Danh ca Thái Thanh từ trần

Image may contain: 1 person, closeup
Image may contain: 2 people, people smiling, people sitting
Image may contain: 3 people, people smiling, suit
No photo description available.
Huỳnh Duy Lộc

Danh ca Thái Thanh từ trần

Danh ca Thái Thanh đã từ trần vào lúc 11:50 AM, ngày thứ ba 17.3.2020 tạI Orange county, bang California.

Bản tin của VnExpress: https://vnexpress.net/…/danh-ca-thai-thanh-qua-doi-4070193.…

Thái Thanh và “Tình hoài hương”

Trong một chương trình nhạc Phạm Duy ở hải ngoại nhiều năm về trước, nhạc sĩ Phạm Duy có bày tỏ lòng tri ân đối với người em vợ của ông là nữ ca sĩ Thái Thanh: “Không có Thái Thanh thì sẽ không có ai biết đến Phạm Duy”. Câu nói của Phạm Duy không phải là một lời xưng tụng quá mức vì Thái Thanh thật sự là người đã thể hiện xuất sắc rất nhiều ca khúc do ông sáng tác.

Thái Thanh là thứ nữ của ông Phạm Đình Phụng với người vợ thứ hai. Người vợ đầu của ông Phạm Đình Phụng sinh được 2 người con là Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Người vợ thứ hai sinh ra Phạm Thị Quang Thái (tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy), nhạc sĩ Phạm Đình Chương và con gái út Phạm Thị Băng Thanh (tức ca sĩ Thái Thanh). Thái Thanh còn một người chị gái lớn, sinh trước ca sĩ Thái Hằng, nhưng không may đã trúng bom chết khi còn nhỏ. Thái Thanh sinh ngày 5 tháng 8 năm 1934 tại làng Bạch Mai, Hà Nội. Năm 1946, khi 12 tuổi, Thái Thanh theo các anh chị lên Sơn Tây tản cư. Người chị đầu của Thái Thanh đã bị trúng bom tử nạn nên cha mẹ cô lại đưa con chạy về xuôi, mở một quán phở đặt tên là Thăng Long. Thái Thanh bắt đầu hát từ năm 13, 14 tuổi nhưng từ nhỏ, cô không theo học nhạc ở trường lớp nào. Chị em Phạm Thị Quang Thái, Phạm Đình Chương và Phạm Thị Băng Thanh thường biểu diễn ngay tại quán Thăng Long. Đầu năm 1949, chị em họ Phạm gia nhập các ban văn nghệ quân đội của Liên khu IV. Quán Thăng Long dời về chợ Neo (Thanh Hóa).

Tuy nhiên giọng hát của Thái Thanh chỉ được mọi người biết tới khi cô theo gia đình rời vùng kháng chiến, về thành và vào miền Nam vào năm 1951. Từ đó, tên tuổi của cô gắn liền với ban nhạc Thăng Long và những nhạc phẩm của Phạm Đình Chương, anh trai cô, Phạm Duy, anh rể cô, và rất nhiều nhạc sĩ khác cùng thời.

Nhạc sĩ Phạm Duy đã ghi chép về khoảng thời gian thành lập ban hợp ca Thăng Long ở miền Nam: “Một buổi sáng tháng 6 năm 1951. Trên chuyến máy bay cất cánh từ Gia Lâm, lời chào tạm biệt Hà Nội chưa kịp tan trong lòng mọi người, gia đình họ Phạm đã tới Saigon vào một trưa hè sáng sủa và mát mẻ. Chúng tôi xuống sân bay Tân Sơn Nhứt với một lời chào khác: Saigon, chào em!

Để sinh sống trong cuộc đời đã đổi mới, chúng tôi tới hát tại Đài phát thanh Pháp-Á (Radio France- Asie), phòng thu thanh đặt ở đại lộ de La Somme (đường Hàm Nghi) gần chợ Bến Thành. Mấy anh em họ Phạm thành lập một ban hợp ca lấy tên là ban Thăng Long (tên này đã được dùng làm bảng hiệu cho quán phở gia đình ở Chợ Đại, Chợ Neo trước đây). Rồi cũng trong tâm trạng lưu luyến dĩ vãng rất gần, Phạm Đình Viêm lấy tên là Hoài Trung, Phạm Đình Chương lấy tên là Hoài Bắc. Về phần nhạc mục (répertoire), ban Thăng Long đã có một số bài rất ăn khách do tôi soạn từ trước như “Nương chiều”, “Gánh lúa” hay mới soạn như “Tình ca”, “Tình hoài hương”… Ngoài ra những bài như “Nhạc đường xa” của Phạm Duy Nhượng, “Đợi anh về” của Văn Chung, “Được mùa”, “Tiếng dân chài” của Phạm Đình Chương cũng được hát…
Băng Thanh, cô em út trong gia đình, đổi tên là Thái Thanh để đi đôi với tên chị Thái Hằng. Thái Thanh khởi sự làm mê hoặc lòng người bằng giọng hát hãy còn rất mỏng của cô bé 17 tuổi. Bước vào nghề hát vào tuổi dậy thì, dù chẳng theo học một lớp dạy hát nào. Thái Thanh có lối hát rất Việt Nam, nghĩa là nhấn giọng vào từng chữ, giống như lối hát dân ca, hát chèo, hát chầu văn. Những bài như “Tình ca”, “Tình hoài hương” với âm vực rất rộng lúc đó được tôi soạn ra cốt để cho Thái Thanh hát và chỉ có cô mới hát nổi những nốt rất trầm (nốt Sol dưới) hoặc rất cao (nốt Sol trên) của hai tác phẩm này. Từ đó trở đi, đa số ca khúc của tôi đều dựa vào khả năng của giọng hát Thái Thanh. Cho tới khi tôi có thêm giọng Duy Quang, Julie và Thái Hiền…” (Hồi ký Phạm Duy, chương 1, tập 3)

Nữ ca sĩ Quỳnh Giao cũng nhận định về giọng ca Thái Thanh: “Thái Thanh có giọng hát đẹp như Kim Tước hay Ánh Tuyết, Mộc Lan, Châu Hà. Nhưng Thái Thanh lại khác hẳn mọi người ở khả năng phát âm rất rõ lời. Thái Thanh có sự bén nhạy thiên phú để hát mạch lạc từng câu, từng chữ với âm sắc hoàn toàn Việt Nam…” (Thái Thanh, lời ru của mẹ – Tạp ghi, tr. 310-311)

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, các quan chức văn hóa đến kêu gọi cô hát các bài hát tuyên truyền cho chế độ mới, nhưng cô nhất quyết từ chối. Chính vì vậy, cô bị cấm trình diễn, cấm xuất hiện trên báo chí, truyền hình, phát thanh suốt 10 năm liền cho đến khi sang Mỹ định cư vào năm 1985. Trong những năm đầu tiên tại Mỹ, cô là một trong những ca sĩ được mời đi lưu diễn nhiều nhất và được mời thu âm cho nhiều chương trình ca nhạc của Trung tâm Diễm Xưa. Sau đó, cô mở lớp dạy hát tại nơi dạy nhạc của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi ở quận Cam, bang Cali. Năm 1999, ở tuổi 65, cô quyết định giải nghệ và việc này được đánh dấu bằng một đêm trình diễn đặc biệt của cô cùng với các con và các cháu.

Phạm Duy đã chia sẻ về tâm tình của ông và bối cảnh trong đó ông đã viết ca khúc “Tình hoài hương”, ca khúc được Thái Thanh thể hiện thành công hơn ai hết: ”Gần hai năm đã trôi qua, kể từ ngày tôi bỏ vùng quê vào Hà Nội, rời miền Bắc vào miền Nam, lo ổn định nơi ăn chốn ở và thu xếp công kia việc nọ tại Sàigòn, rồi đi hát chỗ gần chỗ xa… Khi bắt đầu sáng tác lại, tôi soạn bài “Tình hoài hương” (1952). Nó là một bài hát hoài cảm, là sự nhớ nhung của riêng tôi đối với một nửa mảnh đất quê hương mà tôi vừa phải xa lìa. Ngờ đâu nó sẽ là bài hát hoài hương của một triệu người di cư vào Nam 2 năm sau đó. Rồi khi một triệu người khác, trong một thời gian khác, nghĩa là sau ngày lịch sử 30 tháng 4 năm 1975, phải vượt trời, vượt biển ra khỏi bán đảo chữ S thì bài “Tình hoài hương” của 20 năm trước lại trở thành một bài hát rất hợp tình, hợp cảnh… Bài hát nói tới sự nhớ thương con sông đào xinh xắn, nhớ phiên chợ chiều xa tắp, nhớ vòm tre non và làn khói ấm hương thôn nơi đó, trong mảnh đời thơ ngây của tôi, có con trâu lành nằm mộng bên đàn em bé, có mẹ già yêu dấu ngồi nghe tiếng sáo chơi vơi… Chao ôi là nhớ nhung!”

