Hạ nguồn Mekong trong cơn khát vô tận của Bắc Kinh

KÝ ..NGU QUÁ .. KHÔNG THỂ NGU HƠN ĐƯỢC… ngu xuyên suốt chiều dài lịch sử 2 đảng.

NÔNG DÂN PHẢI TỰ TÌM CÁCH SỐNG VỚI NƯỚC MẶN … KHÔNG ĐƯỢC THÌ LY HƯƠNG
__________

Chính vì Việt Nam từ bỏ quyền phủ quyết của mình khi ký kết Hiệp định Mekông năm 1995 cho nên mới ra nông nỗi này: 

“Đại diện Việt Nam đặt bút ký vào Hiệp định Mekong 1995 là Ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm với chấp nhận một thay đổi cơ bản trong hiệp ước mới: thay vì như trước, mỗi hội viên trong Ủy ban sông Mekong (1957) có quyền phủ quyết bất cứ một dự án nào bị coi là có ảnh hưởng tác hại tới dòng chính sông Mekong, nay theo nội quy mới (1995), không một quốc gia nào có quyền phủ quyết.”

Cái nhà nước này rước không biết bao nhiêu họa về cho đất nước. Bây giờ tình thế đã như thế này nhưng vẫn liếc mắt đưa tình với giặc như một con điếm

Phan Ba

KHOẢNG CÁCH GIỮA LỜI NÓI VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA CS

KHOẢNG CÁCH GIỮA LỜI NÓI VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA CS

(Đỗ Ngà)

Giữa nói và làm bao giờ cũng có khoảng cách, có những khoảng cách lấp được và có những khoảng cách không thể nào lấp được. Khi nói ra mà anh không thực hiện được lời nói thì nó có nhiều nguyên nhân. Có thể kể ra 2 nguyên nhân chính: Nguyên nhân thứ nhất, kẻ thực hiện lời nói có mục mục đích duy nhất là dối trá, thì nói và làm luôn là 2 hành động trái ngược. Ví dụ như chính quyền CS nói “nhà nước của dân do dân và vì dân” thì tất nhiên thực tế nhà nước đó là của đảng do đảng và vì đảng. Loại này thì bất trị, không bao giờ chúng sửa đổi; Nguyên nhân thứ nhì, là kẻ đó hứa nhưng không có khả năng lượng sức mình. Nghĩa là sao? Là họ ảo tưởng năng lực của họ cao lắm, nhưng thực ra là bản thân vô năng không thể thực hiện được. Lấy ví dụ như, CS đặt mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam về cơ bản trở thành nước công nghiệp. Đặt mục tiêu là vậy nhưng toàn DdCS đều là vô năng, họ ra đủ thứ chính sách nhưng thực hiện không được.

Như vậy câu hỏi đặt ra là, chính quyền các nước dân chủ có khi nào giữa lời nói và hành động của chính phủ có khoảng cách không? Câu trả lời là có, có thể họ hứa nhưng thực hiện lời hứa không nổi chứ không bao giờ chủ trương dối trá như CS. Ở đất nước này, lãnh đạo không thực hiện lời hứa thì tất nhiên, đến hết nhiệm kỳ sau dân chọn người khác lên thay. Hứa mà không làm thì thay, còn hứa mà làm được thì giữ lại để lãnh đạo đất nước, đó là nguyên nhân đưa đến sự phát triển đất nước. Như vậy nói đi đôi với làm, người ta chỉ tìm thấy nó hiện diện trong các nhà lãnh đạo đất nước ở xứ dân chủ, còn ở độc tài CS thì không bao giờ có. Vì sao? Vì đơn giản, CS hoặc dối trá nói một đường làm một nẻo, hoặc nói nhưng năng lực kém thực hiện nửa vời làm mọi dự định đều thất bại.

