Điều con xin hôm nay là ơn tha thứ.

Đêm nay là đêm giao thừa từ năm cũ 2019 bước sang năm mới 2020. Trong giờ linh thiêng nhất trong năm, với suy nghĩ làm sao cho đời sống của mỗi người chúng ta được BÌNH AN, VUI TƯƠI, HẠNH PHÚC, để trong cõi đời trần thế hiện tại này được nhẹ nhàng, thư thái, khoan dung, yêu thương và được yêu thương. Để sau này, lúc ra đi, linh hồn ta cũng nhẹ nhàng, êm ái, tràn đầy tình cảm yêu thương, thần thái vui tươi, hạnh phúc trong nước Trời.

Trong suy tư đó, xin gởi đến tất cả những người thân yêu lời kinh dưới đây. Mời đọc và suy ngẫm.

Phùng Văn Phụng

Kinh Tha Thứ

 Lạy Chúa Giêsu, điều con xin hôm nay là ơn tha thứ.

Lạy Chúa, con xin tha thứ cho chính con: những tội lỗi của con, những lỗi lầm của con, những sa ngã của con, những điều xấu trong con, những mê tín dị đoan của con, cầu cơ lên đồng, xem tử vi, coi chiêm tinh gia, coi thầy bói, đeo những bùa may mắn hộ mạng. Con từ bỏ tất cả những dị đoan đó. Con tin nhận Chúa là Chúa cứu thế duy nhất của con. Xin hãy ban Thánh Thần Chúa trên con. Con tha thứ cho con vì: đã làm đau khổ cha mẹ con, chè chén say sưa, sử dụng ma tuý, đeo đuổi hành động thiếu trong sạch, ngoại tình, những hành động tình dục về đồng tình luyến ái. Như Chúa đã tha thứ cho con, hôm nay con cũng tha thứ cho con. Ðồng thời những tội khác như: phá thai, ăn cắp, nói dối, lừa đảo… Con tha thứ cho chính con.

Con tha thứ cho người mẹ con qua những lần mẹ con: làm đau đớn con, phẫn nộ với con, giận dữ với con, trừng phạt con, thanh lọc con ra khỏi anh chị em, nói con đần độn, xấu xí, ngu dốt, hư hỏng nhất, hao tốn tiền của gia đình. Cho con là đứa con không được thừa nhận, là thiếu xót, là đứa con không được như ý muốn…

Con tha thứ cho cha con là người cha: thiếu nâng đỡ con, thiếu tình thương, thiếu cảm tình, thiếu sự trông nom, thiếu thời giờ, thiếu sự cảm thông dành cho con. Con tha thứ cho cha con là: người nghiện ngập, ẩu đả với mẹ con, ẩu đả với những người con khác, những sự trừng phạt nghiêm khắc, những bỏ bê, bỏ nhà ra đi, ly dị mẹ con, đi lang thang…

Con cũng xin tha thứ cho anh chị em con: những người xua đuổi con, nói dối con, ghét con, tranh dành tình yêu của cha mẹ con, ám hại con, nghiêm khắc với con, làm cho đời sống con khổ sở…

Lạy Chúa con xin tha thứ cho người phối ngẫu của con về: sự thiếu tình thương, thiếu cảm tình, thiếu thông cảm, thiếu sự chăm sóc, thiếu liên lạc trò chuyện với con. Con xin tha thứ cho những thiếu xót, vất ngã, yếu đuối, những lời nói hay hành động làm tổn thương và khó chịu cho con…

Lạy Chúa, con xin tha thứ cho con cái của con: Thiếu kính trọng, Thiếu vâng lời, Thiếu yêu thương, Thiếu trông nom, Thiếu âu yếm, Thiếu hiểu biết, Những thói hư tật xấu, Bỏ đi nhà thờ, Những hành động làm phiền hà con…

Lạy Chúa con xin tha thứ cho gia đình bên vợ/chồng con, nhất là cha mẹ, anh chị em, bà con bên vợ/chồng con đã làm tổn thương đến gia đình con…

Lạy Chúa con xin tha thứ cho những họ hàng thân thiết của con, ông bà nội ngoại, cô cậu chú dì, những người đã can thiệp vào nội bộ gia đình con, cố gắng gây ảnh hưởng trên cha mẹ con, gây ra những hiểu lầm, xúi cha mẹ này đến cha mẹ khác…

Lạy Chúa, xin giúp con tha thứ cho người bạn cùng sở của con về những sự bất đồng ý kiến, là con phải sầu khổ, bắt con phải làm việc của họ, trêu trọc con, muốn dành công việc của con.

Lạy Chúa, những người hàng xóm của con cũng cần được tha thứ về: Những sự ồn ào, Những tiệc tùng về khuya, chó sủa làm con thức giấc, làm cho khu xóm mất giá trị…

Lạy Chúa, con xin tha thứ cho những linh mục, cha sở họ đạo con, cộng đoàn con, Ðức Giám mục, Giáo Hoàng, Giáo hội công giáo về: Thiếu nâng đỡ, Nhàm chán, phục vụ tồi tệ, Thiếu niềm nở, Không xác nhận, Chẳng có điều gì khuyến khích con, Không sử dụng con vào những chức vụ chủ yếu, Không mời con phục vụ trong những tổ chức đông người, những đau đớn giáng xuống trên con, con thực sự tha thứ…

Con tha thứ cho những người trí thức (professionals) về những tổn thương xảy đến con như bác sĩ, ý tá, luật sư, quan tòa, chính trị gia, dân biểu…

Lạy Chúa con tha thứ cho những người phục vụ công quyền (service people): cảnh sát, nhân viên cứu hỏa, tài xế xe bus, nhân viên nhà thương và những nhân viên khác.

Lạy Chúa, con xin tha thứ cho chủ hãng con về không trả xứng lương cho con, không biết ơn việc con làm, có thái độ thiếu lịch sự, thiếu công bình, nóng giận, thiếu hòa nhã, không thăng chức cho con…

Lạy Chúa, con xin tha thứ cho thầy cô giáo, huấn luyện viên trong quá khứ và hiện tại, nhất là những người đã trừng phạt con, những người đã hăm dọa con, những người đã sĩ nhục con, đối xử thiếu công bình, những người chế diễu con, những người nói con là đồ ngu ngốc, dốt nát, những người phạt con ở lại sau giờ học.

Lạy Chúa, con xin tha thứ cho bạn bè con về: Những người chà đạp con xuống, Những người không liên lạc với con trong lúc con cần sự giúp đỡ, mượn tiền mà không trả lại, tán gẫu về con…

Lạy Chúa Giêsu, con khẩn thiết cầu xin ơn tha thứ, cho một người trong cuộc sống của con đã làm con đau khổ nhất; cho những người là kẻ thù không đội trời chung của con; cho người rất khó tha thứ; cho người con thề không thể tha thứ cho họ. Lạy Chúa, con xin tha thứ những người này, cho những đau đớn con đã gây ra cho họ, đặc biệt là cha mẹ của con, người phối ngẫu của con. Con cám ơn Chúa về tất cả tình thương của Chúa đã đến trong cuộc đời con qua họ.

Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa đã cho con có sức mạnh, can đảm để con tha thứ cho anh em con. Xin Cha tha thứ cho con và chúc lành cho đời sống mới của con. Amen.

LM DeGrandis

 Nguồn: https://www.conggiao.org/kinh-tha-thu/

Phạm Tín An Ninh – Con đường giải oan cho một cuộc bể dâu

Phạm Tín An Ninh – Con đường giải oan cho một cuộc bể dâu

Đỗ Trường (Danlambao) – Sau chiến tranh, tuy bị bức tử, nhưng Văn học miền Nam vẫn hồi sinh, phát triển, để bước sang một trang sử mới. Văn học Hải ngoại, một hình thức, hay tên gọi văn chương tị nạn, là sự nối dài của nền Văn học ấy. Và từ đó, ngoài các nhà văn tên tuổi, ta thấy, xuất hiện một loạt các cây viết mới. Họ xuất thân từ những người lính, tù nhân, thuyền nhân tị nạn, như: Cao Xuân Huy, Song Vũ, hay Phạm Tín An Ninh… Chiến tranh, con đường giải oan cho cuộc bể dâu ấy, là đề tài đã được các nhà văn đào sâu, tìm kiếm làm sáng tỏ một cách chân thực, sinh động. Và khi đi sâu vào nghiên cứu, ta có thể thấy, Phạm Tín An Ninh là một trong những nhà văn tiểu biểu nhất viết về đề tài này.

Nếu bút ký Phan Nhật Nam sắc nhọn, hừng hực khói lửa, thì vẫn nơi chiến trường ấy, ngòi bút, lời văn Phạm Tín An Ninh nhẹ nhàng, sâu lắng và trong sáng. Có thể nói, ngoài sự tài hoa, với bút pháp hiện thực, Phạm Tín An Ninh còn là một nhà văn đức độ, có sự cảm thông và tình yêu sâu sắc đối với tha nhân. Văn thơ Phạm Tín An Ninh như một luồng gió mới thổi vào hồn không chỉ những người lính đồng đội, bạn bè ông, mà còn cho cả những người lính một thời ở bên kia của chiến tuyến. Phải nói, ông là một trong những nhà văn mà tôi đã học được nhiều điều, khi đọc. Bút pháp, và tư tưởng ấy, Phạm Tín An Ninh đã gieo vào nhiều thế người hệ đọc, từ hải ngoại về đến quốc nội, dù cho đến nay, ông mới cho in ấn, phát hành 4 tác phẩm: Ở Cuối Hai Con Đường, Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân, Vẫn Còn Vương Tơ, và Sau Cuộc Bể Dâu. Bốn tập truyện ngắn, bút ký này, tôi đã đọc nhiều lần. Có thể nói, truyện nào của Phạm Tín An Ninh cũng sâu sắc, và cảm động. Kể cả truyện viết đầu tay. Một đặc điểm nổi bật nhất trong văn thơ Phạm Tín An Ninh ta có thể nhận thấy, không chỉ trong tư tưởng, bút pháp, mà lối hành văn, câu cú, chính tả cũng sáng, đẹp và chuẩn mực. Dường như, cho đến nay, không có nhiều nhà văn, trang sách hội đủ những đặc điểm này. 