Ca khúc “Tình hoài hương” với giọng ca Thái Thanh (hát live):
https://youtu.be/lXiY-j1JI4U

Ca khúc “Tình hoài hương” trên Paris By Night 19:
https://youtu.be/rw-8IWG9vxM

Ảnh: Nữ danh ca Thái Thanh với Hoài Trung, Hoài Bắc Phạm Đình Chương và nhạc phẩm “Tình hoài hương”

Vì sao gọi “VÀO (VÔ) NAM, RA BẮC”

Image may contain: mountain, sky, outdoor, nature and water

Image may contain: plant, tree, grass, bridge, outdoor and nature
Image may contain: sky, tree and outdoor

Nguyễn- Chương Mt is with Nguyễn Kiều Phương.

Vì sao gọi “VÀO (VÔ) NAM, RA BẮC” (mà không gọi “vào Bắc, ra Nam”)?
“Đàng” có nhiều nghĩa, NHƯNG riêng chữ “ĐÀNG” (Đàng Trong, Đàng Ngoài), NGHĨA ĐÚNG LÀ GÌ?

Ngôn ngữ là bằng chứng sinh động lưu lại SỰ THẬT LỊCH SỬ, không xóa được!

&1&
Người Việt nói “vào (vô) trong”, chớ không ai đi nói “vào (vô) ngoài” hết. Cũng vậy, nói “ra ngoài, ra bên ngoài”, chớ không ai nói “ra trong”. Nghe trớt hướt, trật lất.
Vậy, khi nói “vào (vô) Nam” – tức là miền Nam được xem là “TRONG” (bên trong); còn “ra Bắc” – tức là miền Bắc được xem là “NGOÀI” (bên ngoài).

Từ đâu, từ hồi nào mà miền Nam trở thành “TRONG” còn miền Bắc lại trở thành “NGOÀI”?

&2&
Tới đây ắt hẳn quí bạn đều nhớ tới cuộc phân ranh hai miền NAM / BẮC, với danh xưng “Đàng Trong” (để chỉ từ phía Nam sông Gianh thuộc Quảng Bình cho đến tận Cà Mau) và “Đàng Ngoài” (để chỉ từ phía Bắc sông Gianh cho đến biên giới Việt – Tàu), vào thế kỷ 17.

Tôi có hỏi một vài bạn trẻ sinh viên, “ĐÀNG, nghĩa là gì?”.
Có bạn trả lời từ nhỏ đến lớn đi học không được thầy cô giải nghĩa, chỉ nghe nói “Đàng Trong / Đàng Ngoài” rồi học thuộc, vậy thôi. Thiệt sự vậy sao, trời? Lại có bạn bèn tra Google, gõ Wikipedia là từ điển “mở” (kêu bằng “mở” tùm lum, loạn xạ có đúng có sai), được giải thích như sau:
“Đàng là road, Trong là inside, Ngoài là outside. Đàng Trong tức là con đường bên trong, Đàng Ngoài tức là con đường bên ngoài”.

Đàng Trong là “con đường bên trong (hoặc) bên trong con đường”, đọc lên thấy khó hiểu (thế nào là “trong con đường”?), mờ mịt ý nghĩa hết sức. Rồi, đó là con đường nào vậy, mà lạ lùng, đặc biệt tới mức “bên trong con đường” thì… gồm cả một cõi miền Nam mênh mông luôn?

&3&
“Đường”, nếu theo đúng âm Hán-Việt thì có khoảng 20 chữ Hán khác nhau lận, cũng đều đọc là “đường”. Và, không có chữ “đường” nào mang ý nghĩa là “con đường” (road, street) hết ráo!

Để hiểu là “con đường” (road, street, avenue…), trong chữ Hán gọi là 路: “lộ” (như đại lộ 大路), hoặc là 道: “đạo”…Thành thử nếu cho rằng “đàng trong/đàng ngoài” nghĩa là “trong/ngoài con đường” thì phải viết chữ Hán là “nội lộ/ngoại lộ” (nên nhớ: hồi thế kỷ 17, chúng ta vẫn còn viết bằng chữ Hán chớ không phải chữ Quốc ngữ).

&4&
Thành thử tra tự điển chữ Nôm. Hồi xửa hồi xưa, thế kỷ 17, người Việt vừa xài chữ Hán vừa xài chữ Nôm (tức cũng dựa trên chữ Hán mà có những cách cấu tạo đủ kiểu, phức tạp lắm đa).
Trong Từ điển chữ Nôm, có ghi phát âm “Đàng” theo hai ký tự khác nhau: 唐, và 塘 . Để coi “đàng” nghĩa là gì.
唐, đọc là “đàng” (cũng được đọc là “đường”): có nhiều nghĩa nhưng không dính gì tới “con đường”, trong đó có một nghĩa hơi gần chút xíu, là “lối đi trong đình viện (sân nhỏ)”. Ừm, “ĐÀNG” (tỉ như trong danh xưng “Đàng Ngoài”) mà hiểu là… lối đi trong sân, coi bộ không ổn rồi đa.

Còn chữ thứ hai, 塘 (đọc là “đàng”, cũng được đọc “đường”) có mấy nghĩa lận, là cái ao, cái đầm, cái nhà… Coi bộ không hạp gì ráo với danh xưng “Đàng Trong / Đàng Ngoài”.

Thời may, trong Từ điển Thiều Chửu, Từ điển Trần Văn Chánh có ghi chú cái nghĩa nữa của chữ 塘 (đàng/đường) này là: “con đê, bờ đê”!

&5&
Quí bạn hãy cùng ngược dòng lịch sử…
Năm 1630, để ngăn chặn những cuộc tấn công từ Bắc hà (phía bắc sông Gianh) do vua chúa triều đình Thăng Long phát động, Chúa Nguyễn mời cậy nhờ Đào Duy Từ xây hệ thống hào lũy. Đặc biệt là “Lũy Thầy” với tổng chiều dài khoảng 34km, bắt đầu từ núi Đầu Mâu tựa vào dãy Trường Sơn kéo ngang ra tới cửa biển Nhật Lệ. Bề mặt thành lũy như mặt đê rộng rãi cho người lẫn voi, ngựa có thể dễ dàng đi lại trên đó.

Phòng tuyến giăng ngang giữa hai đầu núi và biển đã bịt kín các lối ra vào và hoàn toàn khống chế các mũi tấn công từ phía Bắc, phía bên ngoài thành lũy. Từ đó Nam hà (phía Nam sông Gianh trở vào) của Chúa Nguyễn được giữ vững.

=> ĐÀNG TRONG 塘 là cõi bên trong thành lũy (bờ đê 塘 của Lũy Thầy), về phía Nam.
ĐÀNG NGOÀI 塘 外 là cõi bên ngoài thành lũy, về phía Bắc.

&6&
Danh xưng “Đàng Trong”/”Đàng Ngoài” được lưu trong sách vở còn được nhìn thấy, đầu tiên là trong “Từ điển Việt – Bồ – La” của Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) vào năm 1651. Như vậy, cách gọi Đàng Trong/Đàng Ngoài xuất hiện trong quãng thời gian sau năm 1630 (xây đắp Lũy Thầy) và trước năm 1651 (được ghi trong Từ điển).

Rõ rành cách gọi hai miền là “Đàng Trong/Đàng Ngoài” được lấy theo hệ qui chiếu của miền Nam (từ phía Nam sông Gianh trở vào, Chúa Nguyễn gọi là “TRONG” – để phân định khác với Chúa Trịnh là “NGOÀI”).
Và, theo dòng thời gian sau đó, người dân miền Bắc cũng đã chấp nhận hệ qui chiếu này để gọi mình là “Đàng Ngoài”.

