Việt Nam lấy cái gì để bảo vệ chủ quyền biển đảo?

Để trả lời câu hỏi này người ta cần xác định tranh chấp ở Biển Đông là loại tranh chấp gì?

Có ít ra bốn loại tranh chấp: 1/ tranh chấp chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 2/ Tranh chấp do đối nghịch lập trường về cách diễn giải Luật Biển (UNCLOS 1982). 3/ Tranh chấp do thiếu nghĩa vụ của một bên về những cam kết có giá trị ràng buộc pháp lý. 4/ Tranh chấp đến từ sự bất tuân của một (hay nhiều) bên đối với sự áp đặt về quyền (lịch sử) của bên kia.

Vụ lùm xùm TQ cho tàu nghiên cứu địa chất đến thăm dò địa chấn khu vực biển thuộc vùng kinh tế độc quyền (EEZ) của VN (trong vòng 200 hải lý tính từ đường cơ bản) từ đầu tháng 7 năm 2019 đến nay, về cơ bản, đến từ những yêu sách của TQ (mà yêu sách này) liên quan đến cả 4 vấn đề nói trên.

Thứ nhứt, về tranh chấp “chủ quyền”. Từ sau Hội nghị San Francisco 1951 TQ cho rằng họ có chủ quyền “bất khả tranh biện” đối với cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đến thập niên 70 thì họ tuyên bố có chủ quyền đối với “vùng nước chung quanh”. Tuy nhiên, về phương diện lịch sử và pháp lý, TQ không có những bằng chứng thuyết phục để chứng minh (chủ quyền của họ tại HS và TS). TQ chiếm Hoàng Sa của VN bằng vũ lực (19 tháng giêng năm 1974). TQ chiếm một số bãi, đá thuộc Trường Sa của VN bằng vũ lực (tháng ba năm 1988). Tập quán quốc tế loại trừ hành vi khẳng định chủ quyền bằng phương pháp chinh phục lãnh thổ bằng vũ lực. Tức là hành vi xâm lăng HS và TS không đem lại danh nghĩa chủ quyền cho TQ.

2/ Sau khi tiếm nhận chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa, TQ diễn giải Luật Biển 1982 bằng cách có lợi nhứt. TQ yêu sách hai quần đảo HS và TS có hiệu lực biển “nội hải” trường hợp “quốc gia quần đảo” đồng thời mỗi đảo có hiệu lực “đảo” theo tiêu chuẩn của UNCLOS (điều 121 khoản 3). Với 2 yêu sách này vùng biển EEZ của HS và TS rộng lớn, phù hợp với “đường chữ U chín đoạn” mà đường này “chống lấn” với hải phận kinh tế độc quyền của các quốc gia chung quanh, như VN, Phi, Mã Lai… Tuy nhiên hai yêu sách này bị loại trừ sau khi Tòa trọng tài ra phán quyết tháng 7 năm 2016. Theo đó các đảo HS và TS không có qui chế “nội hải” theo qui ước riêng dành cho các quốc gia quần đảo đồng thờ icasc đảo ở TS không có cái nào có đủ tiêu chuẩn “đảo”, theo điều 121 UNCLOS.

3/ Phía TQ luôn vịn vào công hàm 1958 của cố thủ tướng VNDCCH là ông Phạm Văn Đồng, nội dung công nhận và tuân thủ “tuyên bố đơn phương về hải phận và chủ quyền” của TQ tháng 9 năm 1958. Qua công hàm này TQ cho rằng VN đã chính thức nhìn nhận HS và TS thuộc TQ. Ngoài ra ta không thể loại trừ các “cam kết miệng” giữa các lãnh đạo cộng sản, như sự trao đổi lãnh thổ lấy viện trợ (vũ khí, đạn dược, thực phẩm, nhân sự..) phục vụ cho cuộc chiến “chống Mỹ cứu nước”… Ngoài ra, một tài liệu công bố cách đây hơn 10 năm, ta biết rằng VN “công nhận có 3 vùng biển tranh chấp” với TQ.

4/ TQ yêu sách “quyền lịch sử” ở Biển Đông theo bản đồ “U chín đoạn”. Yêu sách “quyền lịch sử” cũng bị loại trừ. Phán quyết Tòa trọng tài tháng 7 năm 2016 không nhìn nhận yêu sách “quyền lịch sử” vì quyền này không phù hợp với Luật Biển 1982.

Trở lại câu hỏi: VN lấy cái gì để bảo vệ quyền và lợi ích ở Biển Đông?

Có 3 phương cách: 1/ chiến tranh (pháp lý), 2/ chiến tranh (ngoại giao, kinh tế…) và 3/ chiến tranh nóng.

Ngoài phương cách thứ nhứt, sử dụng “luật”. VN không có phương cách nào khác để tự bảo vệ mình tốt hơn phương pháp này.

VN làm gì có đủ khả năng ngoại giao để thuyết phục các quốc gia Mỹ, Pháp, Anh, Nga…, các đại cường có thẩm quyền quyết định các lãnh thổ mà Nhật phải từ bỏ sau Thế chiến II, nhìn nhận VN có chủ quyền ở HS và TS? VN cũng không có trọng lượng kinh tế để “cấm vận” trừng phạt TQ. Thực tế cho thấy ngược lại, VN quá lệ thuộc kinh tế vào TQ, khiến những yêu sách hợp tình hợp lý của VN bị che dưới nhu cầu phát triển kinh tế.

Còn “chiến tranh nóng”, VN làm gì có đủ khí tài để ngăn chặn lực lượng hải quân, không quân, hùng hậu của TQ ở Biển Đông? Ta thấy sau khi thử nghiệm thành công (?) hỏa tiễn chống hạm, chống tiếp cận đời mới phóng từ lục địa ra vùng biển Trường Sa, TQ gia tăng áp lực chèn ép VN trên vùng biển của mình như đã thấy những ngày gân đây. VN cũng không thể “nghiêng” về Mỹ, vì nước Mỹ thời TT Trump chủ trương “co cụm” với “bảo hộ chủ nghĩa”, bất cần thế giới bên ngoài hỗn loạn, cá lớn nuốt cá bé ra sao.

