NÊN ĐÁNH BẢ ĐỒNG CHÍ THUẤN

NÊN ĐÁNH BẢ ĐỒNG CHÍ THUẤN

Thằng Tư vấn Kinh tế cho Thủ tướng Chính phủ, thằng Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương – nhà ný nựng hàng đầu của đảng cộng sản – đã phơi bày tư cách mạt hạng và khốn nạn !

Bùi Văn Thuận.

(Bài viết của Fb Thuan Van Bui đang bị chặn tại VN. Mong các bạn chuyển tải phổ biến)

Không biết do vô tình hay cố ý, nhưng Nguyễn Quang Thuấn dính virus Trung Quốc và lộ ra cả đống sự thật ở cái được gọi là Hội đồng lý luận Trung ương Đảng CSVN. Những sự thật được phơi ra, như phô bày một phần bộ mặt nham nhở, lưu manh, khốn nạn của Thuấn nói riêng và những kẻ cầm đầu đảng – nhà nước nói chung.

Từ trước đến giờ, những kẻ như Trương Minh Tuấn, Nguyễn Bắc Son, Đinh La Thăng, một bầy tướng công an… vốn hay lên giọng rao giảng các kiểu, đạo mạo dạy dỗ từ trí thức đến dân đen, lên giọng kẻ cả như thánh nhân phán bảo từ già đến trẻ. Tất cả bỗng chốc trở thành trò cười cho thiên hạ khi bị thanh trừng phe nhóm, bị chính đồng chí lột mặt nạ ra giữa công chúng. Hóa ra, rặt một phường ăn cắp, dối trá, lưu manh, tàn ác cả.

Thuấn cũng như các đồng đảng – đồng chí của y, luôn mồm rao giảng về liêm khiết, về chống tha hóa, chống tự diễn biến, tự chuyển hóa. Dĩ nhiên mồm y thở ra là thực hành tiết kiệm là học tập làm theo tay ất ơ cha căng chú kiết nào đó, là lên giọng về đạo đức cách mạng. Và khốn nạn hơn cả khi hắn nghiên cứu và gằn giọng với thiên hạ về lý luận của giai cấp Vô Sản. Hài hước và nực cười nhưng cũng chua xót cho “vô sản” trong đất nước này.

Có lẽ Thuấn sẽ bị đồng chí làm thịt hoặc đánh bả. Nếu cứ để Thuấn thong dong hưởng lạc, ăn và phá ngân sách như vậy, há thiên hạ lại chẳng ỉa lên mặt ông Trọng, người vốn luôn lên giọng về củi lò, về chống tham nhũng, đạo đức, chống tha hóa, tự diễn biến và về những thứ được gọi là học tập làm theo tấm gương? Nếu thịt Thuấn thì nên làm thế nào cho êm đẹp?

1. Đợi Thuấn khỏi bệnh cúm Vũ Hán rồi kỷ luật, cảnh cáo, phê bình, cách chức… Cách này không ổn lắm. Thuấn vốn là thành viên tổ tư vấn của Thủ tướng Phúc, lại là thành phần cộm cán trong cái gọi là Hội đồng lý luận Trung ương của đảng. Cách chức, xử lý, thậm chí lấy cớ khởi tố vậy thì bộ mặt Thủ tướng sẽ ra sao, bộ mặt đảng ra sao khi thằng tư vấn, thằng lý luận chính cho đảng mạt hạng và khốn nạn như vậy? Cách này quả thực không ổn chút nào.

2. Con đường thứ 2 là Thuấn chết đi:

Nếu Thuấn mắc dịch chết bệnh thì quá hay và tiện cho đảng, chính phủ. Tiện cho ông Trọng, ông Phúc và cả các đồng đảng của Thuấn chưa bị lộ. Khi đó truyền thông lề đảng cứ lờ đi, chỉ tập trung vào chuyện Việt Nam có người chết vì đại dịch. Bên tuyên giáo, DLV và các cây viết định hướng trên mạng sẽ tập trung hướng dư luận vào nỗi lo dịch bệnh, tập trung vào chuyện chết là hết, không bới móc người chết nữa… Tất dư luận sẽ lo bênh tật mà quên đi chuyện Thuấn lợi dụng cái gọi là Hội lý luận trung ương để phè phỡn, ăn chơi phá phách, đớp ngập mặt.

Nếu không chết vì mắc dịch, đảng nên bố trí đánh bả cho đồng chí Thuấn chết mất xác đi. Và báo chí, truyền thông, DLV cũng làm như kịch bản Thuấn chết vì đại dịch. Ắt dân sẽ vì nỗi lo đại dịch mà quên hết những thứ khốn nạn, xấu xa của Thuấn và tầng lớp chóp bu. Như Trần Đại Quang, Nguyễn Bá Thanh, Phạm Quý Ngọ đấy thôi, chết xong là giữ được tài sản cho vợ con, các đồng đảng- đồng chí cũng hân hoan vì không lộ cả đường dây. Nhân dân có chỗ để cười cợt, nhưng là cười đồng chí chết, chứ các đồng chí còn sống thì vẫn có thể tiếp bước những Quang, Thanh, Ngọ, Thuấn mà hưởng lạc, phè phỡn.

Nói tóm lại, Thuấn còn sống là không ổn chút nào, chắc chắn dư luận sẽ nghi ngờ thậm chí là khẳng định và chửi thẳng mặt Thủ tướng chọn thằng tư vấn Thuấn như CCC. Dân sẽ chửi và dí đủ thứ vào cái gọi là lò của ông Trọng. Dĩ nhiên các lời lẽ của ông Trọng về chống tham nhũng, chống tha hóa biến chất, chống xa hoa, chống suy thoái, chống tự diễn biến- tự chuyển hóa sẽ chỉ là lời chém gió của kẻ chuyên nói phét. Dư luận coi mồm ông Trọng chẳng khác gì cái “trôn trẻ”. (Nói trắng ra là như đít trẻ con, ỉa đái bất chấp mọi lúc mọi nơi, không thể kiểm soát và tin được).

Fb Thuan Van Bui

*
Copy từ FB Xuan Ly
https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=10216450623557444&id=1212323789

Image may contain: 3 people, people sitting and indoor
Image may contain: 2 people

VÌ SAO MAFIA JONATHAN HẠNH NGUYỄN CÓ “XIỀNG” 360.000 USD THUÊ MÁY BAY

Lê Vi

Ở Việt Nam, có một doanh nghiệp nhà nước độc quyền tới 21 cảng hàng không, 1 năm doanh thu 16.000 tỷ nhưng lãi tới 7.500 – 8.000 tỷ đồng, tức là làm ra 2 đồng lãi 1 đồng. Một mức siêu lãi mà kể cả buôn ma tuý cũng không bằng. Độc quyền cảng hàng không từ dịch vụ cất hạ cánh, chỗ đậu máy bay, thang máy bay đến bát mì, chai nước… với giá cắt cổ nhưng chất lượng phục vụ cực kì tồi tàn.

Đó là Tổng công ty Cảng Hàng Không Việt Nam (ACV), một tập đoàn kinh tế “nửa nạc, nửa mỡ”. Mang tiếng là tập đoàn nhà nước, sở hữu một lượng tiền khủng khiếp, lại được độc quyền “một mình, một ngựa” chiếm đoạt toàn bộ các sân bay lớn, nhỏ trên khắp cả nước, nhưng lại cấu kết với tập đoàn tư nhân để trục lợi, biến tài sản nhà nước, tài sản nhân dân, kể cả an nguy an ninh quốc gia thành của riêng. Tiền thì cứ thu vào, nhưng đường băng sân bay và cơ sở hạ tầng sân bay trên khắp cả nước cứ liên tục xuống cấp đáng báo động.

Câu hỏi đặt ra là, tiền đã đi đâu và thế lực nào đứng sau cùng lãnh đạo ACV làm những việc này?.

Đó là bố già mafia kinh tế Jonathan Hạnh Nguyễn, Chủ tịch tập đoàn Liên Thái Bình Dương IPPG, thường được biết đến với cái tên ông vua hàng hiệu Việt Nam, bố chồng Tăng Thanh Hà.

Trong khi ACV độc quyền các cảng hàng không, thì Jonathan Hạnh Nguyễn cũng độc chiếm toàn bộ hệ thống bán hàng và dịch vụ hàng không ở các sân bay lớn nhỏ, đặc biệt là Tân Sơn Nhất. Ngay sau khi Công ty cổ phần dịch vụ Hàng không Sân bay Tân Sơn Nhất (SASCO) vừa cổ phần hóa, thì Jonathan Hạnh Nguyễn cấu kết với lãnh đạo tập đoàn mẹ của SASCO là ACV đã bưng bít thông tin, để Jonathan chiếm đoạt cổ phần và biến thành cổ đông chiến lược. Đổi lại lãnh đạo ACV cũng nhét vô vàn con cháu, người thân chiếm giữ các chức danh quản lý tại SASCO. Đây là 1 cú bắt tay ngầm đầy bẩn thỉu, cho thấy sự lũng đoạn của Johnathan Hạnh Nguyễn trong lĩnh vực kinh doanh hàng không là ghê gớm như thế nào.

Vậy Jonathan Hạnh Nguyễn đã dùng thủ đoạn nào để thâu tóm SASCO, “mỏ vàng lộ thiên” của Tập đoàn ACV?