&7&
Vì lẽ, theo các sử liệu, trong giai đoạn phân tranh thì Đàng Trong phát triển mạnh mẽ hơn, mở rộng lãnh thổ tới Cà Mau; đồng thời xác lập những chuẩn mực văn hóa đa dạng!
Về đại thể, sự chuyển dịch trọng tâm về phía Nam là có lợi cho sự phát triển của người Việt và nước Việt nói chung.

Nguyễn Huệ (Quang Trung hoàng đế) vào năm 1789 đánh tan quân Thanh, đồng thời đặt dấu chấm hết đối với triều đình Hậu Lê tại Thăng Long. Cần nhớ: Nguyễn Huệ dựng nghiệp tại Qui Nhơn thuộc Đàng Trong. Nguyễn Huệ là người Đàng Trong.

Nguyễn Ánh, sau nhiều thăng trầm, đánh tan Tây Sơn, thống nhứt giang sơn, lên ngôi Gia Long hoàng đế năm 1802. Cần nhớ: Nguyễn Ánh dựng nghiệp dựa vào Gia Định và vùng châu thổ sông Cửu Long, đều thuộc về Đàng Trong.

&8&
Thực tế lịch sử đã in dấu ấn không bao giờ phai trong ngôn ngữ của người Việt, cho đến hiện nay! Gọi “ngoài Bắc” là xuất phát từ chữ “Đàng Ngoài”; gọi “trong Nam” là xuất phát từ danh xưng “Đàng Trong”.

Đã “TRONG (Nam)”, thành thử phải gọi là “VÀO/VÔ (Nam)”.
Cũng vậy, đã “NGOÀI (Bắc)” thì phải là “RA (Bắc)” (không ai đi nói “vào Bắc” hết ráo).
————————————————————————-
* Thắc mắc còn lại: “ĐÀNG” 塘 là con đê/bờ đê, vậy “lên đàng” bấy lâu nay được hiểu là “lên đường”, đúng hay sai?
Rồi, “Đàng Thổ” hồi thế kỷ 17 dùng để chỉ vùng Sài Gòn, Bến Nghé, đâu có bờ đê/con đê nào mà vẫn gọi là “Đàng”?
Bài viết tới đây dài rồi, để dành cho kỳ 2 giải đáp, đặng có cái mà đọc.

Hình ảnh: Sông Gianh ở Quảng Bình.
Di tích Lũy Thầy: cổng thượng Võ Thắng quan.
Di tích Lũy Thầy: cổng hạ Quảng Bình quan.

MIỀN TÂY…

MIỀN TÂY…

Vi rút Covid-19 có thể làm chết người ngay trước mắt, tức thời, nhưng đồng bằng sông Cửu Long – vựa lúa nuôi cả nước đang khô hạn, cạn kiệt nước (điều không thể tưởng tượng nổi) có thể gây thảm họa chết đói về lâu về dài.

Vẫn biết có nhiều lý do, như thiên tai, biến đổi khí hậu, Tàu cộng chặn dòng Mê Kông… nhưng việc không có chiến lược phát triển miền Tây Nam Bộ vững bền, coi nhẹ xem nhẹ vùng đất cực kỳ quan trọng này suốt bao năm là nguyên nhân cơ bản nhất.

Chưa bao giờ, tình trạng ly hương, tha phương cầu thực, bỏ nhà đi khắp nơi kiếm sống ở đồng bằng sông Cửu Long trầm trọng, kinh khủng như bây giờ.

Tôi nói thế bởi có căn cứ cụ thể. Quê bà xã tôi nằm ở cù lao Giêng, huyện Chợ Mới (An Giang), một vùng đất trù phú vào bậc nhất nước, giờ đây người thân họ hàng dưới đó bỏ vườn không nhà trống, đi khắp nơi Bình Dương, Vũng Tàu, Sài Gòn, ra phố Long Xuyên, Cần Thơ… làm thuê bởi không thể sống nổi với đất đai khô hạn, làm ăn canh tác khó khăn, chỉ còn vài người già, vài đứa trẻ con cầm cự với sự nghèo khó qua ngày.

Để một miền Tây Nam Bộ vốn giàu có trở nên kiệt quệ, đó là tội ác, cần ghi vào lịch sử cho con cháu mai sau hiểu được một giai đoạn kinh hoàng.

NGUYỄN THÔNG

Image may contain: outdoor and nature

Ông Lê Đình Kình là ‘khủng bố?’ – Huy Phương

Ông Lê Đình Kình là ‘khủng bố?’

Huy Phương

Hơn hai tháng nay, đại dịch COVID-19 hoành hành làm cho dân Việt, nhất là dân Hà Nội, quên mất chuyện ông Lê Đình Kình và biến cố Đồng Tâm. Nhưng điều làm chúng ta nhớ nhất, là ngày 17 Tháng Giêng năm 2020, Bộ Công An CSVN đã ra thông báo phong tỏa trương mục ngân hàng Vietcombank của bà Nguyễn Thúy Hạnh với số tiền hơn $38,791, do gần 800 người, vì thương cảm hoàn cảnh của ông Lê Đình Kình mà đóng góp. Lý do, theo công an CSVN, đây là số tiền đóng góp để “tài trợ cho hoạt động khủng bố!”

Thứ trưởng Bộ Công An CSVN cũng đã “lẹo lưỡi” nói rằng “Như chúng tôi đã công bố, các đối tượng trong vụ việc này đã khai nhận việc quyên góp và sử dụng tiền quyên góp để mua sắm vũ khí, vật liệu nổ, sản xuất vũ khí thô sơ và đã dùng để tấn công lại lực lượng chức năng.” Liệu một người dân đầu óc bình thường có thể tin vào lời kết án này không?

Đây là một thủ đoạn gán ép cố hữu của nhà nước cộng sản lâu nay, mà chúng ta nghe đã nhàm chán. Cộng Sản áp dụng những điều luật vô lý để áp đảo những người dân bất đồng chính kiến, với những tội tày trời như làm gián điệp cho ngoại bang, âm mưu lật đổ chính quyền, khủng bố, mà trong tay những người dân này, ngoài một hai tấm biểu ngữ, không súng đạn, không bom mìn, không giáo mác, cũng chẳng có chứng cớ gì là có bàn tay của ngoại quốc dính vào.

Năm 1960, trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm, Nguyễn Hữu Đang cùng với nhiều văn nghệ sĩ, trí thức chỉ có trong tay một ngòi bút, cũng bị coi là “phản đảng,” “đầu cơ cách mạng.” Cùng nhà văn Thụy An, Nguyễn Hữu Đang bị kết án 15 năm tù vì tội “phá hoại chính trị,” “làm gián điệp cho ngoại bang…”

Giờ đây, ông Lê Đình Kình lại là một tên khủng bố sao?

Theo định nghĩa, khủng bố là hoạt động phá hoại, làm thiệt mạng người, gây hoang mang khiếp sợ cho tâm lý hoặc tổn thất cho xã hội và cộng đồng, nhằm mục đích chính trị hoặc tôn giáo. Khủng bố đặc biệt sử dụng bạo lực bừa bãi đối với những người không có khả năng chống cự với mục đích là sự nổi tiếng cho một nhóm, một phong trào, hoặc một cá nhân. Các tổ chức khủng bố có thể khai thác nỗi sợ hãi của con người để hỗ trợ đạt được những mục tiêu này.

Ngày 15 Tháng Tư, 2013, hai quả bom nổ tại cuộc đua Marathon ở Boston, giết chết 3 người và làm bị thương 282 người khác.

Vào ngày Thứ Tư, 2 Tháng Mười Hai, 2015, quân khủng bố xả súng bắn vào người dân Mỹ dự tiệc Giáng sinh của Trung Tâm Xã Hội Inland Regional Center phục vụ trẻ khuyết tật, tại thành phố San Bernardino, California, làm 14 người chết và 21 người bị thương.

Ông Lê Đình Công, con ông Lê Đình Kình, với gương mặt bầm tím vì bị tra tấn khi công an đưa lên truyền hình VTV “nhận tội.” (Hình chụp qua màn hình)

Một vụ tấn công bằng súng diễn ra vào lúc 2 giờ sáng ngày 12 Tháng Sáu, 2016, tại một hộp đêm ở Pulse, Orlando, Florida, nhắm vào người đồng tính làm 49 người thiệt mạng, 52 người bị thương.