Cuối cùng chỉ có “chiến tranh pháp lý” mới có thể giúp VN khẳng định được quyền và lợi ích của mình trước những áp lực từ TQ. Nhưng để đạt được chiến thắng, VN phải “hóa giải” thành công những tuyên bố đơn phương, những cam kết “mật” giữa lãnh đạo cộng sản VN và TQ. Mà việc này, tôi đã từng nói đi nói lại nhiều lần, là đảng CSVN phải “hòa giải quốc gia” thông qua một đạo luật, mục đích “kế thừa” di sản của VNCH.

Hòa giải quốc gia là gì? những người “trong cuộc” đã chết. Hòa giải với ai? Vấn đề là “người ” chết nhưng “di sản” của VNCH vẫn không (hay chưa) “tàn” đi. Hòa giải quốc gia thực ra là cách nói khác của “dân chủ hóa đất nước”. Phải trả lại chủ quyền đất nước thực sự cho người dân định đoạt.

Chớ nếu không làm, như bây giờ, thì không lâu nữa TQ sẽ chiếm trọn Biển Đông, chiếm trọn tất cả những gì lý ra là của người VN. Lãnh đạo đảng CSVN có thể bị gò bó trong mục tiêu sao cho sự lãnh đạo của đảng được trường tồn. Nhưng đất nước không phải chỉ là của thế hệ hôm nay. Thế hệ hôm nay không thể ăn tàn phá nát đất nước, bất kể hậu quả để lại cho thế hệ mai sau.

BAOTIENGDAN.COM
Việt Nam lấy cái gì để bảo vệ chủ quyền biển đảo? Bởi AdminTD – 18/07/2019 Trương Nhân Tuấn 18-7-2019 Để trả lời câu hỏi này người ta cần xác định tranh chấp ở Biển Đông là loại tranh chấp gì? Có ít ra bốn loại tranh chấp: 1/ tra…

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Đất Đai Thủ Thiêm & Đồ Mã Ba Đình

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Đất Đai Thủ Thiêm & Đồ Mã Ba Đình (RFA)

Ảnh của tuongnangtien

Đề nghị chúng ta hãy làm dân thường một vài giờ thì sẽ thấy tính mạng, nhân phẩm và tài sản của người dân dễ bị xâm hại, dễ bị xúc phạm như thế nào.

Đại biểu Trương Trọng Nghĩa

Sinh lão bệnh tử là lẽ tự nhiên của kiếp người. Tuy thế, khi còn trẻ, tôi vẫn cứ tưởng rằng đó là chuyện của người nào khác (thôi) chớ không mắc mớ gì ráo tới mình. Tưởng vậy, tất nhiên, là Tưởng Tầm Bậy. Mấy năm nay, những năm cuối đời, tôi phát bệnh tùm lum (suyễn, thống phong, cao huyết áp …) nên mới chợt nhận ra là cái chết – ngó bộ – cũng không còn xa xôi mấy.

Từ đó, tôi bắt đầu nghĩ đến chuyện hậu sự với không ít âu lo. Dù gần cả đời sống ở Hoa Kỳ nhưng tôi nói tiếng Anh không được rành rẽ lắm. Cứ hình dung ra cảnh một đêm trăng ngà, trong cái nghĩa trang toàn là ma (Mỹ) đang chuyện trò rôm rả mà mình lại ngồi thu lu (ở một góc xa) thì buồn bã và cô đơn hết biết luôn.

Vậy là tôi lật đật hỏi thăm giá cả mộ phần ở quê nhà. Thằng con ông anh hồi đáp tức thì, qua email: “Hai mét vuông đất ở nghĩa trang Thánh Mẫu, phường 8, Đà Lạt hiện đang có giá là 300 triệu đồng. Chú nhắm có khả năng chôn thì hãy chết, bằng không thì thôi nhá.”

Thôi sao được, Trời. Sinh lão bệnh tử mà! Suy nghĩ cả buổi tôi mới tìm ra một giải pháp vẹn toàn. Đốt. Xong dặn con cái bỏ tro vô cái lon sữa bò mang gửi về VN đặt ké trong phần mộ của song thân.

Khoẻ!

Khỏi tốn kém cắc nào mà còn được hưởng lợi nữa nha. Lợi cái là khi tụi nhỏ đốt vàng mã cho ông bà thì làm gì mà hai người không chia cho tui chút ít. Con mà ai lại không thương chớ, kể cả cái thứ con cái hư đốn và tệ bạc như tui, đúng không?

Thiệt là một phát kiến thần tình. Ai cũng “chơi” kiểu đó thì xứ sở đỡ hao tốn đất đai, lại còn bớt được nạn ô nhiễm môi sinh vì số vàng mã mang đốt hàng năm sẽ giảm đi không ít. Cứ như thế, không chóng thì chầy, cái phố Hàng Mã ở Hà Nội sẽ  đi đong là cái chắc.

Vấn nạn nghìn tỷ vàng mã mang đốt hằng năm, như thế, kể như xong. Vấn đề còn lại, nan giải hơn, là phải giải quyết dứt điểm mớ đồ mã của Đảng Cộng Sản Việt Nam kìa – một đảng chuyên làm hàng giả và làm rất khéo.

 Xin nói qua về vài ba mặt hàng tiêu biểu, đã được bầy bán khắp nơi: 

Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (M.T.G.P.M.N) chả hạn. Nó được nặn ra vào ngày 20 tháng 12 năm 1960, và nặn khéo đến độ khiến có người tưởng là đồ thật. Ðến khi được mang ra đốt, nó cháy như điên. Sự nghiệp cách mạng của nhiều người miền Nam cũng cháy theo (luôn) như đuốc! Đám tro tàn còn lại đã được Đảng bỏ vô Mặt Trận Tổ Quốc (M.T.T.Q) để khỏi vương vãi tùm lum.

