Gặp gỡ ký giả trở về từ điểm nóng Hoàng Sa

Gặp gỡ ký giả trở về từ điểm nóng Hoàng Sa

Nhà báo Vũ Hoàng Lân, Phố Bolsa TV, tường thuật tại điểm nóng giàn khoan Hải Dương 981, gần quần đảo Hoàng Sa, trên boong tàu Cục Kiểm Ngư (18/5/2014)

Nhà báo Vũ Hoàng Lân, Phố Bolsa TV, tường thuật tại điểm nóng giàn khoan Hải Dương 981, gần quần đảo Hoàng Sa, trên boong tàu Cục Kiểm Ngư (18/5/2014)

 

Trà Mi-VOA

24.05.2014

Căng thẳng đối đầu giữa tàu Việt Nam và tàu Trung Quốc xung quanh khu vực giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc gần quần đảo Hoàng Sa có phần hạ giảm khi Việt Nam chuyển hướng thôi đáp trả các vụ tấn công và phun vòi rồng của phía Trung Quốc.

Ký giả Vũ Hoàng Lân từ California, sáng lập viên chương trình PhoBolsaTV, người vừa tham gia các chuyến đi thực tế ra thăm Trường Sa (ngày 18 đến 27 tháng 4) và Hoàng Sa (ngày 17 đến 20 tháng 5), chia sẻ những gì anh tận mắt chứng kiến sau hai cuộc hải trình đặc biệt này trên Tạp chí Thanh Niên đài VOA hôm nay.

Bấm vào nghe toàn bộ cuộc phỏng vấn

Vũ Hoàng Lân: Tôi đi chung tàu với một nhóm viên chức của Cục Kiểm Ngư Việt Nam, trong đó có ông Cục trưởng. Vì thế, không được tiếp cận (tàu Trung Quốc) theo cách mà các tàu Việt Nam thường vẫn làm với giàn khoan này, tức là đi sát vào trong khu vực đó để tuyên truyền cho phía Trung Quốc biết rằng đây là lãnh hải của Việt Nam và Trung Quốc cần phải đi ra xa. Tuy nhiên, chiếc tàu này cũng đi tương đối sát, có lúc khoảng 7 hải lý tính từ giàn khoan đó. Thỉnh thoảng có những lúc tôi thấy có 5-6 tàu Trung Quốc chĩa thẳng chạy về hướng tàu này. Có những lúc vào ban đêm, tàu này ngưng máy để thả trôi, trôi về phía giàn khoan đó. Khi quá gần thì phía Trung Quốc bật đèn pha rất sáng, rọi thẳng vào tàu thì tàu lại nổ máy chạy ra xa.

Trà Mi: Anh thấy khoảng cách giữa tàu Việt Nam với các tàu Trung Quốc bao xa thì bị họ xua đuổi?

Vũ Hoàng Lân: Các vị đó nói thời gian đầu khoảng 3-4 hải lý thì mới bị xua đuổi, bây giờ thì cách 5-7 hải lý thì đã bị xua đuổi rồi. Khi một tàu Việt Nam vào thì có 2 tới 4 tàu Trung Quốc vây. Phía Việt Nam tuyên truyền kiểu Việt Nam, còn Trung Quốc tuyên truyền kiểu Trung Quốc. Tàu Trung Quốc nói đây là khu vực của Trung Quốc, phía Việt Nam phải đi ra nếu không sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm. Nếu mình không đi, họ phun vòi rồng và có thể tông thẳng vào tàu của Việt Nam. Vòi rồng thì rất mạnh. Tôi lên các tàu đã từng bị phun vòi rồng thấy những thanh sắt bằng bắp tay người bị sức phun của vòi rồng làm cong hẳn 90 độ, các loại kính bị bể tan tành hết. Tôi gặp 3 chiếc, một của Kiểm Ngư, một của Cảnh sát biển, và một của ngư dân bị vòi rồng phun như vậy. Kính bị bể hết, nước vào trong tàu làm hư toàn bộ hệ thống điện.

Trà Mi: Trong chuyến hải trình từ ngày 17 đến 20 tháng 5, anh có chứng kiến những vụ việc nào đáng tiếc xảy ra giữa đôi bên không?

Vũ Hoàng Lân: Không thấy chuyện gì xảy ra giữa đôi bên trong thời gian đó cả vì tàu này không tới đủ gần để thấy điều đó. Đúng ngày 17 tháng 5 tôi có nghe có tàu bị tông vào, nhưng tôi không trực tiếp nhìn thấy. Họ nói rất rõ ràng rằng tàu Việt Nam chủ trương tránh va chạm, nghĩa là khi bị tàu Trung Quốc phun nước hoặc tông thì không tông hay phun nước lại mà bỏ chạy ra ngoài. Tàu Việt Nam đi vào đủ để cho Trung Quốc biết rằng Việt Nam vẫn đang phản đối, nhưng đến khi căng thẳng như vậy thì họ lại lui ra. Nhưng họ cứ mỗi ngày đều có đi vào, thứ nhất để nói cho Trung Quốc biết như vậy, thứ hai để quan sát thêm những hoạt động trên giàn khoan như thế nào.

Một trong nhiều tàu Kiểm Ngư Việt Nam bị Trung Quốc đâm móp.

Một trong nhiều tàu Kiểm Ngư Việt Nam bị Trung Quốc đâm móp.

Trà Mi: Qua trao đổi với ngư dân và cảnh sát biển ở đó, anh ghi nhận cảm xúc, phản ứng, tâm tư tình cảm của họ như thế nào?

Vũ Hoàng Lân: Mình nói chuyện nhiều với mấy người kiểm ngư, cảnh sát biển trên khu vực đó, họ cho biết thấy rất khó khăn với chủ trương không phản trả lại ở thời điểm hiện nay. Họ nói Trung Quốc vào đất nước Việt Nam, xua đuổi tàu Việt Nam ngay trong đất nước Việt Nam mà họ vẫn phải chấp nhận bỏ chạy chứ không đánh trả lại là điều rất khó khăn đối với họ. Tôi có tiếp xúc với một tàu của ngư dân bị Trung Quốc tông vào gây thiệt hại nhiều do thuyền trưởng Trương Văn Hải ở Đà Nẵng làm thuyền trưởng. Ông ấy nói yêu cầu phải có thêm sự trợ giúp từ phía các lực lượng của Việt Nam. Ông nói phía Trung Quốc, tàu đánh cá được tàu hải giám kè kè mà phía Việt Nam thì không có. Sau đó, tôi có nói chuyện với những người trong Cục Kiểm ngư. Họ nói Trung Quốc xuống đây đánh cá là trái lẽ nên phía Trung Quốc phải đem tàu hải giám ra kè. Còn ngư trường này là của Việt Nam, người Việt đánh cá ở đây là chuyện bình thường. Họ nói nếu hai tàu của các lực lượng đi kè bảo vệ 1 tàu cá của ngư dân thì Trung Quốc sẽ làm gấp đôi, gấp ba, sẽ leo thang căng thẳng nữa. Ở đây phải nói rõ là Việt Nam tuyên bố hoàn toàn không đưa bất cứ một lực lượng quân sự nào ra cả. Hiện nay chỉ nằm trong vòng Cảnh sát biển và Cục Kiểm ngư. ​

Trà Mi: Với tình hình anh mô tả, tại hiện trường cho thấy ưu thế hoàn toàn thuộc về phía Trung Quốc, họ quyết tâm bảo vệ hoạt động của giàn khoan, bất khả xâm phạm. Phía Việt Nam không làm được gì hơn ngoài mỗi ngày ra “tuyên truyền.” Vậy Việt Nam có cách nào thực thi hiệu quả vấn đề chủ quyền và chống vi phạm chủ quyền, họ có phương án nào khác nữa hay không? Anh có đặt câu hỏi đó với giới hữu trách?

Không có một động thái nào chứng tỏ Trung Quốc sẽ nhượng bộ…Mình nghĩ một cách khách quan là Việt Nam không thể làm gì hơn được trong việc này.

Vũ Hoàng Lân
Vũ Hoàng Lân: Đó là chiến lược hiện nay Việt Nam đang theo đuổi: vẫn tiếp tục cho Trung Quốc hiểu rằng Trung Quốc không thể yên ổn đặt giàn khoan ở đó. Và họ cũng hiểu rằng nếu Trung Quốc muốn rút Trung Quốc phải có cớ nào đó, ví dụ như đợi ngày đáo hạn vào tháng 8 mà Bắc Kinh loan báo sẽ hoàn thành thăm dò.

Trà Mi: Có vẻ giải pháp cuối cùng cho Việt Nam là phải chờ đến hết thời gian thăm dò của giàn khoan ở đó thì Trung Quốc mới rút về, chứ hiện nay không có một động thái nào chứng tỏ Trung Quốc sẽ nhượng bộ?

Vũ Hoàng Lân: Không có một động thái nào chứng tỏ Trung Quốc sẽ nhượng bộ trong vụ này. Mình nghĩ một cách khách quan là Việt Nam không thể làm gì hơn được trong việc này. Việt Nam không thể nào manh động dùng quân sự, cái mà Trung Quốc đang trông đợi nhất. Và Việt Nam sẽ không để cho Trung Quốc có cơ hội đó.

Trà Mi: Anh có cảm nhận thế nào từ những gì mắt thấy tai nghe tại hiện trường?

Vũ Hoàng Lân: Tôi nghĩ cần cố gắng làm sao đừng để xảy ra chiến tranh vì nếu có chiến tranh sẽ rất lỗ lã về phía Việt Nam. Hiện nay, tôi đang có mặt tại thành phố Đà Nẵng, nơi có rất đông du khách là Trung Quốc. Bây giờ họ gần như rút hết về nước. Họ không tới ăn chơi gì ở đây nữa. Việc này cho thấy tất cả những biến động gì đều rơi ngược ngay lập tức vào đời sống bình thường của người dân Việt Nam. Về đây, tiếp xúc với người dân, với thực địa, mình thấy vấn đề manh động là rất khó.

Trà Mi: Mình không nói tới mức manh động, mà nói tới khả năng có mức cứng rắn hơn những gì Việt Nam đang làm hiện giờ…

Vũ Hoàng Lân: Tôi hỏi chuyện họ, tôi không thấy họ có bất cứ một giải pháp nào.

Ngư dân từ Đà Nẵng kể chuyện bị tàu cá có vỏ sắt của Trung Quốc đâm bể tàu gỗ.

Ngư dân từ Đà Nẵng kể chuyện bị tàu cá có vỏ sắt của Trung Quốc đâm bể tàu gỗ.

Trà Mi: Tiếp xúc với giới chức và người dân Việt Nam trong chuyến đi này, anh thấy cách phản ứng giữa dân chúng và nhà nước trước cùng sự việc (giàn khoan Trung Quốc) khác nhau thế nào?