Ngày 7 Tháng Giêng, 2015, ba tay súng tự xưng là thành viên Al-Qeada xông vào và xả súng ở tòa soạn tạp chí châm biếm Pháp Charlie Hebdo tại Paris, khiến 12 người, trong đó có tổng biên tập, thiệt mạng, và 10 người bị thương.

Tối 14 Tháng Mười Một, 2015, ba vụ nổ riêng biệt và 6 vụ nổ súng đã được báo cáo xung quanh thủ đô, trong đó có một vụ đánh bom gần Stade de France ở vùng ngoại ô Saint-Denis, tại nhà hát Bataclan và ít nhất là 4 tiệm ăn. Ít nhất 132 người đã thiệt mạng và 352 người bị thương.

Ngày 14 Tháng Bảy, 2016, đúng ngày Quốc Khánh của Pháp, một xe tải lớn đâm vào đám đông xem pháo bông ở thành phố Nice, giết chết 84 người và làm 50 người bị thương.

Tất cả những thảm kịch trên đây hay những hành động như gài bom trên máy bay, xe lửa, ném lựu đạn vào đám đông, đặt mìn bẫy trên đường lộ… đều được xem là những hành vi khủng bố! Ông Lê Đình Kình đã hành động ra sao để đủ yếu tố cho nhà cầm quyền ghép ông vào loại khủng bố?

Đồng ý là phong tỏa các trương mục, tài sản của khủng bố là việc quốc gia nào cũng phải làm. Hàng năm, phương Tây đã phong tỏa tài chính và tài sản hàng trăm triệu đô la của những tổ chức có liên hệ với chủ nghĩa khủng bố, Nhà Nước Hồi Giáo IS và các nhóm khủng bố thuộc mạng lưới Ai-Qaeda.

Nhưng ở đây, một ông già lãnh đạo quần chúng, nói cho lớn lao, chứ đây chỉ là mươi gia đình có quyền lợi đất đai trong xã Đồng Tâm, bị cường quyền viện lý do quốc phòng cướp đất, đã tin cậy, nhờ đến một người lớn tuổi trong làng, có nhiều tuổi đảng. Dân Đồng Tâm không có súng ống, bom mìn, chỉ có dao rựa nông nghiệp và một vài quả lựu đạn lép như quả na khô, nằm trong tay ông Kình khi chết. Chết rồi mà tay còn nắm chặt quả lựu đạn. Ghê thật!

Ông Kình không giết ai, nhưng chính ông bị giết, đem xác về đồn công an, mổ xẻ, may vá xong lại cho đem về nhà, ruột còn dấu khâu, mà lại là một tên khủng bố nguy hiểm?

Với lý do ông Lê Đình Kình là một tên khủng bố, trương mục giúp đỡ gia đình ông bị phong tỏa, sẽ đưa đến chỗ bị tịch thu. Trong chế độ này, những người đương đầu với chính quyền như ông sẽ bị tiêu diệt, tiền bạc sẽ bị sung công quỹ, nhưng đảng Cộng Sản không thể chà đạp lên danh dự của ông. Nếu không được gỡ bỏ cho chuyện mạ lỵ, áp đặt tiếng ác cho người lương thiện, rồi đây gia đình ông Kình sẽ chịu miệng tiếng đời đời là con cháu một tên khủng bố hay sao?

Ở trong các quốc gia độc tài, toàn trị Cộng Sản, việc triệt tiêu các tiếng nói đối lập từ quần chúng, cá nhân bất đồng chính kiến, hoặc gây bất lợi cho đảng và nhà nước không khó.

Staline, Putin, Mao Trạch Đông, Kim Jong Un hay Hồ Chí Minh, Lê Duẫn đã từng thanh trừng mọi tầng lớp trong đảng và trong cả nước chuyên truy lùng, thủ tiêu, các nhà đối lập, và nhẹ là thường bị tống giam trong các “trại lao nô” hay cho vào nhà thương điên. Cho nên đối với những thành phần bị quy chụp là gián điệp, âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân hay khủng bố hãy còn là những lối kết tội ở mức thấp.

Khủng bố có thể là phương thức của kẻ yếu, lấy ít thắng nhiều, tấn công đột kích, bất ngờ và táo bạo, nhưng khi một nhà nước kiểu nhà nước Cộng Sản độc tài, độc tôn, có phương tiện bạo lực trong tay, đã có chủ trương trấn áp, khủng bố công khai, rồi sau đó kết án, vu vạ để bịt miệng người dân bất dồng chính kiến thì dân lành không sao chống trả nỗi!

Vụ Đồng Tâm và cái chết của ông Lê Đình Kình là một vụ “khủng bố” tiêu biểu, ở đây ai là kẻ chủ trương khủng bố, ai là nạn nhân của khủng bố, thì độc giả của tôi hẳn đã có câu trả lời! (Huy Phương)

Đảng, Đảng Viên & Tuổi Đảng

Đảng, Đảng Viên & Tuổi Đảng

1 dang vien

Đảng thực chất chỉ là đảng cướp.

Nguyễn Chí Thiện


CHXHCNVN, có lẽ, là nơi duy nhất mà danh tính của một cá nhân lại luôn kèm theo tuổi … đảng:

– Lê Khả Phiêu 71

– Nguyễn Thị Bình 73

– Lê Đình Kình 58 …

Trong một xứ sở theo chế độ đảng trị thì thâm niên tuổi đảng quả là một thuộc tính rất đáng kể, và đáng nể. Chả thế mà vào ngày 26 tháng 8 năm 2019, tất cả cáo báo đài nhà nước đều hớn hở loan tin:

“Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương đã tới dự và trao Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng tặng nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu. Tham dự buổi lễ có các Ủy viên Bộ Chính trị, các lãnh đạo Văn phòng Tổng bí thư, các đồng chí Ủy viên Thường vụ Quân ủy …”

Đồng chí Lê Khả Phiêu được toàn Đảng ưu ái không chỉ vì đã từng giữ quyền cao chức trọng mà còn vì ông là một nhân vật kiệt xuất, đặc biệt trong lãnh vực sáng tạo. Ngoài việc cầm quân, ông còn cầm bút và là tác giả của tuyển tập Mênh Mông Tình Dân mà thiên hạ (đôi lúc) đọc nhầm thành Mênh Mông Tiền Dân.

Khác với vị TBT kế nhiệm (Nông Đức Mạnh) đồng chí Lê Khả Phiêu không trang trí nội thất bằng cách dát vàng. Tư thất của ông trưng bầy toàn những sản phẩm đậm đà bản chất văn hoá dân tộc (và đều là hàng độc) như tượng bác Hồ, trống đồng, ngà voi … khiến khách khứa đều phải trầm trồ hay ái ngại – tùy theo cách nhìn của từng người.

Lê Khả Phiêu còn có sáng kiến rất độc đáo (tuy hơi kém “mênh mông” chút xíu) là thiết lập một hệ thống tiêu tưới tự động – sprinkler system – trên sân thượng của tư thất để làm thành một vườn rau nhỏ, dành riêng cho bếp ăn của gia đình, để khỏi phải dùng chung rau (bẩn) với bàn dân thiên hạ. Bằng vào những kỳ tích này nên trong buổi “Lễ Trao Huy Hiệu 70 Năm Tuổi Đảng,” Tổng Bí Thư kiêm Chủ Tịch Nước Nguyễn Phú Trọng đã không tiếc lời tán tụng công đức của người tiền nhiệm: “Chúng tôi luôn học tập ở đồng chí về phương pháp, tác phong làm việc sâu sát, cụ thể và hiệu quả.”