Cái Mặt Trận này mới thực sự là một sản phẩm đặc sắc của dân làng Ba Ðình, có mặt từ tháng 9 năm 1955, tập hợp nhiều món đồ mã linh tinh khác (Hội Cựu Chiến Binh, Ủy Ban Tôn Giáo, Hội Nông Dân Việt Nam, Hội Phụ Nữ Việt Nam, Tổng Công Ðoàn…) khác. So với mặt hàng chiến lược này thì những thứ đồ mã vớ vẩn như M.T.G.P.M.N, Mặt Trận Giải Phóng Tây Nguyên, Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ & Hoà Bình … đều là chuyện nhỏ, nếu chưa muốn nói là đồ bỏ, chỉ có tính cách giai đoạn mà thôi. 

Điều 9 của mước C.H.X.H.X.N.V.N (2013) quy định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”

Tất nhiên là nói chơi vậy chớ không phải vậy đâu. Ai mà tưởng vậy là Tưởng Tầm Bậy, và hậu quả rất khó lường. Trong một phiên họp của M.T.T.Q, vào ngày 30 tháng 10 năm 1956, luật sư  Nguyễn Mạnh Tường lỡ góp ý với ĐCSVN (“Qua Những Sai Lầm Trong Cải Cách Ruộng Đất”) nên ông bị bị vùi dập thê thảm cho mãi đến khi nhắm mắt lìa đời.

Sáu mươi ba năm sau, sau hôm L.S Nguyễn Mạnh Tường đọc diễn văn trước M.T.T.Q, bà Nguyễn Thị Thùy Dương (một dân oan ở Thủ Thiêm) uất ức cho biết: 

“Cả đêm 18 đến rạng sáng 19/6/2019, tôi thức trắng sau bao nổ lực cố gắng giành cho được 2 lá phiếu để phát biểu trong lần tiếp xúc cử tri. Mặt trận tổ quốc Quận 2 cho đến Mặt trận tổ quốc phường Bình Trưng Đông nơi tôi sinh sống nhất quyết không cho tôi đăng kí. Họ đổ lỗi lẫn nhau, họ chặn mọi con đường để tôi không thể nói.”

Nói cách khác kể từ năm 1955 cho đến nay, cái gọi là M.T.T.Q không làm gì khác hơn là mượn danh nhân dân để bịt mồm của chính họ bằng nhiều phương cách mà điển hình nhất là “tổ chức hiệp thương” (đảng cử dân bầu) – theo nhận xét của ông Hà Sỹ Phu:

“Anh nắm hết mọi sức mạnh trong tay, muốn bầy đặt cái gì cũng được, anh có dành cho nhân dân một hội đồng để giúp anh thu thập tiếng nói của dân, hay anh lại tìm cách đưa Bí thư tỉnh ủy, Bí thư thành ủy sang phụ trách luôn… cho nhất quán?” 

Do sự “nhất quán” này mà bi kịch Thủ Thiêm đã kéo dài gần hai mươi năm qua  trong nín lặng. Cho đến khi sự việc không thể ém nhẹm được nữa, Đại Biểu Quốc Hội phải lộ diện thì họ hành sử trơ tráo đến độ khiến cho người dân phải ném giầy vào mặt.

                                                       Ảnh: báo Nghệ An

Blogger Trân Văn kết luận:

“Hệ thống công quyền như thế chính là hậu quả của một hệ thống chính trị ‘ưu việt’ hơn phần còn lại của nhân loại. Dưới sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của đảng, ba đại biểu của Quốc hội đại diện cho cơ quan đại diện ‘ý chí, nguyện vọng của toàn dân’ chỉ làm được một chuyện: Mỗi năm vài lần, trước và sau các kỳ họp Quốc hội phơi mặt để dân chửi như một cách giúp họ hạ hỏa, đồng thời cũng là để xiển dương thể chế ‘dân chủ gấp vạn lần thiên hạ’. Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) – tập hợp các tổ chức chính trị đại diện cho tất cả các giới, các thành phần khác nhau trong xã hội – cũng thế và cũng vì thế, mới bị cô Dương tố cáo: Cử tri muốn tiếp xúc với đại diện của mình tại Quốc hội phải… đăng ký với MTTQ và nỗ lực duy nhất của là… ngăn cản.”

Đã thế, người dân còn phải đóng thuế để nuôi dưỡng cái “lực cản vỹ đại” này. Trang Quản Lý Nhà Nước (State Management Review) tiết lộ:

“Nghiên cứu gần đây về ngân sách cho các hội, đoàn thể của Viện Nghiên cứu chính sách kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cho thấy, NSNN ước tính chi khoảng 14 nghìn tỉ đồng cho toàn bộ khối này, gấp đôi dự toán cho Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế và gấp 5 lần cho Bộ Khoa học và Công nghệ…  Nếu tính cả dự toán ngân sách cho Liên minh Hợp tác xã Việt Nam thì tổng chi lên đến 1.615,710 tỷ đồng. Hầu hết các hệ thống hội đoàn, trong đó đặc biệt là các tổ chức CTXH, được tổ chức theo mô hình hành chính, có biên chế, trụ sở, xe…”

Thế còn Quốc Hội?

Đại biểu Trần Quốc Tuấn từ tỉnh Trà Vinh cho biết ông có được nghe một chuyên gia cung cấp thông tin rằng: “nếu mỗi một phút chúng ta ngồi tại hội trường này thì nhà nước phải bỏ ra khoảng 2 triệu đồng, bình quân mỗi một kỳ họp như thế một ngày chúng ta mất khoảng 1 tỷ đồng.”

Blogger Trân Văn chi tiết hơn xíu nữa: “Nếu cộng thêm khoản lương phải trả cho cả các đại biểu Quốc hội lẫn hệ thống tham mưu, giúp việc và chi phí kinh tế – xã hội (bao gồm: đất đai, nhà cửa, xe cộ, các tài sản khác) dành cho Văn phòng Quốc hội và 63 Đoàn Đại biểu Quốc hội, tổng chi phí hàng năm cho việc vận hành, duy trì hoạt động của Quốc hội Việt Nam có lẽ không dưới mức ngàn tỉ.”

Toàn là Đồ Mã không mà mắc dữ vậy, mấy cha? Mang đốt hết đi cho rảnh nợ. Mà dù không muốn đốt chăng nữa thì cũng đã đến lúc chúng phải cháy thôi.