Nhà văn Phạm Tín An Ninh sinh năm 1943 tại Khánh Hòa. Thi đậu tú tài, ông nhập ngũ, khóa 18 Sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Mười một năm lính chiến, để rồi sau tháng 4-1975, Phạm Tín An Ninh bị cải tạo, tù đày từ Nam ra đến Bắc. Năm 1984 ra tù, ông vượt biển, xin tị nạn ở Nauy. Hiện ông sống và viết văn tại Cali, Hoa Kỳ. 

Chiến tranh với cái nhìn chân thực của người lính

Có thể nói, sau mười một năm cầm súng, và gần chục năm cải tạo tù đày, cùng những tháng ngày trốn chạy, tị nạn nơi đất khách, quê người, Phạm Tín An Ninh có đủ độ lùi thời gian để nhìn lại cuộc chiến đã qua, một cách sâu sắc và trung thực nhất. Và chỉ có cầm bút người lính Phạm Tín An Ninh mới có thể tìm lại linh hồn đồng đội và chính mình. Sự trả tính chất cuộc chiến về đúng vị trí, tên gọi của nó, như một món nợ đối với người lính, tù nhân, tị nạn còn sống sót vậy. Do đó, về mặt tâm lý, Phạm Tín An Ninh hoàn toàn không có sự chuẩn bị để trở thành nhà văn. Tuy nhiên, chính những điều không tưởng này, cho Phạm Tín An Ninh một tâm lý thoải mái, tự nhiên khi viết, và sáng tạo. Từ những đặc tính riêng biệt ấy, (hiển nhiên) làm nên tên tuổi nhà văn Phạm Tín An Ninh. 

Cũng như Song Vũ, nhà văn Phạm Tín An Ninh đi lên từ một sĩ quan trẻ chỉ huy cấp trung đội. Mười một năm dài đằng đẵng lăn lộn khắp các chiến trường miền Trung, Cao Nguyên và ông trở thành một vị chỉ huy dày dạn kinh nghiệm chiến trường. Những ngày tháng gian khổ, bi thương ấy, như nhát dao đâm nát hồn người. Bởi, hằng ngày, hằng giờ ông phải chứng kiến cái chết, không chỉ của những người lính (trẻ cùng một dòng máu) ở bên kia chiến tuyến, mà còn phải vuốt mắt cho đồng đội, người thân của mình. Nỗi ám ảnh ấy, thường trực đeo bám ông. Và chỉ khi ngồi đối diện với ngòi bút và trang sách, thì dường như gánh nặng tâm hồn ông mới trút bỏ. Do vậy, ta có thể thấy, tính hiện thực xuyên suốt những tác phẩm của Phạm Tín An Ninh. 

Rời quân trường, Phạm Tín An Ninh ra đơn vị tác chiến, phải thế chỗ cho một trung đội trưởng vừa tử trận. Hiện thực ấy, tác động đến tâm lý, làm cho người sĩ quan trẻ không khỏi bùi ngùi giao động. Những Mùa Mưa Trong Ký Ức, tuy không phải là bút ký hay của Phạm Tín An Ninh, song đã nói lên phần nào cái không khí, cục diện mới của chiến tranh, cũng như tâm trạng chung của người lính lúc đó: 

“Nghi thức ra mắt vừa xong, tất cả tháp tùng ông tiểu đoàn trưởng đến Quân Y Viện Nguyễn Huệ để dự tang lễ của một ông thượng sĩ vừa qua đời do bị trọng thương trong cuộc hành quân tại Lâm Đồng tuần trước. Tôi bất ngờ và có cảm giác xốn xang khi biết ông thượng sĩ này là Trung đội trưởng Trung Đội 3/3 mà tôi là người đến thay thế ông…ngày đầu ra nhận đơn vị lại là ngày phải tiễn đưa người tiền nhiệm mà mình chưa hề biết mặt ra nghĩa trang, nên ít nhiều nghĩ tới phần số của mình trong nay mai và sớm bị ám ảnh bởi tiếng khóc than của người góa phụ”. 

Nếu ta đã đọc bút ký, truyện ngắn nơi chiến trường của những: Phan Nhật Nam, Cao Xuân Huy, hay Song Vũ… thì thấy được trước cái chết, sự hy sinh tình đồng chí, đồng đội, mới dừng lại ở sự miêu tả cái khoắc khoải, tàn khốc, đớn đau. Song đến Phạm Tín An Ninh đã có sự liên tưởng. Với phương thức liên tưởng này, cùng những ca khúc trữ tình, lãng mạn ấy, làm cho hình ảnh người lính dường như đi vào bất tử, và cái chết của họ nhẹ nhàng, dịu bớt nỗi đau trong lòng người đọc chăng?. Vẫn trích đoạn trong bút ký, Những Mùa Mưa Trong Ký Ức dưới đây, không chỉ chứng minh cho điều đó, mà còn cho ta thấy, nỗi đau và tình đồng đội của người lính: 

“Người tôi ướt đẫm máu, nước mưa, và cả nước mắt (cho người đồng đội thương binh không có chút hy vọng sống còn)… Khuya hôm ấy, anh lính bị trọng thương của tôi, vốn là một tân binh quân dịch, quê tận Gò Công, đã trút hơi thở cuối cùng trên tay tôi, sau khi giao cho tôi cái bóp có hai tháng tiền lương và thì thào lời trối trăng đứt đoạn, nhờ chuyển lại cho vợ và đứa con gái đầu lòng chưa đầy một tuổi, mà anh chỉ mới về phép thăm cháu một lần. Đó là người lính đầu tiên dưới quyền đã chết, trên tay tôi. Anh có cái tên rất dân dã mà tôi không bao giờ quên được: Nguyễn văn Tý. Trùng tên người nhạc sĩ sáng tác bài Dư Âm mà tôi thường hay hát. Và sau này, cứ mỗi lần nghe bản nhạc này, tôi lại nhớ đến anh…” 

Có thể nói, Chuyện Người Lính Trinh Sát là một trong những truyện ký hay nhất của Phạm Tín An Ninh. Đọc nó, tôi cứ bị ám ảnh mãi, bởi câu kết: “Trong cuộc chiến này, quả thật, có những điều mà người ta không thể nào hiểu được”. Dường như, đó là câu hỏi, một vấn đề buộc nhà văn, người lính Phạm Tín An Ninh phải đi tìm. Có lẽ, không một ai hiểu được tâm trạng của một người vợ có chồng theo Cộng sản, bị lính Việt Nam Cộng Hòa bắn chết, và người con trai duy nhất đi lính VNCH lại bị bộ đội giết?. Sự đau đớn ấy, không thể làm một phép tính so sánh, song cái giằng xé, đau đớn, âm thầm của bà nhân lên gấp bội, bởi không người xẻ chia, cảm thông. Thật vậy, thông qua bà, nhà văn Phạm Tín An Ninh đã cho ta thấy rõ, hình ảnh thu nhỏ của cuộc chiến hai mươi năm, anh em tương tàn này. Tuy nhiên, hơi bị tiếc, bởi tác giả dường như, chưa khai thác hết mâu thuẫn nội tâm của người vợ, người mẹ đau khổ này. Nếu tác giả khoét sâu vào khía cạnh này, tôi tin rằng, truyện hay lên gấp nhiều lần, và câu chuyện không dừng lại chỉ một người lính trinh sát can trường. Có thể, tác giả phải đặt lại tên “Chuyện Về Mẹ” thay cho truyện “Chuyện Người Lính Trinh Sát” không chừng. 

Vâng! Và cuộc chiến hai mươi năm được đặt lên đôi vai gầy của mẹ. Có cái đau nào bằng nỗi đau nhìn chồng chết mà không dám nhận, không dám khóc, không dám vấn khăn tang? Và có những nỗi đau chồng lên nỗi đau, khi bà mẹ nhìn con trẻ chết tan xác, bởi hỏa tiễn đồng đội của chồng, khi nỗi đau mất chồng chưa kịp nguôi ngoai? Đọc xong Chuyện Người Lính Trinh Sát, tôi cứ phân vân tự hỏi: Nếu có ghi tên vào Trang sử của chiến tranh, người vợ, người mẹ này thuộc về những người lính chiến VNCH, hay là của những anh Bộ đội? Và có phải đó là nỗi đau chung, nỗi đau khó xóa nhòa?. Ta hãy đọc lại những lời thoại, với sự cảm thông, chia sẻ giữa người lính VNCH và người đàn bà trong: Chuyện Người Lính Trinh Sát dưới đây, để thấy rõ cái trớ trêu, cũng như bản chất của cuộc chiến, và nỗi đau tận cùng của con người, hay của cả một dân tộc này: 

“Chờ cho người mẹ thắp hương và bớt xúc động, tôi hỏi nhỏ: 

– Ở làng Long Giang, chị có biết bà Lê Thị Đúng, có người con chỉ huy du kích, bị chết cách nay khoảng tám năm? 

Người mẹ ngạc nhiên nhìn tôi, thoáng dò xét rồi cúi xuống, nói thật nhỏ chỉ đủ tôi nghe: 

– Bà là mẹ chồng tôi, và con tôi đây là đích tôn, cháu nội duy nhất của bà. Vừa nói chị vừa đưa tay chỉ vào nấm mồ mới toanh trước mặt. 

Khi về lại đơn vị, tôi xin Ban Tài Chánh ứng trước nửa tháng lương. Trích ra một phần, bỏ vào bì thơ, tôi tìm đến đại đội trinh sát gặp và biếu cho bà mẹ của người lính trẻ vừa mới lẫm liệt hy sinh. Bà thoáng một chút xúc động ngạc nhiên nhìn tôi, nói lời cám ơn…Chia tay bà, trên đường trở về Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn, tôi suy nghĩ mông lung. Trong cuộc chiến này, quả thật, có những điều mà người ta không thể nào hiểu được.” 