Năm 2014 khi SASCO tiến hành cổ phẩn hóa, nếu cạnh tranh công bằng, công khai, thì có hàng chục doanh nghiệp sẵn sàng bỏ ra cả nghìn tỷ đồng để sở hữu cổ phần, thế nhưng Jonathan Hạnh Nguyễn đã ma mãnh lợi dụng sự tiếp tay của quan chức Bộ GTVT thời kì đó cùng sức ép của một vị quan lớn khiến cho chỉ 1 mình Johnathan Hạnh Nguyễn và Tập đoàn IPPG được mua toàn bộ cổ phần bán ra, với mức giá rẻ mạt 310 tỷ đồng cho hơn 23% cổ phần.

Ngay sau đó 1 năm, các ông lớn của Bộ GTVT lại tiếp tục cho phép Johnathan Hạnh Nguyễn mua thêm toàn bộ cổ phần SASCO sau khi ACV tiếp tục thực hiện chủ trương thoái vốn. Đến tháng 4/2017, Jonathan Hạnh Nguyễn đã chiếm đoạt tổng cộng 45.44% cổ phần và leo lên làm Chủ tịch HĐQT SASCO, đáng nói là vợ y, Lê Hồng Thủy Tiên, cũng có 1 chân trong HĐQT, mặc sức mà chi phối con gà đẻ trứng vàng này.

Đầu năm 2019, Đỗ Hữu Nghĩa, một người nhà của Johnathan Hạnh Nguyễn đã được Johnathan hậu thuẫn để tiếp tục mua thêm cổ phần tại SASCO từ các cổ đông khác. Như vậy với 3 công ty gia đình (IPPG, DAFC, ACFC), cùng 3 cá nhân trong gia đình (Johnathan Hạnh Nguyễn, Lê Hồng Thủy Tiên, Đỗ Hữu Nghĩa), Johnathan Hạnh Nguyễn đã chiếm 47,04% giá trị SASCO.

Chỉ cần đợi ACV tiếp tục thoái vốn, thì con gà đẻ trứng vàng SASCO chính thức lọt vào tay trùm mafia Johnathan Hạnh Nguyễn, biến y trở thành ông vua của sân bay Tân Sơn Nhất.

SASCO ngoài độc quyền kinh doanh hàng miễn thuế, dịch vụ phòng chờ, bán lẻ và ăn uống, dịch vụ quảng cáo, và cả những dịch vụ quái đản ở sân bay Tân Sơn Nhất, có giá trị kinh tế vô cùng lớn không thể đong đếm được. Ai từng đi máy bay sẽ biết 1 tô mì tôm ở Tân Sơn Nhất bán gấp 10, 20 lần giá thị trường thế nào và chỉ cần nhân với con số hàng triệu lượt khách ghé qua đây mỗi ngày thì sẽ biết số tiền khủng khiếp ra sao. Chưa kể còn có cả cái cổng sân bay đặt cái BOT to tổ chảng thu tiền ngày đêm của hàng triệu lượt xe ra vào mà giới lái xe vô cùng bức xúc, chỉ vào đón khách, không gửi xe cộ gì cũng bị cái BOT đó thu phí.

Đó là chưa kể, SASCO còn sở hữu 20 dự án đất vàng màu mỡ, nằm ở những vị trí chiến lược, có giá trị thị trường rất lớn rộng 7 triệu m2 trải khắp cả nước. Mà mới năm ngoái, trong kết luận thanh tra tại ACV, Thanh tra Chính phủ chỉ đích danh hàng loạt sai phạm khủng khiếp trong hoạt động đầu tư bất động sản của SASCO khi cố tình “quên” định giá đất vàng, quên không nộp thuế đất, quên luôn định giá 1 khu đất rộng lớn tới 10 ngàn m2 tại Hóc Môn.

Tuy nhiên mọi việc nhanh chóng đâu lại vào đấy, sau khi dùng một đống tiền và thế lực chính trị để bịt miệng, Jonathan Hạnh Nguyễn đã lên truyền thông chối đây đẩy như 1 kẻ vô can không hề có tội lỗi gì. Đã thế sau Sân bay Tân Sơn Nhất, thì Jonathan lại âm mưu thâu tóm tiếp dự án nhà ga ở Cảng hàng không Cam Ranh và hàng loạt các cảng hàng không khác.

Mới đây nhất, Bộ Giao thông Vận tải vừa đề xuất Thủ tướng xem xét mua lại cổ phần nhà nước đã bán ra tại ACV vì lý do an ninh quốc phòng, một lí do rất trời ơi đất hỡi, thế hóa ra lâu nay ACV cùng Johnathan Hạnh Nguyễn đã to gan chiếm luôn cả an ninh quốc phòng của đất nước hay sao?. Đã thế bây giờ muốn mua lại cũng không dễ, khi nhà nước phải bỏ ra 8.000 tỷ đồng cho 4,6% cổ phần mà các cổ đông trong đó có Johnathan Hạnh Nguyễn đang nắm giữ, thế nhưng thời điểm cổ phần hóa năm 2015, số cổ phần này nhà nước bán ra chỉ thu về hơn 1.400 tỷ đồng.

Nghĩa là nhà nước đã bị “lỗ nặng”, ngân sách quốc gia, tiền của nhân dân cứ thể mà chảy vào túi bè lũ Johnathan Hạnh Nguyễn cùng nhóm lợi ích ACV.

Lợi dụng kẽ hở trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, để thao túng giá cổ phiếu, cố ý định giá sai, móc nối ăn chia với nhóm lợi ích hòng chiếm đoạt tài sản nhà nước, tài sản nhân dân bao gồm cả các quỹ đất đai khổng lồ, cũng là cái cách mà Vũ Nhôm, Út Trọc Đinh Ngọc Hệ, Phạm Công Danh, Trần Phương Bình, hay nhiều kẻ khác đã từng sử dụng để đút vào túi riêng, làm thất thoát của nhà nước hàng chục ngàn tỷ đồng.

Thế nhưng ở đẳng cấp cao hơn của 1 ông trùm mafia kinh tế lão luyện, sự móc ngoặc giữa ACV và Jonhathan Hạnh Nguyễn, cùng với sự tiếp tay của quan chức đã biến nhóm lợi ích trở nên khổng lồ, mạnh lên thành những bè lũ mafia tư bản đỏ, lũng đoạn nền kinh tế đất nước, tước đoạt tài sản, tư liệu sản xuất và đời sống của nhân dân, để lại trên mảnh đất nghèo này biết bao tiếng oán than.

Fb Hoai Linh Ngoc Duong

Image may contain: 1 person
Image may contain: 5 people, people standing
No photo description available.
No photo description available.

Truyền thông Trung Quốc tung tin COVID-19 xuất phát từ Mỹ

Truyền thông Trung Quốc tung tin COVID-19 xuất phát từ Mỹ

LOS ANGELES, California (NV) – Truyền thông nhà nước Trung Quốc đang khuếch đại tin virus COVID-19 có thể có nguồn gốc từ Hoa Kỳ.

Truyền thông nhà nước Trung Quốc có lẽ bắt đầu thêu dệt câu chuyện trên từ ngày 27 Tháng Hai. Sau khi ông Zhong Nanshan, bác sĩ chuyên khoa hô hấp nổi tiếng, người khám phá virus bệnh SARS hồi 2003, nói trong một cuộc họp báo rằng: virus COVID-19 đầu tiên xuất hiện tại Vũ Hán nhưng có thể không có nguồn gốc Trung Quốc.

Kể từ đó, các cơ quan truyền thông Trung Quốc bắt đầu lập đi lập lại hay thường xuyên ám chỉ về câu nói đó.

Ông Xiao Qiang, sáng lập tờ China Digital Times và giáo sư phụ tá tại Ðại Học U.C Berkerly, nói với Washington Post rằng: “Cứ lên trên WeChat, trên Weibo, hay tìm trên Baidu, và sẽ thấy toàn là những từ khóa như ‘nhìn kìa xứ khác mắc bệnh’ hay ‘virus nguyên thủy từ Hoa Kỳ’, hay đủ loại thuyết âm mưu khác nhau.”

Ông Xiao nhận xét: “Câu chuyện này được dàn dựng hơn là thông tin bị thiếu sót hay chỉ là một ý kiến của một viên chức mà nó là một dàn đồng ca, một chiến dịch tuyên truyền của chính quyền tung trên các phương tiện truyền thông phổ biến ở mức độ ít khi thấy. Đây là kế hoạch phản công.”

Ông Dali Yang, giáo sư môn chính trị học tại Đại Học Chicago, cho rằng chiến dịch truyền thông này là một nỗ lực nhằm kéo sự chú ý của người dân khỏi cách giải quyết của Trung Quốc đối với sự bùng phát bệnh dịch.

Ông nói: “Mục đích là làm giảm bớt sự chú mục của dân chúng vào cách Trung Quốc vụng về đối phó với bệnh dịch. Đây là một kiểu đổ thừa.” (MPL)

CÒN HƠN ĐẠI DỊCH

Image may contain: sky, plant, outdoor and nature
Image may contain: one or more people, plant, outdoor and nature
Image may contain: text
8 SÀI GÒN

 

CÒN HƠN ĐẠI DỊCH

Đến hết ngày 9/3/2020, số người chết vì virus Vũ Hán đã vượt mốc 4.000 người. Chỉ sau 1 tháng 10 ngày, tổng số người chết vì Corona đã nhiều hơn gấp 5 lần so với số người chết vì Sars năm 2003. Nhưng có một vấn đề nghiêm trọng hơn nhiều so với đại dịch Corona tại Việt Nam.

