Khi Xưa, Tôi đã có một Việt Nam như thế…

Tâm tình một Du Học Sinh trước 1975: – Ngày xưa tôi đã có một Việt Nam khiến tôi muốn trở về. Khi tôi hoàn thành chương trình du học của mình, tôi không màng đi tìm việc làm ở nước sở tại, cũng chẳng quan tâm đến thẻ xanh, thẻ vàng, thẻ trắng…….
**************

Khi Xưa, Tôi đã có một Việt Nam như thế…

Ngày xưa tôi đã có một thành phố được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Ðông. Tuy nó còn thua xa các thành phố ở những nước phát triển khác, nhưng nó là điều gần nhất với văn minh mà đất nước tôi có. Ngày xưa tôi đã có một thành phố mà những người ở vùng khác luôn ngưỡng mộ và ao ước để trở thành một người dân ở đó. Thành phố đó tuy nhỏ nhưng luôn mở rộng cửa để đón người tứ xứ về làm ăn buôn bán. Người dân ở thành phố đó chẳng bao giờ quan tâm đến bạn từ nơi đâu tới, cha mẹ bạn là ai, bạn nói tiếng Việt với giọng Bắc hay Nam. Họ cũng không bao giờ phân biệt người khác qua cái hộ khẩu. Ngày xưa tôi đã có một thành phố là đầu tàu của cả nước, là sự tổng hợp của những văn hóa và tinh hoa của thế giới. Thành phố đó là nơi mọi người nhìn vào để học hỏi và noi gương. Ngày xưa, tôi đã có một thành phố như thế.

Ngày xưa tôi có những anh cảnh sát khiến tôi luôn cảm thấy an toàn và trật tự. Tôi đã có những anh cảnh sát mà tôi luôn tin tưởng và luôn tìm đến khi có một vấn đề gì cần giải quyết. Họ không bao giờ đi vòng vòng kiểm tra tạm trú hay tạm vắng, hay đúng hơn là không moi móc cái thứ gì gọi là tạm trú tạm vắng để mà vòi tiền. Tôi đã có những anh cảnh sát giữ gìn trật tự đường phố và vỉa hè, họ cũng không bao giờ đánh đuổi những người bán hàng rong. Họ chỉ mỉm cười nhắc khéo. Và nếu họ phải kêu đi thì họ sẽ sẵn lòng phụ giúp dọn dẹp. Tôi đã có những anh cảnh sát không bao giờ đánh dân, những người luôn sẵn lòng hy sinh bảo vệ tôi. Tôi đã có những anh cảnh sát trên xa lộ mà tôi gọi là những con bồ câu trắng, đó là những anh cảnh sát xa lộ luôn sẵn lòng giúp tôi đẩy chiếc xe bị hư dọc đường. Tôi đã có những anh cảnh sát mà tôi luôn ngưỡng mộ. Ngày xưa tôi đã có những anh cảnh sát như thế.

Ngày xưa thành phố của tôi có các bệnh viện chuyên chữa bệnh miễn phí cho người bệnh, nếu viện phí cho dù có cao đến mức nào thì cũng không từ chối chữa bệnh. Tôi đã có một hệ thống y tế không phân biệt giàu nghèo. Một hệ thống y tế dù phải hoạt động theo quy luật tài chính nhưng không bao giờ để y phí cản trở y đức. Tôi đã có một hệ thống y tế sẵn lòng kêu một chiếc trực thăng để giải cứu bất cứ ai gặp nạn. Tôi đã có những bác sĩ-y tá chuyên tâm làm việc và ít khi nào vòi tiền bệnh nhân. Ngày xưa, tôi đã có một hệ thống y tế như thế.

Ngày xưa tôi đã có những người thầy, người cô luôn dạy tôi cách làm người trước khi dạy tôi học thức. Tôi đã có những thầy cô luôn tận tâm giảng dạy, luôn trau dồi kiến thức. Tôi đã có những thầy cô, tuy tư tưởng vẫn mang chất văn hóa Nho Giáo, nhưng luôn cho tôi phát biểu, luôn cho tôi chỉ trích, luôn cho tôi không đồng ý. Tôi có thể công khai phản đối bài tập, tôi có thể đòi hỏi quyền lợi mà tôi cho rằng mình nên có. Tôi đã có những thầy cô luôn mang tầm hồn của những người nhân hậu. Ngày xưa tôi đã có những người thầy và người cô như thế.

Ngày xưa tôi đã có những nhạc sĩ tài ba, những nhạc sĩ sáng tác ra những bài hát mà tôi nghe không bao giờ biết chán. Họ ít khi nào, hoặc chẳng bao giờ, đạo nhạc. Vì mỗi bài họ sáng tác là một tác phẩm nghệ thuật.

Ngày xưa tôi đã có những tiệm bán đầy sách, mọi thể loại. Ðó là nơi tôi gọi là những thư viện tri thức. Nơi đó bán những cuốn sách của các tác giả của nhiều quốc gia khác nhau. Nơi đó thậm chí bán những cuốn sách mà tôi không hề thích và đồng ý chút nào. Nhưng đã là nhà sách thì phải da dạng và phong phú. Ngày xưa tôi đã có những nhà sách như thế.

Ngày xưa tôi đã có những tổng thống khiến tôi cảm thấy hãnh diện. Ông ấy có thể nói tiếng Anh đủ để hiểu, đủ để trả lời phỏng vấn của các phóng viên quốc tế, đủ để đàm phán với các nhà lãnh đạo quốc tế, đủ để cất lên tiếng nói cho tất cả người dân dù đa số người dân không bầu chọn ông. Ngày xưa tôi đã có một Tổng Thống khiến tôi tự tin để nói với các bạn bè quốc tế rằng, “That is our President.” Ngày xưa, tôi đã có một Tổng Thống Như Thế.

Ngày xưa tôi đã có những vị Chỉ Huy khiến tôi tự hào về lực lượng Quân Lực. Tôi đã có những vị Chỉ Huy khiến tôi cảm thấy an toàn, cho dù đất nước vẫn còn trong thời chiến. Tôi đã có các vị Chỉ Huy khiến tôi cảm thấy yêu nước để sẵn lòng mặc bộ quân phục, bảo vệ đất nước. Và cho dù có chết thì tôi cũng vinh dự. Ngày xưa, tôi đã có những vị Chỉ Huy như thế.

Ngày xưa tôi đã có một Việt Nam khiến tôi muốn trở về. Khi tôi hoàn thành chương trình du học của mình, tôi không màng đi tìm việc làm ở nước sở tại, cũng chẳng quan tâm đến thẻ xanh-thẻ đỏ, cũng chẳng mộng mơ trở thành một công dân của nước khác, cũng không nghĩ đến việc mình nên ở hay về, vì điều duy nhất trong đầu tôi là về. Cho dù đất nước đó vẫn đang trong thời chiến, cho dù nơi ấy tôi phải làm việc nhiều lần hơn, cho dù nơi ấy có nhiều rủi ro hơn. Nhưng tôi chỉ muốn trở về, đơn giản bởi vì nơi đó, đất nước Việt Nam, mảnh đất đó là nơi tôi gọi là nhà. Vì tôi chỉ muốn về nhà. Ngày xưa, tôi đã có một Việt Nam như thế.

Ngày xưa tôi đã có một nước Việt Nam khiến tôi tự hào. Tôi đã có một nước Việt Nam khiến tôi không hổ thẹn khi cầm hộ chiếu ra nước ngoài và không cảm thấy xấu hổ khi nói, “I’m a Vietnamese.”

Ngày xưa tôi đã có một Việt Nam như thế. Tôi đã từng có một Việt Nam như thế. Nhưng đó là quá khứ. Bởi vì bây giờ một nước Việt Nam như thế đã không còn. Nhưng tôi lại muốn nó trở lại. Tôi muốn có một nước Việt Nam như thế. Bạn có thể bảo tôi hoang tưởng hay mơ mộng. Tôi không mơ mộng hay ảo tưởng. Tôi cũng không tôn vinh bất cứ thể chế hay chế độ nào. Tôi chỉ muốn có một nước Việt Nam như thế. Có thể bạn sẽ hỏi: “Vì sao? Ðể làm gì?” Ðơn giản, bởi vì ngày xưa tôi đã có một nước Việt Nam như thế./-

Image may contain: one or more people and outdoor

Hà Tĩnh có nhà máy nước sạch, dân không được dùng vì… nghèo

Hà Tĩnh có nhà máy nước sạch, dân không được dùng vì… nghèo

HÀ TĨNH, Việt Nam (NV) – Xã Kỳ Hưng, thị xã Kỳ Anh, có nhà máy nước sạch đang hoạt động, cung cấp nước cho nhiều xã lân cận, thế nhưng 513 nhà dân với 2,038 người của chính xã này lại không được sử dụng.

Nói với báo Lao Động, ông Nguyễn Văn Tuyên (57 tuổi, ở thôn Trần Phú, xã Kỳ Hưng, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh) cho biết từ trước tới nay gia đình ông cũng như người dân trong xã đều sử dụng nước giếng. Thế nhưng, giếng hầu hết đều bị nhiễm phèn, nhiễm mặn rất cao.

Ba năm trước, gia đình ông Tuyên đã đầu tư làm một cái giếng khoan và mua thêm một máy lọc nước gần 10 triệu đồng (hơn $428), nhưng vẫn thấy chưa yên tâm. “Chúng tôi mong sớm được sử dụng nước sạch của nhà máy nước mới yên tâm được,” ông Tuyên nói.

Còn gia đình bà Phan Thị Thu (56 tuổi, ở thôn Hưng Phú, xã Kỳ Hưng) cũng đang sử dụng giếng khoan để lấy nước ăn uống và một giếng khơi dùng để rửa chén bát, giặt giũ. Bà cho biết, giếng khơi bị nhiễm phèn nặng, nên dù nghèo khó, gia đình cũng vay mượn mua thêm máy lọc nước.

Thế nhưng, nước sau khi đã lọc, dù nhìn vẫn trong, song vẫn mặn khiến cảm giác không yên tâm khi dùng nước. “Nhiều năm nay, người dân chúng tôi liên tục kiến nghị lên chính quyền xin cấp nước sạch cho dân sử dụng, nhưng các kiến nghị này vẫn chưa được giải quyết,” bà nói.

Chồng bà Thu, ông Nguyễn Văn Biểu (60 tuổi) cho biết, ở đây giếng khoan cạn thì nước nhiễm phèn, nên tối thiểu phải tầm 20 mét mới có nước đỡ hơn để dùng. Có nhà khoan đến bốn lần nhưng gặp phải đá tổ ong ở dưới đáy, phải khoan đến lần thứ năm mới có nước.

