5 người ở Texas bị bắn chết vì than phiền hàng xóm nổ súng ồn ào

Báo Nguoi-viet

April 29, 2023

CLEVELAND, Texas (NV) – Một ông ở Texas vác súng trường sang nhà kế bên xả súng vô gia đình hàng xóm, làm năm người thiệt mạng, gồm đứa bé 8 tuổi, sau khi gia đình này yêu cầu ông ngưng bắn súng bên sân nhà ông vì nhà họ có trẻ em đang ngủ, cảnh sát loan báo hôm Thứ Bảy, 29 Tháng Tư, theo AP.

Trong buổi họp báo tại hiện trường sáng Thứ Bảy, ông Greg Capers, cảnh sát trưởng San Jacinto County, cho hay cảnh sát vẫn đang tìm nghi can Francisco Oropeza, 39 tuổi, sau vụ xả súng trong đêm ở thị trấn Cleveland, cách Houston khoảng 45 dặm về hướng Bắc. Ông Capers cho biết nghi can dùng súng trường AR-15.

Cảnh sát có mặt tại hiện trường, nơi một người đàn ông bắn chết năm người hàng xóm. (Hình: Chụp từ màn hình đài ABC)

“Các nạn nhân đều bị bắn từ cổ trở lên, gần giống như xử tử,” ông Capers nói.

Lúc vụ xả súng xảy ra, trong nhà đó có 10 người và không ai khác bị thương ngoài năm người thiệt mạng, có lẽ đều là người Honduras, theo ông Capers. Trong số năm nạn nhân, cảnh sát thấy hai người nằm đè lên hai đứa trẻ.

“Hai phụ nữ Honduras nằm đè lên để cố bảo vệ hai đứa trẻ này,” ông Capers nói. Cảnh sát thấy tổng cộng ba đứa trẻ dính đầy máu trong nhà nhưng sau khi được đưa đi bệnh viện thì được xác định không bị thương, ông Capers thêm.

Hai người khác được kiểm tra tại hiện trường rồi được thả, ông Capers cho hay.

Vụ xả súng xảy ra sau khi gia đình này bước tới hàng rào yêu cầu nghi can ngưng bắn súng bên sân nhà ông ta, ông Capers cho biết. Nghi can, lúc đó đang say rượu, đáp lại rằng đó là nhà ông, ông muốn làm gì cũng được. Rồi một người trong gia đình đó quay phim được cảnh nghi can ôm súng trường tới cửa trước nhà họ, theo ông Capers.

Trong số năm nạn nhân có ba phụ nữ và một người đàn ông. Cảnh sát không công bố tên. Các nạn nhân từ 8 tới khoảng 40 tuổi, ông Capers cho biết.

Cảnh sát từng tới nhà nghi can trước đây, theo ông Capers. “Cảnh sát từng tới nói chuyện với ông về chuyện bắn súng trong sân nhà,” ông Capers cho hay.

Ông Capers nói vài người trong gia đình hàng xóm vừa từ Houston dọn tới trong tuần này, nhưng không biết họ có dự định ở đó không.

Số vụ xả súng ở Mỹ từ đầu năm tới nay lên mức kỷ lục: Ít nhất 18 vụ, mỗi vụ có bốn người thiệt mạng trở lên. Có hàng loạt lý do cho những vụ xả súng đó: Giết người rồi tự tử và bạo lực gia đình; băng đảng trả thù; xả súng ở trường học và trả thù nơi làm việc. (Th.Long) 

Chuyến Vượt Biên Của Tôi – Thanh Nhàn

Nguồn: Tongphuochiep

Một chiếc ghe nhỏ chở người Việt vượt biên giữa đại dương, năm 1982

Tôi đến Vàm Láng vào một buổi chiều và được xuồng nhỏ chở ra biển. Tôi ra biển để chờ “cá lớn”. Theo lời người trong nhóm tổ chức thì “cá lớn” (ghe vượt biên) sẽ đến vào lúc mười một giờ tối nay. Tôi và hai người vượt biên khác ngồi trên xuồng chờ cho đến hơn một giờ sáng của ngày hôm sau mà vẫn chưa thấy tăm hơi của con “cá lớn” ở đâu.

Gần ba giờ sáng “cá lớn” vẫn chưa xuất hiện. Tôi bắt đầu nghĩ tới chuyện đón đò trở ngược về Mỹ Tho. Tôi chỉ sợ đổ bể, du kích chận ở bến đò xét hỏi giấy tờ và hỏi lý do tại sao xuống đây thì thật sự tôi không biết làm sao mà trả lời.

Trong lúc tôi ngỡ chuyến vượt biên nầy không thành, thì hơn ba giờ rưỡi sáng tôi nghe tiếng máy nổ xình xịch nho nhỏ từ rất xa của một chiếc ghe nào đó, tiếng máy nổ càng lúc càng gần. Chú chèo xuồng chở chúng tôi la lên: “cá lớn tới” rồi chú chụp vội lấy đèn pin phát tín hiệu chớp tắt ba lần, chiếc ghe vượt biên đã lộ rõ cũng phát tín hiệu đáp lại. Tôi mừng quá, xuồng tôi chèo nhanh cập vào “cá lớn”.

Tôi tưởng chỉ có một chiếc xuồng của tôi, vừa cập vào ghe tôi thấy bốn, năm chiếc xuồng nhỏ khác không biết từ đâu, xuất hiện từ lúc nào cũng ào ào cập vào. Tôi vịn thành ghe đu người phóng qua, chỉ trong vòng vài phút mọi người từ những xuồng nhỏ khác đã leo được lên ghe. Các xuồng vội vã rời đi, lúc đó đã gần bốn giờ sáng.

Đi được không bao lâu ghe tôi gặp sóng to, từng đợt sóng cao hai, ba thước đánh vào ghe, nâng ghe lên cao rồi hạ xuống thấp, chúng tôi bị say sóng ói mửa liên tục. Ghe tôi vật lộn với sóng gió cho đến chiều tối mới hết. Đêm đến, ánh trăng với một chút vầng khuyết của Mùng Chín âm lịch soi một màu vàng nhạt lung linh trên biển. Chỉ còn sáu ngày nữa là Tết Trung Thu. Tết Trung Thu năm nay có thêm người Việt lưu lạc nơi xứ người. Tôi tự hỏi tại sao quê hương tôi phải chịu cảnh phân ly – người vượt biên, kẻ tù đày?

Sau hơn một ngày trên ghe vượt biên, tôi không thấy đói nhưng rất khát. Chúng tôi được phát chút đỉnh cơm, nhưng phần nước rất hạn chế. Tôi nghe nói hầm chứa nước bị rỉ, nước còn rất ít. Đến chiều, ghe tôi ra tới hải phận quốc tế, một số người bắt đầu vứt bỏ giấy tờ liên quan đến Việt Nam xuống biển, tôi cũng vứt bỏ giấy chứng minh nhân dân của mình.

Tối hôm đó có vài ba chiếc tàu buôn đi qua, chúng tôi đem chăn mền ra đốt để tạo sự chú ý nhưng không có chiếc nào dừng lại để cứu giúp.

Ngày kế tiếp tôi rất khát, sau gần ba ngày vượt biên chúng tôi chỉ được uống nước tổng cộng vài ba lần, mỗi lần được một cốc nước nhỏ chỉ vài ba hớp nước, uống xong, mười lăm phút sau cái khát lại quay trở lại. Có cô gái nhỏ ngồi gần bên tôi lim dim ngủ, tôi thấy cô ta tự dưng đưa tay ra chụp một cái gì đó rồi giựt mình tỉnh dậy. Tôi hỏi: “em làm gì vậy?” Cô nói: “em nằm chiêm bao thấy khát nước quá, má em làm cho em một ly nước đá sữa đậu nành, em mừng quá đưa tay chụp định uống thì tỉnh dậy, uổng quá!” nói xong cô cười, tôi cũng cười.

Đến trưa ghe tôi bị hư máy, chủ ghe cho biết có đem theo máy sơ cua và sau hơn một giờ sửa chữa, thay máy, ghe tôi lại tiếp tục lên đường. Chiều hôm đó tôi được phát chút đỉnh cơm, mấy người trên ghe cho biết nước gần như đã cạn. Biển hôm đó không có sóng to, một điều kỳ thú là tôi thấy một đàn cá to hàng chục con, chúng bơi lội theo ghe tôi hơn nửa giờ rồi biến mất.

Buổi sáng ngày thứ tư của cuộc hành trình, vào khoảng chín giờ sáng, chúng tôi thấy một chiếc tàu ở rất xa, mọi người mừng rỡ đem ống nhòm ra nhìn xem tàu đó ra sao. Một điều tức cười là mắt thường thì nhìn thấy con tàu nhỏ xíu ở xa, mà nhìn trong ống nhòm thì con tàu lại biến mất. Không cần ống nhòm, ghe chúng tôi hướng theo con tàu phía trước mà rú ga chạy tới.

Chạy gần một tiếng rưỡi mới tới, lần đầu tiên trong đời tôi thấy một con tàu lớn như vậy. Tôi nghĩ đó là tàu Hải Quân của một quốc gia nào đó, nhưng càng lại gần thì càng không phải. Đâu có Hải Quân nước nào mà lính mặc xà rông ở trần trùng trục như đám người lố nhố trên tàu kia. Khi tới gần tôi thấy khoảng chục tên ở trần mặc xà rông, tên nào tên nấy nước da đen bóng, thân hình rắn chắc vạm vỡ. Thì ra đó là tàu đánh cá của một nước nào đó.

Khi ghe tôi còn cách tàu kia chừng năm mươi mét. Tôi thấy đám người bên tàu đó có sự thay đổi, hơn phân nửa chạy rút vào phòng trong, chỉ để lại ba, bốn người ở ngoài. Ghe tôi tiếp tục tiến tới. Còn cách hơn mười mét, bọn tôi đứng dậy, tay chỉ vào ngực mình rồi cùng la lên: “Việt Nam! Việt Nam” rồi có người nói tiếp: “refugee – người tị nạn” phía bên kia tôi nghe tiếng đáp lại: “Thái Lan! Thái Lan!”

Ghe tôi xáp tới, mũi ghe tôi đối diện với mũi tàu Thái. Vài người trên ghe tôi hỏi: “ai biết nói tiếng Anh?” Có hai người lên tiếng. Một chú trước là thông dịch viên cho quân đội Mỹ, còn một anh nữa biết nói tiếng Anh và có thời gian ngắn du học bên Thái Lan trước 1975. Một tấm ván dài dược bắc qua nối liền hai con tàu, hai “sứ giả” của ghe tôi bước qua tàu Thái. Chúng tôi ngồi dưới ghe hồi hộp chờ tin tức.

Năm, bảy phút sau, một trong hai người trở xuống ghe cho chúng tôi biết, chủ tàu là người Thái trắng, biết nói tiếng Anh, có vẻ học thức và hiền. Ông ta sẽ thỏa mãn yêu cầu của chúng tôi là cung cấp nước và sẵn sàng giúp đỡ về lương thực nếu cần. Sau khi giúp xác định vị trí của ghe chúng tôi trên biển, chủ tàu Thái cho biết chúng tôi chỉ còn cách bờ biển Mã Lai hơn hai ngày đường. Sau đó, họ thả vòi nước xuống, trong lúc vội vã chúng tôi không tìm được một can không nào đựng nước, ngoại trừ mấy can dầu đã cạn, nước được bơm vào mấy can dầu cạn đó. Khi uống nước tôi thấy chút ít vết dầu trong ly nước, uống vào có mùi dầu máy xông lên nhưng vì khát quá và không có cách nào khác, tôi uống một hơi mấy ly nước đầy, mấy người trên ghe tôi cũng vậy.

Thấy tàu Thái tử tế, ghe tôi muốn tặng vật lưu niệm cho họ mà không tìm ra thứ gì để tặng. Cuối cùng, chúng tôi tìm được nắp hộp của một chiếc hộp đựng bút học trò (chỉ có cái nắp không có cái hộp), nắp bằng gỗ, phần trên của nắp có mảnh gương soi mặt nhỏ, phía dưới là hình một cô gái Việt Nam mặc áo dài với mái tóc dài buông xõa, đầu cô đội nón lá che nghiêng và trên tay cầm một đóa hoa hồng. Phía sau nắp hộp, người thông dịch viết hàng chữ bằng tiếng Anh đại khái nói: “Người tị nạn Việt Nam chúng tôi thân tặng các anh để kỷ niệm ngày chúng ta gặp nhau”. Theo lời anh thông dịch, khi người chủ tàu Thái dịch câu đó ra tiếng Thái, đám ngư phủ Thái Lan đứng chung quanh vỗ tay reo hò ra vẻ thích thú lắm.