Dối trá là một chủ trương lớn của đảng, nó quyết định tính sống còn của đảng. Vì sao? Vì đảng không có năng lực quản trị đất nước nên đảng biết có hứa với dân thì đảng cũng không có khả năng thực hiện, đó là lý do mà đảng xem dối trá là chính sách lớn. Ở các nước dân chủ, không hề tồn tại cái gọi là Ban Tuyên Giáo như ĐCS đã làm. Bởi vì ở những đất nước này, lãnh đạo đã hứa thì họ dốc toàn lực để thực hiện lời hứa ấy, chỉ khi nào bất lực thì họ mới không hoàn thành lời hứa chứ họ không có chủ trương hứa lèo hay nói xạo trước toàn dân. Cho nên, họ chẳng việc gì phải lập nên cái gọi là Ban Tuyên Giáo để lừa gạt nhân dân làm gì cả. Thực hiện lời hứa không xong thì xuống cho người khác lên làm chứ việc gì dối trá để duy trì quyền lực.

Khi CS cho báo chí loan báo một điều gì ầm ĩ thì, ẩn đằng sau đó luôn có mục đích chính trị của Ban Tuyên Giáo. Mấy ngày nay, sau khi báo chí nước ngoài đưa tin về Bãi Tư Chính dày đặt trên mạng xã hội, thì cuối cùng báo chí nhà nước cũng lên tiếng nhưng ở một mức độ dè chừng. Khi không thể phanh được một chiết xe đã mất phanh thì, thì tài xế bẻ lái cho xe vào chỗ an toàn nhất có thể, ấy là thượng sách. Tương tự vậy, khi tin tức Trung Quốc quần Việt Nam tại Bãi Tư Chính không thể nào bưng bít được nữa, và sự ngày càng có dấu hiệu nóng lên làm người dân ngày càng muốn đi tìm kiếm nguồn tin để giải cơn khát thông tin. Trước thực tế như vậy, thì Ban Tuyên Giáo đã làm gì? Ban Tuyên Giáo đã bật đèn xanh cho báo chí nhà nước đăng tin tức về Bãi Tư Chính, nhưng với lời lẽ nhẹ nhàng và họ gọt dũa bớt mức độ nghiêm trọng sự việc để làm cho sự phản ứng của nhân dân không đẩy lên quá mức. Nếu bưng bít không được thì vẫn đăng nhưng đăng theo kiểu lái dư luận về phía không còn nghiêm trọng nữa.

Giả sử hiện nay ở Việt Nam có 5 triệu người đang khát tin tức về Bãi Tư Chính, vì nguồn tin báo nhà nước không có nên họ cố tìm tin tức Bãi Tư Chính đọc. Nếu trong lúc này Ban Tuyên Giáo tiếp tục im lặng thì 5 triệu người này sẽ tìm đến các trang tin từ facebook, BBC, VOA, RFA .. thì rất có thể 1 triệu người này sẽ xuống đường, lúc đó nguy cho chính quyền. Biết không thể che đậy, Ban Tuyên Giáo cho báo chí đưa tin. Mục đích là để kéo bạn đọc về để định hướng họ theo ý đảng. Giả sử, trong 5 triệu người đang khát tin đó thì có đến 4,5 triệu người vớ được nguồn tin báo chí chính thống thì họ sẽ trở thành thờ ơ hơn với vận mệnh đất nước. Còn lại rất ít đọc nguồn ngoài chính thống, vì ít nên họ không đủ đông để làm nên chuyện như ngày 10/06 năm ngoái được, thế là Ban Tuyen Giáo góp công lớn trong việc không cho biểu tình bùng phát. Đó là mục đích của báo chí CS đưa tin về căng thẳng Bãi Tư Chính, chứ không phải họ muốn chống Tàu như mọi người vẫn kỳ vọng một cách ngây thơ.

Với CS, lời nói của họ không như những gì mà chúng ta nghĩ, họ luôn nói một đường, dụng ý một nẻo. Vì sao? Vì đơn giản họ là CS điều đó thuộc bản chất di truyền của họ rồi, thế thôi.

– ĐỖ NGÀ –

Image may contain: water

Ba hệ quả khi Trung Quốc điều tàu đến vùng Nam Biển Đông của Việt Nam

Ba hệ quả khi Trung Quốc điều tàu đến vùng Nam Biển Đông của Việt Nam

Hoạt động của Trung Quốc ở vùng biển của Việt Nam sẽ dẫn tới các tình huống “gậy ông đập lưng ông”, theo các chuyên gia.