Tôi không nghĩ, ngòi bút của nhà văn Phạm Tín An Ninh đại diện chung cho người lính VNCH. Nhưng tư tưởng, sự cảm thông mang tính nhân văn có được trên những trang sách, bởi ông đã nhận ra bản chất của cuộc chiến này. Thật vậy, đọc Người Góa Phụ Giờ Thứ 25, ta có thể thấy, ngoài sự dũng cảm với những cái chết tang thương của người lính, cùng sự cảm thông, kính phục, nhà văn Phạm Tín An Ninh còn chỉ ra, bàn cờ chính trị bẩn thỉu đã quyết định số phận người lính ở nơi chiến trường. Tôi đã đọc nhiều bút ký, hồi ký của những nhà văn từ cả hai phía viết cuộc chiến này, song phải nói, rất ít gặp được những nhận định rạch ròi, mang tư tưởng sâu sắc như Phạm Tín An Ninh: 

“Sau khi Mỹ bất chấp những phản đối của VNCH, đã tự cho mình ngồi ngang hàng với Cộng Sản Bắc Việt và đơn phương nhượng bộ quá nhiều điều trong Hiệp Định Paris ký kết ngày 27.1.1973, chứng tỏ ý định sớm bỏ rơi đồng minh, phủi tay cuộc chiến. Lợi dụng điều này, Cộng quân đã ồ ạt tung nhiều sư đoàn với lực lượng chiến xa, từ miền Bắc và Lào, theo đường mòn Hồ Chí Minh xâm nhập Nam Việt Nam, đồng loạt mở các cuộc tấn công qui mô vào các đơn vị phòng thủ của ta. Phước Long là tỉnh đầu tiên bị thất thủ vào ngày 6 tháng 1/1975 nhưng không có bất cứ dấu hiệu nào từ phía Hoa Kỳ can thiệp hay phản đối CSBV vi phạm hiệp định. Điều này đã báo hiệu cho số phận của VNCH.” (Người góa phụ giờ thứ 25) 

Có thể nói, đọc Phạm Tín An Ninh mở ra cho tôi nhiều kiến thức, cái nhìn (đa chiều) về cuộc chiến tàn khốc nhất của dân tộc mà ông, thế hệ ông đã đi qua. Tôi nghĩ, với lăng kính, cái nhìn khách quan như vậy, trang viết của ông không chỉ giá trị về mặt văn học, mà còn có giá trị về lịch sử. Đây là một trong những yếu tố quan trọng làm nên chân dung nhà văn Phạm Tín An Ninh. 

Tính nhân bản, lòng vị tha vượt lên trên ngục tối tù đày 

Đi sâu vào đọc và nghiên cứu, ta có thể thấy, truyện của Phạm Tín An Ninh luôn mang tính điện ảnh, kịch tính với mâu thuẫn, tình tiết éo le được đẩy lên cao độ, và bất ngờ. Tuy thắt nút được mở, cái kết vỡ òa có hậu, song làm cho nguời đọc không khỏi bùi ngùi, xót xa. Đà Lạt Trời Mưa là một truyện hay, tiêu biểu cho đặc tính này trong truyện ký, văn xuôi của ông. Thật vậy! Chiến tranh kết thúc, nhà tù, cải tạo là nơi người lính thất trận phải đi đến. Ở địa ngục trần gian này, cái chết chưa phải là điều đáng sợ nhất đối với người lính cải tạo tù đày, mà cực nhọc, đói khát, đày đọa về vật chất, giam hãm tinh thần mới là nỗi ám ảnh thường trực, kể cả khi họ đã thoát ra khỏi nơi địa ngục ấy. Ta hãy đọc lại trích đoạn trong Đà Lạt Trời Mưa dưới đây, để thấy rõ, cái chết rẻ mạt và bất ngờ của họ, dẫn đến những bi kịch của con người ở một xã hội luật pháp, đạo lý đảo lộn tùng phèo này: 

“Họ bắt chúng tôi phải tìm những cây gỗ lớn và thẳng. Có những thân cây lớn đến hai vòng tay ôm không hết. Trời mùa đông với những cơn mưa phùn không dứt, nên những con đường mòn trơn như mỡ…Ăn uống quá thiếu thốn, đám tù chúng tôi triền miên trong cơn đói. Sức ngày càng yếu mà phải lao động quá nặng nhọc… Thống mệt quá nên lảo đảo rồi ngã sấp trên thân cây, đúng lúc cây này lăn xuống suối, bật luôn theo Thống. Chúng tôi chỉ còn nghe tiếng hét của Thống trước khi anh bị văng xuống lòng suối nằm sâu dưới vực.” 

Tuy viết về chiến tranh, người lính, và cải tạo tù đày, song chất trữ tình là nghệ thuật đặc trưng nhất xuyên suốt truyện ngắn, văn xuôi của Phạm Tín An Ninh. Do vậy, đọc ông luôn cho ta cảm giác nhẹ nhàng, sâu lắng ăm ắp tình người. Ta có thể thấy, cùng với, Thằng Bé Đánh Giày Người Nghĩa Lộ, Ở Cuối Hai Con Đường là truyện ngắn hay nhất về tình người, lòng nhân đạo cao cả, sâu sắc của Phạm Tín An Ninh. Nếu ở, Thằng Bé Đánh Giày Người Nghĩa Lộ, sự cảm thông của người mẹ, người dân miền Bắc đối với những người lính cải tạo tù đày, thì Ở Cuối Hai Con Đường, thì cái tình người ấy, thể hiện ngay trong tình cảm, hành động của người quản giáo (một cựu tù binh ở chiến trường Kontum, đã được những người lính VNCH đối xử nhân đạo). Có thể nói, tôi đã đọc rất nhiều bút ký, hồi ký của những cựu cải tạo, tù nhân từ Nam ra đến Bắc, song có rất ít nhà văn, người viết tìm ra khía cạnh này. Tôi nghĩ, đây là cái nhìn công bình, không mang tính định kiến, hận thù của một nhà văn có tình yêu và lòng vị tha cao cả. Cho nên, trong một lần điện đàm, bàn luận về nhà văn Phạm Tín An Ninh, nhà thơ Trần Trung Đạo cho rằng: Phạm Tín An Ninh chinh phục được độc giả như vậy, vì khi viết anh có cái tâm trong sáng. 

Thật vậy, đoạn văn miêu tả tình cảm, tình người dưới đây, sẽ chứng minh cho chúng ta điều đó: 

“Đêm đó, như thường lệ, anh Thà xuống sinh hoạt với anh em bên bếp lửa. Anh bảo nhỏ anh đội trưởng: 

– Tôi để một giỏ cá đằng sau lán. Trước giờ ngủ, anh ra mang vào, chia cho mấy anh bị bệnh kiết lỵ đang mất sức để các anh bồi dưỡng. Nhớ giữ kín, đừng để trên biết. 

Bây giờ anh em mới hiểu, người mà chiều nay, đặt lờ bắt cá ngoài đồng ruộng chính là quản giáo Thà. Ai cũng cảm động. 

Biết là anh em tù bị đói triền miên, nhất là sau mùa đông dài, một buổi sáng đầu mùa xuân, quản giáo Thà đưa cả đội 50 người tù lên một đồi trồng toàn sắn của một hợp tác xã nào đó. Sắn đầu mùa, củ còn nhỏ. Anh chỉ cho anh em cách đào lấy củ mà thân sắn vẫn còn nguyên. Rồi đào mấy cái bếp “Hoàng Cầm” để luộc sắn mà không ai phát hiện có khói. Anh dắt hai anh tù xuống đồi xách hai thùng nước mang lên, căn dặn anh em thay phiên nhau luộc sắn ăn cho no. Anh đích thân ở lại đứng gác. Nếu có ai vào, anh vờ ra lệnh “chuẩn bị đi về”, anh em tức khắc giấu hết “tang vật” xuống một cái hố đã đào sẵn.” (Ở Cuối Hai Con Đường) 

Nghỉ Hè Ở Mallorca là một truyện ký, tôi cho rằng, hay, và toàn bích nhất của Phạm Tín An Ninh. Cùng với Ra Biển Gọi Thầm của Trần Hoài Thư, Nghỉ Hè Ở Mallorca là truyện độc đáo nhất về tình yêu ở nơi cải tạo tù đày. Tính chất trữ tình tựa như cơn mưa đầu làm dịu mát cái nắng nóng hừng hực giữa hè của văn chương về chiến tranh, tù đày sau 1975, ở hải ngoại vậy. Vâng! Vẫn thủ pháp nghệ thuật hồi tưởng, chập chờn ký ức của nhân vật lồng vào tác giả, Phạm Tín An Ninh đã đưa người đọc trở về với những ngày tù tội, nơi có mối tình cao thượng tuyệt đẹp, giữa một nữ kỹ sư lâm trường và người tù cải tạo. Tình yêu, và sự cao thượng trong hoàn cảnh ấy, tuy nghiệt ngã, song nó đã mở ra một lối thoát, một nghị lực sống của con người: 

“Tội nghiệp, em yêu anh Đôn trong một hoàn cảnh quá nghiệt ngã. Điều duy nhất mà em có thể làm được cho người yêu của mình là giúp anh trốn trại, vượt ra khỏi khung cảnh đày ải man rợ, để anh ấy luôn được xứng đáng với những điều anh đang có. Bởi vì chính những điều ấy đã làm cho trái tim em rung động, để em biết thế nào là một tình yêu, mà nếu không gặp anh ấy, có lẽ suốt cả đời em không có được. Quan trọng hơn, đó lại là thứ vũ khí tốt nhất, hiệu quả nhất giúp em đủ can đảm và nghị lực để chống lại số phận, mà trước đó em nghĩ là tới một ngày em sẽ phải đầu hàng, buông xuôi, bất lực.” (Nghỉ Hè Ở Mallorca) 

Dường như, càng bị đọa đày, thì Phạm Tín An Ninh càng tĩnh tâm hơn. Nhất là khi ông bước vào nghiệp viết. Lòng nhân bản, tình người giúp ông bước ra khỏi hận thù. Cho nên, mỗi trang viết của ông như một liều thuốc, lời ru làm xoa dịu nỗi đau của con người vậy. 