Chủ tàu Thái cũng cho chúng tôi biết là ba, bốn ngày nữa sẽ có bão. Ông ta giục chúng tôi đi nhanh. Cảm động nhất là lúc chia tay, toàn bộ người trên ghe tôi đều đứng dọc hai bên khoang ghe vẫy tay chào từ biệt. Bên kia tàu Thái, toàn bộ ngư phủ và chủ tàu đứng dọc trên boong tàu vẫy tay cho đến lúc ghe tôi đi thật xa.

Vào ngày thứ năm của cuộc hành trình, khoảng chín giờ sáng chúng tôi thấy có nhiều lưới và phao nhỏ nổi trên biển. Có một điều lạ là lúc đó chưa thấy đất liền mà tôi thấy chuồn chuồn ở đâu mà bay ra rất nhiều đến hàng ngàn con, chúng bay rất thấp chỉ cách mặt biển có một, hai mét và đậu trên những chiếc phao đó.

Khoảng ba giờ trưa, chúng tôi thấy đất liền xuất hiện ở phía xa. Sau đó, chúng tôi lại gặp một tàu đánh cá khác của Thái Lan, qua sự tiếp xúc họ cho biết ghe chúng tôi đang ở gần ranh giới lãnh hải của hai nước Thái Lan và Mã Lai.

Chúng tôi thật sự may mắn, bao nhiêu ghe, thuyền vượt biên của người Việt mình bị hải tặc Thái Lan cướp bóc, giết hại. Chúng tôi hai lần gặp tàu Thái Lan mà vẫn bình an vô sự.

Những người Việt vượt biên đến bờ biển Mã Lai

Đêm hôm đó gần mười hai giờ khuya, ghe chúng tôi theo con sông nhỏ nối liền với biển tiến vào đất Mã Lai. Lần đầu tiên sau gần sáu ngày lênh đênh trên biển, chúng tôi bước lên bờ. Đêm đó trăng sáng vằng vặc, chúng tôi bước lên bờ chập choạng, ngã nghiêng chân thấp chân cao, mặt đất dường như không chịu đứng yên mà nhấp nhô như sóng biển.

Tôi đặt chân xuống mà sợ chân mình không đụng đất, mỗi lần bước đi phải chầm chậm từ từ như sợ mình bước hụt. Mấy người đi kế bên tôi la lên: “tụi mình đang bị say đất”. Lần đầu tiên trong đời tôi nghe danh từ “say đất” và cũng là lần đầu tiên trong đời tôi mới biết được cảm giác “say đất” ra sao, hiện tượng đó kéo dài mấy phút sau đó mới trở lại bình thường.

Chúng tôi tìm một khoảng đất trống ngồi xuống, vài ba anh thanh niên háo hức cất bước tiến về khu nhà của dân địa phương ở phía xa. Một lúc khá lâu mấy anh trở về cho biết người dân địa phương để xe đạp, xe gắn máy ở phía sau nhà, không xe nào có khóa cả. Mấy anh còn cho biết có một quán nhỏ vẫn còn mở cửa, cô chủ quán người Mã Lai nói trọ trẹ được vài câu tiếng Việt. Trên vách quán có ghi ngày tháng và tên bằng tiếng Việt, chứng tỏ trước chúng tôi, ghe tàu vượt biên của người mình đã đến nơi đây. Mấy anh còn khoe được cô chủ quán cho uống “coca cola” mà không phải trả tiền.

Sau khi mọi người đã trở về đầy đủ, chúng tôi gom lá dừa khô lại để đốt. Mọi người quây quần chung quanh đám lửa nhỏ trò chuyện, một cô ngồi kế bên tôi khe khẽ hát:

Chiều nay sương khói lên khơi
Thùy dương rũ bóng tơi bời
Làn mây hồng pha ráng trời
Sóng Đà Giang thuyền qua xứ người…

Nghe cô hát thật buồn, nhất là trong hoàn cảnh nầy. Nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác nhạc phẩm “Thuyền Viễn Xứ” vào năm 1952 khi đất nước chưa phân đôi. “Thuyền Viễn Xứ” thời đó bất quá tới một nơi nào đó ở cuối sông Hồng, hoặc xa xôi lắm là đến tận cùng của dòng sông Cửu Long, vẫn còn đâu đó trên đất Việt. “Thuyền Viễn Xứ” của chúng tôi bây giờ đi xa diệu vợi, vượt qua một đại dương bao la đến những bến bờ xa lạ và giao tiếp với những người không cùng màu da, ngôn ngữ, bỏ lại đằng sau một nước Việt Nam yêu dấu ngàn đời…

Chúng tôi ở đó chơi cho đến gần hai giờ sáng, rồi lại xuống ghe nhổ neo đi tiếp. Chúng tôi dự định cho ghe chạy dọc theo bờ biển Mã Lai để đến Singapore.

Khoảng chín giờ sáng của ngày thứ sáu của cuộc hành trình, ghe chúng tôi chạy cách bờ biển Mã Lai không tới một cây số và càng lúc càng tiến lại gần bờ. Trên đường tiến sát vào bờ biển Mã Lai tôi thấy vài ba chú cá heo bơi lội nô đùa trên sóng nước.

Bờ biển Mã Lai thật đẹp, từng bãi cát trắng chạy dài, chạy dọc theo bờ biển là những ngọn đồi con nho nhỏ. Mỗi một ngọn đồi có một màu sắc riêng biệt, có ngọn đồi phủ toàn một màu vàng của hoa, có ngọn đồi phủ một màu xanh của cây lá, và có ngọn đồi tím ngắt một màu nổi bật trên nền cát trắng.

Có lúc ghe tôi chạy qua một bãi biển có nhiều dừa, tôi thấy mấy cô gái Mã Lai với đôi mắt to đen, áo quần thướt tha, tay cầm dù che nắng đi dạo trông thật dễ thương.

Gần mười một giờ, có nhiều người mặc thường phục và quân phục đứng trên bờ, họ ngoắc tay ra dấu cho chúng tôi tấp ghe vào, chúng tôi lắc đầu tiếp tục đi. Vài phút sau, một chiếc ca nô từ bờ phóng ra đuổi theo ghe chúng tôi, trên đó có một ông mặc thường phục và một người lính Mã Lai, họ nhảy lên ghe yêu cầu chúng tôi phải tấp ghe vào bờ, lúc đầu chúng tôi không chịu nhưng thấy họ cương quyết, chúng tôi đành phải chịu phép.

Ghe vào bờ rồi, tôi thấy gia đình người chủ ghe mang theo nồi niêu, xoong chảo và gần nửa bao gạo – đó là số gạo trên ghe chúng tôi còn sót lại sau sáu ngày lênh đênh trên biển. Mọi người bước lên bờ rồi chỉ còn ghe tôi nằm trơ trội, cô độc sát bờ. Tôi hỏi mấy người đi bên cạnh: “vậy ghe mình tính sao?” một người trả lời: “người Mã sẽ kéo ghe mình ra biển rồi đánh chìm”.

Chúng tôi – tổng cộng 45 người, đi bộ theo hai người Mã Lai tới một vườn dừa thì thấy có sáu, bảy người lính Mã hiện diện ở đó từ lúc nào, họ hỏi ai là người đại diện ghe và muốn chúng tôi cung cấp danh sách bao gồm tên tuổi, giới tính, nghề nghiệp của tất cả người trên ghe và đưa cho họ. Thế là hai người thông dịch viên của ghe lại bận rộn cầm giấy bút đến hỏi từng người. Sau đó, mấy người lính Mã căng dây thành hình chữ nhật giữa bốn gốc dừa và bảo chúng tôi vào trong đó ngồi.

Trại tị nạn ở đảo Bidong

Chúng tôi ngồi đó chờ đợi, không biết kế tiếp mình sẽ đi về đâu. Xế trưa có hai chiếc xe buýt của hội Trăng lưỡi liềm đỏ Mã Lai tiến vào, họ ra dấu cho chúng tôi lên xe. Tôi bước lên xe tìm chỗ ngồi, lòng thầm hỏi không biết xe nầy sẽ đưa chúng tôi đến nơi nào?

Xe chở chúng tôi chạy qua những thị trấn, làng mạc Mã Lai. Đường xá ở đây được tráng nhựa, hệ thống cầu đường khá tốt. Hơn một giờ sau, xe tấp vào một khu trại có đề chữ “Marang Transit Camp (Trại chuyển tiếp Marang)”. Xe dừng lại, tôi thấy có nhiều người tiến lại gần xe, rồi nghe loáng thoáng có tiếng nói như là tiếng Việt. Bọn tôi trên xe nhao nhao hỏi: “Việt Nam phải không?” mấy người đứng phía dưới cùng trả lời: “Việt Nam”. Tôi mừng quá, tôi cứ tưởng vượt biên, rời khỏi nước không còn có cơ hội gặp lại người Việt mình nữa. Những người đứng dưới xe là những người vượt biên vừa tới trại nầy vào tối hôm qua.

Trại chuyển tiếp Marang cách trại tị nạn Sungei Besi hơn 430 cây số và cách đảo Bidong hơn 45 cây số. Đây là nơi tất cả người tị nạn Việt Nam khi đặt chân đến Mã Lai đều phải đến đó ở một, hai ngày chờ tàu chở ra đảo Bidong để làm thủ tục định cư, và ngược lại, những người tị nạn từ đảo Bidong trên đường tới trại tị nạn Sungei Besi – tọa lạc ở ngoại ô thủ đô Kuala Lumpur, để chờ chuyến bay đi định cư ở nước thứ ba hoặc được tiếp tục phỏng vấn bởi phái đoàn các nước – đặc biệt là phái đoàn Mỹ, cho việc định cư của mình đều tới trại chuyển tiếp Marang ở đó ít nhất một đêm để chờ xe buýt chở đi.

Bọn tôi xuống xe, có người hướng dẫn vào một tòa nhà lớn có nhiều giường đôi hai tầng. Tôi chọn một chiếc giường ở tầng dưới và đặt túi xách đựng quần áo của mình xuống. Mấy người trên ghe tôi cũng vậy, mỗi người chiếm cứ một giường. Sau đó tụi tôi tìm nơi tắm rửa. Trại có hai dãy phòng tắm riêng biệt dành cho nam và nữ.

Sau hơn sáu ngày phong trần, tôi mặc có mỗi một bộ đồ, kể từ lúc bước xuống đò Vàm Láng để vượt biên, chưa được tắm rửa lần nào, giờ đây được xả nước tắm thoải mái để gội rửa bụi “vượt biên”. Không thể nào diễn tả được cảm xúc vui sướng của tôi lúc bấy giờ, nhất là thấy mình đã an toàn đến bến bờ tự do. Mới hơn bảy ngày trước còn ở Việt Nam với bao lo âu, buồn phiền mà bây giờ đã đặt chân đến Mã Lai – vùng đất ước mơ của bao người Việt Nam ôm mộng vượt biên lúc bấy giờ. Tắm xong bước ra ngoài mà tôi ngỡ mình đang nằm mơ.

Chiều hôm đó sau khi ăn uống xong xuôi, tiết mục kế tiếp mà tôi chờ đợi mấy ngày qua là… được ngủ. Sáu đêm ngủ ngồi, tôi gần như không ngủ. Gần bảy giờ tối, tôi leo lên giường làm một giấc thẳng cẳng cho tới ngày hôm sau.

Những người Việt tị nạn trên đảo Bidong, Mã Lai

Gần mười giờ sáng ngày hôm sau có người vỗ vai đánh thức tôi dậy, một anh đi cùng ghe cho tôi biết một giờ trưa hôm nay sẽ có tàu đưa chúng tôi ra Bidong. Anh ta nói: “ông làm gì mà ngủ say như chết vậy? Hồi hôm mấy bà, mấy cô la oai oái làm mọi người thức dậy”. Tôi hỏi: “sao mấy bà, mấy cô la?”, anh ta cho biết, lợi dụng lúc mấy cô đang ngủ, một vài tên lính Mã Lai có ý định sờ mó, sàm sỡ làm mấy cô la lên, mấy bà ngủ gần đó không biết ất giáp gì nghe mấy cô la, mấy bả cũng la làm đám đàn ông mình tỉnh giấc ngồi dậy, mấy tên lính Mã Lai thấy thế sợ quá biến mất. Anh ta còn cười cười nói: “may cho ông đó, ông mà là mấy cô mà ngủ kiểu nầy là tụi nó vác ông chạy vô rừng là tan nát đời hoa”, nói xong anh ta phá ra cười.

