Tin người làm vườn, nữ Việt kiều Mỹ bị ‘dàn cảnh’ lấy trộm $60,000

Báo Nguoi-viet

May 2, 2023

HẬU GIANG, Việt Nam (NV)  Chiều 2 Tháng Năm, Phòng Cảnh Sát Hình Sự Công An tỉnh Hậu Giang đã bắt giữ nghi can Lê Minh Trang, 54 tuổi, ngụ tỉnh Cà Mau, để điều tra về tội “trộm cắp tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.”

Theo báo Tuổi Trẻ, hôm 1 Tháng Năm, một nữ Việt kiều Mỹ, 50 tuổi, đến Công An xã Đông Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, trình báo bị mất trộm $60,000, cùng 5 triệu đồng ($213), một điện thoại di động và một số giấy tờ tại nhà ở ấp Phú Lợi, xã Đông Phú.

Nghi can Lê Minh Trang cùng tang vật vụ trộm. (Hình: Huy Phách/Tuổi Trẻ)

Qua điều tra, công an nghi ngờ ông Trang, người làm vườn thuê cho nữ Việt kiều, có nhiều biểu hiện nghi vấn nên mời lên làm việc.

Chiều cùng ngày, nghi can Trang thừa nhận mình lấy trộm tài sản. Kiểm tra hiện trường nơi ông ta cất giấu tài sản, công an thu được nhiều tiền đô la và khoảng 300 triệu đồng ($12,785), cùng giấy tờ của nạn nhân.

Khai với cơ quan điều tra, ông Trang cho biết mình được bà chủ Việt kiều tin tưởng gửi về nhờ giữ dùm $47,000 từ đầu năm đến nay. Nổi lòng tham, ông Trang chiếm đoạt tiêu xài. Gần đây, khi bà chủ từ Mỹ về Việt Nam, sợ bại lộ ông ta lên kế hoạch đối phó.

Sáng 1 Tháng Năm, ông Trang lén lấy hơn $13,000, điện thoại và giấy tờ của bà chủ đem giấu trong bụi cây gần nhà. Sau đó ông ta dàn cảnh hiện trường giả là bị trộm đột nhập lấy tài sản của bà chủ, kể cả số tiền $47,000 mà mình đang giữ dùm. Tá hỏa, nạn nhân trình báo công an.

Bản tin của báo Tuổi Trẻ không tiết lộ danh tính của nữ Việt kiều Mỹ này. (Tr.N) [kn]

Không chấp nhận ‘đa nguyên, đa đảng’ nhưng có thể đa… vương (Phần 1)

Báo Tiếng Dân

Blog VOA

Trân Văn

2-5-2023

Ở những quốc gia văn minh, không bao giờ xảy ra tình trạng, dẫu đã phát giác tội phạm nhưng hệ thống bảo vệ và thực thi pháp luật dân sự phải ngừng lại vì nghi can làm việc cho… Bộ Quốc phòng. Ảnh minh họa. Nguồn: Reuters

Hai nhóm – một đại diện cho… “công an nhân dân”, một đại diện cho… “quân đội nhân dân” – cùng thuộc… “lực lượng vũ trang nhân dân” đã tranh cãi kịch liệt về… “trách nhiệm, quyền hạn” của mỗi bên suốt từ 21 giờ 30 đến sau 23:00…

Sắp tròn hai tuần kể từ ngày công an huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị đối đầu với Biên phòng tỉnh Quảng Trị nhưng các viên chức hữu trách từ địa phương đến trung ương vẫn án binh, bất động.

Cuộc đối đầu vừa kể xảy ra hôm 22/4/2023 ở xã Triệu An, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị là bằng chứng mới nhất về tình trạng sau khi… thống nhất, Việt Nam có rất nhiều lãnh chúa chia nhau làm chủ các lãnh địa và nắm trong tay đủ loại kiêu binh…

***

Cách nay mươi ngày, gần như tất cả các cơ quan truyền thông chính thức tại Việt Nam cùng tường thuật về chuyện biên phòng vây công an ở Quảng Trị… Theo đó, khoảng 8 giờ 30 tối 22/4/2023, một tổ tuần tra của Công an huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị đã lập chốt, chặn những người đang di chuyển trên quốc lộ 49C đoạn chạy qua xã Triệu An để kiểm tra mức độ cồn trong máu của họ. Bởi một trong những người bị chặn lại từ chối thực hiện yêu cầu đo mức độ cồn trong máu nên công an quyết định tạm giữ phương tiện mà người này đang điều khiển với lý do… “không chấp hành yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn của người thi hành công vụ”.

Ngay sau đó một viên trung tá là Đồn trưởng Đồn Biên phòng Triệu Vân dẫn một đoàn xe chở sĩ quan và lính trong đồn đến hiện trường. Lúc đầu nhóm sĩ quan và lính biên phòng yêu cầu công an trả lại phương tiện cho người từ chối “kiểm tra về nồng độ cồn” vì đó là sĩ quan đang làm việc tại đồn. Do công an không đáp ứng, nhóm sĩ quan và lính biên phòng đã vây nhóm công an rồi đòi các cá nhân trong nhóm công an… “xuất trình giấy tờ”. Hai nhóm – một đại diện cho… “công an nhân dân”, một đại diện cho… “quân đội nhân dân” – cùng thuộc… “lực lượng vũ trang nhân dân” đã tranh cãi kịch liệt về… “trách nhiệm, quyền hạn” của mỗi bên suốt từ 21 giờ 30 đến sau 23:00…

Nhiều người chứng kiến đã ghi lại cảnh các bên thuộc… “lực lượng vũ trang nhân dân” thóa mạ, hăm dọa nhau rồi đưa lên Internet. Các cơ quan truyền thông chính thức tại Việt Nam thông tin thêm: Cả Công an huyện Triệu Phong lẫn Đồn Biên phòng Triệu Vân đều đã gửi báo cáo cho các cơ quan hữu trách cấp trên. Công an huyện Triệu Phong tố giác biên phòng “cản trở công an thi hành nhiệm vụ”. Đồn Biên phòng Triệu Vân thì báo cáo, trên đường tuần tra đã phát giác sáu kẻ mặc cảnh phục đang hiện diện trong khu vực mà đồn có trách nhiệm bảo vệ nên đã kiểm tra giấy tờ của cả sáu nhưng các đương sự không chấp hành, do vậy biên phòng đã… lập biên bản (1)!

Nếu gạch bỏ các từ “công an” và “biên phòng” ra khỏi những tin, bài tường thuật về sự kiện vừa đề cập thì diễn biến của sự kiện đó chẳng khác gì tin, bài tường thuật về các nhóm du đãng đang tranh giành quyền kiểm soát khu vực nào đó! Tuy chiến tranh đã chấm dứt cách nay 48 năm song cung cách quản trị, điều hành xã hội Việt Nam vẫn như thời chiến, công an và quân đội – những thực thể cấu thành “lực lượng vũ trang nhân dân” vẫn là các lãnh địa riêng, hoạt động theo kiểu “nước sông không được phạm vào… nước giếng”, do vậy khi điều tra về tham nhũng trong quá trình thực hiện các chuyến bay “giải cứu”, Bộ Công an không thể đụng đến những cá nhân thuộc Bộ Quốc phòng (2).

Cần lưu ý, cho dù quân đội có sự khác biệt với dân sự nhưng chắc chắn không thể tìm thấy bất kỳ quốc gia văn minh nào chấp nhận quân đội là một thực thể độc lập trong điều tra và xử lý các vi phạm pháp luật, đặc biệt là những vi phạm pháp luật liên quan đến sinh hoạt dân sự như Việt Nam. Chẳng hạn hồi tháng 2 vừa qua, sau khi bị cảnh sát thành phố Shalimar, quận Okaloosa, tiểu bang Florida tạm giữ vì “lái xe khi đang say rượu”, Trung tá Collin Charlie Christopherson – Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Bảo trì phương tiện phục vụ hoạt động của Không đoàn 1 chuyên thực hiện các nhiệm vụ đặc biệt thuộc Không quân Mỹ – đã bị cách chức ngay lập tức.

Vào thời điểm đó, đại diện Không đoàn 1 lặp lại điều mà quân đội Mỹ luôn luôn khẳng định: Không bao giờ dung thứ cho bất kỳ vi phạm pháp luật nào ở cả bên trong lẫn bên ngoài căn cứ quân sự và cấp bậc, chức vụ càng cao thì việc xử lý càng nghiêm khắcKhông đoàn 1 cam kết hỗ trợ cảnh sát địa phương điều tra và xử lý Trung tá Christopherson (3). Khác với Việt Nam, nhiều quốc gia, trong đó có Mỹ, buộc quân đội phải tôn trọng thẩm quyền của hệ thống bảo vệ và thực thi pháp luật dân sự. Nếu quân nhân vi phạm pháp luật trong sinh hoạt bên ngoài căn cứ quân sự, thẩm quyền điều tra – truy tố – xét xử sẽ thuộc về hệ thống bảo vệ và thực thi pháp luật dân sự.

Ở những quốc gia văn minh, không bao giờ xảy ra tình trạng, dẫu đã phát giác tội phạm nhưng hệ thống bảo vệ và thực thi pháp luật dân sự phải ngừng lại vì nghi can làm việc cho… Bộ Quốc phòng và ngoài việc… “đề nghị” Bộ Quốc phòng… điều tra, hệ thống bảo vệ và thực thi pháp luật dân sự không thể làm gì khác hơn. Còn tại Việt Nam, hoạt động điều tra những hành vi trái pháp luật liên quan đến việc tổ chức – thực hiện các chuyến bay “giải cứu” đã kết thúc, phía công tố đã hoàn tất cáo trạng nhưng chỉ có những cá nhân không khoác áo quân nhân bị truy tố, còn Bộ Quốc phòng có làm gì đối với những cá nhân là quân nhân đã nhận hối lộ hay không thì không ai có quyền được biết!

(Còn tiếp)

Chú thích

(1) https://vtc.vn/quang-tri-tranh-cai-khi-mot-can-bo-bien-phong-bi-csgt-bat-do-nong-do-con-ar769357.html

(2) https://thanhnien.vn/vu-chuyen-bay-giai-cuu-co-dau-hieu-nhan-hoi-lo-tai-bo-quoc-phong-185230404165154679.htm

(3) https://www.military.com/daily-news/2023/02/21/special-operations-commander-fired-after-being-arrested-alleged-drunk-driving-hit-and-run.html

CÂU CHUYỆN NGÀY 30 THÁNG 4: AI LÀ KẺ THÙ?

Xuyên Sơn

Sách Cổ Học Tinh Hoa có câu chuyện sau:

[Trích dẫn]

Tựa:

QUÝ LỜI NÓI PHẢI

Vua nước Tấn đi chơi thuyền.

Các quan đi hầu đông đủ cả.

Vua hỏi:

– Loan Doanh ta đã cấm cố một nơi,

con là Loan Phường trốn chạy ra ngoại quốc. Có ai biết Loan Phường bây giờ ở đâu không?