Quê hương với nỗi đau và mất mát 

Bước ra khỏi nhà tù nhỏ, nhưng con đường trước mặt Phạm Tín An Ninh còn bế tắc hơn nữa. Nỗi đau của đất nước, và gia đình như đám mây đen bao kín cả bầu trời. Và đi hết biển, con đường duy nhất, là nơi ông phải đến. Tâm trạng ấy, được Phạm Tín An Ninh ủ vào bài viết, mà tôi không thể gọi thành tên. Bởi, ông trộn tất cả các thể loại văn học vào trong đó. Vâng! Những Đám Mây Trên Đỉnh Núi Phổ Đà là bài viết như vậy. Có thể nói, đây là một trong những bài văn cảm động nhất của Phạm Tín An Ninh. Vẫn lối viết giản dị, lời văn mộc mạc, nhưng giàu hình tượng làm cho người đọc phải rưng rưng ngấn lệ. Những hình tượng so sánh ấy, trải ra, rồi cuộn tròn thành nỗi đau, nỗi u hoài trong lòng tác giả, trong lòng người đọc. Thành thử, tôi không thể lược bỏ bất cứ từ ngữ, câu cú nào trong đoạn trích dưới đây, dù có thể khá dài: 

“Chỉ có dãy núi Phổ Đà vẫn còn đứng nguyên ở đó. Hôm đầu tiên ra cổng nhìn lên, tôi không còn thấy cánh đại bàng hùng vĩ ngày xưa. Cả đỉnh núi bị bao phủ bởi những đám mây đen buồn thảm, làm tối cả một vùng trời ảm đạm. Tôi hình dung đến cha mẹ tôi, hai ông chú và cả những đồng đội bạn bè, trong đó có Phan. Tất cả như đang ẩn hiện trong các đám mây mù buồn thảm ấy. Lòng tôi đau đớn như đang có trăm ngàn vết chém. Tôi thắp hương, nhắm mắt tưởng nhớ và cầu nguyện cho tất cả được siêu thoát trong một thế giới bình an, không còn có đau khổ, hận thù. Nghe tiếng sấm chớp, tôi giật mình mở mắt ra. Trời đang vần vũ một cơn mưa. Nhìn mưa trút nước từ những đám mây đen trên đỉnh núi Phổ Đà, tôi có cảm giác như suối nước mắt của bao nhiêu người thân bất hạnh. Mưa dứt. Những đám mây đen biến mất. Tôi cũng vừa nhìn thấy cánh chim đại bàng trên vách núi vỗ cánh bay đi. Mất hút cuối chân trời.” 

Và Phạm Tín An Ninh đã đi gần hết biển. Xứ lạnh Na Uy là nơi ông cập bến đỗ. Cuộc sống yên bình, hạnh phúc nơi đây càng làm cho ông day dứt khôn nguôi. Với đồng đội, với quê hương, một món nợ, buộc ông phải trả. Như một cánh chim biệt xứ, ông biết về đâu, khi thành phố xưa đã thực sự không còn, và những dấu tích, kỷ niệm xưa chỉ còn là cổ tích. Một nỗi đau, không thể giãi bày. Hoàn cảnh ấy, chỉ có trang viết mới làm ông nguôi ngoai nỗi nhớ thương. Và khi viết Chim Bay Về Biển, dường như Phạm Tín An Ninh đã vắt hết nỗi đau, và niềm nhớ thương nơi quê nhà vào trong đó. Thật vậy, Chim Bay Về Biển là những trang văn đẹp nhất, và cũng buồn nhất, mà tôi đã được đọc trong thời gian gần đây. Ta hãy đọc lại một trích đoạn trích dưới đây, để thấy rõ điều đó: 

“Bỗng lòng tôi chợt thoáng lên một chút băn khoăn. Những cánh chim di xứ ấy sẽ bay trở về đâu, khi Nha Trang ngày xưa của họ đã thực sự không còn. Thành phố đã cho họ một thời tuổi thơ đẹp đẽ hoa mộng, nhưng cũng đã để lại trong lòng họ quá nhiều đớn đau, mất mát sau cuộc đổi đời. Những hang động tuổi thơ và dấu tích của những cuộc tình ngày xưa, tất cả giờ chỉ còn là cổ tích. Tôi nhớ lời thằng bạn còn ở lại Nha Trang, nhớ tới thầy tôi, nhà văn Cung Giũ Nguyên và tác phẩm Le Domaine Maudit viết từ năm 1961, như là một tiên tri của Thầy.” 

Có lẽ, thời gian đẹp, nhiều kỷ niệm nhất của Phạm Tín An Ninh là lúc mặc áo lính, nên truyện của ông chủ yếu viết về lính, viết về chiến tranh. Có điều đặc biệt, trên trang sách của ông, tôi ngửi thấy mùi khét của bom, nghe thấy tiếng súng, nhưng tôi không thấy có địch, có ta, không có hận thù và những cảnh khát máu giết người, mà chỉ thấy ngun ngút tình người trong đó. Và ước nguyện của Phạm Tín An Ninh, dường như cũng là ước nguyện chung cho tất cả những người lính đã đi qua cuộc bể dâu này. Chính vì vậy, tôi xin mượn một đoạn văn trong truyện ký: Tháng 4 Nhớ Bạn (của ông) nhằm làm sáng tỏ thêm chân dung nhà văn Phạm Tín An Ninh, cũng như để kết thúc bài viết này: 

“Lịch sử dân tộc nhất định sẽ có ngày viết lại những chiến công vinh quang hiển hách, và cả những hy sinh, đau đớn, khổ nhục mà thế hệ chúng tôi đã từng đạt được, trải qua, trong một giai đoạn bất hạnh và đau thương nhất của dân tộc.” 

Leipzig ngày 27-12-2019 

 Đỗ Trường

 danlambaovn.blogspot.com

Những đoạn kết… buồn hiu! 

Những đoạn kết… buồn hiu! 

Huy Phương

Cô đào thương biết lúc phải giã từ sân khấu lúc mình về già, khi nhan sắc đã tàn phai, giọng hát đã rã rời, đứt đoạn. Dù sự ra đi ấy có đem lại những thiệt thòi, đau xót, người trong cuộc cũng phải đành chấp nhận. Chính người hâm mộ cũng không bao giờ muốn thấy thần tượng của mình lúc xế chiều, mà họ muốn giữ lại cái hình ảnh đẹp đẽ của những ngày xưa.

“Limelight” là cuốn phim nổi tiếng nhất của Charlie Chaplin, một phim rất cảm động về tình đời. Trong phim, Charlie Chaplin đóng vai một ca sĩ hài hước về… chiều, thất bại vì tài năng đã đến lúc tàn tạ, “Rồi khi ánh đèn tắt lặng lẽ cô đơn, chìm trong bóng đêm, người ta lãng quên bẽ bàng…”

Chúng ta thương xót cho cuộc đời nghệ sĩ lúc về chiều, không còn ai hâm mộ, chết trong lãng quên, nhưng chúng ta cũng không muốn người nghệ sĩ kéo dài năm tháng trên sân khấu khi nhan sắc đã về chiều, tẻ nhạt và buồn phiền.

Người ta thường tự kết liễu thanh danh của mình bằng những đoạn kết… buồn.

Trong những con người đó chúng ta có thể kể đến Phạm Duy, một tên tuổi hay nói ví von hơn, là một “cây cổ thụ” trong làng âm nhạc Việt Nam, đã có một đoạn kết dở, khi ông đã tự phủ nhận tất cả chính kiến của mình để xoay chiều 180 độ. Những người đó, cũng là Trịnh Công Sơn, người đã được sự yêu thương của tất cả người Việt Nam, đã có một đoạn kết… buồn, khi dưới bạo lực… mềm, ông đã kéo dài thêm một quãng đời, khi đồng bào rên xiết, ông đã reo vui bằng những câu hát mê muội, “Em ở nông trường anh ra biên giới,” “ Huyền thoại Mẹ,” “Ra chợ ngày thống nhất,” và tệ hại hơn là “Ánh sáng Mạc Tư Khoa,” được xem như một bản “báo cáo công tác” sau khi ông được ân huệ của Cộng Sản trả công bằng một chuyến “tham quan” Liên Xô.

Liệu những “thiên tài” hay “đại thụ” có cần kéo lê thêm một đoạn đời như thế không?

Có những ca sĩ tên tuổi, được sự yêu mến của mọi người, giờ đây muốn thêm một kịch bản gọi là phần hai cho đời mình. Dù dưới mục đích cao đẹp “cần về quê hương hát cho đồng bào mình nghe,” hay thực tế là họ cần tiền và còn kiếm được tiền, thì những đoạn kết ấy cũng không mấy tốt đẹp, đánh mất tất cả niềm tin và sự thương yêu lâu nay người đời đã dành cho họ.

Nói như Nguyễn Du, “Đã buồn cả ruột, lại dơ cả đời!”

Tiểu thuyết Trà Hoa Nữ (La Dame Aux Camélias) được chuyển thành kịch bản là một tác phẩm nổi tiếng trên khắp thế giới, nhưng nếu chẳng may có ai đó dựng nên kịch bản “Hậu Trà Hoa Nữ” để cho Marguerite Gautier có dịp gặp tái hồi cùng Duval, như lấy nhau, thì vở kịch chán chường lố bịch biết bao.

Người đời thường thích những chuyện có “hậu” và phải hiểu đây là thứ hậu vuông tròn, đẹp đẽ (happy ending.) Chính vì vậy mà Nguyễn Du kéo dài truyện Kiều, nên nhân gian có thành ngữ “tái hồi Kim Trọng.” Trong phần tái hồi này Kim Trọng để chàng phải nài nỉ, phân bua “chữ trinh kia cũng có ba bảy đường,” cũng tính chuyện “động phòng.” May mà Thúy Kiều cứng rắn, cho mình là “hương dưới đất, hoa cuối mùa,” từ chối quyết liệt, Kim Trọng mới thẹn thùng đổi chuyện chăn gối ra chuyện cầm thơ.

Có nhiều người không tự biết mình, hay soi gương cũng chẳng thấy khuôn mặt mình, nhưng như vậy không có nghĩa là không ai thấy mình. Đó là những người chưa chết nhưng đã tự chôn mình. Họ cố ôm lấy những danh vọng hão, hết chức vụ này lại muốn nhảy sang cầm lấy chức vụ khác, hết làm chủ tịch thì quay sang làm cố vấn, họ nghĩ không có họ thì ai còn khả năng đứng ra cứu nước!

Trong khi ông nọ hết nhiệm kỳ làm tổng thống lại lui về chức thủ tướng chờ thời, rồi trở lại làm tổng thống, bà nọ không còn là thị trưởng thì ứng cử lấy chức nghị viên thành phố, người kia oanh liệt một thời cấp tiểu bang nay lại công danh thụt lùi về lại quận hạt. Như vậy còn chỗ nào cho người khác, trẻ tuổi và tài năng tiến thân. Cái giỏ cua bây giờ cua bò lên không bị ai kéo trở lại, nhưng đóng nắp rồi thì cũng không ai còn tìm được con đường tiến thân. Biết chấm dứt kịp lúc, đúng thời, đối với họ quả là chuyện khó khăn.