Chúng tôi ở trại chuyển tiếp Marang vỏn vẹn chỉ có một ngày. Một giờ trưa ngày hôm đó, xe buýt của hội Trăng lưỡi liềm đỏ Mã Lai đến chở chúng tôi ra bến tàu. Tới nơi, chúng tôi được hướng dẫn xuống một con tàu mang tên Blue Dart mà người tị nạn chúng tôi vẫn thường gọi đùa, tàu đó là tàu “bi đát”. Gần một giờ sau chúng tôi đã có mặt ở Bidong – hòn đảo “thiên đường” của người Việt Nam tị nạn Cộng sản, bắt đầu cho một cuộc sống lưu vong nơi xứ người.

Thanh Nhàn

Nguồn: https://saigonnhonews.com/muon-neo-duong-doi/chuyen-vuot-bien-cua-toi/

Chiếm miền Nam, cướp cả tên trường!(RFA)

Báo Tiếng Dân

Blog RFA

Gió Bấc

Sau tháng Tư đen, không chỉ Sài Gòn mà hầu hết những ngôi trường học tiếng tăm, có truyền thống lịch sử lâu đời đều bị cướp tên.

Đường lối “hòa hợp hòa giải dân tộc” được thực thi nghiệt ngã đến độ hàng trăm trường phổ thông tư thục Bồ Đề, Thánh Mẫu của các Phật giáo, Thiên Chúa giáo khắp các tỉnh thành miền Nam đều “tự nguyện” giải thể, hiến tặng hoặc cho nhà nước mượn không có ngày hoàn trả. Các Viện đại học tư như Vạn Hạnh, Minh Đức, Hòa Hảo…. cũng cùng chung số phận.

Rộng lớn nhất là các trường trung tiểu học công lập đươc xem là loại chiến lợi phẩm và chính quyền quân quản, tùy tiện thay tên đổi họ theo ý thích, theo quan điểm chính trị mà không hề xem xét các yếu tố giáo dục, tâm lý xã hội, giá trị nhân văn.

Việc đặt tên trường ở thời VNCH hướng đến giá trị giáo dục, cho các học sinh noi gương tiền nhân trong học tập, tạo ra bản sắc của hiệu đoàn. Tên trường không chỉ danh xưng mà bao hàm những giá trị hiệu đoàn tiếp nối nhau qua nhiều năm tháng. Tên trường là niềm tự hào, yêu thương của mỗi thành viên, là hoài niệm hồi ức khi đã xa trường.

Các tên trường thường là những danh nhân lịch sử gắn với giá trị văn hóa và hoàn toàn phi chính trị. Không có quan chức, tướng lãnh nào dù là tử trận hay đương chức được đặt tên trường học. Không có trường Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu hay Đỗ Cao Trí, Nguyễn Viết Thanh…. Chỉ có Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Thái Học, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh…

Ấy mà sau tháng Tư đen những cái tên trường đã bị nhuộm đỏ.

Thử điểm qua một số ngôi trường lớn của Sài Gòn. Trường trung học đầu tiên của cả miền Nam từ thời Pháp thuộc đã được Việt hóa với tên Petrus Ký, nhà bác học, người chuẩn hóa và phổ cập chữ Quốc Ngữ, bị thay bằng Lê Hồng Phong, một lãnh tụ cộng sản học hành lèm bèm chủ nghĩa Mác Lê, không có chút đóng góp nào cho giáo dục.

Tương tự, trường nữ trung học đầu tiên mang tên Gia Long, vị vua thống nhất đất nước, khai hóa học thuật cho Nam Kỳ, bị gán vào tên Nguyễn Thị Minh Khai, công lao lớn nhất là phát động cuộc khởi nghĩa đẫm máu ở Nam Kỳ.

Nữ sinh trường Gia Long. Nguồn: gialong.org

Trường trung học đầu tiên của Lục tỉnh là Phan Thanh Giản Cần Thơ, vị Tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ, chủ biên nhiều bộ sử, địa chí trong triều Nguyễn, bị thay bằng Châu Văn Liêm, cũng một cán bộ cộng sản chuyên kích động nổi loạn.

Trường Tống Phước Hiệp mang tên vị quan Trấn Thủ Vĩnh Long thời mở cõi bị thay bằng tên Lưu Văn Liệt, một học sinh lớp 10 bị tuyên truyền sách động, mang lựu đạn vào quán bar gây án vào lúc đông người.

Những cái tên được nhà cầm quyền sính sử dụng để đặt cho trường học thường là hình tượng những tên khủng bố có thật hoặc do tưởng tượng như Võ Thị Sáu, Lê Văn Tám, Mai Thi Non….

Theo nhà thơ Nguyễn Duy, Võ Thị Sáu là cô bé thất học, tâm thần bị kích động, đi ném lựu đạn giết một quan chức hành chính địa phương. Theo giáo sư Phan Huy Lê, Lê Văn Tám thiếu nhi lấy thân làm đuốc sống đốt kho xăng Nhà Bè là sản phẩm tưởng tượng của sử gia cộng sản Trần Huy Liệu. Mai Thị Non cũng là một nữ sinh bị lừa mang mìn hẹn giờ trong cặp sách vào đồn lính, mìn nổ sớm trước giờ, Non chết mà không giết được ai.

Những hình tượng mà chính quyền cộng sản áp đặt vào đầu óc non nớt của học trò không khác chi hành vi của những kẻ khủng bố đánh bom liều chết, bị cả thế giới loài người lên án. Chỉ khác chăng là bọn đánh bom liều chết hướng đến dân tộc khác, quân đội nước ngoài, còn các chiến sĩ cộng sản anh hùng nhà ta liều chết với những người Việt, ngay trên miền Nam ruột thịt của mình.

Không thể thống kê hết tên trường ở các địa phương Miền Nam được dán nhãn bằng tên gọi là anh hùng nhưng thực tế là những tấm gương khủng bố: Hồ Thị Kỷ, Phan Ngọc Hiển…

Thử hỏi tại sao suốt chiều dài lịch sử của Miền Nam ngay từ thời Pháp thuộc đến hai nền cộng hòa, học sinh có bãi khóa, có biểu tình nhưng không có khái niệm “bạo lực học đường” diễn ra hàng ngày như trong thời đại Hồ Chí Minh ‘rực rỡ tên vàng’ hiện nay? Ấn tượng từ tấm gương Võ Thị Sáu, Lê Văn Tám … những bài học về chủ nghĩa anh hùng cách mạng tất yếu sinh ra bạo lực học đường, bạo lực xã hội và cả gia đình. Đưa tấm gương khủng bố lên tên trường học, dạy trẻ con bắn giết mà không tạo ra những băng đảng khủng bố mới là chuyện lạ.

Một sự thay đổi tên trường hết sức tùy tiện khác là đổi theo sự thay đổi đia danh hành chính. Tỉnh Kiến Tường trước 1975 có trung học Kiến Tường, sau 1975, tỉnh Kiến Tường trở thành Huyện Mộc Hóa và Trung Học Kiến Tường cũng bị đổi tên theo. Ở Gò Công trước 75 có trường trung học Hòa Tân, sau 1975 Gò Công bị hạ xuống thành huyện và trường Hòa Tân bị đổi tên thành Tân Tây. Cứ như vậy có nhiều ngôi trường bị đổi đi đổi lại nhiều lần.

Với miền Nam, ngôi trường không chỉ thể chỉ xem xét cơ học là cái nhà để cho người ta ngồi học nhồi nhét kiến thức, tranh giành mảnh bằng. Trường học là không gian sống học tập, yêu thương, sáng tạo của tuổi hoa niên đẹp đẻ nhất đời người. Đó là tình cảm bạn bè, thầy trò sáng trong vun đắp từ từng giờ chơi, tiết học, kết nối các thành viên thành khối hiệu đoàn.

Tùy theo từng trường họ có thể tạo ra bản sắc văn hóa riêng, một truyền thống riêng. Trường nữ trung học Trưng Vương Sài Gòn được giao nhiệm vụ dẫn đầu đoàn diễu hành trong lễ kỷ niệm Hai Bà Trưng hàng năm, đã sáng tạo ra những nhạc cảnh Đêm Mê Linh, Đêm Lam Sơn hoành tráng. Những nữ sinh Trưng Vương trưởng thành theo nghề sư phạm, đã gieo mầm các nhạc cảnh này cho khắp miền Nam. Trường Võ Trường Toản nổi tiếng tổ chức ấn hành nội san học đường khơi dậy phong trào sáng tác học sinh. Trường khác có thế mạnh thể thao, võ thuật.

Ngôi trường, mùa hè, mùa thi đã trở thành đề tài của biết bao tác phẩm thi ca, văn học làm nao lòng người và vẫn còn sức sống sau hơn 60 -70 năm tuổi. Đó là: “Ngựa chứng trong sân trường”, “Vòng tay học trò”, “Trường cũ tình xưa”, “Nỗi buồn hoa phượng”, “Ngày xưa Hoàng Thị”….

Trong điều kiện ấy, tên trường không chỉ là tên gọi hành chính mà hàm chứa kỷ niệm, tình cảm gắn bó suốt cả đời người. Trong hồi ký chiến tranh Về Kontum, trung tá Pháo binh Nhảy Dù kể lại câu chuyện khó khăn tưởng chừng bất khả thi khi phối hợp với Không quân bốc cánh quân Bravo của tiểu đoàn 9 Dù trong rừng gần căn cứ Võ Định về Kontum. Đơn vị này đang bị một đại đơn vị quân Bắc Việt bám sát, lưới lửa phòng không dày đặc, hợp đoàn trực thăng nhiều lần tiếp cận nhưng không thể đáp được. Biết tính khí của sĩ quan chỉ huy hợp đoàn trực thăng quý trọng tình nghĩa với trường cũ Chu Văn An, ông Lạc phải nói dối là “Đường – Đại úy Dù chỉ huy cảnh quân Bravo – cũng học Chu Văn An sau mình hai khóa! Rán cứu nó!” Nghe đến thằng em Chu Văn An, viên sĩ quan không quân đã liều chết đưa hợp đoàn trực thăng bốc toàn bộ cánh Bravo hơn 200 quân của Tiểu Đoàn 9 về Kontum không sót một người. (1)

Không chỉ tình cảm bạn bè cùng trường, tình thầy trò, và đồng nghiệp cùng trường cũng rất sâu dày. Báo chí Việt Nam còn đăng câu chuyện thầy Nguyễn Hữu Hệ từng dạy ở ba trường Trung học Kiến Tường, Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức và Marie Curie, lớn tuổi vẫn sống độc thân, được các cựu học sinh cả ba trường thường xuyên thăm viếng. Được tin thầy bệnh tâm thầ,n cả ba nhóm đến thăm, nuôi bệnh, thì phát hiện ra cô osin đã lừa thầy sang tên ngôi nhà cho cô ấy cùng với toàn bộ số tiền vài trăm triệu mà họ đã quyên góp hỗ trợ thầy. Ba nhóm cựu học sinh phải cử người rước thầy về nhà riêng nuôi dưỡng, tìm kiếm người thân con cháu của thầy và kiện cáo đòi lại căn nhà. Họ tự điều tra, có đầy đủ bằng chứng vụ lừa đảo nhưng công an, tòa án cứ làm lơ. (2)

Đó không phải là câu chuyện cá biệt về tình cũ trường xưa mà trong bối cảnh đau thương của miền Nam bị giải phóng, đất nước bị thống nhất vào tay bên thắng cuộc, trường cũ bị xóa tên, người miền Nam bị ly tán tha hương khắp nơi trên thế giới họ vẫn kết nối nhau trong những hội đoàn cựu học sinh và đều có website riêng. Một số trường có bề dày truyền thống như Trung học Chu Văn An, Võ Trường Toản, lại có nhiều hội đoàn ở nhiều quốc gia, châu lục khác nhau. Cá biệt trường Petrus Ký có đến 10 hội đoàn Ái hữu Petrus Trương Vĩnh Ký ở bắc Mỹ, nam Mỹ, Canada, Âu, Úc, Việt Nam (3)

Ở tỉnh đồng bằng, Trường Tống Phước Hiệp có hội Ái hữu Cựu học sinh Tống Phước Hiệp (4).

