Cộng sản tấn công Huế

Cộng sản tấn công Huế

Trần Gia Phụng (Danlambao) – Do quyết định sửa đổi âm lịch của nhà cầm quyền Bắc Việt Nam (BVN), ngày mồng Một Tết Mậu Thân ở BVN theo âm lịch mới là ngày 30 tháng Chạp ở Nam Việt Nam (NVN). Trong ngày nầy, bài thơ của Hồ Chí Minh dùng làm lệnh tổng tấn công của cộng sản (CS) vào các thành phố ở NVN, đã được đài phát thanh Hà Nội truyền đi suốt ngày, nhưng các đơn vị bộ đội CS ở NVN, vẫn không nổi dậy cùng một lần vào tối hôm đó, mà có nơi sớm, có nơi trễ.

  1. Toàn cảnh

Cuộc tấn công diễn ra sớm nhứt tại Nha Trang đúng 0 giờ đêm Giao thừa rạng mồng Một Tết Mậu Thân theo lịch NVN, tức đêm 29 rạng 30-1-1968. Sau đó nửa giờ xảy ra tại Quảng Nam, Bình Định… Tại Quảng Nam, CS pháo kích vào trại định cư Trà Kiệu, ở phía Nam thành phố Đà Nẵng khoảng 30 cây số. Cộng sản rút lui trễ nhất tại Huế vào ngày 25-2-1968. 

Như vậy cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân của CS diễn ra trong gần một tháng. Trong suốt tháng nầy, CS tấn công 44 địa điểm tại các thị trấn, tỉnh lỵ và thành phố sau đây:

Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín (Tam Kỳ), Quảng Ngãi. (Vùng I Chiến thuật) 

Bình Định, Bình Thuận, Tuyên Đức (Đà Lạt). (Vùng II Chiến thuật) 

Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định, Biên Hòa, Long Bình, Bình Dương, Bà Rịa. (Vùng III Chiến thuật) 

Phong Dinh (Cần Thơ), Vĩnh Long, Kiến Hòa, Định Tường, Kiên Giang, Vĩnh Bình (Trà Vinh), Gò Công, Bạc Liêu. (Vùng IV Chiến thuật) 

Trong số những nơi bị CS tấn công, hai địa điểm quan trọng nhứt mà CS nhắm tới là hai thành phố Sài Gòn và Huế. 

Sài Gòn là thủ đô của VNCH. Bộ máy chính quyền trung ương đóng tại đây. Sài Gòn còn là nơi tập trung trụ sở các tòa đại sứ, các cơ quan truyền thông trong và ngoài nước. Cộng sản quyết tấn công Sài Gòn mạnh mẽ để gây tiếng vang lớn trên thế giới. 

Vì tầm quan trọng của mặt trận Sài Gòn, CS tung vào đây bộ chỉ huy cao cấp nhứt như Nguyễn Văn Linh (bí thư mặt trận Sài Gòn), Võ Văn Kiệt (phó bí thư), Trần Văn Trà (chỉ huy phó Lực lượng võ trang Mặt trận Dân tộc Giải phóng (MTDTGP), Mai Chí Thọ, Lê Đức Anh… (Chính Đạo, Mậu Thân 68: thắng hay bại, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1998, tr. 173).

Cộng sản mở cuộc tấn công Sài Gòn vào lúc 2 giờ sáng mồng 2 Tết, tức rạng ngày 31-1-1968, đánh vào Dinh Độc Lập, tòa đại sứ Hoa Kỳ, đài Phát thanh Quốc gia, Bộ Tư lệnh Hải quân, Bộ Tổng tham mưu, Trung tâm Huấn luyện Quang Trung, và nhiều vị trí vùng phụ cận. 

Lúc đó, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu về Mỹ Tho nghỉ Tết tại quê vợ. Phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ đã nhạy bén chỉ huy chận đứng được mũi đánh chiếm đài Phát thanh Quốc gia của CS (Chính Đạo, Mậu Thân, sđd. tr. 183), vì nếu CS chiếm được đài nầy, phát thanh trên toàn quốc lời kêu gọi tổng khởi nghĩa, thì tai hại về ngoại giao và nội trị không thể nào lường được. 

Tuy bị bối rối lúc đầu, nhưng quân đội VNCH phản ứng kịp thời, làm chủ tình hình ngay trong ngày mồng 3 Tết. Các đơn vị CS thất bại, phải lần lượt rút ra khỏi vòng đai thành phố Sài Gòn trong vòng một tuần lễ. 

  1. Huế trước Mậu Thân

Thành phố bị CS chiếm lâu nhứt và bị thiệt hại nặng nhứt về nhân mạng cũng như tài sản là thành phố Huế. Huế là tỉnh lỵ của tỉnh Thừa Thiên, cách sông Bến Hải, ranh giới Bắc và Nam Việt Nam, khoảng 80 cây số về phía nam. Các khuynh hướng chính trị của dân chúng Huế lúc đó có thể sơ lược như sau:

Huế là kinh đô của Việt Nam dưới thời nhà Nguyễn (1802-1945). Vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn, vua Bảo Đại (trị vì 1925-1945), bị Việt Minh áp lực và phải thoái vị vào tháng 8-1945. Tuy vậy, ảnh hưởng của triều Nguyễn ở Huế vẫn còn khá mạnh, do con cháu của hoàng gia cũng như con cháu của những quan lại triều đình cũ còn sống ở Huế khá đông. Hội đồng Nguyễn Phúc tộc, hậu thân của Tôn nhơn phủ, dưới sự lãnh đạo tinh thần của cựu hoàng thái hậu, tức Đức bà Từ Cung, thân mẫu của cựu hoàng Bảo Đại, vẫn tiếp tục sinh hoạt. Vào thời điểm năm 1968 (mậu thân) những người nầy hy vọng cựu hoàng Bảo Đại, lúc đó cư ngụ ở Pháp, có thể đóng một vai trò quan trọng đáp ứng giải pháp hòa giải giữa các bên lâm chiến ở Việt Nam.

Huế là trung tâm Phật giáo lâu đời với những ngôi chùa danh tiếng như Báo Quốc, Từ Đàm, Thiên Mụ, Từ Hiếu, Tường Vân… Chùa Báo Quốc còn là một Phật học viện lớn nhứt và lâu đời nhứt miền Trung, nơi đào tạo nhiều tu sĩ Phật giáo sau nầy đi hoằng pháp và trụ trì các chùa trên toàn VNCH. Các tăng sĩ Phật giáo xuất thân từ các chùa ở Huế như hòa thượng Thích Tịnh Khiết, thượng tọa Thích Trí Quang, Thích Thiện Minh, Thích Trí Thủ, giữ những chức vụ cao cấp trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, được thành lập theo Hiến chương ngày 4-1-1964, và được chính phủ thừa nhận bằng sắc luật số 14/5 ký ngày 14-3-1964. Một số lãnh tụ Phật giáo tranh đấu thường khuyến khích sinh viên học sinh biểu tình chống chính phủ, đòi hỏi hòa bình, trung lập. 

Huế cũng là nơi có Tòa Tổng giám mục, một địa phận Ky-Tô giáo La Mã được thành lập vào năm 1850. Đại chủng viện Kim Long, thường được gọi là chủng viện Xuân Bích, do các linh mục tu hội Saint Sulpice (phiên âm là Xuân Bích) giảng dạy, chuyên đào tạo các linh mục. Tổng thống Ngô Đình Diệm, gốc người Quảng Bình nhưng sinh sống từ nhỏ tại làng Phủ Cam, một vùng Ky-Tô giáo La Mã nổi tiếng ngoan đạo ở cố đô. 

Huế là địa bàn hoạt động khá mạnh của các đảng Việt Quốc và Đại Việt. Đại Việt đã từng tổ chức chiến khu Ba Lòng (Quảng Trị), gần Huế để chống chế độ tổng thống Ngô Đình Diệm vào các năm 1954-1955.

Huế là chốn cựu đô, nên hệ thống giáo dục ở đây lâu đời và rộng rãi. Ngoài trường Quốc Học được thành lập từ năm 1898, các trường trung học khác cũng khá lâu đời và đông học sinh, kể cả các tư thục. Hơn nữa, phải kể thêm các trường do các tu sĩ đảm trách như hệ thống trường Bồ Đề của Phật giáo, và các trường Ky Tô giáo La Mã như trường Thiên Hựu (Providence), trường Bình Linh (Pellerin), và trường Jeanne d’Arc (nữ trung học của dòng Thánh Phaolô thành Chartres.) 

Tại Huế, tổng thống Ngô Đình Diệm thành lập viện đại học năm 1957. Viện đại học nầy là trung tâm văn hóa thu hút sinh viên khắp các tỉnh miền Trung về đây theo học. Sinh viên càng ngày càng đông, và thường tham gia cũng như tổ chức các cuộc biểu tình tại Huế chống chính phủ từ 1963 đến 1967. 

Cũng tại Huế, “Hội đồng Nhân dân Cứu quốc” ra đời năm 1964 trong đó có một số giáo sư và giảng viên Viện đại học Huế như Lê Khắc Quyến, Tôn Thất Hanh, Lê Tuyên, Cao Huy Thuần, Hoàng Văn Giàu… Báo Lập Trường của nhóm nầy ủng hộ những quan điểm hòa bình và trung lập của một số lãnh tụ Phật giáo tranh đấu miền Trung. Hội đồng nầy được xem là đã góp tay vào việc kích động các cuộc biểu tình dữ dội tại Huế chống Hiến chương Vũng Tàu của Nguyễn Khánh năm 1964.

Những cuộc biểu tình ở Huế thường do Tổng hội sinh viên Huế tổ chức. Sinh viên luôn luôn hăng hái và bồng bột. Trong giới sinh viên, có thể có sự trà trộn các phần tử thân cộng, hay CS trá hình, mà sinh viên lúc đó không nhận chân được. Cao độ của các cuộc biểu tình nầy là cuộc đốt phá Phòng Thông tin Hoa Kỳ (U.S.I.S. = United States Information Services) tại Huế ngày 1-6-1966 trên đường Lý Thường Kiệt. 

Trong vụ “biến động miền Trung” sau đó, một số nhà lãnh đạo Phật giáo ở Huế chống đối chính phủ bằng cách kêu gọi Phật tử đưa bàn thờ Phật xuống đường để cản trở lưu thông trong thành phố. Tuy nhiên, hành động quá khích nầy không được đồng thuận trong giới Phật tử, nên it người hưởng ứng tuy bề ngoài rầm rộ. 

Trật tự tại Huế và các tỉnh miền Trung được vãn hồi vào cuối tháng 6-1966 khi chính phủ trung ương gởi Thủy quân lục chiến và Cảnh sát dã chiến tăng viện, thẳng tay dẹp tan các cuộc rối loạn. Sau sự kiện nầy, một số trí thức, thanh niên, sinh viên lo sợ bị chính quyền VNCH bắt giam, đã “nhảy núi”, bỏ trốn lên rừng chạy theo CS. Những người nầy sẽ có mặt trong đoàn quân CS tấn công Huế vào dịp Tết Mậu Thân.

Cũng sau vụ “biến động miền Trung”, chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận, tư lệnh Sư đoàn I Bộ binh thuộc Quân đoàn I tại Vùng I Chiến thuật quân đội Việt Nam Cộng Hòa, bị thuyên chuyển. Đại tá Ngô Quang Trưởng, thuộc Sư đoàn Nhảy dù, được bổ nhiệm thay thế. 

Bộ tư lệnh Sư đoàn I BB đóng ở Mang Cá, phía bắc hoàng thành Huế. Ngày 4-2-1967, đại tá Trưởng được vinh thăng chuẩn tướng. Chính trong thời gian chuẩn tướng Trưởng đang chỉ huy Sư đoàn I BB, thì CS mở cuộc tấn công vào thành phố Huế nhân dịp Tết Mậu Thân (1968).

Do tình hình Huế phức tạp sau vụ “biến động miền Trung”, phía CS hy vọng Huế đủ chín mùi cho một cuộc tổng khởi nghĩa nếu cuộc tổng tấn công xảy ra. Từ đó, CS chuẩn bị khá kỹ lưỡng mặt trận Huế không khác gì mặt trận Sài Gòn.

  1. Cuộc tổng tấn công

Trước Tết Mậu Thân, chỉ huy đặc khu Trị-Thiên-Huế (tức Quảng Trị, Thừa Thiên và thành phố Huế) của CS là thiếu tướng Trần Văn Quang. Trần Văn Quang cử Lê Minh, bí thư tỉnh uỷ đảng Lao Động (Cộng Sản) tỉnh Thừa Thiên-Huế, phụ trách mặt trận Trị-Thiên. 