Lê Đạt trong phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm, năm 1956, đã có bài thơ “Ông Bình Vôi” để phê phán những cán bộ sống lâu lên lão làng nhưng “càng lớn càng đặc,” ôm lấy các chức vị, trong đó có những câu:

“Những kiếp người sống lâu trăm tuổi

Y như một cái bình vôi

Càng sống càng tồi

Càng sống càng bé lại…”

Nhà văn Phan Khôi, nhân mấy câu thơ của Lê Đạt, có viết một bài văn cũng mang tên là “Ông Bình Vôi” có những câu như: “vật gì sống lâu và to xác thì gọi bằng ‘Ông’ để tỏ lòng tôn kính, sùng bái.” Trong cộng đồng chúng ta bây giờ không thiếu những “Ông Bình Vôi!”

Ở Việt Nam có quy định tuổi về hưu cho các cấp chỉ huy, nhưng gần đây người ta cho tái bổ nhiệm một bà với một lý do rất buồn cười là vì bề ngoài, trong bà còn trẻ! Người ta trau chuốt công lao của bà và gần như đi đến kết luận, trong lúc này chưa ai thay thế được bà.

Ở Mỹ nếu một ông tổng thống làm đến 3 nhiệm kỳ thì… chán chết, trong khi đó, “Ong Bình Vôi” (*) Phạm Văn Đồng của “ta” ôm chức thủ tướng Việt Cộng tại vị lâu nhất đến 32 năm (1955-1987).

“Giai nhân tự cổ như danh tướng, bất hứa nhân gian kiến bạc đầu!”

Ai muốn nhìn một hoa hậu về già, tóc bạc, miệng móm?

Ông tướng chết giữa chiến địa có đoạn kết cho đời mình bi hùng, trong khi ông tướng về hưu chết trong nhà dưỡng lão có một đoạn kết… buồn hiu!

(*) “bằng đất nung cả, mà một thứ giống như cái hũ nhỏ, duy cổ eo, miệng loa…”

Huy Phương

NHÌN SANG NƯỚC BẠN THẤY MÌNH TE TUA

Image may contain: one or more people, people sitting and drink

Lê Vi

NHÌN SANG NƯỚC BẠN THẤY MÌNH TE TUA

Hôm sang Thái Lan, tôi và một người bạn dự định sẽ ăn tối và uống chút bia, lai rai ngắm nhìn đường phố Bangkok. Vào một nhà hàng giống quán nhậu ở Việt Nam, chúng tôi gọi 2 chai bia sau khi đã order vài món.

Thật bất ngờ là quán từ chối bán bia. Nhìn sang hàng loạt bàn ăn bên cạnh, đều không có ai uống bia hay rượu. Cả quán ăn đông đúc là vậy mà rất yên tĩnh, không ồn như quán ăn nhậu ở Việt Nam.

Tìm hiểu thì được biết Thái Lan áp dụng cấm bán bia rượu ở nhiều khung giờ và hạn chế người dân tiếp cận bia rượu ở nhiều nơi. Đó là lý do mà đi dạo trên đất Thái Lan thấy người dân rất hiền hòa, thư thái, an bình.

Và với chúng tôi, việc không uống bia giúp bữa ăn được ngon lành trọn vẹn. Hơn nữa, số tiền thanh toán rất thấp, chỉ khoảng 300 ngàn đồng cho hai người.

Mấy năm trước, khi đi du lịch Singapore, nhóm đàn ông trong đoàn Việt Nam chúng tôi muốn làm một thùng bia sau cả ngày tham quan trong tiết trời oi nắng. Rất may là cậu tiếp viên quán ăn cảnh báo trước rằng giá mỗi một chai Tiger tương đương 400 ngàn đồng Việt Nam. Thế là mọi người quyết định nhịn uống. Tôi nhớ khi đó nhóm khách Trung Quốc ngồi ăn bàn bên cạnh uống bia khá thoải mái. Có lẽ họ giàu có hơn chúng ta nhiều.

Chắc chắn là ở những đất nước tiến bộ như Thái Lan, Singapore, Malaysia, bia rượu được nhốt kỹ ở một góc nào đó trong cuộc sống. Chúng không thể thả rông thoải mái, khuấy đảo xã hội như Việt Nam.

Quan sát cách vận hành thị trường bia rượu trên thế giới, chúng ta dễ nhận thấy Việt Nam đang ở trong một túi cồn được tạo ra từ chính sách.

Đánh thuế rẻ mạt, cho mua bán tràn lan tận hang cùng ngõ hẻm, bất cứ ai cũng có thể tiếp cận và tiêu thụ rượu, bia. Đến bất cứ chỗ nào ở Việt Nam, từ cổng trường học ở thị thành hay tận sâu trong các bản làng heo hút đều dễ dàng mua được bia rượu.

Chúng ta nhìn thấy gì qua diễn biến này. Tôi nghĩ đó là một âm mưu đầu độc quy mô lớn.

Đàn ông cả nước cứ lấy tửu điếm giải khuây thì không bao giờ có thể ngóc đầu lên mà làm cái gì đó lớn lao cho đất nước. Quân cai trị sẽ chỉ cười khẩy khi thấy các gã say chém gió chửi bới bên bàn nhậu.

Nhậu say thì lăn quay ra ngủ. Vòng tròn cứ lặp đi lặp lại. Dù sao sau khi tỉnh dậy, đám này vẫn nai lưng ra làm đóng thuế, đóng BHXH, tiêu thụ, tiêu thụ và tiêu thụ cho nhu cầu cá nhân.

(VÌ MỘT VIỆT NAM THỨC TỈNH)

fb Quý Lâm

VÀI HÔM NỮA LÀ TRỞ THÀNH NƯỚC CÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN..

Image may contain: one or more people

Giang Thanh

VÀI HÔM NỮA LÀ TRỞ THÀNH NƯỚC CÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN..

 Nhìn lại đất nước từ năm 1954 (với miền Bắc) và từ năm 1975 (trên phạm vi cả nước) cộng sản VN bưng nguyên mô hình CNXH Xô viết, kinh tế thị trường bị kỳ thị, tẩy chay do vậy trừ kinh tế cá thể nhỏ lẻ, còn lại kinh tế tư nhân, trước hết là các doanh nghiệp tư nhân bị xóa sổ. Chưa kể đến một nền kinh tế của miền Nam thời VNCH…

Đến hôm nay Đảng cộng sản mới thừa nhận kinh tế thị trường là phương thức phát triển kinh tế năng động nhất mà nhân loại đã tìm ra, là sản phẩm của nền văn minh nhân loại mà tư duy vô sản của cs đã đi ngược lại nhân loại.

Họ đâu biết rằng nền tảng để cho một quốc gia phát triển đâu phải cứ hô khẩu hiệu, rồi kiên định với đường lối chính trị Mác- lê. Rồi cho nhân dân ăn bánh vẽ mấy chục năm qua không biết ngán, mà mới đây còn vẽ cho dân mình ăn thêm cái bánh đến năm 1945 là thành nước công nghiệp phát triển. Thay cho khẩu hiệu đến năm 2020..

Phải chăng nhà nước cộng sản cố bấu nếu để duy trì sự độc tài của chế độ..

Đến nay thu nhập GDP theo đầu người của Việt Nam năm 2018 chỉ đứng thứ 136/168 so với các nước tham gia xếp hạng của thế giới.

Theo Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng, GDP bình quân đầu người của thế giới ngày một doãng xa so với Việt Nam.

Cách đây 30 năm, GDP bình quân đầu người của thế giới hơn của Việt Nam 3.900 USD, nhưng nay đã vọt lên hơn 7.500 USD, gần gấp đôi, theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Quang Thái.

Thế lực thù địch, phản động là ai?

Thế lực thù địch, phản động là ai?

28-12-2019

Từ nhiều năm nay, đài báo cứ tuyên truyền các thế lực “thù địch, phản động” đang diễn biến hoàn bình, âm mưu lật đổ chính quyền do đảng cộng sản lãnh đạo.

Mới đây, phát biểu tại hội nghị toàn quốc tổng kết công tác tuyên giáo năm 2019 và triển khai nhiệm vụ năm 2020 ngày 23.12, ông Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, cũng nhấn mạnh: “Tuyên giáo phải là lực lượng nòng cốt, kết nối lực lượng, đấu tranh kịp thời với các luận điệu chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phần tử phản động, cơ hội chính trị, …”

Rồi tiếp đến, nghe Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, nói: đấu tranh với thế lực thù địch phản động “đấu tranh một mất một còn, quyết liệt, nóng bỏng, cấp bách và không khoan nhượng“.

Nghe các quan tướng này nói hùng hổ quá, tôi là nhân dân với truyền thống đã 3 đời chống ngoại xâm cũng muốn xông ra trận tiêu diệt quân thù. Nhưng ngặt một điều, không biết thế lực thù địch, phản động là ai?

Đường đường là các quan tướng chính danh mà không nói rõ ràng thì dân làm sao phân biệt địch ta, phản động để cùng với quân đội bảo vệ đất nước?!

Kính thưa các vị tuyên giáo, cờ đỏ, dư luận viên; cứ nói đến quyết tâm tiêu diệt thế lực “thù địch, phản động”, nhưng “thù địch, phản động” thực sự là ai, ở đâu, thì dân đen ít người biết. Vậy xin hỏi mấy câu:

1. Tổng thống Hợp Chúng quốc Hoa Kỳ là Donald Trump đã nhiều lần lên án chủ nghĩa xã hội, tuyên bố chống chủ nghĩa cộng sản và quyết tâm tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới. Vậy ông Donald Trump có phải THÙ ĐỊCH không?

Và, những kẻ xum xuê đón tiếp ông Trump để xin được mua vũ khí, để được làm ăn, để được công nhận kinh tế thị trường,… Những kẻ đó có phải PHẢN ĐỘNG không?

2. Tổng bí thư đảng cộng sản, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình đưa quân đội chiếm giữ biển đảo Việt Nam, nói thẳng ra là xâm lược Việt Nam. Vậy tên Tập Cận Bình kia có phải THÙ ĐỊCH không?

Và, những kẻ nhận Trung Quốc là anh em láng giềng hữu nghị với “16 chữ vàng, 4 tốt”, liếc mắt đưa tình lúng liếng, mở toang cửa cho Trung Quốc tự do ra vào. Những kẻ đó có phải PHẢN ĐỘNG không?