Kiến Tường là tỉnh mới lập trong vùng Đồng Tháp Mười heo hút, chỉ hơn 10 năm đã bị xoá tên nhưng các cựu học sinh Kiến Tường vẫn lập hội nối hai đầu cầu Việt – Mỹ và sinh hoạt rất mạnh mẽ (5).

Hầu hết các hội đoàn này đều hoạt động sôi nổi, quan hệ gặp gỡ, tương thân tương ái, chia sẻ kiến thức, sáng tác, hồi ức kỷ niệm ….

Nhiều thành viên của các hội đoàn là những người thành đạt, có kiến thức, có vai trò nhất định trong xã hội, là những nguồn lực khả dĩ có thể hỗ trợ các thế hệ nối tiếp ở ngôi trường cũ, tình cảm nhiệt huyết của họ cũng không thiếu. Nhưng rất tiếc, trường cũ bị xóa tên, đổi tên, ngôi trường bây giờ không còn là trường của họ. Mối liên hệ thương yêu đã bị cắt đứt thành nỗi đau từ năm 1975 nên họ khó có lý do, động lực để quay lại ngôi trường. Họ thừa nhiệt tình để tìm kiếm, thăm hỏi hỗ trợ nhau dù khoảng cách địa lý rất xa đến nửa vòng trái đất, nhưng hầu hết đều đóng khung sự chia sẻ, tương thân trong các thành viên trước 1975.

Việc xóa tên, đổi tên trường của chính quyền cộng sản không chỉ phá hủy không gian văn hóa đẹp của nền giáo dục miền Nam, cướp đi ký ức đẹp của các cựu học sinh miền Nam mà còn phá hủy mối dây liên hệ, tước đi cơ hội tiếp nhận sự hỗ trợ từ thế hệ học sinh trước đây với thế hệ ngày nay.

_______

Chú thích:

1- https://danviet.vn/bi-an-lao-vo-su-ban-nha-6-ty-gia-700-trieuky-2-chau-gai-la-ai-7777712475.htm

2- https://www.youtube.com/watch?v=ygp5XR97O_M&t=366s

3- http://www.petrusky.de/index.php/lienkethoidoan

4- https://tongphuochiep-vinhlong.com/2017/07/hoat-dong-cua-ho%CC%A3i-ai-hu%CC%83u-chs-tong-phuoc-hie%CC%A3p/

5- https://trunghockientuong.com/

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Tuẫn tiết

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

28/04/2023

Bên Thắng Cuộc phát hành cuối năm 2012, và được bỉnh bút Nguyễn Hùng (BBC) liệt kê là một trong “mười chuyện nổi bật” nhất trong năm. Cùng lúc, biên tập viên Mặc Lâm (RFA) cũng nhận xét rằng “cuốn sách đang gây sôi nổi cho cư dân mạng cả trong và ngoài nước” và đã khiến cho “người đọc ngỡ ngàng” vì “cái nhìn” của tác giả – một người sinh trưởng “từ bên kia” chiến tuyến:

“Trong chương 1, Ba mươi Tháng Tư, Huy Đức đặt một tiểu tựa khiến người đọc ngỡ ngàng. Họ ngỡ ngàng vì biết tác giả là người trưởng thành từ bên kia nhưng dùng hai chữ Tuẫn Tiết đặt cho câu chuyện của các tướng lãnh bên này tự kết liễu đời mình trong ngày chế độ sụp đổ.

Các tướng lãnh như Lê Văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ hay Đại tá Đặng Sĩ Vinh lần lượt kết liễu đời mình trước sự chứng kiến của thuộc hạ hay vợ con dưới cái nhìn của Huy Đức là một sự tuẫn tiết…

Một điểm quan trọng nữa, Huy Đức viết: ‘Nhưng đấy vẫn chưa phải là những phát súng cuối cùng của cuộc chiến tranh. Nhiều quân nhân vô danh vẫn tìm đến cái chết trong những ngày sau đó.”

Mãi đến bốn mươi sáu năm sau, độc giả của nhật báo Người Việt – số phát hành vào hôm 6/12/2021 – mới có dịp biết đến tên tuổi của một số “quân nhân vô danh” này qua bài viết (“Những Anh Hùng Tuẫn Tiết Trong Ngày Tàn Cuộc Chiến Tại Việt Nam”) của ký giả Vann Phan :

“Ngoài ‘Ngũ Hổ Tướng’ ra, còn có các sĩ quan khác cùng các hạ sĩ quan trong Quân Lực VNCH và Cảnh Sát Quốc Gia đã chọn cái chết để đền nợ nước trước, trong và sau ngày 30 Tháng Tư, thay vì đầu hàng quân Cộng Sản…

Còn một số quân nhân thuộc nhiều binh chủng khác nhau trong Quân Lực VNCH thì đã tự sát tập thể để khỏi rơi vào tay quân địch, bằng cách cùng nhau mở lựu đạn hoặc đồng loạt nổ súng vào đầu nhau trong biến cố 30 Tháng Tư, 1975, thật vô cùng bi tráng.”

Nỗi “bi tráng vô cùng” này đã được nhà văn Cao Xuân Huy ghi nhận bằng đôi mắt ráo hoảnh, cùng những câu chữ trần trụi và khô khốc:

Lại có rất nhiều người tự tử. Bây giờ họ không tự tử từng người, từng cá nhân mà họ tự tử tập thể. Không rủ, không hẹn và hầu như họ đều không quen biết nhau trước hoặc có quen biết đi nữa, bạn bè đi nữa họ cũng không thể nhận ra nhau trước khi cùng chết với nhau một lúc. Dòng người chúng tôi đang chạy, một người tách ra ngồi lại trên cát, một người khác cũng tách dòng người ra ngồi chung, người thứ ba, người thứ tư, người thứ năm nhập bọn, họ ngồi tụm với nhau thành một vòng tròn nhỏ, một quả lựu đạn nổ bung ở giữa.”

Cựu quân nhân Nguyễn Hữu Luyện bình luận: “Khi một binh nhì kê súng vào đầu mình để bóp cò, người ấy chỉ có một nguyên nhân uất hận được bộc lộ qua khí phách của quân nhân QLVNCH. Do đó, hành động tự sát của anh binh nhì nói lên cái khí phách tột đỉnh và tấm lòng son sắt vô song …”

Khí phách cùng tấm lòng sắt son của những người lính trận – buồn thay – vẫn thường bị lãng quên, nhất là khi họ thuộc bên thua cuộc:

“… những người lính chết trận và mất tích ở phía VNCH, chính thể đã sụp đổ vào tháng 4/1975, ít được biết tới và nhiều lúc đã trở thành đề tài cấm kỵ tại Việt Nam thời hậu chiến. Bị chính quyền mới ghẻ lạnh, đồng minh Mỹ lãng quên, các quân nhân VNCH tử trận chỉ được người thân, đồng đội cũ tưởng nhớ và kiếm tìm.” (Bùi Thư. “Hành Trình Tìm Hài Cốt Lính VNCH: 39 Năm, Anh Em Nằm Dưới Nền Đất Lạnh.” BBC – 28.04.2020)

Ở vào hoàn cảnh của những kẻ thuộc phe bại trận thì việc thu nhặt hài cốt hay tìm kiếm những nấm mồ vô thừa nhận của bạn đồng đội – tất nhiên – chả dễ dàng chi, và cũng không mấy khi có được kết quả như mong đợi. Tuy thế, thỉnh thoảng, vẫn có những sự kiện ấm lòng :

  • Ngày 19 tháng 4 năm 2022, FB Dominic Pham cho biết thêm một tin vui: “Người dân Vũng Liêm, Tam Bình, Vĩnh Long đã đào được hài cốt người lính VNCH, với tấm thẻ bài: Nguyễn Văn Hài SQ 50/680.585LM A RH+. Hài cốt của anh đã được đưa vào Chùa. Xin vui lòng gọi 038 663 3049, 093 284 8449 để biết thêm chi tiết.”
  • Hôm 15 tháng 03 năm 2022 , trên trang FB Tìm Hài Cốt Chiến Sĩ VNCHcũng cho biết một tin mừng khác, đã được thực hiện từ 10 năm trước. Xin lược thuật :

Ngày 19-08-2011, ba cựu quân nhân VNCH đã đến Thị Xã Bà Rịa-Vũng Tàu vì nghe nơi đây có bốn ngôi mộ không bia của đồng đội, nằm trong vườn nhà ông Hai Lì – một cán bộ địa phương… Ông Hai Lì kể:

 “Tôi là dân Gia Đình Cách Mạng, mấy Ông Rằn Ri này gan lì lắm, mấy Ổng chống đến cùng dù có lệnh đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh 30-04-1975, mấy Ổng chiến đấu cho đến trưa 01-05-1975 rồi cùng nhau tự sát và chính tôi là người chôn cất mấy Ổng, giấy tờ từng Ông tôi bỏ vào một cái hộp chôn theo các Ông.”

 Công việc bốc mộ được tiến hành, tất cả mọi người cùng hồi hộp chờ đợi từ nhát cuốc đầu tiên chạm vào ngôi mộ, sau đó hé lộ dần những hình hài của Các Anh đã chôn vùi nơi đây hơn 36 năm dài đằng đẵng…không Quan Tài, mà cũng chẳng có PONCHO bọc xác, chẳng còn gì với cát bụi thời gian, ngoài những mảnh xương tàn, quần áo đã mục nát …

 Chúng tôi cố tìm những mảnh giấy tờ đã được chôn theo Các Anh sau khi đã lượm lặt từng khúc xương còn sót lại, rồi cho vào từng hũ sành, ghi tên Các Anh, gởi vào Chùa và cầu xin cho Các Anh được siêu thoát khỏi chốn dương trần đầy khổ đau, tủi nhục này và điều mong muốn mãnh liệt nhất là thân nhân Các Anh sớm tìm gặp lại Các Anh sau bao năm dài vắng bặt tin tức…

Tất cả mọi người cùng ứa lệ mừng vui khi tìm được những tấm thẻ bài, giấy tờ, tên tuổi Các Anh …và đây là những vị Anh Hùng của chúng ta:

  • Ngôi mộ thứ nhất: Có Thẻ Bài tên TRƯƠNG VI CỬ SQ: 75/115.815.
  • Ngôi Mộ thứ hai: có Thẻ Bài tên VÕ QUANG HẰNG SQ: 68/123.320.
  • Ngôi Mộ thứ ba: (gồm có 02 người) trong đó Một Vô Danh không Thẻ Bài. Người có Thẻ Bài tên: TRẦN VĂN HÀ SQ: 67/824.827.

Sau khi Bốc mộ xong, chúng tôi đã đem 04 hũ cốt gởi Chùa Báo Ân. Địa chỉ: Khu Công Nhân, Thị Trấn Ngãi Giao, huyện Châu Đức, Bà Rịa-Vũng Tàu. Còn các Di Vật và giấy tờ liên quan kể trên, chúng tôi nhờ MĐ Đẹp giữ. Nếu tình cờ Quý Vị nào hoặc ai đọc được tin tức này hoặc cần biết thêm chi tiết cụ thể, xin vui lòng liên lạc theo số Phone, dưới đây: Nguyễn Văn Thành ĐT: 01645462458 hay

Lê Văn Đẹp ĐT: 01684118839.

Dù không phải là kẻ vô thần, tôi là một người vô đạo (hay khô đạo) bất kể đạo gì! Tuy thế, những dòng thông tin muộn màng (ghi trên) về bạn đồng đội vẫn khiến cho tôi cảm thấy có đôi chút an tâm và vô cùng an ủi.

Xin cảm ơn Trời, Đất, Chúa, Phật, Thánh Thần… Xin cảm ơn tất cả mọi người đã không ngại công khó, đã lập đài tưởng niệm, đã cải táng, đã lập mộ (cùng khói nhang ấm áp) cho những kẻ thuộc bên thất trận – dù chúng tôi đã không chu toàn được trách nhiệm bảo quốc an dân.