Miền Tây bước vào đợt hạn mặn nặng nề nhất lịch sử do Trung Quốc chặn dòng Mekong.

Trồng lúa nhưng gặt… rơm là điều vựa lúa cả nước sẽ không chỉ phải đối mặt không chỉ năm trước và năm nay. Trong 10-30 năm nữa, quốc gia sẽ đói gạo theo nghĩa đen, và cả những hậu quả lớn hơn nối nhau hiện ra.

Đừng chỉ coi Trung Quốc là chủ mưu phá hoại đồng bằng bằng chiến thuật liên hoàn đập thuỷ điện trên Mekong. Sai lầm duy ý chí của hệ thống chính trị và sự vô ý thức của người Việt cũng góp phần vào việc “đói hoá” đất nước. Và đừng chỉ nhìn đỉnh hạn mặn lớn nhất trăm năm vào 2019 hay đỉnh hạn mặn mới 2020 của đồng bằng miền Tây mà lo lắng.

Có 6 nguyên nhân lớn khiến quốc gia lâm nguy về lương thực trong tương lai gần.

– Thiếu nước rửa mặn và nước sinh hoạt như đã nói ở trên, do Trung Quốc chặn dòng Mekong.

– Hậu quả của việc đắp đê bao miền Tây nhiều năm và làm lúa ba vụ như đồng bằng sông Hồng kiểu thâm canh khiến chất lượng đất đai đại giảm sau nhiều năm, phụ thuộc nặng vào thuốc bảo vệ thực vậy và phân bón hoá học.

– Tình trạng ô nhiễm môi trường từ việc phát triển công nghiệp, rác thải sinh hoạt và các hậu quả ô nhiễm môi trường vô cùng khó khắc phục. Nó ảnh hưởng không chỉ cây lúa mà đối với tất cả các cây trồng, vật nuôi khác cũng như với chính con người và thiên nhiên.

– Các hậu quả lâu dài của việc hạn chế quyền tư hữu đất đai của nông dân khiến sản xuất trở nên nhỏ lẻ, không tập trung và không hiệu quả.

– Áp lực của tăng dân số và các vấn đề an sinh xã hội tăng nhanh nhưng hạ tầng cơ sở lại yếu kém nhiều mặt so với các vùng khác của cả nước.

– Nước biển dâng nhanh và các hậu quả khác của biến đổi khí hậu với áp lực ngày càng lớn, trong khi cốt nền của đồng bằng sông Cửu Long hiện nay chỉ cao hơn 0,8 so với mặt nước biển.

Trong 6 nguyên nhân nói trên, chỉ có nguyên nhân cuối cùng thuộc về thiên tai. Cả 5 nguyên nhân đầu tiên đều thuộc loại nhân hoạ, mà ở đó các sai lầm chiến lược về chính sách thể hiện rõ. Rất đơn giản, tất cả nguy cơ đều đã được cảnh báo song các chính sách lớn luôn đi theo hướng khắc phục thay vì phòng chống và bứt phá.

Và trong chừng mực nào đó, bên cạnh những cá nhân thực sự muốn bứt phá khỏi cách làm cũ thì tâm lý “trời kêu ai nấy dạ” hằn sâu trong tâm thức người Việt nói chung và cư dân đồng bằng sông Cửu Long nói riêng; cũng làm cho các nguy cơ nói trên hiện ra nhanh hơn.

Đất nước bây giờ cần nhìn thẳng vào thực trạng và đưa ra giải pháp chứ không phải những bản báo cáo “lấy được”, những tuyên bố chính trị lạc quan trái thực tế hay sự đe doạ nhân danh an ninh quốc gia.

Nghĩ thử xem khi có ai đó muốn trồng rừng hay dọn rác, thay vì được ủng hộ chung tay thì họ lại bị hệ thống “hành là chính” làm lỡ việc, bị giám sát hay thậm chí đe doạ; thì còn ai hào hứng muốn làm hay không.

Đi hết đất nước mới thấy kết cấu cơ bản của quốc gia về mặt hạ tầng giao thông đã “lệch trục” đầy mâu thuẫn. Nơi là vựa lúa (miền Tây), là trung tâm kinh tế (miền Đông) lại không được ưu ái phát triển. Trong khi cứ càng gần quốc gia có đường biên giới với Quảng Ninh bao nhiêu thì đường cao tốc, đại lộ càng thênh thang bấy nhiêu.

Không cần chờ đến Tết để lấy cảnh kẹt xe làm ví dụ. Những chuyến xe chở hàng từ miền Tây lên miền Đông rồi đi cả nước vô cùng ì ạch. Trong khi những con lộ thênh thang nối từ biên giới phía Bắc xuống đồng bằng sông Hồng lại rộng thoáng đến mức xe cộ vắng vẻ, nhà cửa thưa thớt và trâu bò… tung tăng.

Mọi thứ đều có liên quan đến nhau và chỉ trộm nghĩ rằng không thể bỏ rơi miền Tây. Vì nếu hôm nay người dân miền Tây khóc tại nơi xưa kia là bờ xôi, ruộng mật; thì một ngày nào đó không xa như dự đoán của tôi, người dân cả nước sẽ khóc theo.

Chỉ có đám tư bản đỏ và lũ gian thương nhiều năm nay và vẫn đang hút kiệt sinh khí miền Tây nói riêng và sinh khí quốc gia nói chung là không khóc.

Vì chúng có “thẻ xanh”…

MAI QUỐC ẤN

****
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐANG CHẾT DẦN CHẾT MÒN

Trong khi cả nước đang bối rối trước tai họa rình rập của coronavirus thì có một tai họa còn khủng khiếp hơn nhiều, một cái chết được báo trước đang xảy ra, tuy âm thầm nhưng lừng lững tiến tới ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Nếu được hỏi nguy cơ lớn nhất cho sự tồn vong của ĐBSCL là gì, tôi sẽ không ngần ngại trả lời: nước, nước, nước, và nước.

Vấn đề nước đầu tiên ở ĐBSCL là ô nhiễm nguồn nước mặt – cái giá phải trả cho việc sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu quá mức để duy trì lúa vụ 3 và tăng sản lượng nông nghiệp. Thêm vào đó, ô nhiễm từ hoạt động nuôi trồng và chế biến thủy sản làm tình trạng ô nhiễm càng trở nên nghiêm trọng. Trước đây ở đồng bằng hầu như trẻ em nào cũng biết bơi, bây giờ đến nhảy xuống sông tắm còn không dám vì sợ ô nhiễm.

Vấn đề nước thứ hai ở ĐBSCL là việc khai thác nước ngầm quá mức, một mặt là do nước mặt quá ô nhiễm nên không sử dụng được, mặt khác vì tình trạng quản lý yếu kém nguồn tài nguyên “cha chung không ai khóc” này. Khai thác nước ngầm quá mức, cùng với áp lực của các công trình xây dựng và hạ tầng, khiến nền đất bị sụt lún nghiêm trọng, có nơi lên tới 2-3 cm mỗi năm. Nếu tình trạng này tiếp diễn, chỉ trong 20-30 năm nữa, những nơi này sẽ tụt xuống dưới mực nước biển (xem ảnh dự báo ở dưới).

Vấn đề nước thứ ba là sự suy giảm về cả khối lượng và chất lượng nước do mạng lưới chằng chịt hàng trăm đập thủy điện ở thượng nguồn gây ra. Thiếu nước ở ĐBSCL – điều chúng ta đang chứng kiến mấy tuần qua – đã ngày càng trở nên nghiêm trọng trong mùa khô. Mặc dù trong mùa mưa, các đập của Trung Quốc chỉ chiếm khoảng 7% lượng nước trong toàn bộ hệ thống nhưng vào mùa khô, tỷ lệ này có thể lên tới 40-50%, khiến cho lượng nước ở hạ nguồn bị phụ thuộc rất lớn vào việc vận hành các đập của Trung Quốc. Bên cạnh đó, một lượng lớn phù sa và cát bị kìm giữ bởi các đập thượng nguồn – ước lượng hiện nay đã lên tới 50% – cũng làm ĐBSCL mất đi nguyên liệu để bồi đắp cho đồng bằng. Điều này cùng với nạn khai thác cát bừa bãi và vô độ trong nhiều năm khiến tình trạng mất đất và sạt lở ven biển trở nên hết sức trầm trọng.

Vấn đề nước thứ tư là mực nước biển dâng và nhập mặn do biến đổi khí hậu. Hiện nay, mỗi năm nước biển dâng trung bình khoảng 3 – 4 mm. Như vậy, mặc dù không phủ nhận tầm quan trọng của hiện tượng này, song cần nhớ là mức sụt lún do khai thác nước ngầm quá mức và do các công trình xây dựng và hạ tầng gây ra có thể còn cao hơn tới 10 lần. Hơn nữa, việc nhập mặn tuy bất lợi cho lúa nhưng lại có lợi cho tôm, cá và các hoạt động nuôi trồng thủy sản khác vốn đem lại lợi ích kinh tế cao hơn nhiều lần so với canh tác lúa 3 vụ, trong khi không gây biến đổi và tác hại môi trường.

