Lương tối thiểu ở Việt Nam không đủ ‘nhu cầu tối thiểu’

Lương tối thiểu ở Việt Nam không đủ ‘nhu cầu tối thiểu’

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) .- “Lương tối thiểu mới đáp ứng hơn 1/3 nhu cầu tối thiểu” tức là cán bộ công chức của chế độ không thể sống với cái mức lương ít ỏi như thế, nhưng guồng máy vẫn không chết.

Lương tối thiểu của cán bộ công chức CSVN “chỉ đáp ứng hơn 1/3 nhu cầu tối thiểu”. (Hình Người Đưa Tin)

Hôm 9 tháng 3, 2015, phó thủ tướng Vũ Văn Ninh chủ trì cuộc họp “triển khai nhiệm vụ năm 2015” của “Ban chỉ đạo quốc gia về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công”.

Tại cuộc họp này, ông Ninh nghe đọc báo cáo “hiện mức lương cơ sở cho cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang được thực hiện từ giữa năm 2013 là 1 triệu 150 ngàn đồng/tháng, mới chỉ đạt 44,2% so với mức lương tối thiểu bình quân của 4 vùng của khu vực DN (2,6 triệu đồng/tháng) và 35,6% so với mức chi cho nhu cầu tối thiểu (3,23 triệu đồng/tháng), theo tường thuật của Vietnamnet.

Tiền lương cán bộ công chức CSVN không đủ sống không phải là chuyện mới xảy ra mà đã kéo dài từ bao năm qua. Nhà cầm quyền trung ương loay hoay tìm nguồn để tăng lương nhưng không tìm đâu ra ngoài cách bán thêm công khố phiếu, in thêm tiền, nâng mức nợ công năm sau cao hơn năm trước.

Vietnamnet cho hay “Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh đánh giá cải cách tiền lương là công việc khó khăn nhưng trong 2 năm qua, công tác này có những chuyển biến lớn. Đó là các chỉ đạo không tăng tổng biên chế nhà nước, số tuyển vào bằng một nửa so với số về hưu hay điều chuyển công tác…”

Lời “đánh giá” của ông Vũ Văn Ninh trái ngược hoàn toàn với một bài viết hồi giữa Tháng Hai vừa qua của tờ ‘Giáo dục Việt Nam’. Trên tờ báo này, người ta thấy guồng máy hành chánh của chế độ mỗi ngày một phình to ra, dù năm nào cũng có những cuộc họp “tinh giản biên chế”, đưa ra các tiêu chí giảm nhân sự, gạt bỏ những kẻ dôi dư ăn bám mà lấy tiền tăng lương cho những người làm việc thật sự.

“Nếu chỉ tính riêng khối cơ quan hành chính nhà nước thì tăng từ 238,668 năm 2007 lên 275,620 năm 2014 (tức là tăng 36,952 người, tỷ lệ 15.48%).” Báo GDVN ngày 18/2/2015 viết.

Theo tờ GDVN, cán bộ, công chức chính thức ăn lương nhà nước từ cấp huyện trở lên (không kể Công an, Quân đội) tăng từ 346,379 năm 2007 lên 396,371 năm 2014 (tăng 49,992 người, tỷ lệ 14.43%). Tổng số cán bộ, công chức, người hoạt động “không chuyên trách” ở cấp xã hiện nay là trên 1.2 triệu người. Con số nhân sự của “các đơn vị sự nghiệp công lập” tăng nhanh, từ 1.63 triệu người năm 2010 lên 2.31 triệu người năm 2014.

Không thấy ông Vũ Văn Ninh trong phiên họp ngày 9/3/2015 đề cập cụ thể gì đến việc tăng lương cho cán bộ công chức nằm nay dù biết lương căn bản của họ chỉ đủ cho một phần ba các nhu cầu tối thiểu. Những gì ông nêu ra trong cuộc họp đều là những giải pháp “giật gấu vá vai” để có thể “nghiên cứu nguồn để điều chỉnh tiền lương”.

Trong phiên họp trước khi biểu quyết đề án ngân sách mới của chế độ, ngày 24/10/2014, một bà đại biểu quốc hội than rằng “Muốn có 40,000 tỉ đồng để cải cách tiền lương theo đúng lộ trình không tìm đâu ra được”, báo VietnamNet kể lại.

Nhà cầm quyền Việt Nam ở trong vòng luẩn quẩn. Cần phải cắt bỏ hàng trăm ngàn cán bộ dôi dư bị coi là đám ăn bám “sáng cắp ô đi tối cắp về” lên tới khoảng 840,000 người như sự thú nhận của ông phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, lấy tiền đó tăng lương. Nhưng bộ máy ngày càng phình to ra chứ không phải “tinh giản”, tức là nói một đàng làm một nẻo.

“… nói thì rất hay, nhưng làm thì chưa được.” Bài viết ngày 24/10/2014 viết về cái vòng luẩn quẩn gỡ không được của chế độ Hà Nội là “Ẩn đằng sau cái không làm được này chính là câu chuyện lợi ích: lợi ích cá nhân, lợi ích bè bạn, đồng nghiệp, lợi ích gia đình, lợi ích cấp trên… và bây giờ còn thêm câu chuyện lợi ích nhóm. Chính những cái này đang làm cho hệ thống hành chính của chúng ta mang dấu ấn của một hệ thống hành chính “quan hệ”.

Ngày 7 tháng 12 năm 2013, khi tiếp xúc với cử tri Quận Ba Đình, ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng CSVN và cũng là “đại biểu nhân dân” giải đáp thắc mắc của cử tri quận Ba Đình về con số công chức không làm được việc, biên chế chỉ tăng chứ không giảm là “Bộ máy đúng là cồng kềnh”.

Lương tối thiểu chỉ đáp ứng một phần ba của nhu cầu sống căn bản thì tại sao guồng máy hành chánh của chế độ Hà Nội không chết? Lại vẫn có những cuộc thi tuyển hàng trăm hàng ngàn người nộp đơn.

“Nạn tham nhũng ở Việt Nam là nghiêm trọng, với những biểu hiện vừa tinh vi, phức tạp, vừa trắng trợn, lộ liễu, xảy ra trên nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành, có những điểm giống và khác nhau so với tình hình tham nhũng ở các nước khác, nhưng đặc điểm nổi bật là tính phổ biến…. Nhiều khi pháp luật bị ‘vô hiệu hóa’ khi đụng đến tham nhũng!”

Đó là theo đánh giá của Tổ chức minh bạch quốc tế nêu ra trong một cuộc hội thảo về tình trạng tham nhũng tại Việt Nam diễn ra ở Hà Nội hồi tháng 9 năm 2012, VNExpress tường thuật. (TN)

Bắc Kinh: ‘Biển Đông là sân riêng của Trung Quốc’

Bắc Kinh: ‘Biển Đông là sân riêng của Trung Quốc’

Nguoi-viet.com

BẮC KINH (NV) – Đó là tuyên bố của ông Vương Nghị, ngoại trưởng Trung Quốc, đáp lại những chỉ trích về việc Trung Quốc bồi đắp nhiều bãi đá ngầm thành đảo nhân tạo, xây dựng các căn cứ ở Biển Đông.

Bãi đá Gạc Ma ở quần đảo Trường Sa nay đã được Trung Quốc biến thành một căn cứ quân sự. (Hình: Tân Hoa Xã)
Tại một cuộc họp báo quốc tế diễn ra hôm 8 tháng 3 ở Bắc Kinh, tuy xác định chính sách của Trung Quốc đối với biển Đông và các lân bang không thay đổi, song ngoại trưởng Trung Quốc công khai khẳng định, vì biển Đông là “nhà” và là “sân riêng” của Trung Quốc, Trung Quốc có quyền làm tất cả những gì mình muốn trong khu vực thuộc về mình.

Ông Vương Nghị tuyên bố, Trung Quốc không giống như một số quốc gia đã “xây dựng trái phép trong nhà của người khác” nên “không chấp nhận những chỉ trích từ người khác khi chỉ xây dựng trên sân riêng của Trung Quốc.”

Tuyên bố của ông Vương Nghị khiến nhiều giới sửng sốt. Ông Thayer – một chuyên gia về Châu Á, làm việc tại Học Viện Quốc Phòng Úc, nhận định, đây có lẽ là lần đầu tiên Trung Quốc mô tả các thực thể địa lý ở Biển Đông như là “nhà” và “sân riêng” của mình. Ông Thayer bảo rằng, tuyên bố vừa kể của ngoại trưởng Trung Quốc, vừa thô bạo, ngạo mạn, vừa sai với lịch sử. Trong quá khứ, chính Trung Quốc mới là phía chiếm “nhà” và “sân” của người khác.

Ông Thayer nhấn mạnh, chỉ vài ngày nữa là tròn 27 năm ngày xảy ra sự kiện Trung Quốc cưỡng đoạt bãi đá ngầm Gạc Ma của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa (14 tháng 3 năm 1988). Trong cuộc trò chuyện với RFI, ông Thayer khẳng định, đó là hành vi xâm lược trắng trợn nhưng lại không bị cộng đồng quốc tế trừng phạt nên Trung Quốc tiếp tục chiếm thêm nhiều bãi đá ngầm khác tại quần đảo Trường Sa.

