gây thu hút được chính giới tại Washington. Ngay trong tiểu bang Texas, Johnson cũng không đứng về thành phần bảo thủ nồng cốt của đảng Dân chủ. Vì tự nhận mang nhiều ảnh hưởng của Franklin Delano Roosevelt (1881- 1945) trong chính sách New Deal, nên trước công luận, ông luôn tự hào là một “New Dealer” trong thời đại mới.

Ngày 22 tháng 11 năm 1963 Tổng thống John F. Kennedy bị mưu sát tại Dallas là một cơ hội bất ngờ cho Johnson trong việc thăng tiến chính trị. Ngay trong ngày này, theo thủ tục khẩn cấp, Johnson tuyên thệ nhậm chức tổng thống thứ 36 của Hoa Kỳ trên chuyến phi cơ Air Force One.

Sau khi nhậm chức tổng thống cho đến cuối năm 1964, ông quyết tâm tiếp tục thực hiện các chương trình cải cách xã hội của Kennedy.

Những thành công đáng kể nhất của Johnson là việc giảm thuế qua Johnson Tax Act và cải thiện được một phần nào tình trạng phân biệt chủng tộc tại các trường học, nhà hàng, khách sạn và điểm giao thông qua Civil Rights Act. Trong trận chiến chống nghèo đói (War on Poverty), Johnson được Quốc hội tài trợ 1 tỷ đô la để trợ cấp cho các nhà trẻ và trường học địa phương, đặc biệt giúp cho gia đình có lợi tức thấp; biện pháp này tạo thêm thanh danh cho ông.

Ngược lại, chính sách về vấn đề chiến tranh Việt Nam của hai bậc tiền nhiệm Kennedy và Eisenhower trở thành một di sản nặng nề cho Johnson.

Đến cuối năm 1963, số lượng các cố vấn quân sự Mỹ làm việc bên cạnh Quân lực VNCH đã tăng lên đến 16.000 người.

Cũng trong thời gian này, đường mòn Hồ Chí Minh đã mở ra thành một trục lộ giao thông rộng lớn nên việc thâm nhập hàng ngàn binh sĩ và vận tải quân cụ cho miền Nam được an toàn và dễ dàng. Nhờ thế, Cộng sản Bắc Việt gia tăng hoạt động rõ rệt.

Các tướng lãnh tham gia đảo chánh năm 1963 xung đột nhau làm cho nội tình miền Nam bất đầu bất ổn. Tướng Dương văn Minh (1916-2001), người lãnh đạo quân đội, đã chủ trương ngấm ngầm đàm phán với Mặt trận GPMN. Khuynh hướng hiếu hoà này bị đa số tướng lãnh Việt và chính giới Mỹ phát hiện và phản đối.

Tháng Giêng năm 1964, trong một cuộc đảo chánh không đổ máu, mà báo giới miền Nam gọi là chỉnh lý, tướng Nguyễn Khánh (1927-2013) lên nắm quyền và được Washington hỗ trợ đắc lực về chính trị và quân sự.

Hai khuôn mặt Mỹ mới bắt đầu xuất hiện trên chính trường Việt là Tướng Maxwell D. Taylor (1901- 1987), Đại sứ Mỹ tại Việt Nam và Tướng William C. Westmorland (1914-2005), Chỉ huy trưởng Viện trợ Quân sự (Chef of Military Assistance Command). Lực lượng cố vấn Mỹ tăng lên 23.000 người lúc cuối năm 1964.

Nội tình của miền Nam không khả quan khi Tướng Khánh tự quyền soạn thảo Hiến pháp mang danh Hiến chương Vũng Tàu ngày 16 tháng 8 năm 1964 và tự phong cùng lúc hai chức vụ Quốc trưởng và Thủ tướng. Dù được Đại sứ Taylor hỗ trợ, nhưng các phong trào chống đối của sinh viên và Phật giáo gia tăng.

Tình thế càng hỗn loạn là cơ hội cho CSBV đưa binh sĩ thâm nhập miền Nam nhiều hơn. Mức độ gia tăng đáng ngại làm cho cơ quan CIA phải lên tiếng báo động cho Đại sứ Taylor và Tổng thống Johnson biết là nên cấp thời giải quyết. Nhưng Johnson chần chờ mà lý do là chính trường Mỹ đang bắt đầu mùa tranh cử.

Barry Goldwater (1909-1998), đối thủ thuộc đảng Cộng hoà, tiểu bang Arizona, là một thành phần chống cộng cực đoan, không phải vì muốn trực diện chống Liên Xô với tinh thần đối kháng ý thức hệ mà quyết tâm chiến thắng Cộng sản Việt Nam trên chiến trường và bất chấp mọi hậu quả, kể cả việc sử dụng vũ khí nguyên tử.