Tưởng Năng Tiến

Hưng Nguyên và Nghệ An

Báo Tiếng Dân

Thái Hạo

Trong vụ án cô giáo Lê Thị Dung đang làm rúng động dư luận cả nước, có những tình tiết đặc biệt quan trọng liên quan trực tiếp đến việc bắt giữ và kết tội bà. Đó là lá đơn tố cáo của bà trước khi bị bắt, chứ không phải chỉ là những khiếu nại đối với án kỷ luật bà như báo chí đã đưa tin.

Xin nhắc lại một chút về những việc xung quanh án kỷ luật này. Ban đầu là Sở GD Nghệ An “tuyển dụng chui” rồi đẩy người về cho Trung tâm, trong khi nơi này đã đủ giáo viên, và ép giám đốc (cô Dung) phải nhận người. Cô không ký hợp đồng không thời hạn, và rồi sau đó bị kỷ luật. Án kỷ luật ấy không có cơ sở, cô Dung khiếu nại, UBND tỉnh Nghê An thừa nhận cô Dung đúng, nhưng lạ thay, án kỷ luật vẫn không bị thu hồi. Cô Dung tiếp tục khiếu nại.

Đến ngày 16 tháng 9 năm 2021, thì cô giáo Lê Thị Dung đã làm đơn tố cáo Ban thường trực huyện ủy Hưng Nguyên nhiệm kỳ 2015-2020 về nhiều nội dung, gửi lên Bí thư tỉnh ủy Nghệ An.

Phải chăng đây chính là lý do trực tiếp và quan trọng nhất dẫn đến việc bà bị bắt và kết án 5 năm tù giam, chứ không phải là vấn đề của số tiền gần 45 triệu đồng “thất thoát” trong 6 năm kia?

Tại sao nói như thế? Căn cứ vào lời tự bào chữa tại tòa của cô Lê Thị Dung sau khi cả 2 luật sư của cô đều đã bị đuổi ra khỏi phòng xét xử, dư luận khó mà nghĩ khác được. Cụ thể, cô Dung nói: “Có người nói tôi rút đơn đi [chính là lá đơn tố cáo nói trên], không có là lệnh bắt này! Như vậy, ngay từ đầu đã có sự xây dựng để kết tội. Trước xét xử cũng tiếp tục hỏi và định mức án cho tôi là 5 năm. Đã xét xử đâu, đã biết đúng sai đâu nhưng vẫn mức án bỏ túi 5 năm! Căn cứ buộc tội thì không đúng pháp luật, trình tự tố tụng sai phạm từ đầu đến cuối, nhưng vẫn bất chấp luật, vẫn kết tội… Khủng khiếp quá” (Trích lời tự bào chữa của bị cáo Lê Thị Dung tại tòa án Hưng Nguyên – Nghệ An).

Chính vì nhiều lý do của cuộc sống cá nhân và những áp lực này (không phải chỉ từ cấp huyện), cô Dung đã rút đơn tố cáo. Nhưng, chỉ khoảng 1 tuần sau khi rút đơn thì cô Dung bị bắt và bị giam hơn 1 năm trời cho đến cuối tháng Tư này thì bị đưa ra xét xử và bị kết án 5 năm tù bằng một phiên tòa có nhiều tình tiết làm dậy sóng như đã thấy.

Phải chăng, từ những gì đã thấy, việc kêu oan cho cô Dung khó mà có kết quả nếu chỉ khu biệt lại và luẩn quẩn trong phạm vi các cấp chính quyền tỉnh Nghệ An?

Lời bàn: Mọi người Việt Nam đều là tù nhân dự khuyết ngay cả đang là đảng viên.!

VĂN HÓA XHCN HAY TÔI KHÔNG TIN ĐƯỢC!

– Tôi tin được không khi cán bộ đội  chống ma tuý  là trùm  buôn bán  ma tuý?

– Tôi tin được không  khi sĩ quan cao cấp công an  chống cờ bạc  lại là  trùm cờ bạc ?

– Tôi tin được không  khi một  thượng toạ chức sắc của  Phật giáo  lại không hiểu gì  đạo Phật?

– Tôi tin được không  khi  Bộ trưởng Giáo dục  lại là  kẻ đạo văn và xài bằng giả ?

– Tôi tin được không  khi  Bộ trưởng y tế  lại là  chỗ dựa lưng  cho bọn buôn thuốc dỏm giá cao?

– Tôi tin được không  khi một  tổng biên tập tờ báo  lớn miệng luôn mồm yêu nước, thương dân, sống chết với đồng bào, gắn bó với đảng, ray rứt với hiện tình đất nước, sau khi  thu vén được món tiền to  liền đem hết vợ con, cháu chắt chuồn qua Mỹ, mua nhà, sắm xe, mở công ty?

– Tôi tin được không  những cán  bộ lương chẳng bao nhiêu  mà xây nhà hàng trăm tỷ,  con học  nước ngoài, vợ toàn xài hàng hiệu,  rượu uống  một chai hàng chục triệu?

– Tôi tin được không  khi những  quan chức ngành giáo dục  khắp nơi trên đất nước  bán chỗ dạy  học cho các giáo viên với giá hàng trăm triệu?

– Tôi tin được không  những  cán bộ, nhân viên  có nhiệm vụ giữ rừng  lại là những tên lâm tặc  phá rừng?

– Tôi tin được không những cán bộ giữ cánh cửa biên giới  lại  là những kẻ buôn lậu hoặc tiếp tay  cho buôn lậu mang những chất độc giết người vào cho nhân dân tiêu thụ đầu độc người dùng?

– Tôi tin được không những  cán bộ thanh tra, lực lượng chống tham nhũng  lại là  những kẻ tham nhũng  kinh khiếp nhất?

– Tôi tin được không những  tổng biên tập báo , những  nhà báo chống tiêu cực  lại là  thành viên thân cận với những quan chức tham ô, hối lộ, những doanh nghiệp vi phạm nghiêm trọng, những đám xã hội đen, những tập đoàn mafia.

– Tôi tin được không khi những  cảnh sát giao thông  không làm đúng chức trách của mình là giữ gìn và điều tiết giao thông  mà chỉ  đi thu tiền mãi lộ?

– Tôi tin được không  khi  những lãnh đạo hôm qua còn hò hét quốc kế dân sinh  hô hào  phong trào yêu nước, chống tội phạm…  hôm nay đã là kẻ phạm tội  đứng trước vành móng ngựa?

– Tôi tin được không  khi  lãnh đạo giáo dục  bắt các cô giáo phải đi  hầu rượu  quan chức như gái bia ôm?

– Tôi tin được không  khi  bệnh nhân vào cấp cứu  với bệnh trạng thập tử nhất sinh, muốn được thăm khám  phải đóng đủ tiền  thì các cán bộ y tế mới cho phép tiến hành cứu người?

– Tôi tin được không  khi  bệnh nhân  phải nằm bốn người trên một giường và  bộ trưởng y tế  khi đến thăm lại  lấy làm ngạc nhiên  với tình trạng quá tải ấy?

– Tôi tin được không  khi hàng ngàn Tiến sĩ không rành về lãnh vực mình được cấp bằng, cũng chẳng biết một ngoại ngữ nào và gần 60% là quan chức hoặc công chức. Người ta  còn có dự án  tiêu chuẩn hoá Tiến sĩ  xuống tận cấp phường.  Muốn có bằng, họ phải tốn tiền hàng trăm triệu cho đến tiền tỷ?

– Tôi tin được không  khi biết rằng  đa số thực phẩm  đều có chứa chất độc nhưng  rồi cũng phải tiêu thụ nó  để tiếp tục sống dù biết đó là con đường ngắn nhất đi đến nghĩa trang ?

– Tôi tin được không  khi  những người viết sử  có thể lãng quên những anh hùng liệt sĩ của cuộc chiến tranh chống xâm lược phương Bắc,  bóp méo lịch sử  vì sợ mất lòng kẻ thù ?

– Tôi tin được không  khi  người lãnh đạo cao cấp nhất của quân đội  lại ra lệnh cho chiến sĩ của mình  không được nổ súng  khi kẻ thù chiếm đảo để biến họ thành những tấm bia cho quân xâm lược tập bắn ?

– Tôi tin được không  trong thời đại này  người ta có thể đưa hết  con cháu, bà con xa gần, sui gia, dâu rể  ra làm quan, nắm hết chức vụ quan trọng  trong địa phương mình phụ trách ?

– Tôi tin được không  khi  người ta có thể đăng tin cung cấp luận án tốt nghiệp, bán bằng giả  trên mạng xã hội với địa chỉ và số điện thoại rõ ràng. Và đa số cán bộ đều sử dụng loại bằng này. Trong lúc  hàng ngàn sinh viên tốt nghiệp chính quy  phải thất nghiệp, lái xe ôm ?

– Tôi tin được không  khi có thứ  chính quyền đi cướp đất của dân, mua đất của dân  giá rẻ mạt, không mua được thì cưỡng chế, sau đó  bán lại  cho doanh nghiệp với giá gấp trăm lần để bỏ túi ?

– Tôi tin được không  khi người ta  bị bắt  vào đồn công an  sau đó  bị chết vì lý do tự tử bằng sợi dây thun ?

– Tôi tin được không  khi có  những người đảng viên , đang làm quan chức lại  đã, đang và sẽ  có trong mình cái thẻ xanh sẵn sàng định cư ở ngoại quốc ?

– Tôi tin được không  những  người cộng sản  lại giàu có và ăn chơi, tiêu xài gấp trăm lần những tài phiệt tư bản. Họ  vung tiền  khiến cho những đại gia tư bản phải xanh mặt. Ca sĩ, diễn viên nổi tiếng thế giới phải cúi đầu?

– Tôi tin được không  khi có  những vùng  mưa chưa tới, bão chưa qua mà lãnh đạo địa phương  đã ngồi lại làm báo cáo thiệt hại ?…

***

Trong xã hội Việt Nam ngày nay,  còn vô số điều tương tự, không thể tin được  mà “vưỡn” phải tin đấy Em à!

From: TRUONG LE

Australia phát hành đồng hai đô la kỷ niệm cuộc chiến Việt Nam có hình cờ Việt Nam Cộng Hòa 

Có gì hơi lạ nơi tôi tô xanh: giá chính phủ đưa ra: đồng bằng vàng lại rẻ hơn đồng bằng bạc?

2023.04.19

Posted by GLN

Đồng 2 đô la Úc có cờ VNCH được bán trên eBay với giá 1.360 đô la Úc

Đồng tiền hai đô la mới của Úc kỷ niệm cuộc chiến Việt Nam hiện có giá hơn 1,200 đô la chỉ sau khoảng hơn một tuần phát hành.

Australia Mint (công ty độc quyền sản xuất tiền cho Australia) phát hành đồng bạc hai đô la lần đầu tiên hôm 6/4 với thiết kế màu sắc kỷ niệm 50 năm kết thúc sự tham gia của Úc vào cuộc chiến Việt Nam năm 1973.

Báo Daily Mail của Anh dẫn lời một người sưu tập tiền có tên Jeol Kandiah ở Perth, cho biết người này phải chờ đến 16 giờ đồng hồ để mua được một đồng trong khi nhiều người khác phải xếp hàng dài để mua.

Mint cho biết chỉ phát hành giới hạn 5.000 đồng bạc với giá 80 đô la trong khi bản vàng có 80.000 đồng và được bán với giá là 15 đô la.

Cả hai đồng tiền đều có hình máy bay trực thăng UH-1 bao quanh bởi đường tròn màu sắc giống như ba miếng ribbon trao cho các cựu binh Việt Nam. Trong hình ảnh của đồng tiền này  có hình cờ của Việt Nam Cộng Hòa.

Hiện giá của một đồng bạc được bán trên eBay là từ 1.200 đến 2.300 đô la và giá đồng vàng là khoảng 80 đô la.

RFA

From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

Dân tộc duy nhất ở Trung Quốc nói tiếng Việt, ăn nước mắm, đánh đàn bầu.

(Dân trí) – Trải qua hơn 500 năm lịch sử, bộ tộc Kinh tại Trung Quốc vẫn giữ những nét văn hóa truyền thống, dùng tiếng Việt làm phương tiện giao tiếp hằng ngày.
 

“Yêu nhau cởi áo ối à trao nhau. Về nhà dối rằng cha dối mẹ a à a á a qua cầu, tình tình tình gió bay” – giọng hát hòa vào tiếng gảy đàn bầu cổ khiến chúng tôi không khỏi xúc động khi được nghe ở bên kia biên giới nước bạn.