Trung Quốc toan tính gì khi điều tàu xâm phạm vùng biển Việt Nam.

Khi nhóm tàu khảo sát Hải Dương 8 của Trung Quốc có hành vi vi phạm vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa của Việt Nam ở khu vực phía Nam Biển Đông từ đầu tháng 7, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định đây là vùng biển hoàn toàn của Việt Nam, theo Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc (UNCLOS).

Trao đổi với VnExpress, Giáo sư Carl Thayer, Học viện Quốc phòng Australia, Đại học New South Wales, đánh giá hành động của Trung Quốc cho thấy Bắc Kinh bất tuân luật quốc tế, muốn đơn phương thực hiện cái gọi là “quyền lịch sử” với toàn bộ Biển Đông. Và việc điều động tàu Hải Dương 8 đi vào EEZ của Việt Nam có thể do chỉ đạo của người phụ trách của công ty thuộc sở hữu nhà nước Trung Quốc hoặc quan chức ở cấp cao hơn nhắm tới mục tiêu chính trị.

Dưới góc nhìn của chuyên gia an ninh châu Á lâu năm, Thayer cho rằng việc Trung Quốc điều tàu đến vùng biển của Việt Nam dẫn tới ba hệ quả chính.

Thứ nhất

Trung Quốc đã làm suy giảm lòng tin chiến lược của Hà Nội với Bắc Kinh, khi quan hệ giữa hai nước trong năm 2019 dường như có chiều hướng đi lên sau một loạt sự cố năm 2014, 2017 và 2018.

Trong các cuộc gặp cấp cao, lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc thường xuyên nhắc lại việc thống nhất tuân thủ “Thỏa thuận những Nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển” mà hai bên đã ký năm 2011. Trong đó, hai nước nhất trí tôn trọng lẫn nhau, không ngừng thúc đẩy tiến trình đàm phán, tuân theo luật quốc tế, làm cho Biển Đông trở thành vùng biển hòa bình.

“Tuy nhiên, các hành động của Trung Quốc đã vi phạm Thoả thuận năm 2011”, Thayer nói.

Trên phạm vi khu vực và thế giới, Trung Quốc đã có các hoạt động gây mất niềm tin với thành viên của ASEAN và với các đối tác lớn như Mỹ, Nhật Bản, Australia. Dù Bắc Kinh cam kết không làm phức tạp tình hình Biển Đông, không quân sự hóa khu vực này, nhưng nhiều nước đã công bố các hình ảnh vệ tinh không thể chối cãi cho thấy Trung Quốc xây dựng quy mô lớn, thiết lập các căn cứ quân sự và triển khai nhiều thiết bị hiện đại.

Thứ hai

Trung Quốc đã tự quốc tế hóa vấn đề Biển Đông. Hành động phi pháp của Trung Quốc ở vùng biển Nam Biển Đông thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với vấn đề lâu nay nước này muốn giải quyết song phương.

Ngay sau phản ứng mạnh mẽ của Bộ Ngoại giao Việt Nam, Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 20/7 đã bày tỏ quan ngại trước những báo cáo về việc Bắc Kinh có hành vi can thiệp hoạt động khai thác dầu khí trong khu vực, bao gồm hoạt động thăm dò và khai thác lâu nay của Việt Nam.

Mỹ nhấn mạnh “hành động lặp đi lặp lại” của Trung Quốc nhằm vào hoạt động phát triển dầu khí ngoài khơi đe dọa an ninh năng lượng khu vực, đồng thời làm suy yếu thị trường năng lượng Ấn Độ – Thái Binh Dương tự do và cởi mở.

“Mỹ kiên quyết phản đối hành vi cưỡng chế và đe dọa từ bất kỳ bên nào nhằm khẳng định yêu sách lãnh thổ cũng như hàng hải của mình. Trung Quốc cần kiềm chế tham gia vào những hoạt động khiêu khích và gây bất ổn này”, thông cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ cho hay.