Nhận ra khuyết điểm này của Goldwater, trước cử tri Johnson tỏ ra mềm dẻo khi đề ra một chính sách có nhiều ý thức trách nhiệm hơn. Ông hứa hẹn kiên quyết chống cộng, nhưng không thể phản ứng thái quá và vụng về như trong vụ Vịnh Bắc bộ xảy ra ngày 10 tháng 8 năm 1964 và cũng không bằng lòng việc gởi con em đến Việt Nam để chiến đấu, nơi mà giới trẻ địa phương phải tự lo bảo vệ cho chính mình.

Kết quả là ngày 3 tháng 11, Johnson thắng cử với tỷ lệ 61% hay 43, 1 triệu phiếu cử tri, trong khi Goldwater chỉ đạt được 38,5 % hay 27, 2 triệu phiếu cử tri.

Diễn biến

Ngay sau khi nhậm chức tổng thống, Johnson nhận thức rằng sẽ còn gặp nhiều trở ngại vì cục diện chiến tranh đang leo thang và chương trình cải cách xã hội (Great Society) khó được tiếp tục.

Nhìn chung, quan điểm của Johnson cũng giống như các bậc tiền nhiệm, chính sách ngăn chặn của Harry S. Truman (1884-1972) và thuyết Domino của Dwight D. Eisenhower (1890-1969) có giá trị thuyết phục nên cần theo đuổi. Khi CSBV xâm lăng và làm miền Nam sụp đổ, thì các nước trong vùng Đông Nam Á và Mỹ sẽ lâm nguy. Ngoại trưởng Dean Rusk (1909- 1994) và Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara (1918-2009) cũng chia sẻ quan điểm này và ủng hộ chính sách phòng chống của Johnson.

Nhưng Johnson phải làm gì? Các giới am tường tình thế có nhiều đề xuất khác nhau. Theo Tướng Không quân Curtis LeMay (1906-1990), một giải pháp cực đoan nhất để sớm tận diệt CSBV là không quân Mỹ ném bom toàn diện và tối đa để đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá.

Một trong những ý kiến phản chiến quan trọng khác là Georg Ball (1909-1994), Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Chứng kiến thảm bại của Pháp trong chiến tranh Đông Dương khi là nhân viên Toà Đại sứ Mỹ tại Paris, Ball cảnh báo Mỹ cần tránh các hậu quả mà Pháp đã gặp phải.

Trong một giác thư gởi cho Ngoại trưởng Rusk, Bộ truởng Quốc phòng McNamara và Cố vấn An ninh McGeorg Bundy (1919-1996), Ball cho rằng việc không kích Bắc Việt sẽ không giúp cho Miền Nam mạnh hơn hay làm cho Mặt trận GPMN yếu hơn, nhưng chắc chắn một điều là tình hình sẽ nghiêm trọng vì lòng căm thù Mỹ càng lên cao độ.

Tác hại ngoại giao khó lường đoán là uy tín của Mỹ đối với Đồng minh cũng vì thế sẽ suy giảm.

Hy vọng xây dựng cho VNCH thành một nước dân chủ, tự do và thịnh vượng, mà Eisenhower và Kennedy dày công theo đuổi, cũng chỉ thành vô vọng. Cho đến na,y tất cả sự sống còn của miền Nam lệ thuộc hoàn toàn vào viện trợ Mỹ.

Do đó, nếu để cho binh sĩ Mỹ càng tiến sâu vào rừng của Việt Nam để chiến đấu, thì chính giới Mỹ càng mất lối thoát trên chính trường. Diễn đạt theo lối người Việt, nghĩa là Mỹ đã leo lưng cọp và không còn biết tìm nơi nào an toàn để xuống lưng cọp. Để giữ thể diện, theo Ball, Mỹ phải triệt thoái là phương sách thích hợp.

Johnson phủ nhận cả hai giải pháp không kích toàn diện của LeMay và triệt thoái toàn bộ của Ball, vì không tin sẽ chấm dứt chiến cuộc, mà dung hoà bằng cách chia chiến lược tấn công CSBV qua hai giai đoạn.