Các quan yên lặng, không ai nói gì cả.

Người lái thuyền tên là Thanh Quyên buông tay chèo đứng dậy thưa rằng: -Nhà vua hỏi Loan Phường làm gì?

Vua nói:

– Từ khi ta đánh được họ Loan đến nay, nghe họ Loan người già chưa chết hết, người trẻ đã lớn lên. Ta lo họ phục thù, cho nên ta mới hỏi.

Thanh Quyên:

– Nếu nhà vua khéo sửa sang chính sách nước Tấn, trong được lòng quan, ngoài được lòng dân, thì dù cho còn con họ nhà Loan mà làm gì được nhà vua. Nhưng nếu nhà vua không sửa sang chính sách nước Tấn, trong mất lòng quan, ngoài mất lòng dân thì ngay cả những người ngồi trong thuyền này ai cũng là con nhà họ Loan cả.

Vua khen:

– Ngươi nói phải lắm.

Rồi sáng hôm sau cho đòi Thanh Quyên đến, ban cho một vạn mẫu ruộng.

Thanh Quyên từ không nhận.

Vua nói:

– Lấy một vạn mẫu ruộng ấy đổi lấy một lời nói kia, kể ra nhà người còn thiệt mà quả nhân còn lợi nhiều, nhà ngươi cứ lấy.

Ấy người đời cổ quý lời nói phải như thế đấy.

[Hết trích dẫn]

Vua Tấn trong câu chuyện trên là

Tấn Bình Công thời Xuân Thu ở Trung Quốc.

Loan Doanh là bầy tôi của vua Tấn.

Vì bị gièm pha mưu hại nên ông ta chạy sang nước Tề.

Vua Tề muốn dùng Loan Doanh chống Tấn nên cấp quân cho họ Loan quay về đánh Tấn.

Loan Doanh đánh úp kinh thành Giáng Đô, khiến Tấn Bình Công phải bỏ chạy. Nhờ có Phạm Mang giúp,

quân Tấn sau đánh bại được Loan Doanh.

Cả họ Loan sau đó bị diệt tộc,

chỉ còn Loan Phường trốn thoát sang nước Tống.

Vua Tấn tuy diệt được cả họ Loan, nhưng vẫn còn Loan Phường sống sót nên thâm tâm ông ta vẫn lo sợ có ngày họ Loan báo thù, vì vậy mà có câu chuyện trên.

Chuyện xưa đã trên hai ngàn năm, tưởng chỉ kể cho vui, nhưng ai biết được rằng đời nay có câu chuyện giống như vậy đang xảy ra?

****

Năm xưa, quân Cộng Sản miền Bắc tiến chiếm miền Nam, cuộc chiến kết thúc ngày 30 tháng Tư 1975.

Sau khi chiến thắng,

Cộng Sản hứa sẽ “khoan hồng” cho tất cả người đã từng chiến đấu trong quân đội miền Nam hoặc làm việc cho chính quyền miền Nam, kêu gọi hòa giải dân tộc, cùng tái thiết đất nước.

* Nhưng những gì CS nói và CS làm khác xa nhau.

CS đã lùa hàng triệu quân cán chính của chế độ miền Nam cũ vào các trại gọi là để “học tập cải tạo”,

kỳ thực là các trại lao động khổ sai,

để cho họ chết lần mòn vì lao động quá sức, thiếu ăn, thiếu thuốc men.

Ai trốn trại bị xử bắn không thương tiếc.

Vợ con những người này cũng không được buông tha, họ bị ép đi các vùng gọi là “kinh tế mới”, là những nơi đất hoang chưa được khai thác.

Họ phải bỏ nhà cửa ở thành phố lên những vùng đất hoang đó,

được cấp lương thực chỉ đủ vài tháng, với nhiệm vụ khai khẩn đất đai.

Nhiều người sau khi hết lương thực phải mò về lại thành phố kiếm sống,

nhưng nhà cửa đã bị chính quyền CS chiếm, họ trở thành những kẻ vô gia cư, sống lây lất đầu đường xó chợ.

Ai may mắn còn giữ được nhà thì trở thành những công dân hạng hai trong chế độ mới. Họ bị liệt vào thành phần “ngụy”, không được nhận vào các cơ quan nhà nước, không được vào làm các công ty quốc doanh

(thời đó hầu hết các công ty đều là quốc doanh),

không được kết nạp vào Đảng CS hay Đoàn Thanh Niên CS,

thi vào đại học bị xếp cuối bảng thứ tự ưu tiên, phải được điểm thật cao thì may ra mới đậu.

Không sống được với CS, hàng triệu người đã bỏ nước ra đi bằng cách đào thoát trên những chiếc thuyền mong manh.

Hàng trăm ngàn người đã bỏ xác trên biển cả, vì bão tố, vì thiếu xăng dầu, vì thiếu lương thực, vì lạc hướng, vì hải tặc, và nhiều lý do khác nữa.

Có những người vượt biên bằng đường bộ qua Campuchia định đến Thái Lan thì gặp phải quân kháng chiến Cộng Sản Khmer Đỏ.

Vốn thù hận CS Việt Nam nên họ trút giận lên những người Việt nào rơi vào tay họ.

Họ hãm hiếp phụ nữ, giết chết nam giới, trấn lột, hoặc bắt cóc đòi tiền chuộc mạng.

CS đã gọi những người bỏ nước ra đi là “rác rưởi trôi dạt về bên kia bờ đại dương”.

Những người ở lại cũng không được yên. CS đã mở các chiến dịch gọi là

“đánh tư sản mại bản” nhằm vào những người có chút ít của cải.

CS lập ra những đội kiểm tra, bất cứ nhà nào có chút của cải là các đội kiểm tra ập vào kiểm kê. Họ xáo tung đồ đạc để tìm tiền, vàng bạc hoặc các đồ quý giá.

Nhà nào bị kiểm kê là coi như tan hoang, dù không giàu có, của cải vẫn bị tịch thu.

Không có luật lệ, quy định nào về việc kiểm kê này, đội kiểm kê muốn lấy gì thì tùy thích.

Thời đó, ai chống đối thì bị ghép vào tội “phản cách mạng” là coi như đi tù rục xương.

Tất cả những của cải thu được không ai biết nó đi đâu.

Trên danh nghĩa nó được thu về cho “chính quyền cách mạng”

để “xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa”, nhưng thực tế nó vào túi các cán bộ kiểm kê và những người lãnh đạo.

Năm 1979, Trung Quốc xua quân tràn qua biên giới phía bắc Việt Nam để “dạy cho Việt Nam một bài học” vì Việt Nam đã đưa quân sang xâm lăng Campuchia mấy tháng trước đó.

Cuộc chiến chỉ kéo dài gần một tháng và kẻ được học “bài học” không phải là Việt Nam mà là Trung Quốc.

Trong cuộc chiến này quân đội Trung Quốc đã bị tổn thất nặng nề về nhân mạng.

Sau khi quân Trung Quốc rút khỏi Việt Nam, chính quyền CS Việt Nam coi người Việt gốc Hoa là những đối tượng bị nghi ngờ.

Đa số người gốc Hoa đã sinh sống lâu đời ở Việt Nam. Nhiều người sinh trưởng ở Việt Nam, chưa từng về Trung Quốc.

Có người không còn liên hệ gì với Trung Quốc, dù vẫn còn nói được tiếng Hoa. Nay họ bỗng trở thành đối tượng bị nghi kỵ.

Chính quyền CSVN đã ép họ phải hồi hương, tức là quay về lại Trung Quốc. Hàng trăm ngàn người Việt gốc Hoa đã phải bỏ nhà cửa, tài sản, cơ nghiệp xây dựng từ mấy đời, để đi qua biên giới Trung-Việt.

Trung Quốc thì lại không muốn nhận những người này, cho nên rốt cuộc họ bị kẹt ở biên giới (phía bên Trung Quốc).

Sự kiện này được gọi là “Nạn Kiều” hay “Hoa Kiều Hồi Hương”.

CSVN luôn đổ lỗi cho Trung Quốc xúi giục người gốc Hoa hồi hương,

sự thực là chính CSVN đã ép họ đi.

Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, những người mà CS gọi là

“ngụy quân ngụy quyền” phần lớn đã qua đời, hoặc ra đi nước ngoài.

Những người còn sống thì đã già nua. Thế nhưng bất cứ ai trong lý lịch 3 đời còn dính tới “ngụy” là vẫn bị phân biệt đối xử.

Sách giáo khoa dạy cho trẻ em vẫn đầy những từ ngữ hằn học, cay cú về cái chế độ từ lâu đã không còn tồn tại, tựa như nó vẫn còn là mối đe dọa với chế độ CS vậy.

Nếu như sau gần 50 năm, CSVN xây dựng được một chế độ dân chủ, tiến bộ, xã hội công bằng, thì cho dù cái đám con cái “ngụy” còn đông đúc đi nữa, thì họ có làm được gì để xoay chuyển tình thế?

Nhưng rõ ràng là CSVN đã không làm được điều đó.

Họ không xây dựng được chế độ dân chủ, không đem lại công bằng cho xã hội.

Chính quyền đầy những quan chức tham nhũng, thối nát.

Xã hội đầy dẫy bất công, giàu nghèo cách biệt.

Công an, cảnh sát sách nhiễu dân. Nhà cửa, đất đai của dân bị cưỡng chế vô cớ, tòa án xét xử bất công. Đâu đâu cũng có dân oan.

Chính sự thối nát của chính quyền CSVN là điều kiện tốt để giúp cho bọn “ngụy”, bọn “ba que” ngóc đầu lên, vì khi dân chúng oán giận thì họ phải tìm ai đó đồng cảm với mình để ta thán, và những người đồng cảm đó không ai khác hơn là bọn “ngụy”.

Nếu như chính quyền CSVN mà tốt đẹp, trong sạch, thì những trang facebook, những kênh Youtube của bọn “phản động”, “ba que” trong và ngoài nước như Anh Chỉ Râu Đen, Trương Quốc Huy, Lisa Phạm, v.v… chẳng có mấy ai thèm đọc hay nghe, vì bọn họ đâu có chuyện gì để nói!

Năm 1861, nước Mỹ xảy ra nội chiến, liên bang miền Bắc và liên minh miền Nam đánh nhau vì bất đồng về chế độ nô lệ.

Miền Bắc muốn xóa bỏ chế độ nô lệ trong khi miền Nam muốn duy trì.

Vì kinh tế miền Nam chủ yếu dựa vào nông nghiệp, nên họ muốn có nô lệ người da đen để làm công việc đồng áng.

Kết quả miền Bắc chiến thắng vào năm 1865.

Sau khi chiến thắng, có hai khuynh hướng đối nghịch nhau trong chính quyền liên bang miền Bắc, một phe thì muốn trừng phạt miền Nam,

một phe chủ trương xóa bỏ hận thù, cùng chung tay tái thiết đất nước.

Cuối cùng phe xóa bỏ hận thù thắng thế.

Chính quyền liên bang đã chú tâm vào việc xóa bỏ chế độ nô lệ và tái thiết kinh tế miền Nam.