Vũ Hoàng Lân: Cả dân lẫn nhà nước lần này đều phản đối hành động của Trung Quốc. Cái đó quá rõ ràng, ai cũng thấy. Khác nhau là ở cách biểu hiện ra. Người dân tẩy chay hàng hóa, nhà máy, và khách hàng Trung Quốc. Khách sạn thì không tiếp người Trung Quốc..v.v..Nhà nước rõ ràng không có chủ trương làm như vậy. Hậu quả của việc đó bắt đầu tác động lên vấn đề làm ăn buôn bán ở đây. Ở Bình Dương nhà máy Trung Quốc, Đài Loan bị đập phá bây giờ hàng ngàn người không có công ăn việc làm ở Bình Dương.

Trà Mi: Khi anh ra Trường Sa, anh ghi nhận được những gì?

Vũ Hoàng Lân: Chuyến đi Trường Sa và chuyến đi Hoàng Sa hoàn toàn khác nhau. Hoàng Sa thì Trung Quốc lấy từ năm 1974 rồi, bây giờ họ xây cất dữ dội rồi. Trường Sa thì hiện nay Việt Nam gần như chủ đạo trong vấn đề chủ quyền ở khu vực đó, với 21 đảo gồm 9 đảo nổi và 11 đảo đá ngầm. Những chuyến đưa người, kể cả người Việt ở hải ngoại, ra Trường Sa để thăm hỏi nằm trong chủ trương mà Việt Nam muốn làm để khẳng định chủ quyền ở vùng đất đó.​

Trà Mi: Ra Trường Sa, anh thấy cộng đồng người Việt sinh sống, làm ăn ở đó thế nào?

Vũ Hoàng Lân: Người Việt ở đó sống giống như quân đội vậy: chồng đi đánh cá, vợ vào phụ các công việc trong các doanh trại của hải quân. Những đảo lớn thì như vậy. Những đảo nhỏ quá, nhất là những đảo đá ngầm, thì ở đó chỉ có quân sự thôi.

Trà Mi: Tình hình ở Trường Sa có gặp khó khăn gì từ phía Trung Quốc không?

Vũ Hoàng Lân: Trường Sa thì không có khó khăn gì với Trung Quốc trừ đảo Gạc Ma mà Trung Quốc đã đánh chiếm từ năm 1988. Trung Quốc đã tập trung vào đó xây dựng. Chuyến vừa rồi đi qua, tôi thấy Trung Quốc bắt đầu húc cát lên đổ cho đảo đó to ra để làm sân bay. Việt Nam không can thiệp được vào chỗ Gạc Ma. Chỗ này Trung Quốc chiếm và giữ rất kỹ. Lúc chúng tôi đi ngang đó dừng tàu lại ở khu vực Collins-Gạc Ma-Lansdowne, tôi thấy họ húc cát lên trắng xóa và xung quanh cả chục chiếc tàu của họ đậu. Trong 11 đảo đá ngầm ở Trường Sa, không có người dân. 9 đảo kia cũng không phải đảo nào cũng có dân. Những đảo lớn như Trường Sa, Sơn Ca, Song Tử Tây thì có. Đa số, nhưng không phải là tất cả, đảo đều có dân sinh sống.

Trà Mi: Mật độ dân cư ở đó thế nào? Sự hiện diện quân sự, đồn bốt ở đó có nhiều không?

Vũ Hoàng Lân: Cái đó thì vô kể. Có thể nói những đảo đó là khu quân sự. Cho tới thời điểm này quân sự ở đây rất chặt. Giao thông hào chạy khắp đảo, đặc biệt là khu ven biển giao thông hào bọc xung quanh. Ngoài biển họ dựng có những cái cọc gọi là cọc chống đổ bộ, chỉ chừa một đường để tàu chạy thẳng vào trong đảo thôi. Nói chung vấn đề quân sự rất chặt chẽ trên mấy đảo đó. Mỗi đảo có khoảng 7 hộ dân. Chia sẻ thêm, không phải về điều mình nhìn thấy mà về điều mình cảm nhận: Trường Sa-Hoàng Sa là vấn đề hết sức phức tạp. Mình nghĩ, chính quyền Việt Nam dù có giữ bí mật thế nào đi nữa cũng nên cố gắng thêm thông tin nhiều chừng nào tốt chừng đó cho người dân trong và ngoài nước để người dân có thái độ cho đúng. Nhiều khi người dân ở đây hoặc ở Mỹ có những phát biểu, ý thức, hoặc ý muốn xa rời thực tế vì thiếu thông tin. Đó là điều mình muốn chia sẻ.

Trà Mi: Xin cảm ơn anh đã dành thời gian cho Tạp chí Thanh Niên VOA trong cuộc trao đổi hôm nay.

Một số hình ảnh từ chuyến đi của ký giả Vũ Hoàng Lân:

Cán bộ Cục Kiểm Ngư Việt Nam nói về tại nạn bị tàu hải giám Trung Quốc đâm. Cán bộ này cho biết những tấm đệm quanh mạn tàu Trung Quốc bị rớt lại trên tàu Việt Nam.

Cán bộ Cục Kiểm Ngư Việt Nam nói về tại nạn bị tàu hải giám Trung Quốc đâm. Cán bộ này cho biết những tấm đệm quanh mạn tàu Trung Quốc bị rớt lại trên tàu Việt Nam.

Nhà báo Vũ Hoàng Lân, Phố Bolsa TV, phỏng vấn Chính trị viên tàu Cảnh sát biển CSB 8001

Nhà báo Vũ Hoàng Lân, Phố Bolsa TV, phỏng vấn Chính trị viên tàu Cảnh sát biển CSB 8001
Ngư dân tự sửa chữa tàu cá sau khi bị tàu cá có vỏ sắt của Trung Quốc đâm bể

Ngư dân tự sửa chữa tàu cá sau khi bị tàu cá có vỏ sắt của Trung Quốc đâm bể

Đức Thánh Cha Phanxicô viếng thăm Vương Quốc Giordani

Đức Thánh Cha Phanxicô viếng thăm Vương Quốc Giordani

LM. Trần Đức Anh OP

5/24/2014

AMMAN. Trưa ngày 24-5-2014, ĐTC Phanxicô đã đến thủ đô Amman của Giordani, chặng đầu tiên trong chuyến viếng thăm Thánh Địa trong vòng 3 ngày cho đến hết thứ hai, 26-5 tới đây, nhân dịp kỷ niệm 50 năm cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đức Phaolô 6 và Đức Thượng Phụ Athenagoras của Giáo Hội Chính Thống Constantinople, là vị đứng đầu trong tất cả các vị Thượng Phụ Chính Thống giáo.

Cuộc viếng thăm được giới báo chí quốc tế mô tả là rất khó khăn, xét vì tình hình địa phương, nhưng ĐTC đã đặt biến cố này dưới sự bảo trợ của Mẹ Maria. Thực vậy, sáng thứ sáu 23-5-2014, ngài đã trở lại Đền Thờ Đức Bà Cả lần thứ 8 để cầu nguyện trước ảnh Đức Mẹ là Phần Rỗi của dân Roma và phó thác cho Mẹ cuộc viếng thăm này.

Cuộc gặp gỡ cách đây nửa thế kỷ giữa Đức Phaolô 6 và Đức Thượng Phụ Athenagoras đáng kỷ niệm đặc biệt vì đã mở ra một trang mới trong lịch sử ngàn năm giữa hai khối Giáo Hội và chuyến viếng thăm lần này của ĐTC Phanxicô không những để kỷ niệm biến cố đó, nhưng còn nhắm tăng cường các quan hệ đại kết, và không quên phát triển cuộc đối thoại liên tôn với Hồi giáo.

Cùng đi với ĐTC trên chuyến bay dài 4 tiếng từ Roma có 30 vị thuộc đoàn tùy tùng và 70 ký giả quốc tế.

Vương quốc Giordani chỉ rộng gần 89 ngàn cây số vuông, bằng 1 phần 4 Việt Nam, nhưng lại rộng gấp quá 4 lần lãnh thổ của Israel và Palestine cộng lại, vì hai nước này chỉ có 20.700 cây số vuông, tuy rằng họ có dân số đông hơn, gần 8 triệu người, so với 6 triệu 400 ngàn dân cư của Giordani. Cũng vậy về con số tín hữu Công Giáo: tại Giordani chỉ có 107 ngàn tín Công Giáo, trong khi tại Israel và Palestine có 266 ngàn tín hữu Công Giáo, tức là gần gấp 3.

Tại Giordani có 3 giáo phận với 4 GM và 69 giáo xứ và 143 LM triều và dòng, 210 nữ tu. Các tín hữu Công Giáo la tinh ở Giordani thuộc quyền Tòa Thượng Phụ Công Giáo la tinh ở Jerusalem với Đức Thượng Phụ hiện nay là Fouad Twal, người Giordani.

Đón tiếp

Từ trên máy bay bước xuống, ĐTC đã được đại diện Quốc vương Abdullah II là hoàng thân Ghazi bin Muhammed, cố vấn trưởng về tôn giáo và văn hóa của quốc vương, tiếp đón, cùng với đại diện của giáo quyền, trong đó có Đức Thượng Phụ Fouad Twal, các GM và Cha Pierbattista Pizzaballa, Bề trên dòng Phanxicô tại Thánh Địa tiếp đón. Hai em bé, một trai một gái, dâng tặng ĐTC đóa hoa phong lan (orchidea) màu đen là biểu tượng của Vương quốc Giordani. Trong khi 200 trẻ em đón chào ngài bên trong sân bay và 2 ngàn em khác chờ ngài từ bên ngoài phi trường.

Có 10 người gia nhập phái đoàn chính thức của ĐTC sau khi ngài đặt chân lên đất Giordani, đặc biệt là Rabbi Do thái Abraham Skorka, Viện trưởng Học viện đào tạo Rabbi ở Buenos Aires, và Imam Hồi giáo Omar Abboud, Tổng thư ký tổ chức đối thoại liên tôn, cả hai đều là bạn của ĐTC từ khi ngài là TGM giáo phận thủ đô của Argentina.

Liền đó, ngài cùng với đoàn tùy tùng đi xe về hoàng cung Al-Husseini ở trung tâm thủ đô Amman cách đó 38 cây số nơi diễn ra nghi thức đón tiếp chính thức. Quốc vương và hoàng hậu Rania đón tiếp ĐTC ngay tại cổng vào hoàng cung và tiến qua đoàn quân danh dự.

Vua Abdullah 2 là cháu đích tôn 43 đời của Ngôn sứ Muhammad sáng lập Hồi giáo. Còn hoàng hậu Rania năm nay 44 tuổi là người Palestine sinh trưởng tại Kuwait.

Diễn văn đầu tiên của ĐTC

Trong lời đáp từ sau lời chào mừng của Vua Abdullah, ĐTC nói bằng tiếng Ý:

”Tôi cảm tạ Thiên Chúa vì được viếng thăm Vương quốc Giordani, theo vết các vị tiền nhiệm của tôi Phaolô 6, Gioan Phaolô 2 và Biển Đức 16, và tôi cám ơn Quốc Vương Abdullah II vì những lời chào đón nồng nhiệt, nhớ lại cuộc viếng thăm mới đây của Quốc vương tại Vatican. Tôi cũng chào thăm Hoàng gia, chính phủ và nhân dân Giordani, đất nước có lịch sử phong phú và ý nghĩa lớn về mặt tôn giáo đối với Do thái, Kitô và Hồi giáo.