Giai đoạn đầu là không kích trên các đoạn đường tiếp vận trong lãnh thổ Lào khoảng một tháng. Tùy theo mức độ phản ứng của CSBV, giai đoạn hai sẽ ném bom trên lãnh thổ Bắc Việt, khoảng sáu tháng và khi cần thiết sẽ bổ sung bằng cách gài mìn phong toả các hải cảng và đường vận chuyển biển. Các sự kết hợp này sẽ kết thúc chỉ khi nào tình hình miền Nam thực sự ổn định.

Tuy nhiên, cho đến tháng 12 năm 1964, Johnson vẫn chưa chính thức ra lệnh cho việc không kích trong giai đoạn hai. Thái độ chần chờ này gây cho Bộ Tư lệnh Liên quân nhiều bất bình.

Khác với ý kiến của các cố vấn và tướng lãnh, Johnson tỏ ra không kiên quyết đối đầu quân sự với Hà Nội. Lý do chủ yếu là nếu leo thang chiến tranh, phải gia tăng kinh phí quốc phòng và cắt giảm các tài trợ cho chương trình Great Sociey, một tình trạng tiến thoái lưỡng nan mà Johnson cố tránh.

Johnson phải làm gì? Chờ đợi trong vô vọng hoặc theo chủ trương của Ball? Cho dù theo quyết định nào đi nữa, thì Johnson cũng sẽ phải chấp nhận các chỉ trích của các cố vấn và công luận việc VNCH và Đông Nam Á sẽ lâm nguy, trong khi đang mơ ước ưu tiên thực hiện dự án Great Society. Thay vào đó, cũng trong tiến trình này, Johnson cố tìm cách gây ảnh hưởng đến phía VNCH, một khó khăn mà các vị tổng thống tiền nhiệm đã không thực hiện được.

Cụ thể, Johnson đòi hỏi chính phủ VNCH phải cải cách thể chế chính trị, tạo nhiều điều kiện dân chủ hơn. Nhờ thế, may ra, miền Nam tạo được một chính quyền ổn định và đoàn kết hơn, làm cho công cuộc chiến đấu chống cộng có hiệu năng hơn. Để khuyến khích, Johnson chấp thuận cho Tướng Khánh tăng thêm 100.000 quân, đưa quân số Quân lực VNCH lên đến 660.000 quân nhằm tăng cường hoả lực chiến đấu.

Dù thoả thuận tăng quân, nhưng giới lãnh đạo VNCH không quan tâm nhiều đến các cải cách chính trị như Mỹ đòi hỏi. Khi mối quan hệ Mỹ-Việt lệ thuộc nhau càng sâu đậm thì chuyển biến càng phức tạp, cho dù nhìn chung, phía Mỹ luôn muốn gia tăng các hỗ trợ cho Việt Nam.

Tình hình an ninh của miền Nam biến chuyển tệ hại càng làm cho chính giới Mỹ lo âu nhiều hơn. Điển hình là trong đêm Giáng sinh năm 1964, Đội Biệt động thành đã tấn công khách sạn Brink ngay trung tâm thành phố, gây tử thương cho nhiều cố vấn Mỹ. Mấy ngày sau, tại Bình Giã, một địa điểm cách Sài Gòn 70 cây số về hướng Tây Nam, một trận đánh cấp tiểu đoàn diễn ra khốc liệt với kết quả 445 binh sĩ VNCH và 16 cố vấn Mỹ thương vong và phía Việt Cộng mất 132 sinh mạng.

Trước các thảm bại liên tiếp, chính giới Mỹ cho rằng không thể chờ đợi cho đến khi nào mà chính phủ VNCH được ổn định, trước mắt phải tiến hành việc không kích Bắc Việt, vì sẽ mang kết quả thiết thực: Khi CSBV không thể tiếp tục thâm nhập miền Nam, thì MTGPMN không nhận được yểm trợ, đương nhiên phải suy yếu.

Điểm quan trọng nhất trong chiến lược này là Mỹ không muốn có một chiến thắng cấp thời và toàn diện mà ưu tiên nhằm ngăn trở không để cho VNCH sụp đổ. McGeorg Bundy, Cố vấn An ninh, bi quan khi tiên đoán là miền Nam không sống quá một năm trong khi biện pháp ném bom bắt đầu đưa Johnson đi vào một cuộc phiêu lưu mới: Mỹ hoá cuộc chiến Việt Nam.

Nhưng khi Johnson chưa kịp ra tay, thì MTGPMN lại phản ứng đầu tiên. Ngày 7 tháng 2 năm 1965 Việt Cộng đột kích một căn cứ không quân Mỹ tại Pleiku làm cho 8 cố vấn quân sự tử thương và 125 bị thương. Johnson ra lệnh phục thù mang tên chiến dịch Flamming Dart, 132 phi cơ của Thuỷ quân Lục chiến ném bom các căn cứ quân sự tại miền Bắc.