Minh chia mặt trận Trị-Thiên thành 3 khu vực: mặt trận Quảng Trị giao cho Hồ Tú Nam phụ trách; mặt trận Phú Lộc (phía nam Thừa Thiên) giao cho một cán bộ tên Chi chỉ huy; còn mặt trận Huế, quan trọng nhất, do Lê Minh đích thân đảm nhận. Minh lại chia Huế thành hai điểm để tấn công: phía bắc Huế (tả ngạn sông Hương), và phía nam Huế (hữu ngạn sông Hương Huế)

Cánh quân phía bắc Huế do một người tên Thu chỉ huy, Trần Anh Liên làm chính uỷ. Lực lượng gồm có trung đoàn 6 (gọi là E-6, gồm có 3 tiểu đoàn), thêm 1 tiểu đoàn đặc công, 1 đại đội pháo và du kích hai quận Hương Trà và Hương Điền. Cánh quân nầy xuất phát đúng vào tối Giao thừa (29-1-1968) từ rừng núi tây Huế, chia làm 4 mũi đánh vào cửa Chính Tây (nằm về tay trái hoàng thành từ Kỳ đài nhìn vào), cửa An Hòa (cửa Tây Bắc), Kỳ đài (cột cờ trước Ngọ môn), sân bay Tây Lộc và đồn Mang Cá. Cộng quân làm chủ ngay được cửa Chính Tây, cửa An Hòa và Kỳ đài, nhưng thất bại ở sân bay Tây Lộc và đồn Mang Cá. Đồn Mang Cá lúc đó là nơi đặt bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh do chuẩn tướng Ngô Quang Trưởng đứng đầu. Đồn Mang Cá là điểm tựa vững vàng để quân đội VNCH cũng như Đồng minh tổ chức phản công trở lại.

Qua cửa Chính Tây, CS tiến chiếm Đại nội. Cộng sản dùng bờ thành Đại nội để bảo vệ Kỳ đài, nơi đó, ngày 31-1 (mồng 2 Tết), CS treo một lá cờ lớn của MTDTGPMNVN. (Don Oberdorfer, TET, New York: A Da Capo Paperback, 1971, tr. 230.) Theo tài liệu của CS thì đây là cờ của Liên Minh các Lực Lượng Dân Tộc, Dân Chủ và Hòa Bình Việt Nam (Chính Đạo Mậu Thân, sđd. tr. 126). Trong bài tham luận trình bày tại Huế ngày 15-12-2007, tác giả Nguyễn Đắc Xuân, theo tài liệu của đảng bộ Huế, cũng cho rằng đây là cờ Liên minh. Không ai lạ gì việc những người trong nước đều phải nói theo đảng CS. 

Tuy nhiên, cần chú ý rằng ngày 31-1, tức là ngày CS treo cờ ở Kỳ đài, Liên minh nầy chưa được thành lập, làm sao có cờ ? Ở những nơi khác, Sài Gòn hay bất cứ thành phố nào ở miền Nam, không ai thấy hay biết gì về lá cờ Liên minh. Liên minh nầy chỉ là một mặt trận chính trị, giống như Mặt trận Tổ Quốc của Hà Nội, không thể được quân đội cộng sản treo cờ. 

Từ Kỳ đài, CS tiến quân theo mé bờ tả ngạn sông Hương (tức bờ phía bắc), chiếm đồn Cảnh sát chợ Đông Ba, bắt tay với một cánh quân CS khác cũng của E-6, làm chủ hoàn toàn khu vực Đông Ba, Gia Hội.

Cánh quân phía nam Huế, hay bên hữu ngạn sông Hương, tức bên có tòa tỉnh trưởng, các trường Đồng Khánh, Quốc Học, do Thân Trọng Một chỉ huy, Nguyễn Vạn làm chính uỷ. Lực lượng gồm có trung đoàn E-9 của sư đoàn 309, trung đoàn 5 (4 tiểu đoàn), 1 tiểu đoàn pháo, và 4 đội đặc công. (Chính Đão, Mậu Thân…,sđd. tr. 108-110. Chính Đạo trích dẫn từ tài liệu của Thành uỷ CS Huế, Huế, Xuân 1968.)

(Võ Hương An trình bày.)

Cánh quân nầy dự định xuất phát tối Giao thừa (29-1), nhưng vừa xuất phát thì bị phi cơ thám thính Mỹ phát hiện và bị pháo kích, phải lẩn tránh, nên tiến chậm. Sáng mồng 1 Tết (30-1) cánh quân nầy mới tiếp tục tiến về phía thị xã Huế. 

Sau 4 ngày giao tranh, CS chiếm gần hết vùng hữu ngạn thành phố Huế cho đến lao xá Thừa Phủ (gần sát tòa tỉnh trưởng Thừa Thiên). Cộng sản thả khoảng 2,000 tù nhân đang bị giam trong lao xá. Những người nầy liền được CS võ trang để tiếp tay cho CS. 

Quân đội VNCH chỉ còn giữ đài Phát thanh, tiểu khu Thừa Thiên, bản doanh MACV (Hoa Kỳ) đặt ở khách sạn Thuận Hóa, và Bến tàu Hải Quân, bên bờ nam sông Hương (hữu ngạn). Nếu đi từ phía chợ Đông Ba (tả ngạn), theo cầu Trường Tiền qua bờ phía hữu ngạn, đi thẳng là đường Duy Tân dẫn đến An Cựu. Ngay tại chân cầu, đầu đường Duy Tân, phía tay mặt là đài Phát thanh, phía tay trái, cách khoảng trên 500 thước là Bến tàu Hải quân (gần khách sạn Hương Giang). 

Đi thẳng từ cầu Trường Tiền về An Cựu, dọc theo đường Duy Tân (trước 1975) phía bên trái, cách cầu khoảng 500 thước là Tiểu khu Thừa Thiên và khách sạn Thuận Hóa, nơi đóng trụ sở của MACV, viết tắt của chữ Military Assistance Command, Vietnam, tức Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự tại Việt Nam.

  1. Tổng khởi nghĩa thất bại

Về phương diện chính trị, ngay sau khi chiếm vùng tả ngạn (phía bắc Huế, vùng Thành nội, chợ Đông Ba…), ngày mồng 2 Tết (31-1), CS liền tổ chức cầm quyền. Uỷ Ban Nhân Dân (danh xưng của CS) trong Thành nội gồm hai quận, do Nguyễn Hữu Vấn (giáo sư âm nhạc), làm chủ tịch quận 1, và Nguyễn Thiết (sinh viên Đại học Luật khoa), làm chủ tịch quận 2. Phía hữu ngạn, CS không lập kịp các uỷ ban nhân dân, chỉ chú tâm vào việc lùng bắt và kiểm soát tù hàng binh.

Ngày mồng 3 Tết (1-2-1968), đài phát thanh Hà Nội loan báo thành lập tổ chức Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc, Dân Chủ Và Hòa Bình tại Huế do Lê Văn Hảo, giáo sư Đại học Văn khoa Huế, làm chủ tịch, và Hoàng Phủ Ngọc Tường làm tổng thư ký. (Chính Đạo, Mậu Thân…sđd. tr. 131. Thụy Khê, “Nói chuyện với Hoàng Phủ Ngọc Tường về biến cố Mậu Thân ở Huế”, phỏng vấn trên đài RFI, 12-7-1997, đăng lại trên tạp chí Hợp Lưu, California, số 36, tháng 8-9-1997, tt. 197-200.) 

Cần phân biệt ở đây, Lê Văn Hảo làm chủ tịch Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc, Dân Chủ…tại Huế. Còn trên toàn miền Nam, Liên Minh nầy do Trịnh Đình Thảo làm chủ tịch. Đài phát thanh Hà Nội cũng thông báo ngày 14-2-1968, Lê Văn Hảo được đưa lên làm chủ tịch chính quyền cách mạng Huế. Phó chủ tịch là bà Đào Thị Xuân Yến (còn gọi là bà Tuần Chi), và Hoàng Phương Thảo (Thường vụ Thành uỷ CS). (Chính Đạo, Mậu Thân,sđd. tr. 131.)

Nguyễn Đắc Xuân, khi còn là sinh viên sống tại Huế, đã từng tổ chức đoàn “Phật Tử Quyết Tử” vào năm 1966 để chống chế độ “Thiệu Kỳ”, rồi bỏ trốn theo CS, nay trở lại Huế, phụ trách đội “Công tác Thanh niên”. Xuân được CS giao nhiệm vụ tổ chức “đoàn Nghĩa binh”, gồm những quân nhân Cộng Hòa bị kẹt trong vùng CS tạm chiếm, gọi là “Quân nhân Sư đoàn 1 ly khai”.

Ngày 4-2-1968 (mồng 6 Tết), đoàn nầy ra thông cáo đả kích chế độ “Thiệu Kỳ”, nhưng sau đó đoàn bị CS phân tán ngay, vì sợ các quân nhân trong đoàn nầy quay lại chống CS. Nguyễn Đắc Xuân còn tổ chức đội “Nghĩa binh Cảnh Sát”, giữ nhiệm vụ ngăn chận không cho dân di tản khi quân đội VNCH và Đồng minh phản công.

Những đơn vị an ninh của CS hoạt động mạnh sau khi cộng quân tạm chiếm Huế. Những đơn vị nầy do một người tên Lê (Tư) điều khiển chung, còn Tống Hoàng Nguyên phụ trách tả ngạn, và Nguyễn Đình Bảy (Bảy Khiêm) lo phía hữu ngạn. Những đơn vị nầy truy lùng và bắt giết tất cả những nhân viên chính quyền VNCH và nhân viên làm việc tại các cơ quan Hoa Kỳ, hoặc những người cộng tác với Cơ quan tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA: Central Intelligence Agency). Chính những đơn vị an ninh nầy là tác giả của những cái chết thê thảm tại Huế, nhứt là lúc CS chuẩn bị rút lui.

Trái với dự đoán của CS, tuy dân chúng bị ép buộc phải dự những cuộc hội họp, mít tinh do CS tổ chức, nhưng dân chúng không hưởng ứng cuộc tổng khởi nghĩa do CS đề ra. Rõ nét nhứt là dân chúng không đi theo du kích CS, mà bỏ chạy qua các vùng do quân đội VNCH kiểm soát ở khu vực Mang Cá, hay trường Kiểu Mẫu gần trường Đại Học Sư Phạm, hoặc khu vực phi trường Phú Bài, cách Huế khoảng trên 10 cây số về phía nam. 

Đặc biệt, chỉ trừ những quân nhân về thăm nhà bất ngờ bị du kích CS bắt được, hầu hết các quân nhân nghỉ Tết ở Huế đều kiếm cách liên lạc hay gia nhập các đơn vị tác chiến gần nhứt để cầm súng chống CS, chứ không gia nhập hay chạy theo du kích CS. Các đơn vị hành chánh nhỏ cũng kiếm cách phòng thủ để chận đứng sự thâm nhập của du kích CS.

Như thế, cuộc tổng khởi nghĩa theo dự tính của CS hoàn toàn thất bại và không xảy ta.

(Toronto, 12-2-2018)

Trần Gia Phụng

danlambaovn.blogspot.com

Blogger Mẹ Nấm bị chuyển trại tù xa nhà trong ngày cận Tết

Blogger Mẹ Nấm bị chuyển trại tù xa nhà trong ngày cận Tết

Hai người con của blogger Nguyễn Ngọc Như Quỳnh cầm bảng ghi những dòng chữ bày tỏ cảm xúc khi hay tin mẹ bị đày đi trại tù khác ở Thanh Hóa, rất xa nhà. (Hình: FB Nguyễn Thị Tuyết Lan)

NHA TRANG, Việt Nam (NV) – Blogger Mẹ Nấm – Nguyễn Ngọc Như Quỳnh – người đang bị CSVN cầm tù với bản án 10 năm, đã bị chuyển trại tù từ Khánh Hòa ra trại tù số 5 ở miền núi tỉnh Thanh Hóa, cách nhau hơn 1,100 km, đúng vào ngày 27 Tháng Chạp, khi Tết Mậu Tuất cận kề.

Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan, mẹ của blogger Mẹ Nấm đến trại tù tỉnh Khánh Hòa để thăm nuôi theo lịch thì mới biết con gái bị chuyển trại chứ bà không hề được báo trước.

 

Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan cho hay trên trang facebook cá nhân rằng sáng Thứ Hai, 12 Tháng Hai, 2018, (tức ngày 27 tết) bà mang các thứ đã chuẩn bị trước đó đến nhà tù tỉnh Khánh Hòa thăm con gái Nguyễn Ngọc Như Quỳnh nhưng con gái bà đã bị đày tới nhà tù khét tiếng dữ dằn, trại tù số 5 tại huyện miền núi Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, nơi từng giam cầm nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân, cô Phạm Thanh Nghiên và nhiều nữ tù nhân lương tâm nổi tiếng khác.