”Đất nước này quảng đại đón tiếp đông đảo ngừơi tị nạn Palestine, Irak và những người đến từ các vùng khác bị khủng hoảng, đặc biệt là từ Siria láng giềng, bị đảo lộn vì cuộc xung đột kéo dài đã quá lâu. Sự đón tiếp đó đáng được cộng đồng quốc tế ngưỡng mộ và hỗ trợ. Giáo Hội Công Giáo theo khả năng của mình, muốn dấn thân trong việc trợ giúp người tị nạn và những người sống trong cảnh túng thiếu, đặc biệt là qua trung gian của Caritas Giordani. ”Trong khi tôi đau lòng nhận thấy những căng thẳng cao độ vẫn kéo dài ở vùng Trung Đông, tôi cám ơn chính quyền của Vương quốc Giordani vì những gì đang thực hiện và tôi khích lệ tiếp tục dấn thân trong việc tìm kiếm hòa bình lâu bền mong ước cho toàn vùng; để đạt mục đích ấy, người ta thấy hơn bao giờ hết cần có một giải pháp hòa bình cho cuộc khủng hoảng ở Siria, và giải pháp công chính cho cuộc xung đột giữa Israel và Palestine.

”Nhân cơ hội này, tôi tái bày tỏ lòng kính trọng sâu xa và sự quí chuộng của tôi đối với Cộng đoàn Hồi giáo, đánh giá cao vai trò lãnh đạo của Quốc vương trong việc thăng tiến một sự hiểu biết thích hợp hơn về các nhân đức mà Hồi giáo tuyên dạy, cũng như sự sống chung thanh thản giữa tín đồ các tôn giáo khác nhau. Tôi biết ơn đối Giordani vì đã khích lệ các sáng kiến quan trọng cổ võ cuộc đối thoại liên tôn để thăng tiến sự cảm thông giữa người Do thái, Kitô và Hồi giáo, trong đó có sáng kiến ”Sứ điệp liên tôn từ Amman” và vì đã cổ võ giữa lòng LHQ việc cử hành hàng năm ”tuần lễ hòa hợp giữa các tôn giáo”.

”Giờ đây tôi muốn thân ái gửi lời chào thăm các cộng đoàn Kitô hiện diện tại đất nước này từ thời các thánh Tông Đồ, và đang góp phần xây dựng công ích của xã hội trong đó họ hoàn toàn hội nhập. Tuy ngày nay con số của họ bị giảm bớt, nhưng họ vẫn có cách thi hành một hoạt động có chất lượng cao và được quí chuộng trong lãnh vực giáo dục và y tế, qua các trường học và nhà thương, và họ có thể yên hàn tuyên xưng đức tin, trong niềm tôn trọng tự do tôn giáo là một quyền cơ bản của con người, và tôi nồng nhiệt cầu mong quyền này được đặc biệt tôn trọng ở mọi nơi tại Trung Đông cũng như trên toàn thế giới. Quyền này bao gồm tự do cá nhân và tập thể được chọn lựa tôn giáo mà mình tin là thật và công khai bày tỏ tín ngưỡng của mình” (Biển Đức 16, Tông huấn ”Giáo Hội tại Trung Đông”,26). Các tín hữu Kitộ cảm thấy và là những công dân đúng nghĩa và muốn góp phần vào việc xây dựng xã hội cùng với các đồng bào Hồi giáo của họ, đóng góp phần đặc thù của mình.

Sau cùng tôi đặc biệt cầu chúc hòa bình và thịnh vượng cho Vương quốc Giordani, cho nhân dân nước này, và tôi cầu mong cuộc viếng thăm này góp phần gia tăng và thăng tiến những quan hệ tốt đẹp và nồng nhiệt giữa các tín hữu Kitô và Hồi giáo”.

Ngài cũng ứng khẩu cám ơn Vua Abdullah đã bảo vệ cộng đồng Kitô tại Giordani và là một người hòa bình, người xây dựng hòa bình.

Cử hành thánh lễ đầu tiên

Giã từ hoàng gia Giordani, ĐTC đã tới sân vận động quốc tế Al-Hussein cách đó 11 cây số để cử hành thánh lễ lúc gần 3 giờ chiều cho các tín hữu.

Hiện diện tại Sân Vận động có 30 ngàn tín hữu, không kể hàng ngàn người khác tham dự thánh lễ từ bên ngoài qua các màn hình khổng lồ. Trong số các tín hữu có nhiều người tị nạn Công Giáo đến từ Palestine, Siria và Irak, đặc biệt có 1.400 em được rước lễ lần đầu trong thánh lễ này.

Đồng tế với ĐTC có 5 Hồng Y thuộc đoàn tùy tùng của ngài, 6 HY khác đến từ các Giáo Hội địa phương, đứng đầu là ĐHY Becharai Rai, Giáo chủ Công Giáo Maronite từ Liban, ngoài ra có 6 vị Thượng Phụ, 115 LM, 60 phó tế và đan sĩ đến từ các nước Arập.

Bài giảng của ĐTC

Trong bài giảng, ĐTC khai triển 3 hoạt động chính của Chúa Thánh Linh là chuẩn bị, thúc giục và sai đi. Ngài nói:

“Trong Tin Mừng chúng ta đã nghe lời Chúa Giêsu hứa với các môn đệ: ”Thầy sẽ xin Chúa và Người sẽ ban cho các con Đấng An ủi khác để Ngài ở lại với các con mãi mãi” (Ga 14,16). Đấng An ủi thứ I là chính Chúa Giêsu; Đấng thứ 2 là Chúa Thánh Linh.

”Ở đây chúng ta không xa nơi Chúa Thánh Linh đã ngự xuống trong quyền năng trên Đức Giêsu thành Nazareth, sau khi Gioan đã làm phép rửa cho Đức Giêsu trong sông Giordan (Xc Mt 3,16). Vì thế Tin Mừng Chúa Nhật này, và cả nơi mà nhờ ơn Chúa tôi ở đây như người hành hương, mời gọi chúng ta hãy suy tư về Chúa Thánh Linh, về điều mà Chúa thực hiện trong Chúa Kitô và nơi chúng ta, và chúng ta có thể tóm tắt thế này: Chúa Thánh Linh thực hiện 3 hành động: chuẩn bị, thúc đẩy và sai đi.

– ”Trong lúc Chúa Giêsu chịu phép rửa, Thánh Linh ngự xuống trên Đức Giêsu để chuẩn bị Người thi hành sứ mạng cứu độ; sứ mạng này có đặc tính như của một Đầy tớ khiêm hạ và hiền lành, sẵn sàng chia sẻ lịch sử cứu độ và tận hiến toàn toàn. Nhưng Chúa Thánh Linh, hiện diện ngay từ đầu lịch sử cứu độ, đã hoạt động trong Đức Giêsu khi Người được chịu thai trong lòng đồng trinh của Đức Maria thành Nazareth, thực hiện biến cố lạ lùng là sự nhập thể. Thiên Thần nói với Đức Maria: ”Chúa Thánh Linh đã bao phủ Trinh Nữ, sẽ che bóng cho Trinh Nữ và Trinh Nữ sẽ sinh Con và được đặt tên là Giêsu” (Xc Lc 1,35). Tiếp đến Chúa Thánh Linh đã hành động trong ông Simeon và bà Anna, trong ngày dâng Chúa Giêsu vào Đền thờ (Xc Lc 2,22). Cả hai vị chờ đợi Đức Thiên Sai, được Chúa Thánh Linh soi sáng và đến thăm Hài Nhi Giêsu, cả hai trực giác thấy rằng đó chính là Đấng toàn dân mong đợi…

– Thứ hai, Thánh Linh thúc đẩy. Ngài đã xức dầu trong nội tâm cho Đức Giêsu và xức dầu cho các môn đệ, để họ có cùng tâm tình của Đức Giêsu và nhờ đó có thể đảm nhận trong đời sống của họ những thái độ tạo điều kiện dễ dàng cho hòa bình và hiệp thông. Với sự xức dầu của Thánh Linh, nhân tính của chúng ta được ghi đậm sự thánh thiện của Đức Giêsu Kitô và làm cho chúng ta có thể yêu thương anh chị em với cùng tình thương mà Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Vì thế, cần có những cử chỉ khiêm tốn, huynh đệ và tha thứ, hòa giải. Những cử chỉ này là tiền đề và điều kiện để có hòa bình chân thực, vững chắc và lâu bền. Chúng ta hãy cầu xin Chúa Cha xức dầu chúng ta để chúng ta hoàn toàn trở thành những người con của Ngài, luôn phù hợp với Đức Kitô, để chúng ta cảm thấy tất cả là anh chị em và như thế xua đuổi khỏi chúng ta những oán hận và chia rẽ, đồng thời yêu thương nhau như anh chị em. Và đó là điều Đức Giêsu yêu cầu chúng ta trong Phúc Âm: ”Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy tuân giữ giới răn của Thầy, và Thầy sẽ xin Chúa và Ngài sẽ ban cho các con một Đấng An ủi khác, để Người ở lại với các con mãi mãi” (Ga 14,15-16).

– Và sau cùng Chúa Thánh Linh sai đi. Đức Giêsu là Đấng Được Sai Đi, đầy Thánh Linh của Cha. Được xức dầu với cùng Thánh Linh, cả chúng ta cũng được sai đi như sứ giả và chứng nhân hòa bình.

”Hòa bình không thể mua được: đó là một hồng ân cần kiên nhẫn tìm kiếm và xây dựng một cách khéo léo nhờ những cử chỉ lớn nhỏ bao gồm đời sống hằng ngày của chúng ta. Con đường hòa bình được củng cố nếu chúng ta nhìn nhận rằng tất cả chúng ta có cùng máu mủ và là thành phần của nhân loại; nếu chúng ta không quên mình có một người Cha duy nhất trên trời và tất cả đều là con cảu Ngài được dựng nên theo hình ảnh giống Ngài.

ĐTC thân ái chào thăm Đức Thượng Phụ, các anh em GM và linh mục, tu sĩ giáo dân, các em Rước lễ lần đầu.. và ngài kết luận rằng:

”Các bạn thân mến, Chúa Thánh Linh đã ngự xuống trên Đức Giêsu cạnh sông Giordan, và khởi sự công trình cứu chuộc hầu giải thoát thế gian khỏi tội lỗi và sự chết. Chúng ta hãy xin Chúa chuẩn bị con tim chúng ta để gặp gỡ anh chị em vượt lên trên những khác biệt về tư tưởng,ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo; xin Chúa xức dầu toàn thể con người chúng ta bằng dầu từ bi của Ngài, chữa lành các vết thương sai lầm, thiếu cảm thông, tranh biện, và sai chúng ta đi với lòng khiêm tốn và từ bi trên những nẻo đường khó khăn nhưng phong phú trong công trình tìm kiếm hòa bình.