Các quan chức an ninh cấp cao của Mỹ sau đó cũng lên tiếng. Đô đốc Philip Davidson, chỉ huy Bộ tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của hải quân Mỹ, chỉ trích các hoạt động mang tính khiêu khích của Trung Quốc như quân sự hoá các đảo, phô trương sức mạnh quân sự ở Biển Đông. Ông cho rằng mối đe dọa chiến lược lâu dài lớn nhất với Mỹ và trật tự quốc tế dựa trên luật pháp chính là Trung Quốc. Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ John Rood cũng coi Bắc Kinh là mối đe dọa an ninh hàng đầu, cho rằng Trung Quốc có thể thay đổi trật tự toàn cầu, theo hướng tốt lên hoặc xấu đi.

“Có thể nói hành động của Trung Quốc đã giúp quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông, điều mà Bắc Kinh luôn phản đối”, Thayer nói…

Thứ ba

Việc điều tàu lần này của Trung Quốc có thể dẫn tới sự trì hoãn đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) giữa Bắc Kinh và ASEAN. Theo Thayer, sự trì hoãn này sẽ làm thất bại ý đồ của Trung Quốc là “dùng COC để thuyết phục các nước có tranh chấp hợp tác khai thác tài nguyên, loại trừ sự can dự của các nước ngoài khu vực”.

Trung Quốc nhiều lần tuyên bố không muốn các nước ngoài khu vực can thiệp vào đàm phán giữa Bắc Kinh với các nước cùng có tranh chấp và ASEAN.

Viễn cảnh đạt được thỏa thuận COC, bộ quy tắc ứng xử có tính ràng buộc về mặt pháp lý, vẫn còn chặng đường dài phía trước. Trung Quốc và ASEAN khởi động thảo luận COC từ 2013 nhưng đến tận tháng 8/2018, hai bên mới thống nhất được dự thảo văn bản của COC, điều được coi là “một tiến triển lớn”.

Về diễn biến sắp tới, Thayer dự báo nhóm tàu của Trung Quốc sẽ rút đi nhưng lưu ý Trung Quốc không từ bỏ ý đồ bá chủ ở khu vực và ép các nước khác chấp nhận.

“Bắc Kinh sẽ tiếp tục thúc đẩy việc đưa các công ty dầu mỏ và lực lượng hải cảnh đến vùng đặc quyền kinh tế của các nước ven biển nhằm buộc họ chấp nhận vai trò của Trung Quốc”, Thayer cảnh báo…

Thayer gợi ý Việt Nam nên tập trung tăng cường việc hợp tác với nhiều nước trong xây dựng năng lực cho các lực lượng trên biển, đặc biệt là trong vùng EEZ.

Nếu tính đến hành động pháp lý với Trung Quốc như Philipines đã từng làm, Việt Nam nên chứng tỏ hành động đó vẫn thể hiện mong muốn “giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình”. Hà Nội nên lập luận rằng mình có thiện chí và đã nỗ lực trao đổi hết mức với Bắc Kinh.

Năm 2020, khi làm Chủ tịch ASEAN, Việt Nam cần tăng cường vận động hành lang để tạo nên mặt trận thống nhất của Hiệp hội trong đàm phán COC với Trung Quốc. “Việt Nam nên nói rõ là sẽ không chấp thuận một COC mà cho phép Trung Quốc tiếp tục vi phạm luật quốc tế, trong đó có UNCLOS”, Thayer nhấn mạnh.

Viet Anh, VnExpresss, July 25, 2019

Ảnh: Các tàu của hải cảnh Trung Quốc. Ảnh: Manila Journo.

Nguồn: VNEXPRESS 
https://vnexpress.net/…/ba-he-qua-khi-trung-quoc-dieu-tau-d…

Image may contain: ocean, outdoor, water and nature

Căng thẳng trên Biển Đông, CSVN và Trung Quốc vẫn ‘tay bắt mặt mừng

About this website

NGUOI-VIET.COM

Trong bối cảnh diễn biến cuộc đối đầu tại Bãi Tư Chính vẫn đang hết sức căng thẳng, ông Võ Văn Thưởng, trưởng ban Tuyên Giáo Trung Ương đảng CSVN, qua Trung Quốc dự hội thảo lý luận giữa hai đảng khiến công luận ngạc nhiên.