Ngày 10 tháng 2 năm 1965, MTGPMN tiếp tục tấn công một căn cứ quân sự Mỹ làm cho 20 binh sĩ Mỹ tử thương. Để phản ứng, Johnson ra tiếp một chiến dịch mới mang tên Rolling Thunder nhằm không kích miền Bắc vô thời hạn.

Điểm tác hại cho Johnson trong lúc này là không thông báo cho dân chúng biết đầy đủ về các diễn biến của tình hình, mà chỉ công bố là để trả thù trước các cuộc tấn công của Hà Nội, đặc biệt nhất là không đề cập đến yếu tố ném bom vô thời hạn.

Đến cuối tháng 2 năm 1965, cùng lúc với các viện trợ quân sự gia tăng, số lượng các cố vấn quân sự Mỹ đã lên đến 23300. Dù tình hình an ninh xấu đi, buộc QLVNCH lâm vào thế thủ để bảo vệ các cơ sở hạ tầng, nhưng chiến dịch Rolling Thunder hứa hẹn mang lại nhiều sinh khí mới cho dân chúng miền Nam.

Từ tháng 12 năm 1964, Tướng Khánh liên lạc với MTGPMN và tìm một giải pháp đàm phán. Các tướng lãnh khác phản ứng mạnh và kết thúc bằng một cuộc đảo chính không đổ máu. Do sự thu xếp của Đại sứ Taylor, miền Nam thực sự có chuyển biến mới khi một chánh quyền dân sự thành hình vào ngày 18 tháng 2 năm 1965 và Tướng Khánh chấp thuận rời khỏi Việt Nam ngày 24 tháng 2 năm 1965 với chức danh Đại sứ lưu động.

Dù mang danh là Uỷ ban Hành pháp Trung ương và Uỷ Ban Lãnh đạo Quốc gia, nhưng tất cả thành phần lãnh đạo đều là các tướng lãnh: Nguyễn Cao Kỳ (1930-2011) và Nguyễn Văn Thiệu (1923-2001). Chủ trương của chính quyền mới là kiên quyết không thoả hiệp với MTGPMN và hợp tác chặt chẽ với Mỹ để đưa cuộc chiến đến thành công.

Lại một lần nữa, các cuộc tấn công dồn dập của MTGPMN tại các căn cứ không quân Biên Hoà và Pleiku chứng tỏ khả năng phòng ngự của hai lực lượng Mỹ-Việt không tương xứng.

Tình thế đổi thay khiến cho Tướng Westmoreland phải khẩn cấp lên tiếng đòi gia tăng binh lực để bảo vệ căn cứ Đà Nẵng. Yêu cầu này bị Đại sứ Taylor phản ứng kịch liệt với lý do là am tường tình thế Việt Nam toàn diện hơn Westmoreland, người chỉ chuyên về binh pháp.

Đại sứ Taylor lập luận rằng binh sĩ bộ binh Mỹ, cho dù trang bị vũ khí hiện đại và tinh thần chiến đấu cao độ, vẫn không phải là đối thủ tương xứng với các du kích quân tại khu vực rừng nhiệt đới. Kinh nghiệm Điện Biên Phủ cho thấy Pháp khi xưa đã thất bại, thì nay Mỹ không thể khá hơn. Điểm chủ yếu là binh sĩ Mỹ trong khi cận chiến không thể phân biệt được nông dân và Việt cộng.

Các ý kiến của Taylor không thuyết phục được Johnson. Do đó, ngày 8 tháng 3 năm 1965, Mỹ quyết định đưa hai tiểu đoàn Thuỷ quân Lục chiến được trang bị với thiết giáp và pháo binh đến Đà Nẳng.

Được ưu thế tại Washington, Tướng Westmoreland càng đòi gởi quân nhiều và nhanh hơn. Đến cuối tháng 4, số lượng bộ binh Mỹ đổ bộ là 40.000. Theo nguyên tắc, các đơn vị này sẽ lập ra căn cứ quân sự và tổ chức các cuộc hành quân trong phạm vi 50 dặm chung quanh doanh trại.

Theo một tự sự sau này của Bùi Diễm (1923-2021), cựu Đại sứ VNCH tại Mỹ, cho biết, trong tiến trình quyết định gởi quân đến Đà Nẵng, Mỹ không tham khảo ý kiến của chính phủ VNCH; sau đó, để hợp pháp hoá việc hợp tác quân sự Mỹ-Việt, VNCH mới ra một tuyên bố công nhận việc đóng quân. Cho đến nay, không có một tài liệu chính thức nào xác nhận tham vọng xâm chiếm lãnh thổ hay thu tóm quyền lợi kinh tế của Mỹ như thực dân Pháp.