ĐTC giảng hoàn toàn bằng tiếng Ý, và sau bài giảng, có một Đức Cha dịch sang tiếng Arập.

Trong phần hiệp lễ, 118 LM và Phó tế đã phân phát Mình Thánh Chúa cho các tín hữu.

Cuối thánh lễ, Đức Thượng Phụ Fouad Twal đã đại diện mọi người chào mừng ĐTC và nói đến những thách đố mà Giáo Hội địa phương đang phải đương đầu. Ngài nói: Thánh Địa bị quá nhiều chia rẽ, và Giáo Hội Công Giáo địa phương, đặc biệt là Tòa Thượng Phụ Công Giáo la tinh Jerusalem hết sức cố gắng hiệp nhất nội bộ, hiệpnhất giữa các Giáo Hội và toàn dân. Chúng con là một Giáo Hội nhỏ bé, nhưng cũng là một Giáo Hội lắng nghe, tháp tùng và cộng tác theo khả năng khiêm hạ của mình, vào hành trình hoán cải, vì chúng ta luôn ở trong tình trạng hoán cải trường kỳ (Evan. gaudium 25).

Hơn 20,000 người Trung Hoa gia nhập Giáo Hội Công Giáo trong Mùa Phục Sinh

Hơn 20,000 người Trung Hoa gia nhập Giáo Hội Công Giáo trong Mùa Phục Sinh

Đặng Tự Do

5/24/2014

Hơn 20,000 người đã được rửa tội để gia nhập Giáo Hội Công Giáo tại Trung Quốc vào lễ Phục sinh năm nay. AsiaNews đã cho biết như trên hôm thứ Sáu 23 tháng 5.

Hầu hết những tân tòng mới được rửa tội là người lớn. Bất chấp nỗ lực của chế độ Bắc Kinh muốn ngăn chặn ảnh hưởng của Giáo Hội, số lượng người gia nhập Giáo Hội đang phát triển, mạnh.

Số liệu thống kê người rửa tội vừa kể chưa tính đến con số người được rửa tội trong Giáo Hội Thầm Lặng vì những khó khăn trong việc thu thập thông tin.

Theo Trung Tâm Nghiên Cứu Pew, số tín hữu Kitô tại Trung Quốc đã lên tới 67 triệu người vào năm 2010, đứng hàng thứ hai sau Phi Luật Tân trong phạm vi Châu Á.

Hốt hoảng trước sự gia tăng nhanh chóng của Kitô Giáo, nhiều biện pháp bách hại đã được nhà cầm quyền Trung quốc đưa ra.

Mới đây nhất, vào ngày Lễ Lao Động 1 tháng 5, một ngôi thánh đường lớn ở Ôn Châu Trung Quốc đã bị chính quyền dùng xe ủi đất phá bình điạ. Ôn Châu là một thành phố ven biển có biệt danh là “Jerusalem của phương Đông” vì có đông người Kitô giáo cư ngụ tại đây.

Thánh đường bị phá hủy đã được xây dựng trong 12 năm và tốn vào khoảng 30 triệu nhân dân tệ. Ban đầu chính quyền cho phép xây dựng ngôi thánh đường này và tháng Chín năm 2013 chính quyền địa phương còn ca ngợi ngôi thánh đường này là một mô hình kiến trúc tân kỳ

Khi ra lệnh phá hủy ngôi thánh đường, chính quyền cho rằng kiến trúc thánh đường đã to hơn gấp bốn lần diện tích cho phép. Tuy nhiên, anh chị em giáo dân ở đây nói rằng chính quyền muốn giới hạn ảnh hưởng người Thiên Chúa Giáo vì số người tin ở Thiên Chúa đã tăng vọt trong những năm vừa qua. Số giáo dân chiếm 15% trong tổng số dân cư của thành phố.

Năm quan chức chính quyền địa phương liên quan đến việc trước đây đã cho phép xây dựng nhà thờ đang bị điều tra và một người đã bị bắt

Người dân Ukraine đi bầu tổng thống

Người dân Ukraine đi bầu tổng thống

Chủ nhật, 25 tháng 5, 2014

Đây là cuộc bầu cử đặc biệt quan trọng ở Ukraine

Người dân Ukraine hôm nay ngày 25/5 đi bỏ phiếu để bầu tổng thống mới trong bối cảnh đất nước này vừa trải qua nhiều tháng hỗn loạn sau khi cựu Tổng thống Viktor Yanukovych bị lật đổ.

Có 18 ứng viên tranh cử trong cuộc bầu cử được cho là hết sức quan trọng để đoàn kết đất nước.

Tuy nhiên phe thân Nga ở miền đông phản đối cuộc bầu cử này và đã đe dọa sẽ ngăn chặn bỏ phiếu.

Khoảng 20 người đã thiệt mạng trong một đợt giao tranh giữa phiến quân và quân chính phủ trong những ngày qua.

Bạo lực ở miền đông, nhất là ở Donetsk và Luhansk đã làm cản trở nghiêm trọng công việc chuẩn bị cho bầu cử.

‘Vua sôcôla’

Ông trùm ngành bánh kẹo Petro Poroshenko, vốn có biệt danh là ‘vua sôcôla’ nhiều khả năng sẽ giành chiến thắng.

Cựu Thủ tướng Yulia Tymoshenko bị ông Poroshenko bỏ xa trong các cuộc thăm dò ý kiến.

Để giành chiến thắng ngay từ vòng một thì ứng viên phải giành được hơn 50% số phiếu. Nếu không thì sẽ phải bầu cửa vòng hai vào ngày 15/6.

Trong một bài diễn văn trên truyền hình hôm thứ Bảy ngày 24/5, Thủ tướng Arseniy Yatsenyuk đã kêu gọi người dân bỏ phiếu và ‘bảo vệ Ukraine’.

“Cuộc bầu cử này sẽ sự thể hiện ý chí của người dân Ukraine ở miền tây, đông, bắc và nam,” ông nói.

Trong một động thái bất ngờ, Tổng thống Nga Vladimir Putin hôm thứ Sáu ngày 23/5 nói rằng ồng sẽ tôn trọng kết quả cuộc bỏ phiếu và sẵn sàng làm việc với bất cứ ai được người dân Ukraine bầu làm tổng thống.

Ông Poroshenko dẫn đầu trong các cuộc thăm dò dư luận

Kiev và phương Tây đang cáo buộc Moscow kích động tình cảm ly khai ở đông Ukraine. Tổng thống Putin đã bác bỏ cáo buộc này.

Hơn 1.000 quan sát viên của Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu đã (OSCE) được huy động ở các phòng bỏ phiếu trên toàn quốc.

Tuy nhiên OSCE đã rút hầu hết các quan sát viên của họ khỏi Donetsk do lo sợ cho an ninh của họ.

Một số phần tử ly khai thân Nga đã cảnh báo mọi người không được bỏ phiếu.

“Nếu cần thiết chúng tôi sẽ sử dụng bạo lực,” ông Denis Pushilin, một lãnh đạo của Cộng hòa nhân dân Donetsk tự phong, được hãng tin AFP dẫn lời nói.

Phe ly khai ở Donetsk và Luhansk đã tuyên bố độc lập khỏi Ukraine sau khi trưng cầu dân ý hôm 11/5 – một động thái không được Kiev và các đồng minh phương Tây công nhận.

Hơn 75.000 cảnh sát và tình nguyện viên đã được huy động để đảm bảo an ninh cho cuộc bầu cử.

Phòng phiếu sẽ mở cửa cho đến 8 giờ tối giờ địa phương, tức 11 giờ tối giờ Việt Nam. Kết quả cuối cùng sẽ được công bố vào thứ Hai ngày 26/5.

“KHI ĐẤT NƯỚC TÔI THANH BÌNH…”

“KHI ĐẤT NƯỚC TÔI THANH BÌNH…”

Tác giả: Lm. Vĩnh Sang, DCCT

Những ngày đất nước tôi còn chìm trong khói lửa chiến tranh, bao nhiêu lần tôi đã cất cao những lời  hát như vậy để mơ về một ngày thanh bình không còn tiếng súng. Niềm mơ ước ấy cứ luẩn quẩn trong đầu óc thanh niên chúng tôi thời bấy giờ, và rồi đến ngày im tiếng súng, máu thịt thôi rơi vì cuộc chiến huynh đệ tương tàn, ước mơ ấy trở lại cho dù có lắm khi không hài lòng vì một thứ “thanh bình” như thế.

Vì công việc nên tôi có cơ hội đi lại hầu hết những nơi vang danh chiến trường xưa, có những nơi dừng chân lại đôi ba ngày, có những nơi thoáng qua để hồi tưởng bạn bè đã nằm xuống, nhưng có những nơi hạnh phúc cho tôi khi được dâng lễ, dù chỉ là một căn Nhà Nguyện đơn sơ vách lá hay một khoảng sân đất nhỏ tụ họp vài trăm người, thế là quá đủ, quá đủ cho giấc mơ về một ngày được đi thăm khắp nơi. Giấc mơ của một người lớn lên trong chiến tranh, hàng ngày của tuổi trẻ nghe tiếng bom đạn, kỷ niệm đầy ắp hình ảnh thương đau của dân tộc, của đồng bào, và của bạn bè thời chinh chiến xưa.

Những nơi tôi được viếng thăm là những thành phố đầy bom đạn, đầy vết tích chiến tranh, những nghĩa trang “mộ bia đều như nấm”, tôi không phải chịu nỗi xót xa khi theo “mẹ già lên núi tìm xương con mình” nhưng lại là theo một bạn trẻ “lên núi tìm xương cha mình”. Tôi còn phải đi nhiều hơn ước mơ thời trai trẻ, đó là những chuyến vào trại tập trung “tìm thăm anh mình”, hoàn toàn những cái đầu “ngây thơ” thời trước 75 có thể ngờ tới !

Mùa Phục Sinh vừa qua, anh em tôi tổ chức một ngày ghi ơn “Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa”, tôi nhận ra còn một địa chỉ nữa tôi mắc nợ mà chưa được viếng thăm. Hình ảnh và bài viết về cuộc tri ân này đã được chia sẻ rất nhiều trên các mạng xã hội, các Thương Phế Binh là những con người chịu thiệt thòi quá nhiều, xã hội đã bỏ quên họ, những người quan tâm đến họ thì lại không thể thực hiện sự nâng đỡ cần thiết đến từng người và mọi người. Ba mươi chín gần bốn mươi năm rồi, họ vẫn lây lất cố sống cho ngày đời trôi qua, không còn ai và không còn gì để cậy trông.

Hôm ấy anh em Thương Phế Binh vui mừng lắm, nhiều ông, nhiều anh cảm động bật khóc, họ không nghĩ có ngày được gặp nhau, được quan tâm thương mến, được sống những giây phút hào hùng đứng thẳng lên đọc to số quân, KBC ( khu bưu chính – địa chỉ viết thư của quan đội VNCH ngày xưa ), tên đơn vị tác chiến, ngày và nơi bị thương. Vang lên giữa buổi họp măt tiếng hô to của đơn vị Cọp Ba Đầu Rằn, Trâu Điên… Họ không ngờ có ngày họ được trân trọng, được nghe lời tri ân.