Tuyên bố của ngoại trưởng Trung Quốc được xem là sự leo thang về yêu sách chủ quyền, chuyển từ việc “khẳng định chủ quyền lịch sử” đối với các đảo và “vùng biển tiếp giáp,” sang tuyên bố quyền sở hữu đối với với các thực thể như các bãi đá ngầm hay rạn san hô.

Tuyên bố này còn được xem là một kiểu “hù dọa” ASEAN để cô lập Philippines và Việt Nam. Theo ông Thayer, các thành viên “nhút nhát, hay lo” của ASEAN sẽ được khuyên nhủ là phải tự kiềm chế và việc tham khảo ý kiến Trung Quốc về Bộ Quy Tắc Ứng Xử Trên Biển Đông (COC) sẽ bất tận.

Việc Trung Quốc mở rộng diện tích các đảo nhân tạo và tăng năng lực kiểm soát – cưỡng chế đồng nghĩa với việc thay đổi “thực tế tại hiện trường” và vì vậy sẽ biến mọi quyết định của Tòa Án Trọng Tài Về Luật Biển theo đơn kiện của Philippines trở thành vô nghĩa. (G.Đ)

TÌNH NGHĨA CỦA ĐÔI CHIM NHẠN

TÌNH NGHĨA CỦA ĐÔI CHIM NHẠN

***

Một con chim nhạn bay lượn thấp là đà ngang qua đường phố

bị một chiếc xe đụng phải. Nàng chim mái nầy bị thương nặng và đang chờ chết.

Chàng chim trống sà xuống mang theo thức ăn và tận tình lo lắng.

Chàng bay đi rồi trở lại mang thêm thức ăn cho nàng, nhưng nàng đã nằm bất động.

Chàng cố lung lay gọi nàng …. một hành động hiếm thấy từ loài chim nhạn.

Khi nhận ra rằng nàng đã ra đi, vĩnh viễn không bao giờ trở lại,

chàng khóc rống thảm thiết bi thương.

Tiếng khóc vang vang của loài chim nhỏ bé, nhưng nỗi bi ai xé lòng không kém một sinh vật nào. Đứng cạnh xác nàng, chàng buồn thảm và tan nát cả cõi lòng … biết đến bao giờ?

động vật thì chả có đầu óc và cũng chẳng có cảm xúc nào ….?

Hàng triệu người khắp Mỹ, Âu, Á đã không cầm được nước mắt khi nhìn thấy những bức ảnh nầy.

Người chụp bán những bức ảnh nầy cho một tờ báo nổi tiếng bên Pháp. Ngay ngày hôm đó số báo được bán sạch. Người muốn tìm xem ảnh phải lên các website.

Đà Nẵng bán đứt núi Bà Nà cho tập đoàn Sun Group

Đà Nẵng bán đứt núi Bà Nà cho tập đoàn Sun Group

Nguoi-viet.com

ĐÀ NẴNG 8-3 (NV) .- Dân chúng Việt Nam, đặc biệt là dân chúng thành phố Đà Nẵng đang chỉ trích kịch liệt việc nhà cầm quyền thành phố Đà Nẵng bán đứt khu vực núi Bà Nà cho Tập đoàn Sun Group.

Trạm gác chặn người và xe không cho tự đi lên Bà Nà. (Hình: Tuổi Trẻ)

Bà Nà cao khoảng 1,400 mét, thuộc địa phận huyện Hòa Vang cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 30 cây số. Nổi tiếng vừa vì đẹp, vừa vì thời tiết độc đáo: Mỗi ngày có nét đặc trưng của cả bốn mùa riêng biệt, buổi sáng giống như mùa Xuân, buổi trưa giống như mùa Hè, buổi chiều giống như mùa Thu và đêm xuống chẳng khác gì mùa Đông.

Mới đây, Tập đoàn Sun Group đã quyết định đóng con đường dài khoảng 15 cây số dẫn lên Bà Nà. Muốn thăm Bà Nà phải dùng hệ thống cáp treo dài khoảng 5,000 mét. Nếu là dân Đà Nẵng, phí dùng cáp treo là 350,000/người/chuyến đi – về. Không phải dân Đà Nẵng thì phải trả 500,000//người/chuyến đi – về.

Dân chúng thôn An Sơn, xã Hòa Ninh, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng – nơi có tỉnh lộ 602 (tên con đường dẫn lên Bà Nà) cho biết, bất cứ ai muốn dùng tỉnh lộ 602 phải xin phép và được Ban Quản lý Khu du lịch Bà Nà đồng ý.

Thậm chí theo tờ Tuổi Trẻ, ngay cả các nhân viên kiểm lâm của Ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa bao quanh Khu Du lịch Bà Nà, cũng phải xin phép Ban Quản lý Khu du lịch Bà Nà để dùng tỉnh lộ 602.

Ông Nguyễn Điểu, Giám đốc Sở Tài nguyên – Môi trường thành phố Đà Nẵng, giải thích, trước đây, Đà Nẵng giao cho nhiều nhà đầu tư cùng khai thác các dịch vụ tại Khu du lịch Bà Nà nên khu vực này trở thành manh mún, không theo chiến lược nào cả.

Sau đó thì Tập đoàn Sun Group tìm tới và bỏ tiền làm tuyến cáp treo chạy từ chân lên đỉnh Bà Nà. Do Tập đoàn Sun Group có khả năng, Đà Nẵng đã quyết định giao toàn bộ Khu du lịch Bà Nà cho Tập đoàn Sun Group khai thác (bán một phần để Tập đoàn Sun Group xây dựng biệt thự nhằm bán lại, phần khác thì cho tập đoàn này thuê).

Ông Điểu tiết lộ, sắp tới Đà Nẵng sẽ giao toàn bộ rừng Bà Nà – Núi Chúa, kể cả rừng nguyên sinh cho Tập đoàn Sun Group quản lý.

Ông Điểu xác nhận với tờ Tuổi Trẻ rằng, Đà Nẵng đã giao cho Tập đoàn Sun Group quản lý luôn tỉnh lộ 602 và tập đoàn này dùng con đường đó để vận chuyển thiết bị, vật tư phục vụ các công trình xây dựng nên nó trở thành nguy hiểm cho du khách.

Theo ông Điểu, Tập đoàn Sun Group đã đầu tư khoảng 500 triệu Mỹ kim vào Khu Du lịch Bà Nà nên có ưu đãi như vậy thì tập đoàn này mới sớm thu hồi được vốn, chứ chỉ dựa vào nguồn thu từ dịch vụ du lịch thì rất khó cho doanh nghiệp.

Trước thắc mắc của nhiều người: Họ đã từng góp tiền xây dựng chùa Linh Ứng nhưng tại sao, nay muốn đến chùa phải mua vé của Khu du lịch mới được vào? Ông Võ Văn Thương – Chánh Văn phòng thành phố Đà Nẵng, bảo rằng, chùa Linh Ứng nằm trong quần thể Khu Du lịch Bà Nà mà chính quyền thành phố này đã giao cho Tập đoàn Sun Group đầu tư và quản lý nên… “khó bóc tách ra được”. (G.Đ.)

Tiền Giang: Chuẩn bị tẩm liệm thì sống lại

Tiền Giang: Chuẩn bị tẩm liệm thì sống lại

TIỀN GIANG 8-3 (NV) –  Một người đàn ông bị bệnh viện trả về, gia đình chuẩn bị tang lễ thì được cứu sống trở lại nhờ một người khách viếng, theo tin tờ Dân Việt hôm Chủ Nhật 8/3/2015.

Ông Nguyễn Văn Đạo (bên phải) tươi cười bên ân nhân cứu mạng Phạm Tấn Lộc.(Hình: Dân Việt)

“Người đàn ông đột quỵ, bị bệnh viện trả về gia đình lo hậu sự. Trong lúc chờ tẩm liệm, một người khách đến viếng sờ thử vào ngực thấy ấm liền nhấn mấy cái rồi đưa đi cấp cứu. Và, “người chết” đã… sống khỏe”.

TỜ Dân Việt kể như vậy và cho hay tiếp rằng, ngày 8/3/2015, theo lời bác sĩ Hồ Văn Bảy – Trưởng khoa Cấp cứu Bệnh viện Quân y 120 Tiền Giang, bệnh nhân Nguyễn Văn Đạo (53 tuổi, ngụ xã Kim Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang) đã bình phục sau 10 ngày được điều trị.

Trước đó, ông Đạo “bị đột quỵ và được gia đình đưa vào cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Long An trong tình trạng hôn mê, nhiều lần ngừng tim, sau đó được bệnh viện này cho về lo hậu sự”.