Xả nước hồ Tây cuốn trôi toàn bộ kết quả thí nghiệm làm sạch sông Tô Lịch

Tổ chức Xúc tiến Thương mại – Môi trường Nhật Bản cho biết việc Hà Nội xả hơn 1 triệu m3 nước hồ Tây vào sông Tô Lịch khiến toàn bộ hệ vi sinh vật có lợi do các tấm Bioreactor kích hoạt trong vòng gần 2 tháng qua đã trong chốc lát bị cuốn trôi, bây giờ phải làm lại từ đầu.

Công nghệ xử lý nước của Nhật Bản nếu được ứng dụng ở VN thì chẳng phải là chúng mất đi miếng ăn à.

Trần Vũ Việt is with Lê Dũng.

Các chuyên gia Nhật Bản sang xử lý nước sông Tô Lịch mới chỉ có 2 tháng mà đã làm cho nước trong veo thì chúng nó chẳng phá chứ sao. 

Công nghệ xử lý nước của Nhật Bản nếu được ứng dụng ở VN thì chẳng phải là chúng mất đi miếng ăn à.

Ở cái đất nước này, quan chức chúng chỉ cướp, phá, vơ vét để thỏa mãn lòng tham của chúng thôi chứ nó có nghĩ cho dân, cho nước đâu.

P/S: trong việc này, bố thằng cấp thoát nước cũng không dám xả nước Hồ Tây vào sông Tô Lịch nếu không có sự cho phép từ trên.
———–
https://www.facebook.com/100009565927431/posts/2288335191495323?s=100028492545193&sfns=mo

Image may contain: 1 person, suit

Bà Nguyễn Thị Kim Ngân than phiền đại biểu bỏ họp Quốc hội nhiều

Đài Á Châu Tự Do
Bà Nguyễn Thị Kim Ngân than phiền đại biểu bỏ họp Quốc hội nhiều

Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Thị Kim Ngân lần đầu thừa nhận trong phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội sáng nay 16/7 về tình trạng các đại biểu Quốc hội bỏ họp rất nhiều trong kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIV vừa qua.

“Chưa kỳ nào đại biểu Quốc hội vắng nhiều như kỳ họp này. Không hôm nào vắng dưới 30 đại biểu, trung bình mỗi ngày có 30-50 đại biểu vắng họp.

Có những đoàn vắng một nửa số đại biểu. Cá biệt có hôm vắng trên dưới 100 đại biểu”, mạng báo Zing dẫn lời bà Kim Ngân khẳng định.

Trong phiên họp sáng nay cũng có các ý kiến của Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại, Chủ nhiệm Ủy ban tư pháp,… đề cập tới tình trạng vắng quá nhiều đại biểu trong các phiên họp và mong muốn có sự chấn chỉnh, nâng cao trách nhiệm.

Kỳ họp thứ 7 của Quốc hội Việt Nam khóa XIV bắt đầu từ ngày 20/5 và kết thúc vào hôm 14/6.

Trong 20 ngày họp các đại biểu Quốc hội đã biểu quyết thông qua tổng cộng 7 dự án Luật bao gồm: Luật Phòng, chống tác hại của rượu bia, Luật Giáo dục được sửa đổi, Luật Thi hành án hình sự sửa đổi, Luật Đầu tư công sửa đổi, Luật Quản lý thuế sửa đổi, Luật Kiến trúc và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm.

Ngoài ra, hai Nghị quyết quan trọng cũng được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7 trong đó có Nghị quyết gia nhập Công ước số 98 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về Áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể. 

Các bạn nghĩ sao về tình trạng này?

Image may contain: 1 person

Bà Hồng Xuân với lời về lu, lụt và an ninh mạng

Ý kiến nói nếu đại biểu Hội đồng Nhân dân không có hiểu biết chuyên môn thì không nên phát biểu hoặc phải tìm hiểu, hỏi ý kiến chuyên gia, chứ phát biểu khinh suất, rồi đe dùng Luật An ninh mạng đe nẹt người dân như cách của bà Xuân thì quả là một yếu kém.

SỰ IM LẶNG ĐỚN HÈN

No photo description available.
Nguyễn Hưng Quốc is with Tuan Nguyen.

SỰ IM LẶNG ĐỚN HÈN

Vụ tàu cảnh sát biển Việt Nam đối đầu với các tàu hải cảnh của Trung Quốc ở gần bãi Tư Chính trên Biển Đông được báo chí thế giới loan tin trong suốt mấy ngày vừa qua. Dư luận trên các mạng xã hội cũng sôi sục. Đầy phẫn uất. Riêng ở Việt Nam, hoàn toàn không ai lên tiếng cả. Bộ Ngoại giao im lặng. Bộ Quốc phòng im lặng. Trên 800 tờ báo đều im lặng. Tôi chỉ thấy tội nghiệp cho những người lính Việt Nam ở Trường Sa: Họ tuyệt đối cô đơn. Họ gần như bị giới lãnh đạo bỏ mặc ngoài biển khơi. Họ không có liên hệ gì với cộng đồng người Việt yêu nước. Họ phải chiến đấu một mình. Trong một trận chiến không cân sức. Và không được ai biết đến. Buồn.

Nhưng tại sao chính quyền lại im lặng như vậy? Câu trả lời có lẽ đơn giản: Họ sợ dân chúng biết rồi nổi giận xuống đường phản đối Trung Quốc như đã từng xảy ra một lần trong quá khứ. Họ sợ không kiểm soát nổi sự giận dữ của dân chúng. Họ sợ việc chống lại Trung Quốc sẽ dẫn đến việc chống lại chính quyền. Họ thà để Trung Quốc quấy nhiễu hơn bị dân chúng công kích. Thảm.

Người Bắc có đáng ghét không (?!)

Nguyễn Kim Chi

Nguyễn Ngọc Già

– 7/10/2019

Phần 1

Nguyễn Phú Trọng phát ngôn: “Tổng Bí thư phải là người miền Bắc, phải là người có lý luận! ” khi nội bộ người CS tranh giành quyền bính vào năm 2015.