“Tôi nhận được tin Quỳnh đã bị đày ra tận trại 5, Thanh Hóa. Không một văn bản giấy tờ, công an trại giam Khánh Hòa chỉ thông báo bằng miệng khi tôi đến. Hôm nay đã là 27 Tết rồi, họ có cần phải tàn ác thế với gia đình chúng tôi?” Bà Tuyết Lan viết trên trang facebook.

Trước đó một tuần, cũng ngày Thứ Hai, 5 Tháng Hai, 2018, bà Tuyết Lan đi thăm Quỳnh nhưng công an không một lời thông báo. “Họ cố tình chờ đến sát Tết, sau khi đã đưa mẹ của Nấm Gấu đi thật xa chúng nó rồi mới cho gia đình tôi được biết.” Bà Tuyết Lan viết.

Phẫn uất vì sự cư xử độc ác của nhà cầm quyền, bà Tuyết Lan cho hay bà đã lớn tuổi, vừa phải nuôi nấng hai cháu nhỏ, lại còn phải săn sóc bà mẹ già trong khi phải thăm nuôi con gái trong tù và lại còn bị đày đi rất xa nhà. “Chính quyền này biết rõ điều đó hơn ai hết, nhưng họ vẫn cố tình đầy Quỳnh ra tận ngoài Bắc sau khi đã giáng lên cả gia đình chúng tôi bản án 10 năm tù.”

“Trại 5 Thanh Hoá khét tiếng về sự heo hút, mới đây tôi đọc báo còn thấy tin nó bị cô lập trong dòng nước lũ, với sức khỏe của con tôi hiện nay làm sao để chống chọi và chịu đựng được ở một nơi như thế? Chẳng phải họ đang muốn giết con tôi mà không cần dùng dao súng, muốn nó chết dần trong tù đày khổ ải hay sao? Bản án 10 năm không đủ khiến họ hả hê, nước mắt chia lìa mẫu tử không khiến họ cảm thấy một chút dao động, vào ngày 27 Tết họ tiếp tục đâm thêm nhát dao cho chúng tôi bằng chết,” bà Tuyết Lan viết trên Facebook.

Blogger Mẹ Nấm tại phiên tòa phúc thẩm ngày 30 Tháng Mười Một, 2017, khi bị tuyên y án 10 năm tù. (Hình: Getty Images)

Blogger Mẹ Nấm nổi tiếng với những bài viết sắc xảo về các vấn đề thời sự tại Việt Nam trên trang facebook cá nhân. Bà tham gia vận động nhân quyền, tranh đấu cho tự do ngôn luận suốt nhiều năm qua không ngừng nghỉ nên đã từng bị công an CSVN cô lập, khủng bố, hành hung rất nhiều lần. Bà từng biểu tình một minh mỗi khi hay tin có một người nào tham gia vận động dân chủ hóa đất nước bị bỏ tù. Cả bà cũng không thoát.

Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, năm nay 39 tuổi, là thành viên điều hành của nhóm “Mạng Lưới Blogger Việt Nam,” thành viên của các tổ chức “Người Việt Yêu Nước” và “Tuyên Bố Công Dân Tự Do.” Bà tích cực tham gia bày tỏ chống đối công ty gang thép Formosa xả chất thải độc hại làm chết một vùng biển rộng lớn suốt 4 tỉnh miền Trung. Bà cũng từng soạn tổng kết một tài liệu tố cáo công an CSVN đã tra tấn nhục hình bức cung chết hàng chục người mỗi năm.

Bà bị bắt ngày 10 Tháng Mười, 2016, rồi bị kết án 10 năm tù hồi năm ngoái mà có luật sư phát biểu một thứ bản án “nặng hơn án giết người” của người khác. Năm 2012, Trung Tá Công An CSVN Nguyễn Văn Ninh chỉ bị kết án có 4 năm tù dù ông ta dùng gậy cao su đánh chết ông Trịnh Xuân Tùng ở bến xe Giáp Bát, Hà Nội, chỉ vì ông ta cự cãi chuyện đội mũ bảo hiểm.

Các tù nhân lương tâm thường bị chế độ Hà Nội đày đi rất xa nơi sinh sống của gia đình họ, gây khó khăn và tốn kém rất lớn cho sự thăm viếng. Tù nhân bị kết án ở miền Bắc thì bị đày xuống miền Trung hay miền Nam. Tù nhân miền Nam thì bị đày ra Bắc hay miền Trung.

Sau khi bị y án 10 năm tù qua phiên xử phúc thẩm cuối Tháng Mười Một, năm 2017, cũng như sau phiên xử sơ thẩm mấy tháng trước đó, Liên Âu, chính phủ Mỹ cũng như các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế lên án mạnh mẽ việc bỏ tù blogger Mẹ Nấm.

Gần 40 trí thức trên thế giới, nhiều người rất nổi tiếng đã cùng đứng tên trên một lá thư kêu gọi chế độ Hà Nội trả tự do cho bà cũng như bà Trần Thị Nga (bị kết án tù 9 năm) và các tù nhân lương tâm khác. Chế độ Hà Nội không coi những can thiệp như thế có tác dụng trừ phi có sự trao đổi đem lại lợi lộc gì cho họ.

Năm 2010, bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh được Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền (HRW) trao giải Hellman Hammett vì những hoạt động bảo vệ quyền tự do ngôn luận. Năm 2015, Tổ Chức Bảo Vệ Quyền Dân sự trao cho cô Giải Thưởng Của Năm. Bà cũng được Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ trao tặng giải “Những Người Phụ Nữ Quốc Tế Can Đảm” trên thế giới vào Tháng Ba, năm 2017, khi đang ở trong tù. (TN)

BẠN HỎI : TẠI SAO ĐẢNG CS LÃNH ĐẠO YẾU HÈN NHƯ THẾ MÀ HỌ LẠI NẮM ĐƯỢC CHÍNH QUYỀN LÂU NHƯ VẬY .

V Phung Phung shared Nguyễn Thanh‘s post.
 
 
 
Image may contain: outdoor
Nguyễn Thanh

 

BẠN HỎI : TẠI SAO ĐẢNG CS LÃNH ĐẠO YẾU HÈN NHƯ THẾ MÀ HỌ LẠI NẮM ĐƯỢC CHÍNH QUYỀN LÂU NHƯ VẬY .

Đáp : 
Vũ khí giúp CS nắm được chính quyền gồm 3 vũ khí cực kỳ lợi hại
1 . Vũ khí tuyên truyền dày đặc
2 . Nói láo ,xảo trá ko biệt ngượng mồm và họ biết vẽ ra 1 xhcn tốt đẹp đầy hứa hẹn .
3 . Họ dùng bạo lực cai trị

Nguyên nhân giúp Việt Minh lên nắm được chính quyền vào năm 1945 là do : 
– Có một khoảng trống về quyền lực 
– Chính quyền vua Bảo Đại đang suy yếu và xin rút lui ,nhường quyền cho Việt Minh lãnh đạo để giành độc lập ( vì giai đoạn này ảnh hưởng của đảng Việt Minh lớn và được sự ủng hộ lớn từ nhân dân )
– Nạn đói 1944 – 1945 đã làm gần 2 triệu đồng bào chết đói .Làm cho nhân dân tức giận chính quyền ,và căm thù phát xít Nhật . Họ khát khao thay đổi chính quyền ,và đuổi Nhật ,Pháp để dành độc lập . 
– Ngày 14- 8 – 1945 Nhật đã đầu hàng đồng minh .

Trong thời kỳ chống Pháp ,chống Nhật chỉ có Đảng Việt Minh là hoạt động mạnh nhất ,có kỷ luật ,có kỷ cương ,và đường lối chiến lược rõ ràng . Họ sẵn sàng đạp đổ ,tiêu diệt các đảng phái khác để giành vị trị lãnh đạo chủ chốt .( tham khảo hồi ký 1 cơn gió bụi của Trần Trọng Kim ) .Nhưng năm 1945 Việt Minh chỉ thống nhất được Bắc kỳ và Trung Kỳ ,Nam kỳ vẫn bị Pháp cai trị .

Chủ thuyết của CS họ chỉ phục vụ cho lý tưởng của CS quốc tế ,cho 1 XHCN đại đồng chứ không có tinh thần Dân Tộc quốc gia ,cho nên họ sẵn sàng tiêu diệt các đảng phái khác để phục vụ cho lý tưởng cs . Cho nên người CS ko có hòa hợp và liên kết với đảng phái khác ,vì vậy CS họ tìm cách tiêu diệt những đảng phái chống lại họ ,ko theo họ . Ông Lê Duẩn từng phát biểu tại Nga rằng ” VN đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô và TQ ” .

Cải cách ruộng đất 1954 ở Miền Bắc ,với chiêu bài dành đất lại cho người nghèo chỉ qua là 1 chiến lược tiêu diệt tận gốc tầng lớp tri thức tiến bộ ,tàn dư phong kiến để xây dựng 1 XHCN hoàn toàn mới ,ko có vật cản con đường đi lên XHCN của họ . Lấy tầng lớp nông dân ,bần cố nông ít chữ ,ít hiểu biết để dễ mị dân ,dễ cai trị ,dễ nhồi sọ .Triết lý của Mao Trạch Đông là ” Tri thức là cục phân ” đã minh chứng cho chính sách tiêu diệt tận gốc tri thức .

Sau khi dànhđược chính quyền phía bắc ,họ bắt đầu tẩy não người Dân bằng những chiêu bài triết lý Mác – Lê vĩ đại ,sáng suốt ,tài tình và tư tưởng Mao trạch Đông .Họ xây dựng hình tượng cụ hồ vĩ đại ,thật đẹp thật hoàn hỏa để Nhân Dân tôn thờ và thần tượng như 1 vị thánh .Chủ nghĩa CS họ chỉ xem Mác – Lê là ông cụ tổ tiên của họ thôi.

Để thực hiện âm mưu cướp được Miền Nam VN ,người CS tiếp tục dùng tuyên truyền dày đặc và nhồi sọ người Dân rằng ” Miền Nam đang bị Mỹ xâm lăng ,đồng bào đang bị Ngụy kiềm kẹp và kéo lê máy chém khắp Miền Nam tàn sát đồng bào của mình ” . Vì vậy đồng bào Miền Bắc phải lên đường giải phóng MN thống nhất đất nước để đi lên XHCN tươi đẹp. Thông tin không có ,đất nước đang chia cắt ,họ dùng bạo lực cai trị và gắn trên đầu người Dân cái vòng kim cô khống chế não người Dân bằng chính sách giáo dục ngu dân ( ko biết tư duy ,chỉ theo và nghe đảng như những con robot ) .Cho 1 lực lượng nằm vùng bên trong để chống phá ,ép Mỹ dùng quân sự can thiệp vào Miền Nam để có lý do đi giải phóng MN .

Sau khi cướp được MN ,phía CS tiêu diệt tận gốc thể chế chính quyền chế độ cũ bằng chiêu bài đi tù cải tạo hòng che mắt Thế giới . Tù cải tạo thực chất dùng để trả thù và đày đọa họ làm cho họ ko còn ý chí đấu tranh ,kháng cự lại . Chiến dịch đánh tư sản, đẩy đi vùng kinh tế mới chỉ là chiêu bài được cướp tài sản công khai ,làm suy yếu lực lượng này trỗi dậy trong tương lai .Kiềm kẹp người MN bằng kinh tế làm cho họ trở thành giai cấp vô sản hoàn toàn .Kiềm kẹp về lý lịch để họ ko thể bước chân vào chốn quan trường .

– Người CS vẫn tồn tại vững chắc là nhờ kênh truyên tuyền mạnh suốt hơn 70 năm cầm quyền .
– Nền giáo dục ngu dân giúp người Việt không có khả năng tư duy độc lập ,bị họ điều khiển và dắc mũi như những con bò ngu xuẩn . 
– Họ dùng bạo lực để khống chế tranh đấu người Dân 
– Họ bóp ghẹt người Dân bằng thuế phí nặng nề 
– Họ sử dụng lãnh đạo ngu dốt dễ sai bảo 
– Thể chế độc tài giúp mỗi ông quan là 1 ông vua cai trị 1 vùng đất .Và sẵn sàng dùng bạo lực đàn áp Dân để bảo vệ quyền lợi cho họ .
– Sau khi chính sách tuyên truyền mất tác dụng để mị Dân ,họ chuyển sang kế sách vô cảm hóa người Dân. Làm cho Dân thờ ơ trước thực trạng của XH .