ĐBSCL – nơi cư ngụ của hơn 20 triệu người Việt Nam – đang chết dần chết mòn. Nguyên nhân chính không phải vì biến đổi khí hậu hay do các con đập thượng nguồn, mà vì sự hội tụ và tích tụ của nhiều bất cập chính sách và tập quán nông nghiệp trong suốt qua ba thập kỷ gần đây. Nếu không đảo ngược tình trạng này, viễn cảnh tan rã của ĐBSCL chỉ còn là vấn đề thời gian.

Bạn đã bao giờ thử hình dung khi ấy đất nước Việt Nam sẽ như thế nào và con cháu chúng ta sẽ sống còn thế nào không?

Ảnh 1: Khô hạn khốc liệt đang diễn ra ở ĐBSCL (nguồn UNESCAP)
Ảnh 2: Độ cao so với mặt nước biển của ĐBSCL theo các kịch bản khác nhau (khai thác nước ngầm, khai thác cát, bổ sung phù sa và nước biển dâng). Nguồn https://iopscience.iop.org/art…/10.1088/2515-7620/ab5e21/pdf

VU THANH TU AN

Miền Nam sau 30/4/1975: Khi các nhà sư vỡ mộng

Vào tháng 11/1975, mùa mưa ở miền Nam sắp hết nhưng không khí căng thẳng mà quân giải phóng đem đến thì chỉ mới bắt đầu.

Người miền Nam đi chùa như một thói quen hằng ngày nhưng lúc bấy giờ quân giải phóng đã không nghĩ như vậy. Cách mạng nếu không tịch thu thì cũng ra lệnh đóng cửa các ngôi chùa của khoảng 40.000 tăng ni lúc đó.

Không chùa nào được treo giáo kỳ. Không ngày lễ được tổ chức. Không có ngoại lệ nào cho các nhà sư, kể cả những người từng ngồi tù vì biểu tình chống chiến tranh hay chống chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Đàn áp và lao tù đến ngay sau ngày thống nhất.

12 tăng ni chùa Dược Sư tự thiêu

Vào lúc đó, cách tỉnh Cần Thơ khoảng 30 cây số theo hướng Quốc lộ 1A về hướng Sóc Trăng bây giờ, Đại đức Thích Huệ Hiền, trụ trì Thiền viện Dược Sư, cùng với 11 tăng ni của chùa đang chuẩn bị những ngày cuối cùng của mình.

Tất cả đã cùng nhau tự thiêu tại chùa vào ngày 02/11/1975.

12 tăng ni chùa Dược Sư đã tự thiêu như thế nào? Xác của họ được chôn ở đâu? Và vì sao các tăng ni, trong đó có một người 15 tuổi và một người mới 14 tuổi, lại chọn cách tự vẫn đau đớn như vậy trong khi đất nước vừa mới hòa bình?

Thiền viện Dược Sư là thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN), được thành lập vào cuối năm 1963 sau cuộc tranh đấu chống chính quyền Ngô Đình Diệm

Trong cuộc tranh đấu đổ máu đó, hình ảnh Hòa thượng Thích Quảng Đức, 67 tuổi, điềm nhiên châm lửa thiêu mình ở ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt, Sài Gòn đã làm xúc động thế giới.

Hòa thượng Thích Nhất Hạnh kể rằng sau cái chết dũng cảm của Hòa thượng Quảng Đức, chính quyền thủ đô Hà Nội đã tổ chức lễ truy niệm hòa thượng tại Quảng trường Ba Đình, dân chúng kéo đến đông không khác gì ngày Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập.

Nhưng thảm kịch tại chùa Dược Sư thì đã mau chóng bị vùi lấp.

GHPGVNTN và chính quyền lúc đó đã có những ý kiến trái ngược nhau về bi kịch này.

Theo nhật báo Chicago Tribune, ba tuần sau thảm họa chùa Dược Sư, Hòa thượng Thích Trí Thủ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo của GHPGVNTN lúc bấy giờ, người sau này trở thành Chủ tịch đầu tiên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam vào năm 1981, đã gửi thư đến Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam để khiếu nại.

Hòa thượng Trí Thủ nói rằng cán bộ cách mạng đã tịch thu chùa Dược Sư và cả thi thể của các tăng ni.

Bức thư được gửi cùng với thư tuyệt mệnh của trụ trì Huệ Hiền, trong đó ghi lại tên tuổi của 11 tăng ni và lý do tự thiêu là để yêu cầu chính phủ cách mạng “tôn trọng triệt để tự do tín ngưỡng của các tôn giáo đúng mức”.

Trong thư, ông nói bi kịch chùa Dược Sư xảy ra sau khi cán bộ cách mạng cấm chùa treo cờ Phật giáo và cầu siêu cho những nạn nhân chiến tranh. Các tăng, ni được yêu cầu “ăn và nói một cách bình thường [như mọi người] để học theo những con đường của cách mạng”.

Cán bộ ra lệnh Đại đức Huệ Hiền phải cắt nghĩa cho các tăng ni về “chiến thắng quang vinh và lịch sử của cách mạng”, động viên họ tham gia sinh hoạt chính trị trong các tổ chức của cách mạng lúc bấy giờ.

Hòa thượng Trí Thủ viết trong thư: “Qua vụ việc trên, chúng tôi hy vọng ông [bức thư gửi đến một lãnh đạo của chính phủ] và chính phủ cách mạng sẽ lưu tâm đến những gì đang diễn ra ở cấp cơ sở. Chúng tôi không muốn tin rằng vụ việc đáng tiếc trên cũng như nhiều vụ việc liên quan đến tự do tôn giáo khác phản ánh chính sách của Mặt trận Giải phóng Dân tộc và Chính phủ Cách mạng Lâm thời”.

“… đáng lẽ chúng tôi nên đến gặp ông để trình chi tiết và kín đáo hơn là gửi bức thư này. Tuy nhiên, một cuộc họp như vậy có vẻ là bất khả thi, kể từ khi thống nhất chúng tôi đã xin gặp chính phủ ba lần để nói về quan điểm của giáo hội đối với vấn đề tôn giáo nhưng liên tiếp bị từ chối”.

Tương tự như yêu cầu xin gặp chính phủ cách mạng, bức thư của Hòa thượng Trí Thủ không được hồi đáp.

Sau biến cố 30/4/1975, báo chí trong nước bị chính quyền kiểm soát. Các phóng viên quốc tế đã rời khỏi miền Nam, mọi biến động lúc đó đều không được đưa tin kịp thời. Vì vậy, gần một năm sau, báo chí quốc tế mới đưa tin về thảm kịch ở chùa Dược Sư.

Sau đó, tổ chức nhân quyền Ân Xá Quốc tế đã gửi thư đến Bộ Nội vụ Việt Nam vào tháng 9/1976 để yêu cầu cung cấp thông tin.

Khoảng sáu tháng sau, Bộ Nội vụ đã hồi đáp bức thư đó bằng một giải thích rất bất ngờ.

Chính phủ cho rằng theo lời khai của các nhân chứng thì ông Phạm Văn Có (tên khai sinh của Đại đức Huệ Hiền) đã giết hai ni cô lần lượt vào năm 1972 và năm 1974 sau khi ông ta làm hai người này mang thai, “và vẫn tiếp tục hành động vô đạo đức của mình sau ngày giải phóng”.

Theo tuyên bố của chính phủ, “vì sợ việc làm của mình bị lộ ra ngoài, ông Có đã quyết định tự sát, trước khi đốt chùa và tự thiêu mình, ông đã giết chết 11 người khác trong chùa, trong đó có hai thiếu niên”.

Trong một bài viết vào năm 1992, Hòa thượng Thích Quảng Độ, lúc đó là Tổng thư ký Viện Hóa Đạo của GHPGVNTN, sau này trở thành tăng thống thứ năm của giáo hội, nói rằng ông và các vị hòa thượng Thích Thiện Minh, Thích Huyền Quang không chấp nhận lời giải thích của chính quyền.

Hòa thượng Quảng Độ đã tham gia một cuộc điều tra của chính quyền. Sau cuộc điều tra, ông đã từ chối công nhận bản kết luận của chính quyền vì nội dung kết luận không đúng với bức thư tuyệt mệnh của Đại đức Huệ Hiền.

Bản kết luận điều tra mà chính quyền yêu cầu Hòa thượng Quảng Độ công nhận ghi rõ rằng Đại đức Huệ Hiền đã tự sát cùng “11 người khác” vì các lý do sau: sợ bị cách mạng trừng trị vì đã làm chỉ điểm cho “Mỹ – Ngụy,” không còn lương thực để sống vì trước đó được “Mỹ – Ngụy” chu cấp và sợ chuyện dâm ô với các ni cô bị bại lộ.

Từ việc 12 tăng ni chùa Dược Sư tự thiêu tập thể để đòi quyền tự do tôn giáo (theo nhận định của GHPGVNTN), qua cuộc điều tra của chính quyền đã trở thành một vụ án dâm ô và giết người diệt khẩu.