Với loại đảng viên ở cấp địa phương thì lễ lạc loại này (thường) giản dị hơn. FB Mạc Văn Trang thuật chuyện:

“Hai hôm nay về Bãi Cháy (Hạ Long) mừng Cụ lão thành Cách mạng 90 tuổi đời, 70 tuổi Đảng, thân thiết trong gia đình. Cụ tham gia Cách mạng từ năm 16 tuổi, 20 tuổi (1949) đã vào Đảng CSVN. Con cháu cứ nhấn vào sự kiện Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng, tổ chức cho hoành tráng, tưởng Cụ 90 tuổi, lú lẫn, lẩm cẩm rồi, thì làm gì Cụ cũng nghe… Nhưng mình để ý, Cụ quan tâm đến 90 năm tuổi đời hơn là 70 năm Huy hiệu Đảng…

Cụ bảo, chúng nó cứ bày ra, nhưng tôi không cho mời ai đương chức cả, chỉ mời anh em, con cháu, bạn bè thân thiết thôi, nhân 90 tuổi mà… Mình bảo, sự kiện 70 năm tự hào lắm chứ nhỉ? – Cụ tặc lưỡi, được 12 triệu…

Tôi về hưu, suốt bao nhiêu năm làm Bí thư chi bộ, Tổ trưởng Dân phố, tham gia Mặt Trận, Hội người Cao tuổi … không bao giờ có phụ cấp, tất cả là ‘ăn cơm nhà, vác tù và hàng tổng’, tâm huyết, tận tụy…”

Mười hai triệu đồng VN, nếu qui ra Mỹ Kim, là tầm 700 đô la cho bẩy mươi năm năm “tâm huyết tận tụy.” Tính chi li hơn thì mỗi năm được một trăm, và mỗi ngày khoảng 25 xu Mỹ. Chả hiểu có đủ để mua một que kem?

Tuy thế, nếu bỏ chuyện tiền bạc qua một bên thì được như thế cũng quí hoá lắm rồi. Là công dân của một quốc gia đã từng liên tiếp đánh thắng mấy đế quốc to mà ông cụ vẫn còn sống sót, với nguyên vẹn tứ chi hình hài, mãi đến tuổi 90 (tưởng) đã là điều vô cùng may mắn và hy hữu.

Sự may mắn hiếm hoi này khiến tôi không khỏi trạnh lòng nhớ đến một trường hợp (không may) khác, của một đảng viên cộng sản khác. Trong bản Tuyên Bố Lên Án Tội Ác Đồng Tâm có đoạn viết về nhân vật này như sau:

“Cụ Lê Đình Kình 84 tuổi đời, 58 tuổi đảng, một lão thành cách mạng của đảng cầm quyền, một nhân cách đẹp, một khí phách lớn, kiên cường, bền bỉ, vững tin vào luật pháp nhà nước, vững tin vào lẽ phải, vào nhân dân trong cuộc đấu tranh với quyền lực tham nhũng, một già làng được hầu hết người dân Đồng Tâm kính trọng, tin yêu. Con người như vậy đã bị giết hại và phanh xác quá rùng rợn: Khảo tra, đánh đập bầm dâp khắp thân già. Kề súng tận tim, tận não xả đạn. Mang xác đi mổ bụng, phanh thây…”

Tôi trộm nghĩ thêm rằng chính cái “nhân cách đẹp, một khí phách lớn, kiên cường, bền bỉ, vững tin vào luật pháp nhà nước, vững tin vào lẽ phải” của cụ Lê Đình Kình chính là nguyên nhân gây ra thảm nạn. Cái chết tàn bạo của nạn nhân, và  mọi sự sách nhiễu cùng oan khuất mà thân nhân của ông đang phải ghánh chịu, cũng giúp cho tôi chợt hiểu ra thái độ nhận nại (hay nhẫn nhục) của nhiều đảng viên kỳ cựu khác từ nhiều thập niên qua.

Cụ Nguyễn Thị Bình, nhân vật đã nhận huy hiệu 70 tuổi đảng từ năm 2017, là một trường hợp điển hình. Theo Wikipedia: “Bà sinh năm 1927 là một nữ chính trị gia người Việt Nam. Bà nổi tiếng trên thế giới khi giữ cương vị Trưởng phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, rồi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tham gia Hội nghị 4 bên về hòa bình cho Việt Nam tại Paris trong giai đoạn 1968-1973. Bà là một trong những người đại diện các bên ký hiệp định Paris năm 1973 và là người phụ nữ duy nhất đặt bút ký vào Hiệp định.”

2 dang vien

Nhờ vào những “kỳ tích” thượng dẫn nên dù cả MTGPMN lẫn CPCMLT đều bị giải thể (sau khi miền Nam thất thủ) Nguyễn Thị Bình vẫn được cho ngồi vào một cái ghế súp – Phó Chủ Tịch Nước – và bà đã ngồi im thin thít cả chục năm trời (1992 đến 2002) không dám ho he hay hó hé gì ráo trọi.

Mãi cho đến khi cuối đời Nguyễn Thị Bình mới rón rén lập ra một cái quỹ văn hóa với kỳ vọng “hưng dân trí, chấn dân khí” nhưng cũng không tồn tại được lâu. Báo Tuổi Trẻ, số ra ngày 23/02/2019, ái ngại loan tin: “Bà Nguyễn Thị Bình – chủ tịch Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh – ký văn bản thông báo về việc quỹ này chấm dứt hoạt động từ ngày 20-2 vì một số điều kiện khách quan.”

Tuy (nguyên) PCTN không nói gì về những “điều kiện khách quan” này nhưng ai cũng hiểu rằng bà (lại) tiếp tục ngậm bồ hòn làm ngọt. Thế mới rõ Nguyễn Thị Bình là người trí thức và là kẻ thức thời, chứ cứ như nông dân Lê Đình Kình (“kiên cường, bền bỉ, vững tin vào luật pháp nhà nước, vững tin vào lẽ phải, vào nhân dân”) thì e khó thọ đến bây giờ, và chưa chắc đã được chết toàn thây.

Mà có riêng chi bà Bình, ông Thọ, ông Phát, bà Định … (và ngay cả đến ông Hồ) cũng đều chọn thái độ “thức thời” tương tự vì họ biết cái đảng (cướp) của mình rõ hơn ai hết. Chỉ có những thường dân ngây thơ như chúng ta thì vẫn cùng nhau lên tiếng “đòi hỏi phải truy tố những kẻ đã sát hại cụ Kình.” Làm sao có thể can thiệp vào chuyện trừng phạt đảng viên của một đảng cướp cho dù đây là “một vụ án một tội ác trời không dung, đất không tha” chăng nữa? Công lý chỉ có thể được thực thi sau khi mọi người đều đã nhận diện được bọn cướp này, và quyết tâm đánh đuổi cho đến khi chúng ngã gục – bằng mọi giá.

Tưởng Năng Tiến
3/2020

Đại họa đã đến !

Đại họa đã đến !

@Nguyễn Ngọc Già

Lần đầu tiên Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ chỉ ĐÍCH DANH: Trọng – Phúc – Ngân trong Báo Cáo Nhân Quyền! Điều này thật là nghiêm trọng! Rất nghiêm trọng!

CSVN quả là “họa vô đơn chí”!!!
Dân chúng nói quá nhiều rồi mà không chịu nghe!
Kỳ này tiêu táng đường rồi!
___________________________________

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ hôm 11/3 công bố Báo cáo Nhân quyền Quốc gia năm 2019, lên án tình hình nhân quyền tại Việt Nam trong năm 2019 trên một loạt các lĩnh vực.

“Nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là một nhà nước độc tài được cai trị bởi một đảng duy nhất, Đảng Cộng Sản Việt Nam dẫn đầu bởi Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân. Cuộc bầu cử Quốc hội gần đây nhất vào năm 2016 không tự do và công bằng, dù có sự cạnh tranh một cách hạn chế của các ứng viên được Đảng chọn”, phần mở đầu về Việt Nam của báo cáo viết.

Báo cáo mới của Hoa Kỳ xác định các vi phạm của chính quyền Việt Nam trong các vấn đề bao gồm: bắt cóc, bắt giam người tùy tiện, tra tấn người bị bắt tạm giam, tình trạng đối xử bất công đối với các tù chính trị. Hạn chế nghiêm trọng nhất ở Việt Nam theo báo cáo chính là hạn chế các quyền tự do bao gồm tự do biểu đạt, tự do báo chí, tự do internet, và tự do tôn giáo. Hoa Kỳ cáo buộc chính quyền Việt Nam đã bắt giữ tùy tiện những người dám lên tiếng chỉ trích chính phủ.