Nguồn tin trên kể rằng, sáng mùng 4 Tết (tức ngày 22/2/2015), ông Đạo bị đột quỵ tại nhà dì ruột ở thành phố Tân An, tỉnh Long An. Ông được người thân đưa vào cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Long An trong tình trạng hôn mê, nhiều lần ngừng tim. Cuối ngày 22.2, Bệnh viện Đa khoa Long An đồng ý để người nhà đưa ông Đạo về lo hậu sự.

Các bác sĩ điều trị dặn, “khi về nhà rút ống thở, ông Đạo sẽ chết nên gia đình và hàng xóm lập tức dựng rạp, thuê nhạc lễ, mua quan tài chờ sẵn. Sau khi coi “thầy”, gia đình quyết định sẽ tẩm liệm vào 19 giờ 30 ngày 23/2/2015. Trong thời gian chờ tẩm liệm, cả trăm người tụ tập tại nhà ông Đạo để phụ lo hậu sự. Hàng chục người thân quỳ xung quanh tụng kinh”.

Vào buổi trưa ngày 23/2, có ông Phạm Tấn Lộc (cư dân thành phố Mỹ Tho) đến dự đám tang. “Khi lại nhìn mặt ông Đạo lần cuối đã thử sờ lên ngực và thấy ấm nên ông Lộc yêu cầu đưa đi cấp cứu”. Nguồn tin nói vật và nhiều người có mặt tại đám tang không đồng ý vì “sợ khổ người chết lẫn người sống”. Một trong những lý do chính được nêu ra là gia cảnh của ông Đạo rất nghèo.

Tuy nhiên, ông Lộc “cam kết nếu cấp cứu không sống, ông sẽ chịu toàn bộ chi phí và gọi xe đưa ông Đạo đi cấp cứu”, tờ Dân Việt nói.

Nguồn tin kể tiếp rằng, tại Bệnh viện Quân y 120, các bác sĩ chẩn đoán ông Đạo “bị hôn mê do đột quỵ não, viêm phổi và cơ thể suy kiệt nặng do 2 ngày không được ăn uống, nên truyền nước, bù dịch, sinh tố, thực hiện các bước điều trị. Ngày hôm sau thì ông Đạo tỉnh và bình phục dần. Đến ngày 5/3/2015, ông Đạo được cho xuất viện”.

Giải thích với nhà báo, bác sĩ Võ Công Luận – Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Long An – nói: “Ông Đạo nhập viện ngày 22.2 trong tình trạng hôn mê, phải thở máy, có lúc ngưng tim. Chúng tôi đã kiểm tra kỹ và thấy khó có khả năng cứu sống. Chiều cùng ngày, gia đình xin về, bệnh viện đồng ý và cho xe cấp cứu đưa về nhà. Trên đường đi, có lúc ông Đạo ngưng tim, phải đưa trở lại bệnh viện cấp cứu. Việc bệnh nhân này khỏe trở lại đúng là trường hợp hy hữu”.

Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết – vợ ông Đạo – kể: “Nhà tôi nghèo, may mắn là bà con lối xóm đến dự đám ma, thấy ổng không chết nên lấy tiền phúng điếu góp tiền cho ổng đóng viện phí. Ông Phạm Tấn Lộc có 1.3 triệu đồng cũng tạm ứng cấp cứu, rồi cho luôn”.

Nói về trường hợp của ông Đạo, bác sĩ Hồ Văn Bảy chia sẻ: “Nếu ông Đạo được điều trị tích cực ngay từ đầu thì sẽ xuất viện sớm hơn. Thực tế khi ông nhập viện, cơ thể đã suy kiệt trầm trọng. Nếu gia đình chờ tới giờ tẩm liệm, không ai đưa đi cấp cứu chắc chắn ông sẽ chết vì kiệt sức”, báo Dân Việt kể lại. (TN)

Gia đình họ Ngô ‘đáng thương, đáng kính trọng’

Gia đình họ Ngô ‘đáng thương, đáng kính trọng’

BBC

Phần hai cuộc phỏng vấn về cuộc đời bà Ngô Đình Thị Hiệp (1903-2005) nói về quan hệ của bà với người con trai, Hồng y Nguyễn Văn Thuận.

Hồng Y Nguyễn Văn Thuận là người Việt Nam giữ cương vị cao nhất trong Toà thánh Vatican, Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hoà bình, cho tới lúc qua đời.

Ông có xuất thân đặc biệt khi mẹ của ông là em gái của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm.

Không lâu trước ngày Sài Gòn sụp đổ năm 1975, bà Hiệp sang Úc, nhưng con trai bà ở lại và bị chính quyền mới bắt giam trong 13 năm.

Ông Nguyễn Văn Châu, tác giả cuốn sách tiếng Anh về cuộc đời bà Hiệp và gia tộc họ Ngô, A lifetime in the eye of the storm, nói bà Hiệp đau đớn khi nghe tin con bị tù.

“Nhưng bà nói với tôi chuyện đau đớn về con không bằng sự đau khi thấy thuyền nhân chết trên biển cả.”

Năm 1990, hai mẹ con lần đầu gặp nhau sau khi ông Thuận được thả.

Người con trai của bà Hiệp được Vatican phong Hồng y năm 2001, một năm trước ngày qua đời.

Nói về gia tộc họ Ngô, tác giả Nguyễn Văn Châu nói ông hy vọng lịch sử “một ngày cho thấy ông Diệm, ông Nhu là người yêu nước và gia đình bà Hiệp là gia đình đáng thương, đáng tiếc và đáng kính trọng”.

LS Nguyễn Thanh Lương: Công lý tùy thuộc ý muốn của người cầm quyền

LS Nguyễn Thanh Lương: Công lý tùy thuộc ý muốn của người cầm quyền

Luật sư Nguyễn Thanh Lương

Luật sư Nguyễn Thanh Lương

Trà Mi-VOA

07.03.2015

Thêm một luật sư tại Việt Nam buộc phải bỏ nghề sau các hoạt động bênh vực và tranh đấu bảo vệ nhân quyền.

” Cơ chế tam quyền phân lập mà thế giới đã tìm ra 500 năm mà Việt Nam không có, nếu có chỉ là hình thức. Đó là những nguyên lý cơ bản mà tôi tiếc là Việt Nam không có

LS Nguyễn Thanh Lương”

Nhiều năm nay, nguyên Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre Nguyễn Thanh Lương được mọi người biết đến như một luật sư bảo vệ miễn phí cho người nghèo, nông dân, công nhân, và những dân oan bị mất đất đai.

Ông cũng nằm trong số rất ít trong tổng số hàng chục ngàn luật sư trong nước mạnh dạn tham gia các vụ án chính trị ‘nhạy cảm,’ bênh vực những nhà tranh đấu dân chủ, các nhà hoạt động cổ xúy nhân quyền và chống Trung Quốc như trường hợp của sinh viên Nguyễn Phương Uyên-Đinh Nguyên Kha, thầy giáo Đinh Đăng Định, và blogtger Tạ Phong Tần.

Ông vừa tuyên bố từ giã sự nghiệp từng dày công xây dựng và theo đuổi với 20 năm hành nghề luật gồm 4 năm làm luật gia và 16 năm làm luật sư sau 4 năm khởi nghiệp làm thanh tra công an TPHCM.

Quyết định của luật sư Lương tiếp nối sự ra đi của các đồng nghiệp trước đó như Huỳnh Văn Đông, Lê Trần Luật, các bản án của luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Lê Công Định, Lê Quốc Quân, luật gia Phan Thanh Hải, Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, và trường hợp đang bị sách nhiễu của luật sư Võ An Đôn ở Phú Yên một lần nữa khiến dư luận chú ý tới những hiểm nguy, thách thức đối với giới luật sư bênh vực nhân quyền trong nước.

Tạp chí Thanh niên VOA hôm nay có cuộc trao đổi với luật sư Nguyễn Thanh Lương về sự ra đi của ông và những tâm tư trăn trở về giới hạn của vai trò người luật sư trong nền tư pháp còn nhiều lỗ hổng hiện nay.

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: Khát khao của tôi muốn trở lại về nghề trong tương lai, nhưng trước mắt phải ‘tạm dừng’ để chuyển qua một cái nghề khác, đó là nghề công chứng, để nhẹ đi những xung đột, những áp lực. Áp lực là vì mình đã bảo vệ những vụ án chính trị xung đột, đụng chạm, đối kháng với nhà nước, với cơ quan-tổ chức đảng cộng sản. Những phát biểu của tôi có khả năng dẫn tới những chuyện ngoài ý muốn. Cụ thể như điều 258 ‘xâm phạm lợi ích hợp pháp” của tổ chức, công dân, nhưng đối với “lợi ích nhà nước” thì không có khái niệm hợp pháp hay bất hợp pháp gì hết. Cho nên những tiếng nói thẳng, nói thật nếu làm ảnh hưởng tới uy tín nhà nước thì sẽ không tồn tại. Tôi đã thấy những điều đó. Đó là những áp lực nên tôi phải tự rút lui trước. Nghề luật sư có nhiều vấn nạn. Ví dụ như luật sư chỉ được gặp bị can trong trại giam 1 tiếng đồng hồ theo văn bản chỉ đạo của Bộ Công an cách đây 16 năm vẫn tồn tại. Vấn đề đó, theo tôi, đã vi phạm hiến pháp, luật lao động, luật của luật sư, nhưng vẫn tồn tại. Đó là một minh chứng. Rồi ai cản trở, ngăn cấm hoạt động của luật sư thì không có chế tài. Ngược lại, luật sư mà vi phạm sẽ bị xử phạt. Có quy định về hàng trăm hành vi của luật sư/tổ chức luật sư sẽ bị xử lý. Nghề luật sư chưa được đảm bảo quyền hành nghề cho đúng mức.