Theo báo Hà Tĩnh, để có nguồn nước sử dụng cho gia đình, ông Phạm Đình Toản và nhiều người dân ở thôn Trần Phú đã phải thuê thợ khoan giếng lấy nước sâu hơn 20 mét và xây bể lọc để lọc nước, tuy nhiên nước vẫn có vị nhờ nhợ của muối và mùi hôi tanh của phèn.

“Không còn cách gì khác nên đành phải chịu, chứ sử dụng nguồn nước từ giếng khoan này không chỉ khó chịu mà thực sự rất đáng lo về phẩm chất nước. Chúng tôi già rồi, dùng riết cũng quen nhưng lo cho bọn trẻ, cứ sử dụng thường xuyên và lâu dài nguồn nước như thế này, không biết rồi sẽ ra sao,” ông Toản chán nản nói.

Cũng tại thôn Trần Phú, do không sử dụng giếng khoan nên ngoài việc xây hệ thống bể lọc nước khá quy mô, gia đình ông Nguyễn Quốc Việt còn sắm cả cây lọc nước để có nước sạch. Mặc dù đã lọc qua hệ thống bể lọc xi măng nhưng mỗi tháng ông Việt cũng phải thay hai, ba lần các lõi lọc của hệ thống lọc nước tinh khiết.

“Không có nước sạch, chúng tôi sử dụng nước vừa không bảo đảm phẩm chất lại vừa rất tốn kém. Chưa kể kinh phí xây lắp hệ thống bể lọc bằng xi măng, riêng chi phí cho cây lọc nước hằng tháng cũng đã mất hàng trăm ngàn đồng,” ông Việt cho biết.

Ngày 5 Tháng Mười, 2018, ông Nguyễn Đình Tài, chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân xã Kỳ Hưng cho báo Lao Động biết, lâu nay nhu cầu sử dụng nước sạch là vấn đề “nóng,” được quan tâm nhiều nhất của xã. Tại nhiều cuộc họp, tiếp xúc cử tri, người dân đều kiến nghị các cấp quan tâm, bởi vì ở xã nước bị nhiễm phèn, nhiễm mặn.

Đặc biệt, từ lâu có một nhà máy nước sạch đóng trên địa bàn xã mà dân của xã không được dùng. Trong khi, nhà máy này đã cung cấp nước sạch cho nhiều xã, phường lân cận như phường Sông Trí, xã Kỳ Châu, một phần Kỳ Ninh, Kỳ Hà… nên người dân càng bất bình.

Nguyên nhân, theo ông Tài, là do nguồn kinh phí của xã Kỳ Hưng không có nên không thể xây dựng hệ thống dẫn nước, dân cũng nghèo, không có tiền để đóng góp cùng với xã thực hiện nên không được dùng nước sạch từ nhà máy nước.

“Ngân sách khó khăn nên chúng tôi mong muốn được sự quan tâm, đầu tư theo hướng xã hội hóa, để người dân của xã sớm có nước sạch sử dụng, tránh dùng nước bẩn như hiện nay, ảnh hưởng đến sức khỏe,” ông Tài nói.

NGUOI-VIET.COM
Xã Kỳ Hưng, thị xã Kỳ Anh, có nhà máy nước sạch đang hoạt động, nhưng 513 nhà dân với 2,038 người của chính xã này lại không được sử dụng.

Vụ hiếp dâm sẽ đi vào lịch sử…

Image may contain: house, sky, tree and outdoor
Nguyễn Minh Tuấn

Vụ hiếp dâm sẽ đi vào lịch sử…

Không thể tưởng tượng được lại có một vụ hiếp dâm tập thể như thế xảy ra ở trên đời. Một ông quan chức to, phó phòng cảnh sát kinh tế tỉnh Thái Bình, thượng tá Trần Văn Lam là đầu vụ và 3 doanh nghiệp đáng kính nữa. Là ông Phạm Như Hiển là doanh nghiệp có tiếng về bất động sản ở địa phương, ông Phạm Đức Việt kinh doanh ô tô và ông Từ Minh Tuyên là cai thầu xây dựng. Đây đều là các doanh nghiệp tên tuổi của tỉnh và tất cả cùng tham gia vào trò đè một con bé học sinh 14 tuổi (sinh năm 2004) ra để thay nhau hiếp dâm. Thật khó có một vụ hiếp dâm nào mà lại có đông ngành nghề như thế cùng tham gia. Chưa hết sự lạ vì còn có một doanh nghiệp, ông Phạm Như Hiển đang là đương kim bố nuôi của nạn nhân cũng tham gia vào vụ cưỡng hiếp con gái nuôi của mình.

Thực lòng mà nói thì đây là một vụ hiếp dâm rất khó xảy ra nhưng đã xảy ra. Vì các tay thủ ác đều sồn sồn ở tuổi cha chú của nạn nhân, còn nạn nhân thì còn nhỏ lắm khi chỉ là một cô bé học sinh, bằng tuổi con cháu của những kẻ thủ ác. Nếu các ông này là một đám trẻ trâu, hay là một đám thanh niên càn quấy phá làng phá xóm thì không có gì để nói. Nhưng từ ông thượng tá, phó phòng CAKT cho đến 4 ông doanh nghiệp đều là những người đứng tuổi, có vị trí xã hội và có gia đình vợ con thì không hề có lời nói can ngăn nào cả mà lại cùng đâm đầu vào một vụ hiếp dâm tệ hại như thế để rồi phải trả giá tất cả. Chỉ một vụ hiếp dâm thôi mà các ông đã lấy hết cái ngu của thiên hạ về làm cái ngu của riêng mình.

Các ông đã làm nên lịch sử khi tạo ra một vụ hiếp dâm nổi tiếng nhất vì có nhiều thằng quan chức và doanh nhân to nhất chui đầu vào chết trong cái lỗ bé nhất…

Mai Tú Ân 

Danh sách đủ tiêu chuẩn quốc tang:

Image may contain: 13 people, people smiling, people standing and suit
Chú TễuFollow

Danh sách đủ tiêu chuẩn quốc tang: Lê Đức Anh; Lê Khả Phiêu, Trần Đức Lương, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Văn An, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Sinh Hùng,Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Xuân Phúc, Nguyễn Thị Kim Ngân.

Riêng trường hợp Đặng Thị Ngọc Thịnh Thiên đình còn đang xem xét.

Còn sót ai, nhờ các bác bổ sung để nộp danh sách lên Nam Tào Bắc Đẩu.

Bị bóc lột, 8,000 công nhân ở Thanh Hóa đồng loạt đình công

Bị bóc lột, 8,000 công nhân ở Thanh Hóa đồng loạt đình công

THANH HÓA, Việt Nam (NV) – Lương không tăng, thưởng không nhiều, trong khi lại buộc tăng thêm thành phẩm gây áp lực công việc đã khiến hàng ngàn công nhân làm việc tại hai công ty giày da ở thành phố Thanh Hóa đình công tập thể.

Theo báo Thanh Niên, từ ca làm việc buổi sáng 6 Tháng Mười, 2018, hàng ngàn công nhân của công ty giày Aleron Việt Nam (khu công nghiệp Hoằng Long, phường Tào Xuyên, thành phố Thanh Hóa), đã đình công ngừng việc tập thể yêu cầu tăng lương và tăng các phụ cấp khác.

Nhiều công nhân phản ảnh, thời gian gần đây, công ty này thường xuyên đòi hỏi công nhân tăng sản lượng nhưng tiền lương thì không được tăng, nên họ đình công để đòi quyền lợi. Ngoài ra, các phụ cấp khác như tiền xăng xe, tiền ăn trưa, tiền thưởng… cũng đang ở mức rất thấp.

Việc đình công buộc Liên Đoàn Lao Động thành phố Thanh Hóa và công đoàn công ty phải “ghi nhận ý kiến của công nhân.” Sau khi đấu tranh có kết quả, trưa cùng ngày, các công nhân của công ty giày Aleron Việt Nam đã trở về nhà.

Trong khi vụ đình công tại công ty giày Aleron Việt Nam chưa được giải quyết xong thì đến trưa cùng ngày, hàng ngàn công nhân công ty giày Rollsport 2 Việt Nam (cùng khu công nghiệp Hoằng Long) lại đình công nghỉ việc tập thể. Các công nhân tràn ra khu vực xung quanh cổng công ty, ngồi la liệt ven đường.

Đến 3 giờ chiều cùng ngày, đại diện công ty và công đoàn công ty giày Rollsport 2 Việt Nam “đang ghi nhận các kiến nghị của công nhân để phúc trình lãnh đạo công ty giải quyết.”

Nói với báo Thanh Niên, bà Hoàng Thị Yến, chủ tịch Liên Đoàn Lao Động thành phố Thanh Hóa, xác nhận sáng 6 Tháng Mười khoảng 8,000 công nhân ngừng việc. Theo đó, công nhân đề nghị 23 ý kiến khác nhau như đòi tăng lương, tăng tiền ăn trưa, tiền xăng xe, giảm áp lực giao sản lượng…

“Trước mắt, cả hai công ty đều đã đồng ý tăng tiền ăn trưa từ 15,000 đồng (64 cent)/người/ngày lên 17,000 đồng (72 cent)/người/ngày, bắt đầu từ tháng này và tăng tiền thưởng ngày lễ từ 30,000 đồng ($1.3)/người lên 50,000 đồng ($2.1)/người,vào đầu năm 2019. Những vấn đề còn lại đang được tiếp tục xem xét, giải quyết từng bước chứ không thể xong ngay một lúc,” bà Yên nói.

Chiều cùng ngày, nói với báo Lao Động, ông Ngô Tôn Tẫn, chủ tịch Liên Đoàn Lao Động tỉnh Thanh Hóa, cho biết thêm: “Về cơ bản, các công ty đã phần nào đáp ứng những nguyện vọng của công nhân. Dự kiến, Thứ Hai tuần tới, các công nhân sẽ trở lại làm việc bình thường.”

NGUOI-VIET.COM
Lương không tăng, thưởng không nhiều khiến hàng ngàn công nhân làm việc tại hai công ty giày da ở thành phố Thanh Hóa đình công tập thể.

Vì sao ông Trọng ‘thích’ ngồi thêm ghế chủ tịch nước?

Hoa Kim Ngo
VOA: Không phải ngẫu nhiên mà ông Trọng không thể kiên nhẫn chờ thêm nửa năm hoặc tối thiểu là ba tháng cho đủ ‘giỗ 100 ngày Trần Đại Quang’ khi tìm cách ngồi ngay vào cái ghế trống của kẻ quá cố vừa để lại, như thể ‘của thừa kế’ đó chỉ dành riêng cho Trọng.