3. Thế lực tham nhũng, phá hoại tài nguyên, nguồn lực của đất nước đến hàng ngàn ngàn tỷ có phải thế lực PHẢN ĐỘNG không?

Thế lực mang rác thải, công nghệ cũ vào Việt Nam đầu độc cả dân tộc, hủy hoại môi trường hàng trăm năm sau chưa khắc phục được, có phải thế lực PHẢN ĐỘNG không?

***

Kết luận:

Các cơ quan ​tuyên giáo, công an, lực lượng 47, hội cờ đỏ các tỉnh thành nào cũng có, thêm đám dư luận viên suốt ngày ra rả trên mạng chống lại các thế lực thù địch, phản động.

Nhưng thế lực thù địch, phản động là ai? … thì không có định nghĩa rõ ràng nên không ai được biết cụ thể!​

Bài viết này mong muốn định danh tường minh thế lực “thù địch, phản động là ai?”. Tác giả sẵn sàng đối thoại với ông Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương và bất kỳ cơ quan chức năng chuyên môn nào để làm rõ phạm trù các khái niệm này.

Còn bây giờ, kính thưa các vị:

– Thế lực nào đã xâm lược, chiếm đoạt chủ quyền đất đai, biển đảo thiêng liêng của ông cha để lại.

– Thế lực nào đã đẩy hàng triệu người dân Việt Nam phải rời bỏ tổ quốc tìm đường mưu sinh ô nhục ở nước ngoài.

– Thế lực nào đã hủy hoại tài nguyên môi trường, làm suy yếu sức mạnh dân tộc, làm nhu nhược tinh thần nhân dân; làm cản trở tiến trình phát triển của đất nước.

Đó mới chính là thế lực THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG thực sự của dân tộc Việt Nam; lịch sử ngàn đời nguyền rủa và nhân dân sẽ quyết tâm tiêu diệt đến cùng.

Kính thưa các đồng chí đã, đang, sắp vào lò và các đồng chí đã hạ cánh an toàn…

Image may contain: 2 people, people smiling, people standing, people sitting and indoor

Lê Vi

Kính thưa các đồng chí đã, đang, sắp vào lò và các đồng chí đã hạ cánh an toàn khi mà mọi bí mật ăn đớp được may mắn bỏ sót.

Tôi xin được nhắc các đồng chí hiểu một điều là làm cán bộ, làm quan chức là để xây dựng đất nước, làm cho dân giầu, nước mạnh, đưa đất nước tiến lên thành một xã hội dân chủ, văn minh, bình đẳng, tôn trọng quyền con người chứ không phải là làm cán bộ, quan chức là để sắm biệt thự, xe hơi đắt tiền, là xây dựng quan hệ xã hội chằng chịt phức tạp mờ ám, là câu kết ăn đớp thả cửa, dành tích luỹ cho ngày về hưu, cho đời con, đời cháu và nhiều đời về sau của các đồng chí.

Các đồng chí nhớ cho là làm con người, miếng ăn không phải quá quan trọng mà điều quan trọng là đóng góp được gì cho xã hội. Nếu các đồng chí có đóng góp thật sự, nhân dân sẽ ghi công ngàn đời, sử sách sẽ khắc tên các đồng chí để thế hệ sau nhớ mãi.

Nhưng không, các đồng chí tuy mang bộ mặt con người nhưng trí não và tâm hồn lại của loài cầm thú tham lam. Mà nói thế cũng không chính xác bởi con vật khi giết thịt một con vật khác thì chỉ để no một bữa rồi đi ngủ, các đồng chí đã có một biệt thự thì lại muốn có hai, có ba. Đã đủ đời mình, thì lại muốn đủ đời con, đời cháu, đời chắt… Rất tiếc là khả năng ngôn ngữ của tôi có hạn nên không biết dùng từ gì để lột tả bản chất của các đồng chí. Thôi thì tôi sẽ dùng tạm là những con quái vật tham lam vô độ vậy.

Các đồng chí là bậc thầy của sự lưu manh, khốn nạn và đểu giả. Người dân đang sống yên ổn trong nhà, các đồng chí đang tâm cướp nhà của họ, nhưng lại nhân danh chính quyền, dùng quân đội và công an để thực hiện dã tâm của mình. Ấy thế nhưng khi đăng đàn trước công luận hay trả lời báo chí thì các đồng chí luôn dùng mĩ từ “do dân” “vì dân”, là “đầy tớ” là “công bộc” của dân. Các đồng chí cũng là bậc thầy của sự đạo đức giả.

Các đồng chí quả thật là “lưu manh giả danh cán bộ”, à, mà nói thế cũng không phải bởi các đồng chí không giả danh mà đúng là cán bộ thật. Vậy nói các đồng chí là cán bộ lưu manh mới đúng.

Các đồng chí quả thật rất nguy hiểm. Bởi kẻ cướp bịt mặt cầm dao thì ai cũng biết là kẻ cướp, kẻ cướp có dấu má, có chỉ thị, có chủ trương, có quy hoạch, có công an, quân đội tiếp tay thì dân đen nào đỡ cho nổi?

Fb Chau Doan

DỰ ĐOÁN VỀ TÌNH HÌNH THẾ GIỚI NĂM 2020 CỦA NHÀ TIÊN TRI ANH QUỐC

Image may contain: 1 person, smiling
Lê Vi

DỰ ĐOÁN VỀ TÌNH HÌNH THẾ GIỚI NĂM 2020 CỦA NHÀ TIÊN TRI ANH QUỐC

Nhà tiên tri người Anh, ông Craig Hamilton Parker, người đã tiên tri ông Trump sẽ trở thành tổng thống Mỹ hồi năm 2016, mới đây đã đưa ra dự ngôn vào năm 2020 rằng; ông Trump tái đắc cử, Trung Quốc sẽ có một “cuộc cách mạng” và ông Tập Cận Bình sẽ buộc phải thực hiện “những thay đổi lớn”.
Hàng năm, ông Hamilton Parker đều đưa ra những dự đoán về các sự kiện lớn trong năm tới và đăng công khai chúng trên mạng để theo dõi xác minh tính chính xác của các dự đoán và thậm chí tự cho điểm mình. Ví dụ, vào năm 2019, ông dự đoán Thủ tướng Anh Boris Johnson đắc cử là hoàn toàn chính xác và ông đã tự đánh giá mình đạt 10/10 điểm. Tuy nhiên, ông dự đoán rằng sẽ có vụ đắm tàu ​​ở vùng biển Scotland nhưng không xảy ra, nên ông tự chấm điểm số là 0/10.
Năm 2020, ông đưa ra dự đoán về sáu sự kiện lớn, bao gồm Tổng thống Trump sẽ tái đắc cử, “cuộc cách mạng” nổ ra ở Trung Quốc, chiến tranh xảy ra ở Trung Đông và khủng hoảng kinh tế ở châu Âu.

Về Trung Quốc, ông dự đoán rằng phong trào phản đối Dự luật Dẫn độ ở Hồng Kông sẽ tiếp tục tiếp diễn và sẽ có những bất ổn mới ở Trung Quốc đại lục. Đối mặt với khả năng sụp đổ của chính phủ Trung Quốc, ông Tập Cận Bình sẽ buộc phải đồng ý thực hiện “những thay đổi lớn”. Về lâu dài, việc Trung Quốc dựa trên giáo lý của Tôn Trung Sơn về nền dân chủ thực sự sẽ xuất hiện. Ông cũng dự đoán rằng khi tình trạng hỗn loạn càn quét khắp Trung Quốc, cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung cũng sẽ leo thang.

Đối với Mỹ, ông dự đoán vụ điều tra phế truất của đảng Dân chủ phế truất Tổng thống Trump sẽ kết thúc trong thất bại. Cựu phó tổng thống Joe Biden sẽ bị mất uy tín bởi vụ bê bối và Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Elizabeth Warren sẽ trở thành ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ. Tuy nhiên, ông Trump sẽ giành chiến thắng lần nữa trong cuộc bầu cử tổng thống. Ông cũng dự đoán chiến tranh Trung Đông sẽ nổ ra giữa Ả Rập Saudi và Iran; Mỹ và Nga sẽ đạt được thỏa thuận hòa bình tạm thời. Ngoài ra, nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un sẽ bị người dân lật đổ, và ông ta sẽ chạy trốn sang Trung Quốc. Những dự đoán của ông còn có thỏa thuận của Thủ tướng Boris Johnson và Tổng thống Trump sẽ mở ra một kỷ nguyên mới cho sự thịnh vượng kinh tế của Anh; bão lớn đổ bộ vào Miami, Mỹ gây thiệt hại nặng nề; khói bụi Trung Quốc khiến nhiều người bị chết ngạt…
Ông cũng tin rằng mặc dù có nhiều biến động hỗn loạn trên khắp thế giới, niềm tin về tâm linh và sự lương thiện vẫn sẽ âm thầm tiếp tục phát triển.

Minh Thanh
(Đại kỷ nguyên)

Tất cả … Đều là nạn nhân … Bị tha hóa bởi …

Tham nhũng, cả quan chức và người nhà quan chức đều biết, biết rõ, thậm chí biết rất rõ.

Vợ chồng, con cháu, họ hàng quan chức tham nhũng đều biết, biết rõ, thậm chí biết rất rõ rằng những đồng tiền mà họ có được là từ tham nhũng mà ra.

Nhưng họ luôn tự hào, hãnh diện, thậm chí kiêu ngạo, hống hách vì những đồng tiền và tiện nghi xa hoa có được nhờ tham nhũng đó.

Họ chẳng cần phải giấu giếm mà luôn khoe khoang những đồng tiền và tiện nghi xa hoa đó như là để thể hiện “đẳng cấp” sang chảnh của họ. Họ thản nhiên sống trong biệt thự lộng lẫy, đi trên siêu xe hào nhoáng, mặc quần áo hàng hiệu xa xỉ, dùng điện thoại đắt tiền, đeo đồng hồ vàng, hút xì-gà, uống rượu ngoại … vv …, mặc kệ cái bảng lương công chức thảm hại mà nhìn vào ai cũng biết là khó đủ sống.