Nhưng không phải ai cũng có thể biết mà đến, không phải ai biết mà có thể đến được. Đã có nhiều người không biết ngày họp mặt này, có nhiều người biết nhưng bị ngăn cản không đến được, và có rất nhiều người vì hoàn cảnh không thể đến được dù có biết.

Sau buổi họp măt, qua thông tin từ anh em Thương Phế Binh đến dự, chúng tôi chia nhau đi thăm viếng cụ thể từng người, mục đích để có những thông tin xác thực hơn về hoàn cảnh để có một chương trình cụ thể hơn nâng đỡ anh em. Điều kỳ diệu đã đến không ngờ, qua từng Thương Phế Binh đăng ký, chúng tôi khám phá ra nhiều anh em Thương Phế Binh khác nữa, mỗi địa chỉ là một đầu mối phăng ra nhiều trường hợp thương tâm hơn. Đoàn công tác đã phải vượt qua nhiều cây số trong gian lao vất vả để tiếp cận anh em. Họ ở rất xa, những vùng rất xa, rất cơ cực và rất nghèo khổ, cả ngày đoàn chỉ đi được khoảng vài nhà, gặp họ, đoàn công tác hội ra được nhiều điều mà ngồi ở thành phố không thể biết.

Họ nghèo quá, mất hết chân tay lấy đâu vượt qua đường trường ngút ngàn để về thành phố dự ? Xe lăn ? Không thể nhận vì đường ruộng mấp mô, hoặc nền nhà đất khô gập ghềnh làm sao lăn xe ? Đi bằng hai cái ghế đẩu bằng gỗ chắc ăn hơn. Mắt mờ không có tiền lên Sàigòn phẫu thuật, mà có tiền để lên thì không biết nương nhờ vào đâu trong thời gian chữa bệnh. Một Thương Phế Binh sống đơn côi với đứa con gái 13 tuổi nói trong nước mắt: Tật nguyền mà vợ lại qua đời sớm, con nhỏ nheo nhóc không biết làm sao để sống ? Chung nhất là hoàn cảnh khó khăn đẩy họ trôi giạt về quê xa thành phố, rồi cái nghèo, phận tàn phế nhận chìm họ trong chốn tối tăm ấy suốt đời.

Bốn mươi năm rồi bị bỏ quên, họ vẫn sống, sống hào hùng không ăn bám cho dù khốn khổ, anh em không muốn lòng thương hại, nhiều anh tự trọng đến dộ không ngỏ một lời than thân trách phận chứ đừng nói đến một lời xin giúp đỡ. Các anh chị em trong đoàn công tác càng đi càng khâm phục anh em Thương Phế Binh, họ về nói với chúng tôi rằng: “Chúng con khâm phục các chú, hoàn cảnh thấy tội lắm, muốn rơi nước mắt nhưng không hề ta thán, trách móc ai cả”.

Chúng tôi lại nhận được nhiều thư từ nhiều nơi gần xa gởi về với tất cả tấm lòng dành cho các  Thương Phế Binh. Nhiều vị có ý muốn chia sẻ cách nào đó với những việc chúng tôi đang thực hiện. Chúng tôi đang lấy thông tin và xem xét từng hoàn cảnh, chắc chắn phải làm một cái gì đó cho anh em, những người bị thua thiệt quá nhiều. Chúng ta sẽ thi hành lòng yêu mến và sự công bằng mà Thiên Chúa muốn dành cho họ.

Xin biết ơn các anh em Thương Phế Binh đã cho chúng tôi gặp được Chúa Giêsu nơi anh em như Tin Mừng Mt 25 đã mô tả. Anh em chính là một trong những địa chỉ có quá nhiều người “bị bỏ rơi hơn cả” đã được ghi rõ trong Hiến Pháp Nhà Dòng chúng tôi.

Vậy là tôi vẫn còn mắc nợ địa chỉ này nữa chưa viếng thăm sau năm 75. “Khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi thăm…” Vâng, tôi sẽ đi thăm, tôi phải đi thăm cho dẫu đất nước tôi hôm nay vẫn chưa thật sự được thanh bình…

Lm. VĨNH SANG, DCCT,

17.5.2014

Thời điểm để lãnh đạo VN thay đổi tư duy?

Thời điểm để lãnh đạo VN thay đổi tư duy?

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2014-05-23

000_Hkg9817100-600.jpg

Tàu hải giám Trung Quốc (màu trắng, phía sau) ngay sát tàu Việt Nam trên Biển Đông hôm 14/5/2014

AFP photo

Cơ hội cho Việt Nam?

Sự kiện giàn khoan Trung Quốc chiếm lĩnh vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam từ ngày 2 tháng Năm là cơ hội cho Việt Nam tranh thủ hậu thuẫn trên mặt trận ngoại giao, đồng thời cũng là cơ hội để giới lãnh đạo thay đổi cái não trạng, cái tư duy về nước bạn 16 chữ vàng 4 tốt này.

Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng, nguyên đại sứ Việt Nam tại Hà Lan, nguyên trưởng Nhóm Tư Vấn Lãnh Đạo Bộ Ngoại Giao Việt Nam, hiện là thành viên của tổ chức Minh Triết Làm Chủ Biển Đông, khẳng định như vậy trong cuộc trao đổi với phóng viên Thanh Trúc. Ông cho biết thêm:

TS Đinh Hoàng Thắng: Rõ ràng từ một tuần nay, trên mặt trận ngoại giao, không riêng Việt Nam mà cả Trung Quốc cũng thế.

Đầu tiên là đại sứ Trung Quốc lên CNN để xuyên tạc và bôi nhọ Việt Nam như thế nào thì tin tức quốc tế đã đưa rồi. Phó đại sứ Trung Quốc ở Indonesia cũng lên truyền thông viết bài đã kích Việt Nam như thế nào. Cái mà Trung Quốc tập trung trên mặt trận dư luận trong tuần qua là biến mình từ một tác nhân gây chuyện thành một nạn nhân, đặc biệt lấy cớ là có những vụ biểu tình đập phá để biến mình thành nạn nhân.

“Cái biểu hiện ra bề ngoài như một đường lối một chủ trương như vậy là cái rất mới, thể hiện lập trường của Việt Nam ngày càng tăng lên so với cái vi phạm của Trung Quốc.
-TS Đinh Hoàng Thắng”

Việt Nam thì nhân chuyện thủ tướng đi sang Philippines ông đã có bài phát biểu rất cương quyết rất thẳng thắn và đã lên án Trung Quốc khá nặng. Tất nhiên đây không phải lần đầu tiên bởi vì ở ASEAN thì ông cũng đã nói nhưng mà ở Philippines thì cường độ nặng hơn và rõ ràng hơn. Thế rồi ngoại trưởng Việt Nam cũng vừa điện đàm với ngoại trưởng Mỹ và nội dung điện đàm được hai bên công khai là phía Việt Nam hưởng ứng yêu cầu của phía Mỹ muốn tăng cường những cuộc thăm của các hạm đội hải quân Mỹ ở các cảng biển của Việt Nam.

Tất cả những biểu hiện ấy cho thấy trên mặt trận ngoại giao từ thủ tướng đến phó thủ tướng kiêm ngoại trưởng đã có những hoạt động rất tích cực để không chỉ tố cáo và xiển dương chính nghĩa mà với Hoa Kỳ cũng đã có sự phối hợp hành động.

Thanh Trúc: Thưa tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng, có phải ông muốn nói sự kiện giàn khoan Trung Quốc, nay ở ngay trong vùng biển Việt Nam, buộc giới lãnh đạo phải thay đổi cách nghĩ và phải tìm ra chính sách đối phó hữu hiệu hơn?

TS Đinh Hoàng Thắng: Tôi muốn nói cái mọi người có thể thấy rõ nhất là những biểu hiện công khai. Lần lượt tất cả những vị đứng đầu đảng, nhà nước, quốc hội đều có tuyên bố rõ ràng về vấn đề lên án và phê phán Trung Quốc. Kể cả ông chủ tịch nước lẫn ông thủ tướng đều lần đầu tiên khẳng định Việt Nam có thể tính đến khả năng đưa Trung Quốc ra trước tòa án quốc tế. Cái biểu hiện ra bề ngoài như một đường lối một chủ trương như vậy là cái rất mới, thể hiện lập trường của Việt Nam ngày càng tăng lên so với cái vi phạm của Trung Quốc mà không có thay đổi gì cả.

Còn gọi thế nào là đủ thì cái này cũng khó. Chúng ta thật ra cũng chưa biết ý đồ sâu xa của Trung Quốc là còn dấn lên tới đâu nữa.

Được đằng chân, lân đằng đầu

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng quan sát các binh sĩ Việt Nam vận hành hệ thống điều khiển tên lửa phòng không S-300 do Nga chế tạo, trong chuyến thăm tiểu đoàn tên lửa phòng không 64 thuộc sư đoàn phòng không 361 đóng tại Hà Nội , hôm 13/01/2014.

Thanh Trúc: Nhiều người nghĩ Trung Quốc được đằng chân sẽ lân đằng đầu, ngoài mặt trận ngoại giao như ông nói thì Việt Nam còn có thể làm gì hơn?

TS Đinh Hoàng Thắng: Chúng ta không nên nhìn việc hạ đặt giàn khoan 981 như một hiện tượng đơn lẻ mà phải nhìn nó trong một chuỗi các hành động, một bước trong hàng loạt các chính sách mà mục tiêu cao nhất là để Trung Quốc xóa nhòa trước dư luận thế giới về việc Trung Quốc vi phạm luật pháp quốc tế, vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, biến mình từ một kẻ đi gây sự thành một nạn nhân. Đó là đường lối rất nhất quán của Trung Quốc và phải nói họ có nhiều việc làm để hỗ trợ cho cái đó.

Như vậy về phía Việt Nam vũ khí ở đây là gì? Trước mắt cho đến nay mà nói hành động quân sự là chưa thể tính đến. Mặc dầu có những người trách nhiệm trong chính quyền cũng nói rằng Việt Nam sẽ tận dụng mọi phương tiện mọi biện pháp để giải quyết vấn đề này, chứ còn vấn đề độc lập dân tộc, vấn đề chủ quyền quốc gia, vấn đề biển đảo là không thể đem ra đổi chác, không thể có một nhân nhượng nào hết. Tôi thấy như vậy là quyết tâm của lãnh đạo Việt Nam rất cao.

Thanh Trúc: Xin ông đừng quên là trước giờ nhà nước Việt Nam không cho phép người dân biểu tình chống Trung Quốc. Mặt khác, ông thấy những cuộc biểu tình biến thành bạo loạn ngày 13 và 14 liệu có gây khó khăn cho nền kinh tế Việt Nam không?