Trà Mi: Người luật sư có nhiệm vụ bảo vệ người khác, nhưng bản thân họ trong các trường hợp bị trù dập, trả thù, bất công thì luật định ra sao?

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: Tại điều 91 hay điều 6 Luật luật sư có quy định nghiêm cấm các cơ quan, tổ chức, cá nhân cản trở luật sư. Nhưng thực tế không có chế tài. Thế giới luật sư còn nhiều vấn đề trăn trở lắm. Còn những người có quan điểm bất đồng với nhà nước cũng không được quyền xét xử công khai. Người thân của họ và những ai quan tâm đâu có được tham dự phiên tòa. Cái ‘công khai’ đó là nửa vời. Luật sư không được tham gia tố tụng ngay giai đoạn điều tra ban đầu, giai đoạn truy tố.

Trà Mi: Ngoài những trăn trở khi còn hành nghề, bây gìờ ra khỏi nghề rồi, ông có những tâm tư như thế nào?

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: Ra khỏi nghề, hàng ngày tuy làm công chứng nhưng hàng ngày tôi vẫn tư vấn pháp luật miễn phí cho người nghèo, cho dân oan. Tôi vẫn làm với tư cách của một công dân, một luật gia, cũng soạn thảo đơn từ này kia. Nhưng ở đây mình giúp với góc độ khuyến khích của xã hội. Ở quê tôi, người dân sau mấy chục năm nay vẫn khó khăn. Họ cũng không rành phải ký chữ ký như thế nào. Đa số còn nhiều hạn chế, thấy thương, thấy cuộc sống họ sao lao nhọc quá.

Trà Mi: Ông có hối hận gì không trên con đường ông đã đi?

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: ‘Lịch sử không có chữ nếu’. Tôi không có tiếc nuối gì hết. Tôi chỉ trông chờ thời gian, mong mỏi xã hội được cởi mở hơn, ưu ái hơn thì nghề luật sư mới có tiếng nói hơn, mới có hiệu quả, tác dụng. Tiến bộ của pháp luật không có làm ảnh hưởng sự phát triển của xã hội. Bản thân tôi từng tâm huyết với xã hội. Tôi từng đứng đơn tố cáo trạm thu phí Xa lộ Hà Nội ở quận 2 TPHCM. Tới nay trạm này vẫn còn, không ai trả lời tôi hết. Có điều cho tôi biết rằng nếu tôi tố cáo sai thì chắc chắn tôi đã phải trả giá. Ở đây dù không có phản ứng đó, nhưng mong mỏi bảo vệ cho hàng triệu người tiêu dùng hàng ngày bị thu phí oan uổng không đạt kết quả. Điều này làm tôi hiểu rằng công lý chưa hẳn thuộc về lẽ phải, mà nó thuộc về ý chí của người cầm quyền. Tôi hiểu điều đó nên không thể ngây thơ mà tin cậy nhiều quá, thôi phải rút lui. Nếu làm hết lương tâm, chức năng nghề nghiệp của một luật sư tâm huyết thì có thể đi tù.

Trà Mi: Ông nói không hối hận gì, nhưng vuột khỏi tầm tay một sự nghiệp dày công xây dựng và theo đuổi, chắc chắn khó tránh khỏi cảm giác tiếc nuối. Trên suốt chặng đường sự nghiệp, ông tiếc nuối nhất điều gì?

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: Tôi tiếc nuối không riêng cho cá nhân tôi mà cho cả xã hội này. Đó là sự lắng nghe của nhà nước, của những người có thẩm quyền. Bởi vì tất cả những đóng góp, phản biện, bất đồng không có nghĩa là xấu. Nhưng tiếc là những ý kiến đó không được tiếp thu mà thậm chí còn bị tiêu diệt. Tôi tiếc điều đó làm cho xã hội không phát triển.

Trà Mi: Trong số các điểm yếu của pháp luật Việt Nam hiện nay, điểm nào theo ông là cấp thiết cần phải sửa đổi ưu tiên hàng đầu?

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: Nói vấn đề này thì mênh mông lắm. Phải nói từ cái chóp bu, từ nguyên tắc nguyên lý lãnh đạo. Nhiều người cũng đã nói về nguyên lý lãnh đạo của đảng cộng sản, tức điều 4 Hiến pháp, và điều 13 bảo vệ an ninh quốc gia nghiêm cấm các hành vi nhằm xóa bỏ giai trò lãnh đạo của đảng cộng sản. Theo tôi, thời chiến có thể tập trung quyền lực vào thống nhất một đảng, nhưng với thời bình theo quy luật cạnh tranh mà áp dụng độc đảng thì lỗi thời. Thôi thì tôi hy vọng một ngày nào đó những nhà lãnh đạo sẽ xem xét lại theo quy luật của lịch sử. Cơ chế tam quyền phân lập mà thế giới đã tìm ra 500 năm mà Việt Nam không có, nếu có chỉ là hình thức. Đó là những nguyên lý cơ bản mà tôi tiếc là Việt Nam không có.

Trà Mi: Các luật sư bảo vệ những tiếng nói trái chiều hay thể hiện quan điểm bất đồng với nhà nước thường gặp rủi ro, hoặc đi tù, hoặc bị trù dập, hoặc phải bỏ nghề. Ông nghiệm ra điều gì từ thực tế này?

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: Tôi nghiệm ra điều thúc đẩy xã hội phát triển hay kiềm hãm chính là chính trị. Đối với luật sư, tuy tôi nghỉ rồi, nhưng tôi vẫn mong mỏi các cơ quan thấy được chỗ tồn tại yếu kém, cụ thể là nghị định 98 cho phép luật sư chỉ tham gia có 1 giờ, hai là các chế tài đối với luật sư thì quá nhiều mà bảo vệ thì không có. Điều này tôi đã vận động nhiều trên các tờ báo của nhà nước, nhưng tiếng nói đó tôi thấy còn lạc lõng quá.

Trà Mi: Nhìn vào các trường hợp luật sư bị nhắm mục tiêu, nhiều người cho rằng nghề luật sư trong nước là một nghề nguy hiểm, nhưng có người phản biện rằng hàng chục ngàn luật sư hành nghề đó có sao đâu, chẳng qua chỉ là mấy ông luật sư ‘chống đối’ ‘cá biệt’ mới bị thế thôi. Ý kiến luật sư thế nào?

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: Nếu luật sư làm hết tâm huyết mà không nhìn trước, nhìn sau thì đương nhiên sẽ bị chuốc hậu quả. Còn những luật sư không có tâm huyết, theo kiểu quân bình chủ nghĩa thì sẽ không gặp rủi ro. Nhưng xã hội cần phải có những người tiên phong, những người cất tiếng thì mới phát triển được. Còn những người toan tính, thủ lợi thì đương nhiên họ sẽ yên ổn hơn. Trong một xã hội còn nhiều trăn trở, biến động, nhiều vấn đề về đạo đức, về vật chất thì sẽ có những tình huống như vậy.

Trà Mi: Các hành vi mà nhà nước gọi là ‘chống đối’, ‘chống tham nhũng’, ‘chống tiêu cực’ đều có kết cục khá buồn. Không chống gì cả thì yên thân, có phải đây là con đường ông đang lựa chọn?

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: Không. Tôi lựa chọn làm nghề công chứng cũng là một hình thức tôi giúp người dân. Tham gia một số vụ án chính trị về xâm phạm an ninh quốc gia, tôi đủ hiểu, nó giống như một thước đo về văn minh, tiến bộ xã hội. Nếu mình không  nhìn hết mà cứ tiếp tục thì sẽ bị trượt dốc đến cái điều xấu nhất. Thành ra tôi phải tự điều chỉnh lấy.

Trà Mi: Có thể hiểu nôm na là mình điều chỉnh xã hội không được thì tự điều chỉnh mình cho thích hợp với xã hội?

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: Dạ đúng vậy.

Trà Mi: Nhưng nếu mỗi người tự điều chỉnh mình theo xu hướng chung của xã hội như vậy thì liệu xã hội này sẽ đi về đâu, ông có bao giờ suy nghĩ tới điều đó?

“… Xã hội cần phải có những người tiên phong, những người cất tiếng thì mới phát triển được. Còn những người toan tính, thủ lợi thì đương nhiên họ sẽ yên ổn hơn. Trong một xã hội còn nhiều trăn trở, biến động, nhiều vấn đề về đạo đức, về vật chất thì sẽ có những tình huống như vậy

LS Nguyễn Thanh Lương”

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: Có, nhưng mọi việc tôi nghĩ phải chờ thời gian. Nhanh hay chậm, trả giá đắt hay ít để lịch sử xem xét.