Không có trả thù, không có sự phân biệt đối xử với người miền Nam.

Chỉ sau vài thập niên, Hoa Kỳ là một quốc gia hoàn toàn thống nhất, không chỉ về địa lý, chính trị, mà thống nhất cả lòng người.

CSVN đã bỏ lỡ cơ hội thu phục nhân tâm, thống nhất lòng người sau năm 1975.

Nhưng họ có …. cả gần nửa thế kỷ để làm chuyện đó, mà có vẻ như họ không muốn làm.

Cái mà họ quan tâm là làm sao tận diệt được bọn “ngụy, ba que”,

không cho chúng ngóc đầu lên, làm sao để bảo vệ chế độ CS đến cùng.

Họ vẫn tiếp tục bóp méo lịch sử, nhồi nhét vô đầu thế hệ trẻ những lời tuyên truyền dối trá mà họ gọi đó là lịch sử.

Chả trách sao bây giờ các nhà giáo vẫn thường hay kêu ca là học sinh bây giờ dốt sử.

Viết sử, dạy sử không nhằm mục đích nâng cao kiến thức mà chỉ nhằm mục đích tuyên truyền nhồi sọ thì làm sao học sinh thích học được.

Trở lại chuyện nước Tấn. Sau đời vua Tấn Bỉnh Công, nước Tấn còn tồn tại thêm hơn 100 năm nữa.

Đến đời vua Tấn Tĩnh Công, ba gia tộc Hàn, Triệu, Ngụy vốn là bầy tôi của nhà Tấn, đã có âm mưu cướp nước từ lâu, truất phế vua Tấn.

Nước Tấn bị diệt vong, lãnh thổ bị chia thành ba nước Hàn, Triệu, Ngụy.

Rốt cuộc nước Tấn không bị con cháu họ Loan tiêu diệt như Tấn Bình Công lo sợ, mà bị chính những gia tộc được coi là “công thần” tiêu diệt.

Như người chèo thuyền Thanh Quyên đã nói:

nếu không sửa sang chính sự,

thì chính những người đang ở bên cạnh mình sẽ là kẻ thù tiêu diệt mình.

******

Ghi chú:

Sách “Cổ học tinh hoa” do hai học giả Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân biên soạn năm 1926.

Sách này gom góp những câu chuyện hay trong lịch sử và văn chương Trung Quốc với ý nghĩa răn đời.

Sách có thể được xem miễn phí trên mạng

(dùng Google tìm kiếm).

Blogger: Người Vá Trời

https://nguoivatroi.blogspot.com/

Việt Nam: Gần 800 người chết, hơn 45.000 người nhập viện dịp lễ 30/4

VOA Tiếng Việt

Có đến 786 ca tử vong, hơn 45.000 người nhập viện trong hai ngày nghỉ lễ dịp 30/4 – 1/5 tại Việt Nam, truyền thông Việt Nam dẫn thông tin từ Bộ Y tế cho biết.

Số liệu thống kê được Cục Quản lý khám chữa bệnh tổng hợp từ các cơ sở y tế ở 63 tỉnh thành cho biết tổng số người bệnh đi khám, cấp cứu tại các cơ sở y tế trong 2 ngày là 110.443 người.

Trong số các ca tử vong, có 34 nạn nhân tai nạn giao thông và 7 ca liên quan đến Covid-19. Số người bệnh tử vong bao gồm cả tử vong tại cơ sở khám chữa bệnh, trên đường đến cơ sở khám chữa bệnh và tiên lượng tử vong xin về.

Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ tử vong do tai nạn giao thông hàng đầu thế giới. Trong năm 2022, toàn quốc xảy ra hơn 11.000 vụ tai nạn giao thông, làm chết hơn 6.000 người, bị thương hơn 7.000 người, theo thống kê của Cục Cảnh sát giao thông, Bộ Công an Việt Nam.

Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tỉ lệ tai nạn giao thông cao tại Việt Nam là tình trạng uống rượu bia.

Việt Nam xếp thứ hai trong các nước khu vực Đông Nam Á, xếp thứ 3 châu Á về mức tiêu thụ bình quân rượu bia/người.

Báo cáo toàn cầu năm 2018 cho thấy mức tiêu thụ rượu bia bình quân/người trưởng thành quy đổi ra cồn nguyên chất là 8,3 lít/năm (cao hơn mức trung bình của thế giới là 6,4 lít/năm).

Ước tính chi phí trực tiếp cho tiêu thụ rượu bia ở Việt Nam năm 2017 là 4 tỷ USD, gần bằng 7% số thu ngân sách của nhà nước, chưa tính đến chi phí gián tiếp.

Ngoài ra, ngộ độc thực phẩm, hỏa hoạn… cũng là những nguyên nhân khiến tỉ lệ nhập viện, tử vong tại Việt Nam tăng rất cao vào các dịp lễ tết.

Thông tin của Bộ Y tế Việt Nam cũng cho biết riêng về khám chữa bệnh liên quan đến Covid-19, trong hai ngày nghỉ lễ, có hơn 2.000 ca tới khám, hơn 1.100 ca nhập viện điều trị nội trú, số ca tử vong là 7 người. Hiện còn 78 ca Covid-19 ở mức độ nặng, nguy kịch đang được điều trị.

DDPZUAZ44QX0T.CLOUDFRONT.NET

Việt Nam: Gần 800 người chết, hơn 45.000 người nhập viện dịp lễ 30/4

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Chết không nhắm mắt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Báo Đàn Chim Việt

Tôi tình cờ “nhặt” trên FB một tác phẩm khá độc đáo của Marc Riboud. Ông “chớp” được cảnh một anh bộ đội (với con búp bê nằm dưới nắp ba lô, và cái sắc cầm tay) đang trên đường trở về quê cũ.

Cùng với bức ảnh là lời bình, cũng độc đáo không kém, của FB Nguyễn Hoàng : “Thằng này coi vậy mà hiền, chỉ lấy con búp bê cho con và cái bóp đầm cho vợ mà thôi.”

Thằng chả hiền thiệt chớ. Cái ba lô xẹp lép hà. Ngó thấy mà thương. Là kẻ cầm súng, thuộc phe thắng trận, đương sự có thể thu góp được chiến lợi phẩm nhiều hơn thế.

Bên thua cuộc, rõ ràng, không mất mát chi nhiều mà Bắc/Nam đã được “nối vòng tay lớn” – theo như cách nói của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn. Rồi ra, tác giả còn dự tưởng, sẽ có những đoàn tầu thống nhất “toả khói trắng hai bên đường,” những đám “trẻ thơ đi hát đồng dao” khắp ngõ, và “mọi người ra phố mời rao nụ cười.”

Họ Trịnh, có lẽ, thực lòng tin tưởng như thế. Niềm tin của ông cũng được không ít người cùng thời chia sẻ. Sự thực, tiếc thay, khác thế. Sau ngày “Nam/Bắc hoà lời ca” thì nụ cười gần như biến mất trên môi của mọi người dân Việt.

Dù thuộc bên thắng cuộc, những bộ đội phục viên cũng không hề được hân hoan cười đón khi họ trở về :

“Tôi đã được chứng kiến cảnh hẫng hụt của nhiều người khi họ … ngơ ngác tìm kế sinh nhai, đã không ít người đòi đảng, chính quyền cơ sở phải chia ruộng đất cho họ, và tất nhiên đảng, chính quyền không thể moi đâu ra ruộng đất để cho họ cày, cực chẳng đã, nhiều người đã trực tiếp đòi ruộng cha ông mà ngày trước họ đã góp vào hợp tác xã, không ít người đã tự ý đi cày ruộng cha ông của mình, thế là … họ được quy là công thần gây rối, chống lại đường lối của đảng, nhà nước, kết cục có người bị đuổi ra khỏi đảng, có người bị bắt lên xã, lên huyện tạm giam để xử lý vì đã ngang nhiên lấn chiếm đất đai của nhà nước đã giao cho người khác.” (Vi Đức Hồi – Đối Mặt, Chương II).

Đoạn hồi ký thượng dẫn giúp cho độc giả hiểu tại sao vỉa hè Hà Nội lại đông đảo những người làm nghề cửu vạn. Họ sống ra sao?

“Mỗi tối thuê cái chiếu nằm gầm cầu, có tiền bạc của nả thì gối đầu, giắt lên ngực. Bốn bên lủng củng người nằm, nói anh bỏ lỗi, nó đéo nhau huỳnh huỵch rồi lại chửi nhau, quát nhau to tiếng hơn ô tô chạy ngoài đường.” (Tô Hoài. Chiều Chiều. Phương Nam, Hà Nội: 2014).

Giữa Thủ Đô Của Lương Tâm Nhân Loại mà trải chiếu “đéo nhau huỳnh huỵch” thì (ngó) cũng hơi khó coi. Tuy thế – và được thế – vẫn hơn hẳn nhiều bạn đồng đội (không may) khác, đang “nạng gỗ khua rỗ mặt đường làng.”

Hạnh phúc hay đau khổ (nghĩ cho cùng) chỉ là sự so chiếu, và mọi so chiếu đều tương đối cả. Nói chi đến những người lính vô danh, ngay cả một nhân vật tiếng tăm cỡ như thi sĩ Tế Hanh (“từng là ủy viên ban chấp hành hoặc thường vụ Hội Nhà Văn VN, từng mười năm liền phụ trách đối ngoại của hội, từng có chân trong ban phụ trách nhà xuất bản Văn học”) đến cuối đời cũng đành chép miệng : “Trải qua hai cuộc chiến tranh mình còn được sống, được làm thơ, còn may mắn hơn khối người khác, thế là được rồi.” (Vương Trí Nhàn. Cây Bút Đời Người. Phương Nam, Hà Nội: 2002).

Vâng, đúng thế. Còn sống là “may mắn hơn khối người” rồi!

Theo thống kê (chắc không khả tín) của Tổng Cục Chính Trị thì đến năm 2012, toàn quốc chỉ có 1.146.250 liệt sĩ và khoảng 600.000 thương binh, trong đó có 849.018 liệt sĩ hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ. Wikipedia tiếng Việt cho biết thêm :

“Từ tháng 12 năm 1994 đến hết năm 2001, Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phong tặng và truy tặng danh hiệu cao quý cho 44.253 Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng.”

Có bà bị lọt sổ vì không đủ “kiên trinh” nên đã (lỡ) đi thêm bước nữa – theo như tường trình của Tuổi Trẻ Online :

“Chúng tôi đến khi bà Trần Thị M. đang ăn tối ngay trên giường. Bà đã ở trên giường như vậy gần ba năm rồi, kể từ khi đôi chân không còn tự đứng lên được nữa. Ấy thế nhưng khi hỏi đến chuyện xưa, đôi mắt bà sáng lên.