Nguyễn Thiện Nhân – vào năm 2018 – thuyết phục người dân mất đất tại Thủ Thiêm: “Tôi nói tiếng Bắc nhưng tôi là người Nam. Tôi không gạt bà con đâu”.

Ông Trọng và ông Nhân không phải là những người đầu tiên “kêu gọi” chia rẽ dân tộc Việt Nam, nhưng họ là những người Cộng Sản đầu tiên không cần che giấu (đặc biệt cả hai ông đều đang nắm trọng trách rất cao trong chế độ độc đảng toàn trị) sự kỳ thị vùng miền kinh khủng như vậy!

Lời phát ngôn hàm hồ của Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Thiện Nhân dường như “động viên” toàn dân Việt Nam lao vào cuộc chiến “huynh đệ tương tàn” đời mới (!).

“Trôi theo dòng đời” tao loạn…

Lịch sử dân tộc Việt Nam bắt nguồn từ phía Bắc – điều không thể chối cãi.

Kể từ khi vĩ tuyến 17 được phân định, người Bắc tháo chạy khỏi “bàn tay người CS” vào năm 1954.

Khi di cư, người Bắc mang theo văn hóa và cả giọng nói làm “hành trang” vào Nam.

Để thuyết phục đông đảo bạn đọc, nhất thiết phải chứng minh tính đại diện cho bất kỳ đề tài nào.

Hãy nhìn “dân Bắc Kỳ” thành danh và nổi tiếng trong lĩnh vực âm nhạc để dễ thấy nhất: đại gia đình nhạc sĩ Phạm Duy (cả ca sĩ Thái Thanh và các con của bà), đại gia đình nhạc sĩ Lữ Liên (với các con: Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Lưu Bích, Anh Tú) , Khánh Ly, Lệ Thu, Sĩ Phú v.v… và hàng hà sa số “ca nhạc sĩ Bắc Kỳ” khác.

Trong lĩnh vực điện ảnh, người ta không thể nào quên “nữ tài tử Bắc Kỳ” Kiều Chinh với tài sắc vẹn toàn. Song song bà Kiều Chinh là “nam tài tử Bắc Kỳ” Trần Quang với chất “đàn ông đất Bắc” đậm nét, một thời làm “chết mê chết mệt” phụ nữ miền Nam và sự ngưỡng mộ của nam nhân Sài Gòn…

Bên cạnh đó, các lãnh vực khác, người gốc Bắc không thiếu: Chính trị (Phó TT Nguyễn Cao Kỳ), khoa học (Dương Nguyệt Ánh, Lưu Lệ Hằng), quân sự (Lương Xuân Việt, Nguyễn Từ Huấn) và nhiều nhân vật tên tuổi chói lọi không thể dẫn ra hết được.

Phải nói công tâm, giọng nói “đúng gốc” của người Bắc chuẩn xác và sang trọng. Hãy nhìn nữ MC Nguyễn Cao Kỳ Duyên, dù cô rời Sài Gòn ở tuổi thiếu nhi, nhưng giọng nói của cô vẫn “đặc sệt” chất Bắc Kỳ mà sang trọng. Về nam, hình ảnh đại diện về “giọng nói đàn ông miền Bắc”, có lẽ nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn đủ thuyết phục đông đảo bạn đọc, dù ông đã ngoài 70.

Ngay trong đời sống thường nhật, giọng nói của người miền Bắc, trước đây không có kiểu uốn éo (kể cả nam nhân). Quý độc giả có thể xem qua chương trình “Đường lên đỉnh Olympia” sẽ thấy rất rõ “kiểu nói” của lớp trung niên và lớp trẻ miền Bắc hiện nay.

Đặc biệt cách phát âm dấu “sắc” với chữ “cố lên”, “đánh nhau”, “chú – cháu” v.v… Nó không còn đúng nữa! Nếu chú ý một chút, cách phát âm đó ở giữa dấu “hỏi” và dấu “sắc”, chính nó đã làm giọng nói bị méo mó rất nhiều và nghiêng hẳn về “làm màu” cho đủ độ… “sang trọng” (!), nhưng lại gây khó chịu cho người nghe. Rất tiếc, người Bắc hiện nay dường như không nhận ra mà kiểu “uốn éo” dấu “sắc” đang ngày càng lan rộng, dễ dàng bắt gặp trên các đài truyền hình phía Bắc.

Người Bắc chính gốc Hà Nội có tốc độ nói vừa phải. Cách nói của người Bắc sau này, không những nhanh mà tỏ ra rất vội vã, rất bộp chộp như sợ người khác tranh phần (!).

Văn hóa và giáo dục

Tại sao phải nói dông dài về dấu “sắc” và cách nói vội vã?! Việc ngỡ nhỏ xíu, nhưng thật ra không hề nhỏ!

Nhân cách của một dân tộc xuất phát từ văn hóa và giáo dục.

Sau cuộc tháo chạy vào năm 1954, người Bắc chính gốc Hà Nội hầu như còn rất ít, như người Sài Gòn chính gốc còn ở lại, sau “siêu thảm họa” 1975.

Số lượng “dân Hà Nội chính gốc” ít ỏi đó tuân theo quy luật “lượng đổi chất đổi” của Triết Học.

Chính “lượng người Hà Nội chính gốc” quá ít (tức lượng đổi), nó không còn đủ sức níu giữ “văn hóa ngàn năm văn hiến” (tức chất đổi) của người Bắc nói riêng và người Việt Nam nói chung.

Cùng với “văn hóa ngàn năm văn vật” tháo chạy vào Nam, thì “giáo dục XHCN” chễm chệ vị trí “chính diện” trong toàn bộ các ngôi trường từ vĩ tuyến 17 trở ra (!).