(Còn tiếp)

Hoa Kỳ có bỏ qua yếu tố nhân quyền trong nâng cấp quan hệ với Việt Nam?

RFA

“Việt Nam không nên ảo tưởng rằng Mỹ sẽ bỏ qua các vấn đề về nhân quyền trong quá trình phát triển mối quan hệ giữa đôi bên.”

2023.04.17

Ông Blinken gặp một nữ tu tại Hà Nội

Reuters

Tiến sỹ Nguyễn Hồng Hải, chuyên gia về Khoa học Chính trị, nghiên cứu viên tại Trung tâm Tương lai Chính sách, Khoa Nhân văn và Xã hội học, Đại học Queensland, Úc nhận định như vậy với RFA sau khi ông Blinken rời Hà Nội, kết thúc chuyến thăm chính thức hai ngày đến Việt Nam, từ 14 đến 16/4/2023.

Trong hai ngày ở Việt Nam, ông Blinken đã gặp Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Hà Nội vào sáng ngày 15/4. Cả hai đã từng gặp gỡ chính thức vào hồi tháng 5/2022 tại thủ đô Washington D.C của Mỹ. Ông Blinken cũng có cuộc hội kiến với Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.

Ngoại trưởng Mỹ cũng đã dự lễ động thổ để tiến hành xây dựng khu phức hợp Đại sứ quán Mỹ trị giá 1,2 tỷ USD tại Hà Nội. Đây được nói là một trong những Đại sứ quán Mỹ lớn nhất trên Thế giới.

Trong dịp này, ông Blinken đã đến thăm các nữ tu Dòng Thánh Phaolô thành Chartres. Các nữ tu của dòng này đã nhiều lần biểu tình, khiếu nại với chính quyền để đòi lại các phần đất có đầy đủ giấy tờ của nhà dòng bị phía chính quyền và một số hộ dân lấn chiếm, xây dựng trái phép trên đó.

Ý nghĩa của chuyến thăm

Tiến sỹ Nguyễn Hồng Hải cho rằng chuyến thăm lần này của Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken đã đạt kết quả như kỳ vọng của đôi bên. Ông rút ra năm ý nghĩa chính về quan hệ song phương Việt – Mỹ sau chuyến đi Hà Nội lần này của người đứng đầu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.

Thứ nhất là nó đánh dấu trở lại sự tiếp xúc thường xuyên giữa quan chức cấp cao giữa hai chính quyền của hai nước:

“Năm 2021 thì phó tổng thống Mỹ Harris và bộ trưởng quốc phòng đã đến thăm Việt Nam, nhưng mà phải đến gần hai năm nay rồi thì đây là chuyến thăm cấp cao nhất của chính quyền tổng thống Joe biden đến Việt Nam.

Những cuộc tiếp xúc song phương vào các dịp giữa các hội nghị khu vực, hội nghị thượng đỉnh của khu vực hoặc là hội nghị Thượng đỉnh Asean – Mỹ…, chúng ta không thể tính những cuộc gặđó bởi vì nó không phải là chuyến thăm chính thức.”

Ý nghĩa thứ hai là nhấn mạnh hơn về khả năng nâng cấp mối quan hệ hai nước lên tầm Đối tác chiến lược:

“Kết quả thứ hai là cả hai bên đạt được sự đồng thuận vững chắc hơn trong việc nâng cấp quan hệ.

Trong điện đàm với tổng thống Mỹ Joe Biden hôm 29/3 thì tổng thống Joe biden và Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi đó chỉ nói là đề nghị giao cho các cơ quan chức năng của hai bên trao đổi các nội hàm cụ thể để nhằm thúc đẩy mối quan hệ trong thời gian tới, chứ không nói rõ là có nâng cấp mối quan hệ hay không.

Nhưng mà trong buổi tiếp Ngoại trưởng Blinken thì Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng lại nói rằng là quan hệ Việt – Mỹ có nhiều kết quả tích cực, là cơ sở để phát triển lên tầm cao mới. Tức là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng án chỉ là hai bên sẽ nâng cấp mối quan hệ.