Bà say sưa kể về những ngày hoạt động cách mạng, những ngày tù ngục đòn roi tra tấn, thương tích tới 75% (thương binh hạng 2/4)… Vượt qua được hết, chỉ không chịu nổi mỗi lúc nghe tin chồng, tin con thôi” – bà chợt trầm giọng. Ba lần ‘không chịu nổi’ ấy là vào năm 1962, ông Võ Mười, chồng bà, hi sinh khi bà mới 30 tuổi; năm 1964, con trai út Võ Danh của bà bị bắn chết khi vừa 6 tuổi, đang được giao việc cảnh giới cho các chú cán bộ họp; năm 1971, con trai lớn Võ Thái làm giao liên cho ban binh vận Khu ủy Khu V hi sinh ở tuổi 16.

Còn lại một mình giữa đạn bom, hai lần bị bắt, giam cầm tra khảo ở nhà lao Quảng Ngãi, năm 1974 bà gá nghĩa với một người đồng đội, ông Thái Văn Thới. Chiến tranh vẫn ác liệt, đâu biết mai này sống chết thế nào. Thương nhau, thông cảm hoàn cảnh của nhau thì về với nhau thôi” – bà kể. Ngày 21-2-2014, UBND P.12, Q.Bình Thạnh đã tổ chức cuộc họp để xét duyệt và đề nghị Nhà nước tặng danh hiệu Bà mẹ VN anh hùng cho bà. Phường đã có tờ trình về trường hợp của bà gửi Phòng Lao động – thương binh và xã hội (LĐ-TB&XH) Q.Bình Thạnh, Sở LĐ-TB&XH TP.HCM. Tuy nhiên, sau đó gia đình bà nhận được thông báo bà chưa được lập hồ sơ đề nghị phong tặng danh hiệu Bà mẹ VN anh hùng do đã… tái giá.”

Phải chi cái hồi giao “công tác cách mạng” cho hai đứa nhỏ (6 tuổi và 16 tuổi) mà Nhà Nước cũng xét (nét) kỹ càng như vậy thì đỡ cho mẹ Trần Thị M. biết mấy. Dù sao, vẫn còn có điều an ủi là nhờ đang sống ở thành phố mang tên Bác nên tờ trình về trường hợp của bà cũng đã được gửi tới Sở LĐ -TB&XH TP.HCM và đã được cứu xét (rồi) từ chối!

Có mẹ không nhận được danh hiệu anh hùng chỉ vì lỡ “chui rúc” ở những nơi hoang vu quá. Bên Kia Đèo Bá Thở là một nơi như thế :

“Trên bản đồ quân sự cũng như bản đồ của nha Ðịa Dư không bao giờ có địa danh ‘Ðèo Bá Thở’. Bởi vì đặt cái tên cho ngọn đèo này chính là tôi và một vài người bạn… Ngọn đồi nằm không xa trại giam chúng tôi trong tỉnh Yên Bái. Ngày ngày đội chúng tôi có mười anh em phải băng qua bên kia cái đèo khốn nạn này, tới một khu rừng toàn thị là tre, nứa, giang…

Mấy ngày đầu chúng tôi không chú ý tới cuối dốc bên kia có một cái nhà tranh đã sập. Người chủ căn nhà lấy vài thân tre to, chống cái mái lên, nên mái nhà chạm đất. Tất nhiên trong tình trạng đó nó không có cửa. Chúng tôi đã vài lần đi về ngang đó và tưởng nó đã bỏ hoang, bởi vì trông nó còn thua một cái chòi chăn vịt ở miền Nam.

Một hôm cả bọn chúng tôi thấy trời còn sớm, nên nghỉ lại bên kia dốc một lát trước khi ‘bá thở’. Chúng tôi nghe lục đục trong cái chòi bỏ hoang, và phát giác đuợc một cụ già thật già. Nét mặt bà cụ nhăn nheo hệt như những vết nẻ của ruộng bị hạn hán nhiều ngày.

Bà già có một cặp mắt nâu đục, lờ đờ và đầy rỉ mắt. Bà già mặc một cái áo bông vá chằng vá đụp. Phải gọi đây là cái áo vá trên những miếng vá. Nó nặng dễ chừng đến năm ký chứ không chơi. Chúng tôi gạ chuyện, song tất nhiên bà già biết chúng tôi là tù ‘Ngụy’ nên không hé răng một nửa lời.

Hôm sau trong lúc đốn tre chúng tôi hội ý. Chúng tôi lấy dư ra mỗi ngày vài cây về giấu ở gần căn lều của bà cụ. Ðược vài ngày đủ tre để dựng lại căn lều, chúng tôi để hai người lại sửa còn tám người vào rừng đốn tre cho đủ số lượng của mười người. Chúng tôi cũng cắt tranh về để dậm lại những chỗ quá mục nát. Căn nhà sửa xong, có cửa để chui ra chui vào. Bà già khi đó tự động nói chuyện với tụi tôi :

– Lão có ba đứa con, một đứa đã có giấy tử sĩ, hai đứa kia thì hoà bình lâu rồi, nhưng lão không hề nhận được một chữ của chúng từ ngày chúng đi. Lão mới có giấy mẹ liệt sĩ, mỗi tháng có tiền nhưng chả vào đâu.” (Hoàng Khởi Phong. “Bên Kia Ðèo Bá Thở.” Cây Tùng Trước Bão. Thời Văn, Hoa Kỳ: 2001).

Bà lão hẳn đã qua đời từ lâu. Những người lính thắng trận trên đường về quê (với con búp bê cầm tay) hơn 40 năm trước e cũng không còn mấy ai sống sót. Đám mẹ ngụy và lũ con thua cuộc cũng thế, cũng đều đã lần lượt đi vào lòng đất.

Kẻ Bắc/người Nam, bên thua/bên thắng nên họ đã phải trải qua những hoàn cảnh và kinh nghiệm sống khác nhau. Duy có điều này thì chắc chắc là hoàn toàn không khác: khi họ chết không ai nhắm mắt!

Nhà nước CSVN có chủ trương hòa giải và hòa hợp dân tộc hay không?

Báo Tiếng Dân

Trương Nhân Tuấn

1-5-2023

Đọc một số bài viết trên các trang mạng BBC, VOA, RFA… nhân nói về biến cố 30 tháng 4 năm 1975, ta thấy một số bài có nội dung phê bình việc nhà nước CSVN “nói mà không làm” về chủ trương “hòa giải dân tộc”. Năm nào cũng cũng có những bài viết tương tự như vậy chớ không phải đặc biệt năm nay.

Chuyện này không mới. Trong cộng đồng người Việt tị nạn thì mỗi khi có ai nói về “hòa giải hòa hợp dân tộc” tức khắc người đó bị chụp cho cái mũ “thằng đó Việt cộng”.

Điều này có thể thông cảm vì không thiếu tình trạng những người VNCH cũ quay đầu phục vụ cho CSVN. Những người này tuyên truyền trong cộng đồng người Việt nước ngoài về “chủ trương hòa giảỉ hòa hợp dân tộc” của đảng và nhà nước CSVN.

Sự thật ra sao? Sự thật theo tôi là nhà nước CSVN chưa bao giờ có chủ trương “hòa giải” (hay hòa giải hòa hợp dân tộc) với bất kỳ một đối tượng nào.

Cá nhân tôi nhiều lần rà tới rà lui, “đỏ mắt” đọc toàn bộ 70 năm “văn kiện đảng” cùng với “cả đống” các nghị định, các bộ luật của nhà nước CSVN mà không hề thấy bất cứ một văn kiện nào dính dáng, hay nói về vấn đề “hòa giải”.

Ngoại trừ diễn văn 15-5-1975 của Lê Duẩn – đăng trên báo Nhân Dân ngày 16-5-1975 có nói về “tinh thần” hòa giải hòa hợp dân tộc, nguyên văn như sau:

Với tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, nhân dân đã tỏ rõ lượng khoan hồng đối với tất cả những ai đã lầm đường lối, bất kể quá khứ của họ như thế nào, nay trở về với dân tộc. Miễn là họ thành tâm hối cải, thành tâm mang hết tài năng ra phục vụ Tổ quốc thì vị trí của họ trong lòng dân tộc sẽ được bảo đảm, mọi sự ô nhục mà kẻ tội phạm gây ra là đế quốc Mỹ sẽ được rửa sạch“.

Tôi nhấn mạnh chữ “tinh thần” trong câu “tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc”. “Tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc” khác với “chủ trương” HG&HHDT.

Những gì thuộc “chủ trương của nhà nước” (thí dụ chủ trương của nhà nước về HG&HHDT) thì chủ trương này luôn đi kèm với một hệ thống văn bản, hay một bộ luật (như Luật về Hòa giải quốc gia), để việc thi hành “có giá trị pháp lý ràng buộc”.

Còn “tinh thần” thì diễn giải sao cũng được, không có gì bó buộc hết cả.Tinh thần HG&HHDT của Lê Duẩn là sự khoan hồng đối với những người phục tùng đảng CSVN.

Tôi có thể kết luận (mà không sợ sai lầm) rằng đảng và nhà nước CSVN chưa bao giờ có chủ trương về hòa giải (hay HG&HH DT).

“Hòa giải-réconciliation” là hành vi chỉ có ở những dân tộc văn minh.

Những động tác tuyên truyền của ban kiều vận, thông qua các cá nhân VNCH cũ, có mục đích khoác lên chủ trương “chiêu dụ” của CSVN bộ áo nhân văn mang tên “hòa giải và hòa hợp dân tộc”.

Cá nhân tôi có đặt câu hỏi đến một số tác giả các bài viết liên quan. Không một ai đưa được bằng chứng về sự hiện hữu “chủ trương” hòa giải dân tộc của đảng, hay của nhà nước CSVN.

Một số người đưa bằng chứng là Nghị quyết 36. Theo tôi thấy có sự ngộ nhận.

Nghị quyền 36 về “Công tác đối với người Việt ở nước ngoài”, toàn bộ văn bản không hề có có chữ “hòa giải”. Ngay cả nội dung của nghị quyết 36 cũng không có đoạn nào có nội dung mang ý nghĩa “hòa giải” hết cả.

Bởi vì nội dung Nghị quyết 36 nói về chủ trương “Đại đoàn kết dân tộc”, hiện hữu từ thời Hồ Chí Minh.

Phần II, đoạn 1 Nghị quyết 36: “Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cần thể hiện đầy đủ truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc“.

Truyền thống “đại đoàn kết dân tộc” được áp dụng trong thời kỳ mới là gì? Đó là: “Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai. Mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc“.

Vô số người miền Nam bị mất nhà, mất tài sản, thân bị tù tội hàng chục năm … Người bị qui vào tội “ngụy quân ngụy quyền”, người bị qui vào “tư sản”… Họ bị tước đoạt mọi của cải, tài sản mà không thông qua môt bản án nào.

Bây giờ thì nhà nước có chủ trương “kinh tế thị trường”, cho phép dân làm ăn như thời VNCH. “Làm chủ tài sản” ngày trước là môt trọng tội. Nay lại là một “quyền”. Chính sách của nhà nước phải nhứt quán. Không thể “lúc này lúc khác” được.

Vấn đề là những nạn nhân bị mất tài sản, mất đất đai, nhà cửa trước kia… không được nhà nước bồi thường thiệt hại.