Thấy khách đến nhà, bà Tô Tiết – người phụ nữ thuộc bộ tộc Kinh – thì tay bắt mặt mừng khoe: “Người Việt Nam đây này. Người Kinh qua thăm người Kinh đây này!”.

Dù đã 500 năm trôi qua, trong làng chài nhỏ Vạn Vĩ (thị trấn Giang Bình, TP Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc) nhiều người bà con như bà Tô Tiết vẫn dùng lời ca, tiếng hát để giữ gìn tiếng mẹ đẻ và văn hóa Việt Nam. 

Dân tộc duy nhất ở Trung Quốc nói tiếng Việt, ăn nước mắm, đánh đàn bầu - 1

Bà Tô Tiết là một trong những người thuộc dân tộc Kinh còn nói sõi tiếng Việt (Ảnh: Diệp Bình).

 

Bộ tộc duy nhất ở Trung Quốc nói tiếng Việt

Cách cửa khẩu Móng Cái 30 km về hướng Bắc, thành phố Đông Hưng (Trung Quốc) hiện ra với những dãy nhà cao tầng, trung tâm thương mại sầm uất. Ở đây, vùng làng chài Tam Đảo là nơi sinh sống duy nhất của bộ tộc Kinh. Và hằng ngày họ vẫn dùng tiếng Việt giao tiếp, con em được giáo dục thông qua những cuốn sách giáo khoa bằng ngôn ngữ mẹ đẻ.

Theo gia phả ghi lại, vào thế kỷ thứ 17, một bộ phận người Việt từ Đồ Sơn (Hải Phòng) đã sang Tam Đảo (Trung Quốc) định cư và hành nghề chài biển. Thời đó chữ quốc ngữ chưa ra đời nên tất cả sổ sách, chữ viết là chữ Nôm.

Ban đầu, vùng đất này có 3 thôn là Vạn Vĩ, Mu Đầu và Sơn Tâm, chưa đầy 100 người với 12 dòng họ: Tô, Đỗ, Nguyễn, Hoàng, Vũ, Bùi, Cao, Ngô, La, Cung, Khổng và Lương. 

Dân tộc duy nhất ở Trung Quốc nói tiếng Việt, ăn nước mắm, đánh đàn bầu - 2

Dù 500 năm, nhiều cư dân ở Tam Đảo vẫn giữ gìn những nét văn hóa của quê hương Việt Nam (Ảnh: Lê Phong).

Sau này, nhờ sự bù đắp phù sa nên 3 hòn đảo đã hợp thành đất liền và phát triển thêm một số thôn xóm khác. Thế nhưng, cái tên Tam Đảo vẫn còn giữ nguyên vẹn. Đồng thời, bộ tộc có nguồn gốc Việt Nam được ghi nhận là tộc Kinh cùng 56 dân tộc khác của Trung Hoa.

Trải qua 500 năm, Tam Đảo hiện nay ước tính có gần 20.000 người gốc Việt thuộc thế hệ thứ 9-10. Mặc dù đã không còn mối liên hệ với gốc gác tại Việt Nam, thế nhưng họ vẫn luôn giữ gìn bản sắc, ngôn ngữ mẹ đẻ thông qua việc sử dụng hằng ngày.

Dân tộc duy nhất ở Trung Quốc nói tiếng Việt, ăn nước mắm, đánh đàn bầu - 3

Chiếc áo dài xuất hiện tại Trung Quốc (Ảnh: Lê Phong).

Nói tiếng Việt, biết đánh đàn bầu, ăn nước mắm

Dường như bỏ mặc thời gian, làng chài Vạn Vĩ hiện ra đầy đủ những nét bản địa với cây đa, bến nước, mái đình. Đặc biệt, ngay trước cổng làng, chính quyền địa phương đã cho xây dựng một bảo tàng, lưu giữ tất cả văn hóa của người Việt Nam để nhắc nhở cuội nguồn cho con cháu bộ tộc Kinh.

Hình ảnh tranh vẽ rước kiệu, áo dài, điếu cày, chum vại, vó đánh cá, truyện Thạch Sanh hay những món đặc sản nước mắm, bún, miến, đồ khô tẩm ướp gia vị… khiến chúng tôi không khỏi xúc động. 

Dân tộc duy nhất ở Trung Quốc nói tiếng Việt, ăn nước mắm, đánh đàn bầu - 4

Bảo tàng tại Tam Đảo nơi lưu giữ những văn hoa của người Việt (Ảnh: Diệp Bình).

Bước vào bên trong làng, thấy chúng tôi là khách phương xa, một cụ bà ngoài 80 đặt câu hỏi: “Người Việt Nam sang hả?”. Nhận sự gật đầu, cụ nở nụ cười niềm nở. Dù chưa từng nghe qua địa danh TPHCM, nhưng biết tôi là người Việt gốc, cụ vẫn rất tự hào.

Đón chúng tôi trước cửa nhà, cô Tô Tiết với giọng tiếng Việt sõi của mình đã khoe ngay với gia đình: “Người Việt Nam đây này. Người Kinh qua thăm người Kinh đây”.

Cô Tiết chia sẻ, tổ tiên cô đã sang vùng biển này lập nghiệp được hơn 500 năm. Mặc dù từ đó chưa từng quay về Việt Nam tìm gốc gác, thế nhưng bằng việc cùng ba mẹ sử dụng tiếng Kinh nên bà đều có thể nghe và hiểu. Mãi đến đời con cháu hiện tại đã sinh sống với người Hán, nói tiếng phổ thông nên việc duy trì trở nên khó khăn.

Thế nhưng, dường như cái cảm giác thèm tiếng Việt khiến bà cứ tay bắt mặt mừng, hỏi đủ chuyện về phía bên kia biên giới.

“Hàng xóm ở đây chủ yếu là người Kinh, từ 12 đến 17 tuổi thì có thể nói tiếng Việt. Mặc dù đã không trở về quê hương, nhưng ai cũng có ý thức giữ nguyên văn hóa bản địa…” – bà Tiết nói.

Dân tộc duy nhất ở Trung Quốc nói tiếng Việt, ăn nước mắm, đánh đàn bầu - 5

Bà Tô Tiết gảy đàn bầu cổ chiêu đãi khách phương xa (Ảnh: Lê Phong).

Bên cạnh ngôn ngữ, tộc Kinh ở Trung Quốc vẫn giữ gìn đầy đủ văn hóa lễ Tết của Việt Nam. Đặc biệt với ngư dân, ngày 6/9 hàng năm luôn là lễ hội lớn nhất để người dân cầu mưa thuận gió hòa.

“Từ thời mẹ nằm trong đoàn văn nghệ làng, nên tôi đã tiếp xúc với đàn bầu cổ, sáo trúc, và hát các làn điệu dân tộc. Cứ vào ngày cầu Hải Long Vương tôi sẽ đảm nhiệm đàn hát. Ba đảo làm lễ ba ngày khác nhau, giúp dân làng đổ về đó chung vui và cầu may” – cô Tiết chia sẻ thêm.

Dân tộc duy nhất ở Trung Quốc nói tiếng Việt, ăn nước mắm, đánh đàn bầu - 6

Người dân vẫn dùng tiếng Việt để giao tiếp hằng ngày (Ảnh: Lê Phong).

Dân tộc duy nhất ở Trung Quốc nói tiếng Việt, ăn nước mắm, đánh đàn bầu - 7

Khung cảnh sống yên bình ở làng Vạn Vĩ (Ảnh: Lê Phong).

Chị Nương (hướng dẫn viên du lịch tại Trung Quốc) nói: “Tam Đảo hiện này là nơi duy nhất của còn sử dụng tiếng Việt. Thậm chí, trên các biển báo giao thông vẫn còn đề chữ quốc ngữ cho người dân sử dụng.

Ở đây lâu, mình đã gặp rất nhiều bà con Kinh. Họ rất tự hào dân tộc, mến khách và có lòng tự tôn lưu, giữ văn hóa cao”.

(Sưu tầm)

From: TRUONG LE

Bí mật lịch sử tháng 4 năm 1975: Trung Quốc định tung lính Dù nhảy xuống Biên Hòa chặn Bắc Việt?

Những bức ảnh lịch sử về ngày chiến thắng 30/4/1975

George Jay Veith: Ông Nguyễn Xuân Phong cho biết vào những ngày cuối của cuộc chiến, cả phía Bắc Việt và Trung Quốc đã liên lạc với ông.

Phía Bắc Việt bắn tin cho ông, cho đại diện của Pháp (tướng Paul Vanuxem,) và một số nhân vật khác, rằng nếu ông Dương Văn Minh không được đưa lên nắm quyền trước ngày 26/4/1975, họ sẽ san bằng Sài Gòn bằng hai mươi ngàn viên đạn pháo.

Còn phía Trung Quốc cũng cho người đến gặp ông để đưa ra một kế hoạch can thiệp quân sự nhằm ngăn chặn Bắc Việt chiếm Miền Nam Việt Nam. Mục đích của Trung Quốc là ngăn chặn một Việt Nam thống nhất.

Kế hoạch của Trung Quốc, theo lời kể của ông Phong, là trước hết xây dựng một liên minh giữa chính quyền VNCH và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (CMLTCHMNVN). Sau khi có liên minh này, Tổng thống Dương Văn Minh sẽ đưa ra lời thỉnh cầu quốc tế giúp đỡ. Nhân cơ hội đó, Pháp sẽ hồi đáp bằng cách đưa vào Miền Nam Việt Nam một “lực lượng quốc tế” với danh nghĩa bảo vệ chính phủ mới, nhưng trong cái gọi là “lực lượng quốc tế” này sẽ có “hai Sư đoàn lính Dù của Trung Cộng.” Hai sư đoàn Dù này sẽ được thả xuống Biên Hòa.

#RFAVietnamese #vietnamwar #VNCH #trungquoc #nguyenxuanphong

RFA.ORG

Bí mật lịch sử tháng 4 năm 1975: Trung Quốc định tung lính Dù nhảy xuống Biên Hòa chặn Bắc Việt?

Theo WilsonCenter.org

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, một đồng minh lâu năm của Bắc Việt Nam, có thể đã tìm cách tạo ra một miền Nam Việt Nam trung lập vào năm 1975 và phủ nhận chiến thắng mà Hà Nội đã tìm kiếm từ lâu.

Tiết lộ này được rút ra từ hơn một thập kỷ phỏng vấn và trao đổi email mà tôi đã thực hiện với Nguyễn Xuân Phong trước khi ông qua đời vào tháng 7 năm 2017. Phong từng là phó đoàn đàm phán của Việt Nam Cộng hòa tại Paris từ năm 1968 đến năm 1975, và ông tuyên bố đã tiếp xúc với Trung Cộng để cứu Miền Nam Việt Nam.

Hơn 30 năm qua, ông Phong không kể với ai về sứ mệnh cứu nước bí mật cuối cùng của mình. Mặc dù không có bằng chứng tài liệu trực tiếp nào được đưa ra để chứng minh cho tuyên bố của Phong, nhưng bằng chứng cấp ba đáng kể dường như chứng minh cho lời giải thích của anh ta. Nếu đúng, câu chuyện hấp dẫn này sẽ đảo ngược lịch sử được chấp nhận về những ngày cuối cùng của cuộc chiến.

Không lâu trước chuyến đi lịch sử của Henry Kissinger đến Bắc Kinh vào tháng 7 năm 1971, Phong đã được mời tham dự tiệc chiêu đãi tại đại sứ quán Miến Điện ở Paris. Ở đó, Phong được giới thiệu với một quan chức Trung Quốc từ văn phòng của Chu Ân Lai, người muốn gặp Phong. Người đàn ông kết thúc cuộc thảo luận của họ bằng nhận xét, “Tổng thống Thiệu có biết ai là bạn và thù thực sự của mình không?”

Theo Phong, nhiều thông điệp từ phía Trung Quốc đã được chuyển cho ông để tìm cách thiết lập một cuộc đối thoại với Thiệu, nhưng tổng thống Nam Việt Nam đã không trả lời.

Bắc Việt Nam đã phát động một cuộc tấn công khác vào tháng 3 năm 1975 và nhanh chóng phá vỡ hệ thống phòng thủ của Nam Việt Nam. Đến cuối tháng 4, quân đội Cộng sản áp sát Sài Gòn, và Thiệu từ chức để nhường quyền cho phó tổng thống Trần Văn Hương.