Trà Mi: Cách đây hơn chục năm không nghe tới khái niệm luật sư nhân quyền, giờ đã có. Nhưng liệu nó có phát huy rộng rãi thành đoàn luật sư nhân quyền, hội luật sư nhân quyền, hay thậm chí là hiệp hội luật sư nhân quyền hay không trước những áp lực, trở ngại hiện nay mà ông là một trong những người đã gặp rồi buộc phải rút lui?

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: Có thể xã hội sẽ tự phát lên vì nhu cầu, nhưng cũng sẽ có những sự cọ xát nhiều. Nhà nước không thay đổi, cởi mở chính sách thì đương nhiên phải vậy thôi vì đó là quy luật. Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh.

Trà Mi: Với những bạn trẻ đang hành nghề hoặc mới vào nghề, ông có tâm tình gì muốn chia sẻ, một luật sư bảo vệ người nghèo đã phải ‘cáo quan về ở ẩn’?

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: Mong sao các bạn sống và hành nghề sao cho không hổ thẹn với lương tâm là được. Cá nhân tôi, trước khi vào nghề, tôi nghĩ hành nghề để tạo một cuộc sống ấm no gia đình vì bản chất tôi là một nông dân, tôi muốn cải tạo số phận đi lên hòa nhập, bình đẳng với mọi người trong xã hội. Nhưng sau khi vào nghề, tôi có khuynh hướng quan tâm về xã hội, cộng đồng, và người nghèo nhiều hơn. Đôi khi tôi còn muốn xả thân quên đi sinh mạng của mình nữa.

Trà Mi: Lúc hành nghề ông tự thấy mình thay đổi rất nhiều, muốn đóng góp cho xã hội. Giờ ra khỏi nghề rồi, ông có hy vọng gì không?

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: Ra khỏi nghề rồi, nguyện vọng ấp ủ của tôi vẫn canh cánh còn đó. Tôi vẫn hy vọng một ngày nào đó môi trường pháp lý cho luật sư hoạt động được thông thoáng hơn bởi vì lúc đó thao tác của luật sư mới có tác dụng nhiều hơn. Nói cụ thể, từ ‘dân chủ’ không xuất xứ từ Việt Nam. Nó là những từ ngữ từ bên ngoài du nhập vào. Cho nên, khái niệm đó hơi xa lạ, là điều mới mẽ, là sự vận động phát triển của xã hội chứ không phải đương nhiên mà có đâu.

Trà Mi: Cảm ơn luật sư rất nhiều đã dành thời gian cho cuộc trao đổi này. Mong ông đạt thành hy vọng của mình trong thời gian sớm nhất.

Làm đơn xin vào bãi nhặt rác mưu sinh

Làm đơn xin vào bãi nhặt rác mưu sinh

Trên bãi rác ngập đến đầu người bốc mùi hôi thối, hàng trăm người vẫn trèo lên đào bới, tìm kiếm ve chai bán lấy tiền sinh sống qua ngày.

Làm đơn xin vào bãi nhặt rác mưu sinh
Từ sáng sớm, hàng chục chiếc xe nối đuôi nhau đưa rác từ trung tâm TP về bãi Khánh Sơn (phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng). Khi xe đổ rác xuống bãi, hàng trăm người dân ở các phường Hòa Khánh Nam, Hòa Khánh Bắc ào tới tranh nhau lùng sục, đào bới tìm bất cứ thứ gì có thể bán được. Mỗi ngày bãi Khánh Sơn tiếp nhận hơn 700 tấn rác thải của người dân TP.
Tại bãi rác này thường xuyên có hơn 100 người hành nghề nhặt rác để nuôi sống bản thân và gia đình họ. Mỗi ngày bãi rác Khánh Sơn tiếp nhận hơn 700 tấn rác thải của người dân toàn TP Đà Nẵng.
Dụng cụ bới rác là một chiếc cuốc 3 chĩa nhỏ. Những người này lượm từng bao nylon, giấy vụn, phế liệu, chai nhựa… thậm chí cả xương động vật, thức ăn thừa.
cho biết hầu hết các loại rác thải nhặt được đều có thể bán. Vừa nói, bà Lan vừa phân loại từng thứ một, bao ni-lông hay gọi là lông giòn bán 800 đồng/kg, sắt phế liệu thì tùy loại có giá khác nhau, xương (heo, bò) cũng có giá 800 đồng/kg…
Sau khi rác được phân loại, họ mang bán cho các cơ sở thu gom. Theo đó, 1 kg nylon có giá 800 đồng, xương heo và bò 800 đồng/kg, còn sắt phế liệu thì tùy từng loại có giá khác nhau…
Ban đầu chỉ có vài người tìm đến mưu sinh nhưng càng về sau hình thành cả đội quân chuyên nhặt rác. Trong đó, có những gia đình cả cha mẹ, con cái nối tiếp nhau với nghề .
Ban đầu chỉ vài người tìm đến mưu sinh nhưng càng ngày càng nhiều, có những gia đình cả cha mẹ, con cái nối tiếp nhau sống với nghề lượm phế liệu ở Khánh Sơn.
Ông Hà Văn Thái - Giám đốc xí nghiệp cho biết, về nguyên tắc là sẽ cấm người dân nhặt rác, nhưng do những người nhặt rác tại bãi rác này phần lớn là dân địa phương, có hoàn cảnh nghèo khó nên đã cho họ làm đơn xin nhặt rác.
“Vẫn biết rất nguy hiểm và lây nhiễm bệnh tật nhưng vì nghèo khó nên chúng tôi phải chấp nhận sống trên bãi rác này chứ biết làm gì bây giờ”, ông Nguyễn Văn Đắc (trú Hòa Khánh Nam) cho hay. Theo tìm hiểu, nhiều người đã có hơn 20 năm làm nghề nhặt rác ở bãi này.
Nhiều gia đình có vợ, chồng và các con đều nhặt rác ở đây. Theo lời kể của họ thì trước đây họ đều làm nông. Nhưng sau đó chính quyền đã thu hồi ruộng của họ để quy hoạch bãi rác này (khoảng 38 ha) nên họ phải lên đây nhặt rác mưu sinh.
“Ai cũng nói sao không kiếm cái nghề gì sạch sẽ hơn chút để làm tiền, thiếu gì chỗ mà chui lên bãi rác bẩn thỉu này. Nhưng nhìn rứa chứ bãi rác này nuôi sống được biết bao nhiêu gia đình. Đây không phải là nghề xấu xa nên tôi không ngại gì”, một người nhặt rác nói. Ông Hà Văn Thái – Giám đốc xí nghiệp Quản lý bãi và xử lý chất thải Đà Nẵng (thuộc công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Đà Nẵng) cho biết về nguyên tắc là cấm người dân vào bên trong, nhưng do những người nhặt rác ở đây phần lớn là dân địa phương, nghèo khó nên… ai làm đơn thì xí nghiệp cho vào.
Ông Hà Văn Thái, Giám đốc xí nghiệp cho biết thêm, những người nhặt rác đều rất thật thà. Có những trường hợp họ nhặt được sổ đỏ, sổ hộ khẩu… họ đều tìm đến tận nơi để nộp mà không hề đòi hỏi gì cả.
Ông Thái cho biết thêm, những người nhặt rác đều rất thật thà. Nhiều lần họ nhặt được sổ đỏ, sổ hộ khẩu… đều tìm đến tận nơi để giao lại mà không hề đòi hỏi gì cả.
Làm đơn xin vào bãi nhặt rác mưu sinh
Theo ông Thái, việc người dân vào bãi rác để mưu sinh không có phương tiện bảo hộ rất dễ sinh bệnh. “Nếu cấm người dân nhặt rác cũng đồng nghĩa chặn hết đường sống của họ. Nguyện vọng của tôi là muốn TP đầu tư dây chuyền xử lý và phân loại rác. Lúc đó, chính quyền có thể tận dụng người nhặt rác làm công đoạn phân loại thủ công để cuộc sống của họ không bấp bênh như hiện nay ”, ông Thái tâm tư.
Những người nhặt rác thường ăn, ngủ luôn tại bãi rác. Họ làm từ mờ sáng và đến tối mới về nhà.
Những người này làm từ mờ sáng đến tối mới về nhà.
Sau khi ăn cơm trưa, họ tranh thủ tìm chỗ hạ lưng nghỉ ngơi ngay tại bãi rác rồi sau đó lại tiếp tục làm việc.
Sau khi ăn cơm trưa, họ tranh thủ tìm chỗ nghỉ ngơi ngay tại bãi rác, sau đó lại tiếp tục làm việc.
Phóng to 

Bà Lê Thị Tuyết Mai, Phó Chủ tịch UBND phường Hòa Khánh Nam, cho biết địa phương rất khó xử trong việc tính toán phương án thay đổi ngành nghề cho những người nhặt rác ở Khánh Sơn. Phần lớn những người nhặt rác đều có trình độ thấp và đã lớn tuổi nên khó tìm được công việc thích hợp.