Làm sao người ta có thể “xóa bỏ mặc cảm, định kiến để hướng tới tương lai”?

Không hòa giải, tức nhà nước CSVN không nhìn nhận sai lầm và sửa sai qua hình thức trả lại tài sản, hay đền bồi cho nạn nhân, thì làm sao người ta có thể “xóa bỏ định kiến”? Mà sự thật không phải là “định kiến”.

Chuyện “đánh tư sản” chỉ là một hạt cát trong sa mạc sai lầm của đảng và nhà nước CSVN.

Câu hỏi đặt ra là tại sao các nhà báo, các sử gia, học giả v.v… lại luôn nói rằng “chủ trương hòa giải hòa hợp dân tộc” là của nhà nước CSVN?

Còn trong “quần chúng nhân dân”, phe “cờ vàng” luôn qui kết những người bàn về “hòa giải hòa hợp dân tộc” là cộng sản.

Cá nhân tôi nhiều năm trước có chủ trương yêu cầu nhà nước CSVN phải ra một bộ luật về Hòa giải quốc gia. Mục đích “kế thừa danh nghĩa VNCH” để củng cố hồ sơ chủ quyền Hoàng sa và Trường Sa.

Ý kiến này đến với tôi sau khi tôi tham khảo tài liệu (La représentation du Viet-Nam dans les institutions spécialisées) của học giả Joele Duy Tân Nguyen, một giáo sư về Luật quốc tế ở Pháp. Những dòng cuối tập tài liệu, bà đặt câu hỏi (đại ý): Nhà nước CSVN hôm nay lấy tư cách nào để kế thừa di sản VNCH trong khi họ vẫn luôn gọi thực thể này là “ngụy”?

Không lẽ tôi cũng là VC?

Tôi không nghĩ tác giả các bài báo (nói chủ trương HG&HHDT là của nhà nước CSVN) có nhiệm vụ sơn son thiếp vàng chính sách “đại đoàn kết dân tộc” của CSVN.

Vấn đề là các tác giả, cũng như phe “cờ vàng”, có cùng mục đích với đảng và nhà nước CSVN.

HÃY XEM CÁCH NGƯỜI MỸ KẾT THÚC NỘI CHIẾN

(Nhân ngày 30-4 copy về đọc để suy ngẫm)

Cách đây đúng 150 năm, Tướng Robert E Lee của quân đội miền Nam đầu hàng Tướng Ulysses Grant của quân đội miền Bắc, đánh dấu kết thúc cuộc nội chiến Hoa Kỳ đã làm hơn 7 trăm ngàn người thiệt mạng. Sở dĩ gọi là chiến tranh Nam Bắc là vì cuộc chiến diễn ra giữa hai phe: phe miền Bắc (còn gọi là phe liên bang) đứng đầu là Tổng thống Lincoln chủ trương xóa bỏ buôn bán nô lệ người da đen và phe miền Nam chống lại chủ trương này.

Cuộc chiến Nam Bắc của Mỹ thường được nhắc tới qua những trận đánh đẫm máu giữa quân đội của hai phe: quân miền Bắc do tướng Ulysses Simpson Grant chỉ huy và quân miền Nam do tướng Robert Edward Lee cầm đầu. Tuy tướng Lee đã nhiều lần tấn công và gây tổn thất khá nặng cho đội quân của tướng Grant nhưng quân miền Bắc được sự hỗ trợ to lớn từ ngân sách liên bang và chiêu mộ được thêm nhiều quân số từ những người nô lệ da đen vừa được giải phóng nên cuối cùng quân miền Nam của tướng Lee phải chấp nhận thua trận.

Đã có những lời khuyên tướng Lee nên chia nhỏ quân của mình ra và tiến hành đánh du kích nhưng tướng Lee đã nói: nếu cứ tiếp tục chiến tranh gây bao chết chóc thì tội của tôi đáng chết gấp ngàn lần. Ông đã nhắn cho tướng Grant là ông chuẩn bị đầu hàng. Tướng Grant nhắn lại, đề nghị tướng Lee chọn địa điểm bàn thảo việc qui hàng. Và căn nhà của một người buôn bán tên là Wilmer Mc. Lean tại làng Appomattox đã được chọn. Ngày nay ngôi nhà này trở thành di tích lịch sử quốc gia, và được gọi là Appomattox Court House.

Đến ngày hẹn, tướng Lee bận một bộ lễ phục mới tinh và đeo kiếm, còn tướng Grant xuất hiện muộn hơn trong bộ đồ tác chiến thường ngày còn dính bùn đất hành quân. Hai người ngồi trong phòng khách của ông Mc. Lean và hàn huyên thân mật về những kỷ niệm quân ngũ trong cuộc chiến tranh Mexico. Câu chuyện lâu đến nỗi tướng Lee sốt ruột, chủ động đề cập đến “mục đích buổi gặp gỡ của chúng ta ngày hôm nay là bàn về việc đầu hàng”. Tướng Grant bèn lấy cây bút chì và tờ giấy viết vội những điều khoản và trao cho tướng Lee, trong đó có những nội dung nói về binh lính miền Nam:

  1. Không bị coi là phản quốc và không phải ở tù.
  2. Chính phủ coi binh lính miền Nam là những công dân bình thường nếu họ chấp hành tốt luật lệ.
  3. Được mang ngựa và lừa về nhà để giúp gia đình cày cấy vào mùa xuân.

Sau khi xem qua những điều tướng Grant vừa viết, tướng Lee nói: “Những điều này sẽ có tác động tốt đến quân sĩ của tôi. Chúng sẽ góp phần quan trọng trong việc hòa giải dân tộc chúng ta.” Tướng Lee cho biết ông sẽ trao trả những tù binh miền Bắc vì ông không có đủ lương thực cho họ. Tướng Grant đáp lại rằng ông sẽ gửi ngay cho binh lính miền Nam 25.000 phần lương thực khô. Ông cũng ra lệnh cho in 28.231 giấy phóng thích cho binh lính miền Nam.

Khi tin phe miền Nam đầu hàng bay đến doanh trại, quân miền Bắc định bắn đại pháo chào mừng. Tướng Grant ra lệnh ngưng ngay lập tức các hoạt động ăn mừng. Ông nói với các sĩ quan dưới quyền: “Chiến tranh đã kết thúc. Giờ đây họ đã là đồng bào của chúng ta”. Ông cho rằng hai bên không còn là kẻ thù, và cách tốt đẹp nhất để bày tỏ niềm vui của miền Bắc là không vui mừng trước thất bại của miền Nam.

Reconciliation at the 75th Anniversary of Gettysburg Then and Now ...

Ngày 12 tháng 4 năm 1865, quân đội của tướng Lee tiến vào ngôi làng Appomattox để giao nộp vũ khí. Tướng Joshua L.Chamberlain của miền Bắc được chỉ định tiếp nhận binh sĩ qui hàng. Trước hàng quân miền Bắc nghiêm chỉnh, ông nhìn những binh sĩ miền Nam bại trận đi vào làng với cảm xúc dâng trào. Sau này ông viết lại: “Giây phút đó làm tôi thực sự xúc động. Tôi quyết định đánh dấu sự kiện này bằng một hành động, không gì khác hơn là giơ tay chào kiểu nhà binh. Tôi biết có người sẽ chỉ trích tôi về cử chỉ này. Tôi đã không xin phép và cũng không yêu cầu sự tha thứ về hành động này. Đối diện với chúng tôi là những chiến binh, bại trận nhưng can trường, là biểu tượng cho tinh thần trượng phu, không rã rời, không đau khổ, bất chấp hy sinh và không có gì khuất phục được họ. Giờ đây, họ là những người ốm yếu và đói khát, nhưng họ hiên ngang nhìn thẳng vào chúng tôi, làm sống dậy những ràng buộc thiêng liêng cao cả hơn bao giờ hết. Không có lý do gì để những đấng nam nhi ấy không được hội nhập vào Hợp Chủng Quốc vững vàng của chúng ta.”

Sau đó tất cả hàng ngũ quân miền Bắc thắng trận từ đơn vị này đến đơn vị khác đều nghiêm chỉnh giơ tay chào kiểu nhà binh. Vị tướng dẫn đầu đoàn quân miền Nam đầu cúi xuống trong buồn bã, chợt nhận ra và ngồi thẳng lại trên lưng ngựa, giơ tay chào đáp lễ. Ông ra lệnh cho các đơn vị theo sau tuân theo nghi lễ quân sự khi đi ngang qua đoàn quân miền Bắc. Không có kèn thắng trận, không có tiếng trống, tiếng hô, tiếng reo hò mừng chiến thắng, không một lời nói hay tiếng xì xầm… Một sự im lặng đến nghẹt thở.

Xem thêm chi tiết – http://cuucshuehn.net/…/Xem-cach-nguoi-My-ket-thuc-cuoc…

Tướng Ulysses Simpson Grant – Tướng Robert Edward Lee

MỘT NGÀY LỊCH SỬ (30/4)

Xuyên Sơn

MỘT NGÀY LỊCH SỬ.

 

Hôm nay (30/4) là một ngày lịch sử.

Bốn mươi sáu năm trước đúng vào ngày này, chánh thể VNCH sụp đổ,

và thay vào đó là một thể chế mới mà hậu quả còn kéo dài cho đến ngày hôm nay.

Nhiều khi tôi tự hỏi:

nếu không có ngày 30/4/1975 thì tôi và nhà tôi đã ra sao?

Khó đoán ngược lịch sử ở bình diện lớn, nhưng ở cấp độ gia đình thì đoán được.

  • Không phải là ‘Ngày giải phóng’ Tôi chắc rằng nếu không có ngày định mệnh đó, ba má tôi đã mua thêm 1-2 chiếc máy cày để bổ sung cho 2 chiếc đang phục vụ cho cả làng.

Ba má tôi cũng có thể có thêm vài chục, thậm chí cả trăm công đất để canh tác.

Nói chung là gia đình làm ăn khấm khá.

Anh Hai tôi chắc chắn đã không vượt biển để rồi mất tích cùng 20 người khác trên Biển Đông.

Anh Hai sẽ vẫn là ‘star’ của cả dòng họ vì học giỏi, đẹp trai và là kỹ sư tài ba.

Cả dòng họ ai cũng tự hào vì ảnh.

Tôi và ông anh cùng nhỏ em gái chắc chắn cũng sẽ không ở Úc như ngày hôm nay.

Tôi sẽ tốt nghiệp và có công ăn việc làm khá giả ở trong nước, tuy không phải là star như anh Hai, nhưng không đến nỗi phải đi lột củ hành ở Sydney.

Anh tôi sẽ thay thế ba tôi điều hành cái business gia đình, và sẽ cùng với mấy người anh họ mở rộng business.

Mấy người em gái tôi tốt nghiệp trung hay đại học và có thể phụ giúp điều hành cái ‘business’ của gia đình.

Tụi nó có thể sẽ dọn ra Rạch Giá hay lên Sài Gòn.

Thế nhưng ngày 30/4/75 đã đến.