Làm thế nào để được ‘chính danh’?

Tính ‘chính danh’ – nhu cầu đầu tiên và quan trọng nhất mà blogger ‘lề đảng’ Huy Đức thốt ra trong bài ‘Nhất thể hóa’ như một cách tung hô Tổng bí thư Trọng – là lý do đầu tiên và quan trọng hơn cả để ông Trọng nhất thiết phải được nội bộ đảng và quốc tế xem là chủ tịch nước, tức nguyên thủ quốc gia, nhất là nếu ông ta muốn sớm tiến hành chuyến công du đến Washington vào tháng Mười Một năm 2018 mà không thể bị giới ngoại giao Mỹ và Tổng thống Donald Trump càm ràm về việc Trọng chỉ là một ‘đảng trưởng’ mà không phải là người đứng đầu nhà nước.

Một cách đương nhiên, nếu có thêm được chức chủ tịch nước, Nguyễn Phú Trọng sẽ trở nên ‘chính danh’ trong các cuộc tiếp xúc với các nguyên thủ quốc gia trên thế giới mà chẳng cần nhờ vả hay quá lệ thuộc vào Bộ Ngoại giao Việt Nam để tìm cách thuyết phục quốc tế chấp nhận ‘đối thoại với kênh đảng’, như các cuộc gặp của Trọng với Obma tại Mỹ vào tháng Bảy năm 2015 và với Tổng thống Pháp Emmanuel Macron tại Paris vào tháng Ba năm 2018.

Không chỉ là thể diện của ‘kênh đảng’, còn có một biểu hiện khác cho thấy Nguyễn Phú Trọng đặc biệt dành tâm trí cho sĩ diện cá nhân trong nhiệm vụ tiếp khách quốc tế tại Việt Nam.

Tháng Mười Một năm 2017, vài ngày sau khi Hội nghị thượng đỉnh kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APCE) kết thúc tại Đà Nẵng và hệ thống báo đảng tự ca ngợi hết lời, Nhân Dân – “cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Việt Nam” – đã đăng bản tin với tựa đề kỳ quặc: “Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp; Chủ tịch nước Trần Đại Quang đón, hội đàm; Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hội kiến Tổng thống Hoa Kỳ Đ. Trăm”.

Tựa đề trên có thể khiến người đọc cảm thấy ngay đã có một sự phân chia “quyền lực” rất có chủ ý và cũng rất tỉ mẩn, lục đục giữa 3/4 của “tứ trụ” trong việc tiếp “Trăm” (phiên sang tiếng Anh là Trump).

Sự kỳ quặc của tựa đề trên cũng bởi đây là một tựa đề hiếm có, cứ như thể nếu không ghi rõ ra sự phân công trách nhiệm của từng thành viên trong Bộ Chính trị thì người đọc và dư luận quần chúng nhân dân sẽ không thể biết được ai là người có vai trò ra sao, nhất là ai mới là người có vai trò chủ chốt trong việc tiếp “Trăm”.

Trước đó khoảng ba tuần, Washington đã phát thông cáo báo chí: “Sau khi rời Đà Nẵng, ông Trump sẽ tới Hà Nội trong ngày 11/10, bắt đầu chuyến thăm chính thức. Tại Hà Nội, ông sẽ gặp Chủ tịch nước Trần Đại Quang và các lãnh đạo cấp cao khác của Việt Nam”.

Sau đó, Tòa Bạch Ốc phát tiếp thông báo rằng Tổng thống Trump sẽ “chào xã giao” Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.

Nghĩa là cuộc gặp giữa “Trăm” với Nguyễn Phú Trọng có thể được xem là “bổ sung”.

Tính chất “bổ sung” như trên là phù hợp với đánh giá của giới quan sát và phân tích chính trị khi cho rằng khác hẳn với tổng thống đời trước Obama có vẻ mềm mỏng và nể nang, “Trăm” là người không quá quan tâm đến phép tắc xã giao và càng chẳng quan tâm đến “kênh đảng” của ông Nguyễn Phú Trọng. Một bằng chứng có thể nhận ra được là mặc dù Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã lặp đi lặp lại về sự cần thiết “duy trì quan hệ kênh đảng’ với phía Mỹ khi ông Phúc đi Washington vào tháng 5/2017, nhưng “Trăm” lại chẳng nói một từ nào về đề nghị này.

Nhân Dân được xem là “báo ruột” của Tổng bí thư Trọng.

Sẽ lần đầu tiên đi Mỹ với tư cách nguyên thủ quốc gia?

Từ trước ngày 30/9/2018 là thời điểm Bộ Chính trị tổ chức họp bất thường để bàn phương án nhân sự nào sẽ được ngồi vào cái ghế của Trần Đại Quang, trong nội bộ đảng bất chợt lan truyền một luồng thông tin cho biết ‘Cụ Tổng không muốn làm chủ tịch nước đâu, nhưng vì nhiều người tha thiết đề nghị nên đành phải làm’. Sau đó, thông tin này lan nhanh ra dư luận các giới trong xã hội. Một lần nữa, Nguyễn Phú Trọng lại được một số người tin là ‘có đức khiêm tốn’ và ‘không tham vọng quyền lực’.

Thật ra, thông tin trên là phần nào có cơ sở thực tế, nếu xét đến việc Tổng bí thư Trọng đã tập quyền với tốc độ cao kể từ sau đại hội 12, đặc biệt từ tháng Mười Hai năm 2017 khi ông Trọng chỉ đạo Bộ Công an phải bắt quan chức vừa mất ghế ủy viên bộ chính trị là Đinh La Thăng. Trong thực tế, Nguyễn Phú Trọng đã từ lâu là Bí thư quân ủy trung ương một cách thực chất, không những thế còn phần nào nắm được Tổng cục Tình báo quân đội – điều mà những đời chủ tịch nước gần nhất như Trương Tấn Sang và Trần Đại Quang đã không thể nào làm được dù có nhiều cố gắng.

Và cũng chẳng cần là chủ tịch nước hay thủ tướng chính phủ, ông Trọng vẫn đã tung hoành ngang dọc trên bàn cờ chính trị quốc gia bằng thủ thuật ‘luân chuẩn cán bộ’ và ‘phân công, điều động cán bộ’ – những động thái được Ban Tổ chức trung ương của Tô Huy Rứa thực hiện đến 3 chiến dịch trong năm 2015 trước đại hội 12, và của Phạm Minh Chính tiến hành suốt từ cuối năm 2016 đến giờ.

Cả Rứa và Chính đều được xem là ‘người của Trọng’. Không chỉ cán bộ khối đảng mà cả cán bộ thuộc khối chính phủ cũng nằm trong tầm khống chế sát sao của đảng trên danh nghĩa ‘cán bộ nằm trong diện Ban Bí thư và Bộ Chính trị quản lý’.

Thực tế là cho dù Trần Đại Quang không chết hoặc chưa chết, Nguyễn Phú Trọng vẫn không mấy thèm thuồng cái ghế chủ tịch nước mà chủ yếu là chuyện ‘ma chay hiếu hỉ’. Về thực chất, Nguyễn Phú Trọng đã đạt đến mức độ tập quyền cao chưa từng thấy, có thể lên đến 80 – 85% trong nội bộ đảng kể từ sau đại hội 12. Còn sau khi Quang chết, tỷ lệ tập quyền ấy có thể vọt đến 95% như cái cách mà Tập Cận Bình đang ở đỉnh cao quyền lực tại Trung Quốc.

Và đã đến lúc Nguyễn Phú Trọng cần một cái gì hơn thế: thỏa mãn tính sĩ diện cá nhân và thể diện của ông ta trong những chuyến công du nước ngoài. Phải làm sao để bản thân ông ta và Bộ Ngoại giao Việt Nam không còn phải khẩn khoản đề nghị những nước phương Tây lưu ý đến ‘tăng cường quan hệ kênh đảng’, mà chính ông ta phải trở thành một nguyên thủ quốc gia để hợp thức hóa thảm đỏ và 21 phát đại bác chào đón.

‘Mình phải như thế nào người ta mới đón tiếp như thế chứ!’ – Trọng thốt lên đầy hể hả sau khi được đích thân Tổng thống Mỹ Barak Obama đón tiếp trọng thị ngay tại Phòng Bầu Dục như một ngoại lệ vào tháng Bảy năm 2015.

Kỳ tích đó đang được kỳ vọng sẽ lặp lại vào tháng Mười Một tới, nếu Nguyễn Phú Trọng đi Mỹ và được Trump tiếp. Khi đó, với tư cách nguyên thủ quốc gia, ông Trọng sẽ chẳng cần tỏ ra ngạc nhiên vì sao được tiếp đón khác hẳn với quá khứ ‘đảng trưởng’.

Tư tưởng tuyệt đối hay tha hóa tuyệt đối?

Toàn bộ quá trình đi lên từ khi còn là Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản, Bí thư thành ủy Hà Nội, Chủ tịch quốc hội đến nay đã cho thấy với Nguyễn Phú Trọng, tham vọng lớn nhất không phải là vật chất tiền bạc, mà là tinh thần.

Trong một mớ hổ lốn quan chức từ thấp đến cao chỉ biết so nhau bằng tốc độ ‘ăn của dân không chừa thứ gì’ và giá trị tài sản từ trăm triệu đến hàng tỷ USD, những người cho tới nay còn giữ được tư cách sạch sẽ, dù chỉ là tương đối như Trọng, được xem là ‘hàng hiếm’. Nỗi khao khát của Nguyễn Phú Trọng hướng sang một kênh khác: phương trình phức hợp giữa chủ nghĩa dân tộc và tư tưởng mác xít cùng tâm thế ‘thời thế sinh anh hùng’ của thời phong kiến.

Nhưng cái logic tiếp theo sự chọn lựa những yếu tố trên luôn là phải đạt đến một quyền lực tuyệt đối và tư tưởng tuyệt đối. ‘Tư tưởng Tập Cận Bình’ đã được ngự trong hiến pháp Trung Quốc, tại sao lại không thể có ‘tư tưởng Nguyễn Phú Trọng’ nằm trong hiến pháp Việt Nam tại đại hội 13, nếu còn có đại hội đó?

Và biết đâu đấy trong tương lai, Nguyễn Phú Trọng sẽ còn được thỏa mãn cả một khao khát tinh thần mà ông ta thường nhắc tới trong những cuộc tiếp xúc với cử tri: ‘lưu truyền sử xanh’.

Nhưng sau tất cả mà bài học gần gũi nhất là cái chết chẳng mấy an lành của Trần Đại Quang, cái tiếp biến của quyền lực tuyệt đối – như đã quá nhiều lần được lịch sử loại người dẫn chứng – đó là sự tha hóa tuyệt đối về nhân cách lãnh đạo và đạo đức chế độ cầm quyền mà sẽ tất yếu dẫn đến sụp đổ chế độ đó.