Họ không sợ bị dân chúng phát hiện, họ mặc kệ dư luận bởi vì dư luận chẳng thể động được đến họ. Bởi vì họ có phe nhóm, băng đảng, luật lệ, súng đạn, nhà tù … của cả một chế độ độc tài tham nhũng che chở bảo vệ.

Chỉ đến khi phe nhóm, băng đảng thất thế, hoặc do nội bộ tranh giành đấu đá, họ bị đem ra phanh phui, đấu tố, bắt bớ, xử tội … thì họ mới xấu hổ, nhục nhã.

Nghĩa là, họ không có mặc cảm tội lỗi – cảm thấy xấu hổ, nhục nhã khi phạm tội – mà chỉ xấu hổ, nhục nhã khi bị trừng phạt.

Không còn mặc cảm tội lỗi – cảm thấy xấu hổ, nhục nhã khi phạm tội – nghĩa là họ đã hoàn toàn VÔ SỈ.

VÔ SỈ – không biết xấu hổ – không còn lương tâm để biết ray rứt tự vấn thì rất khó để phản tỉnh, phục thiện, hoàn lương.

VÔ SỈ – không biết xấu hổ – là một trạng thái tận cùng của VÔ ĐẠO ĐỨC.

Chế độ độc tài tham nhũng, một thứ chế độ luôn bao biện cho mọi hành vi phạm tội của mình bằng những lời đạo đức dối trá, đã tạo ra tình trạng VÔ ĐẠO ĐỨC tận cùng của quan chức, và lan rộng ra toàn xã hội.

Hãy nhìn và ngẫm, trong y tế, giáo dục, kinh doanh …, mọi người đều thản nhiên phạm tội …

Tất cả …

Đều là nạn nhân …

Bị tha hóa bởi …

Chế độ độc tài tham nhũng tồn tại dựa trên DỐI TRÁ !!!

Fb Canh Le

‘Biết ơn Gorbachev đã khiến Liên Xô sụp đổ’

Niềm tin bị đổ vỡ

Ngày 23/12/1991, phải đưa một xe tir áo gió sang Dom 5 cũ trên phố Ulianova Dmitria, Moscow tiêu thụ, tôi kí hợp đồng với hãng vận tải Ba Lan.

Với dân nước này ngày Giáng Sinh rất thiêng liêng nên người lái xe tir bày ra kế hỏng cái gạt nước (trời mưa tuyết) để tới sau lễ mới chịu đi.

Nhưng vì có khách hàng đặt trước nên tôi không nhượng bộ, chủ hãng xe sợ mất khách quen nên cũng gây sức ép bắt lái xe phải đi ngay trong ngày. Đến bây giờ tôi vẫn ân hận mãi về điều này.

Chiều tối ngày 24/12, xe tir gồm lái xe và một người áp tải tới Moscow. Tôi ngồi tàu hỏa sang sau.

Ngày 25/12, Gorbachev đọc thông điệp tuyên bố giải thể Liên Xô. Tôi vẫn còn nhớ cái chỉ tay của Yeltsin vào tờ giấy và ánh mắt bất bình của Gorbachev lúc đó.

Chính quyền tan rã, bộ máy nhà nước tê liệt cộng với Giáng Sinh Chính thống giáo và năm mới nước Nga muộn hơn lịch Công giáo khiến ba chúng tôi phải vật vờ nằm chờ suốt hai tuần trong một căn hộ heo hút gần vành đai 2 Moscow.

Nước Nga thời gian đó rất khó khăn, thiếu thốn. Có lần thèm thuốc lá, tôi phải lội tuyết dày tới nửa mét rồi ngồi tàu điện ngầm vào tận trung tâm mới mua được một tút Stolichnyje.

Có tiền, muốn được ăn thịt, ăn cá chúng tôi chỉ có cách đi chợ nông trường. Vào cửa hàng trên phố tôi chỉ thấy các gương mặt lam lũ xếp hàng. Vào các quán ăn, bến tàu, bến xe tôi chỉ thấy dân say rượu vật vờ. Ra khỏi thành phố tôi thấy các nông trang tập thể với tên rất kêu “Con đường sáng” leo lét ánh đèn, xập xệ nếp nhà nhỏ run rẩy trong mưa tuyết.

Thành trì của cách mạng thế giới đây ư? Chủ nghĩa xã hội với tôi lúc đó thật tăm tối. Niềm tin vào lý tưởng cộng sản của tôi sụp đổ từ đó.

Và chính từ sự được chứng kiến tận mắt cái gọi là xây dựng xong chủ nghĩa xã hội phát triển đang trên đường xây dựng chủ nghĩa cộng sản khiến tôi quyết định từ bỏ đội ngũ.

Cảm ơn “tội đồ” làm đổ vỡ Liên Xô Gorbachev! Nhờ ông mà Ba Lan, Đức và các nước Đông Âu có được cuộc sống dân chủ và thịnh vượng ngày hôm nay.

Nhờ ông mà Chiến tranh Lạnh kết thúc.

Nhờ ông mà đầu đạn hạt nhân nóng chĩa vào nhau được tháo ngòi dù chỉ là tạm thời.

Nhờ ông mà bản đồ thế giới đã được vẽ lại bằng các nét bút tích cực.

Trong trái tim tôi, tượng đài ông được đúc bằng vàng.

BBC.COM
Ý kiến nói nhờ ‘tội đồ’ Gorbachev mà bản đồ thế giới được vẽ lại, Chiến tranh Lạnh chấm dứt và Đông Âu có nền dân chủ, thịnh vượng ngày nay.

CÔNG LÝ THIÊN ĐƯỜNG

Image may contain: 2 people, text

Lê Vi

CÔNG LÝ THIÊN ĐƯỜNG

(Chuyện vui gia vị thêm từ ảnh chế trên mạng. Ảnh chỉ mang tính minh họa)

Phiên tòa ở xứ thiên đường.

Hôm nay tòa xử nhanh một lúc hai sự vụ để so sánh và làm án lệ cho các phiên tòa về sau: xử tội trộm vịt của dân và tội ăn cắp tài sản của nhà nước.

Sau khi nghe công tố viên đọc bản luận tội cả 2 thằng, tòa phán:

– Nhân danh công lý, tòa kết án tên trộm vịt 7 năm tù giam, phạt thêm 10 năm không được ăn thịt vịt.

– Nhân danh công lý, tòa kết án tên ăn cắp tài sản của nhà nước 4 năm tù giam. Phạt thêm 3 năm không được cầm tiền trên tay.

Các bị cáo có tâm phục khẩu phục không?

Thằng trộm vịt cảm giác như con vịt bị bóp cổ, nó rướn cổ cãi:

– Thằng ăn cắp của nhà nước đến cả 300 triệu đô mà chỉ 4 năm tù, trong khi tôi trộm con vịt giá chưa tới 100 ngàn đồng thì lại bị phạt tới 7 năm tù. Oan quá! Bất công quá!

Thằng ăn cắp của nhà nước miệng cười tủm tỉm, mắt lim dim:

– A Di Đà Phật. Nhân quả báo ứng công bình chứ không oan. Thí chủ thử tính xem. Cái con vịt đó nếu thí chủ không bắt nó ăn thịt thì một năm nó đẻ ít nhất 360 trứng, nở ra 360 con. Năm thứ hai, 360 con vịt đó đẻ ra 129.600 quả trứng, nở 129.600 con. Năm thứ ba, 129.600 con vịt đó lại đẻ ra 4.665.600 quả trứng, nở 4.665.600 con…. Mười năm tổng đàn vịt sẽ là…

Tòa chặn ngang:

– Hay lắm! Không cần tính nữa. Chỉ bấy nhiêu cũng đủ tử hình vì tội sát sinh hàng tỷ sinh linh.

Thằng trộm vịt nghe vậy thì ngất xĩu. Phải té nước vào mặt mấy lần nó mới lai tỉnh. Để chống chọi với cái chết, nó cố gắng gân cổ cãi với thằng ăn cắp tiền nhà nước:

– Tao ít học nhưng cũng biết tiền đẻ ra tiền. Cứ cái lý của mày thì 300 triệu đô mỗi năm đẻ ra lãi tối thiểu là 10%, lũy tiến 10 năm sau là bao nhiêu tỉ đô? Tội mày có đáng bị tru di ba họ không?

Tòa gật đầu khen thằng trộm vịt:

– Mày vô học mà cũng thông minh ra phết. Thằng ăn cắp đầu trọc kia thấy thế nào?

Thằng ăn cắp đầu trọc đưa tay lên gãi đầu. Nó hơi lúng túng nhưng rồi cũng tìm ra được cái lý để cãi:

– Thiện tai! Thằng trộm vịt có lý với điều kiện là tiền ở trong tay tôi. Không chỉ 10%, nếu tôi đem tiền đó kinh doanh thì còn đẻ ra lãi khủng, 50%, thậm chí 100%. Ngoài tái đầu tư, tôi còn đem tiền lãi ra cúng Phật và làm từ thiện xã hội. Trong khi số tiền đó để trong tay quan thì chỉ trong vòng một năm là chúng chia hết sạch! Vậy tôi có công hay có tội?

Nghe đến đó, tòa gật đầu cái rụp:

– Vậy là hết lý! Tòa nhân đạo, giữ nguyên bản án đối với thằng trộm vịt của dân. Riêng thằng ăn cắp tiền nhà nước có công cúng Phật và làm từ thiện xã hội, chiếu theo đơn đề nghị của 2000 người hưởng lợi từ tiền ăn cắp nhà nước, tòa tuyên tha tội cho nó để nó còn có cơ hội làm tiền.

Vỗ tay! Bãi tòa!

Chu Mộng Long

CON TÀU ĐẮM và CHÚNG TA SẮP RƠI VÀO VŨNG SÂU NÀO ???

Ngo Thu

CON TÀU ĐẮM và CHÚNG TA SẮP RƠI VÀO VŨNG SÂU NÀO ???

…..
LS Lương Vĩnh Kim
THAM NHŨNG CẤP CAO:
KỲ 2: BÁO HIỆU SỰ SỤP ĐỔ.