“Trong cái rủi có cái may, dầu sao đây cũng là cái để Việt Nam nhìn lại, còn làm đến mức nào thì còn tùy thuộc vào nhiều biến số khác.
-TS Đinh Hoàng Thắng”

TS Đinh Hoàng Thắng: Việc gây bạo loạn thì cái đó cho tới bây giờ mọi người Việt Nam, tôi nghĩ người Việt Nam bên ngoài người ta cũng biết, rằng đây không phải là những người trong hàng ngũ biểu tình, lại càng không phải là những người Việt Nam yêu nước. Là vì những vụ biểu tình vừa rồi tôi cũng có tham gia thì tôi biết người ta đi rất có trật tự rất có ý thức chứ không ai lại đi đập phá để riot (bạo loạn) như vậy cả. Đây chắc chắn là có những hành động mờ ám, có những bàn tay tổ chức. Ai thì chắc chắn cơ quan an ninh của Việt Nam biết, vấn đề là người ra có đưa ra xử hay không thì tôi không biết. Tôi chắc chắn những người này không phải là những người yêu nước và như vậy họ đang tiếp tay cho Trung Quốc. Từ việc hạ đặt giàn khoan, từ việc có những hành động bạo loạn trong nước dẫn đến chuyện Trung Quốc rút người rồi rút công ty về, thì cái này họ muốn gây một hình ảnh xấu trước quốc tế về Việt Nam là một đất nước không ổn định, một đất nước thích bạo lực, thích đập phá.

Như vậy, về mặt âm mưu của Trung Quốc thì không thể kể xiết được. Việt Nam đã là nạn nhân nhiều năm trước đây, hàng ngày ngư dân Việt Nam vẫn bị đập phá bị chèn ép bị hăm dọa ở trên biển. Cho nên cũng không ngạc nhiên khi nghe tin Trung Quốc tập trung quân ở biên giới.

Thế còn có gây khó khăn cho kinh tế Việt Nam không thì đương nhiên. Về mặt phát triển kinh tế thì rõ ràng nền kinh tế của Việt Nam quá phụ thuộc vào Trung Quốc. Trong cái rủi có cái may, dầu sao đây cũng là cái để Việt Nam nhìn lại, còn làm đến mức nào thì còn tùy thuộc vào nhiều biến số khác.

Thanh Trúc: Ông cho rằng trong cái rủi có cái may, xin ông nói rõ hơn?

TS Đinh Hoàng Thắng: Theo tôi việc Trung Quốc đặt giàn khoan có nhiều vấn đề mới. Đây là lúc các nhà lãnh đạo các nhà quản lý của Việt Nam phải nhìn nhận lại vấn đề để mình sau này có cân đối cân bằng trong phát triển. Còn đúng là nếu cứ theo cái đà này thì Trung Quốc bất cứ lúc nào cũng có thể gây khó khăn.

Đối với Việt Nam không phải chỉ vấn đề biểu tình như chị nói đâu, nó đặt ra vấn đề quan hệ Việt Nam Trung Quốc từ nay phải được nhìn nhận dưới một góc độ khác. Nó sẽ ít tính cách tuyên truyền mà tiếng Anh gọi là “get to the point” là nó phải đi vào cái nội dung của nó, đi vào cái thực chất của nó. Tôi cho đây là một cái tốt bởi vì cách đây mấy năm khi Trung Quốc hăm dọa, đe dọa tàu thuyền của ngư dân ngoài biển thì báo chí Việt Nam chỉ được đưa rằng đây là tàu lạ, nước lạ. Nhưng ngược lại bây giờ thì báo chí lại nói công khai là âm mưu bành trướng, âm mưu xâm lược, âm mưu độc chiếm biển Đông. Tôi nói trong cái rủi có cái may là vì Trung Quốc làm thế tự nhiên nó được giải phóng, ở một mặt nào đó người Việt cái chuyển cái nhận thức.

Một vấn đề nữa là ngay trong nhận thức sâu xa của người dân, trong nhận thức sâu xa của lãnh đạo, người ta phải thấy rằng không thể quét cái đống rác vào dưới cái tấm thảm mãi được mà đến lúc phải gọi sự việc đúng tên của nó. Đây là thời điểm, đây là bước ngoặt để từ người dân đến nhà lãnh đạo thay đổi cái não trạng, thay đổi cái tư duy.

Thế còn biểu tình thì nó là chuyện tự nhiên trong một xã hội dân sự, tất nhiên Việt Nam hiện nay chưa hoàn toàn là một xã hội dân sự nhưng mà nó phải tiến đến đó sớm hay muộn. Chính những hành động của Trung Quốc vừa rồi mở ra nhiều khả năng, mở ra nhiều giải pháp, mở ra nhiều cái tư duy để cho con người được suy nghĩ được hành động một cách khác nhau vì mục đích cao cả nhất là bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.

Thanh Trúc: Xin cảm ơn tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng.

httpv://www.youtube.com/watch?v=imiGacXwA4Y

Việt Nam chính thức tuyên bố công hàm Phạm Văn Đồng là vô giá trị

Việt Nam chính thức tuyên bố công hàm Phạm Văn Đồng là vô giá trị

Thanh Phương

Sau nhiều năm im lặng, mãi đến những năm gần đây, chính quyền Việt Nam mới lên tiếng giải thích về công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958, nhưng lần đầu tiên, Hà Nội vừa chính thức tuyên bố công hàm đó là vô giá trị, tức là không hề công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Công hàm Phạm Văn Đồng, mà nhiều người gọi là « công hàm bán nước », đã được đưa ra trong bối cảnh như thế nào ? Ngày 04/09/1958, Thủ tướng Chu Ân Lai đã tuyên bố với quốc tế quyết định của chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam).

Sau đó, ngày 14/09/1958, Thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Phạm Văn Đồng đã gởi cho Thủ tướng Chu Ân Lai bức công hàm ghi rõ: “Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành” tuyên bố nói trên của chính phủ Trung Quốc và “sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc”.

Từ đó cho đến nay, đối với Bắc Kinh, bức công hàm nói trên của Thủ tướng Việt Nam là đồng nghĩa với việc Hà Nội thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thật ra, từ lâu, nhiều chuyên gia đã phân tích rõ là công hàm Phạm Văn Đồng chẳng có giá trị nào về mặt pháp lý trên vấn đề chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa, bởi một lý do đơn giản là hai quần đảo này vào thời đó thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

Trong bài báo ngày 20/07/2011, tờ Đại Đoàn Kết cũng đã công nhận rằng vào thời điểm năm 1958, Hoàng Sa và Trường Sa “tạm thời thuộc quyền quản lý của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa” và chính phủ này “đã liên tục thực thi” chủ quyền trên hai quần đảo đó và đặc biệt đã quyết liệt chống trả sự xâm lược của Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974. Hơn nữa, vào thời điểm đó, chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền trên hai quần đảo này.

Nhưng đó chỉ mới là ý kiến của một tờ báo chính thức, được đăng tải vào lúc đó để xoa dịu dư luận, không chỉ đang phẫn nộ về những hành động ngang ngược của Trung Quốc trên Biển Đông, mà còn rất bất bình trước hành động đàn áp người biểu tình phản đối Trung Quốc. Nay, trong bối cảnh Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển của Việt Nam, lần đầu tiên chính phủ Hà Nội chính thức tuyên bố công hàm đó là không hề công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trong cuộc họp báo quốc tế hôm qua, 23/05/2014 ( lần thứ ba kể từ đầu vụ giàn khoan HD-981 ), phó chủ nhiệm Ủy ban Biên giới Quốc gia Trần Duy Hải đã nhắc lại lập luận rằng công hàm ( mà ông gọi là công thư ) Phạm Văn Đồng không đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bởi lẽ hai quần đảo này lúc đó nằm dưới vĩ tuyến 17 và thuộc quyền quản lý của Việt Nam Cộng Hòa, được Pháp giao lại vào năm 1956, phù hợp với Hiệp định Genève 1954, mà Trung Quốc có tham gia.

Việt Nam đã phải chính thức tuyên bố công hàm Phạm Văn Đồng là vô giá trị trong bối cảnh mà chính phủ Hà Nội đang cố vận động sự ủng hộ của quốc tế bằng cách nêu rõ những cơ sở pháp lý và lịch sử về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Việt Nam.

Hà Nội cũng đang xem xét việc khởi kiện Trung Quốc ra trước tòa án quốc tế. Trong cuộc họp báo quốc tế hôm qua, bà Nguyễn Thị Thanh Hà, Hàm Vụ trưởng Vụ Luật pháp quốc tế Bộ Ngoại giao, cho biết, với tư cách thành viên của Công ước Quốc tế về Luật biển (UNCLOS), Việt Nam có quyền sử dụng tất cả các cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến mình.

Việt Nam cứu xét ‘giải pháp quốc phòng’ vụ TQ hạ đặt giàn khoan

Việt Nam cứu xét ‘giải pháp quốc phòng’ vụ TQ hạ đặt giàn khoan

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lập lại quyết tâm sẽ bảo vệ chủ quyền và các lợi ích chính đáng của mình, bởi vì chủ quyền lãnh thổ, kể cả chủ quyền các vùng lãnh hải và biển đảo, là quyền thiêng liêng

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lập lại quyết tâm sẽ bảo vệ chủ quyền và các lợi ích chính đáng của mình, bởi vì chủ quyền lãnh thổ, kể cả chủ quyền các vùng lãnh hải và biển đảo, là quyền thiêng liêng

23.05.2014

Việt Nam đang cứu xét giải pháp đưa Trung Quốc ra trước tòa án quốc tế để giải quyết cuộc tranh chấp đang ngày càng trở nên nguy hiểm hơn về các vùng biển đang trong vòng tranh chấp giữa hai nước ở Biển Đông.

Báo Financial Times dẫn lời ông Ernie Bowers, một chuyên gia về các vấn đề Á Châu tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế tại Washington (CSIS), đánh giá khả năng Hà nội sẽ theo chân Philippines kiện Trung Quốc trước Tòa án Trọng tài Quốc tế tại La Haye, là có xác suất 75% sẽ xảy ra.

Ông Bowers là người quen thuộc với cuộc tranh luận ở Việt Nam về liệu có nên tiến hành giải pháp pháp lý chống Trung Quốc hay không.

Cuộc tranh chấp chủ quyền Biển Đông đã âm ỉ từ nhiều năm qua, nhưng căng thẳng tăng cao đáng kể trong 3 tuần qua, sau khi Trung Quốc kéo giàn khoan nước sâu khổng lồ vào Biển Đông, và lần đầu tiên khởi sự khoan dầu trong vùng biển mà Việt Nam cho là thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, vì chỉ cách bờ biển Việt Nam khoảng 200 hải lý.

Hôm nay truyền thông báo chí do nhà nước Việt Nam kiểm soát, dường như muốn đẩy mạnh phương án này. Trang bienphong.com đăng bài viết với hàng tít “Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý để kiện Trung Quốc.” Trang mạng này dẫn lời Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng Ban Biên giới Chính phủ khẳng định như vừa kể.