Theo bà Lê Thị Tuyết Mai, Phó Chủ tịch UBND phường Hòa Khánh Nam, địa phương rất khó xử trong việc tính toán phương án thay đổi ngành nghề cho những người nhặt rác ở Khánh Sơn. Phần lớn họ đều có trình độ thấp và lớn tuổi nên khó tìm được công việc phù hợp

Rồi tất cả sẽ trở thành Đồ Sơn

Rồi tất cả sẽ trở thành Đồ Sơn

Đặng Hoàng Giang Gửi tới BBC Tiếng Việt từ Hà Nội

  • 4 tháng 3 2015

BBC

Cảnh phân phát quà cho trẻ em dân tộc thiểu số

Từ sau khi đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai khánh thành, lượng khách tới Sapa tăng đột biến. Dịp Tết Nguyên đán vừa rồi, ô tô và xe khách biển số 29 và 30 chen chúc nhau nhích từng tí một trên những con phố dốc và hẹp ở trung tâm, rú ga giữ máy, bấm còi inh ỏi.

Buổi tối, ở quảng trường nhà thờ, nhạc disco được mở to hết cỡ, tiếng bass làm vạt áo rung bần bật. Các buổi sáng, du khách chen lấn nhau để xuống thung lũng “thăm quan” các bản, lượng iPad nhiều hơn số lợn con nằm vầy đất ven đường.

Không còn nhìn thấy núi non gì nữa vì hai bên đường đã kín hàng quán bán đồ lưu niệm. Trẻ con Hmong xếp hàng đợi được phát bánh kẹo như là khỉ trong sở thú.

Những đứa bạo dạn hơn thì đi giật lùi trước mặt khách, chúng từ chối kẹo, chỉ nhận tiền, và đồng thanh kêu như những cái máy vô hồn, tiếng Kinh không sõi “cô cho hai nghìn, cô cho hai nghìn”. Một cộng đồng và một vùng thiên nhiên đã đánh mất nhân phẩm của mình vì du lịch.

Đi du lịch là một sở thích khá mới của người Việt. Tới tận giữa những năm 1990, Sapa vẫn còn là một thị trấn xanh, yên tĩnh và thanh bình, du khách chủ yếu là người nước ngoài. Hồi đó, không có một người Kinh nào quan niệm leo lên đỉnh Phan Si Pang là một việc đáng làm, đấy là việc chỉ người Hmong “phải” làm để mưu sinh.

Cũng giống như ở phương Tây sau chiến tranh thế giới thứ II, phong trào đi du lịch của người Việt dần dần lớn mạnh khi có đủ ba yếu tố hội tụ.

Thứ nhất, thu nhập đã vượt qua những nhu cầu tối thiểu. Thứ hai, quỹ thời gian rộng rãi hơn, người ta không phải đầu tắt mặt tối lo cho cuộc sống nữa. Thứ ba, cơ sở hạ tầng, nghĩa là phương tiện đi lại, dịch vụ khách sạn và ăn uống, đã tốt lên, để cho việc xê dịch không còn vất vả nữa.

Những yếu tố đó làm thay đổi thái độ của người ta với việc di chuyển, chuyển từ quan điểm “xểnh nhà ra thất nghiệp” tới chỗ coi việc ra khỏi nhà như một thú vui, một sự hưởng thụ.

Thậm chí, để thoát khỏi cái buồn chán của cuộc sống công sở hàng ngày ở một thành phố lớn, người ta còn tìm tới cái vất vả như một cuộc chạy trốn ngắn ngủi, tất nhiên bởi người ta biết là cái vất vả này là hữu hạn về mặt thời gian, và các rủi ro nằm trong vùng được kiểm soát. Các phong trào phượt, phong trào đạp xe, phong trào “leo Phan” ra đời.

Lũ lượt đi chơi

Cái đang xảy ra ở Sapa là sự hoành hành phá phách của hiện tượng du lịch đại trà (mass tourism) và chính sách phát triển phục vụ nó.

Giờ đây, tình hình đã khác hẳn. Năm ngoái có gần 4 triệu lượt người Việt đi du lịch nước ngoài, cộng với 40 triệu lượt khách nội địa, tổng lại là bằng một nửa dân số quốc gia. Nhìn xung quanh, ta thấy mỗi gia đình đều lên kế hoạch cho một vài chuyến đi trong năm. Với người Việt trung lưu, du lịch đã trở thành một sinh hoạt cơ bản, như mua sắm hay đi nhà hàng.

Khoảng khắc cho đồ đạc lên ô tô để lên đường bao giờ cũng là một trong những khoảnh khắc phấn khởi nhất của cả gia đình trong năm, và hình ảnh người bố trẻ lái xe trên xa lộ, người mẹ trẻ gọt hoa quả ở ghế bên cạnh, ở đằng sau là hai đứa con chụm đầu chơi iPad, truyền tải một trong những cảm giác sống viên mãn nhất của Việt Nam đầu thế kỷ 21.

Du lịch là con ngỗng đẻ trứng vàng với nhiều địa phương, họ giàu có lên trông thấy nhờ vào nguồn thu từ du khách, nếu “giàu có” được đo bằng số lượng nhà cao tầng mới xây và số ô tô chạy trên đường. Cái mất mát thì không ai lượng hoá được. Thờ ơ hoặc không ý thức được mặt trái xấu xí của du lịch, phần lớn các chính quyền địa phương tiếp tục cổ suý vô điều kiện cho “ngành công nghiệp không khói” này như một hướng phát triển văn minh và tiến bộ.

Cái đang xảy ra ở Sapa là sự hoành hành phá phách của hiện tượng du lịch đại trà (mass tourism) và chính sách phát triển phục vụ nó. Chính sách này có thể được gói gọn trong một mục tiêu: càng nhiều khách càng tốt. Để tiếp tục với ví dụ Sapa: số lượng khách tới đây vào năm 1991 là 2 000.

Năm 2002, con số này là 60 000 người. Nhưng riêng trong đợt nghỉ Tết Nguyên đán 2015 vừa rồi số du khách đã là 50.000 người.

Sapa đang bị phá hủy vì cách làm du lịch?

Trong cuốn “Quá tải: kinh doanh du lịch bùng nổ”, tác giả Elizabeth Becker gọi du lịch là một ngành công nghiệp toàn cầu tàn bạo, một con dao hai lưỡi, hứa hẹn thu nhập và việc làm cho bên chủ nhà, và các trải nghiệm để đời cho bên khách, nhưng cùng lúc cũng có sức tàn phá khủng khiếp với môi trường, văn hoá và cộng đồng.

Số phận của các địa điểm du lịch tầm cỡ khác của Việt Nam cũng tương tự như Sapa. Ở vịnh Hạ Long, mỗi ngày 20.000 du khách được đưa đến và chuyển đi như gà con trên băng chuyền, sau khi trực tiếp xả thẳng phế thải của mình xuống dưới biển.

Ở Phú Quốc, mùi nắng gió, mùi nước mắm, các đồn điền tiêu, những làng chài, tâm hồn và cá tính của hòn đảo, đang biến mất dần. Thay vào đó là chi chít hàng quán, biển hiệu rối rắm, như một thị trấn vô hồn bất kỳ nào khác.

Người ta xẻ rừng quốc gia để đặt vào đó các lâu đài nhái kiểu cổ tích châu Âu chóp nhọn loè loẹt xanh đỏ, những cây thông và bãi cỏ ôn đới lạ lẫm với khí hậu địa phương, biến một thiên đường nhiệt đới tự nhiên thành một “thiên đường” bê tông nhân tạo.

Du lịch đại trà là một hiện tượng toàn cầu, nhưng nó gây ra tác hại nhiều nhất ở các nước đang phát triển, vì sức chống cự của những nước này, cả từ nguồn lực tài chính lẫn trình độ quản lý yếu kém hơn. Ở Angkor Wat, gần đây các ngôi đền bắt đầu bị lún vì mực nước ngầm hạ thấp do mức tiêu thụ nước của các khách sạn liên tục tăng lên.

Ám ảnh nhất với tôi là Vang Viêng ở Bắc Lào. Nằm bên bờ sông Nam Song, được vây xung quanh bởi các dãy núi đá vôi trùng điệp, cái làng nhỏ duyên dáng và xinh xắn này bỗng nhiên trở thành nơi các thanh niên phương Tây tập kết để ăn chơi như không có ngày mai. Họ tụ tập ở các bar trải dài 4 km dọc bờ sông, ăn pizza trộn với cần sa, nốc whisky đựng trong các bát ô tô nhựa, nhảy nhót trong tiếng nhạc rầm rầm, rồi nằm trong xăm ô tô lao mình xuống nước xoáy để tiêu khiển. Sau mấy chục ca tử vong chỉ trong vòng một năm, chính phủ Lào phải ra tay dừng cuộc vui lại.