Trẻ con đều được dạy nói trước khi biết đọc, biết viết. “Chất giọng” người Hà Nội Xưa cũng mai một dần theo năm tháng. Đó là hậu quả của “giáo dục XHCN” làm cho “giọng nói uốn éo” mất đi sự sang trọng và tự nhiên. Thật dễ hiểu với giáo viên có khá nhiều thầy cô “ngọng líu ngọng lo”! Phùng Xuân Nhạ bị người đời chế giễu chữ “lờ” và chữ “nờ”, thật ra ông ta là một “sản phẩm đời sau” của loại “giáo dục phi triết lý” mà thôi!

Như “mưa dầm thấm đất”, giọng nói, cách nói của người Hà Nội chính gốc đã phôi phai dần… Hàng chục năm rồi! Còn gì nữa mà không thấy?!

Người ta dễ dàng phân biệt được một người “Bắc 54” và một người “Bắc 75” thông qua, không chỉ giọng nói mà còn cách nói chuyện, cách hành xử, cách đi đứng, thẩm mỹ trong trang phục & phục sức, kể cả trong “văn hóa ẩm thực” tại nhà hàng sang trọng hay ở bàn nhậu trên vỉa hè…

Phần 2:

Tra trên google, dễ dàng nhận thấy, sau này xuất hiện những “hội” ghét người Bắc [1] khá nhiều. Có cả “cẩm nang” thật tâm của người Nam dành cho người Bắc [2], khi họ chuyển vào Nam sinh sống.

Điều đáng suy ngẫm, những biểu hiện nói trên không hề có trước 1975, kể cả những năm “sau giải phóng” cũng không nốt.

Không tìm thấy tình trạng ngược lại, như các “hội” ghét dân miền Nam hay dân Sài Gòn (?!), nhưng lại tìm thấy các “hội” ngay cả người Bắc như: Thanh Hóa, Nghệ An v.v… ghét cả “dân miền Bắc” (?!).

Có lẽ “sự kỳ thị người Bắc” xuất hiện theo “dòng chảy” của thời mở cửa vào những năm 2000 đến nay và nó ngày một “đậm đặc” hơn?!. Sự “kỳ thị người Bắc” vẫn ngấm ngầm và âm ỉ chừng như không dứt.

Ngay trong giới “đấu tranh tự do – dân chủ” không phải không bắt gặp tình trạng này, dù tế nhị hơn, giới này thường không bộc bạch công khai.

Các “trang báo quốc doanh” từng đề cập đến tình trạng “kỳ thị người Bắc” nhưng chỉ dừng lại ở một nửa của cặp phạm trù Triết Học “Hiện Tượng – Bản Chất”. Tức là các trang báo chỉ nói lên “Hiện Tượng” và thông thường kêu gọi không nên kỳ thị mà hãy đoàn kết, tương thân tương ái thông qua… “tuyên truyền” và “giáo dục” (kiểu XHCN)!

Song song đó, các nhà chuyên môn: Tâm Lý Học, Xã Hội Học, Việt Nam Học có vẻ cũng không mặn mà về “đề tài nguy hiểm” này, hoặc giả, vì nó quá đụng chạm ngay trong giới chuyên môn cũng nên (?!).

Tâm lý – Xã hội

“Giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước

Diệt đế quốc Mỹ phá tan bè lũ bán nước”

(Giải Phóng Miền Nam – Lưu Hữu Phước)

“Nơi thành đô trong ánh điện quanq tiếng nấc nghẹn câu cười

Khu nhà tranh năm cánh ngoại ô rên xiết đêm ngày.

Quê nhà ta đau đớn lầm than sao bóp nghẹt tim người!

Sài Gòn ơi! Ta đã về đây! Ta đã về đây!”

(Tiến Về Sài Gòn – Lưu Hữu Phước)

Những “lời ca tiếng hát” như vậy, chúng vang vọng không chỉ trong quãng thời gian “trước và sau giải phóng” mà nó được mải miết “tụng ca dài dài” cho đến sau này, mỗi độ “Ba Mươi Tháng Tư lại về” (!)

“Chiến Tranh Tâm Lý” được sử dụng đến mức “tuyệt đỉnh kung-fu” của người CSVN, là điều phải thật tâm công nhận sự thành công của họ trong giai đoạn chiến tranh. Sự sụp đổ của VNCH, trong đó có sự thất bại của đội ngũ “Tâm Lý Chiến” là điều cũng nên công nhận nốt.

Những mảnh đời “lầm than”, những tiếng “nấc nghẹn”, những lời “rên xiết” đến “quặn thắt” như thế, thử hỏi, nó tác động kinh khủng đến cỡ nào vào tâm trí “người anh ruột miền Bắc” dành cho “người em ruột miền Nam” (?) trong lúc người Bắc đang sống trong cảnh “Đêm Giữa Ban Ngày” mà họ không hề hay biết.

Sự dối trá của người CSVN đạt mức “thượng thừa”, không những tạo ra hiệu quả cho loại “chiến thắng” dựa trên “sự phi nghĩa, bất chính danh và vô nhân đạo” mà còn tạo “hiệu ứng đa chiều”, trong đó có “hiệu ứng ban ơn”, “hiệu ứng kẻ cả”, “hiệu ứng trịch thượng” v.v… đặc biệt “hiệu ứng dạy dỗ” của “người anh ruột miền Bắc” dành cho “người em ruột miền Nam” (!).

Sự “nhồi sọ” trong hàng chục năm như vậy, nên không thể nào “gột rửa” trong thời gian ngắn. Từ “tâm lý này”, việc phân chia “công dân hạng nhất, hạng nhì” lên ngôi, không có gì khó hiểu.

Không dừng lại ở quảng đại quần chúng, trong nội bộ người CSVN với nhau, người ta thấy rất rõ các loại “hiệu ứng” nói trên thông qua phát ngôn của Nguyễn Phú Trọng hay Nguyễn Thiện Nhân, đặc biệt “mỗi độ” tranh quyền đoạt bính qua các kỳ đại hội đảng, nó càng hiện rõ mồn một.

Tâm lý – Xã hội dày đặc chia rẽ tình đồng bào từ trên xuống dưới, ngay cả thành phần công – nông, tiểu thương đều do CSVN gây ra là điều không cần bàn cãi.