About this website

 

VOATIENGVIET.COM
Không phải ngẫu nhiên mà ông Trọng không thể kiên nhẫn chờ thêm nửa năm hoặc tối thiểu là ba tháng cho đủ ‘giỗ 100 ngày Trần Đại Quang’ khi tìm cách ngồi ngay vào cái ghế trống của kẻ quá cố vừa để lại, như thể ‘của thừa k…

Đánh cho Nam Bắc đọa đày

Đánh cho Nam Bắc đọa đày

Cố Thi Sĩ Bùi Giáng. (Hình: Internet)

Thơ Bùi Giáng

(Nguồn sưu tầm trên internet của Blogger Nguyễn Lân Thắng)

Đánh cho chết mẹ đồng bào Miền Nam.
Đánh cho khoai sắn thành vàng,
Đánh cho dép lốp phải mang thế giày.
Đánh cho Nam Bắc đọa đày,
Đánh cho thù hận giờ này chưa tan.
Đánh cho cả nước Việt Nam,
Áo ôm khố rách, xếp hàng xin cho.
Đánh cho hết muốn tự do,
Hết mơ dân chủ, hết lo quyền người.
Đánh cho dở khóc dở cười,
Hai miền thống nhất kiếp người ngựa trâu.
Đánh cho hai nước Việt Tàu,
Không còn biên giới cùng nhau đại đồng.
Đánh cho dòng giống Tiên Rồng,
Osin, nô lệ, lao công xứ người.
Đánh cho mấy chục triệu người,
Thành dân vô sản, thành người lưu vong.
Đánh cho non nước Lạc Hồng,
Tiến lên thời đại mang gông mang cùm.
Đánh cho cả nước chết chùm,
Đánh cho con cháu kh̉́ốn cùng mai sau.
Đánh cho bác, đảng, Nga, Tàu,
Hết quần hết áo thì tao ở truồng!

Có một bài thơ khác nữa của Bùi Giáng (Mời đọc)

Từ FB Liên Trà

Lão Đại Điên Tiền Bối với —“Đánh cho chết mẹ đồng bào miền Nam”—-

(7.10.1998 – 7.10.2018 Cố Thi sĩ Bùi Giáng)
LS : Trần Đình Dũng

Bùi Lão Đại Điên Tiền Bối (mất ngày 7 tháng 10 năm 1998 tại Saigon), có dáng dấp như một Thi Tiên từ đâu giáng trần để lan man “Sài Gòn, Chợ Lớn rong chơi – Đi lên đi xuống đã đời du côn (Thơ Bùi Giáng)”.

Thơ của Tiền Bối thì kẻ hậu sinh hèn tài này không lạm bàn mà chỉ thi thoảng đọc đôi câu thượng thừa của Tiền Bối để mà ngẫm nghĩ.

Ở khía cạnh thời cuộc, Bùi Lão Đại Điên Tiền Bối để lại nhiều câu thơ Thần Sầu mà bao năm qua mỗi lần đọc lại thấy Thần Sầu hơn.

“Đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào,
Đánh cho chết mẹ đồng bào miền Nam”.
.
Xin đăng lại bài thơ —Đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào—-, như một nén hương thắp lên tưởng nhớ 20 năm ngày mất Bùi Lão Đại Điên Tiền Bối.

ĐÁNH CHO MỸ CÚT NGỤY NHÀO

Thơ Bùi Giáng

Đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào,
Đánh cho chết mẹ đồng bào miền Nam.

Đánh cho khoai sắn thành vàng,
Đánh cho dép lốp phải mang thế giầy.
Đánh cho Bắc đoạ Nam đày,
Đánh cho thù hận giờ này chưa tan.

Đánh cho cả nước Việt Nam,
Áo ôm khố rách xếp hàng xin cho.
Đánh cho hết muốn tự do,
Hết mơ dân chủ hết lo quyền người.

Đánh cho dở khóc dở cười,
Hai miền thống nhất kiếp người ngựa trâu.

Đánh cho hai nước Việt Tàu,
Không còn biên giới cùng nhau đại đồng.
Đánh cho dòng giống Tiên rồng,
Ăn xin, nô lệ, lao công xứ người.

Đánh cho mấy chục triệu người,
Thành dân vô sản thành người lưu vong.
Đánh cho non nước Lạc Hồng,
Tiến lên thời đại mang gông mang cùm.

….

3 trẻ mồ côi muốn làm CMTND bị trưởng công an xã ra giá 300 triệu đồng

Van H Pham and Đỗ Quyên shared a link.
NEWS.TINTUC60PHUT.COM
Một ông Trưởng công an xã đã ra giá qua điện thoại với người cần làm Chứng minh nhân dân là 150 triệu một cái, sau đó, chốt lại 300 triệu cho 3 cái….

Chế độ “cường hào, ác bá”, khốn nạn đến tận cùng cái XHCNVN này!!!
**********

3 trẻ mồ côi muốn làm CMTND bị trưởng công an xã ra giá 300 triệu đồng

Một ông Trưởng công an xã đã ra giá qua điện thoại với người cần làm Chứng minh nhân dân là 150 triệu một cái, sau đó, chốt lại 300 triệu cho 3 cái. Cò kè bớt một, thêm hai rồi ngã giá như vậy mà khi mọi chuyện vỡ lở, cuộc trao đổi đó được ghi âm lại, tố lên trên, ông này bảo là chỉ “dọa” cho vui thôi.

Theo như ông giải thích, số là đã ngoài giờ làm việc, ông bận chơi mà người ta cứ gọi điện thoại quấy rầy ba cái việc đó nên ông nói như vậy để họ khỏi gọi nữa mà thôi.

Đáng nói là trường hợp xin cấp chứng minh nhân dân này là 3 trẻ mồ côi được nhà chùa nuôi nấng, họ có giọng hát làm lay động lòng người, một tổ chức ở Úc mời họ qua biểu diễn cho đồng bào xa quê nghe. Vì thế, họ cần chứng minh nhân dân gấp để làm hộ chiếu và visa xuất cảnh. Biết là họ cần nên ông Trưởng công an xã kia mới hành như thế.

Do cái đạo đức công vụ trong ông không hề tồn tại nên những đứa trẻ mồ côi tài năng và đáng thương kia đã lỡ một chuyến đi chứa nhiều niềm vui và đầy ý nghĩa đối với họ. Cũng có một cách lý giải khác là ông không đánh giá hết tác động xấu do chuyện “dọa” mà ông gây ra, hơn nữa, ông chỉ có thẩm quyền xác nhận chứ đâu được cấp chứng minh nhân dân.

Một sự việc khá nghiêm trọng, gây nên những hệ lụy không tốt thế mà người gây ra chuyện đó có thái độ như đùa. Những người thừa hành công vụ như vậy gây ảnh hưởng xấu đến bộ máy công quyền, đặc biệt là trong giai đoạn hiện tại, khi đạo đức công vụ được đề cao và việc chống tham nhũng, kể cả tham nhũng vặt đang đến độ cao trào.

Câu chuyện này làm người ta nhớ lại những bao biện của nhiều cán bộ, công chức trước những việc làm sai trái như “nhận một vài chục bồi dưỡng thì có gì gọi là hối lộ”, sàm sỡ với nhân viên nữ thì bảo chỉ “đùa” thôi, vòi vĩnh hối lộ bị bắt quả tang thì cho rằng mình bị “gài bẫy”, hành dân với đòi hỏi mơ hồ về “bổ túc hồ sơ” để gợi ý “bôi trơn” thì bảo đó là “do cẩn trọng”.

Hãy nhớ lại câu chuyện mới đây, người ta đã bảo vệ quyết liệt cho bọn cưỡng đoạt tài sản ở chợ Long Biên như thế nào để thấy được cách hành xử của những người quản lý. Từ những thái độ “coi như đùa” đó mà tạo ra môi trường cho cách hành xử kiểu côn đồ, xã hội đen trỗi dậy. Vì thế, các chuyện mà các vị coi như đùa đó, cần thiết phải xử lý nghiêm minh, một bộ máy chính quyền vững mạnh không có chỗ đứng cho những chuyện như đùa này!

NỖI LO CỦA ĐẢNG: TÍNH CHÍNH DANH

Image may contain: one or more people, outdoor and text

Trần Trung ĐạoFollow

NỖI LO CỦA ĐẢNG: TÍNH CHÍNH DANH

Trong một phần tư thế kỷ qua, Mỹ có bốn tổng thống, hai ông Cộng Hòa và hai ông Dân Chủ. Cả bốn ông đều gây nhiều tranh luận. Tuy nhiên, không một ai có thể nói bất cứ ông nào trong số bốn ông đó không phải là tổng thống Mỹ. Cả bốn ông đều lãnh đạo quốc gia trên cơ sở chính danh do hiến pháp 1789 cộng với 27 Tu Chính Án quy định.

Chính danh là điều kiện tối cần thiết để một chính quyền xứng đáng lãnh đạo quốc gia. Đất nước như một con tàu, không phải bao giờ cũng gặp sóng êm biển lặng nhưng tính chính danh giúp cho con tàu vượt qua những giai đoạn sóng to gió lớn.

Kết quả thăm dò của Pew Research Center, một trung tâm thống kê quốc tế và thường được các nhà nghiên cứu hay phân tích sử dụng, cho biết năm 2017 chỉ còn 13 quốc gia, trong đó có Việt Nam, đang sống trong chế độ độc tài chuyên chế, tức một chế độ tuyệt đối không có tính chính danh. (Democracy Has Grown Across The World Over The Past Four Decades, Pew Research Center, December 4, 2017)

Theo thống kê của Economist Intelligence Unit năm 2017, Việt Nam, Bắc Hàn, Trung Cộng là ba chế độ có chỉ số chính danh thể hiện qua bầu cử là 0.00, tức đảng CSVN hoàn toàn không có chính danh để lãnh đạo Việt Nam. Việt Nam đứng tận cùng bảng số, thấp hơn cả Lào 0.83 và Cuba 1.33. (The Democracy Index compiled by the UK-based company the Economist Intelligence Unit)

Bắc Hàn không quan tâm đến tính chính danh vì không có một lực lượng đối lập hay phản kháng nào đáng kể nhưng Trung Cộng và CSVN rất sợ tính chính danh.

Sau 43 năm cai trị Việt Nam bằng khủng bố và tẩy não, Cộng Sản Việt Nam ngày nay như một người mang gần hết các bịnh nan y. Không cần phải là một bác sĩ giỏi mới kê toa thuốc đúng, đơn giản vì bịnh gì cũng đúng và bịnh gì cũng làm đảng sợ.