Lãnh đạo hiện nay so với quan lại phong kiến và địa chủ xưa kia!

Nhà báo Võ Văn Tạo nhận định rằng, việc báo chí phanh phui hay các quan chức địa phương lên tiếng cũng chỉ là để nói cho xong chuyện, an lòng dân mà thôi chứ thật sự không mang lại được hiệu quả.
…có biết bao trường hợp sai phạm nặng nề vẫn không bị xử lý. Thân nhân của những người đó vẫn ung dung sống xa hoa trong khi người dân trong vùng họ quản lý ‘không đủ ăn, đủ mặc’.

Vô số cán bộ, đảng viên cộng sản có hành xử bị cho không khác gì tầng lớp mà cách mạng luôn lên án là ‘bóc lột nhân dân’ cùng khổ, sống bằng ‘xương máu của công nhân, nông dân’!

RFA.ORG
Đám cưới con trai của bà Trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy, trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội Sóc Trăng diễn ra suốt ba ngày với sự tham dự của nhiều quan chức, cán bộ dùng xe công đến dự khiến công luận tiếp tục xôn xao về lối sống x…

Chết vì rượu

Chết vì rượu

Huy Phương

Việt Nam đang được xem là một “cường quốc” về bia rượu. (Hình: Getty Images)

Tôi không biết uống rượu nhưng khi ai có lòng đem cho mình một chai rượu quý, tôi vẫn dành để biếu lại cho một người bạn thân uống được rượu, mà uống một cách thông minh.

Người xưa phong lưu thì có cầm, kỳ, thi, tửu. Nhà thơ Tú Xương cũng không qua cảnh “một trà, một rượu, một đàn bà.” Rượu luôn luôn đi với thơ, dễ chừng không có rượu, cõi đời không có thơ, (bầu rượu, túi thơ.) Có bạn bè thì phải có rượu “chén chú, chén anh.” (Rượu ngon phải có bạn hiền!)

Một trong những cái “chẳng cũng sướng sao” của Kim Thánh Thán là gặp lúc bạn đến nhà mà đủ tiền mua rượu đãi bạn: “…Người bạn xa mười năm, thình lình đến vào chiều hôm. Mở cửa chào xong, chẳng kịp hỏi đi thuyền hay đi bộ, cũng chẳng kịp mời ngồi ghế hay ngồi giường… Hàn huyên qua loa, liền chạy mau vào nhà trong, sẽ hỏi vợ: “Mình có được như bà vợ Tô Đông Pha, sẵn có rượu để dành không?” Vợ cười, rút cành trâm vàng đưa cho. Tính ra có thể đãi khách được ba ngày… Chẳng cũng sướng sao!”

Trong tình yêu cũng thế: “Em ơi! Lửa tắt, bình khô rượu, Đời vắng em rồi, say với ai?”(VHC).

Trong lễ cưới hỏi của người Việt thì có khay rượu đi đầu, “giúp em một thúng xôi vò, hai con lợn béo, một vò rượu tăm!” Đôi tân lang và tân giai nhân cùng nhau uống rượu làm lễ giao bôi, họ hàng thì nâng ly rượu mừng cho đôi trẻ. Khi vui uống ly rượu mừng, lúc buồn mượn ly rượu giải sầu. Có ly rượu mừng và cũng có ly rượu phạt. Trong Tam Quốc Chí thì “Quan Vũ lên ngựa ra chém Hoa Hùng, chạy về chén rượu uống dở vẫn còn nóng!”

Người Trung Hoa, người Việt thì đám cưới cũng rượu, đám tang cũng rượu. Không có rượu, coi như lễ nghĩa không thành (Vô tửu bất thành lễ). Trong nhiều nghi lễ khác cũng cần có rượu, đặc biệt là trong các nghi lễ cưới hỏi. Trong phong tục cưới hỏi của người Việt, khay trầu rượu luôn được đi hàng đầu. Như vậy thì chúng ta cũng có thể nói: rượu là một nét văn hóa của người Việt.