Ông Trục nói rằng nếu Hà nội không cương quyết ngăn cản bước leo thang của Trung Quốc lần này, thì nó sẽ tạo ra một tiền lệ để Trung Quốc sau này tiến sát vào bờ biển Việt Nam và các quốc gia khác trong vùng để khai thác dầu khí. Ông Trần Công Trục cho rằng vụ hạ đặt giàn khoan trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam là một cuộc “xâm lược mềm”, rất nguy hiểm và rất khó đối phó.

Hơn 100 tàu Việt Nam và tàu Trung Quốc đang trong tình trạng đối đầu căng thẳng gần giàn khoan HD 981 của Trung Quốc trong vùng lãnh hải Việt Nam.

Hãng tin Reuters tường thuật, Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng nói chính phủ của ông đang cứu xét một loạt “giải pháp quốc phòng” khác nhau chống Trung Quốc, kể cả giải pháp pháp ly, sau khi Bắc Kinh di chuyển giàn khoan dầu vào các vùng biển đang trong vòng tranh chấp với Việt Nam ở Biển Đông.

Quyết định của Việt Nam theo chân Philippines đưa cuộc tranh chấp ra trước Tòa Án Trọng Tài quốc tế sẽ làm Bắc Kinh giận dữ. Trung Quốc vẫn muốn giải quyết tranh chấp qua các cuộc thương thuyết song phương, nhưng một số nước ASEAN, nhất là Philippines, tin rằng quốc tế hóa cuộc tranh chấp biển đảo với Trung Quốc là giải pháp duy nhất đối với các nước nhỏ trong cuộc đối đầu ở Biển Đông.

Trả lời một cuộc phỏng vấn do Reuters thực hiện qua email hôm thứ Năm, ông Nguyễn Tấn Dũng gạt giải pháp quân sự sang một bên.

Trả lời câu hỏi của phóng viên Reuters, rằng liệu Việt Nam có nghĩ tới việc giải quyết những căng thẳng bằng các phương tiện quân sự. Ông Nguyễn Tấn Dũng viết:

“Quý vị hỏi về các biện pháp quân sự à. Không, Việt Nam đã chịu đựng quá nhiều gian khổ và mất mát do các cuộc chiến xâm lược gây ra trong quá khứ rồi. Chúng tôi chỉ mong muốn có hòa bình và hữu nghị để xây dựng và phát triển đất nước.”

Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố Việt Nam sẽ không bao giờ là nước khởi sự một cuộc đối đầu quân sự, trừ phi bị buộc vào thế phải tự vệ.

Tuy nhiên ông Nguyễn Tấn Dũng lập lại quyết tâm sẽ bảo vệ chủ quyền và các lợi ích chính đáng của mình, bởi vì chủ quyền lãnh thổ, kể cả chủ quyền các vùng lãnh hải và biển đảo, là quyền thiêng liêng.

Nhưng mặt khác, Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng khẳng định Việt Nam sẽ không tham gia bất cứ liên minh quân sự nào chống một nước khác.

Trong khi đó, Hoa Kỳ đã dùng những từ ngữ cứng rắn và quyết liệt hơn khi nói đến cuộc tranh chấp giữa Trung Quốc và một số nước ASEAN, trong đó có Việt Nam.

Ông Kurt Campbell, từng là nhà ngoại giao hàng đầu của Mỹ đặc trách vùng Đông Á, nói rằng Hoa Kỳ đã quyết định đi theo một hướng tiếp cận mạnh mẽ hơn về cái gọi là đường 9 đoạn tại Biển Đông, vạch ra vùng biển mà Trung Quốc tuyên bố có chủ quyền ở Biển Đông, bởi vì ASEAN ngày càng bực dọc hơn về tình trạng thiếu tiến bộ trong các cuộc đàm phán với Bắc Kinh.

Tuần trước, ông Lê Lương Minh, Tổng thư ký ASEAN, kêu gọi Trung Quốc hãy rời các vùng biển của Việt Nam để xoa dịu cuộc khủng hoảng ở quần đảo Hoàng Sa. Lời phát biểu của Tổng thư ký ASEAN đã khơi lên một phản ứng mạnh từ Bắc Kinh, nói rằng ông Lê Lương Minh đã “làm ngơ sự thật, vi phạm lập trường trung dung của ASEAN, và đơn phương đánh đi những tín hiệu sai lạc.”

Ngoại trưởng Việt Nam sẽ gặp Ngoại trưởng Mỹ về Biển Đông

Ngoại trưởng Việt Nam sẽ gặp Ngoại trưởng Mỹ về Biển Đông
Friday, May 23, 2014

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) .- Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Phạm Bình Minh sẽ gặp Ngoại trưởng Mỹ John Kerry để “trao đổi nhiều vấn đề,”phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao CSVN xác nhận như vậy hôm 23 tháng 5, 2014.

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry bắt tay ngoại trưởng CSVN Phạm Bình Minh khi hai người mở họp báo chung ở Hà Nội ngày 16/12/2013. (Hình: Hoàng Đình Nam/AFP/Getty Images)

Trong cuộc họp báo ở Hà Nội hôm Thứ Sáu, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao CSVN Lê Hải Bình xác nhận rằng “hai bên đang sắp xếp thời gian đảm bảo phù hợp nhất” mà lý do chính yếu được hiểu là các bối rối của Việt Nam cần đồng minh trong việc đối phó khó khăn ở thế yếu với Trung Quốc. Tuy nhiên, không thấy nói hai ông ngoại trưởng sẽ gặp nhau ở đâu.

Khi được hỏi nội dung cuộc họp sẽ được chuẩn bị, ông Lê Hải Bình cho hay ngoài những vấn đề song phương và khu vực “tất nhiên sự việc Trung Quốc đưa giàn khoan trái phép vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam sẽ được nhắc đến.”

Hôm 21 tháng 5, 2014, ông Phạm Bình Minh có cuộc điện đàm với ngoại trưởng Mỹ John Kerry vào lúc tình hình căng thẳng giữa Việt Nam và Trung quốc vẫn diễn ra ở khu vực giàn khoan HD981 trong vùng biển đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam theo Công ước Quốc tế về Luật Biển.

Thông Tấn Xã Việt Nam (TTXVN) tường thuật cuộc điện đàm cho biết, ông Phạm Bình Minh đã “thông báo (với ông Kerry) về những diễn biến mới nhất liên quan đến việc Trung Quốc đơn phương hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 (Haiyang Shiyou-981) trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam; cho biết Trung Quốc liên tục gia tăng số lượng tàu, trong đó có tàu hộ vệ tên lửa, tàu tuần tiễu tấn công nhanh và tàu đổ bộ lớn… khiến tình hình rất căng thẳng.”

Ông Phạm Bình Minh được tường thuật “Khẳng định Việt Nam đã hết sức kiềm chế, kiên trì thông qua đối thoại, tránh xung đột, đồng thời kiên quyết yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan và các tàu hộ tống khỏi khu vực vì đây là hành động vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam, đe dọa ổn định, an toàn trên biển, vi phạm Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982.”

Theo hãng tin AP, nói chuyện với Ngoại trưởng CSVN, ông John Kerry “bầy tỏ quan ngại về những hành động khiêu khích của Trung Quốc khi đem dàn khoan và rất nhiều tàu bảo vệ tới vùng biển tran hchấp với Việt Nam. Vì vậy đã tạo ra căng thẳng ở khu vực và dẫn tới các vụ bạo động nhắm vào các hãng xưởng ngoại quốc tại Việt Nam.”, theo lời bà phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Jen Psaki.

Theo lời bà Psaki thuật lại, ông Kerry khuyến cáo hai bên nên kềm chế để làm giảm cường độ căng thẳng, bảo đảm cho tàu bè qua lại và giải quyết các tranh chấp xuyên qua các biện pháp hòa bình theo luật pháp quốc tế. Cách đây ít ngày, Ngoại trưởng Mỹ cũng đã lên ánh hành động Trung quốc đem giàn khoan HD981 tới vùng biển tranh chấp với Việt nam là “khiêu khích” và là nguyên nhân của sự căng thẳng.

Trong cuộc họp báo ở Bộ Ngoại Giao Mỹ, bà Psaki nói ông Kerry mời ông Phạm Bình Minh đến Washington DC “để tham khảo một loạt rộng rãi về các vấn đề song phương và khu vực vốn là một phần của thỏa thuận Đối tác Toàn diện giữa hai nước”.

Nhiều nhà phân tích thời sự quốc tế cho rằng Việt Nam đang cảm thấy cô đơn vì không có một đồng minh nào khi phải đối phó với một nước Trung Quốc to lớn, hùng mạnh kinh tế và quân sự và càng ngày càng lộ rõ tham vọng bá quyền bành trướng.

Một số nhà phân tích thời sự cũng cho rằng khi Việt Nam xích lại gần Mỹ hơn, có thể sẽ được Washington bãi bỏ lệnh cấm bán võ khí sát thương. Đây là điều các lãnh đạo Việt Nam khi gặp các giới chức cao cấp Hoa Kỳ đều kêu ca nhưng đến nay vẫn chưa thấy phía Mỹ nhúc nhích. Một trong những điều kiện được đặ ra là Việt Nam phải cải tiến nhân quyền mà điều này cũng không thấy Hà Nội nhúc nhích, nếu không muốn nói mỗi ngày một tệ hại hơn.

Khi đến Việt Nam hồi giữa Tháng 12 năm ngoái, Ngoại trưởng Mỹ loan báo chương trình viện trợ gần 40 triệu USD cho một số nước Đông Nam Á trong đó có 18 triệu đô la giúp Việt Nam mua 5 tàu tuần tra biển cỡ nhỏ. Tuy nhiên, cái mà Việt Nam đang muốn từ Mỹ là các máy bay tuần tra biển Orion P-3, các dàn radar và nhiều thứ khác. (TN)

 

Tình hữu nghị” nay là hiểm họa của kinh tế Việt Nam

Tình hữu nghị” nay là hiểm họa của kinh tế Việt Nam
Friday, May 23, 2014

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) .-Mâu thuẫn về chủ quyền biển đảo giữa Việt Nam và Trung Quốc gia tăng có thể sẽ là lý do khiến Trung Quốc gây áp lực bằng cách cắt đứt quan hệ kinh tế, khiến kinh tế Việt Nam suy sụp.

Cửa khẩu Móng Cái. Mở rộng cửa để nhập cảng đủ thứ từ Trung Quốc, dễ dãi trong việc tiếp nhận đầu tư, nhà thầu từ Trung Quốc, khiến kinh tế Việt Nam càng ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc và nay, sự lệ thuộc đó trở thành nguy cơ khiến nền kinh tế có thể bị suy sụp. (Hình: Báo Quảng Ninh)

Đó là điều đang khiến nhiều chuyên gia kinh tế lo ngại bởi kinh tế Việt Nam bị lệ thuộc vào Trung Quốc. Kể từ năm ngoái, các chuyên gia kinh tế ở Việt Nam đã liên tục cảnh báo về sự lệ thuộc Trung Quốc trong lĩnh vực kinh tế, sau khi có hàng loạt dữ liệu đáng lo.