Dưới đây là vài căn bịnh tiêu biểu và nổi bật.

Bịnh tham nhũng. Dưới chế độ CS tham nhũng có tính đảng. Sự tồn tại của tham nhũng gắn liền với sự tồn tại của đảng CS. Trước đây tại Liên Xô, Gorbachev biết điều đó và đã cố gắng để trong sạch hóa xã hội qua hai chính sách cải tổ kinh tế (perestroika) và cởi mở văn hóa chính trị (glasnost). Một câu hỏi đặt ra cho Gorbachev là làm thế nào để vừa thay đổi xã hội một cách căn bản nhưng cùng lúc có thể duy trì chế độ độc đảng? Gorbachev không thể trả lời được và kết quả Liên Sô sụp đổ.

Bịnh nghiện rượu. Như người viết đã trình bày trong bài “Bệnh Nghiện Rượu Dưới Chế Độ Cộng Sản”, các nghiên cứu cho thấy cơ chế chính trị CS là nguyên nhân tiềm ẩn sâu xa của bệnh nghiện rượu. Giấu cơn giận trong men cay, ngăn nỗi buồn nơi đáy cốc là thái độ tìm quên tiêu cực nhưng rất phổ biến của người dân thường trước những bất công đang đè lên số phận của họ.

Bịnh ung thư. Mỗi năm Việt Nam có thêm 150 ngàn người mắc bịnh ung thư và dự phóng năm 2020 Việt Nam sẽ có 200,000 người mắc ung thư và trong số đó 94,000 phải chết. Theo tỉ lệ dân số, Việt Nam trở thành một trong những quốc gia hàng đầu thế giới về tỉ lệ mắc và chết vì ung thư.

Nhưng căn bịnh sẽ dẫn đến sự sụp đổ chế độ không sớm thì muộn đó không phải vì tham nhũng, ung thư hay rượu chè mà là thiếu tính chính danh. Tính chính danh như máu trong cơ thể con người. Thiếu dòng máu luân lưu trái tim sẽ ngừng đập và óc sẽ ngừng hoạt động.

Đặng Tiểu Bình khi còn sống cũng đã ý thức cây cột duy nhất có thể giữ chế độ CS khỏi sụp đổ là bảo vệ cho được tính chính danh lãnh đạo của đảng CS.

Để nuôi dưỡng tính chính danh của đảng CSTQ sau khi phong trào CS châu Âu tan rã và nhất là sau biến cố Thiên An Môn, giới cầm quyền Trung Cộng áp dụng hàng loạt chính sách, bao gồm (1) ngu dân bằng cách ngăn chận mọi nguồn thông tin từ thế giới bên ngoài, (2) đun sôi lò lửa ái quốc cực đoan Đại Hán, đồng thời, (3) cố gắng cải thiện mức sống của người dân. Họ Đặng biết, một khi người dân đói khổ hay nhận thức nâng cao họ sẽ dễ dàng nhận ra những lãnh đạo đảng thực chất là những tên ăn cướp.

Việt Nam cũng thế. Thiếu tính chính danh lãnh đạo là mối lo lớn nhất của đảng. Trong chiến tranh, đảng CS lừa bịp người dân bằng chiêu bài “chống Mỹ cứu nước”. Khi chủ nghĩa CS trên phạm vi thế giới chưa sụp đổ, đảng lừa bịp người dân bằng lý luận “ba dòng thác cách mạng”, bằng khẩu hiệu “giai cấp tiên phong”. Tuy nhiên, khuôn mặt văn minh thế giới đã đổi thay và chủ nghĩa CS đã bị nhân loại ném vào sọt rác. Ngày nay chế độ CSVN chỉ còn dựa vào nhà tù, khủng bố và đám nịnh thần để điều hành bộ máy nhà nước. Những bản án nặng nề và bất nhân đảng CS dành cho hàng loạt các bạn trẻ đã lên tiếng phản đối Formosa và luật đặc khu bán nước vừa rồi là một bằng chứng quá rõ ràng.

Ai bầu ông Nguyễn Phú Trọng là chủ tịch nước? Ai bầu ông Nguyễn Xuân Phúc làm thủ tướng chính phủ? Ai bầu bà Nguyễn Thị Kim Ngân làm chủ tịch quốc hội?

Ngoài những kẻ tận cùng ngu dốt vì bị tẩy não hay bán rẻ lương tri để làm bồi bút cho đảng, không một người dân có kiến thức chính trị tối thiểu nào có thể đồng ý rằng giới cầm quyền CS hiện nay có đủ chính danh để lãnh đạo Việt Nam.

Đảng CS là một đảng cướp, cướp máu xương của tuổi trẻ Việt Nam trong chiến tranh và cướp mồ hôi nước mắt của nhân dân Việt Nam trong hòa bình.

Tương tự các băng cướp ngân hàng chỉ nghĩ đến chia chác sau mỗi vụ trộm, giới chóp bu CS đang cai trị Việt Nam không hề nghĩ tới tương lai dân tộc. Họ có mắt như mù, có tai như điếc, có miệng nhưng chỉ để ăn. Đất nước đang đứng bên vực thẳm diệt vong không làm sáng mắt họ. Tiếng gầm thét của các chiến đấu cơ Trung Cộng trên các đảo nhân tạo ở Biển Đông không làm thức tỉnh họ.

Điều kiện văn hóa phương đông, các ngộ nhận lịch sử, nhận thức chính trị của người dân còn thấp đã giúp cho CS Trung Hoa và CS Việt Nam các lý do kéo dài quyền cai trị. Thế nhưng, trong lịch sử nhân loại không có một đảng cướp nào cầm quyền được lâu dài. Một đám mây đen dù lớn, dù dày bao nhiêu cũng không thể che mãi mãi ánh sáng mặt trời sự thật.

Mối lo âu hàng đầu của đảng CS là tính chính danh. Do đó, tấn công đảng CSVN dựa vào các tệ nạn tham nhũng, suy đồi đạo đức, giáo dục lạc hậu v.v.. có thể nhất thời làm cho đảng khó khăn nhưng không sụp đổ. Đảng CSVN chỉ sụp đổ nếu bị tấn công thẳng vào tính chính danh.

Trần Trung Đạo
(Ảnh sưu tầm: bầu cử tại Nam Phi 1994)

NHỮNG TỘI ÁC ĐƯỢC THẦN THÁNH HÓA

NHỮNG TỘI ÁC ĐƯỢC THẦN THÁNH HÓA

PHẠM ĐÌNH TRỌNG

1. NGÔI MỘ NHỎ GÓC VƯỜN QUÊ CỦA NHÀ VUA HIỂN HÁCH VÀ NẤM MỒ ĐẤT GIỮA RỪNG VẮNG CỦA VỊ TƯỚNG LẪM LIỆT

Ngô Quyền dựng cọc Bạch Đằng đánh tan quân Nam Hán năm 938 chấm dứt gần ngàn năm ách nô lệ phương Bắc đè lên thân phận người Việt, trói vào số phận nước Việt. Chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938 đã dựng lên nền độc lập bền vững cho nhà nước Nam Việt. Ngô Quyền trị vì trên ngôi Vua tuy ngắn ngủi, chỉ có 6 năm nhưng nhà Ngô đã mở ra những triều đại huy hoàng Lý, Trần, Lê, Nguyễn, mỗi triều đại kéo dài hàng trăm năm. Từ đó, cương vực lãnh thổ nước Việt từ Châu Hoan, Châu Ái, từ lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Chu được mở rộng trải dài từ Hà Giang tới Hà Tiên, ra tận Phú Quốc, Thổ Chu về phía Nam và Hoàng Sa, Trường Sa về phía Đông. Vì vậy sử sách Việt Nam gọi Ngô Quyền là “Vua đứng đầu các Vua” của người Việt.

Ngô Quyền có công với dân với nước Việt lớn như vậy, có vị trí vẻ vang trong trang sử Việt oanh liệt như vậy nhưng khi làm xong sứ mệnh lịch sử lớn lao, khi thanh thản từ giã cuộc đời, vị Vua đứng đầu các Vua Việt Nam lại về yên nghỉ dưới nấm mồ bình dị trong mảnh vườn nhỏ của ông cha trên vùng đất trung du lúp xúp gò đồi xứ Đoài quê nhà. Không chiếm một mẩu đất sống của dân của nước, không xây lăng tẩm bề thế, không bia mộ tầng tầng lớp lớp.

Sau này dân làng Đường Lâm xứ Đoài quê Vua mới góp công, góp của lâp đền thờ vị Vua đứng đầu các Vua ngay trên nền ngôi nhà Vua sinh ra. Ngôi đền nhỏ bé, khiêm nhường hơn rất nhiều so với những tòa nhà lầu của người nông dân bình thường hôm nay. Không tượng đồng bia đá, không lộng lẫy vàng son, vật quí giá nhất trong đền thờ Ngô Quyền là cọc nhọn Bạch Đằng đã đâm thủng thuyền giặc Nam Hán từ hơn ngàn năm trước, đã đâm gục nền Bắc thuộc kéo dài gần ngàn năm.

Phía trước đền, cách vài trăm mét trên sườn dốc gò đồi là ngôi mộ Vua Ngô Quyền, bé nhỏ, đơn sơ, dung dị như một ngôi miếu dân dã cũng do dân làng quê Vua lập. Đền thờ Vua liền kề ngõ xóm nhà dân. Mái ngói đền Vua còn thấp hơn mái bằng tòa nhà lầu của người nông dân trong xóm. Mộ Vua kế bên vườn rau, vạt ngô, ruộng lúa của dân. Diện tích cả đền và mộ vị Vua đứng đầu các Vua của người Việt chỉ xấp xỉ một sào Bắc Bộ, ba trăm sáu mươi mét vuông. Ba trăm sáu mươi mét vuông của mái ngói nền nã màu đất trung du, của sân gạch Bát Tràng rêu phong, của đoạn đường lát đá ong vô cùng thân thuộc với đời sống hàng ngày của người dân. Ba trăm sáu mươi mét vuông của màu xanh cỏ cây hòa trong màu xanh mênh mang vô tận của làng quê Việt Nam. Không có gì khác biệt, không có gì ngăn cách với cảnh sắc, với không gian làng quê Việt Nam.

Không tốn một xu tiền thuế của dân cho việc trông coi đền nhưng suốt hơn ngàn năm qua hương khói không ngày nào tắt trong đền Vua, trước mộ Vua. Suốt hơn ngàn năm qua hồn thiêng Ngô Quyền, khí phách Ngô Quyền vẫn luôn hiện hữu giữa làng quê trung du yên ả.