Tai hại của rượu thì ai cũng đã thấy. Ngay ở Hoa Kỳ, tệ nạn nghiện rượu từng là thảm kịch trong gia đình của Tổng Thống Donald Trump. Người anh của ông là Fred Jr. đã qua đời vào năm 1981, vì nghiện rượu. Gia đình Ông Trump không ai uống rượu, năm ngoái (2018), ông đã tặng $100,000 trích từ tiền lương của ông trong quý thứ ba của năm cho cơ quan “National Institute on Alcohol Abuse and Alcoholism.”

Và ngày nay, thế giới đang báo động vì tai nạn uống rượu lái xe gây chết người.

Tổ Chức Y Tế Thế Giới WHO nói rượu là thủ phạm đứng hạng 3 gây ra số người chết và thương tật nhiều nhất trên thế giới, ước chừng có 2.5 triệu người chết mỗi năm.

Ở Hoa Kỳ, nghiên cứu cũng cho thấy rằng 5 thành phố tại California, như Vista, Hemet, Delano, Murrieta, và Pittsburg, việc tử vong do DUI (Driving under the influence – Lái xe dưới sự ảnh hưởng của rượu hay ma túy), gia tăng từ 140 tới 700% từ năm 2012 tới 2017. Trong thời gian 5 năm, hơn 5,500 người chết từ tai nạn do say rượu lái xe tại California.

Nhưng ở Mỹ có luật lệ nghiêm minh, cơ quan cảnh sát cũng làm việc đứng đắn, dân trí cao nên rượu không phải chuyện “quốc nạn” như ở đất nước Việt Nam.

Ở Việt Nam, chỉ tính trong một năm 2016, ước tính có 79,000 người chết vì uống rượu bia, và hàng trăm ngàn người khác phải vào bệnh viện vì các bệnh liên quan đến rượu như gan, tim mạch, ung thư, đột quỵ.

Việt Nam được xem là một “cường quốc” về rượu. WHO cho biết người Việt tiêu thụ trung bình một người trên 15 tuổi tiêu thụ 8.3 lít cồn nguyên chất trong năm 2016, trong khi các quốc gia trong khu vực sử dụng ít hơn nhiều như ở Mông Cổ là 7.4 lít, Trung Quốc là 7.2 lít, Campuchia là 6.7 lít, Philippine là 6.6 lít và Singapore chỉ có 2 lít.

Đàn ông Việt Nam sử dụng rượu bia càng ngày càng tăng, cứ 100 người đàn ông thì có 77% người uống rượu bia, gia tăng từ năm 2015 so với năm 2010 là 15%.

Rượu “góp mặt” trong 70% số vụ phạm pháp hình sự ở nhóm dưới 30 tuổi (giết người, hiếp dâm…)

Mỗi năm có, 4,800 người tử vong do tai nạn giao thông vì say rượu. Dịp Tết Kỷ Hợi vừa qua có 60% trong số 500 ca cấp cứu nhập viện liên quan đến rượu bia. Ước tính thiệt hại kinh tế do rượu bia, mỗi năm Việt Nam thiệt hại khoảng 65,000 tỉ đồng (khoảng $2.8 tỷ).

Bây giờ rượu không còn “nhấp” hay “nhâm nhi” mà phải “nhậu,” “nốc,” “dzô!” Uống rượu ngày nay không còn là cái thú tao nhã, phong lưu nữa mà đã trở thành một tệ nạn, lan tràn khắp đất nước. Đám cưới phải nhậu, đám ma cũng nhậu, mừng nhà mới, con tốt nghiệp cũng nhậu, lên lương, lên chức cũng nhậu, thảo luận làm ăn, ký khế ước cũng nhậu, mừng vô đảng viên cũng nhậu. Ngày thường nhậu, cuối tuần nhậu nhiều hơn. Rượu vào lời ra, nôn mửa, la lối, đánh giết nhau, vật vã trên vỉa hè, chẳng còn một chút gì gọi là nhân cách.