Báo cáo gồm 7 phần bao gồm: tôn trọng con người, tôn trọng các quyền tự do dân sự, bầu cử tự do, tham nhũng và minh bạch, phản ứng của chính phủ Việt Nam với các cáo buộc và điều tra của quốc tế về vi phạm nhân quyền, phân biệt đối xử và buôn người, quyền của người lao động. Trong tất cả các phần này, Việt Nam đều bị chỉ trích có những vi phạm, mức độ nghiêm trọng tùy theo từng phần…

Fb Nguyễn Ngọc Già

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=492436828312212&id=100026376973361

Cựu Bí thư thành Hồ: “Vô sản lưu manh” (Kỳ 2)

Cựu Bí thư thành Hồ: “Vô sản lưu manh” (Kỳ 2)

Thu Hà

Có người đặt câu hỏi, nguồn gốc Hoa của Lê Thanh Hải. Nếu như cụ nội của Hoàng Trung Hải, cựu Bí thư thành ủy Hà Nội, tên là Hoàng Mậu, dân tộc Hán, quê gốc huyện Long Khê, phủ Chương Thâu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, chạy sang Việt Nam năm 1907, lúc đầu ở Hải Phòng, sau di cư về làng Đồng Sơn, xã Quỳnh Giao, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, thì tổ tiên của Lê Thanh Hải đến Việt Nam sớm hơn.

Tháng 2 năm Kỷ Mùi (1679), do chống đối nhà Thanh (Trung Quốc), các viên tướng nhà Minh ở Quảng Đông đã tới Việt Nam, gồm:

– Tổng binh trấn thủ Long Môn Dương Ngạn Địch, có phó tướng Huỳnh Tấn phù tá.

– Tổng binh Trần Thượng Xuyên (tự Thắng Tài) có phó tướng Trần An Bình giúp sức.

Họ mang 3.000 binh sĩ cùng thân nhân và 50 chiến thuyền đổ bộ vào cửa biển Đà Nẵng, xin tị nạn chính trị. Chúa Nguyễn Phúc Tần, tức chúa Hiền (1648 – 1687) rất khó xử, vì ngại triều đình nhà Thanh. Cuối cùng, Chúa quyết định cho họ xuôi về phương Nam định cư.

Trong sách “Gia Định thành thông chí” chép cụ thể:

Đối với nhóm người Hoa do Trần Thượng Xuyên chỉ huy, chúa Nguyễn cho họ “tiến vào cửa biển Cần Giờ rồi lên định cư ở Bàn Lân, xứ Đồng Nai” và lập ra Nông Nại đại phố.

Còn nhóm của Dương Ngạn Địch thì “tiến vào cửa Lôi Lạp (Xoài Rạp), theo cửa Đại, cửa Tiểu đến định cư ở Mỹ Tho”. Trong đoàn quân của Dương Ngạn Địch có một cận thần họ Lã quê Quảng Đông. Lê Thanh Hải là dòng máu trực hệ của họ Lã, sau gọi chệch đi vì nhiều mục đích, thành họ Lê.

Trong lịch sử đảng CSVN, sau Lê Thanh Hải, Hoàng Trung Hải là nhân vật gốc Hoa thứ hai, đặt chân vào Bộ Chính trị, cơ quan tối cao quyền lực.

Nói dông dài như thế, để hiểu vì sao Lê Thanh Hải lại ưu ái trong sử dụng cán bộ và làm ăn với người gốc Hoa. Các đồ đệ thân tín của Lê Thanh Hải, như Tất Thành Cang, Tề Trí Dũng, Trần Phú Lữ… đều gốc Hoa.

Tất Thành Cang, sinh 1971, được Lê Thanh Hải, tức Hai Nhựt, tin cẩn, đưa vào thành ủy, làm Bí thư, kiêm Chủ tịch UBND Quận 2 (Thủ Thiêm). Sau Cang được rút về làm Phó chủ tịch TP, nhưng trước khi nghỉ hưu, Hai Nhựt “cơ cấu” Tất Thành Cang vào Ủy viên Trung ương, phó Bí thư Thành ủy TP HCM.

Cang cũng chính là “cỗ máy” hái ra tiền cho gia tộc Lê Thanh Hải.

Tất Thành Cang trao huy hiệu cho Lê Thanh Hải. Photo Courtesy

Trần Phú Lữ, gốc Hoa, sinh 1977, gọi Hai Nhựt bằng cậu. Tháng 12/2004, ở tuổi 27, Lữ làm Phó Giám đốc Cty Đầu tư xây dựng TNXP (Cinco), phụ trách chỉ đạo trực tiếp mảng kế hoạch, mảng đầu tư (dự án đầu tư kinh doanh bất động sản, dự án phát triển sản xuất kinh doanh).

Trần Phú Lữ chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý phòng Đầu tư, phòng Kế hoạch, Ban QLDA Cinco, BQLDA Thạnh Mỹ Lợi (174 hecta quận 2); Trung tâm Thương mại và căn hộ Cinco; quản lý dự án Trung tâm giao dịch thương mại, siêu thị ngành vải sợi, dệt may và căn hộ – 0,6 hecta ở quận 5, TP. HCM.

Rồi 4 năm sau, tháng 4/2014 – ở tuổi 37, Lữ trở thành Chỉ huy trưởng Lực lượng TNXP Tp. HCM, thay cho người cậu Lê Tấn Hùng.

Trần Phú Lữ cũng là cổ đông và thành viên HĐQT Công ty cổ phần Đầu tư Khu đô thị mới Sài Gòn (Saigon NIC), hiện là cổ đông lớn nhất và duy nhất của Ngân hàng TMCP Bản Việt (VietCapital Bank), với tỷ lệ sở hữu 13,6%.

Đầu năm 2017, ở tuổi 40, Trần Phú Lữ được phê chuẩn giữ chức vụ Chủ tịch UBND huyện Bình Chánh – là một trong những chủ tịch quận/ huyện trẻ của TP. HCM.

***

Tề Trí Dũng, sinh 1981, con ông Tề Văn Thắng và bà Yên Thị Ngọc Quế – cặp vợ chồng gốc Hoa tư sản, là bạn thâm giao của Hai Nhựt từ khi ông còn là bí thư quận ủy Quận 5.

Năm 22 tuổi, Dũng đã là sếp Cty Dầu khí TP HCM. Khi tuổi 25, Dũng được bác Hai Nhựt cho đi học tiến sĩ ở Úc, theo đề án đào tạo bằng ngân sách của TP. Rồi 26 tuổi, Dũng ngồi vào ghế Trưởng phòng Tài chính, Tổng Cty Bến Thành. Đến năm 30 tuổi, Dũng lên làm Tổng giám đốc Cty.

Ở tuổi 34, Tề Trí Dũng làm Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Phát triển công nghiệp Tân Thuận (IPC), trực thuộc UBND thành Hồ, được quản lý vốn lên đến 30 ngàn tỷ.

Chỉ đơn cử đôi chút về con đường hoạn lộ thênh thang của Dũng, do nhờ quen thân với Hai Nhựt, chứ chẳng có tài cán gì.

Tề Trí Dũng và Trần Phú Lữ

Vượt lên tất cả các cận thần, Võ Văn Thưởng mới chính là “quân bài” số 1 của Lê Thanh Hải.

Tháng 3/2014, khi Nguyễn Văn Đua, phó Bí thư thường trực sắp nghỉ hưu, Bộ Chính trị ra quyết định luân chuyển Nguyễn Khắc Định, phó chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, về làm phó bí thư Thành ủy TP.HCM.

Vấp phải phản ứng dữ dội từ phe nhóm Lê Thanh Hải, để dung hoà, Trung ương đành phải để Nguyễn Khắc Định ở nguyên vị trí. Nhờ đó, Võ Văn Thưởng mới từ Bí thư Quảng Ngãi, quay về làm Phó bí thư thường trực, thay thế ông Đua.

Chiều 5/2/2016, Bộ Chính trị công bố quyết định phân công ông Đinh La Thăng làm Bí thư Thành ủy, Võ Văn Thưởng thôi tham gia BCH Đảng Bộ TP.HCM, giữ chức Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương. Lê Thanh Hải nước mắt lã chã vì hụt hẫng.