Chấm dứt kiếp nô lệ cho dân, kết thúc ngàn năm Bắc thuộc cho nước, để lại cho nước trang sử vàng độc lập, lập lên triều đại phong kiến nhà Ngô rồi vua Ngô Quyền thanh thản trở về gửi xác trong mảnh vườn đồi bình dị quê nhà và gửi hồn trong màu xanh cỏ cây đất nước.

Không phải chỉ có một ông vua phong kiến Ngô Quyền biết kết thúc cuộc đời của bậc đế vương như một dân thường. Chỉ số chính xác nhất, rõ rệt nhất, ứng nghiệm nhất về sự thịnh suy của một triều đại chính là chỉ số về sự gần dân của bậc cai trị. Bậc cai trị nào cũng từ dân mà ra. Có chức quyền thì thành bậc cai trị nắm vận nước, lo phận dân. Khi sống chăm lo sức dân làm kế sâu rễ, bền gốc, dân giầu nước mạnh. Cuộc đời gần gũi thân thiết với từng số phận người dân. Khi chết, chức quyền giao lại cho người khác, lại về làm dân, kết thúc đời người lặng lẽ, bình dị như mọi người dân. Những bậc cai trị đó đã tạo ra những thời huy hoàng của đất nước, triều thịnh, nước mạnh, dân an vui.

Trong lịch sử Việt Nam từ thời Hùng Vương đến hôm nay chưa có vị tướng cầm quân nào có chiến công lừng lẫy như Trần Hưng Đạo. Đạo quân Nguyên Mông hùng mạnh đã chinh phạt, khuất phục cả dải lục địa từ Á sang Âu. Suốt 30 năm 1258 – 1288, ba lần Nguyên Mông cất quân đông tướng tài tràn vào đánh Đại Viêt. Ba lần Trần Hưng Đạo thống lĩnh ba quân nhà Trần đánh giặc Nguyên Mông tan tác, giữ vững nền độc lập của Đại Việt. Vị tướng lẫm liệt, kiệt xuất để lại công lớn cho dân cho nước, viết lên trang sử Việt chói lọi như vậy, khi chết cũng chỉ có nấm mồ nhỏ âm thầm trong cánh rừng làng Vạn Kiếp, bên dòng sông Bạch Đằng lịch sử nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

Ngược lại kẻ cai trị khi sống đã xa dân vời vợi bằng cuộc sống ăn tàn phá hại, cuộc sống giầu sang có được trên sự kiệt quệ của nước, trên sự khốn cùng của dân. Khi sống, bòn rút của nước, cướp bóc của dân. Cả cái chết vẫn còn làm hại nước khi chiếm đất sống của dân xây mả lớn, đền to ở một cõi riêng, tạo ra cả một không gian thần thánh cho cái chết của kẻ cai trị đầy tội ác với dân với nước.

2. LĂNG MỘ HOÀNH TRÁNG CỦA ÔNG CÒ CẢNH SÁT CỘNG SẢN

Cách hôm nay hơn ngàn năm, thời Ngô Quyền, xã hội Việt Nam còn là thời phong kiến sơ khai. Nhà nước cộng sản ngày nay thực chất cũng chỉ là nhà nước phong kiến, chỉ khác là: nhà nước cộng sản không những học đòi tất cả những cái xấu xa, tệ hại của nhà nước phong kiến mà cái tệ hại phong kiến còn được cô đặc, nâng lên rất cao. Còn những nề nếp tốt đẹp của phong kiến thì người cộng sản không thể học được. Tuy có học hàm học vị cao chót vót, giáo sư, tiến sĩ nhưng văn hóa thực sự chỉ là văn hóa bổ túc công nông, đại học chuyên tu, đại học tại chức, nền tảng văn hóa đó không thể thấy và không thể học những giá trị, những khuôn mẫu tốt đẹp của xã hội phong kiến, những người cộng sản cầm quyền mở miệng ra là lên án xã hội phong kiến thối nát, bất công, nguyền rủa giai cấp phong kiến tội lỗi và những người cộng sản luôn vỗ ngực tự nhận là đảng cộng sản của họ không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân.

Trả lời cho tuyên truyền lừa bịp cộng sản không có gì xác đáng, thuyết phục hơn là hiện thực cuộc sống. Từ cuộc đời hiển hách công trạng để lại cho dân cho nước và cõi trở về trong lòng dân của ông vua phong kiến Ngô Quyền, của vị tướng phong kiến Trần Hưng Đạo đối chiếu với cuộc đời mang nặng nợ máu với dân, cuộc đời chiếm đoạt quá nhiều của dân và cõi trở về ngàn trùng xa cách với dân của ông cộng sản vừa lìa đời, ông cò cảnh sát cộng sản Trần Đại Quang, để thấy sự giả dối ghê tởm của tuyên truyền cộng sản và bản chất phản dân hại nước của người cộng sản.

Chưa cần xét đến mức độ kệch cỡm về thẩm mĩ, sự vung phí nguồn lực của đất nước, sự lạc lõng với thời đại của lăng mộ lạnh toát màu đá và ngạo nghễ đúng thói kiêu ngạo cộng sản, sừng sững trên cả trăm ngàn mét vuông đất kim cương giữa kinh kì của ông Vua cộng sản số một Hồ Chí Minh. Chỉ riêng tiền bảo quản xác ướp ông Hồ mà dân gian gọi là ông Minh Râu và duy trì hoạt động của cả một Bộ tư lệnh lăng, mỗi tháng đã ngốn hàng trăm tỉ tiền thuế của dân. Chỉ lăng mộ của một ông cò cảnh sát cộng sản chiếm hơn sáu mươi ngàn mét vuông đất bờ xôi ruộng mật của người nông dân đồng bằng Bắc Bộ ngàn đời đói đất cũng thấy sự giả dối, nhẫn tâm và bất lương cộng sản.

Tuy có hai năm cuối đởi ông cò cảnh sát leo lên đến tột đỉnh quyền lực, Chủ tịch nhà nước cộng sản, nhưng quãng đời hai năm ngắn ngủi đó ông Chủ tịch nhà nước cộng sản đã dành phần lớn thời gian cho những đợt nằm chữa bệnh trong bệnh viện và những chuyến đi tìm kiếm sự cứu rỗi nơi cửa Phật. Sáu lần nằm bệnh viện tận bên Nhật Bản, mỗi lần kéo dài cả tháng. Những lần vào điều trị bệnh viện trong nước còn nhiều hơn. Rồi thời gian tìm đến cửa Phật trong nước, ngoài nước. Đến tận thủ đô Phật giáo thế giới ở Gaya, bang Bihar, heo hút Tây Bắc Ấn Độ, nơi Đức Phật sống những ngày cuối cùng của kiếp người hữu hạn, nơi bắt đầu cuộc sống vĩnh hằng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Tìm đến để gục đầu vào bức tường đá ngôi đền Mahabodhi, nơi Phật đi vào bất tử, mong Đức Phật đoái thương. Vì vậy dù có hai năm danh nghĩa là Chủ tịch nhà nước cộng sản nhưng cuộc đời thật sự của ông cộng sản Trần Đại Quang là cuộc đời ông cò cảnh sát cộng sản. Và hơn sáu mươi ngàn mét vuông đất ruộng màu mỡ của dân cho năng suất lúa cao đã về tay ông từ thời ông còn làm cò cảnh sát.

Ngàn đời đói đất, với người nông dân đồng bằng Bắc Bộ đất là vàng ròng, được tính từng tấc, từng li chứ không thể hào phóng, xa xỉ tính bằng thước, bằng mét và câu cửa miệng của người dân mang nỗi đói đất truyền kiếp là: bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu. Không có đất cày cấy, bố ông cò cảnh sát cộng sản phải mưa nắng lặn sông, lội đầm đơm đó, đánh dậm kiếm con cua con cá, mẹ ông phải buôn thúng bán bưng, đòn gánh đè xuống vai, gánh vã nải chuối, thúng khoai, sản phẩm của đất quê đi chợ xa chợ gần. Vậy mà ngay từ khi còn sống, biết rõ nỗi nghèo khó vì thiếu đất sống của người dân Kim Sơn, Ninh Bình quê ông, ông cò cảnh sát cộng sản Trần Đại Quang cũng nỡ chiếm 6,2 hecta, sáu mươi hai ngàn mét vuông đất ruộng màu mỡ, đất sống của người nông dân đói đất quê ông làm đất chết cho ông, làm khu lăng mộ kì vĩ cho ông về với tổ tiên của ông.

Thời nhà Nguyễn, dân số cả nước ta chỉ có mười triệu người. Đất rộng, người thưa, các Vua nhà Nguyễn thời phong kiến xấu xa, tồi tệ nhưng khi xây lăng mộ cho Vua còn biết nghĩ đến dân, dành đất sống cho dân. Ngày nay, nhà nước cộng sản Việt Nam đã cắt mười lăm ngàn cây số vuông đất biên giới phía Bắc, bằng diện tích tỉnh Thái Bình, dâng cho Tàu Cộng. Rồi những vùng đất rộng lớn đã trở thành đất sang nhượng cho Tàu Cộng như đất bô xít Tây Nguyên, đất Formosa Vũng Áng, Hà Tĩnh. Những vùng đất đã trở thành đất chết như đất phủ bùn đỏ ở Tân Rai, Lâm Đồng, đất bụi than Vĩnh Tân, Bình Thuận. Diện tích đất sống đang mất đi, đang co lại ngày càng lớn. Trong khi dân số cứ phình ra, đến nay dân số nước ta đã lên tới gần trăm triệu người. Dân số tăng gấp hơn chín lần so với thời triều Nguyễn. Đất sống của người dân vô cùng ít ỏi. Vậy mà một ông cộng sản từ khi chỉ là ông cò cảnh sát đã chiếm sáu mươi hai ngàn mét vuông đất màu của người nông dân đói đất quê ông làm lăng mộ cho mình.

Khu lăng mộ Vua Khải Định nhà Nguyễn trên núi giữa thiên nhiên hoang sơ cũng chỉ rộng 5.674 mét vuông. Lăng mộ của ông cò cảnh sát cộng sản Trần Đại Quang chiếm 62 000, sáu mươi hai ngàn mét vuông ruộng lúa của dân, rộng gấp 11 lần lăng Khải Định.