Tính “trách nhiệm” của một con người (tức là “dám làm dám chịu trách nhiệm”) đã bị ngay những “bàn tay CS” bóp nát từ quá lâu và từ ngay những thành phần cấp cao nhất như: Hồ Chí Minh phủi hết trách nhiệm trong Cải Cách Ruộng Đất cho đến Lê Duẩn với hậu quả thảm thương “sau ngày giải phóng”, chẳng lẽ nó không hề “lan rộng và ăn sâu” vào trí não của từng người Bắc nói riêng và người Việt Nam nói chung (?) Và chẳng lẽ, nó không có tác động mảy may nào vào những hãng xưởng tại các khu công nghiệp miền Nam mà ở đó, người ta thẳng thừng từ chối [3] tuyển dụng dân Thanh – Nghệ – Tĩnh (?!)

Cần nhắc lại, tính “vô trách nhiệm” sản sinh ra tính “vô kỷ luật” – đó là tai ương cho đến hiện nay không hề có dấu hiệu chấm dứt. Đó cũng là “nỗi sợ hãi lớn nhất” cùng với “nền pháp luật XHCN” làm các nhà đầu tư phương Tây, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore v.v… ngán ngại, khi đến làm ăn tại Việt Nam.

Và “vô trách nhiệm” cùng với “vô kỷ luật” sản sinh ra tất cả thói hư tật xấu: bướng bỉnh, lỳ lợm, cố chấp, dối trá, thủ đoạn đê hèn, đổ thừa, đua đòi, giành giựt v.v… kể cả tính tàn nhẫn & phi nhân đối với ngay “đồng bào” của mình, cùng với “văn hóa xin lỗi” và “văn hóa cám ơn” ngày càng tiêu tan trên xứ sở “thiên đường mù lòa” mang tên nước CHXHCNVN!

Kinh tế – Chính trị

“Người Bắc có đáng ghét không?” có thể gây tranh cãi, nhưng “Người Việt Xấu Xí” trong mắt thế giới thì không còn gì cần bàn cãi thêm nữa! Khốn nỗi! Cái thứ “Người Việt Xấu Xí” không hề có trước 1975 – sự thật cũng không thể chối bỏ!

Tại sao như vậy?

Thưa rằng, tất cả do nền tảng “Kinh tế – Chính trị” do người CSVN tạo ra.

Không cần đề cập quá nhiều vào thời “mông muội” của Lê Duẩn với phát ngôn: “Tôi hỏi thì nói không có tiền. Kìa, không có thì in ra! In ra! Không sợ lạm phát! Tư bản đế quốc in tiền mới lạm phát chứ ta, chuyên chính vô sản thì sao lại lạm phát mà sợ?” – trích Đèn Cù của Trần Đĩnh.

Hãy nói về “CS hiện đại”, trong khi không chịu công nhận “kinh tế phi thị trường”, người CSVN lại biến tướng “nền kinh tế của họ” thành “KTTT định hướng XHCN” để lươn lẹo với thế giới nhằm đạt được những lợi ích nhất thời, trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Hiện nay người CSVN đang trả giá, qua việc Hoa Kỳ đánh thuế hơn 450% thép Việt Nam. Hậu quả này cũng bởi tính dối trá” và “lươn lẹo” gây ra. Chắc chắn, “sự trả giá” không dừng lại như vậy.

Kinh tế quyết định Chính trị và Chính trị tác động trở lại Kinh tế – Đó là “hằng số” Triết Học không bàn cãi.

Bên cạnh đó, bộ máy nhân sự của BCHTƯĐCSVN cũng như Bộ Chính trị và cả nội các Chính phủ – ngay đó cho thấy “người Bắc” chiếm số đông. Vì vậy, “bộ mặt người Bắc đáng ghét” chỉ là “Hình Thức” mà “Nội Dung” phải gọi chính xác là “bộ mặt người CSVN”. Điều này hoàn toàn đúng theo cặp phạm trù Triết Học “Hình Thức – Nội Dung” mà ngay cả người CSVN lẽ ra phải “nằm lòng” hơn ai hết!

Thử hỏi, còn mấy người Việt Nam không nhận ra sự ganh ghét giữa “người Cộng Sản Bắc Kỳ” với “người Cộng Sản Nam Kỳ” trên “địa hạt” này?

Chẳng lẽ 300 bộ áo dài của bà Nguyễn Thị Kim Ngân không phản ánh “hai dân tộc CS” đang đấu đá lẫn nhau trước thềm đại hội đảng sắp tới? Và còn vô vàn biểu hiện khác.

Kết

Phải nói cho chính xác, “người Bắc” không đáng ghét, chỉ có người CSVN” – dù là “Cộng Sản Bắc Kỳ” hay “Cộng Sản Nam Kỳ” – rất đáng căm ghét và rất đáng khinh bỉ trong mắt người Việt Nam trong và ngoài nước cũng như cả thế giới văn minh.

Người CSVN – dù là “Cộng Sản Bắc Kỳ” hay Cộng Sản Nam Kỳ” -phải giật mình cay đắng trước tình trạng kỳ thị “Bắc – Nam” vô cùng trầm trọng và âm ỉ suốt hàng chục năm qua, bằng lương tri và lương tâm còn sót lại.

Người CSVN – dù là “Cộng Sản Bắc Kỳ” hay Cộng Sản Nam Kỳ” – phải chịu trách nhiệm toàn bộ và liên tục trước dân tộc Việt Nam, ít nhất suốt 44 năm qua kể từ ngày, họ gọi là “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” (!)

_________________

Nguyễn Ngọc Già

[1] https://vietnamnet.vn/…/nhuc-nhoi-chuyen-ki-thi-vung-mien-1…

[2] https://nguoinamky.com/…/cam-nang-ung-xu-cho-nguoi-bac-khi-…

[3] https://laodong.vn/…/tiep-vu-tay-chay-lao-dong-thanh-hoa-ng…

About this website

 

RFA.ORG
Nguyễn Phú Trọng phát ngôn: “Tổng Bí thư phải là người miền Bắc, phải là người có lý luận! ” khi nội bộ người CS tranh giành quyền bính vào năm 2015. Nguyễn Thiện Nhân – vào năm 2018 – thuyết phục người dân mất đất tại Thủ Thiêm: “…

DU HỌC SINH: “ĐI ĐI, ĐỪNG VỀ!”