Người CS tuy họ không có khả năng lãnh đạo đất nước phát triển kinh tế đất nước mạnh .Nhưng họ có khả năng mị dân ,khống chế tư tưởng tranh đấu của Dân và biết cúi đầu luồn cúi ,nịnh bợ Trung cộng để được nâng đỡ .

Đôi Dòng Với Anh Gia Quốc.

 
 
Van Pham shared Phạm Thành‘s post.

Muốn đấu tranh kiểu gì cũng được…. miễn đó là công việc chủ lực của người dân quốc nội…. đừng trông ngóng hải ngoại, vì thực ra họ chỉ có thể yểm trợ cho quốc nội. Bởi họ không có nhu cầu tranh đấu dân chủ, tự do cho chính họ…. Một khi không phải là mục tiêu sống còn, thì ai đòi hỏi hay bắt buộc họ phải lao vào sống chết để đấu tranh?!!!

 
Image may contain: 6 people, people smiling, people sitting and indoor
Image may contain: 6 people, people smiling, people sitting and indoor
Phạm Thành added 2 new photos — with Trần Thị Thảo and 14 others.

 

Đôi Dòng Với Anh Gia Quốc.

Anh Gia Quốc từ nước Mỹ xa xôi đến chơi nhà. Chúng tôi nói, Việt kiều có 4 triệu người ở xứ sở tự do mà chưa hình thành được một thể lực đủ mạnh để đối trọng với cộng cầm quyền Việt Nam. Ấy mà các bạn thường xuyên có bài phê phán phong trào đấu tranh cho dân chủ ở trong nước rằng: chưa có thủ lĩnh, chưa liên kết và rất dễ vỡ. Anh Quốc nói, ở nước ngoài cũng có thế lực đó, nhưng cũng chưa mạnh và cũng chưa đoàn kết được. Chúng tôi nói với anh Quốc rằng, nhóm chúng tôi đấu tranh, mục tiêu xa cũng là đấu tranh cho dân chủ, nhưng trước hết phải bấng cái gốc độc tài, toàn trị của đảng cộng sản đi cái đã. Cái gốc ấy mà còn, chẳng có mầm mống dân chủ nào có thể phát triển đươc. Còn lấy mục tiêu dân chủ ra để khai dân trí và đợi cho trí của người dân được mở ra thì có lẽ phải trăm năm nữa, cách mạng dân chủ ở Việt Nam mới xảy ra.

Cộng sản Việt Nam sụp đổ là tự nó sụp đổ do hết nguồn lực, đời sống người dân khó khăn, chẳng hạn; hoặc là có biến động lớn của thế giới tác động đủ mạnh buộc nó phải sụp đổ, hoặc là cả hai tạo ra áp lực dẫn đến nó phải sụp đổ. Những người đấu tranh chỉ góp một phần nhỏ tạo nên sự sụp đổ đó mà thôi. Vấn đề quan trọng là khi cộng sản sụp đổ thì những người đấu tranh giải thể cộng sản cầm quyền có đủ lực lượng để cướp chính quyền từ tay cộng sản hay không? Nhóm tôi quan tâm nhiều đến vấn đề này, dồn tâm trí cho mục tiêu này, vì chúng tôi tin rằng, sự sụp đổ của độc tài cộng sản Việt Nam tất yếu sẽ dẫn đến dân chủ cho Việt Nam. Vì rằng, dân chủ là cở sở để bảo toàn mạng sống, của cải và quyền sống của bất kỳ ai.

Vì vậy, đầu tư cho công cuộc đấu tranh giải thể cộng sản cầm quyền cần thiết và mạng giá trị hiện thực hơn đầu tư cho khai trí về dân chủ.

27 TẾT ĐI THĂM – NHẬN ĐƯỢC TIN CON ĐÃ BỊ CHUYỂN TRẠI XA

Hoa Kim Ngo shared Tuyet Lan Nguyen‘s post.
 

Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đã bị chuyển đi trại 5 Thanh Hoá mà không thông báo cho gia đình.

Sự tàn ác của nhà cầm quyền ngày càng tàn độc.

 
Image may contain: 2 people, people standing and outdoor
Tuyet Lan Nguyen

 

27 TẾT ĐI THĂM – NHẬN ĐƯỢC TIN CON ĐÃ BỊ CHUYỂN TRẠI XA

Sáng nay theo lịch thăm nuôi tôi mang theo đồ đạc đã chuẩn bị trước đó đến trại giam để thăm con. Khi đến Trại giam tỉnh Khánh Hoà thì tôi nhận được tin Quỳnh đã bị đầy ra tận trại 5, Thanh Hoá. Không một văn bản giấy tờ, công an trại giam Khánh Hoà chỉ thông báo bằng miệng khi tôi đến. Hôm nay đã là 27 Tết rồi, họ có cần phải tàn ác thế với gia đình chúng tôi?

Thứ hai ngày 05/02/2018 . Tôi đi thăm Quỳnh họ không một lời thông báo. Họ cố tình chờ đến sát Tết, sau khi đã đưa mẹ của Nấm Gấu đi thật xa chúng nó rồi mới cho gia đình tôi được biết.

Nếu như tôi là tôi của chục năm về trước, nếu như tôi cần phải lo cho các cháu tôi, Nấm và Gấu, thì dù họ có chuyển con tôi đi đến đâu tôi cũng không quan tâm, tôi có thể đi bất cứ nơi nào để thăm nom con mình. Nhưng bây giờ tôi đã hơn 60, không chỉ có cháu nhỏ con tù mà trên vai còn có mẹ già phải gánh. Chính quyền này biết rõ điều đó hơn ai hết, nhưng họ vẫn cố tình đầy Quỳnh ra tận ngoài Bắc sau khi đã giáng lên cả gia đình chúng tôi bản án 10 năm tù.

Trại 5 Thanh Hoá khét tiếng về sự heo hút, mới đây tôi đọc báo còn thấy tin nó bị cô lập trong dòng nước lũ, với sức khỏe của con tôi hiện nay làm sao để chống chọi và chịu đựng được ở một nơi như thế? Chẳng phải họ đang muốn giết con tôi mà không cần dùng dao súng, muốn nó chết dần trong tù đày khổ ải hay sao?

Bản án 10 năm không đủ khiến họ hả hê, nước mắt chia lìa mẫu tử không khiến họ cảm thấy một chút dao động, vào ngày 27 Tết họ tiếp tục đâm thêm nhát dao cho chúng tôi bằng chết.

Tịch thu sách ‘nhạy cảm chính trị’ gửi về từ nước ngoài!!!

Van Pham

Tại sao chế độ đảng cướp mafia HCM sợ sách báo & các mạng xã hội từ nước ngoài??? Bởi chế độ sống sót dựa trên dối trá, lừa bịp và bạo lực!!!

**************

Tịch thu sách ‘nhạy cảm chính trị’ gửi về từ nước ngoài!!!

Cục Hải quan Đà Nẵng vừa tịch thu 4 bưu kiện gửi từ nước ngoài về, trong đó có một số cuốn sách mà cơ quan này cho rằng nếu để lưu hành, sẽ tạo ra “nhận thức sai lệch về lịch sử cuộc chiến chống xâm lược của nhân dân Việt Nam, cũng như các vấn đề dân chủ, nhân quyền của Nhà nước Việt Nam hiện nay”.

Những cuốn sách bị tịch thu vì lý do “nhạy cảm chính trị” bao gồm: Cuốn “Where the ashes are – The Odyssey of a Vietnamese Family” của nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Nguyễn Quí Đức; cuốn “Chính Trị Bình Dân” của nhà báo Phạm Đoan Trang; cuốn “Huế 1968 – A Turning Point of the American War in Vietnam” của tác giả Mark Bowden, theo báo Tin Tức.

Tất cả ba cuốn sách trên đều được xuất bản tại Mỹ và được bán trên trang mạng Amazon.

Trong cuốn “Where the ashes are – The Odyssey of a Vietnamese Family”, nhà báo từng làm việc cho nhiều cơ quan truyền thống quốc tế ở Mỹ kể lại câu chuyện của chính gia đình ông trong thời Chiến tranh Việt Nam. Theo giới thiệu của Amazon, cuốn sách “cho chúng ta nhìn thấy cuộc chiến Việt Nam qua đôi mắt của một đứa trẻ, sự túng quẫn sau khi Cộng sản lên cầm quyền, và những chật vật, gian khổ của di dân”. Cuốn sách được tổ chức Words Without Border đề cử là một trong 8 cuốn sách cần đọc để hiểu về Việt Nam và cộng đồng người Việt ở nước ngoài.

Cuốn “Huế 1968 – A Turning Point of the American War in Vietnam” là cuốn sách đầu tiên của tác giả Mark Bowden kể từ khi cuốn Black Hawk Down của ông trở thành cuốn sách bán chạy nhất trong danh sách uy tín của New York Times. “Huế 1968 – A Turning Point of the American War in Vietnam” kể về cuộc tấn mang tính bước ngoặt trong cuộc chiến Việt Nam, Tết Mậu Thân 1968.
Bìa sách cuốn “Chính Trị Bình Dân” của tác giả Phạm Đoan Trang.
Bìa sách cuốn “Chính Trị Bình Dân” của tác giả Phạm Đoan Trang.

Trong khi đó, “Chính Trị Bình Dân” là cuốn sách mà nhà báo Phạm Đoan Trang viết với mong muốn đánh tan định kiến tai hại “chính trị là xấu xa, thủ đoạn” đã bám rễ vào nhận thức của nhiều người dân Việt Nam. Tác phẩm được giới trí thức hoạt động xã hội đánh giá cao về cả nội dung, phong cách viết và mức độ cần thiết của nó trong bối cảnh hiện tại của Việt Nam.

“[Sách] Chính trị mà Việt Nam xuất bản sau năm 1975 phần lớn là viết về quan điểm của Đảng Cộng sản và dành cho các đảng viên. Còn xuất bản sách về chính trị thì hoàn toàn vắng bóng. Chính vì vậy, tôi đánh giá đây là một tác phẩm rất quan trọng. Nó mở ra một lối cho chính trị đi vào tầng lớp bình dân. Ai cũng có thể tiếp cận nó qua những câu chuyện bình dân và thực tế”. Blogger Phạm Lê Vương Các nhận định với VOA.

Tin cho hay các cuốn sách trên được gửi về Hà Lan, Ba Lan và Mỹ trong 4 bưu kiện, mỗi bưu kiện chỉ có một cuốn sách, tới các địa chỉ cá nhân ở Đà Nẵng và Huế.

Hải quan Đà Nẵng cho biết đã báo cáo lãnh đạo và phối hợp với cơ quan chức năng để có các bước xử lý tiếp theo.

Những cuốn sách bị tịch thu gồm: “Where the ashes are – The Odyssey of a Vietnamese Family”, “Chính Trị Bình Dân” và “Huế 1968 – A Turning Point of the American War in Vietnam”
VOATIENGVIET.COM
 

AN NAM ĐẠI QUỐC HỌA ĐỒ QUA PHÂN TÍCH CỦA MỘT HỌC GIẢ MỸ

Hoang Le Thanh added 5 new photos — with Phan Thị Hồng.

AN NAM ĐẠI QUỐC HỌA ĐỒ QUA PHÂN TÍCH CỦA MỘT HỌC GIẢ MỸ

Tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn

– “Đây là một bản đồ hiếm hoi về Việt Nam vào thế kỷ 19, là một trong những dẫn chứng ủng hộ cho tuyên bố của Việt Nam về chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, nhưng ý nghĩa của nó còn vượt xa giá trị chứng lý của Việt Nam trong cuộc đấu tranh với Trung Quốc về chủ quyền trên quần đảo này”. 
Học giả HAROLD E. MEINHEIT (Hoa Kỳ).

* Tấm bản đồ nổi tiếng

An Nam đại quốc họa đồ là tờ bản đồ có kích thước 84 x 45 cm (ảnh 1), phụ bản của cuốn Dictionarium latino-anamiticum (Từ điển Latin-An Nam), do Oriental Lith. Press xuất bản ở Calcutta (Ấn Độ) vào năm 1838.

Tác giả cuốn từ điển này là Jean-Louis Taberd (1794 – 1840), Giám mục đại diện Tông tòa ở Nam Kỳ dưới triều vua Minh Mạng (1820 – 1841).