Theo sau đó là biết bao nhiêu đổi thay. Ba má tôi bị nhà nước lấy hết ruộng đất, chỉ để lại chừng 20 công đủ sống.

Máy cày thì bị tịch thu, và mất luôn.

Cả nhà lâm vào cảnh khốn khó chỉ sau 1-2 năm với chế độ mới.

Tuy không đến nỗi ăn bo bo như nhiều gia đình khác, nhưng kinh tế gia đình suy sụp thấy rõ.

Anh Hai tôi vượt biển và mất tích, làm cho Má tôi suy sụp một thời gian. Tôi và anh em cũng vượt biên nhưng may mắn sống sót.

Tụi tôi ở nước ngoài phải ‘chi viện’ mỗi tháng cho gia đình bên VN,

 

vì lúc đó ba má tôi không còn business nữa và ruộng thì chỉ làm đủ sống.

Từ một gia đình sung túc bổng trở thành nghèo khó chỉ trong vòng 2 năm gì đó.

Do đó, đối với nhà tôi thì ngày 30/4 không phải là ngày giải phóng.

Đó là ngày mà cả kinh tế gia đình bị suy thoái đến mức khốn khó.

Mà, không phải chỉ gia đình tôi đâu, nhìn chung quanh ai cũng vậy.

100% đều bị lâm vào cảnh khốn khó. 100%.

Thành ra, gọi là ngày giải phóng không chỉ là áp đặt, ngạo mạn,

mà còn rất bậy bạ.

  • Nhìn ‘bức tranh lớn’ Có thể nói rằng chế độ mới đã kéo lùi sự tiến bộ của Việt Nam (hay nói đúng hơn là miền Nam Việt Nam) cả nửa thế kỷ.

Phải đi vòng quanh các nước như Singapore, Thái Lan, và Mã Lai mới thấy Việt Nam mình nghèo và lạc hậu ra sao.

Sau 30/4/1975, Chính Quyền VNCH Để Lại Nhiều Vàng Và USD, Tại Sao Nước ...

Ngay cả hôm nay, Việt Nam tuy có khá hơn chút, nhưng nhìn kỹ thì không khá chút nào đâu vì kinh tế lệ thuộc vào vài ba tập đoàn nước ngoài, và chúng ta đa phần chỉ là những kẻ gia công lương thấp mà thôi.

Chỉ một công ty Samsung mà đã chiếm 28% tổng GDP quốc gia!

Nếu công ty này (và cả Formosa) hắt hơi thì chắc kinh tế Việt Nam sẽ bị cảm lạnh.

Trong nửa thế kỷ đó, người hưởng lợi nhiều nhứt là các đồng hương miền Bắc và người bị hại nhiều nhứt là người miền Nam.

Từ đó gây ra một sự chia rẽ mà thể chế mới không chịu ghi nhận.

Ngay từ những ngày sau 1975, người miền Nam đã bị đối xử như công dân hạng hai trên quê hương mình, và theo thời gian tình hình tạo ra một lợi thế cho bên gọi là ‘thắng cuộc’.

Ông Nguyễn Hiến Lê là một học giả nổi tiếng trước 1975.

Ông là người gốc Hà Nội nhưng từng ở Long Xuyên trong một thời gian dài, nơi ông soạn nhiều quyển sách có giá trị.

Ông tự nhận là người “có cảm tình với ‘cách mạng'”.

Nhưng sau 1975 thì ông vỡ mộng, và có viết hồi ký.

Sau đây là những trang/dòng bị kiểm duyệt trong cuốn hồi ký viết về những gì xảy ra sau 1975 [2].

Trong cuốn hồi ký ông ghi lại những thất bại sau 1975.

Đó là sự mất đoàn kết,

phân chia giai cấp,

thiếu kỷ luật,

suy sụp kinh tế.

Ông viết về một xã hội sa đoạ, với tham nhũng tràn lan, ăn cắp,

và buôn lậu, và kỳ thị Bắc – Nam.

Ông tóm tắt về một thời mà có lẽ ngày nay ít ai quan tâm hay biết đến:

  • Sự ngạo mạn của những người ‘thắng cuộc’: những biện pháp nhằm san bằng chế độ cũ để không để lại dấu vết nào cả.

“Phải đuổi hết các nhân viên cũ, để anh em cách mạng chia nhau tất cả các chức vụ lớn nhỏ”.

Nhưng khổ nỗi những nhân viên cũ là những người có học và thực tài,

còn người mới thì vừa dốt, vừa ngạo mạn, nên chẳng làm được gì!

Dot sach

  • Chia rẽ Nam – Bắc: ngay từ thời đó (1980) dấu hiệu chia rẽ Nam – Bắc đã rõ nét.

Ông viết:

“Chẳng bao lâu người Nam thấy đa số những kẻ tự xưng là kháng chiến,

cách mạng đó, được Hồ chủ tịch dạy dỗ trong mấy chục năm đó,

chẳng những dốt về văn hóa, kỹ thuật – điều này không có gì đáng chê, vì chiến tranh, họ không được học

– thèm khát hưởng lạc, ăn cắp, hối lộ, nói xấu lẫn nhau, chài bẩy nhau…

Từ đó người Nam chẳng những có tâm trạng khinh kháng chiến mà còn tự hào mình là ngụy nữa, vì ngụy có tư cách hơn kháng chiến.”

  • Ngay cả cùng phe cũng chẳng có đoàn kết:

“Cùng là công nhân viên cả, mà bọn ở Bắc vô không ưa bọn Liên khu 5;

hai hạng đó đều khinh bọn ở bưng trong Nam về; bọn này lại không chơi với bọn trước kia tập kết ra Bắc, nay trở vô Nam; bọn ‘nằm vùng’ cũng không ưa bọn tập kết về đó.”

  • Khinh miệt:

ông so sánh: “[…] Trước ngày 30-4-75, miền Nam rất chia rẽ:

nhiều giáo phái, đảng phái nhưng tiến bộ hơn miền Bắc nhiều về mức sống, kỹ thuật, nghệ thuật, văn hóa; nhờ ngôn luận được tương đối tự do, nhờ được đọc sách báo ngoại quốc, biết tin tức thế giới, du lịch ngoại quốc, tiếp xúc với người ngoại quốc […]

cả về đạo đức nữa: vì đủ ăn, người ta ít thèm khát mọi thứ,

ít gian tham (tôi nói số đông), ít chịu làm cái việc bỉ ổi là tố cáo người hàng xóm chứ đừng nói là người thân, nói chung là không có hành động nhơ nhớp như nhiều cán bộ ở Bắc tôi đã kể ở trên.

Tôi còn nhận thấy vì người Nam bị coi là ngụy hết, nên càng đoàn kết với nhau, thương nhau: cùng là ngụy với nhau mà!”

Cách đây vài năm, một bài báo trên Bloomberg chỉ ra những

‘khoảng cách’ Bắc Nam:

  • Khoảng 70% thành viên nội các chánh phủ là người miền Bắc,

chỉ có 30% là từ miền Nam và Trung;

  • Khoảng 68% (2 phần 3) đảng viên đảng cộng sản Việt Nam là từ Quảng Trị trở ra phía Bắc;
  • 25 tập đoàn kinh tế được đặt tổng hành dinh ở Hà Nội, nhưng họ làm ăn trong Nam.

Ngay cả cái trụ sở uỷ hội sông Cửu Long cũng được đặt ở Hà Nội, cho nên thỉnh thoảng nghe các vị ấy phát biểu người miền Tây chỉ cười ngất.

Do đó, không ngạc nhiên khi những vị trí lãnh đạo các ngành mà người trong nước gọi ‘thơm’ đều do người miền Bắc nắm giữ:

hàng không,

hải quan,

dầu khí, v.v.

Người miền Nam chỉ làm phụ hay được bổ nhiệm cho có ‘hoa lá cành’.

Trớ trêu một điều là những người làm thất thoát cho Nhà nước nhiều nhứt cũng là người Bắc.

Những ai có dịp ra ngoài Bắc sẽ thấy cơ sở hạ tầng (như đường xá) được đầu tư rất tốt.

Từ Ninh Bình đi Hà Nội chỉ mất chừng hơn 1 giờ đồng hồ vì đường xá rất tốt mà ít xe.

Có một tấm hình người dân ngồi nhậu trên xa lộ miền Bắc!

Ngược lại, ở trong Nam thì chỉ có 2 đường cao tốc ngắn mà lúc nào cũng kẹt xe.

Con đường từ Sài Gòn về Kiên Giang chỉ 260 km mà phải mất 6 giờ đường! Thành ra, ở trong nước người dân miền Nam chỉ ra rằng ngoài Bắc thừa đường mà thiếu xe, nhưng trong Nam thì thiếu đường mà thừa xe.

Nhưng ai mà nói ra trên mặt báo là bị phạt vì ‘chia rẽ Bắc Nam’.

Thực tế đã là chia rẽ rồi. Ví dụ như người dân Sài Gòn làm 100 đồng thì chỉ được giữ 18 đồng (con số năm 2017)

thì tiền đâu mà chi cho cơ sở hạ tầng. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 1000 km đường cao tốc, nhưng chỉ có chừng 106 km là ở miền Nam.

Giải thích như thế nào về sự khác biệt đó cũng không thể thuyết phục người dân vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, nơi đóng góp mỗi năm hơn 15 tỉ USD cho xuất khẩu và ngân sách Nhà nước.

Trong bài báo trên Bloomberg, người ta trích dẫn nhận định của một nhà báo kỳ cựu Huy Đức

(tác giả quyển sách ‘Bên thắng cuộc’) rằng:

‘This present regime has never seriously thought of true reconciliation issues, […] They always affirm themselves as the winner of the war and the master of the nation’

(dịch: chế độ này chưa bao giờ nghĩ đến hoà giải dân tộc thật sự […]

Họ luôn tự khẳng định mình là kẻ thắng cuộc trong chiến tranh và là chủ nhân ông của đất nước).

Không thể nào ngồi xuống nói chuyện khi mà một bên vẫn dùng những cách nói và từ ngữ xúc phạm, ngông ngênh, không có thật.

Không thể nào có hoà giải và hoà hợp, khi một bên vẫn còn khuấy sâu một cách thích thú vào nỗi đau của phía bên kia.

Phía bên kia cũng chẳng ai xa lạ, mà chỉ là anh em trong một nhà.

Viết ra những điều này chẳng phải thù oán gì cả, mà chỉ đặt sự thật lịch sử để mọi bên có thể hiểu với nhau.

***

Nhiều người tre trẻ, thậm chí có tuổi ở miền Bắc, hay than phiền rằng những kẻ như tôi hay thế hệ tôi hay nhớ chuyện xưa.

Họ nói rằng người trong nước không ai còn nghĩ chuyện xưa đó nữa.

Sai.

Ở trong nước người ta vẫn ăn mừng ‘chiến thắng’ đó chớ,

vẫn nói về ‘giải phóng miền Nam’ (ôi! mỉa mai làm sao),

vẫn ra rả chửi chánh thể VNCH

(nhưng lại vui vẻ nhận thành tựu của nó).