Và trong họp báo kết thúc chuyến thăm thì Ngoại trưởng Blinken đã phát biểu hết sức khả quan về điều này. Ngoại trưởng Blinken nhấn mạnh rằng đối với nước Mỹ và chính quyền Tổng thống Joe biden thì quan hệ với Việt Nam là một trong những mối quan hệ năng động và quan trọng nhất. thì đó là kết quả thứ hai là khẳng định là hai nước sẽ tiến tới nâng cấp quan hệ vững chắc hơn.”

Kết quả thứ ba, theo ông Hải, là chuyến thăm càng khẳng định hơn là hai ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ và Tổng thống Mỹ Joe Biden sẽ gặp mặt nhau trong năm nay:

“Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong buổi tiếp Ngoại trưởng Blinken thì đã nói rằng giao cho các cơ quan chức năng thu xếđể tiến hành chuyển thăm đó vào thời gian thích hợp, còn Tổng thống Mỹ Joe Biden qua lời Ngoại trưởng Blinken nói rằng mong muốn sớm thăm Việt Nam.

Tóm lại là kết quả thứ ba là nó khẳng định chắc chắc chắn rằng trong năm nay sẽ có một hoặc hai chuyến thăm của hai nhà lãnh đạo sang Hà Nội hoặc là Washington, còn thời gian cụ thể thế nào thì hiện tại chúng ta chưa thể biết bởi vì vẫn còn các đàm phán, còn có những việc phải bố trí về thời gian lịch trình.”

Ý nghĩa thứ thư là về mặt niềm tin. Tiến sỹ Hải cho rằng chuyến thăm này khẳng định cam kết về quan hệ ổn định, lâu dài giữa hai nước:

“Nó thể hiện qua để động thổ xây dựng quần thể mới của Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội, mà theo phía Mỹ nói thì đây sẽ là một trong những quần thể sứ quán Mỹ lớn nhất trên thế giới.

Ngoài ra, Ngoại trưởng Mỹ đã nói lên và nhấn mạnh cam kết và lòng tin của phía Mỹ trong quan hệ Việt – Mỹ, và những cam kết đó nó sẽ thể hiện bằng những hành động cụ thể để từ đó trấn an cũng như củng cố lòng tin của Việt Nam đối với Mỹ.”

Ý nghĩa về nhân quyền

Ý nghĩa thứ năm và cũng là cuối cũng trong chuyến thăm mà tiến sỹ Nguyễn Hồng Hải đúc kết được đó chính là về vấn đề nhân quyền. Ông nói:

“Mỹ vẫn thể hiện cam kết về vấn đề nhân quyền cho dù hai nước có tiến tới Đối tác chiến lược. 

Mặc dù là mang tính biểu tượng thôi nhưng việc mà Ngoại trưởng Hoa Kỳ đến thăm tu viện như vậy thể hiện cam kết của phía Mỹ đối với vấn đề nhân quyền. Nói cách khác là nó truyền tín hiệu gián tiếp rằng trong quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ, cho dù là nâng cấp lên mối quan hệ đối tác chiến lược thì Mỹ vẫn quan tâm và xem xét đến vấn đề nhân quyền.

Và rõ ràng là trong cuộc gặp với thủ tướng Phạm Minh Chính thì Ngoại trưởng Blinken cũng đã đề cậđến vấn đề nhân quyền.

Tuy nhiên, cách tiếp cận của Mỹ trong vấn đề về nhân quyền với Việt Nam sẽ ý nhị hơn. Tức là cách tiếp cận mang tính xây dựng và mang tính đối thoại, không chỉ trích, phê phán quá mạnh mẽ. Điều này rất khác đối với quan hệ Mỹ và Trung Quốc.”

Tiến sỹ Hồng Hải khẳng định vấn đề nhân quyền sẽ luôn luôn đặt ra trong quá trình đàm phán nâng cấp mối quan hệ Việt – Mỹ, bởi vì nhân quyền là một trụ cột trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Chính vì vậy, ông Hải nói:

“Đối với các nước như Việt Nam, khi quan hệ với Mỹ, thì không nên ảo tưởng rằng là Mỹ sẽ từ bỏ vấn đề nhân quyền.

Tuy nhiên, mặc dù nhân quyền là một trong những trụ cột trong chính sách đối ngoại của Mỹ nhưng mà phía Mỹ khi triển khai thực hiện vấn đề nhân quyền thì họ luôn luôn dựa trên chiến lược của họ. Chính vì thế cho nên mức độ ưu tiên nó sẽ khác nhau.”

Hơn nữa, theo tiến sỹ Hồng Hải, trước đây, khi Mỹ là một siêu cường duy nhất thì lúc đó Mỹ có thể dùng những chính sách nhân quyền để  gây áp lực cho các nước khác.