Đây là một bản đồ đặc biệt, trước tiên là bởi tên của nó. Bản đồ do một giám mục người Pháp thực hiện, nhưng tên của bản đồ được viết bằng 3 ngôn ngữ: 安南大國畫圖 (chữ Hán), AN NAM ĐẠI QUỐC HỌA ĐỒ (chữ Quốc ngữ) và TABULA GEOGRAPHICAIMPERII ANAMITICI (chữ Latin), trong khi tất cả địa danh trên bản đồ, kể cả các địa danh thuộc Trung Hoa, Lào và Campuchia, đều được viết bằng chữ Quốc ngữ, còn Chú dẫn (Legenda) thì sử dụng cả chữ Quốc ngữ, chữ Latin và chữ Pháp.

Điều đặc biệt thứ hai là trên bản đồ có vẽ hình một cụm đảo ở giữa biển Đông, nằm ở phía bắc vĩ tuyến 16oBắc, phía đông kinh tuyến 110oĐông, có dòng tiêu danh: “Paracel seu Cát Vàng” (Paracel hoặc Cát Vàng). Dòng chữ này đã khẳng định nhóm đảo Paracel theo cách gọi của người phương Tây chính là (nhóm đảo) Cát Vàng (hay Hoàng Sa) theo cách gọi của người Việt đương thời.

Ngoài dòng chữ “Paracel seu Cát Vàng” ghi trên An Nam đại quốc họa đồ, trong bài viết Note on the Geography of Cochin China (Ghi chép về địa lý Nam Kỳ) in trên The Journal of the Asiatic Society of Bengal (vol. 6, part II, p.745), xuất bản tại Calcutta vào năm 1837, Giám mục Jean-Louis Taberd còn chỉ rõ:

“The Pracel or Paracels is a labyrinth of a small islands, rocks, and sand-banks… The Cochin Chinese called them Cón Váng… In 1816, he (king Gia Long) went with solemnity to plant his flag and take formal possess of these rocks, which it is not likely any body wil dispute with him”.

[Pracel hay Paracels là một mê cung của những hòn đảo nhỏ, đá ngầm và bãi cát… Những người dân xứ Cochin China (Đàng Trong) gọi là Cồn Vàng… Năm 1816, vua (Gia Long) đã (cho người) đến long trọng cắm cờ và chính thức tuyên bố chủ quyền ở các bãi đá này, mà chắc chắn là sẽ không có một ai tìm cách tranh giành với ông].

Dòng chữ “Paracel seu Cát Vàng” ghi trên An Nam đại quốc họa đồ cùng với những chú giải trong bài nghiên cứu nói trên của Giám mục Jean-Louis Taberd đã khiến cho tờ bản đồ này trở nên nổi tiếng ở Việt Nam, đặc biệt là trong những năm gần đây. Theo nhiều nhà nghiên cứu, đó chính là bằng chứng chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, được một giáo sĩ phương Tây công bố với thế giới từ nửa đầu thế kỷ XIX.

Tuy nhiên, học giới Việt Nam từ trước đến nay dường như chỉ mới chú ý đến khía cạnh “chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa” được phản ánh trên An Nam đại quốc họa đồ, mà bỏ qua những chi tiết quan trọng và thú vị khác có trên tờ bản đồ lừng danh này.

***

An Nam đại quốc họa đồ qua phân tích của một học giả người Mỹ.

Mới đây, The Portolan, tạp chí của Hội bản đồ Washington (Mỹ), số 97, ấn hành cuối năm 2016 (ảnh 2) đã đăng tải bài khảo cứu rất công phu về An Nam đại quốc họa đồ có tựa là The Bishop’s Map Vietnamese and Western Cartography Converge (Tấm bản đồ Việt Nam của vị Giám mục và sự hội tụ ngành bản đồ học phương Tây).

Tác giả bài khảo cứu này là Harold E. Menheit, cựu viên chức ngoại giao Mỹ, người đã dành phần lớn sự nghiệp của mình ở châu Á, trong đó có Việt Nam, hiện là thư ký của Hội bản đồ Washington.

*

Trong bài khảo cứu dài 13 trang với nhiều hình ảnh minh họa, học giả Harold E. Menheit đã phân tích và đánh giá toàn diện về An Nam đại quốc họa đồ. Mượn lời tự nhận xét của chính của Giám mục Jean-Louis Taberd về bản đồ này:

– “Mặc dù bản đồ này không phải là không sai sót, nhưng tôi nghĩ rằng nó là, và có thể… là tốt nhất và chi tiết nhất mà trước nay chưa hề xuất hiện”

Để làm đề dẫn cho bài khảo cứu của mình, Meinheit khẳng định:

– “Đây là một bản đồ hiếm hoi về Việt Nam vào thế kỷ 19, là một trong những dẫn chứng ủng hộ cho tuyên bố của Việt Nam về chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, nhưng ý nghĩa của nó đã vượt xa giá trị chứng lý của Việt Nam trong cuộc đấu tranh với Trung Quốc về chủ quyền trên quần đảo này”.

Theo ông, bản đồ này là một thành tựu nổi bật trong sự kết hợp giữa bản đồ hành chính truyền thống của Việt Nam với bản đồ học phương Tây. Không chỉ là một bản đồ hành chính đơn thuần, An Nam đại quốc họa đồ đã cung cấp một “bản chụp nhanh” (snapshot) về toàn xứ Đông Dương trong những thập niên đầu của thế kỷ 19, khi mà vương triều Nguyễn đã xác lập vị thế của mình trong một đất nước Việt Nam thống nhất, trước khi đương đầu với cuộc xâm lược của người Pháp.

Bài khảo cứu của Meinheit đề cập nhiều nội dung: lai lịch tấm bản đồ; thân thế của tác giả bản đồ là Giám mục Taberd và chính sách “cấm đạo” dưới triều Minh Mạng; quá trình mở rộng lãnh thổ Việt Nam và chính sách của triều Nguyễn đối với hai láng giềng là Campuchia và Lào; đánh giá của Taberd về kỹ thuật vẽ bản đồ của người Việt và nỗ lực sử dụng chữ Quốc ngữ để định danh và chú giải trên tấm bản đồ vẽ theo kỹ thuật phương Tây của mình; dịch các địa danh bằng chữ Hán sang chữ Quốc ngữ trên các bản đồ hành chính thời Nguyễn để định danh cho các địa điểm ở Việt Nam, Lào, Campuchia và vùng lãnh thổ phía nam Trung Hoa; định vị các khu vực cư trú của các sắc dân thiểu số ở Việt Nam lúc bấy giờ trên bản đồ này, như người Hrê ở phía tây Quảng Ngãi, người Stiêng ở miền đông Nam Kỳ và các bộ tộc thiểu số ở Tây Nguyên.

Meinheit đánh giá đây là “một bản đồ nhiều mục đích” (a map of many purposes) và cho rằng dù Giám mục Taberd đặt ra mục đích cao nhất là “phục vụ cho lợi ích khoa học”, thì dù muốn hay không bản đồ này cũng được các giáo sĩ phương Tây coi là một phương tiện trong hành trình truyền giáo ở Đông Dương.

Tiếp đến, bản đồ này đã được các nhà thực dân người Pháp coi là nguồn thông tin chính về địa lý và hành chính của toàn xứ Đông Dương, với độ chính xác và tin cậy cao nhất.

Do vậy bản đồ đã được tái bản tại Paris vào năm 1862, khi người Pháp ký với triều đình Huế bản Hòa ước Nhâm Tuất, buộc nhà Nguyễn công nhận sự hiện diện của người Pháp ở Nam Kỳ.

Sau đó, nó được tái bản theo chỉ thị của Prosper de Chasseloup-Laubat, Bộ trưởng Bộ Hàng hải và Thuộc địa Pháp, để phục vụ cho các doanh nghiệp thuộc địa ở Đông Dương.

Và bây giờ, “trong thế kỷ 21, bản đồ của Giám mục Taberd lại đảm nhiệm một vai trò chính trị mới trong các cuộc đụng độ triền miên bởi các tuyên bố về tranh chấp chủ quyền ở biển Đông” như nhận định của Harold E. Meinheit về An Nam đại quốc họa đồ.

Harold E. Meinheit cho rằng:

– “Các cuộc xung đột về chủ quyền lãnh thổ ở biển Đông đã mang lại một danh tiếng mới cho bản đồ của Đức Giám mục, mà hiện nay được coi là bằng chứng củng cố yêu sách chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, đã bị Trung Quốc chiếm đóng từ năm 1974”.

Ông đã mô tả vị trí của quần đảo Paracel trên bản đồ, cùng với dòng chữ “Paracel seu Cát Vàng” khẳng định người Việt đã đặt tên cho quần đảo này là Cát Vàng từ rất sớm, đồng thời trích dẫn những đoạn quan trọng trong bài Note on the Geography of Cochin China của Giám mục Taberd in trên The Journal of the Asiatic Society of Bengal vào năm 1937, cũng như dựa vào hồi ký Le mémoire sur la Cochinchine của Jean-Baptiste Chaigneau xuất bản ở Paris năm 1820 để xác thực việc vua Gia Long đã cho người ra Hoàng Sa cắm cờ và tuyên bố chủ quyền vào năm 1816.

Đó chính là bằng chứng chứng minh yêu sách chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, và là một giá trị “không được tính đến” khi Giám mục Jean-Louis Taberd thực hiện bản đồ này.

Ngoài ra, theo Harold E. Meinheit, tấm bản đồ này còn có một giá trị vô cùng quan trọng là nó đã khẳng định cương vực lãnh thổ của một nước Đại Nam hùng mạnh dưới triều Minh Mạng, thống nhất từ Bắc chí Nam, quản lý từ vùng rừng núi phía tây đến vùng biển và các đảo xa về phía đông, và cho thấy “đế chế Việt Nam” (An Nam quốc seu Imperium Anamiticum) đã kiểm soát những phần lãnh thổ bên ngoài cương giới chính thức của Việt Nam đương thời, bao gồm một nửa Campuchia, các tiểu quốc thuộc Lào và phần lãnh thổ đáng kể trong lưu vực sông Mekong mà ngày nay thuộc vùng đông bắc Thái Lan.

Trong bức thư gửi kèm cuốn tạp chí The Portolan có in bài viết của mình cho người viết bài này, học giả Meinheit cho biết tại Hội chợ bản đồ quốc tế Chicago diễn ra vào tháng 10/2016, một ấn bản của An Nam đại quốc họa đồ (in năm 1838) đã được bán với giá 13.000 dollars Mỹ.

Có lẽ đó cũng là một “giá trị khác” mà Giám mục Jean-Louis Taberd cũng “không nghĩ đến” khi xuất bản tấm bản đồ này vào năm 1838.

Ts. Trần Đức Anh Sơn. Anh Son Tran Duc

***

Ảnh 1: An Nam đại quốc họa đồ do giám mục Jean-Louis Taberd xuất bản năm 1838. Bản đang lưu giữ tại Thư viện Quốc gia Pháp ở Paris – Ảnh: Trần Đức Anh Sơn.

Ảnh 2: The Portolan, tạp chí của Hội bản đồ Washington (Mỹ), số 97, ấn hành cuối năm 2016 (ảnh 2) đã đăng tải bài khảo cứu rất công phu về An Nam đại quốc họa đồ có tựa là The Bishop’s Map Vietnamese and Western Cartography Converge (Tấm bản đồ Việt Nam của vị Giám mục và sự hội tụ ngành bản đồ học phương Tây).

Ảnh 3: Bài khảo cứu công phu của học giả Harold E. Meinheit “The Bishop’s Map – Vietnamese and Western Cartography Converge” (Tấm bản đồ của vị giám mục – Sự hội tụ của ngành bản đồ học Việt Nam và phương Tây).

Ảnh 4&5: Học giả Harold E. Meinheit và tác giả – Ts. Trần Đức Anh Sơn – tại Mỹ – Ảnh do Trần Đức Anh Sơn cung cấp

[Bài đăng trên Tuổi Trẻ ngày 10/2/2017]
https://tuoitre.vn/an-nam-dai-quoc-hoa-do-duoi-mat-hoc-gia-…

No automatic alt text available.
No automatic alt text available.
Image may contain: text
Image may contain: 2 people, people standing
Image may contain: 2 people, people sitting and indoor
 
 

Hết khôn dồn đến dại

 

Hết khôn dồn đến dại

Mênh mông thế sự để gió cuốn đi số 32

Năm hết Tết đến mà cứ đổ đốn phơi ra những chuyện dại dột để cho người ta chửi! Trước đây thời mồ ma phong kiến thực dân đã từng có bài chửi mất gà chua ngoa hết cỡ mà lại có vần   vè hẳn hoi, hãy chỉ trích một đoạn: “… dưới âm phủ đội mũ mà lên, trên thiên đàng xếp hàng mà đi xuống, bay hãy vén mái tai, gài mái tóc đặng chống tai lên cho rõ, chống cửa ngõ cho cao, chặt hàng rào cho thấp để mà nghe tau chửi đây nè…”. Chỉ ăn cắp mấy con gà thôi “bay ăn mần răng mà hết chục rưỡi con gà?” mà đã phải nghe dân gian chửi trùm chửi lớp như vậy huống hồ “ăn của dân không chừa một thứ gì” mà bà cựu Chủ tịch nước buột miệng nói ra, thì không hiểu bài chửi mất gà nói trên phải biến tấu sao cho kịp với quy mô, quy trình của “ăn cắp quyền lực” của dân để tác oai tác quái! Cái việc bấn quá mất khôn hay tham quá hóa dại hoặc do thiểu năng về trí tuệ không tính được chuyện “khôn” chỉ dồn toàn chuyện “dại” vào thời buổi “thiên hạ xác rồi còn đốt pháo, nhân tình trắng thế lại bôi vôi” [Tú Xương] khiến bàn dân thiên hạ nổi cơn thịnh nộ.