Chính phủ Pháp mạnh mẽ đề nghị Hương từ chức để ủng hộ Dương Văn Minh, cựu tướng lãnh đạo cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm năm 1963. Pháp đề nghị thành lập một chính phủ liên hiệp với Chính phủ Cách mạng Lâm thời (PRG), Mặt trận Cộng sản tổ chức ở miền Nam Việt Nam, và đứng đầu là Minh sẽ ngăn chặn cuộc tấn công của Hà Nội. Phong và Hương là bạn cũ, Hương triệu Phong vào Sài Gòn để bàn bạc xem lời đề nghị này có thật không.

Duong Van Minh Stock Photos and Pictures | Getty Images

Khi Phong bay vào Sài Gòn, anh ta tuyên bố đã mang theo một thông điệp bí mật từ người Trung Quốc. Đến nơi, Phong lập tức đến gặp Hương. Vì đã biết vị tổng thống ốm yếu trong nhiều năm, ông khẳng định không có hy vọng đàm phán khi ông vẫn còn tại vị. Ngày hôm sau, Hương triệu tập đại hội để bắt đầu quá trình chuyển giao quyền lực cho Minh. Phong không đề cập đến thông điệp mà anh ta mang theo, vì anh ta biết rằng sự kiện kích hoạt đề xuất này là để Minh lên nắm quyền và chấp nhận liên minh với PRG.

Vài ngày sau, Phong gặp bạn thân của Minh, cựu tướng Trần Văn Đôn, và một đại diện của PRG để thảo luận về khả năng thành lập chính phủ liên hiệp. Trần Ngọc Liêng, một điệp viên bí mật của Cộng sản, có mặt với tư cách là đại diện của Minh. Phong thông báo một cách tế nhị với quan chức PRG tại cuộc họp này rằng Pháp và các nước khác sẽ giúp đỡ chính phủ mới, nhưng anh ta cố tình mơ hồ về điều này có nghĩa là gì. Đây là nỗ lực duy nhất của Phong để chuyển giao tên lửa nổ của mình.

Phong đã mang thông điệp gì?

Ông nói, người Trung Quốc rất muốn PRG nắm quyền thông qua công thức của Pháp là liên minh với Minh để ngăn chặn sự tiếp quản của Bắc Việt. Sau khi một liên minh được thành lập, Minh sẽ đưa ra lời kêu gọi giúp đỡ. Người Pháp sẽ đáp lại rằng một lực lượng quốc tế sẽ vào Nam Việt Nam để bảo vệ chính phủ mới. “Sức mạnh” ban đầu, như Phong gọi, sẽ là “hai sư đoàn Dù Trung Quốc vào Biên Hòa.” Bắc Kinh yêu cầu bốn ngày để sắp xếp quân đội của họ và đưa họ đến căn cứ không quân. Phong giải thích suy nghĩ của họ:

“Bắc Kinh không thể trực tiếp đứng ra làm công việc này, nhưng họ cho mọi người biết rằng họ… để cho người Pháp làm việc này! Vì chính trị quốc tế… Bắc Kinh không thể trắng trợn can thiệp quân sự vào miền Nam Việt Nam. Pháp cần phải kháng cáo lên một ít quốc gia tham gia vào một ‘lực lượng quốc tế’ (với Pháp đóng vai trò mũi nhọn) để cho phép Bắc Kinh can thiệp. Một số vấn đề mà Bắc Kinh phải đối mặt vào thời điểm đó: Số lượng lực lượng quân sự Trung Quốc nên được triển khai, và thời gian sẽ là bao lâu? Họ phải ở lại miền Nam Việt Nam để ngăn chặn và đàn áp quân đội Bắc Việt?nhưng họ nghĩ rằng từ ba đến sáu tháng sẽ là khoảng thời gian tối đa mà họ có thể tham gia… vì họ không muốn bị buộc tội chiếm đóng miền Nam Việt Nam bằng quân sự.”[Tôi]

Tại sao Trung Quốc lại can thiệp bằng quân sự để cản trở chiến thắng của Bắc Việt Nam, đặc biệt là sau nhiều năm ủng hộ Hà Nội?

Trung Quốc muốn một miền Nam Việt Nam trung lập để tránh bị bao vây bởi một hiệp ước Moscow-Hà Nội tiềm tàng. Nayan Chanda, phóng viên có uy tín cao của Tạp chí Kinh tế Viễn Đông , đã trình bày chi tiết về nỗi khiếp sợ của Trung Quốc đối với một Việt Nam thống nhất. Ông viết rằng Bắc Kinh đã “kiên định tuân theo chính sách duy trì bằng tất cả các phương tiện có được một Đông Dương bị chia cắt không có các cường quốc lớn. Những phương tiện này bao gồm ngoại giao thầm lặng, thuyết phục trợ giúp kinh tế và tất nhiên là sử dụng sức mạnh quân sự”.

Nếu Phong là người đưa thư duy nhất mang thông điệp này, anh ta có thể dễ dàng bị sa thải. Anh ấy đã không. Tướng Pháp đã nghỉ hưu Paul Vanuxem mang một thông điệp tương tự như của Phong. Vanuxem đã biết Thiệu và các sĩ quan cao cấp khác của quân đội Việt Nam từ Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Ông thỉnh thoảng đến thăm Thiệu trong nhiều năm và đã trở lại Việt Nam trong những ngày cuối cùng của miền Nam Việt Nam với tư cách là phóng viên của tuần báo Pháp Carrefour .

Vanuxem đã xuất bản một cuốn sách mỏng vào năm 1976 kể chi tiết về những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Ông ghi rằng ông đã đến Dinh Độc Lập vào ngày 30 tháng 4 để nói chuyện với Minh. Trong khi ám chỉ cuộc gặp gỡ của mình trong cuốn sách của mình, nói rằng “tất cả tâm trí đều tê liệt vì sợ hãi và không có khả năng tiếp nhận những lời đề nghị được đưa ra sau đó và lẽ ra có thể cứu vãn được mọi thứ,” ông đã bỏ qua những chi tiết quan trọng.

Có nhiều nhân chứng trực tiếp xác nhận rằng Vanuxem đã nói chuyện với Minh và chuyển một thông điệp tương tự như của Phong. Trong khi những người đàn ông này thuật lại những phiên bản khác nhau của cuộc trò chuyện, tất cả đều ở trong phòng, và một số là điệp viên Cộng sản bí mật. Chuẩn tướng QLVNCH Nguyễn Hữu Hạnh đã cung cấp tiết lộ đầu tiên vào năm 1981 trong một cuộc phỏng vấn được ghi lại cho loạt phim PBS Việt Nam: Lịch sử truyền hình . Hạnh, người mà Minh gọi là đã nghỉ hưu, là một điệp viên thâm nhập lâu năm của Cộng sản. Anh đã ở với Minh trong Dinh Độc Lập vào ngày 30 tháng 4. Hạnh kể lại rằng

“Điều đầu tiên Vanuxem nói là anh ấy vừa đến từ Paris. Trước khi anh ấy đến, anh ấy đã gặp nhiều nhân vật, bao gồm cả các thành viên của đại sứ quán [Bắc Kinh]. Anh ấy đề nghị Minh tuyên bố rằng anh ấy sẽ rời bỏ người Mỹ và sẽ đến phía Trung Quốc, theo ông, nếu ta làm như vậy, Trung Quốc sẽ gây sức ép lên Hà Nội để Hà Nội phải ngừng bắn ở miền Nam Việt Nam, sau khi suy nghĩ kỹ, Minh đã từ chối đề nghị này và khi Vanuxem cầu xin Minh kéo dài thời gian ngừng bắn. toàn bộ sự việc trong 24 giờ nữa, người sau cũng bác bỏ ý kiến ​​đó. Sau khi Vanuxem rời đi, chúng tôi đã thông báo về việc chuyển giao quyền lực.” 

Nguyễn Văn Điệp, bộ trưởng kinh tế Nam Việt Nam và cũng là một tay gián điệp ngầm, tại cuộc họp, đồng ý rằng “Vanuxem đã đến gặp Minh để cố gắng động viên và thuyết phục Minh rằng tình hình vẫn chưa vô vọng. Vanuxem đến ngay sau khi Tướng Minh ghi âm xong lời tuyên bố đầu hàng.” Sau khi Minh nói với anh ta rằng tình hình là vô vọng, Vanuxem trả lời rằng “Không phải là vô vọng. Tôi đã sắp xếp cho việc này ở Paris. Tôi yêu cầu bạn công khai yêu cầu Quốc gia C [Trung Quốc] bảo vệ bạn.” Vanuxem yêu cầu Minh cầm cự trong ba ngày, nhưng Minh từ chối.

Lý Quí Chung, người được Minh bổ nhiệm làm bộ trưởng thông tin, xác nhận rằng:

“Vanuxem nói muốn hiến kế với Minh để cứu vãn tình thế vô vọng mà chế độ Sài Gòn đang gặp phải. Vanuxem nói rằng Minh nên lên tiếng để kêu gọi một nước hùng mạnh can thiệp, và rằng nếu chính quyền miền Nam Việt Nam đưa ra yêu cầu chính thức nước hùng mạnh này sẽ can thiệp ngay thôi, Minh cười chua xót và nói, tôi cám ơn ý tốt của ông, nhưng cả đời tôi đã làm tay sai cho Pháp rồi lại làm tay sai cho Mỹ, thế là đủ rồi. Tôi không muốn làm tay sai nữa.” 

Vanuxem có thể tự mình thực hiện nỗ lực này không? Gia đình của Vanuxem không tin rằng chính phủ Pháp sẽ sử dụng anh ta như một người đưa tin. Họ cho rằng việc ông tham gia vào cuộc đảo chính thất bại của quân đội Pháp vào tháng 4 năm 1961 đã khiến ông trở thành kẻ bị chính phủ Pháp coi thường. Giả sử rằng tình trạng bị coi thường của Vanuxem với chính phủ Pháp vẫn còn nguyên vẹn, thì có thể nghi ngờ rằng ông ta đang mang một thông điệp từ chính phủ Pháp, đặc biệt là khi chính phủ này có đại sứ riêng tại Sài Gòn.

Điều dường như có nhiều khả năng hơn là người Trung Quốc đã tìm kiếm một sứ giả khác ngoài Phong. Phong là một nhà ngoại giao dân sự, trong khi Vanuxem có quan hệ mật thiết với các tướng lĩnh QLVNCH, và ông ta có một lịch sử lâu dài ủng hộ nền cộng hòa. Ông sẽ là phái viên hoàn hảo để thuyết phục các tướng lĩnh chống cộng của QLVNCH chấp nhận sự giúp đỡ của Trung Quốc và Pháp, đặc biệt là một đề nghị táo bạo như thế này. Hơn nữa, với tư cách là một người chuyển phát nhanh đơn độc, anh ta cũng có thể bị từ chối nếu cần thiết.

Nhờ có gián điệp trong cuộc gặp với Minh, Hà Nội biết được đề nghị của Vanuxem. Vào dịp kỷ niệm 10 năm ngày Sài Gòn sụp đổ, Hà Nội cuối cùng đã thừa nhận nỗ lực can thiệp của Trung Quốc. Một quan chức tuyên bố rằng:

“Nhà cầm quyền Trung Quốc ấp ủ một âm mưu cực kỳ thâm độc. Như Dương Văn Minh, chủ tịch cuối cùng của chế độ bù nhìn đã tiết lộ: Sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, qua trung gian của Vanuxem… Trung Quốc yêu cầu Minh tiếp tục chiến đấu ít nhất 24 giờ nữa để có đủ thời gian tuyên bố tách khỏi Mỹ và liên minh với Trung Quốc, sau đó Trung Quốc sẽ gây sức ép, kể cả việc đưa quân vào Việt Nam để chấm dứt các hành động thù địch có lợi cho Trung Quốc.” 

Người Trung Quốc cũng được cho là đã tiếp cận cựu phó tổng thống Nam Việt Nam Nguyễn Cao Kỳ. Trong một cuộc phỏng vấn với William Buckley trên Firing Line vào tháng 9 năm 1975, Kỳ tuyên bố rằng vào khoảng cuối năm 1972, các đặc vụ Trung Quốc đã đến nhà ông ở Sài Gòn. Kỳ cho biết họ yêu cầu ông lật đổ Thiệu và “tuyên bố Nam Việt Nam trung lập, không đứng về phía Nga hay Mỹ.” Nếu anh ấy làm vậy, “người Trung Quốc sẽ ủng hộ bạn vì chúng tôi đã gặp rắc rối ở biên giới phía bắc với người Nga. Chúng tôi không muốn thấy sườn phía nam của chúng tôi bị vệ tinh Nga chiếm đóng”.