Thuê thầy địa lí vạch kênh tạo dòng chảy, tạo long mạch. Khoanh hồ hứng nước mưa tụ lộc trời. Chỉ riêng việc đào kênh, kè bờ, vét ao, trồng cây cổ thụ, tạo cảnh quan phong thủy cho khu lăng mộ và làm con đường nhựa thênh thang dẫn đến lăng của ông cò cảnh sát cộng sản đã phải đổ ra cả núi tiền, phải tính tới hàng trăm, hàng ngàn tỉ đồng. Nhìn núi tiền đổ ra dựng lên lăng mả ông cò cảnh sát cộng sản Trần Đại Quang lại phải nhớ đến lời khai của ông quan tham nhũng Dương Chí Dũng đã phải chi ra cả triệu đô la tìm kiếm sự che chở của những ông tướng cảnh sát điều tra vụ án Dương Chí Dũng. Lại phải nhớ đến tên tội phạm Phan Văn Anh Vũ núp danh nghĩa công an đã chiếm đoạt của nhà nước hàng ngàn tỉ đồng và bóng dáng tên tội phạm Anh Vũ luôn thấp thoáng, cặp kè phía sau ông cò cảnh sát Trần Đại Quang.

Hàng ngàn tỉ tiền đổ ra cho lăng mộ ông cò cảnh sát cộng sản trong khi người dân nghèo chỉ mắc bệnh thông thường, dễ chữa như lao phổi. Ngày nay được chữa kịp thời bệnh lao cũng chỉ như bệnh cảm cúm. Biết là bệnh lao nhưng không có tiền mua thuốc, không có tiền viện phí không dám vào bệnh viện. Đến lúc hấp hối đành đánh liều vào bệnh viện thì đã quá muộn vì lá phổi đã bị vi trùng lao khoét ruỗng rồi, không còn thuốc nào cứu được nữa. Chết rồi, không có tiền thuê ô tô đưa xác người chết từ bệnh viện về nhà, người thân đành bó xác chết trong mảnh chiếu rách, buộc xác chết sau xe máy. Manh chiếu hẹp, hai chân xác chết người nghèo thòi ra ngoài chiếu cứ lắt lẻo trên suốt chặng đường dài như đôi chân đó đang cuống cuồng chạy trốn số phận người dân đen trong nhà nước cộng sản.

Nhà nước cộng sản mua sự trung thành của khẩu súng, của sức mạnh bạo lực bằng ân sủng, bằng biệt đãi, bằng lon tướng ban phát tràn lan cho công an. Thời lạm phát tướng công an thì ông tướng Trần Đại Quang cũng chỉ sàn sàn cá mè một lứa giữa hàng trăm ông tướng công an khác. Vụ nhà nước Dega nổ ra, người dân Ê Đê, Ba Na, Gia Rai Tây Nguyên nổi dậy đòi quyền sống, đòi quyền làm chủ núi rừng ngàn đời của họ là dịp để ông tướng công an Trần Đại Quang lấy máu người dân Ê Đê, Ba Na ghi công với nhà nước cộng sản và bộc lộ lòng trung thành với đảng cộng sản của ông.

Cả cuộc đời làm cò cảnh sát, làm công cụ bạo lực của nhà nước chuyên chính vô sản, ông cò cảnh sát Trần Đại Quang đã có công rất lớn với nhà nước cộng sản trong việc duy trì nền độc tài cộng sản nhưng lại có tội rất lớn với dân, tước đoạt những giá trị làm người của người dân, trói buộc kìm hãm người dân trong tăm tối nô lệ cộng sản mà nô lệ cộng sản còn độc ác, man rợ hơn cả nô lệ Bắc thuộc và nô lệ Pháp thuộc. Máu dân và thân phận nô lệ của người dân đã đưa ông cò cảnh sát Trần Đại Quang lên tới chức bộ trưởng bộ Công an và lên tới hàm đại tướng. Thời ông cò cảnh sát Trần Đại Quang là Bộ trưởng bộ Công an đã mở ra thời kiêu binh của công an. Công an lạm quyền. Bạo lực công an tràn lan. Hàng trăm người dân lương thiện bị công an đánh chết diễn ra khắp nơi, trên đường phố bình yên, giữa làng quê thanh bình, trong trụ sở công an, trong trại tạm giam. Dân oan bị quan tham cướp đất biểu tình ôn hòa đòi đất, người dân yêu nước biểu tình hợp pháp phản đối giặc Tàu Cộng xâm lược biển đảo đều bị công an vu cho người biểu tình tội gây rối trật tự công cộng, bị đàn áp dã man, bị bắt giam phi pháp. Phụ nữ bị đánh chan hòa máu mặt ngay trên đường phố. Đàn ông bị đánh chấn thương sọ não trong nhà giam.

Tồn tại bằng công cụ bạo lực nhà nước, nhà nước cộng sản dung túng bao che cho những tội ác tày trời mà đám quân của ông cò cảnh sát cộng sản Trần Đại Quang đã gây nợ máu với dân và những tội ác đó đã đưa ông cò cảnh sát Trần Đại Quang lên tới vị trí người đứng đầu nhà nước cộng sản. Tội ác của ông cò cảnh sát cộng sản Trần Đại Quang đã gây ra cho dân đã được nhà nước cộng sản dung túng bao che nhưng nhân dân dù bao dung vẫn đòi hỏi công bằng. Còn lịch sử luôn sòng phẳng và nghiêm khắc sẽ phán xét đảng cộng sản Việt Nam cùng những lãnh đạo hàng đầu của đảng trong đó có ông cò cảnh sát Trần Đại Quang tội chống lại nhân dân, chống lại dòng chảy tiến hóa của lịch sử, tội giam cầm, tù đày nhân dân trong nô lệ cộng sản.

Tượng đồng, tượng đá của Lê nin, ông trùm cộng sản thế giới đang bị giật đổ, đập nát ở khắp nơi trên những đất nước đã phải trải qua những năm dài tăm tối cộng sản. Ông cò cảnh sát Trần Đại Quang chồng chất nợ tự do, nợ máu với dân, một tội đồ của lịch sử Việt Nam thì lăng mộ hoành tráng của một tội ác như vậy sẽ tồn tại được bao lâu?

3. THẦN THÁNH HÓA TỘI ÁC

Triều đại nào đến hồi suy vi cũng nảy nòi ra nhiều trò hại dân, hại nước. Chỉ đến triều nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng mới có lệ dồn của cải tài nguyên của nước, vắt mồ hôi nước mắt của dân xây lăng tẩm cho Vua. Dồn dập, hối hả xây lăng tẩm nhưng bảy lăng tẩm bề thế, trùng trùng lớp lớp đền đài của các Vua nhà Nguyễn cũng không chiếm một tấc đất ruộng của dân. Không để dân mất đất sống, các Vua nhà Nguyễn đều chọn những triền núi hoang, không có vườn ruộng của dân, xây lăng mộ.

Là lăng tẩm Vua nhà Nguyễn nhưng không thấy nhà mồ, chỉ thấy những đền đài mang vẻ đẹp của kiến trúc Phật giáo Việt Nam, mang thẩm mĩ tinh tế và tài hoa sáng tạo của dân gian Việt Nam đã tạo ra công trình hài hòa cùng thiên nhiên Việt Nam. Mái ngói rêu phong cổ kính đền đài thấp thoáng trong màu xanh thiên nhiên, như là một phần tư nhiên của thiên nhiên vĩnh hằng. Không gian trầm tư của lăng tẩm sâu hút trong tiếng rì rầm bất tận của rừng cây. Vẻ đẹp kiến trúc lăng tẩm của các Vua triều Nguyễn tô điểm thêm vẻ đẹp mĩ lệ, huyền ảo cho thiên nhiên đất nước đã trở thành công trình nghệ thuật của muôn đời, trở thành tài sản văn hóa của nhân dân. Đó là sự đền bù cho tài nguyên của nước, cho công sức của dân đã đổ ra để có lăng tẩm các vua nhà Nguyễn.

Thời cộng sản, lăng mộ Hồ Chí Minh, một nhà mồ đơn độc khổng lồ ngạo nghễ giữa không gian mênh mông kinh kì đã nghĩa trang hóa, tha ma hóa cả kinh đô ngàn năm văn hiến. Trần trụi, bê tông hóa cả vùng đất bảng lảng sương khói huyền thoại với chùa Một Cột nhỏ nhắn như một đóa sen, với núi Nùng chỉ là gò đất giữa ngàn xanh bách thảo nhưng lãng đãng hơi sương Hồ Tây như thực, như ảo. Nhà mồ Hồ Chí Minh xám xịt, lạnh ngắt màu đá lạc lõng giữa sắc màu đô thị, lạc lõng giữa thời đại liên tiếp những cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đưa con người tới nền văn minh tin học, giải phóng con người khỏi những thế lực thần quyền, con người đã trở thành những siêu nhân làm chủ cả vũ trụ. Lăng Hồ Chí Minh làm sống lại thế lực thần quyền, thần thánh hóa một thế lực chính trị phàm tục, đẫm máu dân và đã hết vai trò lịch sử. Lăng Hồ Chí Minh đưa Hồ Chí Minh lên thành vị thánh của cả nước, dìm cả một dân tộc đau thương thành thần dân của một thế lực thần quyền, thành nô lệ của một ông thánh do tuyên truyền cộng sản thêu dệt lên.

Cũng như lăng mả Hồ Chí Minh, lăng mả Trần Đại Quang cùng lăng mả, nhà bảo tàng, nhà tưởng niệm những nhân vật cộng sản hàng đầu khác như Trần Phú, Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh . . . đều nhằm thần thánh hóa con người cộng sản và tổ chức cộng sản đã gây quá nhiều đau khổ cho dân, đã gây quá nhiều mất mát, nguy hại cho nước. Lăng mộ Hồ Chí Minh đưa Hồ Chí Minh lên hàng thánh của cả nước thì lăng mộ Trần Đại Quang sẽ đưa ông cò cảnh sát Trần Đại Quang hai tay ròng ròng máu dân lên hàng thánh của một vùng quê đồng bằng Bắc Bộ. Rồi lăng mộ Đỗ Mười, lăng mộ Nguyễn Đức Bình và lăng mộ nhiều ông thủ lĩnh cộng sản kế tiếp sẽ đưa các ông đó lên hàng thánh ở vùng quê các ông. Từ nay, bầu trời tâm linh của người dân Việt Nam chỉ có các ông thánh cộng sản và đất sống của người dân Việt Nam trở thành đất sa mạc chết với trùng điệp, san sát, hiu hắt những lăng mộ cộng sản.