Mà thật ra đã mất lòng dân thì nếu khôn cũng chỉ là khôn vặt với những thủ thuật, giải pháp của những tiểu nhân đắc chí trong những toan tính đen tối mà Nguyễn Trãi xưa kia từng chỉ ra miệng lưỡi chúng “nhọn hơn chông mác nhọn”, “đã biết cửa quyền nhiều hiểm hóc, cho hay đường lợi cực quanh co”. Cái khôn độc của một lũ quyền thần kéo bè kết cánh dìm chết người ngay, loại bỏ người tài. Ở đấy khái niệm “khôn” chẳng phải là sự khuyên răn giàu chất triết lý của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm “Ở đời có dại mới có khôn, Chớ dại ngu si, chớ quá khôn”! Thâm thúy hơn cả là sự thẳng thừng của dân gian bình về chuyện “dại-khôn” này trong câu ngạn ngữ quen thuộc “người dại cởi truồng, người khôn xấu mặt”. Đối tượng nhận lĩnh búa rìu của dư luận xã hội chính là những kẻ tự xưng là “cầm cân nảy mực” đã tự phơi bày sự liều lĩnh trong việc đưa ra những chủ trương, chính sách, giải pháp rối như mớ bòng bong, luẩn quẩn như gà mắc tóc.

Thì đó, sự “xấu mặt” trước thế giới văn minh bằng thủ đoạn bắt cóc người sau khi thương lượng, van xin không được thì ăn cướp để rồi “Việt Nam đang làm hỏng danh tiếng của mình” vì đã “lập lờ với sự thật” và “bội ước” mà Carl Thayer, người rất am hiểu về Việt Nam đã phải thẳng thắn vạch ra! Chắc là kẻ bày trò bắt cóc nghĩ rằng rồi thì “lời nói gió bay” thôi, cứ dấn lên đi “hy sinh đối ngoại vì mục tiêu đối nội” bằng mọi cách hạ gục đối thủ chính trị mà thiên triều không ưa! Chuyện này ê chệ quá lắm rồi tưởng cũng chẳng phải nói thêm, hệ lụy vẫn đang còn chờ phía trước. Nhất là khi bốc đồng lên mà nói giọng xách mé một cách thiếu khôn ngoan mang tính khiêu khích “tin là các nước văn minh không phải là nơi cư ngụ của tội phạm”!

Cũng chẳng cần phải nói thêm chuyện đáng xấu mặt vì đã dẫm đạp lên hiến pháp bởi Quy định 105, rồi dày xéo lên điều lệ đảng bằng Quy định số 102 tự phơi ra trước thế giới việc “khai trừ” thành quả mà văn minh nhân loại đã có được với nguyên lý tam quyền phân lậpdo các nhà khai sáng đưa ra nhằm chống lại chế độ chuyên chế, thanh toán nạn lạm quyền, để chính quyền không thể gây hại cho người bị trị và đảm bảo quyền tự do cho nhân dân! Đúng là có 1 không [0] 2! Đây chính là sự lột truồng cái thể chế chuyên chế toàn trị phản dân chủ được sao chép từ “chủ nghĩa chuyên chế mới” (neo-authoritarianism) của Tập Cận Bình, đúng hơn từ nhà “lý luận” Vương Hộ Ninh từng là quân sư của cả ba triều đại Giang, Hồ rồi nay là Tập đang chính thức được xem là cốt lõi của tư tưởng Tập Cận Bình.

Theo Ryan Mitchel [trong “China’s Crown Theorist”, Foreign Affairs, 04/12/2017] thì ngay khi sử dụng chủ nghĩa Marx, Vương cũng chỉ thường xuyên tập trung vào việc biện minh cho sự ổn định quyền lực của đảng hơn là hướng tới một xã hội đại đồng không tưởng, cái mà về danh nghĩa quyền lực đó phải xây dựng được. Không một quan niệm trừu tượng nào, cho dù đó là tự do, công lý, bình đẳng, xã hội hài hòa, lòng nhân đức Khổng giáo, thậm chí cả chủ nghĩa duy vật biện chứng… được Vương quan tâm nhiều như là những dữ kiện trần trụi về quyền uy, sự tuân phục và trật tự. Có hiểu điều này mới thấy sâu được vì sao có cái “Quy định một không hai”  phải cấp tập ban ra để tự lột truồng cái thể chế học theo khuôn mẫu Tàu thời Tập. Đối chiếu chuyện này với quyết định hèn hạ cúi đầu vâng chịu ngừng việc khoan dầu đã ký với Epson Tây Ban Nha trước áp lực và sự uy hiếp của Trung Quốc qua chuyến “tuần thú” hăm dọa của Phạm Trường Long, phó bí thư quân ủy TƯ Trung Quôc, mới càng thấm thía cái “dại ngu si” đang dẫn tới thân phận chư hầu của họa “bắc thuộc lần thứ hai” từng được cảnh báo

Quả thật chẳng có cái dại nào giống cái dại nào. Và cũng không phải là chuyện những “kẻ nên khôn đều có dại” như Tú Xương lưu ý. Mà cái dại vừa nói lại chính là cái dại mà cụ Trạng Trình đã cảnh cáo “chớ dại ngu si”. Cái dại này đang gây phẫn nộ trong công luận.

Chẳng thể kể hết những chuyện “dại ngu si” dồn dập phơi ra. Hãy tạm dẫn ra đôi chuyện đang làm “dậy sóng dư luận xã hội”: chuyện xây dựng nghĩa trang cho cán bộ cao cấp, chuyện tăng “đột biến” việc phong học hàm giáo sư, phó giáo sư “đợt vét” trước khi có “quy trình” mới, chuyện tầng tầng lớp lớp ăn theo U23 bóng đá tùy  thuộc vào cơn co giật của đám đông thậm chí cho rằng “thế nước đáng lên” để bốc đồng rằng “vận nước đã đến”, rồi chuyện kiến tạo tuyệt vời của lãnh đạo Thủ đô cho thả thiên nga xuống hồ Gươm đón Tết vào thời điểm “nhìn tổng thể thì đất nước chưa bao giờ được như thế này”!

Thật ra, “nghĩa tử là nghĩa tận”, người có hiểu biết chẳng muốn tham gia vào chuyện mồ mả với người chết, nhưng hiềm một nỗi, đây là làm “nghĩa trang cho cán bộ cao cấp” thì lại là chuyện chọc vào tổ ong bò vẽ. Sự mất lòng dân của cái thể chế đã ruỗng nát, tự phơi ra giữa thanh thiên bạch nhật sự thật xấu xa bấy lâu cố che cho kín. Thì nay trong cuộc thanh toán đối thủ chính trị xoay quanh cái ghế quyền lực đã phải tự lột truồng nhau ra là ngọn nguồn của việc “dậy sóng” chuyện xây nghĩa trang. Cho nên thật xúi quẩy cho cái gọi là “cán bộ cao cấp” mà hễ nhắc đến là gây liên tưởng đến cái việc “lột truồng” tủi hổ kia. Chính điều đó tạo nên sự phản cảm cho dù người ta vẫn hiểu rằng không nên “vơ đũa cả nắm”. Người có chút nhạy bén chính trị phải thấy cho ra tâm trạng quần chúng đang chất chứa dồn nén cái gì, bực dọc cái gì, kinh tởm cái gì chỉ chờ dịp để bục phát ra, như thùng thuốc nổ được châm ngòi. Đâu chỉ hôm nay, lời phẩm bình của giáo sư Ngô Bảo Châu dạo nào “trẻ con ăn không đủ no, áo không đủ ấm, sinh hoạt như lũ thú hoang, mà bỏ ra 1.400 tỷ để xây tượng đài thì hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh” đã là một cảnh báo mạnh dạn, thẳng thắn nhưng đã khó lọt tai nhà cầm quyền. Chính vì thế mà dư luận nổi đóa lên qua lời thơ của Thái Bá Tân văng thẳng vào mặt:

“…dân đang thiếu đói,

                                            Trẻ đi học thiếu trường,

Người ốm thiếu bệnh viện,
Dân bản thiếu con đường,

Mà các ông, lãnh đạo,
Của giai cấp công nông,
Đòi xây nghĩa trang khủng.
Thì đờ mờ các ông.


Thôi, từ nay thôi nhé,
Thôi “vì nước, vì dân”,
Thôi cả chức “đầy tớ”
Nghe chối cả tỉ lần
”.

Chuyện mồ mả chưa yên thì lại nảy nòi ra cái trò ê chệ lạm phát học hàm giáo sư, phó giáo sư vừa được “Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước” công bố. Thật ra thì cái trò ê chệ này chẳng mới mẻ gì. Giá biểu của mỗi chức danh quy ra tiền để chạy, để đút, để “đấm mõm” những vị có giây mơ rễ má từ thấp đến cao trong chuyện phong học hàm này thì cơ quan thông tấn vỉa hè từ lâu đã từng cho biết khá tường tận. Số lượng tăng thêm chức danh giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ luôn tỷ lệ thuận với sự xuống cấp văn hóa, giáo dục, khoa học cùng với sự băng hoại của đạo lý xã hội.

Chỉ cần dẫn ra một chi tiết trong bức tranh tổng thể của chuyện phong tặng này nhằm đúng vào ông “Chủ tịch Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước” cũng cho thấy sự ê chệ ấy là đáng xấu hổ ra sao: Tháng 10/2016, với tư cách Chủ tịch HĐCDGSNN, ông Nhạ ký công nhận mình đạt chuẩn giáo sư chuyên ngành kinh tế. Luật sư Trần Vũ Hải phân tích rất rõ ràng: “Nếu đối chiếu quy định của pháp luật, ông Nhạ không phải là giáo sư vào thời điểm tháng 7/2016, nên không đủ tiêu chuẩn thành viên HĐCDGSNN, không có quy định Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo đương nhiên là Chủ tịch HĐCDGSNN, chưa có quyết định của Thủ tướng Chính phủ (sửa đổi, bổ sung Quyết định 763/2014 QĐ-TTg) về việc bãi nhiệm ông Phạm Vũ Luận khỏi chức chủ tịch HĐCDGSNN khoá 2014-2019 và bổ nhiệm ông Phùng Xuân Nhạ vào chức vụ này. Như vậy việc ông Nhạ tự nhận chức chủ tịch HĐCDGSNN là trái pháp luật, HĐCDGSNN do ông Nhạ làm chủ tịch đang hoạt động trái luật, nội dung quyết định ông Nhạ ký công nhận ông Nhạ đạt chuẩn giáo sư là không hợp pháp”.  Chình vì vậy, vị luật sư này đưa ra khuyến nghị “nếu ông là người tự trọng (đức tính tất yếu của một nhà khoa học), ông nên từ chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chủ tịch HĐCDGSNN và từ bỏ chức danh giáo sư”!

Cũng chẳng cần phải dẫn ra thêm bộ trưởng nào khác nữa cũng đáng xấu hổ không kém hoặc đưa thêm một vài minh họa khá tiêu biểu cho câu chuyện ê chệ này vì liền ngay sau đó báo Tuổi Trẻ đưa tin: Thủ tướng Chính phủ yêu cầu rà soát, bảo đảm chất lượng bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư! Cùng với tin này, Tuổi Trẻ giật tít đậm “Tránh bệnh háo danh” với tiểu mục “Chạy” bằng cấp, học vị, học hàm với nhận định “Nhưng bằng giả không đáng ngại so với “bằng thật học giả”. Gần đây dư luận công khai chuyện chạy bổ nhiệm, chạy bằng cấp, học học hàm học vị…chạy đua để thỏa mãn bệnh hiếu danh, để đánh bóng tên tuổi”.