Nhưng dù lý do là gì đi nữa thì bi kịch tự thiêu tập thể ở chùa Dược Sư cũng đã mở ra hàng loạt vụ tự thiêu sau đó.

Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội

Ngay trước ngày 30/4/1975, nỗi sợ chế độ cộng sản đã khiến hàng vạn người chạy khỏi miền Nam nhưng cũng có không ít gia đình đã chọn ở lại.

Một trong những lý do ở lại vào lúc đó là vì người ta tin rằng nếu không dính líu đến chính trị ở chế độ cũ thì vẫn có thể sống bình yên với cách mạng.

Đối với các tăng ni, phật tử nhiệt thành của khối Ấn Quang thì lại càng có nhiều lý do hơn nữa để ở lại đất nước. Họ là những người đã đổ máu trong những cuộc biểu tình vang dội để chống chiến tranh, chống các chế độ độc tài ở miền Nam.

Với khả năng tổ chức bậc thầy, Ấn Quang đã huy động được một lực lượng rất đông đảo là các tăng ni, phật tử, sinh viên theo chủ trương chống chiến tranh, chống chính quyền miền Nam trong những năm 1960.

Các nhà sư khối Ấn Quang bước đi trên đường Lê Duẩn ngày nay trong một cuộc biểu tình phản đối chính phủ Nguyễn Văn Thiệu vào năm 1967. Ảnh: Co Rentmeester

Giáo sư Nguyễn Long, một phật tử nhiệt thành của khối Ấn Quang và giảng dạy về chủ nghĩa cộng sản ở Viện đại học Vạn Hạnh sau khi lấy bằng tiến sĩ ở Mỹ, cũng đã nghĩ như thế.

Mấy hôm trước ngày 30/4/1975, ông đã phân vân giữa ra đi hay ở lại quê hương.

Sau này, ông đã kể lại cuộc sống ở miền Nam sau ngày 30/4/1975 trong cuốn sách “After Saigon Fell: Daily Life Under the Vietnamese Communists” (Sau khi Sài Gòn sụp đổ: Cuộc sống thường ngày dưới tay những người cộng sản Việt Nam).

Ông Long sinh ra trong một gia đình thuần nông ở Đà Lạt. Khi còn là sinh viên ở Sài Gòn, ông cùng với những sinh viên khác ở tuyến đầu của phong trào sinh viên phật tử chống chính quyền miền Nam từ Ngô Đình Diệm, chính quyền của tướng Nguyễn Khánh rồi chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Ông từng bị bắt giam hai lần và được hai hòa thượng Thích Huyền Quang và Thích Mãn Giác (thuộc khối Ấn Quang) can thiệp thì mới được thả ra.

“Do đó, tôi không cảm thấy mình cùng loại với những người miền Nam mà cộng sản cho là ‘ngụy quân’ hay ‘ngụy quyền’, nghĩa là có liên quan trực tiếp hay gián tiếp với chế độ cũ hay chính sách của Mỹ. Nhiều người Việt ở các vị trí xã hội khác cũng có thái độ tương tự. Điều này đặc biệt đúng với các luật sư, bác sỹ, kỹ sư, nhà báo hay nhà văn. Hầu hết họ cảm thấy mình không phạm tội và không có mối quan hệ với chính trị trong quá khứ, do đó không lý do để rời khỏi Việt Nam”.

Và hơn nữa, ông là người có cảm tình với chủ nghĩa cộng sản. “Tôi thú nhận rằng trong một vài khía cạnh, chủ nghĩa cộng sản đối với tôi đã ngày càng hoàn thiện hơn, thực tế hơn và nhân văn hơn bất kỳ học thuyết phương Tây hay phương Đông nào mang lại”.

Nhưng mọi lý do kể trên đã thành con số không sau ngày 30/4/1975.

Ông Long buộc phải đi học tập chính trị. Cán bộ liên tục theo dõi ông, hàng xóm và kể con trai của ông bị chính quyền dùng để dò la xem ông đã nói gì, làm gì lúc ở nhà. Vì cách mạng cho rằng “ngụy thầy” (false educator) còn nguy hiểm hơn là “ngụy quân”.

Chính quyền đã thành lập hàng loạt các “hội yêu nước” để giáo dục và phân loại các thành phần công dân. Các phiên đấu tố diễn ra ở khắp nơi. Tất cả các hoạt động đi lại đều phải xin phép. Mọi người trong nhà ông đều phải trình diện vào khung giờ nhất định.

“Nhận thức của mọi người về bản thân mình và những người theo cộng sản đã khác nhau quá xa. Chúng tôi đã sớm thấy rằng xã hội dưới chế độ cộng sản mọi thứ đã bị chính trị hóa nhiều hơn bất cứ đánh giá nào của chúng tôi. Theo quan điểm của cộng sản, không có chỗ cho một cá nhân phi chính trị”.

“Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội” là một tuyên truyền phổ biến lúc bây giờ.

Trong hồi ký của ông Long, chính quyền lúc đó đã dùng khẩu hiệu này để gắn kết giữa chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa cộng sản. Ngoài ra, chính quyền còn cố gắng đồng nhất chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa yêu nước, một người yêu nước thì phải là một người cộng sản, nếu anh ta không phải là cộng sản thì anh ta không yêu nước.

Sau hai lần vượt biên thất bại, ông đưa gia đình vượt biên thành công đến trại tị nạn ở Indonesia vào năm 1979.

Bối cảnh ngay sau 30/4/1975 có thể giải thích một phần nào đó vì sao khối Phật giáo trước năm 1975 được xem là có cảm tình với cách mạng lại phải hứng chịu những trận đàn áp không nương tay của chế độ mới.

Ấn Quang dưới tay chính quyền cộng sản

Sau cuộc điều tra về bi kịch tự thiêu tập thể ở chùa Dược Sư, bất đồng giữa chính quyền và khối Ấn Quang ngày càng gia tăng.

Vào đêm ngày 06/04/1977, sau khi tịch thu cô nhi viện Quách Thị Trang vào tháng Ba trước đó, công an đã bố ráp chùa Ấn Quang với khoảng 200 nhà sư đang tu tập ở đây.

Trong cuộc bố ráp này, các hòa thượng Quảng Độ, Huyền Quang, Thanh Thế, Thiện Minh, Thuyền Ấn, Thông Huệ và nhiều người khác đã bị bắt.

Ngay sau đó, Phái đoàn Phật giáo Hòa bình tại Pháp (do Thiền sư Thích Nhất Hạnh đứng đầu) đã tuyên bố rằng có 120 tăng ni miền Nam sẵn sàng tự sát để phản đối chính quyền đàn áp tôn giáo.

Lúc bấy giờ, báo chí độc lập không còn hiện diện ở miền Nam như trước kia. Cách mạng đã kiểm soát mọi kênh truyền thông. Các vụ đàn áp Phật giáo phải mất rất nhiều thời gian mới đến được báo chí quốc tế.

Khoảng sáu tháng sau cuộc bố ráp vào chùa Ấn Quang, Hòa thượng Thích Mãn Giác, Phó hiệu trưởng của Viện đại học Vạn Hạnh, Ủy viên trung ương trong GHPGVNTN, đã vượt biên đến Paris (Pháp) để tố cáo cuộc đàn áp đạo Phật đang diễn ra rất trầm trọng ở miền Nam.

Ông nói mình đã mang theo nhiều tài liệu về xung đột giữa Phật giáo và chính quyền cộng sản.

Hòa thượng Thích Mãn Giác. Ảnh: Việt Báo.

“Chế độ mới đang theo đuổi chính sách triệt hạ các cộng đồng tôn giáo ở đất nước chúng tôi. Hàng trăm các tăng ni bị bắt. Hàng trăm các ngôi chùa bị tịch thu rồi bị biến thành cơ quan hành chính. Các tượng phật bị hạ xuống để đập phá. Không được tổ chức lễ Phật Đản như một ngày lễ quốc gia”, Hòa thượng Mãn Giác nói với báo giới vào tháng 11/1977.

“Đảng Cộng sản dường như không hiểu cũng không khoan dung về ước vọng sâu sắc nhất của chúng tôi. Chúng tôi đã rất đau khổ vì bị ngược đãi, kỳ thị và đàn áp”.

Phong trào Phật giáo của khối Ấn Quang “không tranh giành quyền lực chính trị… mà đòi hỏi sự khoan dung và quyền được tham gia xây dựng đời sống không phải như một cái máy mà bằng khối óc và trái tim”.

Hãng tin Reuters lúc đó đã dẫn tin rằng khối Ấn Quang đã bị mất sức ảnh hưởng ở miền Nam và bị chia rẽ trầm trọng khi kể từ khi nhà nước thành lập Hội Phật giáo Yêu nước.

Hòa thượng Mãn Giác nói Hòa thượng Thích Trí Quang, một trong nhà sư nổi tiếng nhất thời Việt Nam Cộng Hòa thuộc khối Ấn Quang vì chống chiến tranh và chống chế độ cũ rất quyết liệt, có lẽ đang bị cách mạng giam giữ tại chùa.

Trích từ bài viết Giữa hai làn đạn của Nguyễn Hữu Thái đăng trên Thư Viện Hoa Sen. Ảnh: Tạp chí LIFE.