Lê Thanh Hải khóc tiễn Võ Văn Thưởng. Ảnh trên mạng

Võ Văn Thưởng sinh 1970 tại Hải Dương. Khác với mọi đồn đoán, Thưởng thật ra không có huyết thống gì với ông Võ Văn Kiệt. Bố Thưởng chỉ là bạn của ông Kiệt, vì vậy ông Kiệt nhận làm bố đỡ đầu cho Võ Văn Thưởng.

Khi Hai Nhựt vào Bộ Chính trị khoá X và XI, ngồi chắc hai nhiệm kỳ Bí thư thành ủy thành Hồ, thì Võ Văn Thưởng cũng lần lượt vào Ủy viên dự khuyết, rồi Ủy viên trung ương, với chức vụ Bí thư thứ nhất trung ương Đoàn. Trục Ba Dũng- Hai Nhựt – Võ Văn Thưởng, chúng tôi sẽ đề cập sau, khi có dịp.

Lê Thanh Hải đặt “quân bài” Võ Văn Thưởng trong canh bạc trành giành quyền lực ở thành Hồ. Hải kỳ vọng, Thưởng sẽ giành chức Bí thư Thành ủy, nhằm bảo đảm hoạn lộ cho “thế hệ F1”, cũng như an toàn cho gia tộc “lãnh chúa thành Hồ”.

Võ Văn Thưởng chính là người đề xuất Ban bí thư ra quyết định trong tháng 5/2016, chỉ định “thái tử” Lê Trương Hải Hiếu tham gia BCH Thành ủy. Dù trước đó, Hiếu đã bị “out” trong bầu chọn tại Đại hội đảng bộ TP khoá X, nhiệm kỳ 2015-2020, trước đó không lâu, hồi tháng 12/2015.

Chân ướt chân ráo về thành Hồ làm Phó Bí thư thường trực, Võ Văn Thưởng đã chỉ định giao “đất vàng” số 130 Hàm Nghi, Quận 1, có diện tích lên đến 1338 m2, cho Vũ “nhôm”, như trong Kết luận số 318-KL/TU ngày 14/7/2015 của Ban Thường vụ Thành ủy.

Thưởng cũng chính là người gắn kết “như môi với răng” với Tất Thành Cang, giúp đỡ Cang tiến thân. Sai phạm tày đình, nhưng Tất Thành Cang chỉ bị Bộ Chính trị lột ghế “Ủy viên Trung ương”, không phế bỏ Thành ủy viên, không xử lý hình sự, cũng nhờ Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư trung ương đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng.

Trong thông cáo phát đi hôm 5/3/2020, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét, thi hành kỷ luật Ban Thường vụ Thành ủy TP.HCM nhiệm kỳ 2010-2015, cá nhân ông Lê Thanh Hải, ông Lê Hoàng Quân, bà Nguyễn Thị Hồng, mà không thấy có tên Võ Văn Thưởng.

Theo văn bản “Hướng dẫn thực hiện Quy định số 07-QĐi/TW ngày 28-8-2018 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật tổ chức đảng vi phạm”, có nêu:

– Nếu Tổ chức đảng bị xử lý kỷ luật, những đảng viên trong tổ chức đảng đó không bị kỷ luật về cá nhân thì vẫn được xem xét, thực hiện công tác cán bộ theo quy định.

Như vậy, đường công danh thăng tiến của Thưởng trong kỳ đại hội 13, khai mạc vào đầu năm 2021, sẽ còn rộng mở.

***

Em trai của Hải là Lê Tấn Hùng bị khởi tố tống giam. Lần lượt các đàn em cũng vướng vòng lao lý. Tất Thành Cang bị kỷ luật. Nguyễn Hữu Tín lãnh án 7 năm tù. Nguyễn Thành Tài bị bắt giam. Tề Trí Dũng, Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV phát triển công nghiệp Tân Thuận (IPC) cũng bị khởi tố, bắt tạm giam, với tội danh “tham ô tài sản và vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát lãng phí”.

Bản thân “lãnh chúa” hô mưa gọi gió suốt 20 năm ở thành Hồ cũng bị đề nghị xem xét kỷ luật. Vòng vây đang siết lại dần với Lê Thanh Hải. Liệu ông ta sẽ xoay xở ra sao?

(Còn tiếp)

 SÁNG MẮT CHƯA?

Bảo Nhi Lê
 SÁNG MẮT CHƯA?

Đỗ Ngà

51 năm trước, có một gia đình ở tại Sài Gòn đã trưng dụng căn nhà của mình để cho những kẻ khát máu làm nơi ẩn náu và lên kế hoạch giết hại đồng bào mình. Thế rồi cuộc tàn sát ấy đã nổ ra, đồng bào bị giết la liệt, sự tang thương xảy ra mọi góc phố, mọi con hẻm. Thế nhưng kẻ đó- người chủ nhà ấy vẫn không nhận ra mình đã gián tiếp làm cho đồng bào đau thương mất mát. Thế rồi 6 năm sau, kẻ khủng bố ấy đã chiến thắng, và tất nhiên chủ căn nhà – ân nhân của đảng cũng được những kẻ hàm ơn mình ban phát “ân sủng”. Căn nhà đó đã được ban cho danh hiệu “di tích quốc gia” và gia đình họ được tiếng thơm “gia đình có công với cách mạng”.

Ngu muội đang sống trong xã hội tự do mà không hiểu giá trị của tự do nên giúp khủng bố, và dù cho đến thời đại internet họ cũng không nhận ra. Mãi cho đến khi thần chết chập chờn ghé đến hỏi thăm thì chủ nhà mới chợt phát hiện ra cái “ân sủng” ấy hóa ra là gông cùm đáng sợ. Cái danh hão “di tích quốc gia” ấy cuối cùng phục vụ cho ai? Chẳng phục vụ gì cho chủ nhà mà phục vụ cho mục đích khoe khoang chiến tích của đảng mà thôi. Một căn nhà ở vị trí đắc địa, chỉ cần cho thuê mặt bằng là đủ sống phè phỡn mà không cần lao động. Nếu bán căn nhà này đi thì có thể hốt được một núi tiền, khi đó chủ nhà có thể dùng tiền ấy đuổi thần chết đi xa. Ấy vậy mà chủ nhà đều không có quyền cho dù rất cần tiền.

Không biết người chủ căn nhà ấy họ có hiểu từ “ăn mía xả bã” hay không? Phần ngọt nhất của cây mía ai đã chiếm? Đảng. Còn phần bã mía khó nuốt kia ai đã phải ngậm nó? Chính chủ nhà. Nói thẳng ra là ông chủ quán Phở Bình đó đã và đang dùng cái miệng và bao tử của mình làm sọt rác cho đảng ăn mía xong rồi ném bã vào trong đó. Như chúng ta biết, đảng đã có chiến thắng nhưng ai phải đi tù dưới thời VNCH? Chủ nhà. Đảng đã có căn nhà đắc địa làm bia tưởng niệm phục vụ cho việc PR chiến tích của đảng, nhưng ai phải sống túng thiếu ngay trên căn nhà đắc địa có thể đẻ ra tiền đó? Chủ nhà. Vậy mà cho đến hôm nay, đã 51 năm sau ngày giúp đỡ đó, đảng vẫn còn buộc chủ nhà phải hy sinh đi căn nhà của mình. Nhà mang tiếng là của chủ, đất mang tiếng là của chủ nhưng quyền sử dụng là của đảng (giống kiểu “đất đai sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý”). Chủ nhà là ân nhân, đảng là kẻ hàm ơn, ấy vậy mà hôm nay chính ân nhân lại phải quỳ lạy kẻ hàm ơn ban cho mình những thứ vốn thuộc về mình. Không biết ông chủ quán Phở Bình kia có thấy chua chát không nhỉ?

Phải công nhận là, ông chủ Phở Bình đã đóng góp một phần cho cái chiến thắng của đảng. Sau chiến thắng ấy ông chủ tiệm phở này lại gồng mình chiến đấu với tử thần còn nhà cửa thì lại phục vụ cho đảng. Trong khi đó, trên thượng tầng chính trị của đảng này, bọn hàm ơn ông đã dùng những đồng tiền xương máu của dân trong đó có tiền thuế của ông để đi sang Ấn độ chơi bời, chơi chưa đã chúng lại “quá cảnh” sang Anh chơi tiếp. Chơi thỏa tích chúng lại mang đại dịch về nước đổ trên đầu nhân dân. Không biết ông chủ Phở Bình kia có nhận ra thực trạng như thế không? Không biết như thế đã đủ làm cho ông sáng mắt chưa nữa?