Nếu đem so với thời Tú Xương “Đứa thì bán tước, đứa mua quan…Phen này ông quyết đi buôn lọng, vừa chửi vừa rao cũng đắt hàng” thì sự “phổ biến” có tính “đại trà” này phải nhân lên cấp số nhân! Rồi sự đòi hỏi mang tính bức xúc của lời chúc năm mới “sao được cho ra cái giống người” của ông Tú thành Nam càng tăng thêm tính cập nhật trong thời điểm “nhìn tổng quát lại đất nước ta có bao giờ được thế này không? Triển vọng phát triển còn tốt lắm… Có lẽ nhìn lại chưa bao giờ quê hương ta đẹp như thế này” như giáo sư tiến sĩ Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Bắc Ninh ngày 13.1.2016 mà Vietnamnet đã đưa!

Chẳng thế mà rồi cả nước bốc đồng, lên cơn co giật trong chuyện sốt bóng đá do U 23 “làm nên lịch sử”. Người có chút mẫn cảm chính trị thì thay vì hùa theo cơn co giật bốc đồng đó, qua sự kiện của hàng vạn người chào đón đội U 23 Việt Nam, á quân của giải U 23 Châu Á trở về để   tìm cho ra cái gì tiềm ẩn, chất chứa bên trong sự bùng phát của sự cuồng nhiệt đáng trân trọng đó chứ không phải “quá giang”.

Đã quá lâu, lòng yêu nước và tinh thần quật khởi của người Việt Nam, đặc biệt là tuổi trẻ, bị dồn nén không được bộc lộ trước hành động xâm lược của Trung Quốc, bị méo mó vì sự lừa mị của nhà cầm quyền đang từng bước trở thành chư hầu che dấu trong tấm áo ý thức hệ, bị thui chột bởi sự trấn áp tàn bạo nhằm đảm bảo những cam kết “Thành Đô” nay có dịp được bung ra! Mà bung ra được vì người ta khai thác điều đó để làm loãng bớt đi sự ngột ngạt đang dồn ép môi trường xã hội tựa như không khi oi bức đang tích tụ trong sự vần vũ của những đám mây đen báo hiệu cơn bão. Có cái gì đó na ná giống như hiện tượng “chết đuối vớ được cọc”!

Thì chẳng phải trong buổi tiếp Việt Kiều về nước ăn Tết, ông Trọng khoái chí kể lại chuyện bóng đá của U 23 Việt Nam “đã tạo ra trong xã hội không khí hồ hởi rất là phấn khởi…mà chơi cũng ngang ngửa chứ có kém gì đời đâu, cho nên những chuyện nhỏ cộng hưởng lại, tất cả cái đó tạo ra cái niềm phấn khởi lan tỏa trong dân, trong đất nước ta”! Ông lại còn cẩn thận phán truyền “không được ngủ quên trên vòng nguyệt quế” cứ như thể với cúp á quân của giải U 23 châu Á là đất nước đang phơi phới đi tới bởi sự lèo lái của ông ta!

Câu chuyện “ăn theo” bóng đá được khai thác quá lộ liễu. Thậm chí không chút liêm sỉ và quá trơ trẽn khi nâng lên thành “thế nước đang lên, vận nước đang tới” nhờ thủ môn Bùi Tiến Dũng đẩy được hai quá penalty và quả sút trong tuyết của tiền vệ Nguyễn Quang Hải! Nếu thế thì ở phút cuối cùng của hiệp phụ thứ hai khi chân sút của đội bạn vừa được đưa vào sân đã làm tung lưới đội nhà e cũng đồng nghĩa với thế nước lại đi xuống và vận nước đã đi tong! Thì chẳng phải là Đội tuyển Việt Nam được đón về Hà Nội bằng một chuyến chuyên cơ do VietJet tặng mà màn biểu diễn hở hang đến mức không thể hở thêm được nữa được các tiếp viên Vietjet tặng không trên máy bay khiến các cầu thủ xấu hổ ngoành mặt đi. Màn diễn lố bịch, trơ trẽn đến nỗi người ta không gọi là hãng Vietjet mà nhạy bén đổi ngay thành Vietsex.

Để tô đậm thêm nội dung, người đưa tin trên mạng đã có mấy câu thơ minh họa thay vì đăng hình ảnh. in được mạn phép tác giả chép ra đây:

Mở mạng ra xem bỗng cúi gầm

Hay mình lác mắt mới trông nhầm

Tày bay cứ tưởng nơi hoan lạc

Người mẫu mà ngờ gái mại dâm.

Sấn sổ quàng vai, em rụt lại

Sượng sùng ngoảnh mặt, chị đương tầm

Ngỡ như nhà thổ đang mùa ế

Bỏ chạy không đành phải nín câm.

Và rồi trên mạng đã có lời bình đáng cân nhắc để dẹp đi cơn co giật quá thô bỉ từ chuyện ăn theo bóng đá được dẫn dắt và khuyến khích từ nơi cao nhất: “…Trước khi tấn công một đất nước, không kẻ ngoại xâm nào nghiên cứu lòng ái quốc bóng đá và số lượng cờ trên má hay trên mông người hâm mộ ở đó. Ai hèn vẫn hèn. Ai ngu vẫn ngu. Ai lười vẫn lười. Ai đê tiện vẫn đê tiện. Ai ăn cắp vẫn ăn cắp. Ai vơ vét vẫn vơ vét. Ai thích nhậu nhẹt hơn rèn luyện thân thể vẫn nhậu nhẹt. Ai chém gió vẫn chém gió. Ai đạo đức giả vẫn đạo đức giả. Ai nuốt lời vẫn nuốt lời. Ai xấu trai vẫn xấu trai. Kẻ độc tài vẫn độc tài. Lòng người chia rẽ vẫn chia rẽ. Thực phẩm bẩn vẫn bẩn. Tham nhũng vẫn tham nhũng. Bệ rạc vẫn bệ rạc. Lầm than vẫn lầm than. Trái bóng tròn vô can. Phép màu chỉ diễn ra trên sân cỏ. 90 phút yêu nước vô hại là đủ và cần chấm dứt, khi trái bóng ngừng lăn”.

Chuyện bóng đá đã qua đi thì khốn khổ thay lại nối tiếp vào chuyện thiên nga! Nhà cầm quyền Thủ đô chắc là “người Miền Bắc, giỏi lý luận” hiểu biết nhiều nên định chơi sang, học đòi giới quý tộc Anh thả thiên nga vào Hồ Hoàn Kiếm. Vì nuôi thiên nga là đặc quyền của vua chúa và giới quý tộc. Đến London, du khách có thể thấy thiên nga đen và trắng bơi ngay hồ nước ở Công viên St James’s Park, trước lối vào Điện Buckingham. Nhưng có lẽ ít du khách biết thiên nga từng bơi tung tăng ở nhiều đoạn sông Thames thuộc độc quyền quản lý của Hoàng gia Anh. Nữ hoàng Elizabeth II, ngoài các tước hiệu như Nguyên thủ Khối Thịnh vượng chung; Tổng tư lệnh Quân lực Hoàng gia; Người Bảo trợ cho Tín ngưỡng Anh Giáo…còn có một tước hiệu là Bà chủ các đàn thiên nga (Seigneur of the Swans). Đây là tước hiệu cho vua và nữ hoàng Anh Quốc có từ thời Trung cổ, khi quyền sở hữu loài chim “quý phái nhất trong các loài”, là biểu tượng của địa vị cao. Nói ngắn gọn thì chỉ các vị quý tộc mới có quyền nuôi thiên nga, còn gọi là ‘Swan Upping’ và đàn thiên nga của họ có dấu đồng gắn ở chân. Để có các dấu đồng (marks), nhà giàu phải đóng thuế khá cao và đây là cách loại trừ tầng lớp dưới “chơi sang”.

Thì “chơi sang” chứ sợ gì nào, duyệt y kế hoạch thả thiên nga xuống hồ Gươm theo đúng quy trình! Thế rồi các con khiếu quen hót ở chốn cao sang để kiếm chác thêm chút đỉnh ngoài những chức danh đã chi chít phủ kín tấm “cạc vi dít” đã vội vã cười toe toét tung hô từ góc độ “khoa học” về loại động vật quý hiếm này. Nhưng đùng một cái, báo Lao Động ngày 6.2.2018 đưa tin: Ông Trần Nhữ Giáp – Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư công viên Vườn Chim Việt – đơn vị tặng 12 con thiên nga thả hồ Gươm vừa bị khởi tố về tội: “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ”. Bài báo cho biết thêm: “Áp dụng các tình tiết giảm nhẹ khác, Toà án nhân dân huyện Thanh Trì tuyên bố xử phạt Trần Nhữ Giáp 60 triệu đồng. Liên quan tới việc thả thiên nga tại hồ Gươm, sáng ngày 6.2, lãnh đạo Công ty TNHH MTV Thoát nước Hà Nội xác nhận 12 con thiên nga được thả xuống hồ Gươm đã được bắt lên và chuyển sang hồ Thiền Quang”.

Lý do chuyển địa điểm thả thiên nga được vị lãnh đạo này cho biết là do một số nhà khoa học phản đối. Sau khi thả thiên nga xuống hồ Gươm, các nhà khoa học cho rằng nơi đây là chốn linh thiêng, gắn liền với truyền thuyết rùa vàng, thả con gì cũng phải nghiên cứu thận trọng. Vậy thì “thế nước” và “vận nước” ra sao đây khi xảy ra chuyện xúi quẩy này? Khi dẫn ra tin quá bất ngờ kia, bloger Z nọ đã chu đáo đưa ra phương án gợi ý với lãnh đạo Hà Nội chọn để thay thiên nga vừa phải tắp lự chuyển đi ngay trong đêm khuya khoắt như sau:  Các phương án để lãnh đạo tp Hà Nội chọn lựa để “thả” vào Hồ Gươm:

Ảnh biếm họa của họa sĩ LAP

Để kết thúc câu chuyện hết khôn dồn ra dại này xin có đoạn “vĩ thanh” dẫn ra những lời thâm thúy trong một ngâm khúc của cụ Nguyễn Gia Thiều có liên quan đến hình ảnh và ngôn từ với đôi sự kiện đương đại. Nhà thơ ôm mối ngu trung, nặng nợ với triều đại Lê-Trịnh vì đã được thụ hưởng ân huệ suốt cả cuộc đời nằm trọn trong giai đoạn rối ren nhất của nước ta và cuối cùng là sự sụp đổ tất yếu của cái triều đại mà tác giả của kiệt tác được trích dẫn đã tôn thờ.

Đôi câu thơ tạo ra sự liên tưởng oái oăm mà tưởng như năm chó sắp đến với bức tranh “vân cẩu” không mấy sáng sủa khiến tâm trạng ai đó bị giằng xé bởi “cuộc thành bại hầu cằn mái tóc” mà mơ đến sự đổi thay “lớp cùng thông như đúc buồng gan”. Ngán một nỗi, “trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán, chết đuối người trên cạn mà chơi”. Cái viễn ảnh hiện ra trước mắt lại ứng vào việc ông Trọng đang dồn tâm sức “Lò cừ nung nấu sự đời, Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương”! Chắc ông không biết được rằng, chính cái lò ông nhóm lên để đốt được cả củi tươi ấy có gốc gác với “lò cừ nung nấu sự đời” mà theo tiếng Tầu thì “lò cừ” có nghĩa là cái lò to lớn dịch từ chữ “cự lô”. Trong bài phú của Giả Nghị có câu “Thiên địa vi lô hề, tạo hóa vi công” có nghĩa là “Trời đất như một cái lò, ông trời như người thợ đốt lò”!

Con người ở trong đời này bị nén trong lò tạo hóa đó, tùy theo người thợ trời nung nấu,  nói theo ngôn từ biện chứng ông sính dùng, thì đó là quy luật vận động của vũ trụ. Ông muốn làm ông trời để ban phát quyền sinh quyền sát đâu có được. Cái bức tranh “vân cẩu” ứng vào năm Mậu Tuất e không được thuận cho ông. Liệu rồi “đất bằng bỗng rắc chông gai, ai đem nhân ảnh nhuốm mùi tà dương”, bóng người mờ dần theo bóng mặt trời sắp tắt của buổi mạt triều có khiến cho người nuôi mộng làm vua với bao mưu ma chước quỷ được truyền dạy từ các thày Tàu có dẫn đến kết cục “bừng con mắt dậy thấy mình tay không” không nhỉ?