Cuộc chiến sống còn

Mặc dù từng đổ máu trong các cuộc biểu tình những năm 1960, từng bị cảnh sát quốc gia tra tấn, nhưng các nhà sư khối Ấn Quang đã kinh hồn bạt vía vì những màn tra tấn của công an cộng sản.

Trong một bài phỏng vấn Hòa thượng Thích Thiên Quang (hoặc Thích Thiện Quang), phó trụ trì chùa Ấn Quang, đã tiết lộ về màn tra tấn của chính quyền sau khi ông vượt biên đến Indonesia vào tháng 6 năm 1979.

Sau năm 1975, ông cho biết mình đã bị cách mạng giam cầm trong hai năm trước khi được thả vào năm 1977.

Ông nói rằng chuồng cọp của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu dùng để tra tấn không là gì so với màn tra tấn mà Hòa thượng Trí Quang trải qua trong nhà tù cộng sản.

Ông cho biết Hòa thượng Trí Quang bị bắt nằm trong một cái hố như quan tài và không thể ngồi dậy trong suốt 16 tháng. Mỗi ngày ông được cho ra ngoài 15 phút để vận động và tắm rửa. Vì vậy mà hai chân của ông bị teo lại khi được cho về chùa vào năm 1977.

Hòa thượng Thiện Quang nói lúc ông rời khỏi Việt Nam thì Hòa thượng Trí Quang vẫn đang phải ngồi xe lăn, học cách đi lại bằng đôi nạng và bị giam giữ tại chùa. Trong số những người bị bắt của khối Ấn Quang chỉ có ba người nữa được thả ra và cũng bị cấm ra khỏi chùa.

Vào lúc đó, chùa Ấn Quang bị canh giữa nghiêm ngặt và phật tử chỉ được đến chùa thắp nhang hai lần trong tháng.

Chùa Ấn Quang hay còn gọi là Tổ đình Ấn Quang là nơi chứng kiến các hoạt động sôi nổi của Phật giáo vào những năm 1960. Ngày nay, chùa nằm trên đường Sư Vạn Hạnh, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh chụp chùa vào năm 1998. Ảnh: Australian War Memorial.

Vào cuối năm 1978, sau khi Hòa thượng Thiện Minh đã chết trong trại giam, chính quyền đưa các hòa thượng của khối Ấn Quang ra xét xử với nhiều tội danh khác nhau. Dưới áp lực quốc tế, các hòa thượng Quảng Độ và Thanh Thế được trắng án. Hai hòa thượng Huyền Quang và Thuyền Ấn bị tuyên án hai năm tù treo. Hòa thượng Thông Huệ bị tuyên án ba năm tù giam.

Hòa thượng Thiên Quang nói rằng mâu thuẫn giữa Phật giáo và chính quyền sau năm 1975 đã bắt đầu từ vụ 12 tăng ni chùa Dược Sư tự thiêu ở Cần Thơ.

Ông cho biết trong năm 1977 và 1978, miền Nam đã có thêm 18 tăng ni khác tự thiêu riêng lẻ. Ông cũng cho biết rằng các tôn giáo khác như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Thiên Chúa giáo cũng đang bị đàn áp nặng nề không kém gì Phật giáo.

Khi được hỏi tại sao các nhà sư Ấn Quang phải tranh đấu với chế độ cộng sản sau khi đã gây ra quá nhiều rắc rối cho chính quyền ông Thiệu, ông trả lời: “Dưới chế độ của ông Thiệu, chúng tôi chỉ chống tham nhũng mà thôi. Bây giờ, dưới chế độ cộng sản, chúng tôi không thể tồn tại được. Giờ đây, chúng tôi phải chiến đấu để sống hoặc chết”.

Ngay sau ngày 30/4/1975, Phật giáo miền Nam đã bước chân vào một bi kịch mới. Số vụ các tăng ni đã chết vì tự thiêu bị che dấu. Tổng số các tăng ni bị giam giữ, chết trong trại giam từ sau ngày 30/4/1975 không được tiết lộ. Tổng số các chùa bị đập phá và tịch thu không được công bố. Chính phủ chưa bao giờ thừa nhận đã đàn áp Phật giáo miền Nam.

Đến những năm 1990, các vụ tự thiêu vì đàn áp tôn giáo vẫn còn tiếp diễn.

LUATKHOA.ORG

Miền Nam sau 30/4/1975: Khi các nhà sư vỡ mộng

Vào tháng 11/1975, mùa mưa ở miền Nam sắp hết nhưng không khí căng thẳng mà quân giải phóng đem đến thì chỉ mới bắt đầu. Người miền Nam đi chùa như một thói quen hằng

Sáng 2/3 Thượng thư Dũng bắt tay 27 thành viên Nội các chính phủ

Image may contain: 1 person

Sang Nguyen

 

Phạm Minh Vũ

Sáng 2/3 Thượng thư Dũng bắt tay 27 thành viên Nội các chính phủ, gồm Anh Bảy các phó thủ tướng các bộ trưởng, và lãnh đạo đảng trong đó có Trần Quốc Vượng nhân vật quyền lực số 2 sau cụ tổng.

Nói chuyện trực tiếp với Anh Bảy mặt đối mặt.

Sau buổi họp chính phủ, Bộ của thượng thư Dũng mở tiệc chiêu đãi sau chuyến công tác Ấn-Anh về, mời cô ca sỹ nhạc đỏ nổi tiếng Bùi Lê Mận hát, cổ ngồi cùng Thượng thư Dũng, Anh Thuấn dương tính Covid-19 hiện đang bị cách ly, người từng ngồi với Cô Nhung và Thượng thư Dũng trên máy bay là khách mời nhưng không dự tiệc.

Sau đó cô Mận tới phòng thu 41 Bà Triệu cùng Đoàn Ca Nhạc Mới cùng chỉ huy trưởng Doãn Nguyên ngày 5/3, bây giờ tất cả đều bị đề nghị tự cách ly, cấm không cho lên múa hát gì sất.

Hiện tại, Tw đảng, chính phủ chẳng ai nghĩ tới làm việc gì nữa. Chỉ mong test 2 lần để biết Mác có gọi tên hay không.

Bệnh viện Hồng Ngọc tạm dừng hoạt động, hơn 500 người phải cách ly

Hà Nội đã cách ly toàn bộ 18 y bác sĩ của Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc có tiếp xúc gần với bệnh nhân nhiễm COVID-19 thứ 17 của Việt Nam, đồng thời cách…

M.TRITHUCVN.NET

Bệnh viện Hồng Ngọc tạm dừng hoạt động, hơn 500 người phải cách ly – Trí Thức VN

Hà Nội đã cách ly toàn bộ 18 y bác sĩ của Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc có tiếp xúc gần với bệnh nhân nhiễm COVID-19 thứ 17 của Việt Nam, đồng thời cách…

Hồi Nhỏ Tôi Đã Tin

Chau Nguyen Thi is with Vạn Hạnh Huỳnh.
Hồi Nhỏ Tôi Đã Tin

…..
…..
1. Hồi nhỏ tôi đã tin rằng Bác Ấy đã ra đi tìm đường cứu nước. Nhưng lớn lên mới biết rằng Bác Ấy đi xuất khẩu lao động và đã mang Cộng Sản về với chúng ta hôm nay.

2. Hồi nhỏ tôi đã tin rằng cộng sản miền bắc đã chống Mỹ cứu nước và giải phóng dân tộc. Nhưng lớn lên tôi mới biết rằng họ đã xâm chiếm một quốc gia độc lập có chủ quyền.

3. Hồi nhỏ tôi đã tin rằng cuộc nội chiến là Chống Mỹ Cứu Nước. Nhưng lớn lên tôi mới biết rằng chúng ta đã hy sinh gần 4 triệu người cho Liên Xô, cho Tàu

4. Hồi nhỏ tôi đã tin rằng dân Miền Nam rất ghét chính quyền Cộng Hòa. Nhưng lớn lên tôi mới biết rằng ai cũng yêu mến chính quyền Sài Gòn và sợ mất đi một chính phủ dân chủ thật sự.

5. Hồi nhỏ tôi đã tin rằng Lê Văn Tám là một cậu bé dũng cảm. Nhưng lớn lên tôi mới biết rằng thằng bé đó chỉ là nhân vật hư cấu không tồn tại.

6. Hồi nhỏ tôi đã tin rằng các quan chức đang phục vụ nhân dân. Nhưng lớn lên tôi mới biết rằng họ đang cai trị nhân dân và trở nên giàu có trong khi dân ngày càng nghèo.

7. Hồi nhỏ tôi đã tin rằng các cô chú của tôi đã sống ở nước ngoài từ lâu. Nhưng lớn lên tôi mới biết rằng họ đã đi vượt biên để trốn chạy Cộng Sản.

8. Hồi nhỏ tôi đã tin rằng Việt Minh chiến đấu để giành độc lập. Nhưng lớn lên tôi mới biết rằng các nước xung quanh đã được trả độc lập mà không mất một mạng sống nào.

9. Hồi nhỏ tôi đã tin rằng Mỹ là một đế quốc. Nhưng lớn lên tôi mới biết rằng Mỹ là một món quà của thượng đế ban tặng cho nhân loại để bảo vệ tự do.

10. Hồi nhỏ tôi đã tin rằng người Việt Nam được bạn bè quốc tế yêu mến và ngưỡng mộ. Nhưng lớn lên tôi mới biết rằng người Việt đi đâu cũng bị chê bai và khinh bỉ.