Ngày 1 tháng 4 năm 2016, tại nghị trường Quốc hội khi nói về vấn đề người Việt muốn ra hải ngoại sống:

Đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa đã phát biểu:

“Tại sao trí thức giỏi không về nước làm việc, doanh nhân giỏi muốn bỏ nước ra đi?

Tại sao cán bộ về hưu hay đương chức tìm cách cho mình hay con cháu mình ra định cư ở nước ngoài?”.

“Không phải vì đất nước nghèo mà vì họ cảm thấy không vui, không an toàn về pháp lý, các quyền tự do dân chủ không được đầy đủ và lo sợ đất nước bị lệ thuộc. 

Điều này ai cũng thấy cũng biết!”.

DU HỌC SINH: “ĐI ĐI, ĐỪNG VỀ!”

Đây là những tâm sự thật của một bạn du học sinh Mỹ vừa về Việt Nam trong đợt hè 2018. 
Tôi quyết định giấu tên người chia sẻ câu chuyện này.

Góc nhìn Việt Nam: ‘Đi Mỹ được rồi, về làm gì?

Tôi năm nay 21 tuổi, đang du học tại Mỹ. Kết thúc 4 năm Đại học, tôi muốn về Việt Nam. Nhưng ai cũng ngăn cản: ‘Đi đi, đừng về!’

Bố mẹ tôi làm trong ngành y. Hai người bắt đầu nói về chuyện du học và định cư tại Mỹ khi tôi mới học 11. Mẹ thường hay kể công việc hằng ngày tại bệnh viện, để tôi hiểu lời hối thúc ‘đừng về Việt Nam’ bắt nguồn từ 20 năm sống trong bức xúc của mẹ: ‘Bệnh viện của mẹ có một bác giám đốc lên chức từ những năm 80. 
Kể từ đó, bác đã cho không biết bao nhiêu họ hàng từ Bắc, Trung vào làm hộ lý, điều dưỡng, kỹ thuật viên,…

Với ‘quyền lực mềm’ của giám đốc, bác chỉ nói một tiếng, có anh trưởng khoa nào không dám nhận người? Toàn con ông cháu cha. 
Còn những sinh viên chính quy, nắm tấm bằng Đại học, phải trầy trật khổ sở để được bước chân vào cổng viện.

Không chỉ ở đây, mà bất cứ nơi đâu tại Việt Nam này cũng có ‘quyền lực mềm’ giống thế hoặc hơn thế. Nhiễu nhương lắm. Hách dịch lắm. Về làm gì hả con?’

Khi không thuyết phục được tôi, ba mẹ viện đến dì. Dì bảo: ‘Dì hiểu là con muốn về Việt Nam để cống hiến. Nhưng, ở nơi này, tài năng của con không có cơ hội phát triển. Tìm cách định cư đi. Khi đã có kinh tế, con muốn làm gì cho quê hương mà chẳng được!’ Không chỉ bố mẹ, dì, mà các bác đang sống ở Mỹ đều đồng ý với quan điểm ấy.

Lăng kính Mỹ: ‘Lý do nào để quay về quê hương?’

Trong vòng tròn bạn bè của tôi, chỉ ra ai không muốn về Việt Nam thì rất dễ. Còn tìm người quyết tâm trở lại thì thật khó khăn. Nhiều bạn lưỡng lự, không ai dám chắc chắn hai chữ: ‘Sẽ về!’

Tôi có một cô bạn thân đang học ngành Công nghệ thực phẩm. Cô bảo: ‘Ngành mình học, về nước không xài được. 
Còn đường ở Canada thì rộng mở. Mình không muốn trở về để chật vật kiếm một chỗ làm sau 4 năm vất vả!’

Một người bạn khác chia sẻ: ‘Từ lúc quyết tâm theo đuổi sự nghiệp sản xuất âm nhạc, mình đã biết.

Tại Việt Nam, mình sẽ không làm được.’ Một chị theo học kinh tế thì bảo: ‘Đơn giản chị không muốn!’ Chị đang đi thực tập rất nhiều nơi, kiếm tìm một chỗ tài trợ visa cho mình.

Anh bạn học kỹ sư hóa, vừa apply thạc sĩ thành công nói với tôi: “Anh thích nghiên cứu khoa học, Việt Nam sao có đất cho anh?

Về ư? Anh không thể.” Những thằng Mỹ thì hỏi thẳng vào mặt tôi: ‘Tụi mày từ Việt Nam đến đây học, thụ hưởng văn hóa của tụi tao, thụ hưởng cả những đồng tiền bố mẹ tao còng lưng đóng thuế. Học xong mày phủi tay quay về nước, thế thì có công bằng với tụi tao hay không?’

Giữa dòng ý kiến ‘Đi đi, đừng về!’ dữ dằn như thác lũ đẩy tôi lùi lại, tôi nhìn về quê hương, cố gắng tìm một lý do cho mình quay lại. Nhưng tìm hoài mà không thấy.

Chưa bao giờ sách giáo khoa nói về những cái cúi đầu của chúng tôi trên đất Mỹ, vì nỗi tự ti quê hương thua kém hơn, mà chỉ bảo: ‘Nước ta rừng vàng biển bạc.’ 

Chưa bao giờ chúng tôi được dạy về ‘trách nhiệm công dân’. Chúng tôi chỉ học ganh đua điểm số, chứ không học cách cùng nắm tay nhau mà đi xây dựng đất nước. 

Chưa bao giờ bố mẹ nói tôi phải có trách nhiệm với Việt Nam, mà chỉ nói: ‘Đừng về để dẫm vào đường cụt. 

Trên mảnh đất này, người tài không có cơ hội. Vì tương lai của con, hãy đi đi!” Việt Nam ơi, người có cho tôi một lý do để trở về?’

________________
Tâm sự của một du học sinh Mỹ trong dịp hè về thăm Việt Nam
Fb :Hoang Hung

Image may contain: airplane and text