Tuy nhiên, hiện nay, trong một thế giới mà sự đa cực ngày càng rõ và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn hơn thì chính phủ Mỹ phải điều chỉnh cách tiếp cận về vấn đề nhân quyền để nó phù hợp, mang tính xây dựng, tôn trọng lẫn nhau và có sự cân nhắc, đảm bảo lợi ích của tất cả các bên.

Leo lên được chức đó thì nó không hiền đâu em!

Báo Tiếng Dân

Chu Mộng Long

18-4-2023

Thật ngây ngô khi có nhiều trí thức tỏ ra tiếc nuối cho tài năng Nguyễn Quang Tuấn bị sa lưới pháp luật. Một tài năng được đi du học ở nước ngoài, được đánh giá như là… nếu không có ông ta, nhiều người sẽ chết vì tim mạch! Nhiều người còn chiêu tuyết cho tài năng, rằng thì là, làm quan trong cơ chế này ai cũng phải tham nhũng. Cơ chế mà họ nói không chỉ là cơ chế chung mà cụ thể ở đây là cơ chế thầu trang thiết bị y tế.

Ảnh: Ông Nguyễn Quang Tuấn, cựu Giám đốc Bệnh viện Tim Hà Nội. Ảnh trên mạng

Bề ngoài những lời tiếc nuối, những lập luận chiêu tuyết tưởng có lý, nhưng rất cảm tính đến vô lý.

Đi du học thì sao? Kim Jong Un chẳng phải du học ở nước dân chủ để trở về Triều Tiên thành nhà độc tài? Vô số con ông cháu cha đi du học về làm gì, ngoài kế thừa bố mẹ chúng, không làm quan thì cũng làm đại gia bằng cách phá nát cái đất nước này? Theo tôi, với thành phần đó, bất tài thì tham lam trắng trợn, nếu có tài năng thì thành lưu manh và tham lam trá hình với nhãn hiệu nhân văn, nhân đạo. Đằng nào cũng phá hoại hơn là có ích!

Ừ thì do cơ chế. Một cơ chế lỏng lẻo như trước đây, đúng là cái cửa mở toang hoác cho các dự án, đặc biệt là các gói thầu chui hết vào bụng quan. Nhưng chuyện gì xảy ra khi nhà nước siết cơ chế? Chỉ một Nghị định siết cơ chế đấu thầu mà từ Nam chí Bắc, các quan chức y tế đã đồng loạt “đình công”, hô hoán không thể nhập thuốc, nhập vật tư, mặc cho con bệnh nằm chờ chết để gây áp lực Chính phủ mở cửa cơ chế như cũ.

Do cơ chế thì sao chính nhà nước lại tóm cổ các nhóm lợi ích này vào lò?

Tham lam là cái gene truyền thống Việt. Cái truyền thống giáo dục toàn rao giảng đạo đức giả, nhân văn giả, cho nên mỗi cá nhân luôn bộc phát tham vọng, từ chạy đua quyền lực đến tham lam, vơ vét vô độ cho cái túi tham của mình.

Nhớ một lần, ngồi nói chuyện với thầy cũ của tôi. Tôi khoe ông bạn đồng môn đã lên sếp và khen anh ta hiền. Cũng là học trò của thầy, nhưng thầy cười rất mỉa mai: “Nó đã leo lên đến chức đó thì nó không hiền đâu em!” Có nghĩa là những người này đã tham từ gốc bằng con đường chạy quan chứ không phải do làm quan mới tham. Người ta đã tham ngay từ khi chưa làm quan chứ không phải làm quan rồi mới tham. Tôi không tin có cái gọi là “tha hóa quyền lực”!

Một lần tôi hỏi một đồng nghiệp: “Mày đua quan để làm gì?” Anh ta nói: “Vì dân vì nước!”. Tôi chửi: “Dối! Vì dân vì nước thì hy sinh ở chiến trường, không phải đua quan!”

Tóm lại là, anh ta phải như thế nào mới được cất nhắc, bổ nhiệm. “Như thế nào” ấy không thể là phẩm chất đạo đức tốt và tài năng xuất chúng.

Với tôi, thằng quan nào vào lò cũng đều đáng ghét. Không thương tiếc được! Tài năng như Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát,… mắc tội chống triều đình thối nát phải gặp họa tru di thì mới đáng chiêu tuyết, chứ đủ bằng chứng tham lam vô độ thì có oan đâu mà chiêu tuyết?

Chuyện anh Lý Bửng

Lê Vi

Sài Gòn sụp đổ, anh Lý Bửng nhét cả gia đình gần chục người lên chiếc máy bay chong chóng chỉ có 2 ghế ngồi, rồi bay ra biển Đông.