Mức sống chung cao lên, các đường bay giá rẻ ra đời, càng tạo điều kiện cho du lịch đại trà phát triển. Thậm chí, người ta bắt đầu dùng tới thuật ngữ “du lịch siêu đại trà” (mega-mass tourism) để mô tả hiện tượng này.

Đầu thế kỷ 21, Giáo hoàng John Paul II phê phán du lịch đại trà là một hình thức bóc lột mới, nó “biến văn hoá, các nghi lễ tôn giáo, và các lễ hội dân tộc thành những sản phẩm tiêu dùng” khi khách du lịch tìm tới những cái mới lạ một cách hời hợt và không muốn tiếp xúc thực sự với văn hoá bản địa.

Thật vậy, trong trường hợp Sapa, điều quan trọng nhất với các du khách là câu hỏi ăn lẩu cá hồi ở đâu và mua rượu táo mèo chỗ nào. Không ít người lên đây vì bạn rủ đi để “có người uống cùng cho khỏi buồn.” Văn hoá, thể hiện qua đám người dân tộc ăn mặc sặc sỡ và những cái ruộng bậc thang, sẽ chỉ là cái phông cho các bức selfie.

Chả ai bỏ công ra tìm hiểu về lịch sử, tín ngưỡng, xung đột xã hội, hoàn cảnh kinh tế của người dân ở đây. Có lẽ yếu tố “văn hoá” duy nhất mà khách quan tâm là cái chợ tình như là cái gì man di đáng yêu của “bọn nó”, nhưng đằng nào nó cũng biến mất từ nhiều năm nay rồi – cũng vì du lịch.

Đấy là chưa nói tới chuyện sắp tới sẽ có nhiều hội thảo, tập huấn, tổng kết, liên hoan v.v… được tổ chức ở Sapa, ngạch này gọi là du lịch – công việc (business tourism). Loại du khách này thường không đi cùng gia đình, nên chắc lúc đó sẽ mọc lên nhiều tiệm massage và karaoke thư giãn với các cô gái miền Tây Nam Bộ đổ về cạnh tranh với con gái địa phương.

Chầu rìa trên quê hương?

Nhìn những gì người ta đang tiếp tục làm với Sapa mà thấy đau lòng. Các khách sạn khổng lồ tám, chín tầng vẫn đang xẻ núi mọc lên, nhiều khi chỉ cách cái bên cạnh một con phố nhỏ, xe không quay được đầu.

Đảo qua một vòng trên báo chí, cũng thấy nhắc tới các “thách thức” du lịch ở Sapa, nhưng hoá ra đó chỉ là các vấn đề “cháy” phòng và khan hiếm chỗ đỗ xe. Chính quyền địa phương cam kết sẽ ưu tiên giải quyết để “Sapa ngày một vui hơn.”

Sắp tới, cáp treo sẽ làm hàng trăm người đang khuân vác phục vụ khách leo núi mất việc. Họ sẽ ra nhập đám vợ con họ đang lang thang hàng ngày ở thị trấn.

Cáp treo lên đỉnh Phan Si Pan cũng đang được thi công. Ở độ cao 3000 m, người ta đang phá đá để tạo ra một khu vực rộng gần 8 ha, một diện tích rất lớn ở độ cao chênh vênh đó. Quần thể ga đến sẽ có “khu dịch vụ du lịch, khu tham quan, công viên văn hoá tâm linh và một tượng Phật khổng lồ”.

Cáp treo có công suất 2000 người một giờ, nghĩa là khi đi vào hoạt động sẽ cho phép mười mấy nghìn người lên đỉnh núi mỗi ngày, quanh năm, ngày nào cũng như ngày nào, thay vì con số hiện nay chỉ là mấy chục người một ngày leo đường bộ, và chỉ trong 6 tháng mùa khô.

Còn những người dân tộc, những người thực ra là chủ từ bao đời của vùng núi này, họ được gì từ tất cả những cái này? Hiện nay, mỗi du khách tới Sapa sau khi bỏ ra 1 triệu đồng cho việc đi lại, khách sạn, ăn uống – tất cả chảy vào túi người Kinh, kể cả tiền cho một chai nước trắng – thì mới bỏ ra 10 nghìn mua mấy cái đồ thổ cẩm của người dân tộc. Thậm chí nhiều hướng dẫn viên du lịch còn dẫn khách tới các cửa hàng bán thổ cẩm nhập từ Trung Quốc vì họ được hoa hồng từ đây.

Người thiểu số đang ra rìa ngay trên quê hương họ

Và như vậy, những người Hmong, người Dao, người Tày, người Giáy, sẽ chủ yếu là đứng chầu rìa ở ngay trên quê hương họ. Sắp tới, cáp treo sẽ làm hàng trăm người đang khuân vác phục vụ khách leo núi mất việc. Họ sẽ ra nhập đám vợ con họ đang lang thang hàng ngày ở thị trấn.

Họ sẽ không để cho du khách yên, sẽ táo tợn, sẽ đeo bám quấy rầy cho tới khi khách mua hàng mới thôi, sẽ hét “no money, no photo.”

Buổi trưa, khi các đoàn khách bận rộn với món lợn mán nướng bên trong các quán ăn, họ sẽ ngồi trên bậc thềm bên ngoài, ngước nhìn lên để thấy ngọn “Hủa Xi Pan” của mình, một biểu tượng của thiên nhiên hùng vĩ, nóc nhà chung của họ từ hàng trăm năm nay, bỗng nhiên trở thành một điểm hành hương Phật giáo mới để cho những người ở đâu tới khấn lậy và nhét tiền vào tay tượng, xa lạ và thô bạo với không gian văn hoá của họ.

Có thể dừng lại cỗ máy khổng lồ mang tên “phát triển” này được không? Tôi không chắc. Bởi nó đang được đốt bởi lòng tham. Các doanh nghiệp thì say lợi nhuận. Chính quyền thì say tăng trưởng GDP.

Các du khách thì tham các trải nghiệm mì ăn liền, được tưởng thưởng mà không phải lao động. Họ muốn “chỉ cần 15 phút để lên nóc nhà Đông Dương”, chụp selfie giữa rừng già mà vẫn đi guốc cao gót được, nhẹ nhàng như vào Paris Deli.

Nhưng cũng như với mọi thứ khác trên đời, sự tham lam sẽ phá huỷ hết. Lòng tham sẽ biến con ngỗng vàng mang tên du lịch thành một con quái vật. Các nhà chuyên môn đã nói nhiều về cú nổ bong bóng của các điểm đến sau thời kỳ tăng trưởng nóng vô độ.

Với cách làm du lịch hiện nay, sẽ tới lúc Sapa giống muôn vàn những chỗ khác: vô bản sắc, ô hợp, nhân tạo và rẻ tiền. Rồi tất cả sẽ trở thành Đồ Sơn, một sự thảm hại cho cả người ở đó lẫn người tới thăm.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả từ Hà Nội.

 

Vì an ninh quốc gia, Manila tẩy chay chuyên gia Trung Quốc

Vì an ninh quốc gia, Manila tẩy chay chuyên gia Trung Quốc

Trọng Nghĩa

media

Yêu sách của Bắc Kinh Biển Đông khiến người Philippines cảnh giác với Trung Quốc. REUTERS/Romeo Ranoco

Phủ Tổng thống Philippines vào hôm nay 28/02/2014, đã chính thức lên tiếng bảo vệ quyết định mới đây của Bộ Năng lượng nhằm đình chỉ sự tham gia của kỹ thuật viên Trung Quốc vào sự phát triển và vận hành của màng lưới điện quốc gia Philippines. Lý do được nêu lên là vấn đề an ninh quốc gia, nhưng giới quan sát cũng gắn liền quyết định này với tranh chấp giữa Bắc Kinh và Manila về Biển Đông.

 

Theo báo chí Philippines, trên một đài phát thanh địa phương, Phó Phát ngôn viên của Tổng thống Aquino, bà Abigail Valte khẳng định rằng : Khi quyết định không triển hạn công tác cho 16 cán bộ kỹ thuật Trung Quốc đang làm việc tại Tập đoàn Lưới điện Quốc gia Philippines NGCP, Bộ Năng lượng Philippines đã có nghiên cứu kỹ lưỡng về những ưu và khuyết điểm của vấn đề.

Bà Valte đã tuyên bố như trên sau khi Bắc Kinh lên tiếng đòi Manila phải xử sự công bằng đối với Tập đoàn NGCP – có 40% vốn Trung Quốc – vào việc xây dựng màng lưới điện toàn quốc của Philippines. Theo Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi, thì tập đoàn này đã có nhiều đóng góp quan trọng, và Manila phải bảo đảm quyền lợi hợp pháp của tập đoàn đó.

Tranh cãi đã nẩy sinh từ hôm thứ Tư, 25/02 khi Bộ Năng lượng Philippines loan báo là sẽ chấm dứt công việc của số cán bộ kỹ thuật Trung Quốc đang làm việc trong hệ thống điện toàn quốc, vì những lý do đặc biệt về an ninh quốc gia.