Tôi nghĩ đó là một kiểu chạy trốn lịch sử.

Nó chẳng khác gì kẻ làm cho nạn nhân đau khổ, lấy nhà người ta, lấy đất của nạn nhân, thậm chí giết chết thân nhân, rồi quay lại vỗ vai dạy nạn nhân rằng ‘hãy quên quá khứ.’

Một sự xúc phạm đến nạn nhân.

Một sự ngạo mạn với lịch sử.

Thật ra ở trong nước có vài thế hệ bị tẩy não lịch sử, nên họ chẳng biết gì về một giai đoạn đầy biến động và tang thương.

Ngay cả nhiều người trong chánh phủ hiện nay (sanh ra sau 1975) cũng chẳng biết gì về một giai đoạn bi thảm mà hàng trăm ngàn người Việt bỏ mạng trên biển, hàng vạn người chết trong các trại tập trung gọi là ‘cải tạo’, hàng triệu người bị đày vào rừng sâu và sống lây lất vì chánh sách

‘vùng kinh tế mới’,

hàng trăm ngàn người bị cướp tài sản và tiền bạc.

Ôi, viết ra những thảm hoạ này thì đòi hỏi cả pho sách, và có lẽ là việc làm của các sử gia trong tương lai.

Những người gây ra những tang thương đó đã qua đời,

nhưng con cháu họ thì ngày nay vẫn còn và đang tận hưởng ‘thành tích’ của cha ông họ.

Họ thường là những người hay nói ra những lời nói nồng nàn nhưng vô nghĩa.

Điều cần thiết nhứt hiện nay là sự thành thật với lịch sử,

là tử tế với người miền Nam,

và trả lại sự công bằng cho miền Nam.

nguồn fb Nguyen Tuan

____

[1] https://www.bloomberg.com/…/vietnam-s-divide-slow…

[2] https://nguyenvantuan.info/…/ngay-30-4-doc-lai-hoi-ki…/

GS Vũ Tường: VNCH chỉ thua về quân sự nhưng “thắng hầu hết” các lĩnh vực khác

Đài Á Châu Tự Do

Có thể thất bại về mặt quân sự, nhưng rõ ràng Việt Nam Cộng Hòa đã chiến thắng phe Cộng Sản Bắc Việt trên hầu hết các mặt trận khác, và thất bại về mặt quân sự cuối cùng đó mặc dù vậy, chỉ là một thất bại trên mặt quân sự mà thôi,” nhà nghiên cứu chính trị học, Giáo sư Vũ Tường, Chủ nhiệm Khoa Khoa học Chính trị, Đại học Oregon của Hoa Kỳ trong dịp này nói với Đài Á Châu Tự Do.

“Qua sự nghiên cứu về văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội, giáo dục, nghệ thuật v.v…, chúng tôi thấy câu hỏi phải đặt ra là tại sao Việt Nam Cộng Hòa lại chiến thắng về những mặt đó?

Tức là tất cả những mặt đó, Việt Nam Cộng Hòa đều hơn phe cộng sản cả, và di sản của Việt Nam Cộng Hòa vẫn tồn tại cho đến ngày nay và vẫn đang phát triển, mặc dù sau bao nhiêu năm bị đàn áp, như vậy câu hỏi đã hoàn toàn lật ngược lại.”

#RFAVietnamese #Vietnam #VIetnamCongHoa #VNCH #Saigon

RFA.ORG

GS Vũ Tường: VNCH chỉ thua về quân sự nhưng “thắng hầu hết” các lĩnh vực khác

Di sản của Việt Nam Cộng Hòa mặc dù qua năm thập niên bị đàn áp, vẫn trường tồn và phát triển

 

‘Cú sốc’ giáo dục

Nguyễn Tuấn

Nhân ngày 30/4 báo chí thỉnh thoảng có những bài ghi lại những cảm nhận của những người từ miền ngoài vào ‘tiếp quản’ Sài Gòn lúc đó (1975). Bài này (đăng ngày 30/4/2018) do Vietnamnet chạy cái tít hơi giật gân, nhưng nội dung thì rất đáng đọc vì viết về cảm nhận về nền giáo dục thời trước 1975 của một người trong cuộc.

Ts Nguyễn Kim Hồng là cựu hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm TPHCM (trước đây là một phân khoa của Viện Đại học Sài Gòn thời VNCH). Ông kể rằng khi được phân công vào ‘tiếp quản’ nơi đây, ông đã bị sốc. Cú sốc đầu tiên là ông ‘không ngờ Sài Gòn lớn và đẹp đến như vậy.’

Vào phân khoa sư phạm, ông ngạc nhiên khi thấy cơ sở vật chất của phân khoa tốt hơn hẳn ngoài Hà Nội. Thời đó mà đã có các camera truyền hình ảnh trực tiếp. Về giảng viên, ông nhận xét rằng:

“Trong lĩnh vực khoa học xã hội, theo tôi những giảng viên trước 1975 ở miền Nam được đào tạo tốt hơn.”

Nhưng ông còn sốc hơn khi tiếp xúc với sinh viên miền Nam. Ông nói:

“Sinh viên Sài Gòn rất lễ phép. Đa phần sinh viên Sài Gòn thời điểm đó đều xưng con với tôi, mặc dù tôi chỉ hơn họ 3-4 tuổi thôi. Việc khoanh tay để chào khách, chào thầy, cô ở miền Bắc được coi là hiếm nhưng ở Sài Gòn lại như một điều tất nhiên. Tôi cảm giác nhà trường và các gia đình Nam Bộ chú ý nhiều hơn đến việc dạy lễ cho con em mình

[…]

Tôi cho rằng trước năm 1975, họ đã được dạy về những giá trị cá nhân của con người nên không bao giờ để chuyện này xen vào công việc, vào đời sống chính trị. Đó là những điểm văn hóa rất khác với người miền Bắc.”

Nhà văn Vương Trí Nhàn cũng có những nhận xét về nền văn học, giáo dục miền Nam và người Nam giống giống như vậy. Ông còn cho biết rằng nhiều người miền Bắc khi vào miền Nam đều nghĩ vậy nhưng chẳng ai viết ra. Nhưng Ts Nguyễn Kim Hồng và Nhà văn Vương Trí Nhàn thì viết ra, và họ đóng góp vào một cái nhìn công tâm hơn về nền giáo dục thời xưa. Nhà văn viết:

“Nhìn rộng ra thấy không chỉ kinh tế tốt hơn mà giáo dục miền Nam lúc đó cũng hơn; không chỉ đường xá tốt, mà tư cách cá nhân của con người trong đó nói chung cũng trưởng thành hơn con người miền Bắc, trình độ hiểu biết và tuân thủ luật pháp tốt, giữa người với người có mối quan hệ tử tế, thanh thiếu niên lúc đó ham học và biết học hơn.”

Ngày nay, một số bạn trẻ cứ thắc mắc hỏi tại sao những người có tuổi thường hay nhắc về nền giáo dục thời xưa, thì hai vị này đã giúp cho họ có câu trả lời. Hồi đó, triết lí giáo dục được tóm lược trong 3 chữ: nhân bản, dân tộc, và khai phóng.

  • Nhân bản có nghĩa là lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác. Với triết lí nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.
  • Dân tộc có nghĩa là đề cập đến việc tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc tính trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác.
  • Khai phóng có nghĩa là cởi mở và cấp tiến, không phải đóng cửa và bảo thủ. Sẵn sàng tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.

Thời gian gần đây nhiều học giả than phiền rằng Việt Nam chưa có một triết lí giáo dục. Theo tôi, cứ lấy triết lí Nhân bản – Dân tộc – Khai phóng làm nền tảng cho nền giáo dục là thực tế nhứt, chẳng cần phải đi tìm đâu xa xôi.

Ps. Xin giới thiệu bài Hành Khúc Học Sinh của nhạc sĩ Lê Thương. Thời đó, học sinh nào cũng thuộc bài này:

30 THÁNG TƯ, 1975 – Thái Bá Tân

TRANG VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM  

Join

Niềm Vui Nhỏ

Những bài thơ ngắn chân thành cho ngày…

30 THÁNG TƯ, 1975

Thái Bá Tân

Bộ đội Miền Bắc chết

Một triệu một trăm nghìn.

Số lính Miền Nam chết –

Hai trăm tám hai nghìn.

Vì chiến tranh, dân chết

Trên dưới hai triệu người.

Lính Miền Nam cải tạo,

Ngồi tù một triệu người.

Trong số một triệu ấy,

Một trăm sáu lăm nghìn

Chết vì đói, lao lực,

Vì không còn niềm tin.

Trốn chạy khỏi cộng sản

Hơn một triệu rưỡi người.

Hai trăm nghìn đã chết,

Bỏ xác ngoài biển khơi.

Từ đấy, dẫu đất nước

Hết chiến sự, bình yên,

Chín mươi triệu người Việt

Mất tự do, nhân quyền.

Vậy xin hỏi các vị:

Ngày ấy là ngày gì?

Vui mừng và kỷ niệm?

Nhưng vui mừng cái gì?

***

BÊN THUA CUỘC

Chất của Bên Thắng Cuộc

Ngấm dần sang bên Thua

Qua các đợt học tập,

Ra quân và thi đua.

Rồi làng, phố văn hóa,

Rồi xã, huyện anh hùng.

Rồi những câu khẩu hiệu

Điên điên và khùng khùng.

Rồi quần chúng tự phát,

Rồi dân phòng, an ninh,

Rồi công an chìm nổi,

Đủ các loại kiêu binh.

Rồi thanh niên xung kích,

Rồi các sư hổ mang.

Rồi kiểm điểm dân phố

Rồi cờ đỏ ngập làng.

Rồi thịt mèo, thịt chó,

Rồi khí thế công nông,

Dép cao su, mũ cối,

Chất bầy đàn, lên đồng.

Rồi chi bộ, đoàn thể.

Rồi cải tạo công thương…

Tóm lại, gì cũng có

Từ xứ sở thiên đường.

Và rồi dân Thua Cuộc,

Vốn giản dị, hiền lành

Nhiễm dần từ bên Thắng

Thói giả dối, ma lanh.

Người Miền Nam thua cuộc

Sau chiến tranh kéo dài.

Và bây giờ, thật tiếc,

Lại thua cuộc lần hai.

Chưa nói chuyện dân Bắc

Tranh hết cả việc làm,

Tranh hết chức lãnh đạo,

Giàu hơn dân Miền Nam.

***

Tội ác kinh khủng nhất

Một chế độ, vương triều

Không hẳn là đốt sách,

Chết chóc và đói nghèo.

Mà làm cả dân tộc

Thành ích kỷ, nhỏ nhen,

Khôn lỏi và mê muội,

Độc ác và đớn hèn.

***

GIÁO SƯ VÀ THẰNG DU CÔN

Ông giáo sư giàu có

Và gã nghèo du côn,

Nếu đánh nhau, phần thắng

Thuộc về thằng du côn.