Khi doanh nghiệp của tôi lâm vào tình cảnh đặc biệt khó khăn thì các nhân viên quản lý gần gủi tôi là những người nhận biết đầu tiên. Họ biết hoàn cảnh của tôi. Họ điều hành doanh nghiệp, nắm các số liệu kế toán, biết tình hình khách hàng, nhận ra dấu hiệu phá sản nên họ đã đi trước công nhân trong việc chuẩn bị tìm bến đổ mới. Các dấu hiệu biển thủ, vơ vét bắt đầu xuất hiện và ngày càng nghiêm trọng. Tôi thay quản lý bằng người mới và đưa nhân viên quản lý cũ xuống làm cấp phó để hướng dẫn lại nghiệp vụ cho người mới. Sau thời gian ngắn, cấp trưởng mới này cũng biển thủ tương tự hoặc là bỏ việc để tìm bến đổ mới. Sự phản bội từ bên trong, đặc biệt là từ nhân sự quản lý cấp cao, báo hiệu một sự sụp đổ không thể tránh khỏi. Tôi phải rút lui khỏi thương trường và xóa cờ làm lại.

Từ sự trải nghiệm doanh nhân và nghiên cứu lịch sử, tôi nhìn ra, trên bình diện quốc gia cũng có các dấu hiệu diễn ra tương tự.

Sau hiệp định Pari, Mỹ rút quân. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ở vào tình cảnh “buổi hoàng hôn của nền cộng hòa” nên phải đối diện với tình trạng tham nhũng ở cấp cao tăng vọt. Theo hồi ký của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng* thì “Vào mùa thu năm 1973, Thiệu tiến hành một loạt cải cách hành chánh bao gồm cách chức ba trong bốn chỉ huy quân đoàn, nhiều tỉnh trưởng và quận trưởng vì tội tham nhũng, nhưng lúc đó nước đã vỡ bờ”. Đến nổi, “Hưng đề nghị Thiệu xem xét việc thay các tướng tham nhũng bằng những người trẻ tuổi, tận tâm” thì Thiệu thở dài và nói: “Ông Hưng, ông hãy đưa tôi tên và bảo đảm hành vi của người nào mà ông muốn chỉ định làm tỉnh trưởng, tôi sẽ chỉ định ngay”. Nhưng Hưng không đề cử được ai và Tổng thống Thiệu đành bất lực. Các tướng lĩnh cao cấp là những người đầu tiên nắm được thông tin về viện trợ Mỹ bị cắt giảm, về đường ống dẫn dầu cùng với các binh đoàn quân chủ lực Bắc Việt đang tiến vào Nam, áp sát các vị trí hiểm yếu. Họ nhanh chóng ra sức vơ vét để chuẩn bị cho một cuộc đào tẩu sớm. Các nhân sự cấp thấp không nắm được tình hình nên ung dung cho đến ngày sụp đổ, bị gom vào các trại cải tạo hoặc phải vượt biên. Thậm chí, có người còn gom tiền và tài sản gửi ngân hàng Quốc Gia Việt Nam trong thời khắc hấp hối của chế độ VNCH. Ở vào tình thế “Buổi hoàng hôn của nền cộng hòa”, Tổng thống Thiệu đã bế tắc trong công cuộc chống tham nhũng.

Ngược dòng lịch sử, buổi hoàng hôn của các triều đại phong kiến Việt Nam cũng đã lâm vào tình trạng tham nhũng ở cấp cao tương tự. Điển hình nhất là tham nhũng khét tiếng của Quốc phó Trương Phúc Loan** đã báo hiệu sự sụp đổ của chúa Nguyễn ở đàng trong.

Trong thế giới tự nhiên*** cũng có những cảnh báo thời tiết, tai họa tương tự như xã hội loài người. Mối hoặc kiến trồi lên khỏi mặt đất là dấu hiệu của lũ lụt lớn.

Hiện nay, ở Việt Nam đang phơi bày tham nhũng ở cấp AVG. Lần đầu tiên, một Bộ trưởng bị đề nghị mức án tử hình vì tham nhũng. Nghĩa là, tham nhũng đã rất trầm trọng và chống tham nhũng cũng đã vào hồi quyết liệt.
Không chỉ Nguyễn Bắc Son. Tham nhũng cấp cao đã lan rộng. Nhìn trên bề nổi, chỉ các vụ thành án hoặc bị khởi tố, khiến chúng ta không khỏi giật mình. An ninh có tướng Trần Việt Tân và Bùi Văn Thành đi với Vũ Nhôm. Hải Quân có khởi tố Đô đốc Nguyễn Văn Hiến. Bộ Chính trị có Đinh La Thăng.
Và hàng loạt các công chức cao cấp dắt díu nhau vào tù, không đếm xuể. Những con người, một thời đã từng thề thốt, “Không lấy cái kim, sợi chỉ của nhân dân” thì nay “lấy nhà, lấy đất của nhân dân” và “ăn của dân không từ thứ gì”. Đây là những dấu hiệu nguy hiểm và rất nghiêm trọng, cảnh báo sự sụp đổ chế độ. Vì vậy, chống tham nhũng đã trở thành vấn đề chính trị lớn nhất, quyết định sự tồn vong của chế độ hiện hành.

Trong bối cảnh tham nhũng cấp cao lan rộng, báo hiệu sự tồn vong của chế độ thì việc đề nghị tử hình Nguyễn Bắc Son là thể hiện sự lo âu và quyết liệt của đảng cầm quyền.

THAM NHŨNG CẤP CAO
KỲ 1: NHỮNG KẺ SĂN MỒI CHUYÊN NGHIỆP

Phạm Nhật Vũ đưa hối lộ với số tiền lớn nhưng không chuyển khoản qua ngân hàng, mà đưa bằng đô la tiền mặt, ngụy trang trong những giỏ hoa, quà biếu; chứng tỏ ông ta là một cao thủ trong việc đưa hối lộ. Cách làm không để lại dấu vết. Người nhận cũng rất an tâm.

Nếu không có cuộc đấu, mà ở đó, có những con người cao tay ấn hơn thì sẽ không bao giờ phanh phui được vụ AVG. Những gì đã diễn ra cho thấy, AVG là vụ phối hợp săn mồi, tấn công luân phiên, chia chát và che giấu có kế hoạch, rất điển hình.
Trước hết, về nhân sự, Nguyễn Bắc Son là thư ký, rồi sau đó là trợ lý của Chủ tịch nước Lê Đức Anh, được điều chuyển lòng vòng, làm bí thư tỉnh Thái Nguyên, rồi điều về làm Bộ trưởng Bộ 4 Tê (TTTT). Lê Mạnh Hà, con trai chủ tịch nước Lê Đức Anh, đang là Phó Chủ tịch TP.HCM, được điều làm Phó văn phòng chính phủ, để rồi ký công văn xác nhận Thủ tướng thuận mua AVG. Các Bộ Tài chính, Bộ Kế Hoạch Đầu Tư, Bộ Công An cùng chấp thuận và đề xuất thương vụ béo bở này. Đặc biệt, để con mồi được chia trong bóng tối, chúng đóng dấu mật toàn bộ thương vụ AVG. Cho đến khi Thanh tra Chính phủ đưa ra kết luận về sự sai trái, thất thoát trong vụ AVG thì bọn mafia này không hề nao núng. Chúng ra văn bản phản đối kết luận của Thanh tra Chính phủ và huy động báo chí do Bộ 4 Tê quản lý để phản ứng kết luận của Thanh Tra. Như vậy, chúng đã tổ chức săn mồi rất kín kẽ và sẵn sàng phản pháo với bất cứ ai động đến chúng. Mafia Ý phải gọi chúng bằng cụ.
Phạm Nhật Vũ đã “tung” tin giả rằng, đã có đối tác nước ngoài đặt cọc mua AVG với giá 700 triệu đô la nhưng vì an ninh quốc gia trên lĩnh vực truyền thông nên Vũ phải xin ý kiến Bộ 4 Tê. Nguyễn Bắc Son phối hợp “hứng” tin này, rồi thổi qua các bộ khác để hù dọa vì an ninh quốc gia nên phải mua AVG và đóng dấu mật thương vụ này. Rõ ràng, kẻ tung người hứng, rất nhịp nhàng. An ninh quốc gia đã trở thành lá bùa hộ mệnh và là vũ khí bí mật để bọn này trấn lột nhân dân bằng hợp đồng mua bán bí mật.

Những gì chúng làm, mới nhìn trên bề nổi, đã thấy là chúng rất chuyên nghiệp, che chắn rất an toàn, bất khả xâm phạm và chúng chẳng sợ ai. Nhưng chúng bất ngờ. Có thế lực còn mạnh hơn chúng đã sờ gáy chúng. Chúng quen săn mồi trong xứ sở luật rừng và nghĩ rằng chúng là những con thú mạnh nhất, nanh vuốt sắc bén nhất. Nhưng lần này, chúng không ngờ, chúng đã gặp phải đối thủ mạnh hơn với những đồ chơi mạnh hơn.

Luật rừng là vậy và nhân dân là những con mồi.

Khi vụ việc đổ bể, nuốt không trôi, chúng nhả ra, thủ vai làm người tử tế và đã dự liệu các tình huống để chối tội rất chuyên nghiệp. Chính sách hình sự đặc biệt – không có trong bất cứ qui định nào; lần đầu tiên, đã được mớm từ giai đoạn điều tra để áp dụng cho Phạm Nhật Vũ và các đồng phạm. Hơn 2.000 tổ chức, cá nhân cũng đã được huy động ký tên xin bảo lãnh và khoan hồng cho Phạm Nhật Vũ.

Người dân đổi 100 USD thì bị tịch thu và phạt đến 90 triệu đồng, còn Phạm Nhật Vũ đổi đâu ra hơn 6 triệu đô la tiền mặt để làm quà? Chúng không săn mồi chuyên nghiệp và không đưa hối lộ chuyên nghiệp, thì chúng là gì?

Những gì mà bọn chúng đã làm là rất thuần thục. Nghĩa là, chúng đã quen thao tác nhiều lần, có tổ chức, kẻ tung người hứng với những thủ đoạn rất tinh vi và ảo diệu. Không ai làm đĩ lần đầu, ăn cướp lần đầu mà thuần thục như thế. Chúng là những kẻ vồ mồi dày dạn và từng trải. Chúng là những kẻ tham nhũng cấp cao – đã quen săn của dân nhiều lần rồi. Còn lần này, chỉ là một lần xui của chúng.
KỲ 2: THAM NHŨNG CẤP CAO – BÁO HIỆU SỰ SỤP ĐỔ.

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=2448941712027387&id=100007347465268

Kỳ 3: Tiến thoái lưỡng nan trong cuộc chống tham nhũng.