Ví dụ, năm 2013, xuất cảng của Việt Nam sang Trung Quốc chỉ tăng 7% nhưng nhập cảng từ Trung Quốc tăng 28%. Tốc độ gia tăng của nhập cảng từ Trung Quốc gấp 4 lần so với tốc độ xuất cảng và chênh lệch về cán cân thương mại trong quan hệ với Trung Quốc càng lúc càng lớn.

Hồi trung tuần tháng 12 năm 2013, tại một hội nghị bàn về việc thực hiện thỏa thuận thương mại tự do, Bộ Công Thương Việt Nam xác nhận, chỉ trong 10 năm, từ 2001 đến 2012, nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc đã tăng 76 lần, từ 210 triệu USD hồi 2001, thành 16 tỷ USD vào năm 2012.

Tháng 6 năm 2013, sau khi có thống kê cho biết, bốn tháng đầu năm 2013, Việt Nam chi 40.2 tỷ USD cho việc nhập cảng, trong đó có tới 10 tỷ USD chỉ để nhập cảng nguyên liệu, vật liệu, phụ liệu, hàng hóa của Trung Quốc. Ông Võ Trí Thành, một chuyên gia kinh tế, khẳng định, điều đó cho thấy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam càng ngày càng phụ thuộc vào nguyên liệu, vật liệu, phụ liêu của Trung Quốc.

Nếu Trung Quốc ngừng xuất cảng chúng sang Việt Nam, sẽ có hàng loạt doanh nghiệp Việt Nam hấp hối vì không kịp ứng phó. Lúc đó, ông Thành than rằng, cả khả năng cạnh tranh lẫn công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam quá yếu, vì vậy Việt Nam đang phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc cả về hàng trung gian lẫn hàng tiêu dùng cuối cùng.

Nay, những cảnh báo đó có nguy cơ trở thành hiện thực. Trò chuyện với BBC, ông Phạm Quý Thọ, Chủ nhiệm Khoa Chính sách Công, Học viện Chính sách – Phát triển, cho rằng, Việt Nam phải chuẩn bị cho “tình huống xấu nhất”: Trung Quốc “cắt đứt quan hệ thương mại và đầu tư” do mâu thuẫn về chủ quyền.

Ông Thọ lo ngại là vì: Cán cân thâm hụt thương mại luôn luôn nghiêng về phía Việt Nam, khoảng 20 tỷ Mỹ kim/ năm. Hàng loạt những công trình rất quan trọng về năng lượng, cơ sở hạ tầng tại Việt Nam do Trung Quốc đầu tư và đảm nhận. Trong thương mại tiểu ngạch giữa hai bên, lợi thế cũng nghiêng về phía Trung Quốc.

Có những dấu hiệu cho thấy “kinh tế ngầm” – do các thế lực giấu mặt điều hành, thực hiện các thương vụ gây tổn hại cho kinh tế, tài nguyên Việt Nam, kết hợp rất chặt chẽ với đối tác Trung Quốc.

Bà Phạm Chi Lan, cựu Phó Chủ tịch Phòng Thương mại – Công nghiệp Việt Nam, xác nhận, “nếu Trung Quốc đình chỉ quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với Việt Nam, Việt Nam sẽ gặp một số khó khăn” vì Trung Quốc là phía thực hiện rất nhiều dự án ở Việt Nam. Nếu Trung Quốc khiến cho các dự án đó không thể tiến hành bình thường thì Việt Nam sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện các chương trình phát triển. Chưa kể việc trì hoãn hoàn thành các dự án đó còn gây thêm tốn kém.

Một chuyên gia kinh tế khác tên là Bùi Kiến Thành nói thêm, sự phụ thuộc về nguyên liệu, vật liệu, phụ liệu vào Trung Quốc sẽ khiến nhiều ngành công nghiệp lớn, sử dụng nhiều nhân công như may mặc, tê liệt nếu Trung Quốc “cắt đứt quan hệ kinh tế”, bởi đa phần vật liệu của những ngành này nhập cảng từ Trung Quốc. Ông Thành lưu ý, Trung Quốc đang đảm nhận việc thi công tất cả những nhà máy điện lớn nhất tại Việt Nam nên phải xem xét chúng ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng, kinh tế Việt Nam như thế nào.

Để đối phó với “tình huống xấu nhất”, các chuyên gia kinh tế cho rằng, chính quyền Việt Nam phải sớm có giải pháp phát triển nội lực của doanh giới, xã hội. Xây dựng, củng cố những mối quan hệ khác với các quốc gia trong khu vực, với Nhật, Nam Hàn. Xích lại gần hơn với Liên minh châu Âu (EU). Tìm kiếm sự đồng thuận để trở thành một bên trong Hiệp định hợp tác Kinh tế chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Ông Phạm Qúy Thọ tin rằng, đó sẽ là một trong những nội dung chính trong cuộc gặp giữa Ngoại trưởng Việt Nam và Ngoại trưởng Hoa Kỳ khi ông Phạm Bình Minh đến Hoa Kỳ theo lời mời của ông John Kerry. (G.Đ)

 

Việt Nam họp báo công bố bằng chứng chủ quyền Hoàng Sa, Trường sa

Việt Nam họp báo công bố bằng chứng chủ quyền Hoàng Sa, Trường sa

RFA

23.05.2014

NDDD-305.jpg

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, Ông Lê Hải Bình phát biểu tại buổi họp báo công bố bằng chứng chủ quyền Hoàng Sa, Trường sa hôm 23/5 tại Hà Nội.

Courtesy TNO

Việt Nam tổ chức cuộc họp báo quốc tế lần thứ ba về tình hình tại khu vực Biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam.

Tin cho biết, cuộc họp báo được bắt đầu từ vào lúc 4 giờ chiều hôm nay. Chủ trì cuộc họp báo có ông Lê Hải Bình, quyền Vụ trưởng Vụ Thông tin báo chí, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam; đại tá Ngô Ngọc Thu, Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Cảnh sát Biển Việt Nam; bà Nguyễn Thị Thanh Hà, hàm vụ trưởng Vụ Luật Pháp Quốc tế Bộ Ngoại giao Việt Nam; ông Trần Duy Hải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên Giới, Bộ Ngoại giao Việt Nam; ông Đỗ Văn Hậu, Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.

Nội dung chính của cuộc họp báo quốc tế hôm nay của Việt Nam được cho biết công bố bằng chứng chứng minh Hoàng Sa, Trường sa là của Việt Nam.

Ông Trần Duy Hải, phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới, Bộ Ngoại giao Việt Nam lặp lại tại cuộc họp báo là từ nhiều thế kỷ nay các triều đại phong kiến Việt Nam đã khẳng định chủ quyền một cách hòa bình, liên tục đối với quần đảo Hoàng Sa. Sau này Pháp thay mặt Việt Nam quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ông này cũng nhắc lại việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này tại Hội nghị San Francisco năm 1951 về chủ quyền biển đảo của các quốc gia sau Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Vào ngày 7 tháng 5, Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức cuộc họp báo quốc tế lần thứ nhất nói về việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng biển Việt Nam. Ngày 17 tháng 5, cuộc họp báo quốc tế lần thứ hai cũng do Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức nói về việc bảo đảm trật tự, trị an tại một đố địa phương trên cả nước, an toàn cho người dân và các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài sau đợt bạo động vào các ngày 13 và 14 tháng 5 tại các khu công nghiệp như ở Bình Dương và Hà Tĩnh.

Tranh chấp biển đảo: Tư lệnh Mỹ tố cáo chiến lược « ăn cả » của Trung Quốc

Tranh chấp biển đảo: Tư lệnh Mỹ tố cáo chiến lược « ăn cả » của Trung Quốc

Đô đốc  Samuel Locklear, Tư lệnh Lực lượng Mỹ tại vùng Thái Bình Dương

Đô đốc Samuel Locklear, Tư lệnh Lực lượng Mỹ tại vùng Thái Bình Dương

REUTERS

Trọng Nghĩa

Nhân một diễn đàn về an ninh châu Á mở ra hôm nay, 23/05/2014 tại Manila, Tư lệnh lực lượng Mỹ vùng Thái Bình Dương đã nhấn mạnh nhu cầu thỏa hiệp và đối thoại giữa các bên có tranh chấp lãnh thổ tại các vùng biển Châu Á. Trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền đang căng thẳng giữa Trung Quốc với các láng giềng Việt Nam, Philippines và Nhật Bản tại Biển Đông và Hoa Đông, Đô đốc Samuel Locklear đã lên tiếng cảnh báo chống lại chiến lược được ông gọi là « ăn cả (winner-take-all) » hay là độc chiếm mà nhiều nước cho là Bắc Kinh đang sử dụng.

Là diễn giả trong phiên họp về chủ đề an ninh châu Á trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Thế giới khu vực Đông Á, tổ chức ở Manila, chỉ huy trưởng Hạm đội Mỹ vùng Thái Bình Dương đã thẩm định rằng châu Á đang biến thành một khu vực bị « quân sự hóa mạnh nhất » trên thế giới hiện nay, đồng thời là vùng có tăng trưởng kinh tế rất nhanh. Tình hình đó nêu bật tầm quan trọng của đối thoại để đảm bảo sao cho tranh chấp không dẫn đến xung đột vũ trang.

Sau khi cho rằng : « Điều quan trọng nhất là ý chí tôn trọng các quy định của luật pháp, tham gia các diễn đàn quốc tế để giải quyết các vấn đề và giải quyết tranh chấp… », Đô đốc Locklear kết luận : « Ta không thể có một thái độ người thắng ăn cả. (Giải pháp cho tranh chấp) sẽ đòi hỏi sự thỏa hiệp, sẽ đòi hỏi đối thoại ».

Trong phát biểu của mình, Tư lệnh Lực lượng Mỹ tại vùng Thái Bình Dương đã nói đến một loạt những tranh chấp chủ quyền khác nhau ở Biển Đông và Biển Hoa Đông, tồn tại từ hàng chục năm nay, nhưng đã căng thẳng hẳn lên trong thời gian gần đây trước các hành động bị đánh giá là ngày càng quyết đoán của Trung Quốc.

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên hầu hết Biển Đông, ngay cả tại các vùng biển cách xa đất liền Trung Quốc cả ngàn cây số và nằm sát bờ biển của các nước láng giềng như Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei.

Sau những chỉ trích của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Đô đốc Locklear dĩ nhiên đã lên tiếng bảo vệ nỗ lực của Mỹ trong việc xây dựng các liên minh an ninh ở châu Á, kể cả với các nước có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc. Đối với vị Tư lệnh Mỹ, các liên minh, đó, mà một số có từ cuối Đệ nhị Thế chiến, đã bảo đảm cho an ninh toàn khu vực, và góp phần giúp khu vực cường thịnh về kinh tế. Theo ông chính Trung Quốc cũng được hưởng lợi nhờ tình hình an ninh đó, chứ không riêng gì Hoa Kỳ.