Tuy nhiên, sau khi thắng,

Cướp được tiền, thằng này

Không còn gì để cướp,

Phải quay sang ăn mày.

Ăn mày kẻ mình thắng,

Cả tiền, cả trí khôn.

Là cái vốn không có

Ở một thằng du côn.

Xưa, du mục Mông Cổ

Chiếm được đất Trung Hoa,

Rồi sau bị đồng hóa,

Biến thành người Trung Hoa.

Nay, Miền Bắc cộng sản

Xua quân chiếm Sài Gòn,

Cũng đang bị đồng hóa

Bởi văn minh Sài Gòn.

Vậy thì bên thắng cuộc

Chưa hẳn Bắc Việt Nam.

Thắng mà rồi thua đấy.

Thua chế độ Miền Nam.

***

THẾ HỆ CHÚNG TÔI

Sinh ra trong nghèo đói.

Lớn lên trong chiến tranh.

Về già, nếu còn sống –

Đất nước chẳng yên lành.

Thế hệ chúng tôi đấy,

U sáu mươi, bảy mươi.

Không may dính cộng sản,

Coi như uổng cả đời.

Một thế hệ khốn nạn,

Vĩ đại và quang vinh.

Đáng cháu con thương hại.

Cũng đáng cháu con khinh.

***

Mà thương hại cũng đúng.

Khinh càng đúng, than ôi,

Vì tiếp tay cộng sản

Là thế hệ chúng tôi.

***

VÌ SAO?

Nghìn năm Tàu đô hộ,

Người Việt không ra đi.

Bị Pháp, Mỹ xâm lược,

Người Việt không ra đi.

Lạ, cộng sản thắng lợi,

Cả Miền Bắc, Miền Nam,

Sao nhiều triệu người Việt

Lại rời bỏ Việt Nam?

?????

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Nước Ẩn & Sóng Ngầm

RFA

Ảnh của tuongnangtien

Thứ Năm, 04/27/2023  — tuongnangtien

Không hiểu có chuyện chi bất bình (hay mất vui, hoặc mất lòng) mà nhà báo Từ Thức đã lên tiếng phàn nàn về “cái tôi” của người mình quá xá:

Nước Việt nghèo, chậm tiến, lạc hậu, thua thiên hạ mọi mặt. Đáng lẽ người Việt phải khiêm nhượng, biết người, biết mình. Nhưng không, trong tự điển cá nhân của người Việt không có chữ khiêm tốn…

Ở đâu cũng có những cái tôi, nhưng ở người Việt, nó đạt một tỷ số đáng ngại. Mỗi lần, hiếm hoi, gặp một người đồng hương có khả năng nhưng khiêm tốn, tôi nghĩ bụng: ông nội này mất gốc rồi

Quả là hiếm hoi thật (và hiếm hoi lắm) nhưng số người Việt “mất gốc” này, nói nào ngay, vẫn còn kha khá. Họ khiêm tốn thấy rõ, và xem “cái tôi” tựa như cọng rác thôi hà. Báo Lao Động cho hay:

Trước kia, học sinh và người dân ở thôn CuPua đi lại, vận chuyển nông sản phải đánh đu trên hai sợi cáp này để vượt sông Đak Rông, đây là con đường độc đạo duy nhất nối thôn CuPua với bên ngoài… đường vào thôn CuPua nay đã đổi khác, hai sợi cáp hoen gỉ đã được thay thế bởi một chiếc cầu và đoạn đường bêtông thẳng tắp.

Công trình này được xây dựng “thần tốc” trong 6 ngày … dưới dạng “tự phát” với chi phí 30 triệu đồng, do một người đàn ông hỗ trợ. Bỏ tiền ra giúp dân xây cầu, nhưng người đàn ông chỉ tiết lộ tên “cúng cơm” của mình là Tèo, quê ở Sài Gòn. Vì vậy, đồng bào Vân Kiều ở thôn CuPua đặt tên cho công trình là “Cầu anh Tèo Sài Gòn”.

Có không ít những anh Tèo/chị Tèo như thế trong khắp các hang cùng ngõ hẹp, trên đất nước này. Họ là chủ nhân của những quán ăn không đồng, những thùng bánh mì từ thiện, những rổ phong bì (tiền) dành cho người chạy dịch, những ly trà đá miễn phí … có thể tìm thấy ở bất cứ đâu.

Người ta cũng có thể bất ngờ – hay tình cờ – nhìn thấy họ chợt dừng xe, dúi vội vào tay một kẻ bộ hành (thất thểu giữa trưa nắng chang chang) đôi chai nước lạnh. Hay họ đang lui hui tháo đôi dép đang đi, để mang vào cho một kẻ khuyết tật chân không – ngồi ở giữa đường. Toàn những chuyện hơi khó tin nhưng vẫn được nghe kể hàng ngày, cùng với hình ảnh rõ ràng, qua FB.

Nhà thơ Inra Sara ví von những nghĩa cử cao đẹp và thầm lặng này là “những dòng nước ẩn,” với niềm tin tưởng mãnh liệt rằng: “Những dòng nước ấy có mặt ở mọi thành phần, dưới mọi hình tướng, tình huống, cấp độ. Chúng ẩn mình giữa miền đất hình chữ S này, âm thầm chảy, khiêm cung nhưng đầy sức mạnh. Chúng sẽ trồi lên một ngày nào đó, chắc chắn.”

Ngoài những dòng nước ẩn, đất nước, cũng có vô số những lượn sóng ngầm. Chúng cũng “khiêm cung nhưng đầy sức mạnh” và “sẽ trồi lên một ngày nào đó – chắc chắn.” Rảnh, thử nghe qua “tiếng sóng trong lòng” của dăm ba công dân nước Việt:

  • Nguyễn Hoàng ViHồi nẳm, sống trong tình cảnh luôn bị an ninh canh và theo sát, mời làm việc, dụ dỗ có, đe doạ có… Đến nước cuối, họ đành tác động lên phía các nhà đài là đối tác cty mình, khi hết hợp đồng, đồng loạt các nhà đài không được ký hợp đồng tiếp với phía cty mình nữa…

      Đứng trước tình thế như vậy, sếp đành cho mình nghỉ việc. Ngày mình rời cty, từ cty ra bãi giữ xe, nước mắt mình chực muốn trào ra vì sự phẫn uất lẫn sự lo lắng không biết những ngày tới gia đình mình sẽ sống ra sao.

      Một bầy an ninh xếp hàng dài từ cty đến bãi giữ xe và đoạn đường dẫn ra đầu ngõ, họ cười chễm chệ như một sự mỉa mai, chế giễu dành cho mình. Bao nhiêu nước mắt nuốt ngược vào trong, mình lướt qua họ với gương mặt lạnh tanh, tư thế ngẩng cao đầu và niềm kiêu hãnh “dù có thế nào đi nữa thì bọn mày làm gì có đủ tư cách sánh với tao mà cười giễu?”Những năm tháng sau này, nghĩ lại mình thấy tội nghiệp cho họ, tội họ mình ghi sổ chờ chế độ trả cả vốn lẫn lời…

  • Vũ Huy Hoàng:Tôi từng bị mời lên trụ sở công an nhiều lần chỉ để bị hạch hỏi về các quan điểm chính trị. Bị gây khó khăn trong công việc mưu sinh. Tôi từng bị bắt, bị đánh, bị ném gạch đá chất bẩn vào nhà nhiều lần chỉ vì tham gia biểu tình ôn hoà bảo vệ môi trường, bảo vệ chủ quyền biển đảo trước sự xâm lấn của Tàu cộng.

Tôi không muốn kể lể về mình vì so với nhiều người khác, những đóng góp của tôi vô cùng nhỏ bé. Tôi cũng không muốn kể về những khó khăn, hiểm nguy mà mình đã, đang gặp phải vì nhiều anh chị em khác còn đang khốn khó hơn tôi. Tôi chấp nhận một cách vui vẻ và hoàn toàn tự nguyện …

  • Nguyễn Hồ Nhật Thành:Mình mong muốn xã hội, đất nước này phải thay đổi phải dân chủ hơn, phải nhân quyền hơn. Đó là quan điểm của mình. Còn bây giờ nếu họ nghĩ mình có tội thì họ bắt mình đi mình sẵn sàng trả giá cho việc ngồi tù để mình nói lên tiếng nói đòi lại dân quyền của mình, nói lên tiếng nói tự do, nói lên lý tưởng mà mình nghĩ rằng tất cả cha ông đã hy sinh để đòi lại một thứ đó chính là tự do cho người dân, đó là chính dân quyền.”

Nguyễn Hoàng Vi là một bà mẹ đơn thân, đã nhiều lần bị đe dọa, sách nhiễu, hành hung (và cuối cùng đã bị mất việc) chỉ vì chính kiến. Thay vì “đầu hàng chế độ” để được yên thân nuôi con thơ dại, bà đã “không cho phép nỗi sợ hãi làm tê liệt bản thân” và đã vượt qua được tất cả mọi nghịch cảnh, trong khi không quên “ghi sổ chờ chế độ trả cả vốn lẫn lời.”

Còn Vũ Huy Hoàng là một tài xế taxi (“từng bị bắt, bị đánh, bị ném gạch đá chất bẩn vào nhà nhiều lần chỉ vì tham gia biểu tình ôn hoà bảo vệ môi trường, bảo vệ chủ quyền biển đảo”) nhưng nhân vật này chưa bao giờ nao núng. Ông sẵn sàng “chấp nhận” mọi hệ lụy, chứ nhất định không từ bỏ quan niệm sống đã chọn.

Thái độ của vợ chồng doanh nhân Nguyễn Hồ Nhật Thành và Trịnh Kim Tiến cũng thế. Họ đã bị “công an chĩa súng vào đầu đe dọa chỉ vì “dám” mở cửa hàng No-U Shop, rồi kêu gọi tẩy chay hàng hóa độc hại của Trung Quốc, và thản nhiên xem “mọi sự sách nhiễu, gây khó khăn của các anh càng cho tôi động lực để sống với lý tưởng của mình.”

Nhất định “sống với lý tưởng của mình” (như Nguyễn Hồ Nhật ThànhTrịnh Kim Tiến, Vũ Huy Hoàng, Nguyễn Hoàng Vi …) giữa lòng một chế độ được đặt nền móng và duy trì bởi cường quyền, bạo lực, cùng dối trá – rõ ràng – là chuyện không dễ dàng chi. Thời gian và thời thế, tuy thế, đang đứng về phía họ.

Số công dân Việt Nam lựa chọn một cung cách sống với tinh thần trách nhiệm, rõ ràng, mỗi lúc một thêm đông. Số người nhận thức rõ được nghĩa vụ, cũng như quyền lợi của mình, cũng vậy. FB Nguyễn Thủy Tiên xác tín: “Mình tin rồi đây sẽ có nhiều người chọn cách ngẩng đầu thay vì cúi đầu.” Chỉ nhẹ nhàng, mềm mỏng và khiêm cung thế thôi nhưng đừng thấy biển lặng mà tưởng lòng đại dương không có sóng.