Kỳ nhắc lại câu chuyện này trong một bài phát biểu vào tháng 12 năm 1975 tại Mỹ, tuyên bố rằng “một nhóm đặc vụ Trung Quốc đã đến nhà ông ta… và đề xuất một cuộc đảo chính do Trung Quốc hỗ trợ để lật đổ Thiệu.” Tuy nhiên, tại sao Kỳ không bao giờ đề cập đến sự cố này trong cả hai cuốn sách của mình, đó là điều đáng lo ngại.

Việc Vanuxem đưa ra tuyên bố dường như không thể chối cãi. Liệu thông tin của anh ấy hay của Phong có thực sự là ý định thực sự của Trung Quốc hay không vẫn chưa được giải quyết. Đây có thể là một màn khói ngoại giao khác? Thành lập một chính phủ liên hiệp để lật đổ Thiệu trong những ngày cuối cùng chắc chắn là mưu đồ của Hà Nội. Hoàng Đức Nhã, phụ tá thân cận của Thiệu, tin là như vậy. Ông xác nhận rằng đại sứ Pháp đã nói với ông, như một phần trong lời cầu xin để ông Nhạ trở thành thủ tướng mới, rằng “Trung Quốc sẽ đưa một số sư đoàn đến để ngăn chặn Bắc Việt.” Nha nghi ngờ đây là một mánh khóe của Trung Cộng để bán đứng họ trong một chính phủ liên hiệp. [x] Với tất cả các thủ đoạn ngoại giao để loại bỏ Thiệu, ý tưởng này không thể bị giảm giá trị.

Mai Thanh Hải: ĐỜI THƯỜNG TRONG DINH ĐỘC LẬP, NGÀY 30-4-1975

Vanuxem qua đời năm 1979, hành động của ông ta vẫn chưa được kiểm tra, trong khi Phong chưa bao giờ thảo luận về khả năng ông ta bị lợi dụng. Hơn nữa, trong khi Hà Nội rõ ràng đã chấp nhận câu chuyện về Vanuxem, nó không thể được xác nhận nếu không có bằng chứng tài liệu hoặc sự thừa nhận chính thức của chính phủ Trung Quốc hoặc Pháp. Liệu Trung Quốc và Pháp, mỗi bên vì lợi ích quốc gia của mình, có thông đồng với nhau để tạo ra một miền Nam Việt Nam trung lập và phủ nhận chiến thắng mà Hà Nội đã tìm kiếm từ lâu hay không vẫn còn là một khả năng hấp dẫn, nhưng hiện tại, điều đó vẫn là bí mật lớn cuối cùng của Chiến tranh Việt Nam.

Tin vui cộng đồng công giáo

Trong đêm Lễ Vọng Phục sinh năm nay, tối ngày 08 tháng 04 năm 2023, có tất cả 36 người được rửa tội và có 3 em thêm sức.

Trong số người được thanh tẩy đa số là học đạo để lập gia đình, có người vì con đã rửa tội, đang sinh hoạt trong đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể, nên cũng đi học đạo, để mục đích hướng dẫn con cái sống theo tinh thần phúc âm.

Đặc biệt có anh Minh (David) Trần và vợ là Sương Trần là hai vợ chồng 78 tuổi và vợ 77 tuổi đã tham gia lớp này. Cùng có một người nữa anh Duy (Thomas) mới vừa về hưu, trên 70 tuổi cũng đã ghi danh học đạo năm nay. Chị Trần Lợi năm nay trên 70 tuổi cũng tham gia lớp Tân tòng này và cũng được rửa tội dịp lễ phục sinh vừa qua. Anh Đinh Sơn và vợ là chị Liên, niên khóa rồi (2021-2022) đã học hết khoá tân tòng, nhưng vì hoàn cảnh lo lập gia đình cho con ở tiểu bang khác, anh phải đi xa, nên không rửa tội được. Năm nay anh cũng đã trở về Houston và được rửa tội kỳ này.

Xin chúc mừng, chúc mừng.

Hình Cha Chánh Xứ, Cha Phó Xứ, hai thầy Phó Tế, các Giáo Lý Viên và các Tân Tòng chụp đêm vọng Phục Sinh 08-04-2023 tại Giáo Xứ Ngôi Lời Nhập Thể

Phùng Văn Phụng ghi nhận

Thế giới có thể đối mặt với nhiệt độ kỷ lục vào năm 2023 khi El Nino quay trở lại

Bởi Kate Abnett

BRUSSELS, ngày 20 tháng 4 (Reuters) – Thế giới có thể phá vỡ kỷ lục nhiệt độ trung bình mới vào năm 2023 hoặc 2024, do biến đổi khí hậu và sự trở lại dự kiến của hiện tượng thời tiết El Nino, các nhà khoa học khí hậu cho biết.

Các mô hình khí hậu cho thấy rằng sau ba năm của kiểu thời tiết La Nina ở Thái Bình Dương, thường làm giảm nhẹ nhiệt độ toàn cầu, thế giới sẽ trải qua sự quay trở lại của El Nino, hiện tượng nóng hơn, vào cuối năm nay.

Trong El Nino, gió thổi về phía tây dọc theo đường xích đạo chậm lại và nước ấm bị đẩy về phía đông, tạo ra nhiệt độ bề mặt đại dương ấm hơn.

“El Nino thường liên quan đến nhiệt độ phá vỡ kỷ lục ở cấp độ toàn cầu. Hiện vẫn chưa biết điều này sẽ xảy ra vào năm 2023 hay 2024, nhưng tôi nghĩ có nhiều khả năng xảy ra”, Carlo Buontempo, giám đốc Copernicus của EU cho biết. Dịch vụ biến đổi khí hậu.

Buontempo cho biết các mô hình khí hậu cho thấy tình trạng El Nino quay trở lại vào cuối mùa hè ở phương bắc và khả năng El Nino mạnh sẽ phát triển vào cuối năm, Buontempo cho biết.

Năm nóng nhất thế giới được ghi nhận cho đến nay là năm 2016, trùng với El Nino mạnh – mặc dù biến đổi khí hậu đã thúc đẩy nhiệt độ khắc nghiệt ngay cả trong những năm không có hiện tượng này.

Tám năm qua là tám năm nóng nhất được ghi nhận trên thế giới – phản ánh xu hướng nóng lên trong dài hạn do phát thải khí nhà kính.Friederike Otto, giảng viên cao cấp tại Viện Grantham của Đại học Hoàng gia Luân Đôn, cho biết nhiệt độ do El Nino gây ra có thể làm trầm trọng thêm các tác động của biến đổi khí hậu mà các quốc gia đang trải qua – bao gồm các đợt nắng nóng nghiêm trọng, hạn hán và cháy rừng.

How Global Warming Fueled Five Extreme Weather Events - The New York Times

Otto cho biết: “Nếu El Nino phát triển, rất có thể năm 2023 sẽ còn nóng hơn năm 2016 – xét đến việc thế giới tiếp tục ấm lên khi con người tiếp tục đốt nhiên liệu hóa thạch”.

Các nhà khoa học Copernicus của EU đã công bố một báo cáo vào thứ Năm đánh giá các điều kiện khí hậu khắc nghiệt mà thế giới đã trải qua vào năm ngoái, năm nóng thứ năm được ghi nhận.

Châu Âu đã trải qua mùa hè nóng kỷ lục vào năm 2022, trong khi mưa cực đoan do biến đổi khí hậu gây ra lũ lụt thảm khốc ở Pakistan và vào tháng 2, mực nước biển ở Nam Cực xuống mức thấp kỷ lục.

 

Copernicus cho biết nhiệt độ trung bình toàn cầu của thế giới hiện cao hơn 1,2 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp.

Mặc dù hầu hết các nhà phát thải lớn trên thế giới cam kết cuối cùng sẽ cắt giảm lượng khí thải ròng của họ xuống 0, lượng khí thải CO2 toàn cầu năm ngoái vẫn tiếp tục tăng.

(Câu chuyện này đã được chắt lọc để thêm từ ‘not’ đã bỏ vào đoạn 4)

Báo cáo của Kate Abnett, chỉnh sửa bởi Deepa Babington

Nguồn: World could face record temperatures in 2023 as El Nino returns

Trung Quốc và việc gia nhập Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

Theo South China Morning Post

China’s vice-commerce minister, Wang Shouwen, speaks at a press conference in Beijing on Sunday. Photo: Kyodo

China’s vice-commerce minister, Wang Shouwen, speaks at a press conference in Beijing on Sunday. Photo: Kyodo

Trung Quốc đang cố gắng đẩy nhanh việc gia nhập Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) trong bối cảnh các nỗ lực mới của Mỹ đang đe dọa chuỗi công nghiệp của Trung Quốc.

“Trung Quốc sẵn sàng tham gia CPTPP và có khả năng thực hiện các nghĩa vụ liên quan”, ông Vương Thụ Văn (Wang Shouwen), Thứ trưởng Bộ Thương mại kiêm nhà đàm phán thương mại quốc tế của Trung Quốc, cho biết trong họp báo hôm 23.4.

“Chúng tôi hy vọng rằng tất cả 11 quốc gia thành viên có thể ủng hộ việc chúng tôi tham gia hiệp ước”, ông Vương nói thêm.

Các phát biểu này được đưa ra trong bối cảnh đơn xin gia nhập CPTPP của Trung Quốc dường như đang gặp trục trặc.

Anh nộp đơn vào tháng 6.2021 và mới vào tháng trước đã đạt được thỏa thuận tham gia hiệp định thương mại gồm 11 thành viên. Tuy nhiên, quá trình đàm phán của Trung Quốc, nước nộp đơn sau Anh 3 tháng, dường như có rất ít tiến triển.

CPTPP có hiệu lực vào tháng 12.2018, bao gồm Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam. Đây là thị trường rộng lớn mà Bắc Kinh rất muốn khai thác, đặc biệt là khi Mỹ đang thúc đẩy các nỗ lực đưa chuỗi cung ứng trở về nước.

Mỹ là một trong những nước đề xuất Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), tiền thân của CPTPP. Tuy nhiên, Washington đã rút khỏi hiệp định này trong những ngày đầu nhiệm kỳ tổng thống của ông Donald Trump.

Thay vào đó, Mỹ đang thúc đẩy chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và quan hệ đối tác thương mại “dân chủ”. Điều này sẽ làm giảm vai trò của Trung Quốc trong chuỗi cung ứng quốc tế.

Trung Quốc đang lo ngại về việc các đơn đặt hàng ở nước ngoài giảm và bị cô lập trong thương mại quốc tế, với việc nhiều nhà máy chuyển đến Đông Nam Á để tiết kiệm tiền và vượt qua các rào cản thương mại của Mỹ. Các chuyến vận chuyển hàng hóa của Trung Quốc đến Mỹ đã giảm trong 8 tháng liên tiếp so với cùng kỳ năm ngoái.

Vì vậy, gia nhập CPTPP được Trung Quốc coi là một bước quan trọng trong việc đảo ngược môi trường không thuận lợi bên ngoài, phá vỡ các nỗ lực ngăn chặn của Mỹ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với nhiều đơn đặt hàng ở nước ngoài.

Ngoài việc đáp ứng các tiêu chí cao như quyền sở hữu và tiêu chuẩn lao động, Trung Quốc sẽ cần có sự chấp thuận của tất cả các nước thành viên nếu muốn gia nhập CPTPP.

Là nhà xuất khẩu hàng hóa lớn nhất thế giới, Trung Quốc trong nhiều năm đã nỗ lực tạo ra Khu vực Thương mại Tự do châu Á – Thái Bình Dương. Khu vực này sẽ được hỗ trợ bởi “hai bánh xe” là CPTPP và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) gồm 15 thành viên.

“Nếu Trung Quốc tham gia CPTPP, điều đó sẽ giúp hai bánh xe này tiến lên”, ông Vương nói, chỉ ra thị trường tiêu dùng khổng lồ và tiềm năng tiêu thụ của nước này.

“Điều đó sẽ có lợi cho hội nhập kinh tế khu vực và rất quan trọng trong việc duy trì sự ổn định, an toàn và độ tin cậy của chuỗi cung ứng và công nghiệp trong khu vực”, Thứ trưởng Bộ Thương mại Trung Quốc nói thêm.

Phan Sinh Trần