Cho nên buộc phải có ngay “chủ trương đặc biệt mở đường xử đại án” sau cái Tết Mậu Tuất này. Theo ông Chánh án Tòa án tối cao vừa công bố thì các phiên xử này sẽ tiến hành “dưới sự chỉ đạo rất quyết liệt của Ban Chỉ đạo trung ương về phòng chống tham nhũng, đứng đầu là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng”. Vậy là rồi đây các “bản án bỏ túi”, theo cách gọi dân gian, sẽ dồn dập tung ra thì “bức tranh vân cẩu” không chỉ “vẽ người tang thương” mà còn “phong trần đến cả sơn khê, tang thương đến cả hoa kia cỏ này”! Vậy thì, “được lòng dân là được tất cả, mất lòng dân là mất tất cả” như ông Trọng với cơn cuồng nhiệt bóng đá đã thốt ra trong buổi tiếp Việt Kiều vừa rồi, một câu khá nhất trong những câu mà ông đã xuất thần nói ra, thì với những gì ông đang làm đã khiến lòng dân đang mất sạch. Mất sạch ra sao, xin hãy nghe lời nói đanh thép của bà Cấn Thị Thêu trước bà con Dương Nội vào sáng hôm nay 11.8.2017, ngày bà rời khỏi nhà tù, để hiểu về lòng dân mà ông Tổng Bí thư vừa nói:

Hôm nay, tôi đã thoát khỏi ngục tù cộng sản, ra khỏi nhà tù nhỏ, trở về nhà tù lớn, nơi mà có hàng triệu bà con dân oan đang ngày đêm phải rên xiết dưới ách thống trị của đảng cộng sản Việt Nam…… Phải cho chúng từ quan làm dân, để cho chúng không còn có cơ hội cướp bóc, đàn áp, đánh đập nhân dân. Phải bắt chúng chịu trách nhiệm về tất cả những tội ác mà chúng đã gây ra cho nhân dân chúng tôi. … Phải cho chúng tận mắt chứng kiến, nỗi đau tột cùng của những gia đình có người thân bị chúng đánh chết hoặc bị thương tích đầy người hoặc hoặc bị tù tội oan sai, để cho chúng biết rằng tội ác của chúng là không thể dung tha. Mong toàn thể bà con dân oan, hãy đoàn kết muôn người như một, để chúng ta có đủ sức mạnh đấu tranh, chống lại bọn quan tham cường hào ác bá…”.

Lời răn của Mạnh tử: “ý dân là ý trời” được thể hiện sống động trong giọng nói dõng dạc, trong nét mặt bình thản và bất khuất của người phụ nữ nông dân vừa ra khỏi nhà tù thì quả là “trời có mắt”! Nói về dân thì chắc ông Trọng khó nghe, tuy vậy “cái gương nhân sự chiền chiền” khiến ông không thể không lưu ý rằng, chính Tập Cận Bình trong ngày 20.7.2017 tại một hội nghị công tác chính trị, pháp luật của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cảnh báo: “Đừng thấy anh hôm nay thoải mái vui vẻ, cẩn thận sau này phải thanh toán… Trên đầu ba thước có thần minh, nhất định phải có lòng kính sợ”. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà nhà độc tài theo “chủ nghĩa chuyên chế mới” dành toàn bộ tâm trí thực thi quyền uy, sự tuân phục và trật tự như đã phân tích ở trên đã phải thốt ra điều này.

Cái “dại ngu si” dù ăn sâu bám rễ vào đầu óc chặc cũng giật mình để “nhất định phải có lòng kính sợ” ý chí và sức mạnh của dân. Có được điều đó thì may ra mới nên khôn nhờ biết dại, để “nhờ biết dại mới nên khôn”!

_____

Bản chất của những tay đồ tể cộng sản là không bao giờ thay đổi.

Thuong Phan and 5 others shared Lê Công Định‘s post.

Lê Công Định

Tôi đọc đi đọc lại lá thư của Hoàng Phủ Ngọc Tường về sự kiện Mậu Thân 1968 ở Huế, và nhận ra vài điều sau đây (ngoài những điều nhiều người đã phân tích rõ):

1) Nhiều độc giả đọc nhanh nên dễ dàng nhận định và kết luận rằng lá thư đó vừa là lời sám hối của Hoàng Phủ Ngọc Tường, vừa là sự thừa nhận quân đội cộng sản Bắc Việt chính là thủ phạm của cuộc thảm sát Mậu Thân 1968 ở Huế.

Theo tôi hoàn toàn không phải như vậy. Hãy bình tâm đọc kỹ và lưu ý cách dùng từ của một tay viết giỏi vốn được các trường lớp tuyên truyền của cộng sản đào tạo và nhồi sọ nhiều chục năm.

2) Thật vậy, đây đơn thuần là lời xin lỗi về hành động mạo nhận thiếu trung thực trong cuộc phỏng vấn năm 1981 mà thôi, không có sự ân hận nào trong đó.

Tuy Hoàng Phủ Ngọc Tường cảm thấy “thống thiết” trước cuộc tàn sát kinh hoàng đó, nhưng chỉ xem đó là sai lầm, chứ không phải tội ác. Sai lầm thì rút kinh nghiệm và cùng lắm là xin lỗi, chứ không ân hận hay sám hối như cảm xúc của thủ phạm khi nhận ra mình đã phạm tội ác tày trời.

3) Những “tang tóc thê thảm” mà nhiều gia đình Huế gánh chịu, theo Hoàng Phủ Ngọc Tường, là do hành động giết oan của “quân nổi dậy”, chứ không phải của bộ đội cộng sản Bắc Việt. Độc giả cần lưu ý điểm này.

Chúng ta đều biết, phía cộng sản vẫn gọi chiến dịch Mậu Thân 1968 là trận “tổng tiến công và nổi dậy”, tức là bộ đội chính quy Bắc Việt tiến công, còn người dân địa phương nổi dậy. Đó cũng chính là “học thuyết” quân sự của Lê Duẩn trong chiến tranh Việt Nam.

Vậy, tuy thừa nhận có cuộc thảm sát, nhưng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã khéo léo đổ lỗi đó cho người dân địa phương ở Huế qua cách dùng chữ “quân nổi dậy”. Nói cách khác, người Huế giết người Huế, chứ không hề có bàn tay của quân đội cộng sản Bắc Việt ở đây.

4) Đoạn nói rằng sai lầm của quân nổi dậy là không thể chấp nhận từ góc độ lương tâm dân tộc lẫn quan điểm “chiến tranh cách mạng”, cho thấy Hoàng Phủ Ngọc Tường vẫn biện minh và bảo vệ đến cùng sự vô can của quân đội cộng sản trong cuộc thảm sát Mậu Thân 1968 ở Huế, bởi họ không chủ trương như vậy trong cái gọi là “chiến tranh cách mạng”.

5) Tận phút cuối cùng vẫn tiếp tục che đậy tội ác của mình và đồng bọn đối với đồng bào Huế bằng một lá thư được viết với ngôn từ khôn khéo thượng thừa, khiến nhiều người lầm tưởng, cho thấy bản chất của những tay đồ tể cộng sản là không bao giờ thay đổi.

Do vậy, đừng trông mong vào sự thừa nhận và hối lỗi về cuộc thảm sát Mậu Thân từ nhà cầm quyền này trong tương lai. Hãy nhìn cách họ tổ chức ăn mừng nhân dịp 50 năm sự kiện bi thương ấy để biết lòng dạ họ thế nào. Nếu chế độ này còn kéo dài, tôi tin chắc rằng họ sẽ tiếp tục nhảy múa như những kẻ vô can.

NGÔI MỘ ĐỜI THƯỜNG !

Thuong Phan and Huỳnh Phi Long shared Vi Vu‘s post.
Image may contain: plant, flower, table, outdoor and nature

Vi Vu

 

NGÔI MỘ ĐỜI THƯỜNG !

Ngôi mộ cụ Alexander De Rhodes – người đã có công to lớn góp phần trong việc hoàn thiện chữ Quốc Ngữ cho Việt Nam chúng ta, mộ phần của người nằm khiêm tốn trong một nghĩa trang đơn sơ vắng lặng ở tp. Esfahan, Iran .

Cho dù là nơi tận cùng của vùng Tây Á xa xôi, chiến tranh ác liệt nhưng vẫn có rất nhiều người, đương nhiên trong đó có cả những người Việt Nam nghĩa đạo đã đến ngả mũ nghiên mình viếng thăm ngưỡng mộ .

Cụ xả thân phục vụ nhân loại bởi cụ là nhà truyền giáo kiệt xuất, là nhà văn hóa lớn, nhà ngôn ngữ vĩ đại, là bậc vĩ nhân đúng nghĩa mang tầm thế giới – không phải là hào quang danh vọng mà là sự khiêm nhường bởi đức tin chân lý sáng ngời, được phát ra từ đức độ cao vời .

Nếu mộ cụ bình dân hơn tất cả cái bình dân đời thường .

Thì 1.400 tỷ đồng hoang phí của dân để thỏa mãn cho nhu cầu dục vọng hóa thân, âu cũng chỉ là bất nhân bất nghĩa, vô tình vô nghĩa mà thôi . 

Thái độ hậu chiến và nhãn quan về tội ác chiến tranh…

Phan Thị Hồng is with Hoang Le Thanh and 5 others.

Mượn bài của ông Manh Kim

Đăng xong, nghĩ ăn Tết.
Quê tôi không có mạng, càng tốt.

Nguyễn Đắc Xuân nhất mực cho rằng những “mất mát” đó là “ngoài ý muốn” và Mậu Thân vẫn là một “chiến thắng lịch sử”.

Trích từ bài đăng của Fb Manh Kim:

Việc ông Hoàng phủ Ngọc Tường có mặt ở Huế hay không thật ra không quan trọng. Ông có mặt hay không thì chiến dịch thảm sát vẫn xảy ra theo đúng kế hoạch sắp sẵn từ trước. Ông có mặt hay không thì danh sách nạn nhân cần được “tiêu diệt” cũng đã nằm trong túi áo đám sát thủ được phân công đi giết người. Ông có mặt hay không thì đống xương trắng của hàng trăm nạn nhân ở Khe Đá Mài vẫn trơ những hốc mắt kinh ngạc bàng hoàng như thể họ muốn hỏi, vào ngày đó; và muốn được trả lời, sau 50 năm, rằng “Tại sao tôi bị giết?”.

Việc không có mặt ở “hiện trường”, có thể được xem như là yếu tố “ngoại phạm” và là bằng chứng “vô tội”, thật ra là vô nghĩa. “Gây án” với lịch sử, dính dáng trực tiếp hay gián tiếp với lịch sử, không thuộc sự phán xét của một quan tòa. Nó thuộc sự đánh giá của dân tộc và sự phán xét của tòa án lương tâm. Tôi cảm nhận được sự dằn vặt của các ông trước những chỉ trích và cáo buộc dính dáng cuộc thảm sát. Tuy nhiên, 50 năm qua, ông Tường (và em trai của ông), cũng như ông Nguyễn Đắc Xuân, đã làm gì để sự thật được đưa ra ánh sáng? Các ông có biết ai là kẻ trực tiếp ra lệnh chiến dịch thảm sát, nếu có, tại sao không “tố giác”; nếu không, tại sao không kêu gọi một cuộc điều tra thủ phạm chóp bu thật sự, thay vì khổ sở thanh minh cho cá nhân mình?

Nếu các ông không có tội thì ai là kẻ có tội và tại sao các ông “chịu tội” thay? Với tư cách những người hoạch định và tham gia chiến dịch, các ông biết những gì? Các ông đã kể lại những gì và còn che giấu những gì? Chưa lần nào, trong bất kỳ bài viết nào khi “hồi tưởng” sự kiện Mậu Thân, các ông giải thích vì sao có những hố chôn tập thể mà nạn nhân đều bị trói ngoặt bằng dây kẽm gai…

Tôi không lên án sự chọn lựa chỗ đứng lịch sử của các ông trong thời điểm đó. Thái độ và sự chọn lựa cách thức để nhìn lại mình của các ông hàng chục năm qua mới là điều cần quan tâm. Tôi không chỉ trích sự chọn lựa quá khứ. Tôi chỉ thắc mắc sự chọn lựa hiện tại và cách nhìn hiện tại khi nhắc lại quá khứ. Hàng chục năm qua, các ông vẫn chỉ gỡ tội cho cá nhân mình chứ không phải giải oan cho hàng ngàn nạn nhân, tiếp tục nhất mực rằng những “mất mát” đó là “ngoài ý muốn” và Mậu Thân vẫn là một “chiến thắng lịch sử” – như lời lặp đi lặp lại của Nguyễn Đắc Xuân.

Thái độ hậu chiến và nhãn quan về tội ác chiến tranh của những người như Nguyễn Đắc Xuân đã khiến những kẻ hậu sinh như tôi xin được mạn phép thưa rằng, cho tôi gạt qua sự kính trọng cần có đối với người cao niên để thay bằng một cảm giác đối ngược.