11. Hồi nhỏ tôi đã tin rằng người Việt Nam rất thật thà. Nhưng lớn lên tôi mới biết rằng người Việt hiện tại rất dối trá.

12. Hồi nhỏ tôi đã tin rằng người Việt Nam xấu xí vì bản chất . Nhưng lớn lên tôi mới biết rằng vì chế độ độc tài nên họ mới vậy.

13. Hồi nhỏ tôi đã tin rằng yêu nước là phải yêu đảng. Nhưng lớn lên tôi mới biết rằng hai thứ đó chẳng liên quan gì đến nhau.

14. Hồi nhỏ tôi đã tin rằng báo chí nói sự thật và liêm chính. Nhưng lớn lên tôi mới biết rằng họ là công cụ tuyên truyền cho đảng để giúp chế độ độc tài tồn tại.

15. Hồi nhỏ tôi đã tin rằng nhiệm vụ của Công An là bảo vệ dân. Nhưng lớn lên tôi mới biết rằng họ chỉ bảo vệ chế độ và vòi tiền.

16. Hồi nhỏ tôi đã tin rằng dân Bắc 54 cũng như bao dân khác. Nhưng lớn lên tôi mới biết rằng họ đã bỏ quê trốn Cộng Sản để vào Nam.

17. Hồi nhỏ tôi đã tin rằng tôi chỉ cần học giỏi thì sẽ thành tài. Nhưng lớn lên tôi mới biết rằng phải có quan hệ, phải có tiền tệ và phải là con ông cháu cha.

18. Hồi nhỏ tôi đã tin rằng xã hội Việt Nam luôn công bằng. Nhưng lớn lên tôi mới biết rằng chúng ta đang sống trong một xã hội đầy bất công.

Sun Moon

Image may contain: outdoor

Sông Cạn

Sông Cạn

1 song can

Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai.

Trần Tế Xương


Năm 1979, nhà văn Nguyên Ngọc được bè bạn ở Cambodia mời xuống thuyền đi dạo chơi và thưởng thức một bữa cháo cá no cành hông luôn. Ra về, ông nói chắc như bắp: “Cá Biển Hồ, cứ vục tay xuống nước, túm lên ngay được một con, to tướng, béo ngậy.”

– Bộ thiệt vậy sao?
– Vâng, quả là có đúng như thế thật!

Chả thế mà cái hồ nước ngọt mênh mông này đã từng nuôi sống mấy triệu ngư dân, và là nguồn cung cấp chất đạm chính cho hai phần ba người dân ở Cambodia. Sở dĩ được vậy là nhờ vào dòng Mê Kông, chứ không phải là gì khác.

Bắt đầu từ Tây Tạng nó chảy qua Trung Hoa, Miến, Lào, Thái rồi khi vào đến Xứ Chùa Tháp thì “đụng” Tonlé Sap. Vào mùa nước lớn, áp lực của Mê Kông khiến cho con sông nhỏ bé hơn phải chảy ngược dòng làm tăng thể tích lẫn diện tích Biển Hồ. Tonlé Sap Lake biến thành nơi sinh sống lý tưởng của rất nhiều loài cá nên “cứ vục tay xuống nước, túm lên ngay được một con, to tướng, béo ngậy” không phải là chuyện nói khi vui miệng.

Cách đây cũng chưa lâu lắm, vào hôm 1 tháng 5 năm 2005, một ngư dân ở Bắc Thái còn bắt được một con catfish nặng tới 292 ký ở sông Mê Kông. Tuy thế, dường như, cũng chả mấy ai coi đây là chuyện lạ lùng hay đáng để ngạc nhiên. Có ngạc nhiên chăng là tất cả những điều vừa kể đều nay đã trở thành huyền thoại.

Bây giờ thì mấy con giant catfish (và đủ loại cá “khủng” khác nữa) chỉ còn thấy ở … trên bờ. Chúng được người dân địa phương đúc hình bằng xi măng, rồi đặt dọc theo bờ sông  để (coi chơi) làm kỷ niệm – những kỷ niệm buồn!

2 song can

Bữa nay mà Nguyên Ngọc thò tay xuống Biển Hồ thì chỉ còn … bốc được nước thôi vì hằng trăm cái đập lớn/nhỏ xây trên dòng Mê Kong đã chận đường sinh sản của vô số chủng loại di ngư, và khiến chúng đang dần tuyệt chủng.

Năm 2014, lần đầu tiên vào Biển Hồ, tôi đã thấy đồng bào mình nuôi cá thay vì đi lưới. Cùng lúc, những lúc rảnh rỗi, họ cũng bắt ốc (mỗi ký bán được 4000 riels – cỡ một Mỹ Kim) để kiếm thêm thu nhập. Tết rồi, tôi trở lại nhưng không thấy ai chống ghe loanh quanh giữa những bè lục bình để tìm ốc nữa. Hỏi thăm thì nhận được câu trả lời ráo hoảnh: “Còn đâu nữa mà bắt!”

Tôi hay ra vô Biển Hồ nhưng ít khi ở “chơi” lâu lắm. Bia rượu rất hiếm, đã đành; điện cũng khỏi có luôn. Kiều Bào ở ngoài này dùng bình ắc quy là chủ yếu, và chưa ai từng nghe nói tới cái desktop hay labtop bao giờ. Còn tui mà thiếu internet thì chắc chết (chết chắc) nên mắt trước mắt sau là thế nào cũng lật đật giang ghe ra Pursat, rồi đón xe đò chạy về lại Phnom Penh tức khắc.

Vừa tới nơi đã nhận được hung tin (“Hành khách trên du thuyền cập cảng Campuchia nhiễm Covid-19”) nên tôi bay luôn qua Vientiane cho nó đỡ phiền hà. Lên đến thượng nguồn mới hay là tình trạng “sức khoẻ” của sông Mẹ (Mènam Khong, gọi theo tiếng Lào) cũng không được khả quan gì cho lắm!

Khi còn ở Thái Lan, có bữa, đang ngồi lơ tơ mơ hút thuốc lá vặt trên ban công của một cái khách sạn ở Nông Khai thì tôi chợt thấy một con cò trắng giữa sông. Nó đang đứng trên dề lục bình chăng? Không, có thấy bình/bát gì đâu. Hoá ra đoạn sông trước mặt có chỗ cạn gần trơ đáy nên chú cò mới đứng được tỉnh queo trên cát như vậy đó.

Bên Lào cũng không khác. Trụ sở Ủy Ban Sông Mê Kông  (Mekong River Commission – MRC) của nước này nằm sát cạnh bờ. Mấy năm trước, mỗi khi đi ngang qua toà nhà này – vào mùa nước lớn – tôi vẫn nghĩ vui rằng: Nếu đứng từ đây mà quăng cần câu máy, dám bắt được cá lắm nha, gẩn xịt thôi mà. Bữa nay thì đất bồi đã xa ra cả cây số rồi, chiều ngang con sông (cũng là ranh giới thiên nhiên của Thái và Lào) đã thu hẹp lại chỉ còn khoảng còn đôi ba trăm mét là cùng. Giữa trưa, đứng bên bờ này nghe rõ tiếng gà gáy (xao xác) bên kia nước láng giềng mà không khỏi có thoáng chút cảm hoài.

3 song can

Thảo nào mà tổ chức Save the Mekong cảnh báo: “Chúng ta có lẽ là thế hệ cuối cùng có thể chèo thuyền trên dòng sông này,hoặc thậm chí là có thể tưởng nhớ về sự hùng vỹ và rộng lớn một thời của nó.”

Thượng điền tích thủy hạ điền khan! Lào, Thái mà còn khô hạn đến như vậy thì VN – tất nhiên – phải thê thảm hơn nhiều:

– Drought, saltwater intrusion loom in the Mekong Delta 

– Mekong Delta needs urgent measures to prevent drought

– Drought, saltwater intrusion double whammy for Mekong delta

– Mekong đang chết, Việt Nam “chọn” gì?      

– Hạn mặn và ô nhiễm 13 tỉnh miền Tây

– Đồng bằng sông Cửu Long: Kênh rạch cạn kiệt, ruộng đồng héo khô

– Quá đắng và quá chát đồng bằng ơi!

– Đồng bằng sông Cửu Long oằn mình từng ngày đối phó nguy cơ xoá sổ

Nhà nước VN “đối phó với nguy cơ xoá sổ” này bằng cách nào?

Bằng … nghị quyết, quyết định và chỉ thị!

N.Q 20/NQ-CP, ban hành ngày 17 tháng 11 năm 2017: “Đưa ra những chiến lược có tầm nhìn mới, định hướng chiến lược, các giải pháp toàn diện, căn cơ, đồng bộ, huy động tối đa các nguồn lực và sự tham gia của các thành phần kinh tế để phát triển bền vững ĐBSCL.”

Qua năm 2018, VTC NEWS (đọc được vào hôm 20 tháng 6) ái ngại cho hay: “1,7 triệu người đã rời khỏi đồng bằng Sông Cửu Long.” Thế là Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc ký thêm cái Quyết Định 417/QĐ-TTg để ban hành chương trình hành động tổng thể thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng với biến đổi khí hậu.”