Phát biểu với hãng tin Pháp AFP, Bộ trưởng Bộ Năng lượng Jericho Petilla xác nhận là 16 kỹ thuật viên Trung Quốc đang công tác tại Tập đoàn Lưới điện Quốc gia Philippines NGCP sẽ không được triển hạn visa vào tháng 7 tới đây và sẽ phải hồi hương.

Là một công ty tư nhân Philippines, NGCP có tới 40% phần hùn đến từ Tập đoàn Lưới điện Nhà nước Trung Quốc, tập đoàn quốc doanh đang quản lý hệ thống phân phối điện tại Trung Quốc.

Khi được hỏi là phải chăng vấn đề an ninh quốc gia bị đe dọa đã khiến cho chính quyền Manila quyết định như trên, vị Bộ trưởng Philippines đã xác nhận rằng vấn đề đó « hiển nhiên là một mối quan tâm ».

Đối với chính quyền Manila, màng lưới điện quốc gia Philippines phải do chính người Philippines điều hành và người Philippines hiện có đủ năng lực chuyên môn để đảm trách phần việc do người Trung Quốc thực hiện.

Ngoài lý do an ninh nói trên, một số nhà quan sát đã gắn liền quyết định không cho chuyên gia Trung Quốc tiếp tục làm việc trong màng lưới điện quốc gia Philippines với hồ sơ tranh chấp Biển Đông giữa Manila và Bắc Kinh.

Các hành vi lấn lướt của Trung Quốc nhắm vào Philippines trong những năm gần đây, từ vụ giành quyền kiểm soát thực tế trên bãi cạn Scarborough Shoal, cho đến vụ phong tỏa đường tiếp tế cho lính Philippines đồn trú trên bãi Cỏ Mây (Second Thomas Shoal), đã làm quan hệ song phương xấu hẳn đi.

Theo báo chí Philippines, hôm thứ tư vừa qua, Bộ trưởng Bộ Năng lượng Philippines cũng thừa nhận rằng tranh chấp Biển Đông giữa Philippines và Trung Quốc đã tạo nên mối quan ngại về sự có mặt của chuyên gia Trung Quốc trong một tập đoàn chiến lược như tập đoàn lưới điện NGCP

NHCR quan ngại vụ Campuchia trục xuất 36 người Thượng VN

NHCR quan ngại vụ Campuchia trục xuất 36 người Thượng VN

Người Thượng từ Tây Nguyên Việt Nam vượt biên giới vào Campuchia ẩn náu trong các khu rừng rậm ở đông bắc Campuchia vì sợ nhà chức trách Campuchia sẽ trục xuất họ. (Ảnh: Cao Ủy Nhân quyền Liên hiệp quốc UNHCR )

Người Thượng từ Tây Nguyên Việt Nam vượt biên giới vào Campuchia ẩn náu trong các khu rừng rậm ở đông bắc Campuchia vì sợ nhà chức trách Campuchia sẽ trục xuất họ. (Ảnh: Cao Ủy Nhân quyền Liên hiệp quốc UNHCR )

05.03.2015

Cao Ủy Nhân quyền Liên hiệp quốc UNHCR hôm nay bày tỏ quan ngại trước việc Campuchia cuối tháng rồi cưỡng bách trục xuất 36 người Thượng Tây Nguyên từ Việt Nam chạy sang lánh nạn.

Bộ Nội vụ Campuchia nói 36 người Thượng bị bắt trả về Việt Nam hồi tuần trước là “người nhập cư bất hợp pháp.”

Tuy nhiên, giới hoạt động nhân quyền nói nhóm người sắc tộc thiểu số Việt Nam vượt biên giới qua Campuchia trốn trong các khu rừng rậm ở tỉnh Ratanakkiri chờ được tiếp xúc với Cao Ủy Nhân quyền Liên hiệp quốc là những người đi tìm đường tị nạn vì bị đàn áp tôn giáo.

Ông Chhay Thy, điều phối viên cho tổ chức nhân quyền Adhoc ở tỉnh Ratanakkiri, cho biết 36 người sắc tộc Jarai bị bắt trục xuất hôm 25/2 khi tìm cách tới thủ đô Phnom Penh.

Trong một điện thư gửi ban Khmer đài VOA, phát ngôn nhân của Cao Ủy Nhân quyền Liên hiệp quốc ở Campuchia, bà Vivian Tan, cho biết cơ quan của bà đã chính thức gửi thư tới giới hữu trách Campuchia bày tỏ quan ngại về hành động này.

Bà Tan nói trả người tị nạn về nước mà không cho họ tiếp cận với các tiến trình quyết định tình trạng tị nạn là đi ngược lại luật quốc tế.

Bà Tan cho biết cơ quan của bà sẽ tiếp tục thúc đẩy Campuchia cho phép người tị nạn được tiếp cận với các quy trình về người tị nạn như nhóm 13 người Thượng Việt Nam trước đây.

Mười ba người Thượng Việt Nam mà bà Tan nhắc tới đã được nhà chức trách Campuchia đề nghị cho tị nạn, và đang chờ Bộ trưởng Nội vụ nước này phê duyệt.

Nhóm 13 người này, trong đó có một phụ nữ, trốn vào rừng ở tỉnh Ratanakkiri hồi cuối năm ngoái và đã được đưa đến Phnom Penh  với sự hỗ trợ của Cao ủy Liên Hiệp Quốc về Người tị nạn.

Người Thượng Việt Nam lâu nay than phiền bị đàn áp vì đấu tranh đòi quyền lợi đất đai và quyền tự do tôn giáo.

Vào năm 2000 và 2001, hàng ngàn người Thượng từ Tây Nguyên Việt Nam đã bỏ trốn sang Campuchia. Nhiều người đã bị bắt hồi hương và một số người khác cuối cùng được cho tị nạn tại Mỹ và các nước phương Tây.

Việt Nam đòi Trung Quốc ngưng xây dựng ở Trường Sa

Việt Nam đòi Trung Quốc ngưng xây dựng ở Trường Sa

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Bộ Ngoại Giao CSVN đả kích việc Trung Quốc đang biến nhiều bãi đá ngầm ở Trường Sa thành đảo nhân tạo và đòi hỏi Bắc Kinh phải ngưng ngay việc xây dựng đang diễn ra.

Trong cuộc họp báo ở Hà Nội, phó phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao CSVN Phạm Thu Hằng nhấn mạnh, hoạt động đó là “sai trái” vì “vi phạm chủ quyền của Việt Nam,” “vi phạm tuyên bố về ứng xử trên biển Ðông (DOC) mà Trung Quốc đã ký kết với ASEAN” và Trung Quốc cần ngưng “ngay lập tức.”



Bãi đá Gạc Ma ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam bị Trung Quốc cướp năm 1988 nay đang biến thành đảo nhân tạo và một căn cứ quân sự cỡ lớn. (Hình: Philstar)

Những hoạt động “sai trái,” “vi phạm chủ quyền của Việt Nam,” “vi phạm tuyên bố về ứng xử trên biển Ðông (DOC) mà Trung Quốc đã ký kết với ASEAN” xảy ra đã lâu song khác với Philippines, thỉnh thoảng Việt Nam mới phản đối và đòi Trung Quốc cần ngưng “ngay lập tức.”

Trung Quốc không những không ngưng mà thỉnh thoảng, báo chí Trung Quốc lại công bố một số hình ảnh về việc Trung Quốc bồi đắp nhiều bãi đá ngầm ở quần đảo Trường Sa như: Gạc Ma, Chữ Thập, Châu Viên, Tư Nghĩa, Ga Ven,… thành các hòn đảo nhân tạo và xây dựng các hòn đảo này thành những căn cứ quân sự.

Ðó là chưa kể đến những hoạt động khác trên các hòn đảo đó như: thượng kỳ, tập bắn,…

Người ta tin rằng, việc Trung Quốc nỗ lực bồi đắp các bãi đá ngầm thành những hòn đảo nhân tạo, biến các hòn đảo nhân tạo thành những căn cứ quân sự ở cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa chỉ nhằm một mục đích: Khống chế toàn bộ biển Ðông, hỗ trợ cho yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trong khu vực đó.

Với những căn cứ quân sự mới, các chiến đấu cơ của Trung Quốc có thể cất cánh để tấn công tất cả các mục tiêu trong khu vực eo biển Malacca và triển khai lực lượng trong toàn bộ khu vực Ðông Nam Á. Hôm 5 tháng 3, ông Lý Khắc Cường, thủ tướng Trung Quốc, báo cáo với Quốc Hội Trung Quốc rằng, dự chi cho ngân sách quốc phòng năm nay sẽ tăng 10.1%, tương đương 142 tỷ Mỹ kim.

Phát ngôn nhân của Quốc Hội Trung Quốc cho rằng, chi tiêu cho quốc phòng tuy rất lớn và liên tục gia tăng trong nhiều năm song vẫn còn sự cách biệt lớn về thiết bị quân sự giữa quân đội Trung Quốc với quân đội một số quốc gia khác. (G.Ð)