Và theo quan niệm từ xưa, đàn ông, nam nhi thì phải biết uống rượu. “Nam vô tửu, như kỳ vô phong.” (Đàn ông không rượu, như lá cờ không có gió.) Nhậu mới là đàn ông, nhậu mới là chịu chơi. Xã hội ngày nay, thằng đàn ông không rượu là đồ hèn. (Cởi quần mặc váy đi anh,Về cho con bú, cơm canh lau nhà..) Buổi chiều tan sở, ra thẳng quán nhậu. Không nhậu với thủ trưởng, đồng nghiệp thì đừng hòng có phe cánh hay sống còn.

Chuyện xưa kể, ngày xưa có một chàng trai bị quỷ đòi mạng. Anh chàng van xin tha tội. Quỉ ra điều kiện, phải làm ba việc, uống rượu, đốt nhà hay giết mẹ! Đốt nhà, giết mẹ thì không nỡ, chàng trai chọn điều kiện uống rượu. Nhưng khi rượu vào mất trí khôn, chàng trai đốt nhà rồi giết luôn mẹ. Ngày nay cứ mở Google ra, đánh mấy chữ “Say rượu, giết Mẹ,” sẽ thấy hiện lên hàng trăm trường hợp đi nhậu say rượu về, con trai cầm dao giết mẹ, hay cha giết cả nhà, bạn bè đâm nhau lòi ruột.

Trong chuyện Tam Quốc, có chuyện Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi, ba người tâm đầu ý hợp, cùng nhau uống mấy vò rượu mà kết bái huynh đệ tại vườn đào. Ngày nay ở Việt Nam có chuyện hai anh em kết nghĩa, sau bữa nhậu say túy lúy, ông anh nham nhở sờ vào vùng kín của ông em, khiến người này tức giận vác dao chém chết ông anh kết nghĩa.

Trong văn chương thấy người xưa uống rượu có phong cách, chừng mực, uống rượu như là một thứ nghệ thuật, đắp bồi cho giá trị cuộc sống. Ngày nay, Việt Nam là một nước nghèo, lại mang tiếng là đứng đầu vì rượu chè, tai nạn giao thông, ung thư, án mạng, hiếp dâm, phá thai…con người mất nhân cách, lâm cảnh tù đày…

Nói đến chuyện say rượu, phải nói đến nhân vật Chí Phèo. Nhà văn Nam Cao đã kết án đanh thép cái xã hội phong kiến, thực dân tàn bạo, tàn phá cả thể xác và tâm hồn người nông dân lao động, vùi dập cả đạo đức, nhân tính.

Trong “Bản án chế độ thực dân Pháp,” viết bằng tiếng Pháp và được in năm 1925-1926 trên một tờ báo của Quốc Tế Cộng Sản, Nguyễn Ái Quốc cho rằng Pháp đầu độc dân Việt Nam, bằng cách bắt họ uống rượu theo tiêu chuẩn đầu người (?) Nhưng cứ nhìn con số người chết vì rượu, và những tệ nạn xã hội do rượu gây ra dưới thế hệ Hồ Chí Minh, cái thời mà Tổng Bí Thư đã ca tụng “đất nước ta chưa bao giờ có được như ngày hôm nay,” thì cái chế độ này còn độc ác và gây tội lỗi cho dân tộc Việt Nam gấp trăm lần thời nô lệ!

Quốc Hội CSVN hiện nay đang dùng dằng chưa muốn đem việc hạn chế rượu thành luật, vì rượu là “nền văn hóa thế giới,” thậm chí dẫn cả thơ của Hồ Chí Minh, cho rằng “chỉ khi bị tước đoạt tự do mới không được uống rượu!” (Trong tù không rượu cũng không hoa)!

Để giữ gìn sức khỏe, Lãn Ông đã khuyên: “bán dạ tam bôi tửu, bình minh nhất trản trà…”(Nửa đêm ba chén rượu, sáng sớm một tuần trà, mỗi ngày cứ như thế, thầy thuốc không đến nhà). Chuyện này không chắc lắm, nhưng “nốc” rượu như Việt Nam ngày nay, bác sĩ cũng chạy xa, xe cứu thương đến nhà, và cuối cùng, đạo tì khiêng xác ra… 

(Huy Phương)