Chiếc máy bay này không thể vượt Biển Đông tới Philippines. Xác xuất gặp một hàng không mẫu hạm giữa biển Đông bao la cũng cao bằng xác xuất một con đại bàng quắp cục đá bay trên trời rồi thả xuống mà trúng luôn một con rùa dưới đất. Nhưng Sài Gòn sụp đổ thì anh Lý Bửng cũng đành bay như ca dao Bắc Bộ thời đó nói về “đường lên hạnh phúc rộng thênh thang”:

Đi đâu không biết đi đâu,

Đi đâu ta cứ đi đầu ta đi

May quá ra ngoài biển, khi máy bay chỉ còn một giờ bay nữa là hết xăng, anh thấy Mẫu hạm Midway đang cứu người tị nạn. Anh đáp xuống Mẫu hạm.

Cộng đồng người Mỹ gốc Việt trở thành một phần quan trọng của lịch sử Hoa Kỳ và cũng là của Việt Nam hiện đại. Còn chiếc máy bay của anh Lý Bửng trở thành một phần của lịch sử hàng không Hoa Kỳ.

Người Mỹ không chỉ trưng bày chiếc máy bay này trong Bảo tàng Mẫu hạm Midway ở San Diago, họ còn làm mô hình của nó, trưng bày ở nhiều bảo tàng hàng không khác.

Là một dân tộc yêu đắm say kỹ thuật, người Mỹ muốn giữ lại khoảnh khắc lịch sử của một cú hạ cánh thần sầu: chiếc máy bay chong chóng lạch phạch 2 chỗ ngồi này không có bất kì thiết bị kĩ thuật nào để đáp được xuống một hàng không mẫu hạm. Nó có thể không hãm được và trượt xuống biển. Anh Lý Bửng đã thực hiện một “điệp vụ bất khả thi” trong khoảnh khắc sinh tử.

Nhưng mỗi người Việt Nam khi đứng trước chiếc máy bay này sẽ còn nhớ đến một chuyện khác mà người Mỹ không nói đến: Để rộng chỗ, tăng xác xuất thành công cho cú đáp của anh Lý Bửng, Hạm trưởng Mẫu hạm Midway đã ra lệnh anh em đẩy hơn chục chiếc máy bay xuống biển.

Không chỉ Mẫu hạm Midway, sau ngày 30/4 năm ấy, nhiều mẫu hạm khác của Mỹ đi qua Biển Đông, đã ném máy bay xuống biển để có chỗ chứa người tị nạn.

Tôn trọng luật pháp thì khó có nơi nào hơn Mỹ. Trong ngày thường mà phá hoại tài sản công thì chắc chắn tù. Nhưng không ai xét xử các hạm trưởng ném máy bay xuống biển cả. Thậm chí họ chưa từng bị hỏi “ê máy bay đâu hết rồi?”. Ai cũng biết ném xuống biển hết rồi, hỏi làm gì.

Luật pháp rất quan trọng. Nhưng khi người ta buộc phải vi phạm luật pháp để cứu người thì hoặc là cuộc sống lúc ấy quá đặc biệt đến nỗi pháp luật không quy định tới, hoặc ở chỗ ấy, luật pháp khiếm khuyết và cơ chế sai.

Thực ra không một nền luật pháp nào có khả năng quy định đúng đắn cách xử lý cho từng tình huống cụ thể của đời sống con người.

Một xã hội được vận hành đúng là xã hội trước hết chấp nhận rằng lương tri, lương năng sẽ thay thế khi luật pháp không đủ bao quát được cuộc sống quá phức tạp.

Một xã hội vui vẻ chấp nhận sự vi phạm luật pháp để làm đúng lương tri lương năng là xã hội đáng sống nhất, và đáng để bảo vệ nhất, bất kể nó vẫn đầy rẫy vấn nạn của một xã hội được xây dựng bởi con người chứ không phải bởi thần thánh trên Trời.

Còn một xã hội được thiết kế theo cách người ta buộc phải quên lương tri lương năng để sinh tồn thì… thôi (không biết nói gì.) Tôi luôn tin là xã hội đó chỉ tạm quên. Khi nó nhớ lại lương tâm của mình, không gì ngăn cản nó phục hưng.

Ảnh: Gia đình cụ ông Lý Bửng và cụ Larry Chambers, cựu Hạm trưởng Mẫu hạm USS Midway, khi cuộc sống đã bình yên.

Fb Thích Giác Hơi