Đến năm 2020, sau khi nghe báo cáo nhiều hồ chứa, hồ thủy điện, thủy lợi xuống mức tích trữ chỉ đạt được 20-40 phần trăm (so với mức dự tính) thì T.T Nguyễn Xuân Phúc ra “chỉ thị hỏa tốc về việc triển khai các giải pháp cấp bách phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn.”

Nhà Nước quyền biến và linh động (tới) cỡ đó thì kể như là hết biết luôn rồi!

Chả những thế, sau N.Q 2017 và QĐ 2018, cả thế giới đều bàng hoàng khi biết: “Việt Nam trở thành đối tác với Lào trong dự án thủy điện Luang Prabang.” Bỉnh bút Phú Lộc của Tạp Chí Luật Khoa hốt hoảng đặt câu hỏi: “Đầu tư thuỷ điện ở Lào, Việt Nam chung tay huỷ hoại sông Mekong?”

Câu hỏi này được hồi đáp tức thì:

– S Lê Anh Tuấn, Phó Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Về Biến Đổi Khí Hậu: “Các quan chức Việt Nam đồng lõa với quyết định hợp tác xây dựng dự án thủy điện Luang Prabang phải chịu trách nhiệm lịch sử và chính trị với nhân dân Việt Nam.”

– S Ngô Thế Vinh, tác giả Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng: “Từ nay Việt Nam sẽ chẳng thể còn một tiếng nói chính nghĩa và thuyết phục nào đối với cộng đồng 70 triệu cư dân sống trong lưu vực sông Mekong và trước cả thế giới.”

– Giám Đốc Chương Trình Đông Nam Á, Trung Tâm Nghiên Cứu Stimson, Brian Eyler: “Việc một công ty Việt Nam tìm cách xây dựng đập Luang Prabang trên dòng chính sông Me Kong ở Lào, theo tôi, Việt Nam đang phạm sai lầm lớn… làm điều đó chẳng khác nào Việt Nam tự bắn vào chân mình.”

Nói thế thì e rằng tác giả Brian Eyler đã vô tình đồng hoá đám cái lãnh đạo CSVN hiện nay với cả đất nước và dân tộc này rồi. Chúng tôi chả có lý do gì để “tự bắn vào chân mình” hết. Còn bọn họ thì có thể rót luôn súng đại bác vào di sản của tổ tiên, nếu ra tiền, chứ có quan tâm hay đếm xỉa gì đến vài ba (trăm) con đập ở thượng nguồn.

Tưởng Năng Tiến
3/2020

Virus Vũ Hán: Cố vấn kinh tế của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc “dương tính”

Tin Mừng Cho Người Nghèo

Virus Vũ Hán: Cố vấn kinh tế của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc “dương tính”

Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam và là cố vấn kinh tế của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Giáo sư Nguyễn Quang Thuấn (SN: 1959, Hà Nội) dương tính với coronavirus và đang được cấp cứu tại bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TW cơ sở 2 vào tối ngày 06/03/2020.

Theo báo chí trong nước, đây là bệnh nhân thứ 21.

“Bộ Y tế vừa công bố bệnh nhân Covid-19 thứ 21, là GS-TS Nguyễn Quang Thuấn (1959, Hà Nội). Đây là người ngồi ghế 5A tương đối gần em Nhung 5K. Gs. Thuấn đã được đưa tới Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TW cơ sở 2 vào tối 6/3. Gs. Thuấn nguyên là Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội, Hội đồng lý luận TW; là một trong 16 thành viên Tổ Tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ!”. Nhà báo Lê Nguyễn Hương Trà (một blogger nổi tiếng “Cô gái đồ long”) viết trên facebook cá nhân.

Một Nhà báo khác là Bạch Hoàn (Trung tâm Tin tức VTV24) cũng viết trên trang facebook cá nhân: “Giáo sư Nguyễn Quang Thuấn, người đi cùng chuyến bay, ngồi ghế 5A, hạng C, cùng hàng với Hồng Nhung 17, sáng nay đã có kết quả xét nghiệm dương tính với virus Vũ Hán. Ông Thuấn, bay về rạng sáng 2-3 và ngày 4-3 đã tham dự họp Hội đồng lý luận Trung ương… Tình hình căng như dây đàn.”

Trong phần comment, Nhà báo Lê Nguyễn Hương Trà viết: “Sáng nay nghe các ban Đảng và vp Chính phủ đang loạn hết lên vì từng tiếp xúc Gs. Thuấn, ông nào cũng từng bắt tay.”
Theo Tuổi Trẻ, “Bộ Y tế cho biết bệnh nhân đi công tác tại Anh, trở về trên chuyến bay VN0054 của Vietnam Airlines (cùng chuyến và ngồi gần với bệnh nhân N.H.N), về đến Hà Nội lúc 4h30, được lái xe riêng đón về nhà.” Bệnh nhân N.H.N là cô Nguyễn Hồng Nhung dương tính với coronavirus.

Tuổi Trẻ cũng cho biết thêm, “Ngày 06/03, bệnh nhân có dấu hiệu mệt mỏi và ho khan, chưa điều trị gì. 10 giờ sáng 07/03, bệnh nhân được Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hà Nội lấy mẫu xét nghiệm và chuyển sang Bệnh viện Nhiệt đới trung ương cơ sở 2 bằng xe riêng. Kết quả xét nghiệm dương tính với virus SARS-CoV-2.”

Không rõ lịch trình Giáo sư Thuấn đã tiếp xúc, gặp gỡ những ai, ở đâu?

“Theo thông tin từ Văn phòng Chính phủ, do đi cùng chuyến bay với em Nhung; nên Bộ trưởng bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng tối 7/3 đã phải cách ly tại nhà theo quy định. Em Nhung ngồi ghế 5K, ông Dũng ghế 1A. Cũng trong ngày hôm nay (7/3), toàn bộ trụ sở Bộ – cơ quan của ông Dũng, đã được phun khử trùng”. Nhà báo Lê Nguyễn Hương Trà cũng cho biết.
Trong cùng một diễn biến, 04 du khách nước ngoài đang ở Quảng Ninh, đi cùng chuyến phi cơ VN0054 với cô Nguyễn Hồng Nhung, cho kết quả “dương tính” với virus Vũ Hán (Trung Cộng). (Tuổi Trẻ).

Các báo chí nhà nước cũng đưa tin, tài xế đưa rước cô Nguyễn Hồng Nhung và bố ruột cũng dương tính với virus.

Tính trên toàn thế giới, 08/03/2020, dựa trên các nguồn chính thức, tổng số người bị nhiễm virus corona chủng mới đã vượt qua ngưỡng 100.000, cụ thể là 104.600 người bị lây nhiễm. Dịch virus Vũ Hán đã lan ra 94 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong tổng số người bị lây nhiễm, đã có 3.581 ca tử vong.

Các quốc gia bị nặng nhất ngoài Trung Cộng vẫn là Hàn Quốc (7.134 ca, 50 người chết ), Ý (5.883 ca, 233 người chết ), Iran (5.823 ca, 145 người chết ), Pháp (949 ca và 16 người chết), Đức (687 ca), Mỹ (445 ca và 19 người chết).

Trong điểm tuần báo của RFI, có một chi tiết đáng lưu tâm: “Khả năng lây nhiễm của Covid-19 rất cao, cao hơn bệnh cúm thường. Nếu không bị ngăn chặn, một người nhiểm virus corona có thể lây bệnh cho từ 2 đến 3 người khác, trong khi virus cúm chỉ lây cho 1,5 người. Và còn có những người “siêu lây nhiễm”, một hiện tượng không hề thấy với virus cúm. Ngoài ra, còn có vấn đề những người không lộ ra triệu chứng, sức lây nhiễm của ho ra sao, hay vấn đề các ca tử vong, tỷ lệ như thế nào, tất cả những vấn đề đó vẫn đang được thảo luận sôi nổi trong giới khoa học.”
“Không một nước nào có thể tránh khỏi”. Là sự lo lắng của bà Sylvie Briand thuộc Tổ Chức Y Tế Thế Giới.

GNsP

Nguồn tin:
https://tuoitre.vn/viet-nam-co-ca-covid-19-thu-21-cung-lien…
https://tuoitre.vn/quang-ninh-hop-khan-tu-mo-sang-lien-quan…
http://www.rfi.fr/…/20200307-virus-corona-n%E1%BB%97i-lo-%C…

Image may contain: 5 people, indoor

Việt Nam tăng thêm 10 ca nhiễm COVID-19 mới chỉ trong 1 ngày 8-3

Việt Nam tăng thêm 10 ca nhiễm COVID-19 mới chỉ trong 1 ngày 8-3

Bộ Y tế Việt Nam tối 8-3-2020 xác nhận, có thêm 9 ca dương tính với virus SAR-Cov-2 đều mang quốc tịch nước ngoài và đi chung chuyến bay Vietnam Airlines VN0054 với ca thứ 17.

Diễn biến mới này làm nâng tổng số người mặc dịch COVID-19 ở Việt Nam là 30 người bao gồm cả ông Nguyễn Quang Th., 61 tuổi, được xác nhận vào buổi sáng cùng ngày.

Trong 9 ca người nước ngoài thì có 4 ca ở Quảng Ninh, 2 ca ở Lào Cai, 2 ca ở Đà Nẵng và 1 ca ở Huế.

No photo description available.