Lí tưởng sống của người cộng sản được tô vẽ vô cùng cao đẹp: Người cộng sản không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân! Nhưng con người cộng sản trong cuộc đời thực từ lúc sống đến cả cái chết lại vô cùng thấp hèn. Những người cộng sản đã lấy máu của hàng chục triệu người dân Việt Nam, đã dìm cả dân tộc Việt Nam vào cuộc chém giết suốt gần nửa thế kỉ để làm cuộc cách mạng trừ phong phản đế, diệt trừ phong kiến, đánh đuổi đế quốc giành chính quyền cho người cộng sản. Khi có chính quyền trong tay, những người cộng sản đã thiết lập một nhà nước vừa là thế quyền độc ác, tàn bạo hơn cả chính quyền đế quốc xâm lược, vừa là thần quyền mê muội, tăm tối, ngột ngạt hơn cả thời phong kiến cổ hủ. Cuộc đời và lăng mộ những người lãnh đạo cộng sản đã chứng minh và ghi nhận về một thời bất hạnh của giống nòi Việt Nam và một thời đen tối của lịch sử Việt Nam, thời cộng sản.

Image may contain: tree, plant, sky, outdoor and nature
Image may contain: plant, tree, sky, outdoor and nature
Image may contain: 1 person, outdoor
Image may contain: grass, stadium, outdoor and nature
Image may contain: sky, tree, outdoor, water and nature

Cái Địt Giữa Tòa

Cái Địt Giữa Tòa

1 NguyenVanTuc

Les lois sont des toiles d’araignées à travers lesquelles passent les grosses mouches et où restent les petites. (Luật pháp là mạng lưới chỉ bắt được những con ruồi nhỏ).

Honoré de Balzac


Balzac qua đời năm 1850. Từ đó đến nay cả đống nước sông, nước suối (cùng với nước mưa, nước mắt) đã ào ạt chẩy qua cầu và qua cống. Loài người mỗi lúc một thêm tiến bộ và văn minh hơn. Theo thời gian luật pháp – nói chung – cũng vậy, cũng được cải thiện (dần dần) nghiêm minh và đàng hoàng hơn thấy rõ. Ruồi lớn, giờ đây, cũng bị vướng vòng lao lý đều đều.

Cả Tổng Thống Đài Loan (Trần Thủy Biển) lẫn Tổng Thống Nam Hàn (Park Geun-hye) đều bị ngồi tù chỉ vì lem nhem về tiền bạc. Mới đây, ngày 20 tháng 09 năm 2018, cựu thủ tướng Malaysia Najib Razak cũng vừa phải vác chiếu hầu toà vì tội biển thủ công quỹ.

Nhân loại – tất nhiên – không phải lúc nào cũng vui vẻ nắm tay nhau, hướng về phía trước, và cùng đồng nhịp bước tiến. Ở Zimbabwe, Tổng Thống Robert Mugabe (một con  ruồi lớn) vừa thoát lưới dễ dàng vì luật pháp ở xứ sở này – ngó bộ – có hơi xộc xệch.

Nói vậy rất dễ gây ngộ nhận là (dường như) luật pháp tại Á Châu tiến bộ hơn ở Phi Châu chăng?

Không dám hơn đâu!

Việt Nam thuộc Đông Nam Á, và hệ thống pháp luật của quốc gia này, xem chừng, vẫn đang có khuynh hướng thụt lùi. Cựu T.T Nguyễn Tấn Dũng đã hạ cánh an toàn, không một phiên toà hay ngày tù tội gì ráo trọi, dù ông được công luận ghi nhận là một nhân vật “đầy tì vết tham nhũng” và “phá chưa từng có!”

Ngành tư pháp của đất nước Zimbabwe hình thành và lùi/tiến ra sao, nói thiệt, tui hoàn toàn mù tịt nên không dám lạm bàn. Còn ở VN của mình thì tui có biết (sơ) nên xin phép được nói qua chút xíu, nghe chơi, để rộng đường dư luận.

Đại Học Đông Dương khai giảng lần đầu vào năm 1907. Tác giả Trần Thị Phương Hoa (Institute for European Studies) cho biết thêm:

“Lần khai giảng thứ hai năm 1917 mở ra một hình thức mới cho trường – đó là mô hình bách khoa với nhiều trường kỹ thuật. Giai đoạn thứ ba từ 1932 đến 1945 khẳng định diện mạo của trường với ba thành tố: Trường Y, trường Luật và trường Khoa học.

Mặc dù trường đại học hạn chế số lượng thành viên, uy tín chuyên môn của Đại học Đông Dương tăng dần. Kể từ năm 1932, trường Y và trường Luật trở thành một phân hiệu của trường Y và Luật Paris.”

Không chỉ muộn màng, ngành luật học ở Việt Nam còn gặp rất nhiều trắc trở:

“Ngày 17-11-1950, Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 158-SL, quyết định việc bổ sung cán bộ công nông vào ngạch thẩm phán và thăng bổ các thẩm phán toà án nhân dân huyện lên toà án nhân dân tỉnh… Từ đây, theo ông Vũ Đình Hòe: ‘các thẩm phán huyện, đa số là đảng viên cộng sản, chỉ qua lớp chính trị và nghiệp vụ’. Quan điểm lựa chọn thẩm phán chủ yếu ‘đứng trên lập trường nhân dân’ của Hồ Chí Minh đã ảnh hưởng lâu dài đến nền tư pháp Việt Nam.” (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc, tập II. OsinBook, USA: 2012).

2 NguyenVan Tuc
Muốn biết “quan điểm lựa chọn thẩm phán ‘chủ yếu là đảng viên cộng sản’ và ‘đứng trên lập trường nhân dân’ của Hồ Chí Minh đã ảnh hưởng lâu dài đến nền tư pháp Việt Nam” ra sao, xin đọc qua một mẩu đối thoại (giữa quan toà và bị cáo) trong phiên toà xử Phan Thắng Toán và những người đồng vụ – vào  năm 1971 – do nhạc sĩ Tô Hải ghi lại:

Chánh án: – Anh có nhận là đã đánh nhạc của tư sản, là đồi truỵ không?

Toán xồm: – Dạ! Thưa quý toà, con chỉ đánh những gì in trên đĩa của Liên Xô, của Tiệp Khắc, của Cộng Hoà Dân Chủ Đức thôi ạ!

Chánh án: – Anh nói láo! Thế Paloma, Santa Lucia là của ai?

Toán Xồm: – Dạ! Paloma là của nước bạn Cu Ba ạ! Còn Santa Lucia là dân ca Ý ạ! Nhà xuất Bản của nhà nước đã in và sân khấu nhà nước đã có nhiều ca sỹ biểu diễn ạ!

Chánh án: – Vậy anh có biết cha cha cha là cái gì không?

Toán Xồm: – Dạ! Có ạ!! Đây là một nhịp điệu xuất xứ cũng tại nước bạn Cu Ba ạ!

Chánh án: – Thế còn Tango bleu chắc anh cũng đổ cho Cu Ba hết hả?

Toán xồm: – Dạ không! Tango là một điệu nhảy Ác-giăng-tin nhưng đã được quốc tế hoá. Vừa giờ Đoàn xiếc Tiệp Khắc sang ta và các nước XHCN đều xử dụng cả ạ!

Chánh án: – Nhưng người ta đánh khác, còn anh đánh khác. Đừng có ngụy biện!

Toán Xồm: – Dạ! Đánh y hệt ạ! Chỉ có thua họ về nhạc cụ họ tốt hơn… chứ nếu chúng con có đầy đủ nhạc cụ như họ thì chúng con chẳng thua gì họ cả ạ!

Chánh án: – Anh hãy im miệng! Đồ ngoan cố!

Và cứ như vậy, suốt phiên tòa Chánh án chỉ sử dụng câu “Im miệng! Đồ ngoan cố” để cắt lời người bị buộc tội. Không hề có ai bào chữa.

Cuối cùng, toà luận án và tuyên án:

“Việc làm của bọn này đã gây ảnh hưởng xấu cho phong trào trật tự trị an, phá hoại việc thực hiện một số chính sách của Nhà nước, nhất là chính sách lao động sản xuất, chính sách nghĩa vụ quân sự… xâm phạm nghiêm trọng đến hạnh phúc, phẩm giá của phụ nữ, đến đạo đức và đời sống của nhiều người, và tuyên truyền xuyên tạc lại chế độ xã hội chủ nghĩa trong lúc cả nước đang chiến đấu chống Mỹ xâm lược.

Do tính chất nghiêm trọng của vụ án nói trên, toà quyết định xử phạt Phan Thắng Toán 15 năm tù giam và sau đó 5 năm bị tước quyền công dân; Nguyễn Văn Đắc, 12 năm tù giam và sau đó 5 năm bị tước quyền công dân; Nguyễn Văn Lộc 10 năm tù giam và 4 năm bị tước quyền công dân …” (“Phan Thắng Toán và Đồng Bọn Đã Bị Xét Xử” – báo Hà Nội Mới 12/ 01/1971).

Với truyền thống ban phát án tù vô tội vạ như trên, của nền tư pháp công nông (hóa) ở Việt Nam, nên không có gì ngạc nhiên khi ông Lê Đình Lượng đã bị kết án đến 20 năm tù – vào ngày 16 tháng 8 vừa qua – chỉ vì “có nhiều bài viết với nội dung tuyên truyền, kích động, xuyên tạc, phỉ báng chủ trương, đường lối của Đảng.” L.S Đặng Đình Mạnh còn cho BBC biết thêm là “ông Lượng giữ quyền im lặng suốt phiên tòa, nên bị đánh giá là ngoan cố.”

Hơn ba tuần sau, vào hôm 14 tháng 9 năm 2018 – tại một phiên toà khác – ông Nguyễn Văn Túc bị kết tội “tổ chức phản động, hoạt động trái pháp luật, nhằm âm mưu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chính quyền nhân dân, thay đổi thể chế chính trị.” Khác với ông Lê Đình Lượng, ông Nguyễn Văn Túc không giữ im lặng mà bật tiếng chửi thề. Sự kiện này đã khiến nhà thơ Thái Bá Tân buông đôi câu cảm thán:

Hôm qua xử phúc thẩm
Y án mười ba năm
Với anh Nguyễn Văn Túc
Một tù nhân lương tâm.

Anh chấp nhận bản án,
Không van xin, kêu ca.
Nghe nói chỉ nhếch mép
Và chửi:“Địt mẹ tòa!”

FB Bùi Thị Minh Hằng bình phẩm:

“Chắc chắn câu chửi thề này sẽ trở thành ‘dấu ấn ô nhục’ cho nền tư pháp cộng sản.”

Tôi thì nghĩ hơi khác, câu chửi thề này không phải là dấu ấn, mà là dấu chấm (hết) cho hệ thống tư pháp công nông mù loà và thô bạo của thể chế hiện hành. Từ nay, vẫn theo lời Thái Bá Tân:

Đừng nhắc đến công lý
Với tòa án nước ta.
Tôi, bị đem ra xử,
Cũng nói:”Địt mẹ tòa!”

Ai cũng đều nói thế cả thì kể như xong phim!

Tưởng Năng Tiến