Đỗ Ngà

Image may contain: 2 people, text

DỖ DÀNH CŨNG KHÁC

Image may contain: 1 person, standing, dog, hat, tree, outdoor and nature
Nguyễn Ngọc Tư

“Họ còn phải cố tới chừng nào, trên mảnh đất nhàu nát bởi bão lũ. Nhưng cuộc biển bị bức tử, sông chết mòn này đâu phải bởi trời…”

DỖ DÀNH CŨNG KHÁC

(Nguyễn Ngọc Tư)

Thằng em họ bán đất bỏ xứ đi sau bốn mùa tôm thất bát, không phải tự dưng bạn nghĩ cái kết cuộc cả nhà nó đùm gói lên xe đò đi miền đông làm mướn cũng có phần lỗi của mình. Mùa đầu nó trắng tay, bạn bảo không sao đâu. “Rồi xui rủi sẽ qua, ngày mai là ngày mới”, bạn nói vậy ở mùa hai. Mùa ba em trắng tóc với những món nợ như thòng lọng treo trước mặt, bạn vẫn khăng khăng trời đâu phụ người ta hoài.

Bây giờ nhớ lại, cái gọi là động viên, lại giống như ru thằng em ngủ quên trong ảo tưởng. Bởi lúc nói những lời hời hợt đó, cả hai ngồi ngay dưới bến, ngó dòng sông vẫn cợn phù sa, nhưng sắc nước bầm lại, xanh xám như con bịnh lâu ngày. Đồng tôm của thằng em chỉ cách những ống xả thải của mấy nhà máy chế biến thủy sản chừng chục cây số, và khoảng cách chừng đó về phía Bắc, là chợ, nơi còn hàng ngàn căn nhà dầm chân trên quãng sông nhuộm nước đen trong bao nhiêu tắm giặt, rác rến.

Lạc quan cho mấy, cũng biết con sông mà chị em bạn từng tắm mát của ba mươi năm trước, nơi những người đàn bà xóm Lá giặt áo gội đầu, dòng nước tinh sạch ấy không bao giờ trở lại. Giờ rửa chân còn ngại, nói gì đến lấy nước đó làm chỗ sống cho tôm, vốn là loại đỏng đảnh khó chiều. Vậy mà bạn vẫn bỏ qua thực tại, dỗ lấy được, giống hệt dân xóm Lá động viên nhau sau những rằm những ba mươi giở lú chỉ thấy toàn rác và bọt nước, rằng không sao đâu, biết đâu mùa tôm đang chờ ở con nước tới.

Cũng những con người này, hồi còn làm lúa vụ một vụ hai, có năm mưa dầm nhấn chìm ruộng sạ, họ nói có sao đâu, còn chút lúa đít bồ, nay mai nước rút ủ giống lại. Có quãng bắn nhau dữ quá, họ phải bỏ xóm ra chợ tản cư, tự nhủ không sao đâu, bom đạn rồi cũng tạnh (nghe nói bom mắc lắm, tiền đâu mà mua dội xuống hoài), chừng ngừng chiến lại về vườn lên liếp trồng rau. Còn đất còn sông là còn hy vọng.

Những lời khích kệ kiểu đó bắt rễ từ đáy lòng, nở trên môi, như một cách đỡ nhau đứng dậy, khi căn nhà trong xóm bị bom vùi, khi người đổ xuống vì đạn lạc, khi cơn bão đi qua, mùa giáp hạt quá dài. Mấy chữ “không sao đâu”, “kệ nó, tính sau, sớm mai mặt trời lại mọc” mang tinh chất của hy vọng, cơ hội làm lại, tin vào sự từng trải trước bất trắc ở đời. Ông trời đâu có xéo xắt con người ta mãi được, ý nghĩ ấy như đức tin.

Coi lại, dân xứ mình dễ dỗ. Mấy cuộc chiến qua, xương thịt mất đi được yên ủi bởi tấm bằng tổ quốc ghi công treo vách, một chút tiền cho người thân, buổi thăm chớp nhoáng nhân ngày lễ. Bên thất trận, vẫn những bó xương buồn hiu, được vỗ về bằng một vài đại lễ cầu siêu, rất lâu sau. Và người bị bứt, bị nhổ khỏi rừng ruộng, bị ru ngủ trong những khu tái định cư sực mùi vôi mới quét, để thức dậy thấy mắt cay chẳng biết sinh kế ra sao, kiếm ăn cách nào với cuộc đời phía trước.

Chỉ trẻ con mới khiến người lớn biến dỗ dành thành nghệ thuật. Đứa trẻ tập xe đạp xước gối sẽ nhớ ba nó vừa thổi vào vết thương vừa nói, “cái thẹo này chắc tự hào lắm, nhờ nó mà cu Tí biết chạy xe”, hay cậu học trò yếu đuối không quên điểm mười của ông thầy thể dục dù cậu về đích sau cùng, “bởi vì em đã không bỏ cuộc”. Cũng là một cách bảo con nín đi, mẹ lại nói có muốn uống chút sữa không, khóc nhiều thì phải bù nước.

Bạn từng nghĩ cuộc san sẻ khó nhằn nhất là với ai đó vừa tiễn người thân về đất. Nói với bà mẹ vừa mất con rằng thôi cứ nghĩ duyên nợ với nhau chỉ chút này, hay “thằng nhỏ vẫn ở đâu đây, chỉ cần mình tin là có”, thực chất là sáo mòn. Rồi nhận ra, với một số nỗi đau, góp mặt đã là vỗ về, ngồi im lặng bên họ, nghe tổn thương lên tiếng, không nhất thiết phải nói gì, nhất là những lời vô nghĩa.

Từ biển bị bức tử, lại thấy dỗ dành những con người bị mất biển kia cũng khó kém gì. Tới với họ, ngồi nghe nỗi mặn, không xoa dịu là bao. Nói “đêm rồi sẽ qua”, có khi bị đánh chảy máu mũi, bị phỏng rát dưới bao ánh nhìn thù nghịch, “rốt cuộc thì mi chọn bên nào?”. Bởi những con người đó, kể cả đứa trẻ vừa mới chào đời kia, sẽ không chờ được ngày biển hồi sinh, trở lại như hồi chưa bị đầu độc.

Bảo “không sao đâu” là lừa gạt, “sẽ có cách” là trì hoãn (thực chất là chẳng có cách nào), nhưng nói “khổ gì cũng trải qua rồi, cố chịu thêm chút nữa” thì đã bước qua ranh ác. Họ còn phải cố tới chừng nào, trên mảnh đất nhàu nát bởi bão lũ. Nhưng cuộc biển bị bức tử, sông chết mòn này đâu phải bởi trời. Thật không biết an ủi gì cho phải với những người trước mặt là núi chắn, biển chết sau lưng, chỉ còn những đám mây trên đầu, lủ khủ nhưng không ăn được.

Đời sống dời đổi không ngừng, nên vỗ về nhau cũng không thể xài cách cũ. Ngoài những ưu phiền tự nhiên như tuổi già, bệnh tật, quanh bạn ngó đâu cũng thấy người cần được dỗ, như thanh niên xóm Lá lần lượt bỏ xứ đi làm mướn, thằng bạn bị lọt hố ga gãy mấy cọng xương sườn, bên nhà em chồng trận mưa nào cũng ngập vì nước ngoài đường tràn vào.

Tới lúc nào đó, mạnh ai nấy tự dỗ mình, chứ còn sức đâu mà ủi an nhau. Khi ấy người ta ru tổn thương bằng gì khi “không sao đâu” đã hoàn toàn vô dụng. Nhưng cách nào thì dỗ dành ai đó đang đau, tuyệt đối, không thể nào, bằng bạo lực.

Những con virus đỏ

BAOTIENGDAN.COM

Những con virus đỏ Bởi AdminTD – 12/03/2020 Phạm Đình Trọng 12-3-2020 1. Nhờ có con virus Vũ Hán tấn công thẳng vào đoàn quan chức cấp cao Việt Nam ngồi ghế hạng đắt tiền vi vu trên máy bay thăm thú nước Ấn, nước Anh, dân đ…